Tag Archive | Chính trị – Xã hội

Chiến sĩ Điện Biên “dấn thân” vào trận tuyến mới

Tới thăm nhà riêng của ông tại khu C7 – Nghĩa Tân (Cầu Giấy, Hà Nội), tôi ngạc nhiên khi thấy ông khá rành vi tính, internet và cả… chuyện thương trường. Ông bảo, từ ngày về hưu, rồi cùng cô con gái mở công ty riêng, người ta vẫn hay gọi ông là doanh nhân, nhưng với ông, hai chữ “doanh nhân” vẫn cần phải bàn thảo nhiều. Gặp và trò chuyện với ông, ít ai nghĩ rằng Đại tá, Cựu chiến binh Phạm Xuân Phương đã ở tuổi 81 và từng là cán bộ tiền khởi nghĩa…

Cuộc đối thoại thú vị với tướng Pháp Bi-gia

Ông Phạm Xuân Phương là người được sinh ra trong một gia đình viên chức có nghề thợ nhuộm ở phố Hàng Đào (Hà Nội). Khi mới 16 tuổi và đang học trường Tây, cậu học sinh Phạm Xuân Phương được bạn bè rủ tham gia hoạt động cách mạng trong phong trào học sinh cứu quốc của Hà Nội. Có tên trong số hai chục thanh niên được chọn lên Chiến khu hoạt động, Phạm Xuân Phương đã bí mật bỏ nhà đi theo cách mạng. Được biên chế vào trung đội Giải phóng quân, ông là người ít tuổi nhất. Ông tâm sự: “Ngày ấy, chúng tôi hiểu rất rõ điều gì đã thôi thúc các cô, cậu học trò sớm trở thành những chiến sĩ Việt Minh, đó là vì dân ta chết đói quá nhiều, vì dân ta đang phải chịu ách áp bức “một cổ hai tròng” của Pháp, Nhật,… Cảnh tượng ấy đã thôi thúc chúng tôi đi theo cách mạng và nhiều người đã trở thành những “ngòi nổ” mạnh mẽ trong các cuộc kháng chiến”.

Tấm ảnh ông Phương chụp với tướng Bi-gia tại Hà Nội được  đăng trên tạp chí truyền hình “Telé 7 ngày” của Pháp (số ra ngày 1-7-1994).

Sau Cách mạng Tháng Tám, ông được cử đi học tại Trường Quân chính kháng Nhật rồi trưởng thành từ một cán bộ tiểu đội ở địa bàn Chiến khu 3. Là người lính trải qua hai thời kỳ chống Pháp, chống Mỹ, làm nhiệm vụ quốc tế ở Lào, Cam-pu-chia và bảo vệ biên giới phía Bắc, ông vinh dự có mặt ở nhiều chiến dịch lớn. Ông kể với tôi kỷ niệm trong lần trở lại Điện Biên Phủ năm 1994, khi ông được Trung ương Hội Cựu chiến binh giới thiệu đi cùng đoàn khách du lịch Pháp tới thăm lại chiến trường xưa, trong đoàn có tướng Mác-xen Bi-gia (Marcel Bigeard) – nguyên Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn dù 6 – người từng bày tỏ nguyện vọng sau khi chết được rải tàn tro xác mình xuống chiến trường Điện Biên Phủ. Khi đi cùng, ông mới biết mục đích chuyến đi của họ là làm bộ phim tài liệu về tướng Bi-gia. Sau khi được phép của các cơ quan chức năng, đoàn làm phim đã mời ông Phương cùng cộng tác với vai trò người đối thoại với tướng Bi-gia. Ông Phương là người sành tiếng Pháp, qua những cuộc trò chuyện với đoàn làm phim, ông đã làm họ ngạc nhiên bởi thứ tiếng Pháp ông  đang dùng là một thứ ngôn ngữ cổ điển, giàu hình ảnh, phong phú về từ vựng, đôi lúc ông còn dùng cả tiếng lóng của quân đội Pháp. Họ hỏi ông học tiếng Pháp ở đâu, ông bảo: “Tôi học ở Việt Nam, chính người Pháp các anh dạy tôi đấy!”. Hôm tới cứ điểm Hồng Cúm, tướng Bi-gia hỏi ông Phương:

– Ông có nhớ sự kiện ngày 16-3-1954?

– Đó là ngày ba tiểu đoàn dù của các ông đổ bộ xuống Điện Biên Phủ và có một tiểu đoàn đổ bộ ở đây, không biết đó có phải tiểu đoàn của ông?

– Chính tôi là người chỉ huy tiểu đoàn đó.

– Ông nhớ nhất điều gì?

– Khi tôi lơ lửng trên trời, thấy những làn đạn của các ông bắn lên và lúc đáp xuống bãi đổ bộ là những loạt đại bác…

– Tôi chính là người có mặt trong Trung đoàn đang bao vây Hồng Cúm. Hồi đó, may mà chúng tôi… bắn trượt ông đấy.

Câu nói dí dỏm của ông Phương và cuộc đối thoại sau 40 năm của hai người lính từng ở hai chiến tuyến sau đó đã được phát trên truyền hình Pháp. Rất nhiều người thân, bạn bè ở Pháp đã nhận ra ông Phương – người chiến sĩ tham gia Chiến dịch Điện Biên khi ở tuổi 25…

“Dấn thân” vào chốn thương trường

Sau 48 năm quân ngũ, năm 1992, ông Phương về nghỉ hưu với quân hàm đại tá. Khi biết bố mình tuy nghỉ hưu nhưng vẫn còn trăn trở với cuộc chiến chống đói nghèo, lạc hậu, cô con gái cả Phạm Thị Lan Anh đã khởi xướng ý tưởng lập công ty riêng và mời ông Phương đảm đương vai trò quản lý. Ông nhớ lại: “Vào những năm đầu thập kỷ 90, cả hai cha con tôi còn mang nặng tư duy và lối sống bao cấp, hiểu biết về chủ trương, chính sách pháp luật liên quan đến doanh nghiệp cũng còn giản đơn, nhưng tôi coi đây là một sự “dấn thân” trên trận tuyến mới”. Sau những khó khăn ban đầu, Công ty TNHH Anh Phương do ông làm Chủ tịch Hội đồng quản trị, con gái ông là Giám đốc đã dần đứng vững với thương hiệu bê tông thương phẩm và dịch vụ công nghiệp. Giờ đây, sau hơn 10 năm, công ty do cha con ông gây dựng đã trở thành Công ty cổ phần Bê tông và xây dựng A&P với tốc độ tăng trưởng bình quân đạt mức 20-25%, lương bình quân của người lao động đạt 3,4 triệu người/tháng. Ông bảo: “Một công ty do hai cha con cùng khởi nghiệp, nhưng chính con gái tôi là người táo bạo khởi xướng, khác hẳn với công ty gia đình kiểu phương Tây trong đó người cha gây dựng, quản lý và điều hành rồi chuyển giao cho con cái”.

Ở tuổi 81 nhưng hằng ngày ông Phương vẫn miệt mài làm việc bên máy vi tính.

Không muốn là người đóng vai trò “danh dự” trong công ty, ông đã dành nhiều thời gian nghiên cứu, giúp con gái định hướng, tổng kết hoạt động. Thông qua các mối quan hệ cũ, mới ở trong và ngoài nước, ông trực tiếp phụ trách các hoạt động xã hội, từ thiện và mảng chấp hành chính sách với người lao động. Doanh nghiệp của ông đã tham gia nhiều hoạt động từ thiện như: viện trợ xây dựng Bệnh viện Bình Gia (Lạng Sơn); hỗ trợ nuôi dạy trẻ em đường phố Đà Nẵng; đóng góp, tôn tạo di tích làng cổ Đường Lâm và chùa Mía (Sơn Tây, Hà Nội). Như ông tự nhận: “Tôi chỉ làm chỗ dựa tinh thần cho con gái và đảm đương vai trò “người cầm trịch” trong công ty”, nhưng với ý thức trách nhiệm của một đảng viên làm kinh tế tư nhân, ông còn đóng góp ý kiến, tham luận tại một số diễn đàn, hội thảo.

Năm 1998, tại cuộc gặp gỡ 800 doanh nghiệp tiêu biểu do Văn phòng Chính phủ phối hợp với Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam tổ chức tại Thành phố Hồ Chí Minh, ông Phương đã có bài phát biểu được nhiều người đánh giá cao. Ý kiến của ông khi đó có nhiều điểm khá mới bởi ông đã mạnh dạn đề cập tới chuyện đảng viên làm kinh tế tư nhân. Theo ông, mặt trận chống đói nghèo đòi hỏi đảng viên phải là người tiên phong bởi mình là đảng viên mà nghèo, lại không biết làm ăn thì khó có thể vận động được người khác. Bởi vậy, người đảng viên không những phải tự mày mò, tìm bước đi để thành công trong việc làm kinh tế mà còn phải tự đổi mới tư duy để chiến thắng cái cũ kỹ, lạc hậu. Ông nêu lên những trăn trở của mình về hai chữ “doanh nhân”, khi mà những người từ tầng lớp “con buôn” trước đây đã trở thành lớp người được trọng thị và có nhiều đóng góp trong xã hội. Theo ông, các cấp, ngành cần dày công nghiên cứu, tìm hiểu kỹ hơn về họ, phải nhận diện doanh nhân thuộc nhiều thành phần kinh tế khác nhau và đi sâu tìm hiểu những nét khác biệt của từng thành phần kinh tế trong một cộng đồng doanh nhân đa dạng về quy mô, tính chất, từ đó mới có thể đưa ra được nhiều đường lối, chính sách “đúng và trúng” về đội ngũ này.

Như lời ông tâm sự, cả đời ông trước sau vẫn chỉ là một người lính, một đảng viên bình thường với niềm tự hào nho nhỏ là đã đem hết sức mình để hoàn thành nhiệm vụ ở mỗi “trận tuyến”. Những năm tháng thử sức trong cơ chế thị trường đã đem lại cho ông nhiều niềm vui, nhưng đó cũng là quãng thời gian ông da diết nhớ tới đồng chí, đồng đội, những người đã cùng ông chia ngọt sẻ bùi và mãi mãi nằm xuống để ông, gia đình ông và tất cả chúng ta có được ngày hôm nay…

Bài và ảnh: Minh Tuệ
qdnd.vn

Hỏi cung Đại tá tù binh Nguyễn Văn Thọ

Cựu chiến binh Phan Thiện Quốc – người tham gia hỏi cung Nguyễn Văn Thọ trong Chiến dịch Đường 9 – Nam Lào. Ảnh: Hùng Khoa.

QĐND – Năm 1971, ông Phan Thiện Quốc đang là trợ lý ở Cục Nghiên cứu – Tổng cục Chính trị (nay là Cục Dân vận-Tổng cục Chính trị) thì được cử làm phái viên Chiến dịch Đường 9 – Nam Lào với nhiệm vụ theo dõi công tác binh địch vận kết hợp với tác chiến của các đơn vị. Ông nhớ lại kỷ niệm trong lần tham gia hỏi cung viên Đại tá tù binh Nguyễn Văn Thọ, Lữ đoàn trưởng Lữ đoàn dù 3 ngụy…

“Đầu tháng 3-1971, chúng tôi nhận được điện chỉ đạo từ Hà Nội là phải kiểm tra thông tin và tranh thủ khai thác viên Đại tá tù binh Nguyễn Văn Thọ – Lữ đoàn trưởng Lữ đoàn dù 3 – bị Quân Giải phóng bắt sống ngày 25-2-1971 để kịp thời đáp trả những tin tức bịa đặt mà báo chí của chính quyền Sài Gòn đang rêu rao là: “Đại tá Thọ đã thoát về hậu cứ an toàn”. Thật dễ hiểu bởi trước thất bại đau đớn, địch đành cố lấy lại tinh thần của quân lính và vớt vát hư danh của một binh chủng từng được coi là “Thiên thần mũ đỏ”, “con át chủ bài tin cậy của nền Cộng hòa”, kẻ địch lo sợ binh chủng dù mà thua trận thì khác nào “gươm kề tận cổ”.

Nhận chỉ thị của cấp trên, trong một gian nhà lá đơn sơ tại Mặt trận Đường 9 – Nam Lào, tôi, anh Mặc Lâm cùng Cục phó Nguyễn Văn Thường và một số phóng viên mặt trận đã có mặt để chuẩn bị cho buổi khai thác viên Đại tá tù binh. Chúng tôi đang chăm chú ngồi theo dõi tấm bản đồ chiến dịch thì một Chiến sĩ giải phóng dẫn một tù binh mang sắc phục binh chủng dù ngụy có thân hình béo mập, mặt ỉu xìu đi tới. Anh Thường cho phép tên tù binh được ngồi. Viên tù binh rón rén ngồi xuống sau khi được cởi trói. Vẫn động tác rất nhà binh, anh ta ngồi nghiêm, mắt nhìn phía trước. Có lẽ trong đầu viên sĩ quan này đang hình dung những ngón đòn từ roi điện, dùi cui… như đã từng thấy trong các cuộc tra hỏi của Mỹ ngụy. Thật bất ngờ với kẻ có tội vừa mới bị bắt, đồng chí Thường dùng từ “anh” và xưng “tôi” để hỏi cung: “Anh khai họ tên, chức vụ, ngày và nơi bị bắt?”. “Dạ thưa ông, tôi tên là Nguyễn Văn Thọ, Đại tá, Lữ đoàn trưởng Lữ đoàn dù 3, bị bắt ngày 25-2-1971 tại đồi 31, khu vực cao điểm 456 Đường 9 – Nam Lào…”.

Từ lời khai của Thọ và theo thông tin do các cán bộ địch vận của ta nắm được, viên Lữ trưởng Nguyễn Văn Thọ quê ở Vũng Tàu và được sinh ra trong một gia đình có 11 người con. Năm 1969, Thọ về nắm Lữ đoàn dù 3 từ tay Nguyễn Khoa Nam, sau đó Thọ tham gia các trận đánh tại Cuộc hành quân Chen-la 1 ở chiến trường Cam-pu-chia và bị thương ở chân. Với cái chân cà nhắc, nhưng Thọ vẫn tuân lệnh cấp trên lao vào chiến dịch “Lam Sơn 719” theo cách gọi của quan thầy Mỹ. Thọ có kể lại rằng anh ta đã từng rất hy vọng sau chiến dịch sẽ được cấp trên “quan tâm” cất nhắc cho cái lon tướng để sớm được “bằng anh bằng em”… Nhưng sự thất bại của Lữ đoàn dù 3 tại Chiến dịch Đường 9 – Nam Lào đã làm cho giấc mộng “đeo lon tướng” của Thọ bị tiêu tan.

Nguyễn Văn Thọ (ngồi thứ hai từ phải sang) trình diện trước các nhà báo sau khi bị bắt. Ảnh tư liệu

Tại buổi hỏi cung, Thọ kể quân lính Việt Nam Cộng hòa khá bất ngờ với sự xuất hiện của xe tăng Quân Giải phóng, vì thế quân ngụy đã hốt hoảng nằm rạp xuống công sự, súng chống tăng M72 cũng không phát huy tác dụng. Viên đại tá tù binh còn kể khá chi tiết tại thời điểm bị bắt: “Quân lính chúng tôi khi bị các ông tấn công mạnh thì ai nấy tìm đường tháo chạy. Còn tôi, tứ phía đang bị vây hãm, không biết tính sao, tôi đành giả chết để lẩn trốn. Tôi vẫn nghe bên ngoài tiếng la thét xung phong, tiếng xe tăng gầm rú, biết binh lính của các ông đã đánh chiếm sở chỉ huy, xộc vào các chiến hào. Tôi thoáng nghe tiếng loa: “Không thoát được đâu, hàng thì sống, chống thì chết!”. Tôi chỉ kịp đứng dậy, giơ hai tay lên và bị bắt”. Khi được hỏi: “Anh nghĩ sao về cuộc hành quân Lam Sơn 719?”, Thọ khai báo rõ ràng, trôi chảy những vấn đề như đã được cân nhắc, suy nghĩ kỹ: “Ngay sau cuộc họp của các sĩ quan cao cấp trong Quân lực Việt Nam cộng hòa để tổ chức hợp đồng giữa các quân binh chủng trong chiến dịch, chúng tôi đã nói nhỏ với nhau rằng cuộc hành quân sẽ thất bại vì năm 1968 quân Mỹ ở Đường 9 – Khe Sanh trong một hệ thống công sự kiên cố lại được chi viện phi pháo tối đa mà còn thất bại. Đến Đường 9 – Nam Lào, chúng tôi không có bộ binh Mỹ tham gia, chỉ có yểm trợ bằng phi pháo, lại đụng độ với các ông, một đội quân chủ động trên một chiến trường đã được “lót ổ” thì thất bại là một điều đã được báo trước”. Khi trả lời câu hỏi cuối: “Anh có nguyện vọng gì?”, Nguyễn Văn Thọ đứng bật dậy, quên rằng mình đang là một tù binh, anh ta nói như muốn khóc: “Dạ thưa, cho tôi được nhắn về gia đình, vợ con rằng tôi vẫn mạnh khỏe và được đối xử khoan hồng”.

Phan Thiện Quốc (kể) – Bùi Vũ Minh (ghi)
qdnd.vn

Cả nhà cùng học theo Bác

Đến xã Quỳnh Thạch (Quỳnh Lưu), hỏi nhà thầy giáo Đậu Xuân Tiêu, từ em bé cho đến cụ già đều nhiệt tình dẫn đường, ai cũng nói “Nhà thầy Tiêu có thư viện sách và ảnh về Bác Hồ, cả xã ai cũng biết”.

Học Bác ngay từ khi còn nhỏ

Năm 1930, do quá nghèo khổ, gia đình cậu bé Tiêu phải bỏ làng ra đi. Để cầm cự, người mẹ đã phải nhai châu chấu nuôi con. Nhờ có cách mạng, có Đảng và Bác Hồ, cuộc đời của gia đình cậu bé Tiêu đã bước sang trang mới. Với những gì người mẹ kể lại, hình ảnh Bác Hồ trở thành ông Tiên trong suy nghĩ của cậu bé Tiêu. Theo lời dạy của Bác “tuổi nhỏ làm việc nhỏ”, “diệt giặc đói và giặc dốt”, ngoài việc giúp mẹ công việc đồng áng, cậu bé Tiêu còn ra sức thi đua học tập với các bạn cùng trang lứa.

Nhờ chăm chỉ học hành, năm 1954, Đậu Xuân Tiêu được cử đi học tại khu học xá Trung ương ở Nam Ninh (Quảng Tây – Trung Quốc). Trở về nước, theo tiếng gọi của Đảng, chàng trai trẻ xứ Nghệ xung phong lên huyện miền núi Lục Ngạn (Bắc Giang) để đem cái chữ đến cho những người nghèo. Lương của một thầy giáo mới ra trường không cao, nhưng hàng tháng thầy Tiêu vẫn dành một khoản tiền để xuống tận hiệu sách huyện tìm mua các loại sách báo. Qua sách báo, nghe đài, thầy giáo trẻ Đậu Xuân Tiêu càng khâm phục tài năng, đức độ, lòng yêu nước, thương dân của Bác và từ đó anh sưu tầm các bài viết, tranh ảnh về Bác để cất giữ làm tài liệu nghiên cứu và giảng dạy. Cảm mến đức tính đó của “thầy đồ Nghệ”, cô gái xứ Kinh Bắc Nguyễn Thị Dinh đã kết tóc se duyên và trở thành “người giúp việc tận tụy” cho thầy Tiêu trong việc sưu tầm, lưu giữ các tài liệu về Bác Hồ.

Lập thư viện cho mọi người cùng học

Năm 1971, về dạy học tại huyện nhà, từ tủ sách, báo của mình, thầy Tiêu đã dành hẳn một gian nhà để hình thành nên thư viện “Sách và ảnh về Bác Hồ” phục vụ các bạn đồng nghiệp, các em học sinh và hàng xóm láng giềng. Theo thầy Tiêu thì đây là gia tài quý nhất mà ông đã tích cóp từ thời trai trẻ với hàng nghìn tờ báo, hàng trăm quyển sách, tài liệu quý và trên 400 bức ảnh về Bác Hồ được xuất bản trong và ngoài nước qua các thời kỳ như: Bài Điếu văn của Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Liên Xô, ảnh Bác Hồ đăng trên Tờ Họa báo Liên Xô năm 1969, tập hợp các bài báo của Bác Hồ đăng trên Báo Nhân Dân… Tất cả các tư liệu, hình ảnh đều đã úa màu thời gian nhưng được sắp xếp rất ngăn nắp và khoa học theo từng thể loại, từng thời kỳ, rất dễ cho người đọc lựa chọn.

hoc theo Bac 1
Bức ảnh Lời Điếu văn của Ban chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Liên Xô
đăng trên họa báo Liên Xô khi Bác mất, được thầy Tiêu lưu giữ cẩn thận.

Thầy Tiêu tâm sự: “Họ đi nước ngoài thường mua cái nọ, cái kia, nhưng tôi thì mang về toàn sách là sách, trong đó có rất nhiều bài báo, tranh ảnh viết về Bác. Tôi rất thích đọc sách, báo, nhất là các tác phẩm của Bác Hồ. Cuốn “Nhật ký trong tù” của Bác tôi thuộc từ lúc còn trẻ. Thấm thía những lời dạy của Bác, tôi càng nghĩ càng thấy hay và mong muốn chia sẻ với mọi người, trước hết là truyền thụ cho học sinh, đó cũng là lý do mà tôi lập nên thư viện này”.

Thấm vào nếp sống thường ngày

Tâm đắc với lời dạy của Bác: Có đạo đức cách mạng thì trong hoàn cảnh nào cũng kiên quyết đấu tranh, chống mọi kẻ thù; ra sức học tập, cải tiến công tác. Có lần thấy những sai phạm trong công tác giáo dục ở huyện nhà, thầy Tiêu đã viết bài đăng báo phản ánh. Mặc dù bị trù dập nhưng ông vẫn đấu tranh và tìm ra lẽ phải để cuối cùng đã chấn chỉnh được tình trạng đó. Trong những năm tháng dạy học, từ những lời dạy của Bác, vợ chồng thầy Tiêu đã ra sức thi đua “dạy tốt, học tốt”, những bài giảng văn của thầy Tiêu được các đồng nghiệp nhận xét là “làm sống dậy từng con chữ, từng nhân vật”.

Học tập tinh thần “tăng gia sản xuất” của Bác, tuy làm nghề giáo nhưng thầy Tiêu vẫn là một “gương làm kinh tế giỏi”. Để có đồng ra, đồng vào nuôi con ăn học, trước đây, vợ chồng thầy còn tranh thủ nuôi thêm bò, hươu, đào ao nuôi cá, trồng rau, những khoản này cho thu nhập mỗi năm hàng trăm triệu đồng.

Từ tấm gương, sự chỉ bảo của bố mẹ, 4 người con của thầy Tiêu (2 trai, 2 gái) đều học tập và làm theo lời Bác từ những việc nhỏ hàng ngày. Đến nay, họ đều trở thành những công dân có ích cho đất nước. Vợ chồng anh con trai đầu đều tốt nghiệp thạc sỹ ở nước ngoài, hiện là Trung tá đang công tác ở Bộ Quốc phòng, người con trai thứ hai là Hiệu trưởng Trường cấp 1 Quỳnh Thắng. Hai cô con gái, một người là Hiệu phó Trường cấp 1, một người là giáo viên dạy văn cấp 2. Các cháu nội ngoại mỗi lúc rảnh rỗi đều về “thư viện” để được nghe ông kể chuyện về Bác Hồ.

Về hưu, có thời gian, thầy Tiêu theo dõi khá kỹ tình hình thời sự trong nước và quốc tế cũng như đời sống của người dân trong tỉnh. Từ những kiến thức học được qua sách báo, thầy đã dành thời gian nghiên cứu kỹ các văn kiện từ tỉnh đến Trung ương rồi viết thư góp ý. Nhiều ý kiến đóng góp của thầy Tiêu đã được Đảng, Nhà nước ghi nhận. Về lĩnh vực giáo dục, ông cũng nhiều lần gửi thư đóng góp ý kiến. Trong thư Sở Giáo dục và Đào tạo tỉnh Nghệ An gửi ông ngày 4/12/1996, có đoạn viết: “Thay mặt lãnh đạo ngành xin chân thành cảm ơn những ý kiến tâm huyết góp ý xây dựng Nghị quyết Trung ương 2 khóa VIII và xin ghi nhận những ý kiến đó trong việc chỉ đạo sự nghiệp Giáo dục và Đào tạo trên địa bàn tỉnh, đồng thời báo cáo lên cấp trên tham khảo. Chúng tôi kính mong ông với kinh nghiệm đã tích lũy được đóng góp thêm nhiều ý kiến, góp phần đưa sự nghiệp Giáo dục và Đào tạo có thêm những bước phát triển mới đáp ứng sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa”.

Đến nay thầy Tiêu đã có hẳn một quyển sách dày trên 200 trang A4 lưu giữ 63 bài viết, góp ý cho các cấp từ huyện đến Trung ương về những vấn đề xã hội, những ý kiến phê bình khuyết điểm của các cấp. Thầy Tiêu cho biết, đó cũng là một cách để xây dựng đất nước, bảo vệ thành quả cách mạng của Đảng, của Bác Hồ.

Năm nay thầy giáo Tiêu đã bước sang tuổi 84, nhưng mỗi sáng mai, trước bàn thờ gia tiên có đặt tượng Bác Hồ ở vị trí trang trọng, hai bên treo những lời dạy của Bác, thầy Tiêu lại cùng con cháu bật tivi làm lễ chào cờ (lễ chào cờ vào lúc 6 giờ sáng hàng ngày được phát trên VTV1), để được ngắm lá cờ Tổ quốc tung bay trên Quảng trường Ba Đình – nơi Bác Hồ đọc Bản Tuyên ngôn Độc lập.

Có người nói: Thầy Tiêu làm như vậy là lẩm cẩm, nhưng với thầy, tấm gương đạo đức của Bác, những báu vật mà thầy gom góp lưu giữ và truyền bá, phổ biến hàng chục năm nay, cả việc chào cờ, tưởng niệm Bác mỗi buổi sáng đã thấm vào máu thịt, trở thành nếp sống như cơm ăn, nước uống thường ngày.

Tạm biệt quê hương Quỳnh Thạch, tôi thầm nghĩ, tấm gương học tập và làm theo đạo đức của Bác Hồ của thầy Tiêu còn ít người biết đến, như là ngọc ở trong đá vậy!

Đức Dũng
Theo http://baonghean.vn
Thu Hiền (st)

bqllang.gov.vn

Bình đẳng (1-6-1922)

Để che đậy sự xấu xa của chế độ bóc lột giết người, chủ nghĩa tư bản thực dân luôn luôn điểm trang cho cái huy chương mục nát của nó bằng những châm ngôn lý tưởng: Bác ái, Bình đẳng, v.v..

Nhưng, hãy xem tay chiến sĩ về bình đẳng ấy đã thực hiện bình đẳng như thế nào.

Cùng làm một việc trong cùng một xưởng, người thợ da trắng vẫn được trả lương hậu hơn nhiều so với bạn đồng nghiệp khác màu da.

Trong các công sở, những người bản xứ mặc dầu đã làm việc lâu nǎm và mặc dầu rất thành thạo công việc, vẫn chỉ lĩnh một khoản tiền công chết đói, trong khi một người da trắng mới được vào, làm công việc ít hơn, thì lại lĩnh lương bổng nhiều hơn.

Có những thanh niên bản xứ đã học qua các trường đại học của chính quốc và đậu bằng tiến sĩ y khoa hoặc luật khoa, vẫn không thể làm được nghề nghiệp của mình trong nước mình nếu họ không vào quốc tịch Pháp. (Mọi người đã biết, một người bản xứ muốn được vào quốc tịch Pháp như vậy thì khó khǎn và nhục nhã như thế nào rồi).

Phải bỏ ruộng nương và nhà cửa đǎng vào lính “tình nguyện”, những người dân bản xứ ra lính đã được nếm mùi ngay ý nghĩa mỹ miều của cái thứ “công bằng” quái gở mà họ đang phải bảo vệ này.

Cùng một cấp bậc, nhưng người da trắng gần như bao giờ cũng được xem là cấp trên của người bản xứ. Người sĩ quan bản xứ phải chào và tuân lệnh sĩ quan da trắng. Cái chế độ đẳng cấp phân biệt “nhân chủng – quân sự” ấy lại còn rõ rệt hơn nữa khi những người lính da trắng và lính khác màu da cùng đi chung trên một chuyến xe lửa hoặc tầu thuỷ. Ví dụ như việc mới nhất gần đây:

Hồi tháng nǎm, chiếc tàu Ligiê chở 600 lính người Mangát từ Pháp sang Mađagátxca. Các hạ sĩ quan người bản xứ thì chen chúc dưới hầm tàu, còn đồng nghiệp của họ, những hạ sĩ quan da trắng, thì được đường hoàng nằm trong các buồng dành riêng.

Hẳn những người anh em khác màu da chúng ta, nóng sôi lên vì các nồi súpde nếu không phải vì lý tưởng, và tỉnh dậy vì tiếng động ầm ầm của chân vịt quay hay vì tiếng gọi của lương tri, có thể suy nghĩ và hiểu rằng cái chủ nghĩa tư bản tốt đẹp kia vẫn coi họ và bao giờ cũng chỉ coi họ như những kẻ ôlô malôtô (1) mà thôi.

N.A.Q

Báo L’Humanité, ngày 1-6-1922.
cpv.org.vn

———————————

(1) Ngay sau khi Nguyễn Ái Quốc gửi bản Yêu sách của nhân dân An Nam tới trưởng đoàn các nước dự Hội nghị Vécxây, bọn bồi bút thực dân lồng lộn. Trên tờ Courrier Colonial ra ngày 27-6 có một bài nhan đề Giờ phút nghiêm trọng chỉ trích bản yêu sách : Làm sao một người dân thuộc địa lại có thể dùng bản yêu sách của nhân dân để công kích Chính phủ Pháp. Thật là quá quắt. Cứ theo đà này thì bọn dân thuộc địa sẽ lên ngang hàng với người Pháp chúng ta và sớm trở thành ông chủ của chúng ta. Không được, phải kìm giữ chúng mãi mãi trong vòng nô lệ. Nguyễn Ái Quốc viết bài này là để trả lời bài báo sặc mùi thực dân trên.

Lời than vãn của Bà Trưng Trắc (24-6-1922)

Quốc vương nước Nam sắp làm “khách của nước Pháp”. Gọi là có lời chào mừng tí ti, chúng tôi kính dâng ngài giấc mộng này của đồng chí Nguyễn ái Quốc của chúng tôi, người bầy tôi trung thành của ngài.

Đêm tối quằn quại dưới làn mưa nhỏ hạt dầm dề. Mảnh trăng vàng vọt cố bíu trên những mái lều tranh. Cây đẫm ướt đầm đìa nước mắt tuôn rơi. Gió thổi qua những cụm lá mệt mỏi va nhau thành tiếng kinh rợn. Cành cây vặn vẹo như những cánh tay ma quái, và những đám nước bị từng cơn gió đột ngột quất, cứ nức nở. Cảnh vật nước Nam, lồng trong cây cỏ um tùm, vốn tươi vui và thơ mộng thế dưới ánh trăng, nay buồn thảm lạ lùng. Cơn hấp hối đang chơi vơi khắp. Tai ương lảng vảng đâu đây.

ánh sáng lừ đừ của những cây nến thơm chấp chới đầu ngọn bấc cong queo, hắt lên những cây cột sơn mài nhẵn bóng trong cung điện những bóng đen lung lay và những con mắt hấp háy. Bọn quan hoạn lim dim uể oải trên chiếc chiếu trải dưới đất ở một góc nhà. Như cảm thấy được có im lặng đang bò lê.

Trống canh vừa điểm ba tiếng. Tùng, tùng, tùng! Các anh là người phương Tây, các anh chẳng hiểu thế là thế nào cả, hử? Tùng, tùng, tùng! Nhân nó lên năm thế là ba giờ của các anh đấy. Đây là thời khắc ban đêm lúc lương tri cất cao tiếng. Lúc các đống mả khạc ra những kẻ nằm bên trong, họ lìa khỏi những tấm liệm he hé mở, để ra ngoài đi dò đi dẫm, cất lên tiếng rú hoan lạc. Lúc đầu óc con người đầy rẫy những bóng hình, mộng mị. Tùng, tùng, tùng! Nhân nó lên ba, thì ấy là con số chín, con số tận cùng trong những con số chẳng thể chia cũng chẳng thể nhân, mà theo vua Phục Hi thì nó biểu hiện sự suy đốn của một sinh linh được coi như cùng tột (dương cửu) (1) .

Đó chính là lúc Thiên tử nằm mơ. Ngài mơ thấy những con rồng chạm trên tủ, bàn bỗng biến động, hoá thành những con rắn gớm ghiếc, mở thao láo những con mắt đỏ ngầu tia máu. Còn những con phụng hoàng (2) , giống chim tượng trưng cho uy quyền vua chúa, thì vươn chiếc cổ dài ngoẵng tua tủa lông, quệt mỏ xoè cánh, y hệt đám gà trống cáu kỉnh, đáng ghét. Mọi vật bằng ngọc thạch, bằng châu báu, đều xỉn đi, xám xịt lại. Tất cả cứ từ từ quay tròn, và tan dần, tan dần. Rồi một bóng ma trùm khăn, trăng trắng hiện lên. Nhà vua kinh hoàng run lên lập cập, vì không phải vua chúa nào cũng đều can đảm như Hămlét (3) , và thông minh như thế thì lại càng không. Ngài muốn kéo chiếu che mặt mà không được.

Đường bệ và giận dữ, bóng ma nói với vị chủ hoàng cung thế này:

– Mi có nhận ra ta không, đứa con khốn khổ kia ơi! Ta là một trong những người khai sáng nước Nam tươi đẹp này đây. Ta là Trưng Trắc, năm 39 (1) đã cùng em gái ta là Trưng Nhị và đồng bào đánh đuổi bọn xâm lăng, trả thù chồng, giải thoát quê hương. Đừng có run lên như thế, con ơi! Mà phải lắng nghe lấy lời mẹ bảo! Chẳng hay mi có biết rằng, theo tập tục nghìn năm của nước Nam ta xưa cũ thì Hoàng đế là chịu mệnh trời để trị dân, vì thế mà được coi là con của trời, cha mẹ của dân?

“Vua muốn xứng với lòng trời và làm tròn nhiệm vụ chí tôn của mình thì phải chịu khổ trước dân và chia sướng sau dân. Vua phải tuân lệnh trời, mà tiếng dân chính là truyền lại ý trời. Bằng không thì ấy là trời đoạn tuyệt, tổ tiên từ bỏ, nhân dân ruồng rẫy.

“Giở sử đất nước ra mà xem, mi sẽ thấy tổ tiên đã treo bao tấm gương đạo đức và dũng cảm, chí khí và tự tôn. Lý Bôn (544) (2), với một nhúm nghĩa sĩ, đã nổi dậy và bẻ gãy ách đô hộ của Hán tộc. Ngô Quyền (938) đã phá tan đạo quân nước ngoài kéo vào đánh chiếm đất đai Tổ quốc ta.

“Dân ta sống trong hạnh phúc và thịnh vượng dưới triều nhà Đinh. Năm 980 (3) , Lê Đại Hành đã dũng cảm không chịu khuất phục trước yêu sách của láng giềng hùng mạnh hơn mình gấp bội, ông đã đánh thắng địch, giết chết tướng địch. Do đó đã giải thoát được đồng bào khỏi nạn nô dịch.

“Quân Mông Cổ đi đến đâu phá sạch đấy, đã bị nhà Trần vẻ vang của chúng ta đánh bại (1225) (4) . Lê Lợi đã hùng dũng đứng ra lãnh đạo cuộc cách mạng nước Nam, đập tan chế độ tàn bạo và hạch sách mà những kẻ tự xưng là bảo hộ ta bắt ta chịu.

…..

“Thật là nhục nhã thậm tệ, thật là chán ngán ghê gớm, thật là cay đắng ê chề xiết bao cho các vị, nếu từ những tầng mây, tổ tiên mi phải trông thấy dân tộc mà các vị đã giành được tự do nay chịu phận nô lệ, đất nước đã được các vị giải thoát nay lâm vào cảnh nô dịch, kẻ kế tục ngai vàng của các vị nay sống trong ươn hèn.

“Mặc dầu lễ nghi không cho phép các vị nguyên thủ nước ta rời khỏi cung cấm, thế nhưng chúng ta vẫn phải đau buồn nhận thấy rằng vẫn có những bậc quân trưởng phải lưu vong.

“Năm 1407 (1) , Tầu (phong kiến) đánh nhau với ta; nhờ ý chí độc lập và lòng khát khao tự do hơn là nhờ quân đông sức mạnh, nước Nam đã thắng. Chinh chiến lúc đó thế là lại bắt đầu. Giặc biết rằng không khuất phục được ta bằng uy lực, đã dùng chiến tranh hao mòn. Trần Đế Quỹ đã lãnh đạo dân Nam đoạt được thắng lợi, sau thấy dân cùng kiệt, đói khát, máu đổ xương rơi. Ông biết rằng giặc chỉ muốn hại mình ông, và chúng bắt được ông rồi thì dân Nam sẽ được yên ổn. Vì vậy ông ra nộp mình; ông nộp mình để dân ông đỡ hao tổn sinh linh, xương máu. Bị cầm tù giải đi, ông nhảy xuống sông tự tử. Ông thà chết vinh chứ không sống nhục. Ngày nay, mỗi buổi mặt trời mọc lên lặn xuống, muôn nghìn ánh hào quang vàng óng quây trên dòng sông trong nước bạc long lanh, tạo nên đài kỷ niệm vĩnh cửu cho linh hồn bất diệt của con người chiến bại vĩ đại đó…

“Tiếp đó là Hàm Nghi, Thành Thái và Duy Tân – người ở ngôi ngay trước mi. Chính những kẻ xưng xưng là tôn trọng phong tục, luật lệ nước ta đã đày ải ba vị và mai đây sẽ dùng mi làm món đồ rao hàng thuộc địa, cổ động đế quốc. Có thấy không, con! Chẳng thể bao giờ trong niên giám nước mi lại có một vua Nam nào chịu làm tôi tớ đến như mi, lại có một cuộc ngự giá tuần du nào thảm hại đến mức này. Trước đây, mi đã từng phạm tội báng bổ là bệ lên bàn thờ linh thiêng của ông vải hình ảnh ghê tởm của thằng da trắng ngái ngủ và bụng phệ nọ, nó sặc lên mùi tỏi, ớn mùi thây ma. Tại sao, ừ, tại sao mi lại làm thế? Nay mi lại sắp lẩn xa tôn miếu. Tay mi sẽ không thắp hương vào những tiết đầu xuân, đầu thu nữa. Mi sẽ không tự tay mở hương án dâng hoa quả đầu mùa và cúng cơm mới nữa. Vẫn hay, con ạ! rằng tất cả những cái ấy chẳng qua đều là nghi lễ cổ hủ ! nhưng mi cũng thừa biết rằng chỉ còn độc nghĩa vụ đó là mi còn làm được với tổ tiên và mi cũng chỉ còn độc cái uy tín đó mà thôi trước mắt thần dân.

“Giờ thì mi lại sắp làm tệ hại hơn nữa. Mi sắp ca ngợi công đức của những đứa bóc lột và hiếp đáp dân mi. Mi sắp phô trương sự thịnh vượng của đất nước mi, cái thịnh vượng được sắp đặt đâu ra đấy trong trí tưởng tượng quá giàu của bọn bóc lột. Mi sắp tâng bốc công ơn vô ngần và tưởng tượng của nền văn minh đã thâm nhập sơn hà xã tắc của mi bằng mũi nhọn của lưỡi lê và bằng họng súng ca-nông.

“Ôi, nhìn, hãy nhìn nào, đứa con thảm thương kia ơi! Hãy nhìn quanh mi! Thấy chăng Trung Hoa đang thức tỉnh, Nhật Bản đang duy tân…? Thấy chăng toàn cầu đang tiến, chỉ có dân mi là, nhờ mi và lũ quan thượng của mi, cứ phải chìm ngập mãi trong vũng lầy dốt nát và tôi đòi khốn nạn?

“Hãy nhìn Triều Tiên, Ai Cập và ấn Độ, tất cả các nước đó đều đang đứng lên đòi hỏi quyền lợi, công lý và tự do!

“Chính giữa lúc đó thì mi… Im… Nghe kìa! Nghe thấy chăng… Nghe thấy chăng những tiếng kêu gào…? A! Người ta đến kia kìa, đông quá, tất cả những người dân nước Nam đã bị thiệt mạng cho cuộc chiến tranh ở châu Âu. Người ta đến đòi những gì mà bọn quan thầy mi đã cùng mi hứa hẹn với người ta, anh em người ta. Trả lời người ta đi nào! A! Người ta giận dữ, người ta bỏ đi.

“Bây giờ thì người ta quay lưng đi rồi, người ta đang đi đến phía đằng kia. Có thấy người ta không? Đằng kia ấy, nơi mặt trời đang mọc huy hoàng khôn xiết, nơi tung bay kiêu hãnh lá cờ Nhân đạo và Lao động. Đấy! Chính đấy là nơi yên nghỉ tâm linh những người đã khuất, là tương lai của dân tộc mà mi đã phụng sự chẳng ra gì!

“Gà sắp gáy sáng. Sao Bắc đẩu tiến ngang trời. Nhạc tiên đang giục giã ta. Thôi, chào!”.

Mồ hôi nhớp nháp đẫm trán vị chúa thượng đang ngủ. Ngài muốn kêu lên. Nhưng không kêu được. Lưỡi ngài líu lại vì sợ.

Một quan hoạn bước vào, khom khom cái lưng ba lần, rồi the thé cái giọng đàn bà:

– Ngai dưới (1) ! Đã có lệnh lên đường của Tòa Khâm truyền sang rồi đấy ạ!

NGUYỄN ÁI QUỐC

Báo L’Humanité, ngày 24-6-1922.

(1) Ngay sau khi Nguyễn Ái Quốc gửi bản Yêu sách của nhân dân An Nam tới trưởng đoàn các nước dự Hội nghị Vécxây, bọn bồi bút thực dân lồng lộn. Trên tờ Courrier Colonial ra ngày 27-6 có một bài nhan đề Giờ phút nghiêm trọng chỉ trích bản yêu sách : Làm sao một người dân thuộc địa lại có thể dùng bản yêu sách của nhân dân để công kích Chính phủ Pháp. Thật là quá quắt. Cứ theo đà này thì bọn dân thuộc địa sẽ lên ngang hàng với người Pháp chúng ta và sớm trở thành ông chủ của chúng ta. Không được, phải kìm giữ chúng mãi mãi trong vòng nô lệ. Nguyễn Ái Quốc viết bài này là để trả lời bài báo sặc mùi thực dân trên.

(2) Bản Yêu sách của nhân dân An Nam: Năm 1918, Chiến tranh thế giới thứ nhất kết thúc. Ngày 18-1-1919, đại biểu các nước đế quốc tham gia chiến tranh họp hội nghị ở Vécxây (Pháp). Hội nghị này (còn gọi là Hội nghị hoà bình Pari) nhằm xác định sự thất bại của Đức và các nước đồng minh của Đức, chia lại thị trường thế giới cho các nước đế quốc thắng trận, chủ yếu là Mỹ, Anh, Pháp.Nhân danh nhóm người yêu nước Việt Nam, Nguyễn Ái Quốc đã gửi đến Hội nghị bản Yêu sách của nhân dân An Nam. Nguyễn Ái Quốc còn thuê in thành truyền đơn, đăng trên các báo, gửi đến các nhà hoạt động chính trị có tên tuổi, phân phát trong các buổi hội họp, mít tinh, gửi cho Việt kiều ở Pháp và gửi về nước.

(3) Báo Le Courrier d\’Hai Phong: Báo xuất bản hằng ngày ở Hải Phòng, năm 1887, do Toà đốc lý của chính quyền thuộc địa phụ trách.

(4) Báo L\’Humanité: Tờ báo hằng ngày của Đảng Xã hội Pháp do Giǎng Giôrét sáng lập nǎm 1904. Sau Đại hội lần thứ XVIII (Đại hội Tua), Đảng Cộng sản Pháp thành lập, báo L\’Humanité trở thành cơ quan ngôn luận chính thức của Đảng Cộng sản Pháp.

NGUYỄN ÁI QUỐC

Báo L’Humanité, ngày 24-6-1922.
cpv.org.vn

————————————–

(1) Ngay sau khi Nguyễn Ái Quốc gửi bản Yêu sách của nhân dân An Nam tới trưởng đoàn các nước dự Hội nghị Vécxây, bọn bồi bút thực dân lồng lộn. Trên tờ Courrier Colonial ra ngày 27-6 có một bài nhan đề Giờ phút nghiêm trọng chỉ trích bản yêu sách : Làm sao một người dân thuộc địa lại có thể dùng bản yêu sách của nhân dân để công kích Chính phủ Pháp. Thật là quá quắt. Cứ theo đà này thì bọn dân thuộc địa sẽ lên ngang hàng với người Pháp chúng ta và sớm trở thành ông chủ của chúng ta. Không được, phải kìm giữ chúng mãi mãi trong vòng nô lệ. Nguyễn Ái Quốc viết bài này là để trả lời bài báo sặc mùi thực dân trên.

(2) Bản Yêu sách của nhân dân An Nam: Năm 1918, Chiến tranh thế giới thứ nhất kết thúc. Ngày 18-1-1919, đại biểu các nước đế quốc tham gia chiến tranh họp hội nghị ở Vécxây (Pháp). Hội nghị này (còn gọi là Hội nghị hoà bình Pari) nhằm xác định sự thất bại của Đức và các nước đồng minh của Đức, chia lại thị trường thế giới cho các nước đế quốc thắng trận, chủ yếu là Mỹ, Anh, Pháp.Nhân danh nhóm người yêu nước Việt Nam, Nguyễn Ái Quốc đã gửi đến Hội nghị bản Yêu sách của nhân dân An Nam. Nguyễn Ái Quốc còn thuê in thành truyền đơn, đăng trên các báo, gửi đến các nhà hoạt động chính trị có tên tuổi, phân phát trong các buổi hội họp, mít tinh, gửi cho Việt kiều ở Pháp và gửi về nước.

(3) Báo Le Courrier d\’Hai Phong: Báo xuất bản hằng ngày ở Hải Phòng, năm 1887, do Toà đốc lý của chính quyền thuộc địa phụ trách.

(4) Báo L\’Humanité: Tờ báo hằng ngày của Đảng Xã hội Pháp do Giǎng Giôrét sáng lập nǎm 1904. Sau Đại hội lần thứ XVIII (Đại hội Tua), Đảng Cộng sản Pháp thành lập, báo L\’Humanité trở thành cơ quan ngôn luận chính thức của Đảng Cộng sản Pháp.

Những kẻ đi khai hoá (1-7-1922)

Dưới đầu đề “Bọn kẻ cướp ở thuộc địa”, đồng chí Víchto Mêrích đã thuật lại cho chúng ta nghe sự độc ác không thể tưởng tượng được của một viên quan cai trị thuộc địa nọ đã đổ nhựa cao su vào bộ phận sinh dục của một người phụ nữ da đen khốn khổ. Sau đó, hắn bắt chị phải đội một tảng đá lớn đứng phơi nắng cho đến chết.

Tên công chức dâm bạo đó hiện đang tiếp tục những thành tích của hắn trong một tỉnh khác với chức vị cũ.

Khốn thay, những việc bỉ ổi như vậy lại không hiếm gì ở cái nơi mà báo chí của các nhà cầm quyền thường gọi là “nước Pháp hải ngoại”.

Hồi tháng 3 nǎm 1922, một nhân viên nhà đoan Bà Rịa (Nam Kỳ) đã đánh gần chết một phụ nữ An Nam làm nghề gánh muối, lấy cớ rằng người này đã làm mất giấc ngủ trưa của hắn, vì làm ồn ào ngoài hiên nhà hắn ở.

Hay ho nữa là người đàn bà này còn bị doạ đuổi khỏi nơi làm việc nếu bà thưa kiện gì.

Hồi tháng 4, một nhân viên nhà đoan khác đến thay cũng thật xứng đáng với tên trước về những hành động tàn ác của hắn.

Một bà cụ người An Nam, cũng làm nghề gánh muối, vì bị khấu lương nên cãi nhau với mụ cai. Mụ cai đến thưa với viên đoan. Viên này chẳng xét xử gì cả, tát bà cụ thợ muối hai cái thật mạnh và khi bà cụ già đáng thương cúi xuống nhặt nón, thì nhà khai hoá ấy, chưa vừa lòng với trận đòn mà hắn vừa trừng phạt bà cụ, liền đá một cái rất mạnh vào bụng bà cụ khiến cho máu ộc ngay ra lênh láng.

Khi bà cụ người An Nam đáng thương bị ngã quay xuống đất, đáng lẽ phải cấp cứu cho bà, thì người cộng tác viên của ông Xarô ấy lại cho gọi lý trưởng đến và ra lệnh cho lý trưởng đem người bị thương đi nơi khác. Lý trưởng từ chối không làm. Viên đoan liền cho gọi chồng người bị nạn đến, – ông này bị mù, – ra lệnh bắt ông phải đem vợ đi. Hiện nay, bà cụ già khốn khổ đó đang nằm nhà thương.

Bạn có muốn đánh cuộc rằng hai ông đoan của chúng ta ở Nam Kỳ, cũng như bạn đồng nghiệp của họ là vị quan cai trị nọ ở châu Phi, có bị làm rầy rà gì không ? Họ hẳn đã được thǎng chức nữa kia đấy.

NGUYỄN ÁI QUỐC

Báo Le Paria, số 4, ngày 1-7-1922.
cpv.org.vn

Thù ghét chủng tộc (1-7-1922)

Vì nói đến đấu tranh giai cấp và quyền bình đẳng giữa con người mà đồng chí Ludông của chúng ta đã bị kết án là đã tuyên truyền thù ghét chủng tộc. Vậy ta hãy xem tình yêu thương giữa các chủng tộc đã được quan niệm và thực hiện ở Đông Dương như thế nào trong thời gian gần đây.

Hôm nay, chúng ta sẽ không nói đến tội ác của chính quyền thực dân là dùng rượu và thuốc phiện để đầu độc quần chúng và làm cho họ ngu muội đi. Việc ấy các đồng chí chúng ta trong đảng đoàn nghị sĩ tất sẽ có ngày bàn đến.

Mọi người đều biết rõ những thành tích lớn lao của tên quan cai trị sát nhân Đáclơ. Tuy nhiên đâu có phải chỉ mình hắn mới có những thủ đoạn tàn ác đối với người bản xứ như thế.

Một gã Puốcxinhông nào đó, đã hùng hổ nhảy ra đánh một người An Nam chỉ vì người này dám tò mò và cả gan nhìn ngôi nhà của người Âu trong mấy giây đồng hồ. Hắn đánh anh và cuối cùng giết anh bằng một phát súng lục bắn vào đầu.

Một nhân viên sở hoả xa, đã dùng roi mây đánh một người lý trưởng Bắc Kỳ.

Ông Béc đấm vỡ sọ người lái xe cho ông ta.

Ông thầu khoán Brét, sau khi cho chó cắn một người An Nam đã trói tay người này lại, đá cho đến chết.

Ông Đépphi, chủ sở thuế đã giết chết người đầy tớ An Nam của ông ta bằng một cái đá hết sức mạnh vào mạng mỡ.

Ông Hǎngri, thợ máy ở Hải Phòng, nghe ngoài phố có tiếng ồn ào; cửa nhà ông vừa mở thì một người đàn bà An Nam chạy xộc vào, sau lưng có một người đàn ông đuổi theo. Hǎngri tưởng là một người bản xứ đang đuổi một Con gái (1) , liền vớ lấy khẩu súng sǎn nổ một phát. Người đàn ông ngã vật xuống chết ngay. Đó là một người Âu. Hỏi thì Hǎngri trả lời: “Tôi tưởng đây là một thằng bản xứ”.

Một người Pháp buộc ngựa của mình vào một cái chuồng trong đó đã có sẵn con ngựa cái của một người bản xứ. Con ngựa đực nhảy chồm lên, làm cho người Pháp tức điên ruột. Ông ta đánh người bản xứ hộc cả máu mồm, máu mũi, rồi đem trói lại treo lên cầu thang.

Một nhà truyền giáo (Vâng! một vị linh mục nhân từ) nghi một học sinh trường thầy dòng người bản xứ ǎn cắp của mình 1.000 đồng, ông ta trói người học sinh này lại, treo lên xà nhà, tra khảo. Người học sinh đáng thương ấy ngất đi. Họ hạ anh xuống. Khi anh hồi tỉnh, họ lại treo lên tra khảo. Anh đã gần chết. Có lẽ hôm nay thì chết rồi.

Vân vân và vân vân.

Toà án có trừng phạt những tên đó, những con người đi khai hoá đó hay không ?

Có tên thì trắng án, có tên thì không ai đụng đến lông chân. Sự tình là như vậy. ấy thế mà bây giờ thì:

– Bị cáo Ludông, đến lượt anh nói đi!

NGUYỄN ÁI QUỐC

Báo Le Paria, số 4, ngày 1-7-1922.
cpv.org.vn

——————————

(1) Ngay sau khi Nguyễn Ái Quốc gửi bản Yêu sách của nhân dân An Nam tới trưởng đoàn các nước dự Hội nghị Vécxây, bọn bồi bút thực dân lồng lộn. Trên tờ Courrier Colonial ra ngày 27-6 có một bài nhan đề Giờ phút nghiêm trọng chỉ trích bản yêu sách : Làm sao một người dân thuộc địa lại có thể dùng bản yêu sách của nhân dân để công kích Chính phủ Pháp. Thật là quá quắt. Cứ theo đà này thì bọn dân thuộc địa sẽ lên ngang hàng với người Pháp chúng ta và sớm trở thành ông chủ của chúng ta. Không được, phải kìm giữ chúng mãi mãi trong vòng nô lệ. Nguyễn Ái Quốc viết bài này là để trả lời bài báo sặc mùi thực dân trên.

Con người biết mùi hun khói (20-7-1922)

Xin tặng Nahông (1) , người đã bị quân phiệt thực dân ám hại, bài ký này.

“Chính cuộc chinh phục hệ thống thuộc địa đã rèn luyện tài nǎng chiến đấu của số đông những nhà chỉ huy quân sự lớn của ta, những con người đã đưa ta đến chiến thắng, đã được dư luận Pháp ca ngợi vinh quang và chiến công ngay khi mang lá cờ nước ta đến dưới những bầu trời châu Phi hay châu Á”.

Anbe Xarô
Bộ trưởng Bộ Thuộc địa

Haútxa (2) , tháng 1 nǎm 1998.

Thành phố Haútxa cờ xí tưng bừng. Tưởng đâu như một vị chúa xuân đã gõ cây đũa thần lên gỗ ván khô khốc ở các bao lơn và các cửa sổ, làm mọc ra muôn vàn tấm lá đỏ phấp phới yêu kiều trước gió. Đây là lễ kỷ niệm lần thứ nǎm mươi ngày thành lập Cộng hoà liên hiệp Phi. Chưa bao giờ dân chúng lại tham gia với mức độ ấy những hội hè loại này. Từ sáng sớm, các đường phố, các quảng trường y như một dòng sông người. Từng đoàn học sinh, giương cờ đi đầu, vừa diễu qua các phố vừa hát Quốc tế ca, được dân chúng vỗ tay hoan nghênh. Trên quảng trường Xôviết, một cụ già hô hào đám đông. Đó là cố Kimengô, mệnh danh là Con người biết mùi hun khói.

Cụ Kimengô, tuổi đã chín mươi, là một cựu chiến sĩ của quân đội cách mạng, một trong những người sáng lập Cộng hoà da đen. Được phú bẩm một trí thông minh đặc biệt sắc sảo, lại am hiểu tường tận mọi sự kiện chính trị và xã hội của thời đại, cụ Kimengô không những đã ra sức thức tỉnh anh em cùng màu da ra khỏi giấc ngủ mê say của con người nô lệ, mà còn cố gắng phá tan mọi thành kiến dân tộc và chủng tộc, tập hợp những người bị bóc lột thuộc các màu da trong cuộc đấu tranh chung. Cụ đã thành công. Kimengô là một trong số hiếm những người đã chịu gian khổ lớn để gieo hạt và được hưởng hạnh phúc lớn gặt vụ mùa thắng lợi. Mái tóc cụ bạc phơ như tuyết khuôn rực rỡ bộ mặt màu mun. Đôi mắt cụ hiền dịu và nhìn sâu thẳm. Miệng cụ luôn tươi cười, dù trước những nguy nan nghiêm trọng nhất hay trong những giờ phút đen tối nhất. Từ toàn bộ con người cụ toát ra nhân từ và cao quý. Cụ đáng tôn kính và được tôn kính.

Chúng tôi đến nơi thì cụ đã nói được nửa chừng, và đây là những lời mà chúng tôi nghe được:

“… Có những từ ngữ mà người già các bác trước kia thường nghe thường nói, thì nay không còn trong từ ngữ của các cháu nữa. Và như thế là tốt. Bây giờ các bác nói đến toà án, cảnh sát, quân đội, nhà tù, thuế khoá, thì các cháu chẳng mấy người hiểu những cái đó là cái gì.

“Thời bác thì nước Cộng hoà của chúng ta là thuộc địa Pháp. Trong nước, có người giàu và người nghèo. Người giàu là những kẻ hưởng tất cả, tuy gì cũng chẳng làm. Người nghèo là những kẻ gì

cũng làm, mà chẳng được hưởng gì cả. Người nghèo phải chịu chết chóc cho người giàu khi nào bọn này bất hoà với nhau: cái đó gọi là thuế máu. Người nghèo làm ra được cái gì đều phải nộp cho người giàu: cái đó gọi là thuế tiền.

“Vậy nhé, bọn tư bản da trắng lấy nước ta làm thuộc địa xong, nó bắt các bác phải nộp các thứ thuế, mặc dầu các bác nào có của nả gì đâu. Nộp thì không có gì để nộp; để khỏi bị hành hạ, các bác phải bỏ trốn vào rừng. Chúng nó đem chó và đem súng đuổi theo, các bác đành phải ẩn vào một cái hang, ngày nay gọi là hang Tuẫn nạn.

“Bọn bác hơn hai trǎm mạng, đàn ông có, đàn bà có, trẻ em có. Cứ tưởng rằng như thế là tạm yên thân, nên mặc dầu phải chịu ẩm, chịu tối, chịu đói, cực lắm, các bác có ý định cứ nán lại đó càng lâu càng hay, vì biết rằng bọn nó vẫn rình ở ngoài hang với súng ống. Hang tối như bưng ngày cũng như đêm, bác chẳng biết ở trong đó bao lâu.

“Chẳng trông thấy gì hết, chẳng nghe thấy gì hết, trừ tiếng chó sủa dữ dội, xa xǎm, nhắc nhở rằng tình thế vẫn hiểm nghèo.

“Một ngày nọ, nói đúng hơn là một đêm nọ, các bác ngửi thấy có cái mùi khét lẹt tràn vào chỗ náu trong lòng đất. Mùi khét nặng lên nhanh và trở thành không thể chịu nổi. Gì thế? Chẳng ai biết… Trẻ nhỏ thì khóc, đàn bà thì la, đàn ông thì chửi. Hoảng loạn! Chạy đi ư? Nhưng chạy đâu chứ? Khủng khiếp quá! Tiếng rǎng lập cập, tiếng thét xé tai, tiếng nấc, tiếng thân người đổ xuống, tiếng khóc điên rồ, làm cho cái xó tối ám khói đó hệt như là một địa ngục.

“Bấy giờ bác ở tận cuối hang. Bác theo bản nǎng nhắm mắt, ngậm miệng, áp mặt vào vách hang. Như thế cảm thấy dễ thở hơn và ngủ đi lúc nào không biết. Tỉnh dậy thì thấy có tia sáng chiếu chếch vào mặt, đấy là một kẽ hở qua đất, nhờ đó mà bác thở được và thoát chết. Bác nhằm đào một lối ra phía đó, nhưng chỉ mệt xác vô ích. Bác bèn quyết định thôi đành liều mạng cứ phía cửa hang mà ra. Quờ quạng và dẫm qua hai trǎm xác chết hun mới trở lại được với khoảng trời tự do.

“Bác ǎn cỏ, ǎn rễ cây, đi lang thang hết làng này sang làng nọ; cuối cùng thì được bố của đồng chí người da trắng này đây thu nhận về nuôi như con. Ông đã dạy dỗ bác theo những nguyên tắc của tình hữu ái và của chủ nghĩa cộng sản; ông cũng đã cho bác biết tên thằng da trắng vì muốn thu thuế mà đã hun các bác chết ngạt một cách man rợ như vậy.

“Thằng hun khói, tên nó là Bruye, là đại diện của nước Pháp và là công sứ ở Haútxa”.

NGUYỄN ÁI QUỐC

Báo L’Humanité, ngày 20-7-1922.
cpv.org.vn

——————————

(1) Ngay sau khi Nguyễn Ái Quốc gửi bản Yêu sách của nhân dân An Nam tới trưởng đoàn các nước dự Hội nghị Vécxây, bọn bồi bút thực dân lồng lộn. Trên tờ Courrier Colonial ra ngày 27-6 có một bài nhan đề Giờ phút nghiêm trọng chỉ trích bản yêu sách : Làm sao một người dân thuộc địa lại có thể dùng bản yêu sách của nhân dân để công kích Chính phủ Pháp. Thật là quá quắt. Cứ theo đà này thì bọn dân thuộc địa sẽ lên ngang hàng với người Pháp chúng ta và sớm trở thành ông chủ của chúng ta. Không được, phải kìm giữ chúng mãi mãi trong vòng nô lệ. Nguyễn Ái Quốc viết bài này là để trả lời bài báo sặc mùi thực dân trên.

(2) Bản Yêu sách của nhân dân An Nam: Năm 1918, Chiến tranh thế giới thứ nhất kết thúc. Ngày 18-1-1919, đại biểu các nước đế quốc tham gia chiến tranh họp hội nghị ở Vécxây (Pháp). Hội nghị này (còn gọi là Hội nghị hoà bình Pari) nhằm xác định sự thất bại của Đức và các nước đồng minh của Đức, chia lại thị trường thế giới cho các nước đế quốc thắng trận, chủ yếu là Mỹ, Anh, Pháp.Nhân danh nhóm người yêu nước Việt Nam, Nguyễn Ái Quốc đã gửi đến Hội nghị bản Yêu sách của nhân dân An Nam. Nguyễn Ái Quốc còn thuê in thành truyền đơn, đăng trên các báo, gửi đến các nhà hoạt động chính trị có tên tuổi, phân phát trong các buổi hội họp, mít tinh, gửi cho Việt kiều ở Pháp và gửi về nước.

Tấm gương tự phê bình và phê bình của Chủ tịch Hồ Chí Minh

Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XI) chỉ rõ: “Các nguyên tắc tập trung dân chủ, tự phê bình và phê bình ở nhiều nơi vừa bị buông lỏng trong thực hiện, vừa chưa được quy định cụ thể để làm cơ sở cho công tác kiểm tra, giám sát”(1). Nghị quyết đã đưa ra nhóm giải pháp về tự phê bình và phê bình, nêu cao tính tiền phong, gương mẫu của cấp trên và yêu cầu: “Các đồng chí Ủy viên Bộ Chính trị, Ban Bí thư, Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương tiến hành kiểm điểm, đánh giá liên hệ bản thân về kết quả thực hiện nhiệm vụ được giao liên quan đến một số vấn đề cấp bách nêu trong Nghị quyết, đề ra biện pháp khắc phục. Tập trung làm rõ trách nhiệm cá nhân, gương mẫu thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ, tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách, tự phê bình và phê bình, nói đi đôi với làm, nêu gương về đạo đức, lối sống; Các đồng chí ủy viên ban cán sự đảng, đảng đoàn, đảng ủy trực thuộc Trung ương, lãnh đạo các ban của Trung ương Đảng, ban thường vụ các tỉnh ủy, thành ủy và cấp ủy các cấp nghiêm túc kiểm điểm, tự phê bình và phê bình, nêu gương bằng hành động thực tế”(2); “Tiếp tục đẩy mạnh việc học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh theo tinh thần Chỉ thị 03-CT/TW, ngày 14-5-2011 của Bộ Chính trị; tập trung lãnh đạo, chỉ đạo việc làm theo gương Bác một cách thiết thực, hiệu quả”(3).

Bài viết này muốn đề cập đến tấm gương tự phê bình và phê bình của Chủ tịch Hồ Chí Minh để chúng ta cùng suy nghĩ, học tập, thực hiện tự phê bình và phê bình đạt kết quả tốt.

Khi nói về ý nghĩa và tầm quan trọng của tự phê bình và phê bình, Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ: “Đảng cách mạng cần tự phê bình và phê bình như ta cần không khí, cũng như người có bệnh, nếu giấu giếm tật bệnh trong mình, không dám uống thuốc để bệnh ngày càng nặng thêm, nguy đến tính mạng”(4). Vì vậy, Người yêu cầu: “Mỗi cán bộ, đảng viên phải tự kiểm điểm, tự phê bình, tự sửa chữa như mỗi ngày phải rửa mặt. được như thế thì trong Đảng sẽ không có bệnh và Đảng sẽ khoẻ mạnh vô cùng”(5).

Sự nghiệp cách mạng của nhân dân ta rất vĩ đại, nhưng đầy khó khăn, thử thách, mới mẻ, nên sai lầm và khuyết điểm là điều không thể tránh khỏi. Đối với Đảng cầm quyền cũng vậy, Hồ Chí Minh chỉ rõ: “Đảng ta không phải trên trời sa xuống”(6), nên Đảng có những sai lầm, có nhiều nguyên nhân dẫn đến sai lầm. Theo Hồ Chí Minh đó là: “Vì chúng ta kém về trình độ lý luận và về mặt nắm tình hình thực tế. Vì trong Đảng ta chưa xây dựng hẳn hoi các chế độ công tác thích hợp. Vì dân chủ nội bộ chưa thật mở rộng. Vì phê bình và tự phê bình chưa được phát huy nhất là phê bình từ dưới lên”(7).

Nói sai lầm, khuyết điểm là không tránh khỏi. Vậy thái độ của một chính Đảng cách mạng trước sai lầm của mình nên như thế nào. Hồ Chí Minh chỉ rõ: “Một Đảng có gan thừa nhận khuyết điểm của mình, vạch rõ những cái đó vì đâu mà có những khuyết điểm đó, xét rõ hoàn cảnh sinh ra khuyết điểm đó, rồi tìm cách sửa chữa khuyết điểm đó. Như thế là một Đảng tiến bộ, mạnh dạn, chắc chắn, chân chính”(8).  Chủ tịch Hồ Chí Minh không chỉ kêu gọi, nhắc nhở mọi người, mà bản thân Người luôn luôn gương mẫu làm trước, thể hiện một sự nhất quán giữa nói và làm, giữa giáo dục đạo đức và nêu gương đạo đức. Hồ Chí Minh đã chân thành nhắc nhở đồng chí và các học trò của mình  không được ngần ngại trong việc góp ý cho mình. “Tôi làm điều xấu các đồng chí trông thấy, phải phê bình cho tôi sửa chữa ngay. Nếu tôi có vết nhọ trên trán, các đồng chí trông thấy lại lấy cớ “nể cụ” không nói là tôi mang nhọ mãi. Nhọ ở trên trán thì không quan trọng, nhưng có vết nhọ ở trong óc, ở tinh thần mà không nói cho người ta sửa, tức là hại người”(9). Trên tinh thần đó, Người viết bài “Tự phê bình” đăng trên báo Cứu quốc số ra ngày 28-01-1946. Hồ Chí Minh đã nêu lên nhiều việc lớn chưa làm được như: Các nước chưa công nhận quyền độc lập của ta; kháng chiến ở Nam bộ chưa thắng lợi; tệ tham nhũng chưa quét sạch; chính trị chưa vào nề nếp… Từ đó, Người kết luận: “Những sự thành công là nhờ đồng bào cố gắng, những khuyết điểm kể trên là lỗi tại tôi”(10).

Trong những năm kháng chiến chống Pháp, ở một vài nơi thuộc Liên khu IV cũ, một số cán bộ địa phương đã làm sai đường lối, chính sách của Đảng và Chính phủ để lại những hậu quả nghiêm trọng, gây ra oan ức cho đồng bào. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã giử thư cho đồng bào liên khu IV, trong đó Người tự nhận lỗi về mình: “Tôi phải thật thà xin lỗi những đồng bào vì những cán bộ sai lầm mà bị oan ức. Tôi thực thà phê bình khuyết điểm của tôi – là giáo dục và lựa chọn cán bộ chưa được chu đáo” (11). Đây cũng là tấm gương sáng về tinh thần tự phê bình cho lãnh đạo các địa phương, các ngành, các cấp về trách nhiệm không thể thoái thác đối với những sai phạm của cán bộ dưới quyền mình.

Tại Hội nghị Trung ương lần thứ 10 (mở rộng) thảo luận về cải cách ruộng đất và chỉnh đốn tổ chức. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã  tự phê bình và phê bình rất nghiêm túc là: “Đã quan liêu, không sát quần chúng, không sát thực tế, chỉ xem báo cáo, tin vào người báo cáo”. Về phương hướng sửa chữa, Người yêu cầu “Từ Trung ương đến chi bộ xã đều phải làm đúng nguyên tắc lãnh đạo tập thể, cá nhân phụ trách; đều phải chống các tệ sùng bái cá nhân và quan liêu, mệnh lệnh; đều phải thật thà tự phê bình và phê bình thẳng thắn; đều phải thực sự dân chủ”(12). Sau này Hồ Chủ tịch đã thay mặt Đảng, Chính phủ tự phê bình và nhận lỗi trước Quốc hội và đồng bào. Đó thực sự là tấm gương sáng về tự phê bình và phê bình để cán bộ, đảng viên noi theo. Theo Người: “Uy tín của người lãnh đạo là ở chỗ mạnh dạn thực hiện tự phê bình và phê bình, biết học hỏi quần chúng, sửa chữa khuyết điểm, để đưa công việc ngày càng tiến bộ chứ không phải ở chỗ giấu giếm và e sợ quần chúng phê bình”(13). Đối với đa số người dân, niềm tin vào Đảng lãnh đạo, vào chế độ thường được xây dựng trên niềm tin vào đạo đức của những người cầm quyền, những cán bộ có chức, có quyền như Bác Hồ đã nói: “Nếu chính mình tham ô bảo người ta liêm khiết có được không? Không được, mình trước hết phải siêng năng, trong sạch thì mới bảo người ta trong sạch, siêng năng được”(14).

Hiện nay, một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên, trong đó có những đảng viên giữ vị trí lãnh đạo, quản lý, kể cả một số cán bộ cao cấp, suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống với những biểu hiện khác nhau về sự phai nhạt lý tưởng, sa vào chủ nghĩa cá nhân ích kỷ, cơ hội, thực dụng, chạy theo danh lợi, tiền tài, kèn cựa địa vị, cục bộ, tham nhũng, lãng phí, tùy tiện… Nguyên tắc “tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách” trên thực tế ở nhiều nơi rơi vào hình thức, do không xác định rõ cơ chế trách nhiệm, mối quan hệ giữa tập thể và cá nhân; khi sai sót, khuyết điểm không ai chịu trách nhiệm.

Thang thuốc đặc trị cho căn bệnh suy thoái đạo đức, lối sống lúc này chính là phải thực hiện tốt Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XI) “Một số vấn đề cấp bách về xây dựng Đảng hiện nay”; tiếp tục đẩy mạnh việc học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh theo tinh thần Chỉ thị 03-CT/TW, ngày 14-5-2011 của Bộ Chính trị; tập trung lãnh đạo, chỉ đạo việc làm theo gương Bác một cách thiết thực, hiệu quả, kiên quyết thực hiện theo Di chúc của Người: “Trong Đảng thực hành dân chủ rộng rãi, thường xuyên và nghiêm chỉnh tự phê bình và phê bình là cách tốt nhất để củng cố và phát triển sự đoàn kết thống nhất của Đảng”(15).

Võ Thanh Bình
Trường Chính trị tỉnh Kon Tum
xaydungdang.org.vn

……………………………………

(1); (2); (3): NQHNTW4 Khóa XI của Đảng. (4); (5); (6); (8); (9) HCMTT – NXBCTQG H. 1995 (Tập 5. Tr 233, 239, 262, 261, 224).(7); (12) HCMTT – NXBCTQG H. 1996 (Tập 8. Tr 157; 255). (10) HCMTT – NXBCTQG H. 1995 (Tập 4. Tr 166). (11) HCMTT – NXBCTQG H. 1995 (Tập 6. Tr 65). (13) HCMTT – NXBCTQG H. 1996 (Tập 10. Tr 578). (14) HCMTT – NXBCTQG H. 1996 (Tập 7. Tr 59). (15) HCMTT – NXBCTQG H. 1996 (Tập 12. Tr 511).

Kẻ cầm đầu Chính phủ Việt gian đầu tiên ở Nam Bộ bị bắt như thế nào?

QĐND – Ngay sau khi Ủy ban Kháng chiến Nam Bộ ra tuyên cáo kháng chiến vào ngày 23-9-1945, lực lượng Việt Minh ở Sài Gòn đã lập một chiến công lớn, bắt sống tên cầm đầu Chính phủ Việt gian và xóa sổ tổ chức bán nước này từ trong trứng nước. Người chỉ huy thực hiện cuộc “bắt cọp giữa ban ngày” này là cán bộ Việt Minh Huỳnh Văn Nghệ.

Theo cọp về hang

Tại Sài Gòn lúc bấy giờ, trước khí thế kháng chiến mạnh mẽ của quân dân ta, thực dân Pháp đã gấp rút điều quân tiếp viện từ Pháp sang. Sau khi được bổ sung thêm 1 trung đoàn bộ binh, 1 tiểu đoàn cơ giới, 1 đại đội thủy quân, đầu tháng 10-1945, quân Pháp nổ súng trở lại phá vòng vây. Lợi dụng tình hình hỗn loạn ở giai đoạn này, một số phần tử cơ hội bán nước được sự bảo trợ, tiếp tay của quân Pháp đã đứng ra tập hợp lực lượng phản động thân Pháp để chống lại Việt Minh. Tiêu biểu nhất trong đám Việt gian ở Sài Gòn là Dương Văn Giáo, còn gọi là Trạng sư Dương Văn Giáo. Tên này vừa từ Xiêm về Việt Nam, bám gót Tây thành lập Chính phủ Việt gian bán nước, với tên gọi “Nam Kỳ Cộng hòa quốc”.

Trong hồ sơ của Huỳnh Văn Nghệ được lưu tại Bộ Tổng tham mưu Quân đội nhân dân Việt Nam, có bản báo cáo thành tích do chính ông viết. Ở mục “Những thành tích kháng chiến” giai đoạn 1945, Huỳnh Văn Nghệ viết như sau (trích nguyên văn): “Bắt được tên Dương Văn Giáo, Thủ tướng Chính phủ Việt gian đầu tiên ở Nam Bộ: Một mình với một khẩu súng lục, dùng lý lẽ thuyết phục được một đại đội sắp ra đầu hàng địch, kéo đại đội này trở về với ta và dùng ngay lực lượng ấy xông vào bắt tên Dương Văn Giáo và Lê Quang Kim nạp cho chánh phủ xử tội, kết quả giải tán ngay trong trứng chính phủ bù nhìn đầu tiên của địch ở Nam Bộ làm địch rất lúng túng trong việc tìm người để thành lập chính phủ bù nhìn khác”.

Huỳnh Văn Nghệ, người trực tiếp bắt Dương Văn Giáo (ảnh do gia đình cung cấp).

Tài liệu không ghi rõ ngày xảy ra sự kiện cũng như diễn biến của sự kiện ấy. Chúng tôi đã tìm gặp ông Huỳnh Văn Nam, nguyên Tổng giám đốc Đài Truyền hình Thành phố Hồ Chí Minh, là con trai của “Thi tướng” Huỳnh Văn Nghệ. May mắn cho chúng tôi là trong gia phả tộc họ Huỳnh Văn có khá nhiều tư liệu liên quan đến giai đoạn này của Huỳnh Văn Nghệ, trong đó có bút tích, lưu bút của nhiều người từng sống và làm việc với ông. Nhờ đó, chúng tôi có được tư liệu khá đầy đủ về một trong những chiến công xuất sắc của “Thi tướng” nói riêng và lực lượng Việt Minh nói chung trong giai đoạn Nam Bộ kháng chiến.

Trước ngày nổ ra Nam Bộ kháng chiến, Huỳnh Văn Nghệ được Bí thư Xứ ủy Nam Kỳ Trần Văn Giàu giao nhiệm vụ làm Ủy viên hành chính phụ trách miền Đông. Nhiệm vụ tối quan trọng đầu tiên Huỳnh Văn Nghệ thực thi là đem hơn 70 vạn tiền Đông Dương sang Cam-pu-chia mua vũ khí phục vụ kháng chiến. Do chưa có kinh nghiệm nên Tám Nghệ (tên thường gọi của Huỳnh Văn Nghệ) đã bị những kẻ lái súng lừa gạt, lấy mất tiền. Trên đường trở về Sài Gòn, Tám Nghệ lòng nặng trĩu, tự dằn vặt mình vì không hoàn thành nhiệm vụ cách mạng giao. Khi về đến phà Mỹ Thuận, Tám Nghệ biết tin Trạng sư Dương Văn Giáo theo giặc đứng ra thành lập Chính phủ Việt gian thông qua nguồn tin của Báo Cứu quốc. Ai chứ tay Trạng sư ma mãnh và trụy lạc này thì Tám Nghệ đâu có lạ. Hắn đã từng có “duyên nợ” với Tám Nghệ. Giai đoạn ở Xiêm trước đó, Dương Văn Giáo từng là nhân vật cốt cán của tổ chức “Việt Nam Phục quốc đồng minh hội”, làm mật thám cho Nhật, lừa gạt, giết hại nhiều đồng chí là kiều bào của ta. Tám Nghệ đã hai lần tìm cách trừ khử tên chó săn này nhưng không có kết quả vì hắn rất ranh ma. Giờ đây, khi quân Pháp tăng chi viện cho Sài Gòn hòng đánh bật Việt Minh, tên Việt gian họ Dương này lại bám gót Pháp, trở về Việt Nam để thành lập Chính phủ Việt gian.

Bao lo âu, phiền muộn về vụ mua súng bị lừa gạt bỗng chốc tan biến trong lòng Tám Nghệ. Phải tìm mọi cách bắt ngay Dương Văn Giáo. Để chậm trễ ngày nào sẽ là tai họa cho cách mạng ngày đó. Tám Nghệ giục người lái xe mở hết tốc độ chạy như bay về Sài Gòn để tổ chức lực lượng truy bắt gấp tên Việt gian này. Sáng ngày hôm sau, trên đường đi gặp người của Ủy ban kháng chiến, Tám Nghệ mừng như bắt được vàng khi phát hiện ra Dương Văn Giáo đang ngồi trên chiếc xe mui trần có cắm cờ của Đồng minh Quốc dân đảng Trung Quốc. Người đi cùng Tám Nghệ là Nguyễn Văn Giỏi, cán bộ Công đoàn Sài Gòn – Chợ Lớn– Gia Định. Sự kiện này được ông Giỏi kể lại:

– Trong lúc Tám Nghệ và tôi chờ xe đến đón ở gần nhà thương (bệnh viện) Chợ Rẫy thì Tám Nghệ thấy một chiếc xe chạy ngược chiều, trong xe có tên Dương Văn Giáo. Tôi đưa cho Tám Nghệ xem danh sách chính phủ Việt gian bắt tay với Pháp. Tám Nghệ tức tốc cho xe rượt theo để bắt chúng. Tôi liền mở cặp táp đưa cho Tám Nghệ khẩu súng Vitkar Đức, còn tôi thì sử dụng khẩu mô-de.

Tám Nghệ bí mật cho xe bám theo và vạch ngay trong đầu các phương án bắt sống Dương Văn Giáo sao cho êm gọn nhất. Trong trường hợp xe của tên Việt gian này chạy về hướng Trường đua (nay là Trường đua Phú Thọ), sẽ sử dụng lực lượng bộ đội Bình Xuyên đón bắt. Bằng không, sẽ phải bám đến cùng xem nó đi đến đâu để có phương án “vào hang bắt cọp”. Phương án thứ nhất không xảy ra. Xe chở Dương Văn Giáo chạy lòng vòng rồi rẽ vào một xóm ở Bà Chiểu, sau đó cả đám xuống xe. Tám Nghệ dừng xe, phân công đồng chí Giỏi chạy thẳng về Gò Vấp xin lực lượng đến vây bắt Dương Văn Giáo, còn mình thì bám theo mấy bóng người đang khuất dần sau khóm tre. Dương Văn Giáo và đám tay chân bước vào một ngôi nhà ngói nằm giữa vườn cây xanh.

Cuộc tập kích không tiếng súng

Tám Nghệ hết sức ngạc nhiên khi phát hiện ra, trong ngôi nhà ấy có một đơn vị quân đội đang đóng trú nhưng không biết là quân của lực lượng nào? Đang lúc đầu óc căng như dây đàn thì bất ngờ từ trong nhà có hai người đeo súng lục bên hông bước nhanh ra cổng. Tám Nghệ kéo sụp chiếc mũ xuống che mặt định bước đi thì một trong hai người đó đã nhận ra ông. Hóa ra đó là một người bạn cùng học với ông từ thời ở Trường Petrus Ký, tên là Hồng Tảo. Cuộc tương ngộ quá bất ngờ. Qua mấy câu thăm hỏi chóng vánh, Tám Nghệ biết, đây là đại bản doanh của nhóm Lê Kim Lễ, Lê Kim Tỵ, là đám Việt gian theo Pháp. Dương Văn Giáo đã lôi kéo bọn này theo mình và cuộc gặp gỡ của bọn chúng hôm nay sẽ rất quan trọng đối với kế hoạch, âm mưu thành lập Chính phủ Việt gian của Dương Văn Giáo. Còn Hồng Tảo là người chỉ huy một đại đội Cộng hòa vệ binh đóng ở đây để bảo vệ. Hồng Tảo cho Tám Nghệ biết, Lê Kim Tỵ là người bỏ tiền ra nuôi lực lượng bảo vệ này.

Tám Nghệ suy tính nhanh, nếu đợi đến lúc bộ đội của ta đến không khéo kế hoạch đã bị bại lộ, bọn Việt gian sẽ thừa cơ trốn thoát. Mặt khác, khó có thể tránh khỏi đụng độ căng thẳng giữa hai bên. Thuyết phục Hồng Tảo đứng về phía chính nghĩa và sử dụng lực lượng này bắt ngay Dương Văn Giáo là thượng sách. Tám Nghệ cho Hồng Tảo biết, vị khách đang đối ẩm với chủ nhà ở trong kia chính là kẻ phản quốc hại dân Dương Văn Giáo. Bằng tài cảm hóa của mình, Tám Nghệ đã thuyết phục Hồng Tảo hợp tác với mình. Hồng Tảo là người yêu thơ, rất mực phục tài thi phú của Tám Nghệ và từ lâu đã coi Tám Nghệ như một bậc đàn anh đáng kính. Sau mấy phút lưỡng lự, Hồng Tảo nói với Tám Nghệ: – “Anh Tám chờ tui ít phút” rồi đi nhanh vào nhà. Nhận thấy có sự xâm nhập của người lạ, những người ở trong nhà tỏ ra lo lắng. Lê Kim Lễ và Lê Kim Tỵ liền đứng dậy trấn an: “Trong tay chúng tôi có hẳn một đại đội bảo vệ. Không có chuyện gì khiến các anh phải lo lắng”. Chừng dăm phút sau, Hồng Tảo bước ra sân lấy khăn tay vẫy vẫy làm ám hiệu cho Tám Nghệ đi vào nhà. Tám Nghệ đường hoàng bước vào, một tay đút vào túi áo nắm chắc khẩu súng lục đã lên đạn. Thấy Tám Nghệ xuất hiện như trên trời rơi xuống, Dương Văn Giáo quát: “Thằng Nghệ, mày đến đây làm gì”? Rồi giục Lê Kim Tỵ lệnh cho quân “xử” Tám Nghệ. Lê Kim Tỵ lập tức ra lệnh cho Hồng Tảo bắt Tám Nghệ. Hồng Tảo từ nhà dưới đi lên dẫn theo chục tay súng. Nhưng thay vì bắt Tám Nghệ, Hồng Tảo lại chĩa nòng súng về phía Dương Văn Giáo, Lê Kim Tỵ và đám tay chân rồi hô lớn: “Tất cả đứng im, giơ tay lên!”. Tám Nghệ bấy giờ mới lên tiếng: “Mời anh Dương Văn Giáo về Ủy ban Nhân dân Nam Bộ để trả lời về tội thành lập Chính phủ Việt gian bán nước”. Tám Nghệ ra lệnh trói cả bọn. Một lúc sau bộ đội của ta đến đưa Dương Văn Giáo và đồng bọn về Gò Vấp giao cho người của Ủy ban quản thúc. Tám Nghệ nhờ người báo tin cho đồng chí Trần Văn Giàu biết vụ việc để có hướng xử lý tiếp theo. Mọi người ôm chầm lấy Tám Nghệ chúc mừng chiến thắng. Tên cầm đầu bị bắt, Chính phủ Việt gian đầu tiên ở Nam Bộ bị xóa sổ mà không tốn một viên đạn nào.

Minh Thiên
qdnd.vn

Tình Bác nâng những cánh bay

Đã qua hơn nửa thế kỷ nhưng ông Nguyễn Sỹ Hưng, Chủ tịch Hội đồng quản trị Tổng Công ty Hàng không Việt Nam vẫn không quên những ngày ở Trường mẫu giáo nội trú đầu tiên của quân đội, đặc biệt là kỷ niệm các lần được gặp Bác Hồ kính yêu khi Người đến thăm nhà trường. Tình yêu thương và lời dạy ân cần của Bác luôn hiện hữu và đồng hành trong suốt cuộc đời người phi công, người cán bộ chủ chốt ngành hàng không Việt Nam này…

Cháu nào ho thế?

Thật tình cờ mà cũng là một may mắn khi chúng tôi được chứng kiến cuộc gặp mặt cảm động giữa hai cô trò của Trường mẫu giáo đầu tiên của quân đội. Cô Phan Thanh Hòa năm nay đã 80 tuổi, tóc bạc da mồi nhưng còn khá nhanh nhẹn và sôi nổi. Trò Nguyễn Sỹ Hưng tuổi cũng đã ngoài 60, nói chuyện vẫn thưa cô, xưng con một cách lễ phép, kính trọng. Câu chuyện của họ ngược thời gian trở về những ngày ở chiến khu Việt Bắc…

Trường mẫu giáo nội trú đầu tiên của quân đội ra đời từ cuối năm 1951 theo gợi ý của Bác Hồ. Trường có 100 cháu hầu hết mới 4-5 tuổi là con cán bộ cao cấp trong quân đội lúc bấy giờ. Do điều kiện chiến tranh, bố mẹ các cháu giao hẳn con cho các cô, có cháu vài năm sau mới gặp lại gia đình, có cháu không bao giờ gặp lại người thân. Trường được xây dựng với những căn nhà lá xinh xắn, núp kín đáo dưới rừng cọ ở thôn Tỉn Hóa, bản Piềng, xã Thanh Định, huyện Định Hóa, tỉnh Thái Nguyên. Trường cách nơi ở và làm việc của Bác Hồ khoảng hơn một cây số. Người đã nhiều lần đến thăm và dành cho trường sự quan tâm đặc biệt. Cô giáo Phan Thanh Hòa và người học trò Nguyễn Sỹ Hưng nhớ nhất lần đầu tiên Bác đến vào đúng ngày sinh nhật lần thứ 63 của Người.

Ngày 19-5-1953, Bác Hồ thăm Trường mẫu giáo nội trú đầu tiên của quân đội (cô giáo Phan Thanh Hòa phía sau bên trái Bác Hồ, Nguyễn Sỹ Hưng hàng ngồi đầu tiên ngoài cùng bên phải). Ảnh tư liệu

Buổi sáng hôm ấy cô Hòa đang cặm cụi dán những bài báo lên tường nhân ngày 19-5 theo chủ đề mừng thọ Bác thì nghe thấy tiếng nói: “Cô giáo đang dán báo tường?”. Cô quay lại và sững người khi Bác đã đứng trước mặt. Được tin Bác đến, các cháu cũng ùa ra để đón Bác và vui sướng được Bác chia kẹo, chụp ảnh, rồi cùng Bác dự buổi sinh hoạt, kể chuyện. Tiết học đó, cô Hòa xúc động được vị Chủ tịch nước “dự giờ”. Cô kể chuyện: “Những ngày còn ở Pháp, Bác Hồ rất nghèo, phải đi làm thuê lấy tiền sinh sống và hoạt động cách mạng. Mùa đông nước Pháp rất lạnh, đêm ngủ không có chăn đắp, Bác Hồ phải nướng viên gạch cho nóng rồi bọc trong giấy báo, ôm vào người cho ấm”. Nghe đến đây, Bác Hồ giơ tay rồi đứng dậy nói: “Cô Hòa cho Bác ý kiến. Cô kể như vậy là chưa đúng lắm đâu. Mùa đông nước Pháp đúng là rất lạnh, lúc ấy Bác cũng có chăn nhưng không đủ ấm nên phải nướng thêm viên gạch nóng ủ cho ấm người”.

Trước lúc ra về, Bác có nghe thấy một cháu bé ho. Người hỏi: “Cháu nào ho thế?”. Cô giáo trả lời: “Thưa Bác, cháu Bích Nga ạ!”. Hôm sau, Bác gửi sang cho trường một chai mật ong vàng óng để các cháu chữa ho.

Tình Bác nâng những cánh bay

Tháng 11-1954, Trường mẫu giáo nội trú quân đội chuyển về Hà Nội. Cũng như các bạn khác, Nguyễn Sỹ Hưng tiếp tục theo học phổ thông ở các lớp của Thủ đô. Ông kể: “Về Hà Nội tôi và nhiều bạn học cùng trường thỉnh thoảng vẫn còn được vinh dự gặp Bác Hồ. Được Người gọi vào Phủ Chủ tịch cho kẹo, xem phim… Khi chụp ảnh, chúng tôi ào đến quanh Bác, ai cũng muốn được gần Bác. Lúc ra về, Bác còn căn dặn: “Các cháu phải ngoan, học thật giỏi để lần sau Bác lại gọi đến chơi và chụp ảnh”. Trong suy nghĩ thơ bé lúc ấy, tôi đã quyết tâm học thật giỏi để còn được vào gặp Bác…”.

Thực hiện lời Bác dạy: “Phải học thật giỏi”, Nguyễn Sỹ Hưng đã liên tục phấn đấu, vượt qua nhiều khó khăn để trưởng thành. Có thể nói cuộc đời của anh là quá trình liên tục học và học. Năm 16 tuổi anh khám tuyển và trúng phi công, sau đó đi học ở Trung Quốc và Liên Xô 6 năm. Sau đó, anh làm giáo viên ở Trung đoàn không quân 951, Sư đoàn 371. Từ năm 1976 đến 1981 anh học ở Học viện Lê-nin. Thời gian này anh học cùng với 5.000 học viên là các cán bộ của Liên Xô và các nước XHCN. Anh tốt nghiệp thủ khoa của khóa, là một trong hai người (một của Liên Xô) nhận huy chương và được khắc tên lên bức tường danh dự của trường. Về nước, anh làm giảng viên Học viện Không quân được 4 năm thì lại tiếp tục đi nghiên cứu sinh ở Liên Xô. Năm 1990, Nguyễn Sỹ Hưng chuyển ngành sang Tổng Công ty Hàng không Việt Nam và gắn bó với môi trường này từ đó đến nay.

Ở lĩnh vực mới, Nguyễn Sỹ Hưng và đồng nghiệp đã vượt qua nhiều trở ngại để khẳng định thương hiệu Việt Nam Airlines. Thời điểm 1991-1994, hàng không Việt Nam đứng trước nhiều thách thức. Máy bay ta đang dùng chủ yếu là của Nga so với phương Tây khá lạc hậu, vừa ồn, lại tốn nhiên liệu. Nhờ sự năng động, quyết liệt của thế hệ lãnh đạo lúc ấy và sự ủng hộ của Chính phủ, chúng ta đã tiến hành chuyển giao công nghệ thành công.

Trong hơn 10 năm làm Chủ tịch Hội đồng quản trị thì hai năm vừa qua cũng là thời điểm rất khó khăn với Nguyễn Sỹ Hưng và Việt Nam Airlines. Cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới đã ảnh hưởng lớn tới ngành hàng không các nước. Nhiều hãng hàng không lớn của các nước lao đao, thậm chí bên bờ của sự phá sản. Vậy nhưng Việt Nam Airlines vẫn đứng vững và phát triển. “Một trong những biện pháp mà chúng tôi quan tâm nhất là vấn đề tiết kiệm. Nói đến tiết kiệm là tôi nghĩ đến Bác Hồ. Hồi còn ở Việt Bắc, Bác dặn chúng tôi: “Các cháu ăn cơm phải hết, không nên để thừa trên bát. Còn hạt nào là lãng phí…”. Học Bác và vận dụng vào thực tiễn, chúng tôi đã triệt để thực hành tiết kiệm. Từ những việc cụ thể như tổ chức nắn lại các đường bay để mỗi chuyến bay tiết kiệm thời gian được vài ba phút. Ngắn ngủi vậy thôi nhưng một năm với hàng trăm ngàn chuyến bay, chúng tôi đã tiết kiệm được tới hơn chục triệu đô-la rồi”.

Theo anh Hưng, Tổng Công ty Hàng không Việt Nam hiện nay đang tiếp tục được hiện đại hóa với 70 máy bay loại mới, tiên tiến, bảo đảm chất lượng và an toàn. Đến năm 2020 phấn đấu có 160 chiếc máy bay, trở thành một trong những hãng hàng không đứng ở tốp đầu khu vực và có uy tín trên thế giới.

Trong câu chuyện với chúng tôi, Chủ tịch Hội đồng quản trị Nguyễn Sỹ Hưng nói nhiều về cô Phan Thanh Hòa và các bạn thuở cùng mái trường nội trú quân đội ở Việt Bắc ngày trước. Anh tâm sự:

– Trong bước đường đi lên của cuộc đời, chúng tôi luôn tự hào vì có một thời ở “vườn ươm” này, được Bác Hồ, các cô giáo quan tâm, dạy dỗ. Mọi người đều có ý thức tự lập. Nhiều người trưởng thành trở thành lãnh đạo cấp cao, tướng lĩnh trong quân đội.

Hoàng Trung
qdnd.vn

Đoàn đại biểu Đại hội Đoàn thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh Ngân hàng Thương mại cổ phần Quân đội báo công dâng Bác

Sáng ngaày 05/10/2012, giữa Quảng trường Ba Đình lịch sử, trước Anh linh của Bác kính yêu, Đoàn đại biểu Đại hội Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh Ngân hàng Thương mại cổ phần Quân đội lần thứ VII gồm 160 đại biểu ưu tú đại diện cho hơn 5 nghìn cán bộ đoàn viên thanh niên, báo cáo lên Bác những thành tích đã đạt được trong 5 năm qua (2008-2012).

Ngan hang quan doiĐoàn đại biểu Đại hội Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh
Ngân hàng Thương mại cổ phần Quân đội vào Lăng viếng Bác

Trong giờ phút thiêng liêng của buổi lễ, tuổi trẻ Ngân hàng Thương mại cổ phần Quân đội bày tỏ lòng biết ơn vô hạn với Bác, người đã hết lòng chăm sóc, giáo dục, rèn luyện các thế hệ thanh niên Việt Nam. Ghi sâu lời Bác dạy: “Một năm bắt đầu từ mùa xuân, đời người bắt đầu từ tuổi trẻ, tuổi trẻ là mùa xuân của xã hội, thanh niên là rường cột của nước nh à”. Tuổi trẻ Ngân hàng Thương mại cổ phần Quân đội trong những năm qua không ngừng ra sức thi đua, cố gắng phấn đấu miệt mài trong lao động, học tập, nghiên cứu đưa Ngân hàng Thương mại cổ phần Quân đội trở thành một trong những ngân hàng cổ phần hàng đầu của Việt Nam và hội nhập quốc tế, góp phần xây dựng tổ chức Đảng trong sạch vững mạnh, đơn vị vững mạnh toàn diện.

Trong 5 năm qua, tổ chức Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh Ngân hàng Thương mại cổ phần Quân đội có sự phát triển lớn mạnh. Từ 18 Chi đoàn trực thuộc với 1823 đoàn viên thanh niên năm 2008, đến nay, tổ chức đoàn của Ngân hàng đã có 40 Chi đoàn cơ sở, 4 Đoàn cơ sở, 51 Chi đoàn trực thuộc, với 5.494 đoàn viên sinh hoạt rộng khắp trên toàn quốc. Đa số thanh niên có nguyện vọng phấn đấu trở thành đảng viên, mong muốn được phục vụ quân đội lâu dài, có hoài bão, có kỷ luật, có lòng yêu nước, tự hào dân tộc, nhận thức đúng về mục tiêu con đường đi lên CNXH, tin tưởng vững chắc vào sự lãnh đạo của Đảng.

Tuổi trẻ Ngân hàng Thương mại cổ phần Quân đội đã xung kích vào những việc khó trong xây dựng cơ sở hạ tầng, phát triển mạng lưới, mở rộng kinh doanh, xung phong đi công tác tại các thị trường nước ngoài. Phong trào “tuổi trẻ sáng tạo” và hoạt động sáng kiến ý tưởng đã trở thành phong trào có sức lan toả sâu rộng trong cán bộ, đoàn viên thanh niên. 5 năm qua, đã có 3000 ý tưởng, hơn 500 sáng kiến với hơn 3200 lượt cán bộ, đoàn viên tham gia, mang lại giá trị kinh tế cao. Với những thành tích, kết quả nêu trên, 60 tổ chức đoàn và 368 đoàn viên của Ngân hàng đã được khen thưởng, trong đó có nhiều tập thể, cá nhân được khen thưởng cấp Tổng cục Chính trị và Trung ương Đoàn.

Đoàn đại biểu Đại hội Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh Ngân hàng Thương mại cổ phần Quân đội, hứa với Bác sẽ quyết tâm rèn luyện,tu dưỡng, học tập lao động hăng say, đóng góp sức trẻ thực hiện tốt nhiệm vụ, góp phần xây dựng đơn vị vững mạnh, phát triển bền vững; xây dựng quân đội chính quy, tinh nhuệ từng bước hiện đại, thực hiện thành công sự nghiệp công nghiệp hoá hiện đại hoá đất nước.

Sau lễ báo công dâng Bác, tuổi trẻ Ngân hàng Thương mại Cổ phần Quân đội thành kính đặt vòng hoa tưởng niệm Chủ tịch Hồ Chí Minh./.

Trần Tiên Long
bqllang.gov.vn