Tag Archive | Chính trị – Xã hội

“Điện Biên phủ trên không”: Việt Nam là dân tộc anh hùng

(VOV) – “Việt Nam đã trở thành biểu tượng của cuộc chiến tranh giành độc lập, là tấm gương để các nước noi theo”.

Chiến thắng lịch sử “Điện Biên phủ trên không” cách đây tròn 40 năm có phần đóng góp quan trọng của những người đồng chí, anh em quốc tế, trong đó có các chuyên gia quân sự Liên Xô (cũ).

Nhân dịp này, phóng viên Đài TNVN có cuộc phỏng vấn Trung tướng Victor Ivanovich Filippov – Cựu chuyên gia quân sự Nga từng công tác tại Trung đoàn 263, Sư đoàn 4, Quân khu 4 và mặt trận ngoại thành Hà Nội năm 1972.

PV: Ông có thể cho biết ấn tượng của mình khi lần đầu tới Việt Nam vào đúng những ngày nóng bỏng ấy?

Trung tướng Victor Filippov: Đó là chuyến công tác đặc biệt, đến một đất nước xa lạ, một đất nước đang có chiến tranh.

Các bạn Việt Nam đã đón tiếp chúng tôi rất chu đáo, không chỉ đối với các chuyên gia quân sự, mà với tất cả những người Xô-viết sang Việt Nam.

Tên lửa SAM-2 của bộ đội Việt Nam luôn sẵn sàng chiến đấu (Ảnh tư liệu)

Khi đến Việt Nam, tôi được biên chế vào một sư đoàn tên lửa của Quân đội Nhân dân Việt Nam. Chúng tôi rất vui vì tinh thần yêu lao động, sẵn sàng chiến đấu của những người lính Việt Nam.

Họ nhanh chóng nắm bắt cách sử dụng các loại khí tài mới để chống lại kẻ địch. Họ sẵn sàng giúp đỡ chúng tôi giải quyết mọi vấn đề. Đôi khi chúng tôi gặp vấn đề về kỹ thuật, và người lính Việt Nam sẵn sàng giúp đỡ và luôn muốn học hỏi để làm chủ được thiết bị, vũ khí mà Liên Xô trang bị. Chúng tôi rất vui vì điều này.

PV: Nhìn lại chiến thắng “Điện Biên Phủ trên không” cách đây 40 năm, với tư cách một chuyên gia quân sự, ông có thể cho biết, tại sao Mỹ lại thua khi trong họ có rất nhiều vũ khí, phương tiện chiến tranh hiện đại?

Trung tướng Victor Filippov: Việt Nam là một dân tộc anh hùng. Quân đội Mỹ đã không rút ra được bài học khi vẫn âm mưu khuất phục ý chí quật cường của dân tộc các bạn bằng bom đạn.

Bên cạnh đó, cuộc chiến của các bạn là vì độc lập, tự do của dân tộc, còn cuộc chiến của Mỹ là cuộc chiến xâm lược.

Nhân dân Việt Nam bảo vệ Tổ quốc và sự nghiệp chính nghĩa ấy nên nhận được sự ủng hộ của nhân loại tiến bộ trên thế giới cũng như ở Mỹ.

Nhân dân yêu chuộng hòa bình đã ủng hộ quân giải phóng chống Mỹ. Đã có nhiều cuộc biểu tình chống Mỹ can thiệp, chống không quân Mỹ ném bom tàn phá miền Bắc. Sự trợ giúp về kinh tế của các nước anh em như: Liên Xô, Trung Quốc và một số nước khác cũng đóng góp một phần nhất định trong chiến thắng này của Việt Nam.

Việt Nam đã trở thành biểu tượng của cuộc chiến tranh giành độc lập, là tấm gương để các nước noi theo.

PV: Ông đánh giá thế nào về vai trò của các chuyên gia quân sự Nga trong chiến thắng 12 ngày đêm bảo vệ Hà Nội?

Trung tướng Victor Filippov trả lời phỏng vấn phóng viên VOV (Ảnh: Đoan Hải)

Trung tướng Victor Filippov: Trách nhiệm chính trong thực hiện nhiệm vụ phòng không tại Hà Nội và trên toàn Việt Nam do chính nhân dân Việt Nam thực hiện.

Liên Xô đã giúp đỡ Việt Nam về kinh tế, khí tài và hỗ trợ trên mặt trận ngoại giao.

Chúng tôi cũng có mặt trong lực lượng phòng không tại Việt Nam để giúp nhân dân Việt Nam đánh Mỹ. Song tất cả những điều đó chỉ đóng một vai trò nhất định.

Tôi xin nhắc lại rằng, không có bất kỳ một yếu tố bên ngoài nào đóng vai trò quyết định trong chiến thắng này, mà chính là nhân dân Việt Nam đã anh dũng bảo vệ đất nước của mình.

Mỹ đã thua trận, buộc phải rút vì không thể thực hiện được các mục tiêu mà họ đặt ra.

Nhân dân Việt Nam đã đập tan âm mưu xâm lược của Đế quốc Mỹ.

PV: Ông có thể cho biết, thời gian ở Việt Nam đã giúp ông có thêm kinh nghiệm gì trong cuộc đời binh nghiệp?

Trung tướng Victor Filippov: Những năm tháng công tác tại Việt Nam đã cho tôi rất nhiều kinh nghiệm vô giá. Tôi gửi lời cảm ơn nhân dân Việt Nam, cảm ơn những người lính Việt Nam.

Những kinh nghiệm thực tế trong chiến tranh không chỉ giúp chúng tôi hiện đại hóa, hoàn thiện các hệ thống vũ khí, kỹ thuật quân sự mà ở cương vị công tác của mình, kinh nghiệm có được ở Việt Nam đã giúp tôi rất nhiều trong công tác huấn luyện chiến đấu trong quân đội Nga và cũng giúp tôi phát triển trong sự nghiệp quân ngũ của mình.

PV: Xin cảm ơn ông!

Đoan Hải/VOV-Moscow
vov.vn

Ký ức của những người bạn Nga với Điện Biên Phủ trên không

(VOV) – 40 năm đã qua, nhưng ký ức về những năm tháng hào hùng trên tuyến đầu đánh Mỹ đó vẫn vẹn nguyên trong lòng họ.

Chiến thắng lịch sử của trận “Điện Biên phủ trên không” là một chiến công hiển hách không chỉ của quân và dân Việt Nam, mà đó còn là của nhân loại tiến bộ. Kiên cường trong cuộc đấu tranh chính nghĩa này, Việt Nam đã nhận được sự giúp đỡ to lớn, chí tình và đầy hiệu quả của nhiều bạn bè quốc tế. Trong số đó phải kể đến những người bạn Liên Xô và Nga.

“Rồng lửa” SAM trong chiến thắng “Điện Biên Phủ trên không” (Ảnh tư liệu TTXVN)

Hồi ức về chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ trên không của Việt Nam trong tâm thức nhiều cựu chiến binh Nga từng có mặt tại Việt Nam cách đây tròn 40 năm vẫn vẹn nguyên và lại có dịp sống dậy trong những ngày tháng này.

Những ngày này, khi không khí kỷ niệm tròn 40 năm chiến thắng trận “Điện Biên phủ trên không” đang tràn ngập ở Việt Nam thì ký ức về “những năm tháng không thể nào quên” ấy cũng trỗi dậy trong lòng nhiều cựu chiến binh Nga – Những con người từng tham gia với vai trò cố vấn quân sự trong lực lượng phòng không, không quân của Việt Nam thời đó.

Mosow lúc này đã bắt vào mùa Đông với những bông tuyết trắng và cái giá lạnh tê lòng. Thế nhưng trong căn hộ ấm áp ở tầng 8 một tòa nhà chung cư ngay giữa trung tâm thành phố, nơi ở của gia đình một vị tướng Nga lại dường như “nóng lên” bởi câu chuyện giữa những người cựu binh về những trận đánh, những hình ảnh thật khốc liệt nhưng cũng rất hào hùng của quân và dân Thủ đô, của người Việt Nam thời ấy.

Chủ nhà là Thượng tướng Anatoli Khiupenhen, người giữ cương vị Trưởng đoàn cố vấn quân sự Liên Xô tại Việt Nam sau cùng và trong thời gian lâu nhất (từ tháng 12/1972 – 1/1975). Trước ông lần lượt là 5 vị tướng đã đảm nhiệm cương vị này từ năm 1965, khi không quân Mỹ bắt đầu tăng cường ném bom xuống miền Bắc Việt Nam.

Cùng có mặt trong cuộc hội ngộ ấm áp này là Trung tướng Victor Philipov, khi có mặt tại Việt Nam năm 1972 là Thiếu tá, Cố vấn Trung đoàn trưởng Trung đoàn 263, Sư đoàn 4 – Quân khu 4 và vị bác sỹ quân y Victor Marnhitrenko, người đã từng có mặt ở Việt Nam từ tháng 6/1972 – 7/1973 với nhiệm vụ hỗ trợ về công tác y tế. Ông đã có mặt ở thành phố Vinh, rồi Hải Phòng và Hà Nội vào đúng những ngày bom đạn ác liệt nhất.

Phóng viên VOV và các cựu chiến binh Nga cùng hồi tưởng về những năm tháng hào hùng của trận “Điện Biên Phủ trên không” (Ảnh: Đoan Hải)

Nhớ lại những hình ảnh từng được chứng kiến thời đó, cả 3 vị cựu chiến binh ở ba công việc cụ thể khác nhau, đều nhớ nhất một điều là cuộc chiến ấy hết sức khốc liệt, tàn bạo vì đã phá hủy nhà cửa, giết hại dân lành và hết sức cam go cho tình hình chiến cuộc chung của cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước của nhân dân Việt Nam. Và sự quả cảm của cả một dân tộc có truyền thống yêu nước đã dẫn tới chiến thắng oai hùng của trận “Điện Biên Phủ trên không” năm nào là điều để lại dấu ấn sâu đậm nhất trong lòng họ.

“Rất đúng khi gọi sự kiện tháng 12/1972 là trận “Điện Biên Phủ trên không” của Việt Nam. Trận Điện Biên Phủ của Việt Nam cũng giống như trận Stalingrad của Liên Xô, của nước Nga. Điện Biên Phủ của Việt Nam đã kết thúc cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, đã buộc Đế quốc Mỹ phải rút hết về nước. Khi đó, cuộc đàm phán giữa Hợp chủng quốc Hoa Kỳ và Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ở Paris về cuộc chiến tranh Việt Nam đang hết sức căng thẳng. Phía Mỹ đã đưa ra những điều kiện mà Việt Nam không thể chấp nhận… Và thế là những trận bom dội xuống Hà Nội đã diễn ra với mưu đồ hủy diệt một đất nước, bắt một dân tộc phải khuất phục. Nhưng điều đó đã không thể đạt được. Với truyền thống lịch sử, dân tộc Việt Nam đã chiến thắng mọi kẻ thù” – Thượng tướng Khiupenhen cho biết.

Với ông Philippov, một chuyên gia nhiều kinh nghiệm trong lĩnh vực phòng không và đã cùng các sỹ quan, chiến sỹ Việt Nam chiến đấu ở quân khu 4 thời kỳ 12 ngày đêm năm 1972,  hình ảnh về những người lính Cụ Hồ, những người dân lành Việt Nam khiến ông hết sức ấn tượng và cảm phục. Ông luôn nhắc đi nhắc lại câu “cảm ơn nhân dân Việt Nam” bởi với ông, chính thời gian có mặt ở Việt Nam đã cho ông nhiều trải nghiệm bổ ích.

“Vào thời điểm khi tôi sang Việt Nam, các đồng chí, chiến sỹ Việt Nam đã nắm khá tốt các kỹ thuật quân sự. Trước một cuộc tấn công bằng đường hàng không, các sỹ quan lẫn chiến sỹ Việt Nam đều đã trong tư thế sẵn sàng rất cao để giáng trả… Có một điều phải khẳng định là chúng tôi đã rút ra được những kinh nghiệm về việc sử dụng các loại vũ khí để chống lại các phương tiện chiến tranh hiện đại của Mỹ. Chính vì điều này, chúng tôi cũng phải nói “cảm ơn các bạn Việt Nam” – ông Philippov nhớ lại .

Ký ức về những ngày tháng chiến đấu anh dũng của quân và dân Việt Nam dưới bầu trời Hà Nội cũng in đậm trong tâm trí bác sỹ quân y Victor Marnhitrenko. Ông kể :“Tôi vẫn nhớ rất rõ mọi việc. Ấn tượng sâu đậm của tôi về Việt Nam sẽ còn theo tôi đến hết cuộc đời. Đó là những hồi còi và hiệu lệnh báo động, rồi máy bay Mỹ liên tục giội bom… Sau này khi có điều kiện chúng tôi vẫn đến với những cuộc gặp mặt các bạn Việt Nam. Tôi vẫn thường kể cho các đồng chí của mình về những ký ức của cuộc chiến tranh mà tôi đã có dịp kinh qua. Nhân dân Việt Nam rất ngoan cường, họ đã chịu đựng không biết bao nhiêu gian lao, vất vả. Tôi tin rằng, thế hệ trẻ Việt Nam sau này lớn lên đều sẽ hiểu hết những điều đó”./.

Điệp Anh/ VOV – Moscow
vov.vn

Kế hoạch tuyên truyền chiến thắng Điện Biên Phủ trên không

Phó Thủ tướng Nguyễn Thiện Nhân chủ trì hội nghị rà soát, thông qua các kế hoạch và các đề án thành phần phục vụ lễ kỷ niệm 40 năm chiến thắng “Điện Biên Phủ trên không”. – Ảnh: VGP

PTT Nguyễn Thiện Nhân giao cho các cơ quan thông tấn báo chí thực hiện tuyên truyền “Điện Biên Phủ trên không” theo chức năng.

Hôm nay 19/10, tại Hà Nội, Phó Thủ tướng Nguyễn Thiện Nhân – Trưởng ban Tổ chức cấp Nhà nước Lễ kỷ niệm 40 năm chiến thắng “Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không” (1972- 2012) chủ trì hội nghị rà soát, thông qua các kế hoạch và các đề án thành phần phục vụ buổi lễ.

Theo báo cáo của Bộ Quốc phòng, ngay sau buổi làm việc ngày 28/9 của Phó Thủ tướng Nguyễn Thiện Nhân với các Bộ, ngành, các đơn vị liên quan đã rất tích cực, chủ động triển khai công tác chuẩn bị và tiến hành các hoạt động hướng tới lễ kỷ niệm.

Phó Thủ tướng Nguyễn Thiện Nhân giao Tổng cục Chính trị – Bộ Quốc phòng yêu cầu Truyền hình Quân đội Nhân dân chủ động sản xuất và cung cấp phim tài liệu lịch sử “40 năm Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không” cho đài truyền hình các địa phương trên cả nước khai thác, giới thiệu rộng rãi tới quần chúng, nhân dân.

Về công tác tuyên truyền, Phó Thủ tướng giao Thông tấn xã Việt Nam xây dựng triển lãm ảnh chuyên đề về chiến thắng “Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không,” sau đó phối hợp với Bộ Quốc phòng tổ chức triển lãm rộng rãi trên cả nước.

Đài Tiếng nói Việt Nam tuyên truyền những câu chuyện chiến đấu, những nhân chứng lịch sử gắn liền với chiến thắng “Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không” trên các kênh quảng bá, nhất là kênh VOV giao thông.

Về hoạt động hội thảo, gặp mặt, giao lưu, tìm hiểu, Phó Thủ tướng đồng ý Bộ Quốc phòng giao Quân chủng Phòng không – Không quân tổ chức Hội thảo khoa học “Hà Nội- Điện Biên Phủ trên không – Tầm cao trí tuệ và Bản lĩnh Việt Nam” trong tháng 11 tới.

Uỷ ban nhân dân thành phố Hà Nội rà soát, đánh giá và tập trung nâng cấp, tôn tạo 9 điểm di tích máy bay B52 bị bắn rơi trên địa bàn thủ đô Hà Nội theo hướng tiết kiệm, đảm bảo sự trân trọng đối với những di tích này.

Bộ Quốc phòng, Bộ Công an phối hợp xây dựng kế hoạch bảo vệ, đảm bảo an ninh, an toàn tuyệt đối trong tất cả các sự kiện sẽ diễn ra tại lễ kỷ niệm.

Bộ Tài chính xây dựng kinh phí đảm bảo thực hiện, trình Thủ tướng Chính phủ xem xét trước 30/10/2012.

Ban Tổ chức cấp Nhà nước sơ duyệt kịch bản Lễ kỷ niệm vào ngày 30/11 tới./.

Theo Chinhphu
vov.vn

“Cánh cụt cánh què” – kỷ niệm khó quên năm 1972

(VOV) – Bài hát có giai điệu, tiết tấu vui nhộn, vận dụng ngôn ngữ dân gian chế giễu, châm biếm không lực Hoa Kỳ.

Những ngày cuối năm 1972 không thể nào quên, người dân Hà Nội vợi đi nhiều vì sơ tán về các vùng lân cận. Nếu đứng ở ngã tư Quán Sứ – Tràng Thi (cạnh cơ quan Đài TNVN) thì nhìn rõ được nhà hát Lớn vì rất vắng người. Nhưng nếu ngước mắt nhìn lên cao thì thấy trên các nóc nhà cơ quan, bệnh viện, trường học… những chiến sĩ tự vệ và cả dân quân đang tập trung cao độ hướng tầm nhìn 8 hướng, cảnh giác với lũ giặc trời và sẵn sàng nhả đạn.

Các Ban Biên tập của Đài TNVN sơ tán về Quốc Oai (Hà Tây cũ), Đoàn Ca nhạc của Đài sơ tán lên Lương Sơn (Hòa Bình) chỉ để lại một số người trực chiến đấu và trực làn sóng phát thanh, nên càng vắng vẻ.

Bất chấp tiếng rít của máy bay và tiếng bom của Mỹ ném xuống bệnh viện Bạch Mai, khu dân cư Khâm Thiêm… trên nóc khu nhà 58 Quán Sứ, đội tự vệ vẫn căng mắt trực chiến ngày đêm, với nỗi căm thù và niềm tin tưởng nhân đôi. Sự “im lặng” ấy như báo hiệu một trận chiến căng thẳng sắp diễn ra.

Khi tiếng kẻng hối hả vang lên là tiếng “gừ gừ” nghe đều đều như tiếng xay lúa, càng lúc càng to dần. Rồi mặt đất bắt đầu rung lên, liên hồi, kéo theo những tiếng nổ rền. Đó là sự xuất hiện của máy bay B52.

Đêm nào cũng vậy, con “ngáo ộp” cứ lừ lừ đến và gây tội ác. Xen giữa những đợt ném bom đó, cứ khoảng 15 – 20 phút chúng lại cho 1 hoặc 2 chiếc máy bay F111, loại “cánh cụp cánh xòe” bay rất thấp, tiếng gầm rú man rợ. Chỉ một chiếc như thế cũng đủ cho cả thành phố phải thức giấc và lực lượng phòng không phải đánh trả.

Chúng cứ làm thế mãi, nên mọi người ngủ luôn dưới hầm. Đến sáng hôm sau, tin tức mà ai cũng muốn biết là chúng thả bom nơi nào? Điều quan trọng hơn nữa là có mấy chiếc B52 bị ta bắn rơi, bao nhiêu phi công Mỹ bị bắt. Bà con ta vui sướng hả hê vì chúng ta đã đứng vững và bắt giặc Mỹ phải đền tội, nhưng cũng đau xót vì bao nhiêu người vô tội bị sát hại, nhà cửa bị san bằng.

Những ngày ấy các nhạc sĩ Phạm Tuyên, Nguyễn An và tôi được phân công ở lại Hà Nội để thay đổi các chương trình ca nhạc và văn học nghệ thuật khi cần, phục vụ đồng bào và chiến sĩ ở cả hai miền Nam Bắc. Chúng tôi ăn ngủ và làm việc dưới căn hầm nhà hai tầng phía sau cơ quan.

Lúc nào cũng như con thoi chạy qua chạy lại giữa 58 Quán Sứ và 39 Bà Triệu, nơi biên tập và nơi truyền âm phát sóng. Tôi đã phóng xe đạp đến số 51 Trần Hưng Đạo để mời nhà văn Nguyễn Tuân đến đọc bài văn; hay đến số 4 Lý Nam Đế mời nhà thơ Thanh Tịnh đến đọc bài tấu vui…

Phòng thu “dã chiến” lúc đó đặt ở tầng 1 gần cổng chính của Đài. Đúng là “bận thì bận mà vui càng vui” như lời một bài dân ca thời ấy. Chứng kiến một không gian hào hùng đầy khí phách của Hà Nội, chúng tôi không ai bảo ai mỗi người đều cố gắng viết bài hát để thể hiện tình cảm của mình và đó cũng là trách nhiệm của một công dân với thời cuộc. Một cuộc thi đua thầm lặng nhưng không kém phần sôi nổi đã diễn ra.

Anh Phạm Tuyên viết rất nhanh bài “Hà Nội những đêm không ngủ” thể hiện tình cảm của người ở lại với người đi sơ tán đang tạm xa Thủ đô. Còn anh Nguyễn An cũng vừa hoàn thành xong bài “Tiếng hát của Hà Nội hôm nay” để báo tin với quân và dân cả nước rằng, mặc cho bom đạn Mỹ tàn phá Thủ đô ta, nhưng người Hà Nội vẫn vững vàng và luôn ngân vang tiếng hát chiến đấu và chiến thắng.

Cánh cụt cánh què
Nhạc và lời: Dân Huyền

Tối hôm 22/12, tôi đang ngồi nghe lại chương trình ca nhạc ngày thành lập quân đội thì Tổng biên tập Trần Lâm đến, ông hỏi đã xong được bài nào chưa? Anh Tuyên và anh An lần lượt khoe ngay và hát luôn. Ông Lâm rất vui và nhắc chúng tôi cần có thêm bài khái quát nói về trận “Điện Biên Phủ trên không” của Hà Nội ta và cũng đừng quên có thêm những bài “châm biếm” không lực Hoa Kỳ.

Các anh “phân công” luôn cho tôi viết. Tổng biên tập nói vui: “Đặt hàng đấy, cố lên nhé!”. Tôi đáp lễ bằng nụ cười “quyết tâm” nhưng không giấu được sự lo lắng về trình độ, bởi đây đâu phải là “đặt hàng” mà là “mệnh lệnh của trái tim”.

Viết châm biếm rất khó. Phải chọn được giai điệu, tiết tấu vừa vui nhộn vừa dễ hát. Phần lời cũng phải chế giễu chua cay, vận dụng được ngôn ngữ dân gian. Lúc đầu tôi định viết về B52, lấy chất liệu từ điệu “Bà Rí” (Bà rằng, Bà rí…), nhưng chất này tôi đã sử dụng trong bài “Voi nhiều, cỏ ít” rồi.

Lục lại trí nhớ hồi đi về Phú Thọ (đất Tổ Hùng Vương) thu thanh hát Xoan, hát Ghẹo, tôi bỗng nghĩ ngay đến điệu “Trống quân Đức Bác” (Trống quân, trống quýt, trống cò – Đứa nào lấy tớ, tớ cho quan tiền…). Tôi đang ngồi vào đàn để tìm những nốt nhạc dí dỏm nhất thì anh Tuyên bước vào nói như reo: “Ta bắn rơi F111 rồi!”.

Được dịp, tôi “bám” lấy nó rồi chạy vội lên phòng tin thời sự hỏi lại, mới biết tự vệ nhà máy xay Lương Yên trận địa dọc sông Hồng đã hợp đồng bắn hạ được máy bay “cánh cụp cánh xòe”. Thế là tôi “vớ” ngay bốn chữ ấy biến nó thành “cánh cụt, cánh què”. Như có động lực mới, cả lời và nhạc cùng lúc cứ thế mà “tuôn” ra:

“Cánh cụp, cánh cụp cụp với lại cánh xòe xòe
Bị đạn tầm thấp ta ghè hàng xâu
Mỹ khoe Mỹ mạnh Mỹ giàu (ái chà chà)
Cả cánh lẫn đầu xuống tận bùn đen
Giặc lái kinh hoàng mặt mũi nhọ nhem
Hễ đến đất này thì xác chúng bay nhiều thêm…”

Viết xong lời một, tôi vừa đàn vừa hát cho anh An nghe. Anh An nói nên thêm lời hai cho đủ ý và phong phú. Hễ “phang” thì phang cho “đã”. Viết mau lên để sáng mai xe giao liên đem cả 3 bài lên đoàn ca nhạc thu cho kịp. Thế là suốt đêm hôm ấy tôi hoàn thành xong lời hai:

“Cánh cụt, cánh cụt cụt với lại cánh què què
Kìa nhìn nó cháy bốn bề lửa vây
Đến đây vỡ mặt vỡ mày (ái chà chà)
Đã sẵn ruộng cày gốc rạ vùi thây
Còn đến nơi này còn chết lăn quay
Súng máy súng trường bủa lưới quyết tiêu diệt ngay!”

Tôi thở phào nhẹ nhõm, chép lại toàn bài và không quên ghi: Tốp nam hát. Sáng dậy nộp cho anh Tuyên để gửi lên Hòa Bình kịp dàn dựng.

Sáng 28/12 chúng tôi nhận được băng ghi âm 3 bài hát từ nơi sơ tán của đoàn ca nhạc gửi về. Trong chương trình ca nhạc 11h30 trưa hôm đó và các chương trình tiếp theo đã được truyền đi kịp thời trên làn sóng của Đài TNVN cùng những bài hát của các nhạc sĩ khác. Biết rằng bài hát “Cánh cụt cánh què” của tôi do nhạc sĩ Văn Cước phối khí, hai nghệ sĩ Đăng Khoa và Hữu Nội trình bày. Những mong muốn của tác giả đã được đáp ứng.

Sau chiến thắng “Điện Biên Phủ trên không” 20 ngày, tôi lại được lệnh cùng một bộ phận biên tập của Đài đi sơ tán cách Hà Nội hơn 300 km. Trong hành trang mang theo, tôi không quên những lá thư của thính giả đề nghị được nghe lại bài hát “Cánh cụt cánh què”. Họ động viên khích lệ, muốn tôi viết thêm những bài hát châm biếm bên cạnh những bài hát trữ tình ca ngợi.

Thấm thoắt đã 40 năm tròn sau trận “Điện Biên Phủ trên không” của quân và dân Hà Nội anh hùng, đã bắn rơi 32 máy bay của Mỹ có cả B52 và F111 trong 12 ngày đêm rực lửa.

Giữa những ngày kỷ niệm lịch sử này, xin được biết ơn những người đã ngã xuống vì Thủ đô, vì cả nước để chúng tôi được vinh dự có mặt trong ngày vui hôm nay./.

Nhạc sĩ Dân Huyền
vov.vn

Cuộc chào đón dữ dội của tên lửa đất đối không

Chiến thắng trong cuộc chiến chống đợt tập kích bằng B52 vào Hà Nội và Hải Phòng 12 ngày đêm cuối năm 1972 đã ghi nhận nghệ thuật phòng không của quân đội ta khi đối đầu với không quân nhà nghề của Mỹ. Ngay trận mở đầu, 2 “siêu pháo đài bay” B52 đã bị bắn rơi tại chỗ trên bầu trời Hà Nội.

Chuẩn bị cho cuộc ném bom vào Hà Nội, Hải Phòng và một số địa phương trên miền Bắc, đế quốc Mỹ huy động lực lượng máy bay lớn chưa từng có, với hy vọng trận tấn công phủ đầu bất ngờ có thể hạ gục ý chí của một dân tộc, buộc Chính phủ ta phải ngồi vào bàn đàm phán và chấp nhận những điều kiện có lợi cho chúng. Tuy nhiên, mọi động thái của địch đều được ta theo dõi chặt chẽ. Từ sáng sớm ngày 18.12.1972, qua hệ thống thu tin của Bộ Tổng tham mưu, những dấu hiệu đầu tiên của cuộc tập kích đã được nhận diện. Vào 19h10, radar phát hiện từng tốp B52 bay dọc sông MeKong lên hướng bắc. Ngay sau đó, trước khi B52 đến, hàng loạt máy bay tiêm kích ào ạt tấn công dọn đường. Các đơn vị cao xạ của bộ đội phòng không và lực lượng tự vệ của Hà Nội đã nổ súng quyết liệt. Đến 19h40, những tốp B52 đầu tiên bắt đầu đánh phá sân bay Hòa Lạc, Nội Bài. Các đơn vị tên lửa Hà Nội lần đầu tiên đối mặt với “pháo đài bay” đã thấy rõ ngay tình huống hết sức phức tạp với dải nhiễu của B52 và tên lửa không đối đất của máy bay hộ tống. Từ Sở chỉ huy Quân chủng đến Sư đoàn Phòng không Hà Nội, những câu hỏi liên tục dội xuống: đã có tiểu đoàn nào bắn chưa? Đã nhìn thấy B52 chưa? Nhưng giờ phút đó vẫn chưa có đơn vị nào khai hỏa, bởi trên màn hiện sóng chỉ có một màu trắng xóa. Toàn bộ hệ thống gây nhiễu của kẻ thù được mở hết công suất, gây cho ta rất nhiều khó khăn. Trên các trận địa tên lửa, máy nổ ầm ầm, đạn đã lên nòng nhưng các chiến sỹ trắc thủ vẫn ngồi im lặng trong tâm trạng căng thẳng tột độ. Kẻ thù đang trút bom đạn xuống những ngôi nhà, đường phố thân yêu nhưng họ chưa thể ấn nút khai hỏa bởi nhiễu dày đặc.

Sau khi nắm bắt tình hình qua việc theo dõi hướng bay của địch, tiểu đoàn 78 (Sư đoàn Phòng không Hà Nội) quyết định phát sóng điều khiển cho dù các loại máy bay tiêm kích vẫn đang quần đảo trên đầu và bắn ầm ầm xung quanh, cả máy bay mang tên lửa chiến thuật không đối đất (Sơ-rai) chỉ chờ ta phát sóng là lao đến. Sóng phát lên, dù không nhìn rõ mục tiêu nhưng đã có thể phân biệt nhiễu của B52 so với các loại nhiễu khác, các chiến sỹ vẫn quyết định phóng đạn. Quả tên lửa đầu tiên của Hà Nội lao vút lên, hướng về phía kẻ thù, mở đầu cho trận đánh vang dội, đáp trả giọng điệu huênh hoang của địch về loại “pháo đài bay bất khả xâm phạm”. Lúc đó là 19h44 ngày 18.12.1972.

Sau quả đạn mở đầu của tiểu đoàn 78, các bệ phóng tên lửa khác cũng liên tiếp khai hỏa. Sự xuất hiện của “rồng lửa Thăng Long” hòa nhịp với tiếng súng của các trung đoàn cao xạ 212, 220, 221, 260 của Sư đoàn 361, tiếng súng tầm thấp các cỡ của lực lượng dân quân tự vệ Hà Nội tạo nên một không khí hào hùng. Một tên đại úy lái máy bay B52 thoát chết trong đêm 18.12.1972 khi về đến căn cứ đã tường thuật lại: “Cuộc chào đón dữ dội của tên lửa đất đối không… Khi những chiếc B52 đầu tiên tới vùng trời Hà Nội, tên lửa đất đối không bắn như pháo hoa lên máy bay chúng tôi. Từ khi vào mục tiêu, anh bạn xạ thủ của tôi đã đếm được 32 tên lửa SAM bắn vào hoặc ít ra cũng bay sát máy bay chúng tôi. Chiếc máy bay số 2 trong tổ bay mất liên lạc nhưng không ai có thì giờ tìm hiểu nó”.

Trận địa của các tiểu đoàn 57, 59, 93, 94 tạo thành một vòng cung phía bắc và đông bắc Hà Nội như lũy thép kiên cường. Chính từ lũy thép này, các chiến sỹ tiểu đoàn 59 trung đoàn 261 đã làm nên một chiến công lịch sử. Hồi 20h13 ngày 18.12.1972, chiếc máy bay B52G mang số hiệu 52122001 đã bị bắn tan xác trên bầu trời Hà Nội. Lần đầu tiên ở Việt Nam và cũng là lần đầu tiên trên thế giới, “siêu pháo đài bay” B52, từ độ cao trên 10.000m đã bị “rồng lửa Thăng Long” vít cổ xuống đất. Đây là chiến công có ý nghĩa vô cùng to lớn, chứng tỏ rằng tuy chưa được trang bị những vũ khí hiện đại nhất nhưng bằng lòng căm thù, bằng ý chí quyết tâm cùng sức mạnh của trí tuệ và lòng dũng cảm, chúng ta hoàn toàn có thể đánh bại được kẻ thù, vốn được trang bị những phương tiện, vũ khí hiện đại nhất lúc bấy giờ.

4h sáng ngày 19.12.1972, kíp chiến đấu của tiểu đoàn 77 (thuộc trung đoàn 257 tên lửa) vào trận và mở máy phát sóng. Chỉ một lát sau “mục tiêu!” tín hiệu B52 nổi lên quá rõ trên màn hình. Ngay lập tức tiểu đoàn trưởng ra lệnh: “Bám sát tự động!”. Sau khi ấn nút phóng tên lửa, tín hiệu vỡ tan, rơi lả tả rồi mất hẳn và lại thêm một chiếc B52 bị bắn rơi. Chỉ trong một đêm, 2 máy bay ném bom B52 được coi là tối tân, hiện đại nhất đã bị bắn tan xác, rơi ngay tại chỗ trên vùng trời Hà Nội.

Dù trận đầu tiên quân và dân ta chỉ bắn rơi tại chỗ 2 chiếc B52, nhưng đã tạo ra sức mạnh và niềm tin vô cùng to lớn cho những ngày chiến đấu sau này. Trận mở đầu vang dội. Chiến công đó khẳng định sức mạnh của lòng yêu nước, sức mạnh của trí tuệ con người trong đấu tranh chống lại cái ác, dù chúng có hung bạo và xảo quyệt đến đâu.

(Bài viết dựa theo hồi ký của Trung tướng Trần Nhẫn, nguyên Phó tư lệnh Sư đoàn Phòng không Hà Nội)

KHÁNH NGUYÊN
daibieunhandan.vn

Chương trình cầu truyền hình “Bản hùng ca Hà Nội”

Tối 16-12, tại Hà Nội, Ðài Phát thanh – Truyền hình Hà Nội phối hợp Báo Quân đội Nhân dân, Sư đoàn Phòng không Hà Nội tổ chức chương trình cầu truyền hình đặc biệt với tên gọi “Bản hùng ca Hà Nội”, nhân kỷ niệm 40 năm Chiến thắng Hà Nội – Ðiện Biên Phủ trên không.

Ðến dự, có đồng chí Phạm Quang Nghị, Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Thành ủy Hà Nội; Thượng tướng Ngô Xuân Lịch, Bí thư T.Ư Ðảng, Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị Quân đội Nhân dân Việt Nam; các đồng chí Ủy viên T.Ư Ðảng: Trung tướng Mai Quang Phấn, Phó Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị; Ngô Thị Doãn Thanh, Chủ tịch HÐND thành phố Hà Nội.

Chương trình cầu truyền hình Bản hùng ca Hà Nội kỷ niệm 40 năm chiến thắng
Hà Nội – Ðiện Biên Phủ trên không tại Ðài tưởng niệm Khâm Thiên.
Ảnh: Đăng Anh – Báo Nhân Dân

Chương trình cầu truyền hình được tổ chức tại năm điểm gồm: Bảo tàng Lịch sử Quân sự Việt Nam, Sư đoàn Phòng không Hà Nội, Bảo tàng Chiến thắng B52, Ðài tưởng niệm những nạn nhân chết vì bom B52 ở phố Khâm Thiên và trận địa tên lửa Chèm (xã Thụy Phương, huyện Từ Liêm, Hà Nội). Trong đó, Bảo tàng Lịch sử Quân sự Việt Nam là điểm cầu chính. Người xem đã được gặp gỡ các khách mời gồm: Ðại tá Nghiêm Ðình Tích, người đầu tiên phát hiện B52 tiến công Hà Nội năm 1972; Ðại tá, Anh hùng Lực lượng vũ trang Nguyễn Ðình Kiên, người đã tham gia bắn rơi bốn chiếc máy bay B52, trong đó có kỷ lục bắn rơi hai chiếc B52 trong vòng chín phút; Trung tá Dương Văn Thuận, người bấm nút điều khiển tên lửa bắn rơi chiếc máy bay B52 đầu tiên; bà Phạm Thị Viễn, nữ tự vệ Nhà máy Cơ khí Mai Ðộng, đơn vị bắn rơi máy bay F111A bằng pháo 14,5 ly…

Các nhân chứng đã kể về những ngày họ từng sống và chiến đấu trong 12 ngày đêm cuối năm 1972 đầy vinh quang của Thủ đô và đất nước. Khán giả còn được giao lưu và nghe tâm sự của nhạc sĩ Phú Quang, nhà văn Giang Quân – những người đã chứng kiến, thậm chí đã gánh chịu hy sinh, mất mát trong 12 ngày đêm máu lửa ấy. Ðan xen giữa những câu chuyện về hồi ức lịch sử là những ca khúc Người Hà Nội, Làng lúa làng hoa, Hà Nội niềm tin và hy vọng… thể hiện một Hà Nội kiên cường, bất khuất nhưng vẫn đầy lãng mạn, hào hoa.

* Chiều 16-12, tại Hà Nội, Bảo tàng Lịch sử quốc gia tổ chức chương trình giao lưu Ký ức Hà Nội 12 ngày đêm, kỷ niệm 40 năm Chiến thắng Hà Nội – Ðiện Biên Phủ trên không. Tham dự buổi giao lưu có đại diện các đơn vị thuộc ngành văn hóa, thể thao và du lịch, ngành giáo dục và đào tạo, công chúng Thủ đô, học sinh, sinh viên một số trường học thuộc Hà Nội, cùng các nhân chứng lịch sử như: Nhà nghiên cứu sử học Dương Trung Quốc, Tổng Thư ký Hội Khoa học Lịch sử Việt Nam; Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân Trung tướng Phạm Tuân; GS Ðỗ Doãn Ðại, nguyên Giám đốc Bệnh viện Bạch Mai và nhà báo Nguyễn Xuân Mai. Buổi giao lưu góp phần giáo dục lòng yêu nước, ý thức gìn giữ phát huy truyền thống anh dũng, kiên cường, khơi dậy niềm tự hào dân tộc đối với thế hệ trẻ.

* Ngày 16-12, tại Thái Nguyên, Ban liên lạc truyền thống cựu chiến binh Sư đoàn 324 đã tổ chức Lễ trao Kỷ niệm chương Chiến sĩ tặng 85 cựu chiến binh thuộc sư đoàn đang sinh sống trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên.

Tại buổi gặp mặt, các đại biểu đã ôn lại truyền thống lịch sử vẻ vang của sư đoàn. Ðược thành lập ngày 1-7-1955 tại xã Triệu Dương, huyện Tĩnh Gia, tỉnh Thanh Hóa, cùng với Sư đoàn 305 (sau này là đơn vị nhảy dù đầu tiên của Không quân Nhân dân Việt Nam), đây là hai sư đoàn của Liên khu 5. Sư đoàn 324 được giao nhiệm vụ giữ vững trị an ở Thanh Hóa, sau đó chuyển vào đóng quân tại Nghệ An. Một bộ phận sư đoàn tách ra thành Văn công Sư đoàn 324. Năm 1957, theo chỉ thị của Tổng cục Chính trị, Văn công 305, Văn công 324, Văn công Trung đoàn 120 (Tây Nguyên) sáp nhập và giữ phiên hiệu Ðoàn Văn công Bộ đội Liên khu 5, đặt dưới sự lãnh đạo của Bộ Tư lệnh Sư đoàn 324. Ðến tháng 6 năm 1961, Sư đoàn 324 chuyển thành Lữ đoàn 324, tham gia bảo vệ tỉnh Nghệ An trong cuộc tiến công miền bắc bằng không quân và hải quân của Quân đội Mỹ. Sư đoàn đã phối hợp với quân dân Nghệ An đánh 125 trận, bắn hạ 47 máy bay. Ðến tháng 5 năm 1965, Sư đoàn 324 được tái lập và được cử vào nam, trở thành sư đoàn chủ lực đầu tiên của Quân khu 4 mở mặt trận đường 9 Bắc Quảng Trị. Trong Tổng tiến công và nổi dậy mùa xuân năm 1975, Sư đoàn 324 trực thuộc Quân đoàn 2 tham gia tiến công giải phóng Sài Gòn. Sau kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, Sư đoàn 324 trở về trực thuộc Quân khu 4. Sư đoàn 324 đã hai lần được Ðảng, Nhà nước phong tặng danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân./.

(Theo báo Nhân Dân)
cpv.org.vn

Đức “Chính” trong tư tưởng Hồ Chí Minh

“Cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư” là những chuẩn mực đạo đức cốt lõi trong tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh.

dưc chinhaThăm Bệnh xá Vân Đình, tỉnh Hà Tây ngày 20-4-1963, Bác Hồ căn dặn
cán bộ bệnh xá thực hiện “Lương y như từ mẫu”

Những chuẩn mực đạo đức tốt đẹp này đã tồn tại qua thời gian, qua các chế độ xã hội và đã được Bác Hồ tiếp thu, phát triển nội dung của những chuẩn mực ấy để rèn luyện chính mình và răn dạy chúng ta. Có người cho rằng: Giáo dục cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư thì e cổ quá. Bác đã ôn tồn giải thích: “Cái gì cũ mà tốt thì phải tiếp thu, phát triển lên”.

Hồ Chí Minh đã viết nhiều bài về cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư. Bản thân Người thực sự là tấm gương mẫu mực của cần, kiệm, liêm, chính. Bốn đức ấy, đức nào cũng quý, cũng cần, Bác Hồ đã ví như bốn mùa của trời, bốn phương của đất, thiếu một đức, thì không thành người. Với chữ “chính”, đức “chính”, Bác không phân tích nhiều, Người viết: “Chính nghĩa là không tà, nghĩa là thẳng thắn đứng đắn. Điều gì không thẳng thắn, đứng đắn, tức là tà”.

Cần, kiệm, liêm là gốc rễ của chính. Nhưng một cây cần có gốc rễ, lại cần có cành, lá, hoa, quả mới là cây hoàn toàn. Một người phải cần, kiệm, liêm nhưng còn phải chính mới hoàn toàn. Trên quả đất có hàng muôn triệu người. Số người ấy có thể chia làm hai hạng người thiện và người ác. Trong xã hội, tuy có trăm công nghìn việc. Song những công việc ấy có thể chia làm hai thứ: việc chính và việc tà. Làm việc chính, là người thiện. Làm việc tà, là người ác. Siêng năng (cần), tằn tiện (kiệm), trong sạch (liêm), chính là thiện. Lười biếng, xa xỉ, tham lam là tà, là ác.

Chữ “chính” của Bác là sự tiếp thu, phát triển chữ “chính” từ đạo Nho của Đức Khổng Tử. Đức Khổng Tử nêu học thuyết của mình cách đây khoảng 2.500 năm đòi hỏi xã hội phong kiến phải thực hiện cho được “chính danh”. Danh là tên gọi của con người hoặc sự vật. Danh có thể hiểu là do con người đặt tên cho sự vật và hiện tượng khi đã hiểu biết về bản chất của nó. “Chính danh” nghĩa là tên gọi của sự vật thế nào thì bản chất của sự vật như thế ấy. Vua phải thật sự xứng đáng là vua, có đầy đủ các tố chất về tài, đức, về trí tuệ. Các thứ bậc, quan tước được cất nhắc, bổ nhiệm cũng phải có đầy đủ những tiêu chí xứng đáng với chức vụ được bổ (những tiêu chí ấy bây giờ tương tự như chúng ta coi đó là các tiêu chuẩn cán bộ). Trong các mối quan hệ thì cha phải ra cha, con phải ra con, vợ phải ra vợ, chồng phải ra chồng, trên phải ra trên, dưới phải ra dưới… Đức Khổng Tử cho rằng danh có chính thì ngôn mới thuận. Ngôn là biểu hiện không chỉ của danh mà còn là biểu hiện của trí tuệ và các phẩm chất bảo đảm của chính danh. Học thuyết chính danh của Khổng Tử vô cùng sâu sắc và gần gũi với chúng ta hiện nay. Bác Hồ dạy cán bộ, đảng viên đạo làm gương, nêu gương: “Đảng viên đi trước, làng nước theo sau” cũng có cội nguồn sâu xa từ thuyết chính danh.

Đức Phật Thích Ca Mâu Ni quan niệm về cuộc đời là những chuỗi ngày đau khổ, là sự luân hồi, nhân – quả. Người đã tìm ra chân lý của sự khổ đau vô tận của con người do thập kết sử (mười điều) do chính con người tạo ra: tham lam, giận dữ, si mê, kiêu ngạo, nghi ngờ, thân kiến, biến kiến, tà kiến, kiến thủ, giới cấm thủ; trong đó đặc biệt có tam độc (ba điều): tham lam, giận dữ, si mê là nguyên nhân chính của sự đau khổ. Đức “chính” theo quan niệm của đạo Phật hết sức toàn diện cả tư duy đến hành động, cả lời nói đến việc làm trong mọi mối quan hệ của con người. Cái đích chữ chính của Đức Phật là cái đích hướng thiện, loại bỏ cái tà, cái ác…

Bác Hồ kính yêu tiếp thu những tinh túy cái thiện của Đức Khổng Tử, Đức Phật, Người định nghĩa: chính nghĩa là không tà, nghĩa là thẳng thắn, đứng đắn. Nội dung chữ chính của Bác có cả những điều trong chữ Chính của tinh hoa văn hóa nhân loại: nhân loại luôn có xu hướng hướng thiện, hướng tới cái chính, không chấp nhận cái tà, cái ác. Thực hiện chữ chính theo quan niệm của Chủ tịch Hồ Chí Minh, phải bắt đầu từ tâm và phải là sự tu dưỡng bền bỉ suốt đời. Trong mối quan hệ với “liêm”; có “liêm” thì mới có “chính”; có “cần”, “kiệm” thì có “liêm”; nhưng cũng có khi có “liêm” mà chưa thể có “chính” hoàn toàn. Ví dụ như có một người trong cuộc sống và quan hệ luôn liêm khiết, trong sáng, nhưng trước hành vi lũng đoạn, sa đọa của người khác lại không dám góp ý, không dám đấu tranh… thì người đó chưa chính tâm, chưa chính ngôn… Cho nên trong bốn đức: cần, kiệm, liêm, chính mà Bác dạy chúng ta đức nào cũng vô cùng cần thiết và thực hiện nó không hề dễ. Đức “chính” là kết quả của cần, kiệm, liêm nhưng không phải cứ thực hiện tốt cần, kiệm, liêm là có “chính”, phải thấy “chính” độc lập tương đối, đồng thời cũng là cái đức khó thực hiện nhất trong bốn đức. Trong đời sống “chính” có ý nghĩa vô cùng sâu rộng, vô cùng cần thiết, nhưng không phải ai cũng thực hiện được, nhất là trong quá trình phát triển nền kinh tế thị trường hiện nay ở nước ta.

Thực hiện tốt đức “chính” thật sự là niềm tin, là sự công bằng, văn minh và ổn định chính trị, xã hội. Những điều đó đòi hỏi ở mọi người, trước hết là ở Đảng, ở cán bộ, đảng viên, đặc biệt là những người đang giữ những cương vị, những trọng trách của Đảng và chính quyền các cấp, bởi vì, họ như những tấm gương cho cán bộ, đảng viên và nhân dân noi theo… Hiểu được và làm được chữ “chính” trong tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh không hề đơn giản mà nó là niềm tin, là cội nguồn của sự đoàn kết, là biểu hiện của một xã hội chân chính, một Đảng chân chính, một tương lai chân chính, bắt đầu từ mỗi con người chân chính..

CHÍNH

Chính nghĩa là không tà, nghĩa là thẳng thắn, đúng đắn. Điều gì không đúng đắn, thẳng thắn, tức là tà. CẦN, KIỆM, LIÊM, là gốc rễ của CHÍNH. Nhưng một cây cần có gốc rễ, lại cần có cành, lá, hoa, quả mới là hoàn toàn. Một người phải Cần, Kiệm, Liêm, nhưng còn phải CHÍNH mới là người hoàn toàn. Trên quả đất, có hàng muôn triệu người. Song số người ấy có thể chia làm hai hạng: người THIỆN và người ÁC.

Trong xã hội, tuy có trăm công, nghìn việc. Song những công việc ấy có thể chia làm 2 thứ: việc CHÍNH và việc TÀ.

Làm việc CHÍNH, là người THIỆN.

Làm việc TÀ, là người ÁC.

Siêng năng (cần), tằn tiện (kiệm), trong sạch (liêm), CHÍNH là THIỆN.

Lười biếng, xa xỉ, tham lam, là tà, là ác.

Bất kỳ ở tầng lớp nào, giữ địa vị nào, làm nghề nghiệp gì, sự hoạt động của một người trong xã hội có thể chia làm 3 mặt:

1. Mình đối với mình.

2. Mình đối với người.

3. Mình đối với công việc.

ĐỐI VỚI MÌNH

– Chớ tự kiêu, tự đại. Tự kiêu, tự đại là khờ dại. Vì mình hay, còn nhiều người hay hơn mình. Mình giỏi, còn nhiều người giỏi hơn mình. Tự kiêu, tự đại tức là thoái bộ. Sông to, biển rộng, thì bao nhiêu nước cũng chứa được, vì độ lượng của nó rộng và sâu. Cái chén nhỏ, cái đĩa cạn, thì một chút nước cũng đầy tràn, vì độ lượng của nó hẹp nhỏ. Người mà tự kiêu, tự mãn, cũng như cái chén, cái đĩa cạn.

– Luôn luôn cầu tiến bộ. Không tiến bộ thì là ngừng lại. Trong khi mình ngừng lại thì người ta cứ tiến bộ. Kết quả là mình thoái bộ, lạc hậu.

Tiến bộ không giới hạn. Mình cố gắng tiến bộ, thì chắc tiến bộ mãi.

– Luôn luôn tự kiểm điểm, tự phê bình, những lời mình đã nói, những việc mình đã làm, để phát triển điều hay của mình, sửa đổi khuyết điểm của mình.

Đồng thời phải hoan nghênh người khác phê bình mình. Cụ Tăng Tử là một vị đại hiền, là một tín đồ giỏi nhất của cụ Khổng Tử. Cụ Tăng đã làm kiểu mẫu cho chúng ta. Cụ nói: Mỗi ngày tôi tự kiểm điểm mấy lần: đối với người có thẳng thắn không? Đối với việc có chuyên cần không?

Cụ Khổng Tử nói: Mình có đứng đắn, mới tề được gia, trị được quốc, bình được thiên hạ.

Tự mình phải chính trước, mới giúp được người khác chính. Mình không chính, mà muốn người khác chính là vô lý.

ĐỐI VỚI NGƯỜI

Chữ người, nghĩa hẹp là gia đình, anh em, họ hàng, bầu bạn. Nghĩa rộng là đồng bào cả nước. Rộng nữa là cả loài người.

Trừ bọn Việt gian bán nước, trừ bọn phát xít thực dân, là những ác quỷ mà ta phải kiên quyết đánh đổ, đối với tất cả những người khác thì ta phải yêu quý, kính trọng, giúp đỡ.

Chớ nịnh hót người trên. Chớ xem khinh người dưới. Thái độ phải chân thành, khiêm tốn, phải thật thà đoàn kết. Phải học người và giúp người tiến tới.

Phải thực hành chữ Bác – Ái.

ĐỐI VỚI VIỆC

Phải để công việc nước lên trên, trước việc tư, việc nhà. Đã phụ trách việc gì, thì quyết làm cho kỳ được, cho đến nơi đến chốn, không sợ khó nhọc, không sợ nguy hiểm. Bất kỳ việc to, việc nhỏ, phải có sáng kiến, phải có kế hoạch, phải cẩn thận, phải quyết làm cho thành công. Việc THIỆN thì dù nhỏ mấy cũng làm. Việc ÁC thì dù nhỏ mấy cũng tránh.

Việc gì dù lợi cho mình, phải xét nó có lợi cho nước không? Nếu không có lợi, mà có hại cho nước thì quyết không làm.

Mỗi ngày cố làm một việc lợi cho nước (lợi cho nước tức là lợi cho mình), dù là việc nhỏ, thì một năm ta làm được 365 việc. Nhiều lợi nhỏ cộng thành lợi to.

Cả 20 triệu đồng bào đều làm như vậy, thì nước ta nhất định mau giàu, dân ta nhất định được nhiều hạnh phúc.

Ai chẳng muốn cho tự mình thành một người tốt.

Con cháu mình sung sướng,

Gia đình mình no ấm,

Làng xóm mình thịnh vượng,

Nòi giống mình vẻ vang,

Nước nhà mình mạnh giàu.

Mục đích ấy tuy to lớn, nhưng rất thiết thực.

Thiết thực, vì chúng ta nhất định đạt được.

Chúng ta nhất định đạt được, vì mỗi người và tất cả dân ta đều thi đua: Cần, Kiệm, Liêm, Chính.

“Cần, kiệm, liêm, chính”, tháng 6-1949.

Hồ Chí Minh: Toàn tập, t.5, tr. 631-645.

Theo Báo Hải Dương online
Huyền Trang
(st)
bqllang.gov.vn

Olivier Tessier và “Hà Nội những ngày đêm năm 1972”

(VOV) -“Hà Nội, những ngày đêm năm 1972” là chủ đề cuộc triển lãm ảnh sẽ diễn ra từ 11/10 – 9/11 tại Trung tâm văn hóa Pháp.

“Hà Nội, những ngày đêm năm 1972” tập hợp những hình ảnh của Hà Nội trong trận chiến đấu chống lại đợt ném bom hủy diệt B52 của đế quốc Mỹ. Đó là hình ảnh quân và dân thủ đô anh hùng, quyết tâm chống lại âm mưu “đưa Hà Nội trở về thời kỳ đồ đá” của đế quốc bằng chiến dịch phòng không quy mô lớn nhất cuộc kháng chiến chống Mỹ.

Bên cạnh đó, triển lãm cũng giới thiệu những giai đoạn của trận đánh bom theo trình tự thời gian (mục tiêu chiến lược, sự tham gia của lực lượng không quân, những thiệt hại về cơ sở vật chất và con người, dân sự và quân sự) và quá trình đàm phán đồng thời diễn ra.

Tiến sĩ Olivier Tessier cũng chính là người được vinh danh Giải thưởng Bùi Xuân Phái- Vì tình yêu Hà Nội năm 2012. Ông là một trong những nhà nghiên cứu hàng đầu về Hoàng thành Thăng Long.

Song song với quá trình nghiên cứu, niềm đam mê của ông còn là sưu tập hình ảnh Hà Nội trong nhiều thời kì lịch sử. Ông cũng là chủ nhân bộ sưu tập ảnh và bản đồ cổ về thành Hà Nội, cho chúng ta nhìn thấy rõ một giai đoạn chuyển giao đặc biệt của đô thị Hà Nội thế kỷ 19-20.

Triển lãm được tổ chức và điều phối bởi Olivier Tessier (Viện Viễn đông Bác cổ – Pháp)./.

Phương Thúy/VOV-TTTin
vov.vn

Tư tưởng Hồ Chí Minh về công tác tư tưởng

Việt Nam - Hồ Chí MinhTuyên truyền là một bộ phận, một tác nghiệp của công tác tư tưởng có vị trí hết sức quan trọng, bởi vậy, Người định nghĩa và xác định rõ mục đích của tuyên truyền “Tuyên truyền là đem một việc gì nói cho dân hiểu, dân nhớ, dân theo, dân làm. Nếu không đạt được mục đích đó, là tuyên truyền thất bại”

Sinh thời Chủ tịch Hồ Chí Minh rất chăm lo đến công tác giáo dục chính trị tư tưởng, bởi theo Người “Tư tưởng không đúng đắn thì công tác ắt sai lầm”; rằng “Trong Đảng và ngoài Đảng có nhận rõ tình hình mới, hiểu rõ nhiệm vụ mới thì tư tưởng mới thống nhất, tư tưởng thống nhất thì hành động mới thống nhất”. Công tác tư tưởng tự bản thân nó đã hàm chứa những vấn đề nhạy cảm, phức tạp, đa chiều, liên quan đến tâm tư nguyện vọng của cán bộ, đảng viên, nhân dân; liên quan đến sự thành bại của sự nghiệp cách mạng. Người nói: “Lãnh đạo quan trọng nhất là lãnh đạo tư tưởng, phải hiểu tư tưởng của mỗi cán bộ để giúp đỡ thiết thực trong công tác; vì tư tưởng thông suốt thì làm tốt, tư tưởng nhùng nhằng thì không làm được việc”. Trong báo cáo tại Hội nghị lần thứ 6 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá II (15-7-1954), trong mười công tác được xác định thì công tác lãnh đạo tư tưởng là quan trọng nhất. Hồ Chí Minh luôn yêu cầu “Cán bộ lãnh đạo và cán bộ các ngành, tư tưởng phải thông, phải thật thông. Phải có quyết tâm khắc phục khó khăn, làm tròn nhiệm vụ”. “Phải đánh thông tư tưởng và động viên sáng kiến và lực lượng của toàn Đảng, toàn dân. Mọi người quyết tâm làm cho được và tin tưởng làm nhất định được”. Mỗi lần về thăm các nhà máy, công trường, hợp tác xã, Bác Hồ luôn nhắc nhở, động viên cán bộ, đảng viên, nhân viên “Muốn quản lý tốt thì cán bộ và công nhân phải thông suốt tư tưởng”.

Trên cơ sở quy luật của công tác tư tưởng, Người đã trù liệu hệ quả khi đảng viên chưa thông suốt tư tưởng sẽ dẫn tới những biến dạng khôn lường “Nếu đảng viên tư tưởng và hành động không nhất trí, thì khác nào một mớ cắt rời, “trống đánh xuôi, kèn thổi ngược”. Như vậy, thì không thể lãnh đạo quần chúng, không thể làm cách mạng”. Do đó mà Người luôn canh cánh kỳ vọng làm sao tư tưởng tiên tiến, tư tưởng xã hội chủ nghĩa phải trở thành chủ đạo, trường tồn cùng với Đảng, với cán bộ, đảng viên và nhân dân. Người chỉ rõ “Tư tưởng thông suốt thì mọi việc làm đều tốt. Phải làm cho tư tưởng xã hội chủ nghĩa hoàn toàn thắng, tư tưởng cá nhân hoàn toàn thất bại”.

Tuyên truyền là một bộ phận, một tác nghiệp của công tác tư tưởng có vị trí hết sức quan trọng, bởi vậy, Người định nghĩa và xác định rõ mục đích của tuyên truyền “Tuyên truyền là đem một việc gì nói cho dân hiểu, dân nhớ, dân theo, dân làm. Nếu không đạt được mục đích đó, là tuyên truyền thất bại”. Người nói “Người tuyên truyền bao giờ cũng phải tự hỏi: Viết cho ai xem? Nói cho ai nghe? Nếu không vậy, thì cũng như cố ý không muốn cho người ta nghe, không muốn cho người ta xem”. Do mục đích, yêu cầu của công tác tuyên truyền, nhất là tính chính xác và sức lay động lan toả đối với dân chúng nên Hồ Chí Minh đòi hỏi cán bộ tuyên truyền “Phải biết cách nói. Nói thì phải giản đơn, rõ ràng, thiết thực. Phải có đầu, có đuôi, sao cho ai cũng hiểu được, nhớ được”; rằng: Người tuyên truyền không điều tra, không phân tách, không nghiên cứu, không hiểu biết quần chúng, chỉ gặp sao nói vậy, bạ gì viết nấy, nhất định thất bại. Khi tuyên truyền vận động đồng bào dân tộc thiểu số, Người lưu ý: Phải nói thiết thực, rõ ràng để đồng bào dễ nghe, dễ hiểu và làm được tốt.

Với sự quan sát và thông qua nhiều kênh tiếp nhận, với tình cảm chân thành mà Người nhắc nhở, phê phán một số báo cáo viên thiếu chủ động, đầu tư trong việc chuẩn bị bài nói, thuyết trình “Nhiều người trước khi nói không sắp sửa kỹ càng. Lúc ra nói hoặc lắp lại những cái người trước đã nói. Hoặc lắp đi lắp lại cái mình đã nói rồi”; hoặc “Nhưng viết một cách cao xa, mầu mè, đến nỗi chẳng những quần chúng không hiểu, mà cả cán bộ cũng không hiểu”. Đặc biệt Người còn phê phán một số người sính dùng chữ, nhất là thích dùng chữ Hán “Tiếng ta có thì không dùng, mà cứ ham dùng chữ hán. Dùng đúng, đã là một cái hại, vì quần chúng không hiểu. Nhiều người biết không rõ, dùng không đúng, mà cũng ham dùng, cái hại lại càng to”. Vì vậy, Hồ Chí Minh mong muốn làm sao trong mỗi bài nói, bài viết phải thấu cảm được ý tưởng và mong ước của nhân dân. Người yêu cầu “Mỗi tư tưởng, mỗi câu nói, mỗi chữ viết, phải tỏ rõ cái tư tưởng và lòng ước ao của quần chúng”. Có như vậy công tác tư tưởng mới đạt được mục tiêu “được người, được việc, được tổ chức” như nguyên Tổng Bí thư Lê Khả Phiêu đã khẳng định. “Phải đạt được mục đích tăng cường đoàn kết nhất trí trong Đảng, trong quân đội”.

Hơn lúc nào hết đội ngũ cán bộ tuyên truyền “Phải có lòng tự tin, tin vào mình, tin Đảng, tin giai cấp, tin nhân dân mình”, thiếu nó thì khó có thể hoàn thành tốt các nhiệm vụ được giao trên mặt trận tư tưởng văn hoá. Xuất phát từ vai trò, tầm quan trọng của công tác tư tưởng nên Người luôn mong muốn “Người tuyên truyền cần phải chịu khó, chịu khổ, khéo ở, siêng làm. Chớ tưởng rằng: Đi phớt qua địa phương, diễn thuyết một hai giờ đồng hồ mà có kết quả. Đến một địa phương nào cần phải đi thăm các cụ phụ lão, các người phụ trách, rồi đi thăm các nhà đồng bào để gây cảm tình, và để hiểu biết tình hình địa phương”. Người còn chỉ giáo “Thấy dân làm việc gì, bất kỳ to nhỏ, ta cũng ra tay làm giúp. Đó là cách gây cảm tình tốt nhất, nó sẽ giúp cho việc tuyên truyền kết quả gấp bội”. Cán bộ tuyên truyền cần phải chủ động học tập nâng cao trình độ, kiến thức, nếu không sẽ lạc hậu, thoái bộ; luôn nắm vững chủ trương, nghị quyết của Đảng, pháp luật của Nhà nước, tập quán, sinh hoạt của nhân dân. Chú trọng “nâng cao trình độ lý luận, gắn liền công tác lý luận với thực tiễn cách mạng; phải đi sát thực tế, phải liên hệ mật thiết với quần chúng”. Đồng thời Người còn căn dặn: Cán bộ, đảng viên phải nâng cao chí khí chiến đấu, nâng cao lòng tin tưởng. Trong kháng chiến rất khó khăn nếu chí khí chiến đấu của bộ đội, cán bộ, nhân dân mà sụt thì sẽ thất bại.

Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đi xa chúng ta nhưng tư tưởng của Người nói chung, về công tác tư tưởng nói riêng vẫn còn sống mãi với thời gian, với Đảng ta, và đội ngũ những người làm công tác tuyên giáo hôm nay. Đó là hành trang, phương pháp luận quý báu để Đảng ta, đội ngũ làm công tác tuyên truyền vững tin hơn, trí tuệ sắc sảo hơn nhằm góp phần nâng cao chất lượng công tác tư tưởng của Đảng lên một tầm cao mới. Đặc biệt càng có ý nghĩa cấp bách khi Đảng ta thực hiện chủ trương mở cửa, hội nhập; khi các lực lượng thù địch chưa từ bỏ mưu toan chống phá cách mạng nước ta, hòng chia rẽ Đảng với nhân dân; khi “Công tác tư tưởng còn thiếu sắc bén, tính chiến đấu còn hạn chế…; chưa làm tốt công tác giáo dục chính trị, tư tưởng và đấu tranh chống chủ nghĩa cá nhân, tư tưởng cơ hội, những quan điểm mơ hồ, sai trái; thiếu quan tâm giáo dục lý tưởng, đạo đức, lối sống”. Khắc phục và thực hiện tốt các nhiệm vụ đó là nhân tố để “Đảng ta là một tập thể lớn, tư tưởng nhất trí, hành động nhất trí” trong tiến trình kiến tạo đất nước theo lý tưởng xã hội chủ nghĩa, đẩy nhanh công nghiệp hoá, hiện đại hoá vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh.

Theo  TS. Nguyễn Thế Tư, Học viện Chính trị-
Hành chính khu vực III
Tâm Trang
(st)

bqllang.gov.vn

Tình trạng “phe nhóm” trong Quân đội Sài Gòn

QĐND-Theo một tài liệu lưu trữ của Cục Địch vận (Tổng cục Chính trị), vào thời điểm các năm 1972-1973, đội ngũ cán bộ địch vận các đơn vị đã thu thập, nghiên cứu khá chi tiết về tình hình đảng phái trong sĩ quan Quân đội Sài Gòn. Tài liệu cũng nêu rõ xu hướng, thế lực của từng đảng phái, nội tình phe nhóm trong các sĩ quan cao cấp và việc xuất hiện những “ông bầu” Mỹ đứng sau từng phe nhóm…

Mục đích tổ chức và hoạt động của các đảng phái trong Quân đội Sài Gòn là để bảo vệ quyền lợi, địa vị của các đảng phái, song nhìn chung đội ngũ sĩ quan đều dựa vào đảng phái của mình để thăng tiến và “làm giàu” chứ không hẳn là từ những lời rêu rao “vì quyền lợi tối thượng của quốc gia, dân tộc”. Thực tế trong Quân đội Sài Gòn, sĩ quan cầm đầu đơn vị là đảng viên thuộc đảng phái nào thì phần lớn sĩ quan thuộc quyền sẽ là đảng viên của đảng phái ấy.

Nguyễn Văn Thiệu trong lần tiếp Đại sứ Hoa Kỳ Hen-ri Ca-bốt Lốt (Henry Cabot Lodge) tại Sài Gòn. Ảnh tư liệu.

Trong số các đảng phái lớn thời Nguyễn Văn Thiệu, tổ chức đảng của “Cần lao nhân vị” có phần chặt chẽ hơn vì được chính quyền Thiệu ủng hộ và có nhiều tướng lĩnh, sĩ quan cao cấp cầm đầu trong quân đội và chính quyền. “Cần lao nhân vị” từng là đảng của Ngô Đình Diệm, sau khi Diệm đổ, đảng này tan rã, nhưng trong các năm 1967-1971, lại được Thiệu tích cực ủng hộ và phát triển ở nhiều nơi. Khá đông đảng viên “Cần lao nhân vị” đã nắm các vị trí chủ chốt như: Tổng Tham mưu trưởng; Tổng cục trưởng Tổng cục Chiến tranh chính trị; đa số các tư lệnh quân đoàn, sư đoàn, tỉnh trưởng, trung đoàn trưởng, quận trưởng, cảnh sát các cấp… “Đại Việt” cũng là một đảng phái phát triển khá mạnh, nhất là khu vực Vùng 1 Chiến thuật. Tháng 5-1972, sau khi bị Quân giải phóng đánh chiếm Quảng Trị, phái “Đại Việt” miền Trung do Hà Thúc Ký cầm đầu đã đứng ra lập Sư đoàn Thuận Hóa gồm cả lực lượng bảo an, công chức lẫn thương-phế binh nhằm “phòng tránh nguy cơ Cộng sản chiếm Huế”. Ngoài 6 đảng phái chính, chính trường Sài Gòn còn xuất hiện các tổ chức: “Mặt trận cứu nguy dân tộc”, “Phong trào quốc gia cấp tiến”, “Phong trào Tân dân”… cùng các giáo phái khác, tất cả đều chung mục tiêu chính là “chống Cộng”.

Thời kỳ đầu thập niên 1970, từ Tổng thống cho tới các Tư lệnh quân đoàn, sư đoàn, các tỉnh trưởng, trung đoàn trưởng, quận trưởng… đều có dính líu đến các phe nhóm, hoặc là của phe này, hoặc là của phe kia do các mối quan hệ: Cùng quê hương, họ hàng, cùng tín ngưỡng, đảng phái chính trị, hoặc ít ra cũng là quen biết, thân thích nhau. Quân đội Sài Gòn những năm 1972-1973 đã xuất hiện các phe cánh được điểm mặt, gồm: Phe Nguyễn Văn Thiệu, phe Trần Thiện Khiêm, phe Nguyễn Cao Kỳ, phe Nguyễn Văn Vỹ, phe Cao Văn Viên… Ở cấp Quân đoàn, Vùng chiến thuật lại chia thành các phe nhóm do các viên tướng đứng đầu gồm: Phe Hoàng Xuân Lãm, phe Ngô Quang Trưởng, phe Nguyễn Văn Minh, phe Vĩnh Lộc, phe Ngô Du, phe Lữ Lan… Mỗi phe lại có một “ông bầu” là cố vấn Mỹ đứng sau, như phe Nguyễn Văn Thiệu có Bân-cơ (Bunker), Nguyễn Cao Kỳ có Oét-mo-len (Westmoreland), Cao Văn Viên có A-bram (Abrams), Ngô Du có Giôn Pôn Van (John Paul Vann), Ngô Quang Trưởng có tướng Cháp-men (Chapman) – cựu Tư lệnh sư đoàn thủy quân lục chiến Mỹ, Trần Thiện Khiêm có một nhóm CIA và một số chính khách ở Đài Loan, … Những cố vấn Mỹ này thường nắm rất chắc các Tư lệnh quân đoàn, Tư lệnh sư đoàn và Tỉnh trưởng thông qua những cuộc vui chơi, nhậu nhẹt. Thậm chí thông qua những cuộc thăm hỏi, chuyện trò, các “ông bầu” Mỹ còn tranh thủ tìm hiểu ý định, quan điểm của sĩ quan bản địa rồi tìm cách can thiệp vào vị trí chỉ huy của đội ngũ này. Năm 1971, chính Rát-xơn (Russon) (Phó tư lệnh Bộ Chỉ huy viện trợ quân sự Mỹ-MACV) đã từng đưa ra nhận xét về Dư Quốc Đống với Nguyễn Văn Thiệu: “Ông ta chỉ lo làm giàu, không lo hành quân” và bày tỏ ý định muốn loại Đống ra khỏi sư đoàn dù. Đống biết chuyện, muốn Thiệu thu xếp để ông ta chuyển sang nơi khác, nhưng Thiệu vẫn muốn Dư Quốc Đống nắm Sư dù, bởi viên Tổng thống “lo xa”, muốn Đống là chỗ dựa tin cậy để phòng đảo chính. Nguyễn Văn Thiệu cũng từng có ý định đưa vây cánh của mình là Tư lệnh phó Sư đoàn dù Hồ Trung Hậu sang làm Tư lệnh Sư đoàn 21, nhưng các cố vấn Mỹ không đồng tình, cho rằng năng lực của Hậu kém, không hợp vị trí, mãi tới tháng 4-1972, Thiệu mới có dịp cất nhắc, đưa Hậu lên làm Tư lệnh Sư đoàn 21…

Không chỉ số sĩ quan cấp cao mới có tình trạng phe nhóm, đội ngũ sĩ quan trẻ cũng có sự phân hóa rõ rệt trong xu hướng lựa chọn đường binh nghiệp. Các cán bộ địch vận của ta đã tiến hành khảo sát thái độ chính trị của hàng trăm sĩ quan Quân đội Sài Gòn và nhận thấy phần lớn trong số này đều “thích thú” và tự nguyện vào các đơn vị binh chủng hơn là các đơn vị bộ binh, bởi theo họ cầm quân ở các đơn vị binh chủng vừa đỡ vất vả, ít thương vong, lại có “cơ hội” kiếm tiền và dễ dàng tiến thân. Trong các đơn vị binh chủng, sĩ quan không quân và hải quân thường tự cho mình là những thành phần “trí thức” hơn các đơn vị binh chủng khác, số này thường tỏ ra kiêu căng, nặng đầu óc hưởng thụ. Sĩ quan hải quân do hoạt động đặc thù ở xa đất liền nên các đảng phái cũng ít có điều kiện câu móc, lôi kéo.

Với số sĩ quan mới tốt nghiệp được lựa chọn phục vụ ở hậu cứ, gần nhà và tránh xa “hòn tên mũi đạn” thì buộc phải có những điều kiện: Là con một, có cha mẹ già trên 60 tuổi và gia đình đã có 3-4 anh trai đang ở đơn vị chiến đấu. Tuy có những nguyên tắc trên, song thực tế vẫn có những trường hợp dựa vào quyền thế, tiền bạc nhằm lo lót, chạy chọt để được “toại nguyện”…

QUANG HUY
qdnd.vn

Tầm nhìn hướng biển của các vua đầu triều Nguyễn

Biên giới và hải đảo

(Tiếp theo và hết)

QĐND-Gia Long, vị vua khai sáng Triều Nguyễn và vua Minh Mệnh sau này đã nâng cấp tầm nhìn hướng biển, không chỉ hai quần đảo đó, mà còn thực thi nhiều chính sách, nhiều giải pháp để khẳng định chủ quyền của mình trên các đảo gần bờ như Phú Quốc, Côn Lôn.

Thời chúa Nguyễn Phúc Chu, tháng Tư năm Tân Mão (1711) đã điều động quân lính và những người có trách nhiệm mang các phương tiện đo vẽ đi thuyền ra “đo bãi cát vàng Trường Sa dài ngắn, rộng hẹp bao nhiêu” (Đại Nam Thực lục, tập 1, trang 126). Sự kiện nổi bật nhất thời Gia Long trong việc khẳng định chủ quyền của quốc gia trên hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa là lễ thượng cờ và cắm mốc chủ quyền trên hai quần đảo đó. Sự kiện trọng đại ấy được miêu tả hết sức vắn tắt trong Đại Nam Thực lục, tập 1, trang 922 bằng một câu: “Sai thủy quân và đội Hoàng Sa đi thuyền ra Hoàng Sa để thăm dò đường thủy”. Mười bảy năm sau, năm 1833, giám mục Giăng Lu-i Ta-be (Jean Louis Tarberd), người đã nhiều năm truyền giáo ở Đàng Trong (phần đất từ đèo Ngang trở vào) trong một công trình của mình đã viết khá rõ về sự kiện trọng đại đó: “Chúng tôi biết chắc là Hoàng đế Gia Long đã chú tâm thêm cái đóa hoa kỳ lạ đó vào vương miện của ngài, vì vậy mà ngài xét thấy đúng lúc phải thân chinh vượt biển để tiếp thâu quần đảo Hoàng Sa, và chính là vào năm 1816, ngài đã long trọng treo tại đó lá cờ của xứ Đàng Trong (thời này xứ Đàng Trong được hiểu là nước Việt Nam chúng ta)” (1).

Tiếp tục ý tưởng của vua cha, năm 1833, Minh Mệnh đã nói với Bộ Công rằng: “Trong hải phận Quảng Ngãi, có một dải Hoàng Sa, xa trông trời nước một màu không phân biệt được nông hay sâu. Gần đây thuyền buôn thường bị hại. Nay nên dự bị thuyền bè đến sang năm sẽ phái người tới, dựng miếu, lập bia, lại trồng nhiều cây cối. Ngày sau cây cối to xanh tốt, người dễ nhận biết, ngõ hầu tránh được nạn mắc cạn. Đó cũng là việc lợi muôn đời” (sđd, tr.743). Tháng Sáu năm Ất Mùi (1835), Bộ Công cho dựng đền thờ thần ở đảo Hoàng Sa thuộc Quảng Ngãi. Đại Nam Thực lục có ghi: “Hoàng Sa ở hải phận Quảng Ngãi có một chỗ nổi cồn cát trắng, cây cối xanh um, giữa cồn cát có giếng, phía tây nam có miếu cổ có tấm bài khắc 4 chữ “Vạn lý ba bình” (muôn dặm sóng êm), cồn Bạch Sa (cát trắng) chu vi 1070 trượng, tên cũ là núi Phật Tự, bờ đông, tây, nam đều đá san hô thoai thoải uốn quanh mặt nước. Phía bắc, giáp với một cồn toàn đá san hô, sừng sững nổi lên, chu vi 340 trượng, cao 1 trượng 3 thước (1 trượng bằng 10 thước, 1 thước đo đất bằng 0,47m) ngang với cồn cát, gọi là Bàn Than Thạch). Năm ngoái, vua toan dựng miếu lập bia ở chỗ ấy, bỗng vì sóng gió không làm được. Đến đây mới sai Cai đội thủy quân là Phạm Văn Nguyên đem lính thợ Giám thành cùng phu thuyền hai tỉnh Quảng Ngãi, Bình Định, chuyên chở vật liệu đến dựng miếu (cách tòa miếu cổ 4 trượng). Bên tả miếu dựng bia đá; phía trước miếu xây bình phong. Mười ngày làm xong rồi về” (2).

Vua Minh Mệnh đã có tầm nhìn vượt lên cả vua cha. Đó là việc ông ứng xử với đảo Phú Quốc và quần đảo Côn Lôn, những nơi có dân sinh sống, nhưng thường bị bọn hải tặc đến quấy nhiễu. Năm 1832, Minh Mệnh được tâu bọn hải tặc người Chà Và lên đảo Côn Lôn thuộc Phiên An (Gia Định) đón cướp thuyền buôn, lên bờ đốt nhà, cướp của dân ta. Vua suy nghĩ Côn Lôn và Hà Tiên đều là những nơi xung yếu, dân ở đông đúc, thế mà thường có giặc biển ẩn hiện, liền truyền dụ cho quan thành chọn đất hai chỗ ấy, xây đặt pháo đài, liệu cấp súng đạn, khí giới, thuyền bè, phái quân đóng giữ. Cư dân cũng được cấp cho khí giới để cùng phòng giữ. Lại chuyển sức cho 5 trấn trong thành hạt, ra lệnh cho các làng sở tại ven biển đều sẵn sàng thuyền bè khí giới, nếu thấy thuyền giặc đến gần bờ, tức thì cùng nhau tiếp ứng góp sức đánh bắt (3).

Đại Thanh đế quốc vị trí khu hoạch đồ (năm 1909), đã vẽ phần cực Nam Trung Quốc là đảo Hải Nam, không có Hoàng Sa, Trường Sa. Ảnh: Sách “Kỷ yếu Hoàng Sa”– Nxb Thông tin và Truyền thông.

Năm 1833, vâng lệnh vua, Tuần phủ Phạm Xuân Bách ra đảo tìm chọn một nơi vừa ý ở phía nam Phú Quốc tâu lên vua và vua xuống dụ cho khởi công xây đắp, cho đặt tên là đồn Phú Quốc. Đồn “được xây xung quanh bằng đá núi, trên dựng một căn phòng cho lính đương ban đóng. Trên đồn đặt 4 khẩu hồng y cương pháo, 8 khẩu quá sơn đồng pháo, phái 50 lính tỉnh đến đóng giữ. Lại lấy thêm dân sở tại phụ vào việc canh giữ, cấp cho khí giới và thuyền bè đủ dùng. Dùng viên phủ ngự đồn Phú Quốc là Nguyễn Văn Sương làm Phòng thủ úy đứng cai quản, cho mộ thêm lính đặt làm đội phòng thủ” (4).

Với vị trí địa – chính trị quan trọng của quần đảo Côn Lôn, vua Minh Mệnh cũng đã có những ứng xử tương tự như đảo Phú Quốc, tuy có muộn hơn. Tháng Hai năm Bính Thân (1836), Minh Mệnh cho xây dựng đồn Thanh Hải và pháo đài Thanh Hải trên đảo Côn Lôn thuộc Gia Định (sau đó thuộc Vĩnh Long). Bốn mặt đồn đều dài 12 trượng, cao 5 thước, chân rộng 6 thước 3 tấc. Đằng trước và đằng sau đều mở một cửa. Pháo đài xây ở phía nam đồn ngoài binh lính còn thuê dân tất cả 500 người để làm việc. Hoàn tất công việc Bộ Binh tâu: “Đảo ấy có nhiều núi lên từng dãy từng lớp, tàu thuyền có thể đỗ lại yên ổn. Lại có mối lợi là nhiều cá, tôm, ruộng đất màu mỡ, thủy thổ lành, thực là hình thế đẹp ở cương giới về phần biển. Chỉ phải cái là hẻo lánh, xa xôi, hằng năm khoảng xuân sang hạ, thường có thuyền giặc Chà Và thừa cơ, lén lút nổi dậy, làm ngăn trở thuyền buôn đi lại. Nhân dân sở tại thưa ít, chẳng làm thế nào được! Vậy xin phái một suất đội và 50 lính thuộc tỉnh, cấp cho thuyền và khí giới đến đóng giữ, mỗi năm thay phiên một lần… Nơi ấy lại có nhiều đất bỏ hoang, có thể cày cấy được… Quân lính những khi làm việc tuần phòng hải phận đã nhàn rỗi, sức cho khẩn hoang trồng cấy và chiêu mộ dân nghèo cùng ở, cho sống bằng sức mình, còn trâu cày, nông cụ thì do nhà nước cấp phát cho. Như thế, có lính để phòng thủ, có ruộng để cày cấy, giặc biển không dám lại đến, thuyền buôn ngày một đông nhiều, sau vài năm tất thành một nơi vui vẻ, mà việc phòng giữ mặt biển sẽ bền vững được”(5).

Lời tâu của Bộ Binh quá hay nên vua Minh Mệnh không chỉ chuẩn y mà còn gợi mở cho ông một ý tưởng thú vị: Lập làng nơi đây. Công việc đó khởi đầu từ Minh Mệnh với những chính sách rõ ràng, minh bạch như sử dụng những người dân di cư tự do ra đây từ trước, những người bị phát vãng, lính hết thời hạn phục vụ muốn ở lại đảo. Bằng chính sách có lợi cho dân, ông đã điều khiển một luồng dân từ trong đất liền di cư ra đảo lập nên làng mang tên An Hải năm 1840. Như vậy quá trình hình thành một làng trên đảo Côn Lôn diễn ra ròng rã trong 12 năm, khi Minh Mệnh không còn trên đời nữa. (6)

Đối với những tàu thuyền nước ngoài, phần lớn là thuyền đánh cá nhà Thanh (Trung Quốc) xâm phạm lãnh hải của ta, vua Minh Mệnh cho xử lý một cách kiên quyết, không khoan nhượng. Trấn Quảng Yên có trên 300 thuyền đánh cá của nhà Thanh đậu lâu ở phần biển Cát Bà. Quan Bắc Thành đã sai trấn thủ Nguyễn Văn Đoái đem hơn 20 chiếc binh thuyền thân đến nơi khuyên họ đi. Lại sai Phó thống thập cơ Tiền quân là Lương Văn Liễu đem 15 thuyền binh tiến theo để làm thanh ứng. Sự việc được tâu lên triều đình, vua xuống dụ: “Thuyền Thanh vài trăm chiếc mà thuyền của ta chỉ có hơn 30 chiếc, nếu hắn cự lại thì lấy gì mà địch. Phái thêm binh thuyền và chở nhiều súng đạn quân nhu đi ứng tiếp. Nếu chúng nghe lời thì thôi, bằng không thì góp sức vào cố đánh dẹp” (7).

Nhưng đối với những thuyền buôn, thuyền đánh cá các nước gặp nạn trôi dạt vào các đảo thuộc chủ quyền của ta, hoặc dạt vào cảng, bến cảng dọc bờ biển nước ta thì Minh Mệnh đối xử với cương vị là một đất nước có văn hiến. Chẳng hạn, Tháng Tám năm Kỷ Sửu (1829), thuyền của A Sinh, người Chà Và được quốc trưởng phái đến đảo Câu Mạch khai thác yến sào, không may gặp bão trôi dạt vào đảo Côn Lôn. Khi được tâu lên, vua Minh Mệnh sai cấp gạo rồi cho về (8). Hoặc tàu nước Phú Lãng Sa (nước Pháp) đến đậu ở hòn Mỏ Diều thuộc Quảng Nam. Tỉnh thần Quảng Nam cho người xuống tàu khám qua, thấy tàu dài hơn 8 trượng, rộng hơn 1 trượng 8 thước, cao hơn 1 trượng 5 thước, 3 tầng ván lát, 3 cột to, 24 cỗ đại bác, 10 cỗ súng Quá sơn và 6 chiếc xuồng. Cuối thuyền treo cờ tam tài vuông: Xanh, trắng, đỏ và hỏi họ thì họ nói: “Tàu của thành Tu Luân (Toulouse), quốc trưởng sai đi thao diễn ở đường biển, đã hơn 1 năm, nay từ Ma Cao đến đây, xin ở 1, 2 hôm để lấy củi và nước”. Tỉnh thần lấy làm ngờ, nghiêm sức cho binh thuyền tuần tiễu, chỉ thị cho tỉnh Quảng Ngãi phòng bị, rồi dâng sớ tâu lên Triều đình Huế. Vua Minh Mệnh phê: “Đó là việc thường. Họ đi thăm dò, đo đạc đường biển, hà tất phải hoang mang tư báo làm kinh hãi tai mắt người ta. Thực không hiểu việc!”. Qua hôm sau, quả nhiên họ bắn một phát đại bác rồi đi (9).

Rõ ràng, so với các chúa Nguyễn và Triều Nguyễn Tây Sơn, tầm nhìn hướng biển của hai vị vua đầu của Triều Nguyễn, đặc biệt dưới thời Minh Mệnh, có một bước tiến mang tính chiến lược quan trọng. Các vị vua này không chỉ xác lập chủ quyền bằng việc thượng cờ, xây miếu thờ, cắm mốc trên quần đảo Hoàng Sa, mà còn xây dựng đồn, pháo đài, lập làng trên những hòn đảo gần bờ như Phú Quốc và Côn Lôn. Tầm nhìn hướng biển đó thực sự mang tầm chiến lược để trên nền tảng đó ta làm chứng cớ lịch sử trong cuộc tranh chấp chủ quyền trên các quần đảo trên Biển Đông với các nước láng giềng.

——————-

1. Bức tranh thế giới – Lịch sử và mô tả các dân tộc, tôn giáo, phong tục, tập quán của họ. Nxb Firmin-Điot Freses et Cie, paris, 1833).

2. Đại Nam Thực lục. Nxb Giáo Dục. HN, 2004, tập 4, tr, 673.

3. Đại Nam Thực lục. Sđd, tập 3,

tr. 384.

4. Đại Nam Thực lục. Sđd. Tập 3,

tr. 492, 568.

5. Đại Nam Thực lục, Sđd, tập 4,

tr. 873.

6. Xem thêm bài của Phạm Xanh trên tạp chí NCLS, số 1, 1987, tr.105

7. Đại Nam Thực lục. Sđd, tập 3,

tr. 824.

8. Đại Nam Thực lục. Sđd, tập 2,

tr. 882.

9. Đại Nam Thực lục. Sđd, tập 4, tr.1076.

PGS, TS PHẠM XANH
qdnd.vn

—————————–

Bài đầu: Tầm nhìn hướng biển của các chúa Nguyễn

Tầm nhìn hướng biển của các chúa Nguyễn

Biên giới và hải đảo

QĐND-Năm 1558, Nguyễn Hoàng nghe theo lời khuyên của Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm “Hoành Sơn nhất đái, vạn đại dung thân”, vào trấn thủ vùng Thuận Hóa. Cũng bắt đầu từ đó trên đất nước chúng ta diễn ra cục diện Trịnh – Nguyễn phân tranh kéo dài trên hai trăm năm ở 9 đời chúa. Nguyễn Hoàng băng hà năm 1614, ở ngôi 56 năm, hưởng thọ 89 tuổi. Trong những năm thống lĩnh vùng Thuận Hóa, Nguyễn Hoàng vừa lo chống lại những cuộc chinh phạt của Lê-Trịnh từ Đàng ngoài, nhưng chủ yếu là lo củng cố quyền lực và mở nước về phương Nam. Vì thế tầm nhìn hướng biển của Nguyễn Hoàng, do những điều kiện khách quan quy định, còn rất hạn hẹp. Nhưng người kế vị ông, chúa Nguyễn Phúc Nguyên, không chỉ kế tục xuất sắc hai hướng hành động của Chúa cha, mà còn vượt lên bằng tầm nhìn hướng biển mang tính chiến lược.

Sở dĩ Nguyễn Phúc Nguyên cùng quân dân Đàng trong lập được những kỳ tích đó bởi lẽ ông đã thu phục được Đào Duy Từ, người mà vua Lê, chúa Trịnh ở Đàng ngoài không dung nạp, đã trốn vào Đàng trong, đang sống ẩn dật với nghề dạy học ở chốn thôn quê. Sách Đại Nam thực lục, tập I, phần Tiền biên, trang 43 có ghi lại cuộc gặp gỡ giữa hai con người vốn xa lạ này và rồi Đào Duy Từ trở thành người cố vấn chính trị-quân sự thân cận nhất của Chúa.

Dưới sự cố vấn của họ Đào, lũy Trường Dục chạy từ chân núi Trường Dục tới bãi cát Hạc Hải (Nhật Lệ) được xây dựng nhanh chóng, trở thành thành lũy kiên cố, vững chắc, ngăn chặn quân Trịnh từ phía Bắc. Cùng với công trình quân sự đó, cũng theo lời khuyên của họ Đào, chúa Nguyễn Phúc Nguyên mở nước về phương Nam cho đến tận vùng cực nam Trung Bộ hiện nay. Có lẽ, cũng trong thời kỳ này mà xuất hiện tầm nhìn hướng biển của Chúa Nguyễn Phúc Nguyên. Đó là vươn ra biển xác lập chủ quyền của mình ở những hòn đảo ven bờ và quan trọng hơn là vươn xa làm chủ quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa ngoài biển Đông. Sách Phủ biên tạp lục của nhà bác học Lê Quý Đôn đã xác nhận một sự thực:“Ngày trước, họ Nguyễn có thiết lập đội Hoàng Sa gồm 70 suất, lấy người xã Yên Vĩnh bổ sung. Mỗi năm họ luân phiên nhau đi biển, lấy tháng Giêng ra đi nhận lãnh chỉ thị làm sai dịch. Đội Hoàng Sa này được cấp phát mỗi người sáu tháng lương”(1). Ở một chỗ khác, Lê Quý Đôn viết: “Họ Nguyễn còn thiết lập thêm đội Bắc Hải. Đội này không định trước bao nhiêu suất. Hoặc chọn lấy người thôn Tứ Chính thuộc phủ Bình Thuận, hoặc chọn lấy người làng Cảnh Dương, lấy những người tình nguyện bổ sung vào đội Bắc Hải. Quan địa phương cấp phát phó từ và chỉ thị sai phái đội ấy đi làm công tác.

Nhà nước sai chức cai đội Hoàng Sa kiêm lãnh quản đốc đội Bắc Hải này, vì chẳng qua họ chỉ lấy được những hải vật kể trên mà thôi, còn như vàng bạc và các của cải quý báu thì ít khi họ tìm kiếm được”.(2)

Gần đây, chúng ta phát hiện nhiều thư tịch cổ liên quan đến đội Hoàng Sa trên đảo Lý Sơn cho biết thêm những chứng cớ vững chắc về chủ quyền của ta trên hai quần đảo lớn đó. Hằng năm, người đảo Lý Sơn được tuyển mộ vào đội này làm binh, phu đi khai thác, bảo vệ Hoàng Sa và Trường Sa. Mỗi cuộc đi ra đảo xa là muôn vàn khó khăn nên các Chúa Nguyễn đều cho mỗi người lính mang theo một đôi chiếu, 7 đòn tre, 7 sợi giây lạt và một tấm thẻ bài có khắc họ tên, quê quán để phòng nếu chẳng may hy sinh, đồng đội sẽ bó thi hài vào chiếu và thả xuống biển. Trước khi lên đường, thường vào tháng Hai Âm lịch, dân làng làm lễ gọi là “Lễ khao lề thế lính Hoàng Sa”, tái hiện những hùng binh năm xưa trên những chiếc thuyền nan mỏng manh đã dong buồm vượt trùng dương gìn giữ bờ cõi, đồng thời làm những “ngôi mộ gió” – mộ chôn những hình nhân tượng trưng cho những người lính hy sinh vì Hoàng Sa.(3)

Đây là một trong những bản đồ trong “Phủ biên tạp lục” do Lê Quý Đôn (1726-1784) biên soạn năm 1776. Ông mô tả tỉ mỉ địa lý, tài nguyên ở Hoàng Sa và Trường Sa, công việc khai thác của chúa Nguyễn đối với 2 quần đảo này. (Theo sách Kỷ yếu Hoàng Sa của NXB Thông tin và Truyền thông).

Đến đời chúa Nguyễn Phúc Chu, năm 1698 với việc “sai Thống suất Nguyễn Hữu Kính (Cảnh) kinh lược đất Chân Lạp, chia đất Đông Phố, lấy xứ Đồng Nai làm huyện Phúc Long (nay phong làm phủ), dựng dinh Trấn Biên (tức Biên Hòa ngày nay), lấy xứ Sài Gòn làm huyện Tân Bình (nay phong làm phủ), dựng dinh Phiên Trấn (tức Gia Định ngày nay), trên căn bản hình thể nước ta như ngày nay. Tháng Tám năm Mậu Ngọ, 1702, Chúa Nguyễn Phúc Chu được Trấn thủ dinh Trấn Biên là Trương Phúc Phan báo: “Giặc biển là người Man An Liệt (tức người Anh) có 8 chiếc thuyền đến đậu ở đảo Côn Lôn. Trưởng là bọn Tô Thích Già Thi 5 người tự xưng là nhất ban, nhị ban, tam ban, tứ ban, ngũ ban (các cấp bậc trong quân đội) cùng đồ đảng hơn 200 người, kết lập trại sách, của cải chứa đầy như núi, bốn mặt đều đặt đại bác” (4). Ngay lập tức “Chúa sai Phúc Phan tìm cách trừ bọn ấy”(5) để xác định chủ quyền của đất nước, mặc dù lúc đó Côn Đảo chưa có người ở. Trương Phúc Phan lập tức cho nghiên cứu phương án đánh đuổi quân Anh khỏi Côn Đảo. Tổng trấn Trương mộ 15 lính người Ma-lai-xi-a, dùng kế trá hàng lọt được vào lính Anh chiếm đóng trên đảo. Sau một thời gian chung sống với lính Anh, nghiên cứu cung cách phòng vệ của họ và cuối cùng tháng 10 năm Quý Mùi, 1703 họ thống nhất ra tay hành động, tiêu diệt được nhiều lính đánh thuê Anh và thu vô số chiến lợi phẩm. Trong Đại Nam Thực lục, tập I, phần Tiền biên, có ghi vắn tắt sự kiện quan trọng đó như sau: “Mùa đông, tháng 10, dẹp yên đảng An liệt. Trước là Trấn thủ Trấn Biên Trương Phúc Phan mộ 15 người Chà Và sai làm kế trá hàng đảng An Liệt để thừa chúng sơ hở thì giết. Bọn An Liệt không biết. Ở Côn Lôn hơn một năm không thấy Trấn Biên xét hỏi, tự lấy làm đắc chí. Người Chà Và đang đêm phóng lửa đốt trại, đâm chết nhất ban, nhị ban, bắt được ngũ ban trói lại, còn tam ban, tứ ban thì theo đường biển trốn đi. Phúc Phan nghe tin báo, tức thì sai binh thuyền ra Côn Lôn, thu hết của cải bắt được dâng nộp. Chúa trọng thưởng người Chà Và và tướng sĩ theo thứ bực. Tên ngũ ban thì đóng gông giải đi, chết ở dọc đường”.(6)

Thời đó, Côn Đảo thường là nơi lui tới của bọn hải tặc. Để khẳng định chủ quyền của mình trên đảo này, chúa Nguyễn Phúc Chu ra lệnh cho Trấn thủ Trấn Biên Trương Phúc Phan (người Quảng Bình) đánh đuổi quân Anh ra khỏi đảo. Từ đó trở về sau, thực dân Anh mặc dù ở gần đó (thống trị Ma-lai-xi-a), nhưng không dám bén mảng vì đất này đã có chủ.

Dưới thời Chúa Nguyễn Phúc Chu còn diễn ra nhiều sự kiện quan trọng gắn liền với cương vực nước ta. Tháng Tám năm Mậu Tý, 1708, Mạc Cửu dâng nộp mảnh đất Hà Tiên mà ông đã có công khai phá cho chúa Nguyễn và ông được chúa Nguyễn trọng dụng, phong cho ông làm Tổng binh Trấn Hà Tiên. Mùa hạ, tháng 4 năm Tân Mão, 1711, Tổng binh Trấn Hà Tiên Mạc Cửu đến cửa Chúa tạ ơn và được Chúa Nguyễn Phúc Nguyên hậu thưởng. Cùng mùa hạ năm đó, Chúa Nguyễn Phúc Nguyên sai cho lính ra đảo Trường Sa đo đạc, vẽ bản đồ.(7)

Rõ ràng, từ chúa Nguyễn Phúc Nguyên, đặc biệt dưới thời chúa Nguyễn Phúc Chu, tầm nhìn hướng biển mang tính chiến lược có sự phát triển liên tục, từ chiếm hữu đến khẳng định chủ quyền đất nước trên các đảo gần bờ và đặc biệt là hai quần đảo ngoài khơi xa Hoàng Sa và Trường Sa. Tầm nhìn hướng biển đó vẫn được tiếp tục dưới thời các chúa Nguyễn tiếp theo và đặc biệt được nâng cấp khi thành lập Vương triều Nguyễn năm 1802, bắt đầu từ Gia Long và tiếp nối mạnh mẽ hơn dưới thời vua Minh Mạng.

(Xem tiếp số sau)

—————

(1), (2). Lê Quý Đôn. Phủ biên tạp lục. Quyển hai. Bản dịch của Lê Xuân Giáo, tủ sách cổ văn, Ủy ban dịch thuật, Sài Gòn, 1972, tr.208-212.

(3). Biển và Đảo Việt Nam (Mấy lời hỏi-đáp). NXB Tổng hợp Thành phố Hồ Chí Minh. 212, tr.108.

(4), (5). Đại Nam Thực lục, Tập 1. Nxb Giáo dục, HN, 2002, tr.115.

(6). Đại Nam Thực lục. Sdd, tr.117.

(7). Đại Nam thực lục. Sdd. Tr.122 và 126.

PGS.TS Phạm Xanh
qdnd.vn