Tag Archive | Chính trị – Xã hội

Dưới sự bảo hộ của… (17-8-1922)

Khi làm công sứ tỉnh Thái Nguyên (Bắc Kỳ), vì mục đích tống tiền, Đáclơ đã bắt bớ, giam cầm và kết án vô cớ người bản xứ. Hắn đã giáng những cú đấm và những trận đòn roi vào những người bản xứ bị gọi đi lính “tình nguyện”. Hắn đối xử tàn ác với những người lính lệ bản xứ, nắm tóc họ lôi xềnh xệch, đập đầu họ vào tường nhà của hắn.

Hắn đâm lưỡi kiếm vào những người tù khiến họ bất tỉnh nhân sự.

Viên công sứ Đáclơ đánh một người bản xứ bằng roi sắt và làm gãy hai ngón tay của người này. Hắn dùng roi đánh túi bụi một viên đội người bản xứ. Hắn chôn đến tận cổ những người lính lệ bản xứ nào không làm vừa lòng và chỉ cho đào họ lên khi họ đã gần chết. Hắn dùng gậy đâm lòi mắt một viên đội người bản xứ khác.

Cuối cùng cuộc khởi nghĩa Thái Nguyên đã bùng nổ chống lại sự tàn ác của hắn và máu người bản xứ lẫn máu người Pháp đã đổ. Bao nhiêu máu đã chảy, bao nhiêu nhà đã bị phá, và bao nhiêu người vô tội đã bị chặt đầu.

Để thưởng những công trạng đáng khen ấy của viên công sứ Đáclơ, người ta phong hắn chức chánh giám khảo các trường lớn ở Hà Nội và bổ nhiệm hắn làm đổng lý vǎn phòng của viên thống sứ Bắc Kỳ.

Báo L’Humanité và Hội Nhân quyền và Dân quyền đã phản đối.

Nếu viên sĩ quan Đức Phôn Sephen bị tù 20 nǎm khổ sai vì đã tàn sát người ở Rôngcơ thì viên công sứ Đáclơ đáng phải tù ít nhất là gấp ba lần 20 nǎm khổ sai vì tội ác của hắn.

Nhưng các bạn có biết số phận của hắn ta như thế nào không?

Hắn đã trở thành uỷ viên Hội đồng thành phố Sài Gòn, nghĩa là người cộng tác trực tiếp của các ngài Xarô và Utơrây và làm chủ vận mệnh những người nhà quê (1) ở Sài Gòn!

Hạnh phúc thay xứ Nam Kỳ!!

NGUYỄN ÁI QUỐC

MỘT VẤN ĐỀ

Có thật người Pháp tên là C. phục vụ trong Sở mật thám của viên toàn quyền Đông Dương không ? Có thật cái tên C. ấy được phái đi “công cán” ở Phú Xuyên đã buộc những người An Nam ở đó phải gọi hắn là Quan lớn (1) , và đánh đập tàn nhẫn những ai chậm tuân theo lệnh hắn không? Có thật cũng chính tên C. ấy đã đánh người lính lệ (1) không? ở cái thiên đường Đông Dương, người ta được phép và có thể làm bất cứ gì, có phải như thế không, Ngài toàn quyền Lông?

N.A.Q

Báo L’Humanité, ngày 17-8-1922.
cpv.org.vn

——————————–

(1) Ngay sau khi Nguyễn Ái Quốc gửi bản Yêu sách của nhân dân An Nam tới trưởng đoàn các nước dự Hội nghị Vécxây, bọn bồi bút thực dân lồng lộn. Trên tờ Courrier Colonial ra ngày 27-6 có một bài nhan đề Giờ phút nghiêm trọng chỉ trích bản yêu sách : Làm sao một người dân thuộc địa lại có thể dùng bản yêu sách của nhân dân để công kích Chính phủ Pháp. Thật là quá quắt. Cứ theo đà này thì bọn dân thuộc địa sẽ lên ngang hàng với người Pháp chúng ta và sớm trở thành ông chủ của chúng ta. Không được, phải kìm giữ chúng mãi mãi trong vòng nô lệ. Nguyễn Ái Quốc viết bài này là để trả lời bài báo sặc mùi thực dân trên.

Chủ nghĩa cộng sản và thanh niên Trung Quốc (19-8-1922)

Phong trào thanh niên xã hội chủ nghĩa mới bắt đầu ở Trung Quốc từ nǎm 1920. Nhưng từ đó và chỉ có từ đó thì những thanh niên mácxít, những thanh niên vô chính phủ chủ nghĩa, những nghiệp đoàn xã hội chủ nghĩa và những công đoàn mới gia nhập các hội liên hiệp. Và chỉ từ tháng 11 nǎm 1921, những thanh niên cộng sản mới thành lập được các tổ chức độc lập của họ. 5 nghìn thanh niên đã tập hợp dưới ngọn cờ búa liềm. Hồi tháng 5 nǎm 1922, họ triệu tập Đại hội toàn Trung Quốc. 16 diễn giả đã lên phát biểu trên diễn đàn Đại hội. Họ đã bầu ra một Ban chấp hành gồm 25 đại biểu, thay mặt cho 15 tổ chức, và 2 đại biểu thay mặt cho các thanh niên ở ngoài nước. Họ thông qua một bản điều lệ gồm 35 điểm.

Đại hội kêu gọi các công nhân và lao động toàn Trung Quốc, các sinh viên, các thanh niên nam nữ, tất cả những người có tư tưởng độc lập, các binh lính cũng như cảnh sát.

Cương lĩnh của tổ chức đó gồm có 4 phần sau đây:

A. Về chính trị

1. Đấu tranh giai cấp.

2. Quyền đầu phiếu.

3. Quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, tự do hội họp, tự do lập hội, tự do bãi công.

B. Về kinh tế

1. Ngày lao động (6 giờ cho những thanh niên 18 tuổi trở

xuống, 8 giờ cho những người đã đủ tuổi thanh niên). 2. Tuần lễ nghỉ một ngày. 3. Bỏ chế độ hợp đồng cá nhân ký giữa chủ và thợ. 4. Bảo hộ lao động cho công nhân. 5. Lao động ngang nhau thì trả lương ngang nhau.

C. Về giáo dục

1. Giáo dục xã hội ở nhà nước: dùng các cuộc nói chuyện, các báo chí để tuyên truyền những tư tưởng cộng sản chủ nghĩa, 2. Giáo dục chính trị bằng các cuộc nói chuyện, các sách báo, và các cuộc thảo luận về đấu tranh giai cấp.

D. Về việc giáo dục ở nhà trường

Sửa đổi chương trình giáo dục, giáo dục phổ thông bắt buộc, v.v..

Đại hội kết thúc bằng bài “Quốc tế ca”.

NGUYỄN ÁI QUỐC

T.B. Mãi khi tới Pari, chúng tôi mới nhận được số báo Tiền phong đầu tiên, viết bằng chữ Trung Quốc.

Báo L’Humanité, ngày 19-8-1922.
cpv.org.vn

“Chủ nghĩa Vida” còn đang tiếp diễn (7-9-1922)

Hàng nghìn dân bản xứ bị cưỡng bức đẩy vào quân đội để bảo vệ những két bạc cho những kẻ bóc lột mình.

Chúng ta nhớ rằng, để buộc những người châu Phi thực hiện “nghĩa vụ của mình”, người ta đã đốt nhà cướp của của họ và sau đó, những nạn nhân ấy bị bắt đi lính cho đội quân tiên phong của nền vǎn minh.

“Việc dạy dỗ” người bản xứ bằng những cú đá đít và đánh đập đã trở thành thói quen của những vị trứ danh của chúng ta.

Anh Nahông bất hạnh, “người bị giết hai lần” – lần đầu do đại uý Viđa và sau đó, là do bác sĩ, người được lệnh mổ xác và xác định nguyên nhân cái chết của anh, người đã không ngần ngại đánh cắp và giấu di hài của người chết đó để lấp liếm cho kẻ giết người, – than ôi, không phải là nạn nhân đầu tiên của chủ nghĩa quân phiệt thực dân! Một bạn đồng nghiệp của chúng tôi ở thuộc địa cho biết về một trường hợp bi thảm khác.

“Lần này, – anh ấy nói, – sự việc xảy ra ở Medông Carê, trong trung đoàn bộ binh thứ 5. Nạn nhân là một người lính trẻ tên là Terie, sinh quán ở Tênét, bị gọi ra lính nǎm 1921. Cái chết của anh ta thật là đặc biệt bi đát. Ngày mồng 5 tháng 8, Terie đến quân y trung đoàn xin thuốc tẩy. Anh nhận thuốc, hay nói cho đúng hơn, anh đã nhận cái mà anh cho là thuốc tẩy. Người lính uống thuốc và sau vài giờ thì chết một cách đau đớn khủng khiếp. Ông Terie, cha của anh ấy nhận được một bức điện ngắn ngủi về cái chết của con trai báo rằng lễ an táng sẽ được tổ chức vào ngày hôm sau. Điên dại vì đau đớn, người cha đáng thương vội vã đến Angiê, đến trung đoàn bộ binh thứ 5 đóng ở Medông Carê, và tại đây, ông biết xác đứa con trai duy nhất của ông đang ở trong quân y viện Maiô. Làm thế nào mà nó lại rơi vào đấy? Tại sao người ta lại đưa nó về Maiô? Phải chǎng là vì cần phải tìm ra nguyên nhân thực sự của cái chết và mô tả nó như một cái chết đột ngột trên đường hành quân?

Tại quân y viện, khi người cha bất hạnh đề nghị được phép nhìn xác con trai thì người ta bảo ông ta hãy đợi. Sau đó, một vị thiếu tá xuất hiện và nói rằng việc phẫu nghiệm đã được tiến hành, nhưng nguyên nhân của cái chết không rõ và ông ta không thể cho phép người cha nhìn thấy xác người con trai của ông.

Theo những tin tức cuối cùng thì người ta biết rằng khi ông Terie yêu cầu viên chỉ huy trung đoàn bộ binh thứ 5 giải thích, ông ta được trả lời như sau: “Con trai của ông chết vì bị ngộ độc”.

NGUYỄN ÁI QUỐC

Báo L’Humanité, ngày 7-9-1922.
cpv.org.vn

———————–

In trong sách: Hồ Chí Minh, Những bài viết và nói chọn lọc, tiếng Nga, Nxb. Chính trị quốc gia, Mátxcơva, 1959, tr. 28-29. Dịch theo bài in trong sách Những bài viết và nói chọn lọc.

Phòng kiểm duyệt ở Đông Dương (28-9-1922)

Báo L’Humanité, số ra ngày 13 tháng 9 có cho biết ở Mađagátxca vẫn còn chế độ kiểm duyệt thư từ nghiêm khắc, mặc dù bốn nǎm đã qua sau “cuộc chiến tranh vì công lý”.

Đông Dương dưới quyền cai trị của viên toàn quyền Lông cũng chẳng khác gì Mađagátxca dưới sự thống trị của viên toàn quyền Gácbi: cũng những bất công, những việc lộng quyền, những vụ tai tiếng, những điều ô nhục như thế.

Chúng tôi được biết ở Sở Bưu chính và Sở Mật thám Đông Dương được lệnh giữ những gói và thư gửi cho báo Le Paria, xuất bản ở Pari, cũng như những thư tín do báo này gửi về Đông Dương.

Không phải là ngẫu nhiên mà hành vi lạm quyền này lại xảy ra đúng lúc viên quan cai trị xảo trá Bôđoanh và người trợ lý xuất sắc của hắn, con rể viên Bộ trưởng Bộ Thuộc địa Anbe Xarô, đến Sài Gòn.

Ngoài ra, chúng ta vấp phải luật xâm phạm quyền bất khả xâm phạm thư riêng, và các viên cai trị tiếp tục giữ và lục soát thư riêng.

Như thế là người bản xứ bị giết chóc, cướp phá và không được hưởng những quyền sơ đẳng nhất: cả đến quyền thư tín! Sự vi phạm tự do cá nhân này chứng minh thêm chính sách đê tiện của bọn mật thám và chính sách lạm quyền đang thống trị ở những thuộc địa chúng ta.

NGUYỄN ÁI QUỐC

Báo L’Humanité, ngày 28-9-1922.
cpv.org.vn

Đồng tâm nhất trí (29-9-1922)

– Đi chợ nào đấy, anh Hai?

– Đi chợ Đông. Thế còn anh, anh Ba?

– Tôi cũng vậy. Thế có món hàng gì quý trong đôi thúng bảnh ấy thế?

– Vàng mã cúng ông vải ạ. Còn anh, anh có cái gì hay hay cho khách hàng nào?

– Trầu non để làm thơm và để nhuộm hồng miệng xinh của các chị chàng đẹp đấy.

Thế rồi hai anh bán hàng bặt im. Mặt trời đứng bóng chiếu ướt đẫm những bắp tay bắp chân lực lưỡng gần như để trần của hai anh. Bốn chiếc thúng nặng nề đung đưa ở đầu hai đòn gánh tre đặt ngang trên vai cháy nắng. Bụi cuốn lên quanh bước chân thoǎn thoắt thành một thứ màn sương, làm cho mọi cử động của hai anh mờ ảo và nhìn xa lại còn có vẻ mỹ thuật là khác.

– Nghe này, người anh em! – Ba nói.

– Tai tôi đang lắng nghe lời anh dạy – Hai đáp.

– Hai ta cùng đi một chợ này, theo cùng một con đường này, lại có cùng một mục đích – là bán hết hàng, cùng một chí hướng – là làm ǎn lương thiện kiếm miếng cơm. Phải thế không nào?

– Anh nói muôn nghìn lần đúng.

– Thế có muốn hai ta kết làm anh em không ? Có muốn hai ta cùng nhau giao ước thắt tình hữu ái, và, ngay từ hôm nay, khuyên bảo lẫn nhau, thấy đây làm gì thì đó làm theo, mà đó đã bảo gì thì đây cũng làm y, nói tóm lại, là giữa hai ta có sự đồng tâm nhất trí.

– Anh dạy thật là chí lý, xin vâng theo.

– Thế thì, nào! chú mày, đường còn xa, chúng ta hãy thay phiên nhau hát, cho đôi cánh bổng trầm nén cơn mệt mỏi nhé!

– Ông anh hát trước đi!

Kon-mèo trèo lên cây CAU
Hỏi thǎm Kon – chuột đi ĐÂU vắng nhà?

Thưa rằng đi chợ đường XA
Mua đồ vật liệu giỗ CHA Kon – mèo (1) .

– Khôn ngoan hơn cường bạo, kẻ yếu thì chỉ có cách đó để tự vệ. Hai nói ra vẻ hiền triết lắm. Rồi, giọng u sầu, anh ngân nga:

Trông lên hòn núi THIÊN THAI
Thấy bầy chim quạ ǎn XOÀI chín cây
2)

– Bài chú hát sao nghe buồn quá! Nhưng mà sự thật là thế.

Dẫu ta cũng cứ thấy cái giống chim chóc (1) biếng lười, nó chẳng chịu làm lụng gì cả, chuyên bòn của người khác làm ra mà ǎn. Mà ơ này! Dòng sông có cát mịn, có làn nước trong veo, đây rồi! Nhớ nhúng đôi thúng xuống cho hàng thêm tươi tốt lúc qua sông.

Một lời đã hứa, Hai, anh bán đồ giấy, làm theo không chối cãi.

Qua khỏi con sông, anh bảo Ba:

– Ánh sáng là mẹ của mọi sự tốt lành, mà mặt trời thì lại là cha của ánh sáng. Vậy, anh à! ta hãy phơi hàng một lát dưới ánh mặt trời tốt lành cho hàng lên màu, khách mua thêm hài lòng, ta bán được giá hời. Vừa nói, Hai vừa bày chỗ hàng bằng giấy bồi của mình lên ven đường nóng bỏng, rồi đến nghỉ dưới bóng cây.

Một lời đã hứa, Ba, anh bán trầu không, làm theo không chối cãi.

NGUYỄN ÁI QUỐC

Báo L’Humanité, ngày 29-9-1922.
cpv.org.vn

——————————-

(1) Ngay sau khi Nguyễn Ái Quốc gửi bản Yêu sách của nhân dân An Nam tới trưởng đoàn các nước dự Hội nghị Vécxây, bọn bồi bút thực dân lồng lộn. Trên tờ Courrier Colonial ra ngày 27-6 có một bài nhan đề Giờ phút nghiêm trọng chỉ trích bản yêu sách : Làm sao một người dân thuộc địa lại có thể dùng bản yêu sách của nhân dân để công kích Chính phủ Pháp. Thật là quá quắt. Cứ theo đà này thì bọn dân thuộc địa sẽ lên ngang hàng với người Pháp chúng ta và sớm trở thành ông chủ của chúng ta. Không được, phải kìm giữ chúng mãi mãi trong vòng nô lệ. Nguyễn Ái Quốc viết bài này là để trả lời bài báo sặc mùi thực dân trên.

(2) Bản Yêu sách của nhân dân An Nam: Nǎm 1918, Chiến tranh thế giới thứ nhất kết thúc. Ngày 18-1-1919, đại biểu các nước đế quốc tham gia chiến tranh họp hội nghị ở Vécxây (Pháp). Hội nghị này (còn gọi là Hội nghị hoà bình Pari) nhằm xác định sự thất bại của Đức và các nước đồng minh của Đức, chia lại thị trường thế giới cho các nước đế quốc thắng trận, chủ yếu là Mỹ, Anh, Pháp.Nhân danh nhóm người yêu nước Việt Nam, Nguyễn Ái Quốc đã gửi đến Hội nghị bản Yêu sách của nhân dân An Nam. Nguyễn Ái Quốc còn thuê in thành truyền đơn, đǎng trên các báo, gửi đến các nhà hoạt động chính trị có tên tuổi, phân phát trong các buổi hội họp, mít tinh, gửi cho Việt kiều ở Pháp và gửi về nước.

Xuyên tạc lịch sử – thủ đoạn xảo trá chống phá con đường phát triển của dân tộc Việt Nam

Gần đây, một số người mạo danh “người Việt Nam yêu nước”, bất chấp phải trái, trắng đen, cố tình xuyên tạc ý nghĩa to lớn của Cách mạng Tháng Tám. Đó là thủ đoạn xảo trá chống phá sự nghiệp cách mạng của nhân dân ta dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản.

Cách mạng Tháng Tám đã ghi một mốc son chói lọi trong lịch sử đấu tranh chống ngoại xâm của dân tộc Việt Nam. Ý nghĩa vĩ đại nhất của Cách mạng Tháng Tám là đã đập tan ách thống trị của chủ nghĩa thực dân, phát xít và chính quyền phong kiến phản động, tay sai, đưa dân tộc ta bước sang kỷ nguyên mới – kỷ nguyên nhân dân làm chủ vận mệnh đất nước, gắn độc lập dân tộc với CNXH. Với mục tiêu đấu tranh phù hợp yêu cầu phát triển của dân tộc và tính chất thời đại, Đảng ta tiếp tục lãnh đạo cách mạng giành được những thắng lợi vĩ đại qua hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ; đất nước hoàn toàn độc lập tự do, nhân dân ta thực hiện công cuộc đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, hội nhập quốc tế, từng bước quá độ lên CNXH.

Đó là sự thật đã được thực tiễn lịch sử chứng minh và được tất cả những người có lương tri trong nước và trên thế giới thừa nhận. Tuy nhiên, một số người tự xưng là “người Việt Nam yêu nước” vẫn tung ra luận điệu: Cách mạng Tháng Tám với việc lập ra nước Việt Nam dân chủ cộng hoà và Đảng Cộng sản (ĐCS) Việt Nam trở thành đảng cầm quyền, đã đưa dân tộc Việt Nam vào “thảm họa” với  hai cuộc chiến tranh (1945 – 1954 và 1954 – 1975) giết chết mấy triệu người Việt Nam (cả hai phía), đất nước bị tàn phá, dân tộc phân ly và ngày nay tiếp tục nghèo nàn, đói khổ… Theo họ, giá như không đi theo con đường những người cộng sản vạch ra mà bằng cách xin “chính quốc” trao trả độc lập thì đất nước ta vẫn có độc lập, tránh được chiến tranh, đi theo con đường của các nước tư bản để tới phồn vinh (!)

Giọng điệu của họ chẳng lừa bịp được ai, họa chăng chỉ có thể gây ra sự dao động với số ít người nhẹ dạ cả tin, thiếu cảnh giác và thiếu vững vàng về tư tưởng. Dù vậy, đây cũng là một luồng thông tin độc hại đối với xã hội và là một thủ đoạn trong chiến lược “Diễn biến hoà bình” của các thế lực thù địch đang chống phá cách mạng Việt Nam.

Những sự kiện chân thực lịch sử từ Cách mạng Tháng Tám đến nay sẽ bóc trần luận điệu dối trá trên; đồng thời, củng cố niềm tin của nhân dân ta vào sự lãnh đạo của ĐCS Việt Nam, vào con đường phát triển của dân tộc ta mở đầu từ Cách mạng Tháng Tám.

Giữa thế kỷ XIX, thực dân Pháp nổ súng xâm lược nước ta. Triều đình nhà Nguyễn yếu hèn, từng bước đầu hàng giặc. Các cuộc đấu tranh của nhân dân ta chống thực dân Pháp từ đó cho đến đầu thế kỷ XX, dù diễn ra liên tục, đầy lòng yêu nước và dũng khí, với các tư tưởng và phương pháp khác nhau, nhưng tất cả đều thất bại. Nguyên nhân thất bại căn bản là các phong trào đó thiếu một đường lối cứu nước đúng đắn. Lúc này, đất nước như đêm tối không có đường ra. Yêu cầu khách quan cấp thiết của cách mạng Việt Nam đầu thế kỷ XX là phải có một tổ chức cách mạng với tư tưởng tiên tiến và đường lối cách mạng đúng đắn lãnh đạo phong trào giải phóng dân tộc.

Sau gần 10 năm bôn ba tìm đường cứu nước, năm 1920, Nguyễn Ái Quốc trở thành người Việt Nam đầu tiên tiếp thu tư tưởng tiên tiến của thời đại và tìm thấy con đường cứu nước đúng đắn, đó là con đường gắn độc lập dân tộc với CNXH. Cũng gần 10 năm sau, năm 1930, lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc sáng lập ra ĐCS Việt Nam, một tổ chức chính trị có tư tưởng tiên tiến, có đường lối cách mạng đúng đắn, là đội tiên phong của giai cấp công nhân, đồng thời là đội tiên phong của nhân dân lao động và của dân tộc Việt Nam. ĐCS Việt Nam, đứng đầu là lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh được lịch sử trao cho sứ mệnh lãnh đạo cách mạng Việt Nam.

Ngay khi vừa ra đời, ĐCS Việt Nam đã phát động, lãnh đạo cao trào cách mạng 1930 – 1931 và 1936 – 1939. Đó là những cuộc tổng diễn tập, chuẩn bị tiền đề cho trận chiến đấu cuối cùng giành chính quyền là Cách mạng Tháng Tám. Tháng 9-1939, Chiến tranh Thế giới thứ hai nổ ra, thực dân Pháp thực hiện chính sách thống trị tàn bạo ở Đông Dương. Tình hình thế giới và Đông Dương biến chuyển căn bản. Đảng ta chuyển hướng chỉ đạo chiến lược, đặt nhiệm vụ giải phóng dân tộc lên hàng đầu và phát động cao trào đấu tranh mới tiến tới khởi nghĩa giành chính quyền. Tháng 5-1941, Hội nghị lần thứ tám Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khoá I) đã xác định: “Trong lúc này nếu không giải quyết được vấn đề dân tộc giải phóng, không đòi được độc lập, tự do cho toàn thể dân tộc, thì chẳng những toàn thể quốc gia dân tộc còn chịu mãi kiếp ngựa trâu, mà quyền lợi của bộ phận, giai cấp đến vạn năm cũng không đòi lại được”1. Hội nghị phát động cao trào cách mạng giải phóng dân tộc.

Ngày 9-3-1945, phát xít Nhật tiến hành đảo chính lật đổ chính quyền Pháp. Ngay tối hôm đó, Ban Thường vụ Trung ương Đảng ra bản Chỉ thị Nhật – Pháp bắn nhau và hành động của chúng ta. Hội nghị quyết định phát động cao trào chống Nhật, cứu nước trong toàn quốc, làm tiền đề cho cuộc tổng khởi nghĩa. Từ tháng 3-1945, khởi nghĩa từng phần ở các địa phương nổ ra. Cả dân tộc ta gấp rút chuẩn bị những công việc cuối cùng, tạo và đón lấy thời cơ để vùng lên tổng khởi nghĩa giành chính quyền trong cả nước. Ngày 14-8-1945, Nhật Hoàng tuyên bố đầu hàng Đồng minh, Chiến tranh Thế giới thứ hai kết thúc. Trung ương Đảng đã triệu tập Hội nghị toàn quốc, nhận định điều kiện khởi nghĩa đã chín muồi và cử ra Uỷ ban khởi nghĩa toàn quốc. Ngay đêm 13-8, Uỷ ban khởi nghĩa toàn quốc ra lệnh tổng khởi nghĩa. Ngày 16-8-1945, Đại hội quốc dân họp, quyết định thành lập Ủy ban giải phóng dân tộc Việt Nam (tức Chính phủ lâm thời) do lãnh tụ Hồ Chí Minh làm Chủ tịch. Ngay trong ngày 16-8-1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã gửi thư kêu gọi đồng bào cả nước: “Giờ quyết định cho vận mệnh dân tộc ta đã đến. Toàn quốc đồng bào hãy đứng dậy đem sức ta mà tự giải phóng cho ta”2. Cả dân tộc Việt Nam, với quyết tâm “dù phải đốt cháy cả dãy Trường Sơn cũng phải kiên quyết giành cho được độc lập”3, đã nhất tề vùng lên. Chỉ trong vòng chưa đầy nửa tháng, cuộc tổng khởi nghĩa của nhân dân ta đã thành công, lật đổ bộ máy thống trị phát-xít cùng triều đình phong kiến, thiết lập chính quyền cách mạng trên cả nước. Cách mạng Tháng Tám thành công, ngày 02-9-1945, tại Quảng trường Ba Đình, Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc bản Tuyên ngôn độc lập, tuyên bố nước Việt Nam dân chủ cộng hoà ra đời. Cách mạng Tháng Tám đã mở đầu một chế độ mới, là chặng đầu con đường phát triển của dân tộc trong kỷ nguyên mới.

Đáng lẽ, sau khi Cách mạng Tháng Tám thành công, nhân dân ta được sống trong hoà bình để xây dựng đất nước. Nhưng thực dân Pháp quyết tâm xâm lược nước ta một lần nữa. Trước hành động ngang ngược của thực dân Pháp, không còn con đường nào khác, cả dân tộc đã đứng lên kháng chiến theo lời kêu gọi của Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Chúng ta thà hy sinh tất cả, chứ nhất định không chịu mất nước, nhất định không chịu làm nô lệ”4.

Sau 9 năm kháng chiến gian khổ, với chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ, nhân dân ta đã đánh thắng thực dân Pháp xâm lược. Theo hiệp định Giơ-ne-vơ, hai miền Bắc – Nam sẽ tổng tuyển cử hoà bình, để thống nhất quốc gia. Nhưng với âm mưu biến miền Nam nước ta thành thuộc địa kiểu mới và căn cứ quân sự chống phá phong trào giải phóng dân tộc, ngăn chặn CNXH, đế quốc Mỹ đã nhanh chóng hất cẳng Pháp, nhảy vào miền Nam, dựng lên chính quyền tay sai phản động làm công cụ bạo lực thống trị nhân dân ta. Đế quốc Mỹ và chính quyền Ngô Đình Diệm ngang nhiên thực hiện chính sách phát-xít khủng bố trắng, “đặt miền Nam trong tình trạng chiến tranh”, tàn sát, giam cầm hàng chục vạn cán bộ cách mạng và đồng bào yêu nước. Chẳng những thế, chúng còn trắng trợn hô hào “Bắc tiến”, “lấp sông Bến Hải”,… Khả năng hiệp thương tổng tuyển cử đã hết, không thể cam chịu “cuộc chiến tranh một phía” để bị tàn sát và mất độc lập, tự do, nhân dân miền Nam phải vùng lên “Đồng khởi”. Cả nước lại bước vào cuộc trường chinh mới – kháng chiến chống Mỹ, cứu nước.

Như thế, hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ là do kẻ thù xâm lược cố tình gây ra, nhân dân ta buộc phải cầm vũ khí chống ngoại xâm,  chứ không phải do Đảng ta “chịu ảnh hưởng tả khuynh của Quốc tế Cộng sản” hoặc của lãnh tụ các nước cộng sản lúc đó như có kẻ xuyên tạc. Đây chính là sự tiếp nối tất yếu con đường giành độc lập, tự do của Cách mạng Tháng Tám.

Sau Đại thắng mùa Xuân 1975, đất nước được độc lập, thống nhất, nhưng 100 năm chế độ thực dân và 30 năm chiến tranh ác liệt đã để lại hậu quả vô cùng nặng nề. Nguyện vọng thiết tha và chính đáng của nhân dân ta là được hoà bình, ổn định để xây dựng đất nước. Tuy nhiên, các thế lực thù địch không từ bỏ âm mưu phá hoại công cuộc xây dựng đất nước của nhân dân ta nhằm bắt dân tộc ta đi theo con đường do chúng áp đặt.

Từ kinh nghiệm của sự nghiệp giữ nước hàng ngàn năm, trực tiếp là cuộc đấu tranh chống đế quốc, thực dân hơn 100 năm qua, phù hợp với xu thế phát triển của thời đại, con đường phát triển của dân tộc ta không thể ngoài con đường gắn độc lập dân tộc với CNXH. Dưới sự lãnh đạo của Đảng, nhân dân ta lại bước tiếp con đường Cách mạng Tháng Tám đã mở – con đường quá độ lên CNXH.

Vài thập niên trước đây, do nhiều nguyên nhân, CNXH hiện thực ở Liên Xô và Đông Âu sụp đổ là một tổn thất nghiêm trọng của CNXH và phong trào cách mạng thế giới. Đó là cơ hội để chủ nghĩa đế quốc mở chiến dịch phản kích vào CNXH và phong trào cách mạng thế giới. Chúng ra sức xuyên tạc, bài bác CNXH, cố tình tô vẽ, cường điệu “tính ưu việt” của CNTB và cho rằng: đây là đỉnh cao tột cùng của xã hội loài người,…(!) Đối với nước ta, chúng cố tình phủ nhận ý nghĩa của Cách mạng Tháng Tám và đòi ĐCS Việt Nam phải từ bỏ con đường đi lên CNXH. Đằng sau thủ đoạn xảo trá đó chính là mưu đồ hướng dân tộc ta đi theo con đường TBCN.

Bước sang thế kỷ XXI, đặc biệt mấy năm gần đây, tình hình thế giới càng diễn biến phức tạp. Suy thoái kinh tế thế giới dẫn đến những bất ổn về chính trị, xã hội ở hầu khắp các nước tư bản phát triển; nhiều nước thuộc địa, phụ thuộc trước đây, sau khi giành độc lập, đi theo con đường TBCN, cũng đã và đang lâm vào khủng hoảng toàn diện, bị nước ngoài can thiệp, mất quyền độc lập, tự chủ. Trong khi đó, các nước XHCN còn lại vẫn đứng vững và phát triển, nhiều nước khác đang hướng theo con đường XHCN và lý tưởng XHCN vẫn đang vẫy gọi nhân loại tiến bộ. Ở nước ta, những thành tựu, kinh nghiệm của 25 năm đổi mới đã tạo ra thế và lực mới; sức mạnh tổng hợp của đất nước lớn hơn nhiều so với trước. Hiện nay, nước ta đang đứng trước vận hội cùng những thách thức lớn đan xen nhau, tác động tổng hợp và diễn biến phức tạp; trong đó có tác động của tình trạng suy thoái kinh tế thế giới và nợ công ở Châu Âu. Tuy nhiên, trong khi kinh tế nhiều nước bị suy thoái, có nguy cơ sụp đổ, dẫn đến chính trị rối ren, thì ở nước ta, kinh tế vĩ mô cơ bản ổn định, duy trì được tốc độ tăng trưởng khá; đời sống nhân dân được bảo đảm và từng bước được cải thiện; quốc phòng, an ninh được tăng cường; vị thế của nước ta trong khu vực và trên thế giới ngày càng được nâng cao.

Thực tiễn đó đã chứng tỏ đường lối đổi mới của Đảng ta là đúng đắn, con đường lên CNXH là sự lựa chọn duy nhất đúng. Chỉ có CNXH mới bảo đảm cho dân tộc ta có độc lập, tự do thực sự, đất nước phát triển phồn vinh, đời sống nhân dân được ấm no, hạnh phúc. Những kẻ cố tình xuyên tạc lịch sử, đổi trắng thay đen, phá hoại con đường phát triển của dân tộc, mưu đồ đưa dân tộc ta đi theo con đường của CNTB chắc chắn sẽ chuốc lấy thất bại thảm hại.

Đại tá, PGS, TS. VŨ NHƯ KHÔI

Viện KHXHNVQS – Bộ Quốc phòng
tapchiqptd.vn

1 – ĐCSVN – Văn kiện Đảng toàn tập, Tập 7, Nxb CTQG, H. 2000, tr. 113.

2 – Hồ Chí Minh – Toàn tập, Tập 3, Nxb CTQG, H. 1995, tr. 554.

3 – Đại tướng Võ Nguyên Giáp – Tổng  tập hồi ký,  Nxb QĐND, H. 2006, tr. 130.

4 – Hồ Chí Minh – Toàn tập, Tập 4, Nxb CTQG, H. 1995, tr. 480.

Nhân đạo thực dân (1-9-1922)

Chuyện xảy ra ở Đông Dương và cũng chưa lâu hơn cái hồi có cuộc chiến tranh nhờ trời ban cho vì công lý và nhân quyền. Chính bằng những cách ấy mà “chính quyền Pháp đã có thể du nhập vào đầu óc nhân dân các nước cái khái niệm có một nền vǎn minh khác với nền vǎn minh Trung Quốc đã ngưng trệ từ mấy thế kỷ nay rồi”. Chính bằng những cách ấy mà các toà án quân sự “đàn áp những phong trào nổi dậy để nêu gương nghiêm trị”. Sau khi ca ngợi những cuộc đàn áp đẫm máu bằng những lời lẽ như vậy, bạn đồng nghiệp chúng tôi, tờ Sciences et Voyages đã thật thà thú nhận “ở bên đó thì cũng như ở trên đất Pháp, bọn bất lương vẫn còn quá đông, pháp lý vẫn cần phải nghiêm trị”.

Ấy vậy mà chúng tôi cho đến bây giờ, vẫn ngây thơ tin rằng ở Pháp, chỉ có rặt những con người được khai hoá mà hễ ra khỏi nhà là tức khắc trở thành những con người đi khai hoá! Thêm nữa, theo cái lôgích đơn giản nhất, người ta không thể, cũng không nên cho người khác cái mà mình không có, nhất lại là cái vǎn minh.

Để xí xoá cái thói hèn mạt giết người ta để dạy cho họ “biết cách sống”, bạn đồng nghiệp lớn của chúng tôi còn nói rằng, cần phải đánh vào dư luận cho nó giật mình kinh sợ…

Do vậy, thỉnh thoảng lại thấy xuất hiện cái kiểu hình pháp đặc biệt là các uỷ ban ngoại lệ hay toà án quân sự, mà bộ máy bi thảm và quyết đoán như vậy là cần thiết. Không có gì là hà khắc, là tàn bạo cả. Đúng thế. Chặt đầu người ta hoặc đem ra bắn thì có gì là hà khắc, là tàn bạo. Là hoàn toàn nhân từ mà. Nhưng nếu tụi “bôsơ” cũng ban bố những cách đối xử “nhân từ” như thế với anh em Andátxơ và Loren (1) của chúng ta, thì bạn sẽ nói sao nào, hỡi đồng nghiệp thân mến? Vốn thông thạo nhiều điều lý thú, bạn đồng nghiệp cho chúng ta biết nhiều việc, chẳng hạn cái thứ bậc lễ nghi và phức tạp trong các vụ giết người hợp pháp này: “lệ đóng cọc (2) và bắn 12 viên của tiểu đội hành hình chỉ dành riêng cho tội nhân là quân nhân hay kẻ cướp bị bắt có vũ khí trong tay. Khi ấy hầu như bao giờ cũng hành hình nhiều người một lúc và không hiếm trường hợp có bốn, sáu, thậm chí mười người gục xuống cùng một lúc dưới cùng một loạt đạn. Những tiểu đội hành hình có lính hỗn hợp, nghĩa là có sáu lính bản xứ dàn ở hàng đầu và sáu lính hoặc hiến binh người Pháp ở hàng sau”. à, phải nhấn điểm cuối cùng này nữa là người ta đã dạy cho người bản xứ biết thế nào là Bác ái, cái đức quý đó vốn là nền tảng của mọi chế độ cộng hoà, được khắc bằng chữ lớn trên khắp các công trình kỷ niệm và trên tất cả các cửa … nhà lao. Còn về cái định nghĩa thế nào là ǎn cướp và những cuộc hành quyết tập thể thì xin xem mấy dòng sau của một sĩ quan thuộc địa, ông F.B., ông này về “học thức” có thể kém, nhưng chắc chắn nhiều chân tình và vô tư hơn: với cách giả định giống y như người Anh coi những người Bôe (3) kiên quyết kháng chiến là những tên phản loạn, ngoài vòng pháp luật, chúng ta coi những nhà ái quốc An Nam là những tên cướp.

“Người ta đã làm tất cả để vũ trang cho người An Nam giết hại nhau và xúi giục họ phản bội. Người ta tuyên bố các thôn xã phải chịu trách nhiệm về những chuyện rối ren xảy ra trong địa hạt mình. Họ phải dẫn đường cho quân đội ta, phải nộp mạng những người nổi dậy. Ai không tuân lệnh thì bị coi là kẻ phạm tội . Làng nào dung nạp một người yêu nước là bị xử án. Muốn điều tra, có một cách, bao giờ cũng cứ dùng mãi một cách đơn giản, là: chất vấn lý trưởng và hào mục. Ai không nói lập tức bị hành quyết. Một đám binh lính bảo an trong vòng hai tuần lễ, đã cho hành quyết 75 hào mục. Không một lúc nào người ta chịu phân biệt những nhà ái quốc chiến đấu tuyệt vọng cho độc lập của đất nước với bọn cặn bã chốn đô thành”.

NGUYỄN ÁI QUỐC

Báo Le Paria, số 6 – 7, ngày 1-9 và 1-10-1922.
cpv.org.vn

—————————–

(1) Ngay sau khi Nguyễn Ái Quốc gửi bản Yêu sách của nhân dân An Nam tới trưởng đoàn các nước dự Hội nghị Vécxây, bọn bồi bút thực dân lồng lộn. Trên tờ Courrier Colonial ra ngày 27-6 có một bài nhan đề Giờ phút nghiêm trọng chỉ trích bản yêu sách : Làm sao một người dân thuộc địa lại có thể dùng bản yêu sách của nhân dân để công kích Chính phủ Pháp. Thật là quá quắt. Cứ theo đà này thì bọn dân thuộc địa sẽ lên ngang hàng với người Pháp chúng ta và sớm trở thành ông chủ của chúng ta. Không được, phải kìm giữ chúng mãi mãi trong vòng nô lệ. Nguyễn Ái Quốc viết bài này là để trả lời bài báo sặc mùi thực dân trên.

(2) Bản Yêu sách của nhân dân An Nam: Nǎm 1918, Chiến tranh thế giới thứ nhất kết thúc. Ngày 18-1-1919, đại biểu các nước đế quốc tham gia chiến tranh họp hội nghị ở Vécxây (Pháp). Hội nghị này (còn gọi là Hội nghị hoà bình Pari) nhằm xác định sự thất bại của Đức và các nước đồng minh của Đức, chia lại thị trường thế giới cho các nước đế quốc thắng trận, chủ yếu là Mỹ, Anh, Pháp.Nhân danh nhóm người yêu nước Việt Nam, Nguyễn Ái Quốc đã gửi đến Hội nghị bản Yêu sách của nhân dân An Nam. Nguyễn Ái Quốc còn thuê in thành truyền đơn, đǎng trên các báo, gửi đến các nhà hoạt động chính trị có tên tuổi, phân phát trong các buổi hội họp, mít tinh, gửi cho Việt kiều ở Pháp và gửi về nước.

(3) Báo Le Courrier d\’Hai Phong: Báo xuất bản hằng ngày ở Hải Phòng, nǎm 1887, do Toà đốc lý của chính quyền thuộc địa phụ trách.

Vụ hành hạ Amđuni và Ben Benkhia (1-11-1922)

Trong cuộc chiến tranh vì công lý (28) để bảo vệ chính nghĩa, vǎn minh, v.v., người ta đã động viên 10 vạn người Tuynidi đi lính, và 60% trong số đó đã không trở về nữa. Thời đó, người Tuynidi được vuốt ve và trìu mến. Người ta đã ca ngợi rất là thắm thiết tình anh em ruột thịt giữa Pháp và Tuynidi, “mối tình ruột thịt đã đời đời gắn chặt vào trong xương máu và quang vinh”. Người ta đã thực hành cả một chế độ kiểm duyệt để cấm báo chí dù thế nào cũng không được làm phật ý người bản xứ.

Ngày nay, tình anh em đó đã thay hình đổi dạng. Nó không phải chỉ thể hiện bằng những cái vuốt ve hoặc những cử chỉ trìu mến mà thôi, nó còn thể hiện một cách hùng hồn hơn bằng những phát súng lục hoặc những trận roi da kia. Bằng chứng là những việc sau đây. Khi trông thấy ba người bản xứ cho cừu vào ǎn cỏ ở vườn cây ôliu của mình, một vị thực dân Pháp liền bảo vợ đi lấy súng và đạn ra. Khi vợ mang súng đạn ra, thì vị đi khai hoá của chúng ta nấp vào một bụi cây, rồi đoàng! đoàng! đoàng! Ba phát bắn ra, thế là ba người bản xứ ngã xuống, bị thương gần chết.

Một vị thực dân Pháp khác có hai anh công nhân bản xứ giúp việc, tên là Amđuni và Ben Benkhia; hai anh này hình như đã có lấy trộm vài chùm nho. Vị thực dân kia liền cho gọi hai người bản xứ đến, rồi dùng roi gân bò mà vụt họ lia lịa cho đến lúc họ chết ngất. Khi hai người này tỉnh lại, quan lớn bảo hộ của chúng ta liền sai trói giật cánh khuỷu lại và treo họ lên. Dù hai người khốn khổ kia đã bất tỉnh nhân sự, thế mà cuộc hành hạ bỉ ổi đó vẫn cứ kéo dài đến bốn tiếng đồng hồ, mãi đến khi có một người ở cạnh nhà phản đối mới thôi.

Hai người đáng thương đó được khiêng đến nhà thương và mỗi người bị cắt mất một bàn tay, còn bàn tay nữa chẳng biết có thể cứu khỏi được không.

Tình r…u…ột thịt như thế đấy!

Chả là ông Luyxiêng Xanh đáng tôn kính, vì đã quá bận về việc trục xuất những người cộng sản và các nhà báo, nên không có thì giờ nghĩ đến đời sống của người bản xứ “được bảo hộ” của ông đấy mà.

NGUYỄN ÁI QUỐC

Báo Le Paria, số 8, ngày 1-11-1922.
cpv.org.vn

———————————

(28) Chỉ cuộc Chiến tranh thế giới thứ nhất, bắt đầu bùng nổ ở châu Âu từ tháng 8-1914 và kết thúc vào tháng 11-1918. Cuộc chiến tranh này nhanh chóng lan rộng khắp thế giới, lôi cuốn nhiều nước đế quốc và cả các nước thuộc địa và phụ thuộc. Thực chất nó là một cuộc xung đột ác liệt giữa các nước đế quốc lớn để giành giật quyền lợi, chia lại thị trường thế giới. Nhưng để che đậy ý đồ xấu xa đó, để lừa bịp nhân dân các nước tư bản và các thuộc địa, bọn đế quốc đã gọi cuộc chiến tranh đó là vì nhân đạo, vì công lý. ở đây, chữ vì công lý được tác giả dùng với ý mỉa mai, châm biếm để vạch trần thực chất của cuộc chiến tranh tàn khốc này. Tr.119.

Sự chǎm sóc ân cần (2-11-1922)

Đây là một câu chuyện cũ, nó cũng cũ như chiến tranh. Trong khi hứa hẹn phẩm hàm cho những người Đông Dương tình nguyện(?) còn sống và vàng mã cho những người chết “vì mẫu quốc”, viên Toàn quyền Đông Dương đã thốt ra những lời cảm động như sau:

Các anh gia nhập quân đội hàng loạt, không do dự rời quê cha đất tổ, nơi chôn rau cắt rốn của mình. Là lính trận, các anh đi tòng quân để hy sinh xương máu của mình; là lính thợ, các anh cống hiến hai bàn tay của mình” (1919).

Lịch sử chép như vậy đó!

Nếu người An Nam tỏ ra vui mừng khi người ta bắt họ đi lính thì tại sao người ta lại xích tay họ lùa đến các địa điểm tập trung? Tạo sao trong khi chờ đợi đưa xuống tàu, người ta lại nhốt họ trong Trường trung học Sài Gòn, bên ngoài là lính cảnh vệ Pháp gác, lưỡi lê ở đầu súng, đạn đã lên nòng? Phải chǎng những cuộc biểu tình đẫm máu ở Cao Miên, những cuộc nổi dậy ở Sài Gòn, Biên Hoà và ở nhiều địa phương khác là những cuộc biểu tình của “đám người” nôn nóng, muốn tòng quân “không do dự”?

Người ta ra sức đàn áp dã man các cuộc đảo ngũ (và có chừng 50% lính dự bị đảo ngũ). Do đó, các cuộc khởi nghĩa đã nổ ra, nhưng bị bọn thực dân dìm trong bể máu. Những người An Nam ấy cũng bị chết trong thời chiến. Song người ta sẽ không cúng tế họ “sau khi chết”, còn những người sống sót thì cũng chẳng được quan Toàn quyền khen thưởng.

Phải, quan Toàn quyền nói thêm rằng, dĩ nhiên muốn xứng đáng được hưởng “ân huệ” và “sự hậu đãi” của nhà nước thì các anh (những người lính Đông Dương) “phải có hạnh kiểm tốt, không mảy may tỏ ra thiếu thiện chí”.

Hiện nay, khi họ dùng rượu và thuốc phiện do chính bàn tay chính phủ bán thì có thể nào họ lại không phải là những người “dễ bảo”?

NGUYỄN ÁI QUỐC

Báo L’Humanité, ngày 2-11-1922.
cpv.org.vn

Về câu chuyện Xiki (1-12-1922)

Từ khi có chủ nghĩa thực dân, nhiều người da trắng đã được thuê tiền để đấm vỡ m… những người da đen. Có một lần, một người da đen lại cũng đã được thuê tiền để làm như vậy đối với một người da trắng. Là người chống lại mọi thứ bạo lực, chúng ta không tán thành cả hai lối đó. Nhưng sự việc vẫn cứ sờ sờ ra đó, thì chúng ta hãy nhận xét xem sao. Đây, như thế này:

Bằng một quả đấm – nếu không phải là đã đấm một cách khoa học thì ít ra cũng là một quả đấm bằng trời giáng – Xiki đã hạ bệ Cácpăngchiê để rồi đích thân mình trèo lên.

Chức vô địch quyền Anh đã chuyển sang tay khác, nhưng vinh quang của dân tộc về mặt thể thao thì không hề bị tổn thương, vì rằng Xiki là người con của xứ Xênêgan, do đó là con của nước Pháp, tức là người Pháp vậy.

Mặc dù thế, mỗi lần Cácpăngchiê thắng thì dĩ nhiên là do sự khéo léo và khoa học của anh. Nhưng lần nào anh bị bại thì cũng đều là do sức lực thô bạo của một anh như Đenxây hoặc do cái chân chơi ác của một anh như Xiki. Vì thế trong trận đấu ở Buýpphalô, người ta đã muốn tuyên bố – và người ta cũng đã tuyên bố – rằng Xiki mặc dù thắng đấy, nhưng “cũng vẫn” là bại. Nhưng công chúng, loại công chúng tốt, không muốn nghe như vậy. Và công lý của nhân dân đã thắng: Xiki được tuyên bố là vô địch hoàn cầu và nước Pháp.

Sau khi bị một người da đen hạ đo ván, Cácpăngchiê đã bình thản đi thăm nước Nga, đất nước của những người Đỏ. Chúng ta ngợi khen Xiki về thắng lợi của anh. Chúng ta cũng ngợi khen Cácpăngchiê về lòng vô tư của anh.

*

*     *

S.D.N. (xin đọc là xagiét đê naxiông (1), chứ không phải xôxiêtê đê naxiông (2) ) nói rằng Thần Tài chỉ cười duyên với một người giàu có. Rơnê Marăng và Xiki đã làm chảy nhiều mực đen. Hơn nữa, Xiki còn làm chảy cả máu đỏ. Người ta làm như cả hai người anh em châu Phi của chúng ta còn cần đến nhiều mực nữa. Sau ngòi bút châm biếm của Marăng, đôi găng của Xiki đã làm rung động đến cả chính giới. Và ông Lukê, hội viên Hội đồng quận Xen, đã lập tức đưa ra một kiến nghị định cấm cuộc đấu quyền Anh ! Xin phép ông Lukê cho chúng tôi kính cẩn thưa với ông rằng, như vậy là ông đã làm một việc không yêu nước. Chúng tôi xin giải thích: Về phương diện chính trị quốc tế của chúng ta, một nhà vô địch quyền Anh hạng lông cũng tuyên truyền cho ảnh hưởng tinh thần của chúng ta ra nước ngoài như là một người bất tử, một người quang vinh, một ca sĩ hoặc mười đạo quân (ông hãy giở báo chí ra mà xem). Về phương diện quốc gia cũng cần thiết phải có một võ sĩ có tài để nêu gương và khuyến khích cái đẹp về thể lực cho thế hệ trẻ. Về phương diện thuộc địa, một trận đấu Cácpăngchiê – Xiki có giá trị hơn mười vạn bài diễn văn của những nhà cai trị nhằm chứng tỏ cho những con dân và những người được bảo hộ của chúng ta rằng, chúng ta muốn áp dụng triệt để nguyên tắc bình đẳng về chủng tộc.

Có nên hy sinh ba điều lợi đó cho một cái chủ nghĩa nhân đạo mơ hồ nào đó không? Không ! Có phải không, ông Xarô?

*

*     *

Theo tin các báo thì người ta vừa ra lệnh treo giò Xiki trong chín tháng, không cho dự tất cả các võ đài nước Pháp (Như vậy không hề có nghĩa là người ta sẽ đem treo Xiki đáng thương của chúng ta trong chín tháng đồng thời trên tất cả võ đài của nước Pháp đâu. – Xin nhắn với các bạn của chúng tôi ở Xênêgan như vậy). Lý do: đã lăng mạ ông Quyni.

Sao thế nhỉ? Trước đây người ta đã tuyên dương Xiki vì anh đã đánh sưng mũi ông Cácpăngchiê cơ mà. Ngày nay, Xiki chưa hề đụng đến chân lông Quyni, mà sao người ta đã tuyên bố hạ anh xuống như vậy? Người ta cũng không hề định làm cho chúng ta tưởng rằng cái… mặt của Quyni mảnh dẻ và quý báu hơn là mặt ông Cácpăngchiê, và rằng… Chả phải thế. Thật chẳng hiểu ra sao. Chúng tôi đoán có lẽ là thế này: người ta không bao giờ tha thứ cho Xiki là một người da đen đã thắng Cácpăngchiê là một người da trắng; và tuy Cácpăngchiê không có lòng hằn thù, nhưng chủ nghĩa vị chủng của những người khác thì lại đem lòng hằn thù. Và cái lý do kia chỉ là một cái lý do… vin lấy cho có lý do mà thôi.

Cũng theo các báo đó, chúng ta được biết rằng Bộ trưởng Bộ Nội vụ Anh đã cấm cuộc đấu dự định từ trước giữa Giôê Bếchkết và Xiki ở Luân Đôn. Việc này không làm cho chúng ta ngạc nhiên. Vì Cụ lớn nước Anh đã không thể tiêu hoá nổi món bánh hình lưỡi liềm (1) của Kêman cũng như món sôcôla (2) của Găngđi cho nên Ngài muốn bátlinh (3) Xiki phải nuốt liều thuốc tẩy của Ngài, mặc dù Xiki là một người Pháp. Các bạn đã hiểu chưa? (4) .

NGUYỄN ÁI QUỐC

Báo Le Paria, số 9, ngày 1-12-1922.
cpv.org.vn

—————————–

(1) Ngay sau khi Nguyễn Ái Quốc gửi bản Yêu sách của nhân dân An Nam tới trưởng đoàn các nước dự Hội nghị Vécxây, bọn bồi bút thực dân lồng lộn. Trên tờ Courrier Colonial ra ngày 27-6 có một bài nhan đề Giờ phút nghiêm trọng chỉ trích bản yêu sách : Làm sao một người dân thuộc địa lại có thể dùng bản yêu sách của nhân dân để công kích Chính phủ Pháp. Thật là quá quắt. Cứ theo đà này thì bọn dân thuộc địa sẽ lên ngang hàng với người Pháp chúng ta và sớm trở thành ông chủ của chúng ta. Không được, phải kìm giữ chúng mãi mãi trong vòng nô lệ. Nguyễn Ái Quốc viết bài này là để trả lời bài báo sặc mùi thực dân trên.

(2) Bản Yêu sách của nhân dân An Nam: Nǎm 1918, Chiến tranh thế giới thứ nhất kết thúc. Ngày 18-1-1919, đại biểu các nước đế quốc tham gia chiến tranh họp hội nghị ở Vécxây (Pháp). Hội nghị này (còn gọi là Hội nghị hoà bình Pari) nhằm xác định sự thất bại của Đức và các nước đồng minh của Đức, chia lại thị trường thế giới cho các nước đế quốc thắng trận, chủ yếu là Mỹ, Anh, Pháp.Nhân danh nhóm người yêu nước Việt Nam, Nguyễn Ái Quốc đã gửi đến Hội nghị bản Yêu sách của nhân dân An Nam. Nguyễn Ái Quốc còn thuê in thành truyền đơn, đǎng trên các báo, gửi đến các nhà hoạt động chính trị có tên tuổi, phân phát trong các buổi hội họp, mít tinh, gửi cho Việt kiều ở Pháp và gửi về nước.

(3) Báo Le Courrier d\’Hai Phong: Báo xuất bản hằng ngày ở Hải Phòng, nǎm 1887, do Toà đốc lý của chính quyền thuộc địa phụ trách.

(4) Báo L\’Humanité: Tờ báo hằng ngày của Đảng Xã hội Pháp do Giǎng Giôrét sáng lập nǎm 1904. Sau Đại hội lần thứ XVIII (Đại hội Tua), Đảng Cộng sản Pháp thành lập, báo L\’Humanité trở thành cơ quan ngôn luận chính thức của Đảng Cộng sản Pháp.

Những quan toà thuộc địa tốt bụng của chúng ta (4-12-1922)

Bằng chỉ thị ngày 10 tháng 10 nǎm 1922, chính phủ đã thi hành nghị định về bổ nhiệm người vào chức quan toà thuộc địa. Trong số những người đó, chúng ta thấy tên các ông Luycaxơ và ông Oabrǎng.

Cần nhắc lại sơ lược lai lịch của hai vị quan toà này.

Ông Luycaxơ là cựu chưởng lý ở Tây Phi thuộc Pháp, đã được nói tới nhân vụ rắc rối vừa rồi ở Tôgô. Trong thông cáo báo chí, Bộ trưởng Bộ Thuộc địa đã buộc phải tuyên bố: “Cuộc điều tra đã xác định ông Luycaxơ có tham dự vào vụ việc, và điều đó đặt trách nhiệm rất nặng nề lên tổ chức quan toà”.

Có lẽ để thưởng công về việc tham gia vụ bê bối, ông Luycaxơ đã được bổ nhiệm làm chủ toạ toà thượng thẩm ở châu Phi xích đạo thuộc Pháp.

Còn về Oabrǎng thì lai lịch của ông ta đơn giản hơn và ít nổi tiếng hơn. Nǎm 1920, một người Pháp họ là Đuyếcgri, nhân viên hãng Pâyruýtxắc ở Cǎngcan (Ghinê) đi sǎn. Ông ta bắn một con chim rơi xuống sông. Một em bé chạy ngang qua. Đuyếcgri túm em bé vứt xuống sông và ra lệnh tìm bằng được con chim. Sông sâu, nước chảy xiết, em bé không biết bơi, đã chết chìm. Cha mẹ nạn nhân kiện lên nhà đương cục. Đuyếcgri bị viên chỉ huy khu gọi đến. Y đồng ý trả 100 phrǎng cho gia đình đau khổ để ỉm vụ này.

Người cha mẹ bất hạnh từ chối cách dàn xếp đê tiện ấy. Viên chỉ huy giận dữ đứng về phía người đồng bào giết người của mình và doạ bỏ tù hai vợ chồng nếu họ khǎng khǎng đòi trừng trị kẻ giết người, sau đó, nói chung đã ỉm vụ ấy đi.

Song có một bức thư nặc danh báo chuyện này cho tổng công tố viên ở Đắcca. Toà án tối cao giao cho công tố viên sở tại Oabrǎng điều tra tại chỗ. Ông Oabrǎng đến Cǎngcan, ngủ tối tại nhà ông trưởng ga. Ngày hôm sau, ông ở nhà Đơ Lavalie, trợ lý của viên chỉ huy khu, sau đó, đi về, thậm chí chưa hề bắt tay vào việc điều tra. Điều đó không ngǎn cản ông Oabrǎng kết luận rằng bức thư mang tính chất vu khống. Hội Liên hiệp thuộc địa báo sự việc này cho Hội Nhân quyền và Dân quyền (ngày 22 tháng 12 nǎm 1921), nhưng có lẽ Hội coi sự việc không lấy gì làm giật gân lắm, nên chẳng thèm quan tâm đến.

Sau chuyến viếng thǎm Cǎngcan, ông Oabrǎng trong khi chờ nâng cấp, vẫn yên ổn ở lại cương vị của mình, nhận những con gà mái tơ và những bao tải khoai tây từ người bạn của ông là ông Cudanh đơ Lavalie gửi biếu.

Như các bạn thấy đấy, ông Oabrǎng quả là xứng đáng với… phần thưởng chính đáng của chính phủ nước mình – được bổ nhiệm vào cương vị Tổng công tố viên của nước cộng hoà ở Đắcca.

Với sự có mặt của những Đáclơ, những Bôđoanh, những Oabrǎng và những Luycaxơ, có thể nói rằng vận mệnh của nền vǎn minh tối cao, cũng như số phận của dân bản xứ ở các thuộc địa đều nằm trong những bàn tay đáng tin cậy.

NGUYỄN ÁI QUỐC

Báo L’Humanité, ngày 4-12-1922.
cpv.org.vn

Dự luật Nhân quyền VN của Hạ viện Mỹ là sai trái

Người Phát ngôn Bộ Ngoại giao Việt Nam
Lương Thanh Nghị.

Ngày 13/9, trả lời câu hỏi của phóng viên trước việc ngày 11/9/2012, Hạ viện Mỹ đã thông qua Dự luật Nhân quyền Việt Nam 2012 H.R.1410 và Nghị quyết H.Res.484 “kêu gọi Chính phủ Việt Nam tôn trọng nhân quyền,” Người Phát ngôn Bộ Ngoại giao Việt Nam Lương Thanh Nghị nói:

“Chính sách nhất quán của Nhà nước Việt Nam là tôn trọng, bảo vệ và thúc đẩy quyền con người. Trong những năm qua, Việt Nam đã đạt nhiều thành tựu trong việc bảo đảm quyền con người trong tất cả các lĩnh vực dân sự, chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, được cộng đồng quốc tế ghi nhận.

Quyền con người được phát huy và sự tham gia tích cực của người dân vào mọi mặt đời sống kinh tế-xã hội của đất nước là nhân tố quan trọng của thành công của công cuộc đổi mới ở Việt Nam.

Quan hệ Việt Nam-Hoa Kỳ đã có những tiến triển tích cực trong thời gian qua. Hai nước thường xuyên trao đổi về các vấn đề cùng quan tâm, trong đó có vấn đề quyền con người, trên tinh thần thẳng thắn, xây dựng và tôn trọng lẫn nhau. Đây là cách tốt nhất để tăng hiểu biết lẫn nhau, thu hẹp khác biệt, góp phần thúc đẩy quan hệ hai nước tiếp tục phát triển vì lợi ích của cả hai nước.

[Hạ viện Mỹ thông qua dự luật sai trái về Việt Nam]

Dự luật H.R.1410 và Nghị Quyết H.Res.484 đã dựa trên những thông tin sai lệch, thiếu khách quan về tình hình thực thi quyền con người tại Việt Nam. Việc thông qua dự luật và nghị quyết nói trên là sai trái, không phù hợp với xu hướng phát triển của quan hệ Việt Nam-Hoa Kỳ.”./.

(Vietnam+)
vietnamplus.vn