Tag Archive | Hồ sơ tư liệu

Quốc hội Việt Nam nhiệm kỳ đầu tiên – Dấu ấn vẻ vang

(PLO) – Trong quá trình hình thành và phát triển, Quốc hội Việt Nam đã trải qua gần 13 khóa hoạt động, thông qua 5 bản Hiến pháp với nhiều đổi mới về tổ chức, hoạt động đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ của đất nước. Trong đó, nhiệm kỳ đầu tiên với 14 năm hoạt động (1946-1960) là nhiệm kỳ dài nhất, đóng vai trò rất quan trọng trong việc thành lập Chính phủ hợp hiến, hợp pháp. Tiếp tục đọc

Advertisements

Tổng thống Giê-rôn Pho và tháng 4-1975 “nước sôi lửa bỏng”

QĐND – Đầu tháng 4-1975, nước Mỹ và nhiều nơi trên thế giới ngập vào một thời khắc nguy hiểm. Vua Ả-rập Xê-út, Phai-xan (Faisal) (bạn của nước Mỹ) bị ám sát, các sứ mạng “con thoi” ở Trung Cận Đông của Kít-xinh-giơ (Kissinger) nhằm hòa giải I-xra-en và Ai Cập đã đổ bể thảm hại, chính quyền thân Mỹ ở Phnôm Pênh đang hấp hối trong vòng vây của Khơ-me Đỏ, quân đội của Thiệu ở Nam Việt Nam “đột nhiên” tan chảy dưới sức nóng của đòn tiến công của đối phương…

“Nước sôi lửa bỏng”

Tới giữa tháng 4, lộ rõ là Mỹ đang mất Việt Nam Cộng hòa. Cố đô Huế lại về tay “Việt cộng”. Nước Mỹ kinh hoàng bởi sự kiện các lính thủy đánh bộ (LTĐB) Sài Gòn, “do Mỹ huấn luyện”, “đã cướp bóc, giết, hãm hiếp những người dân tản cư, trong một đám đông hỗn độn chen nhau leo lên tàu Mỹ để chạy thoát thân khỏi Đà Nẵng” (Tạp chí Time, số ra ngày 7-4-1975). Tờ Thời báo Niu Y-oóc (The New York Times) ngày 30-3-1975 tường thuật: Khoảng 300 quan lính Sài Gòn dùng súng “cướp” một chiếc Bô-ing chở thường dân di tản về Sài Gòn…

Tại Lầu Năm Góc, các tướng Mỹ đang so sánh cuộc tháo chạy tán loạn ở Nam Việt Nam với những thảm bại quân sự khác: Na-pô-lê-ông rút khỏi Mát-xcơ-va băng giá năm 1812, cuộc thất thủ nước Pháp năm 1940, sụp đổ của Tưởng Giới Thạch ở Hoa lục năm 1949. Quan trọng là dòng thác quân đội Sài Gòn bỏ chạy với nhiều đơn vị chưa hề chạm súng với đối phương, theo các nhà quan sát, là không có cách gì chặn lại.

Cùng kỳ, báo đăng ảnh Giê-rôn Pho (Gerald Ford), vị Tổng thống Mỹ mới nhậm chức nhưng không được dân bầu, đang dùng gậy cố đẩy trái gôn vào lỗ (?) trên sân Pam Sprinh (Palm Spring), Cali!

“Cú sốc Nam Việt Nam” đối với nước Mỹ đang bị chính quyền làm cho tồi tệ hơn, Time viết. Nhà Trắng đã phản ứng một cách kỳ cục xen giữa sự đổ lỗi và rụt rè.

Kẻ dẫn dắt lạc đường

Cáo buộc của công luận Mỹ quyết liệt nhằm vào Ngoại trưởng, rằng Kít-xinh-giơ từng cố tình dẫn dắt lạc đường trong thời kỳ “Hiệp định Pa-ri”, để đánh bóng cho học thuyết “khoảng cách vừa phải” của ông ta, thực chất là “câu giờ” để có thể rút được quân Mỹ về, để lại một Sài Gòn đủ “mạnh”, đứng được vài năm, để rồi khi sự sụp đổ hoàn toàn, thì cũng không bị nhìn nhận như một thảm bại của Oa-sinh-tơn.

Theo báo chí, các quan chức gần gũi với Kít-xinh-giơ bênh ông này. Họ cho rằng một khi uy tín của Bộ Ngoại giao Mỹ đang bị đặt cược, Pho cần biện hộ cho chính sách của Ních-xơn – Kít-xinh-giơ về Việt Nam, nhờ vào đó mà một ngoại trưởng Mỹ từng giành Giải thưởng Nobel hòa bình. Họ muốn lời buộc tội sẽ được gán cho Quốc hội Mỹ, rằng việc không thực hiện được hiệp định là do Quốc hội đã cắt giảm viện trợ cho Sài Gòn. Các quan chức khác cho rằng mọi sự không đơn giản như thế.

Tổng thống Pho ù té khỏi các nhà báo phỏng vấn về Việt Nam. Tạp chí Time số ra ngày 14-4-1975.

Pho bực bội với quan điểm khá phổ biến, rằng Bộ trưởng Ngoại giao Mỹ mới là người cầm trịch chính sách đối ngoại của Hoa Kỳ. Mặt khác, cũng có ý kiến đánh giá Pho đã đủ tỉnh táo để điều chỉnh những khẳng định của Kít-xinh-giơ, kiểu như uy tín trên trường quốc tế của nước Mỹ đang bị thử thách một cách sinh tử tại Việt Nam. Các nhận định tỉnh táo hơn chỉ ra, chưa từng “thử lửa” ở nước ngoài, Pho dĩ nhiên phải dựa vào “phù thủy” Kít-xinh-giơ để tạo đà và lấy hướng. Thay ngoại trưởng “giữa dòng” hẳn là không thể, dù theo báo chí, giữa tháng 4, Pho vẫn còn chịu ảnh hưởng của lời khuyên là tìm kẻ chịu báng cho thảm họa ở Việt Nam.

Con dê tế thần?

Báo chí phản ánh Pho đã trốn tránh chất vấn về tình hình “nước sôi lửa bỏng” này. Trong một khung cảnh kỳ cục đầu tháng 4, Pho đã chọn cách “cười trừ” và ù té chạy khỏi các thợ săn làng báo cố vây ông để phỏng vấn về Việt Nam… Ông để lộ sự thiếu quyết đoán trong các tình thế phải đối đáp, không được các mưu sĩ chuẩn bị trước.

Ký giả nổi tiếng chuyên về các tổng thống Mỹ thời “Chiến tranh lạnh” Hiu Xi-đây (Hugh Sidey) ngậm ngùi: Trong suốt 40 năm trở lại đây (1975) chưa bao giờ chính phủ Mỹ lại “sa lầy trong những khốn khó và tự xem thường chính mình đến thế này”.

Nhưng các phe đối lập, theo Time, đã khá đồng thuận nhau ở hậu đài để tạo dựng một hình ảnh khả dĩ cho Tổng thống Hợp chủng quốc trong mắt dân chúng. Trong phát biểu tại Xan Đi-ê-gô (San Diego) ngày 3-4-1975, Pho nhận định tình hình ở Nam Việt Nam là “bi đát”, kêu gọi xây dựng “nhận thức mới về đoàn kết dân tộc tại những thời khắc buồn và hỗn loạn này”. Pho khuyên, “chớ lao vào những cáo buộc lẫn nhau, hoặc cố áp đặt những lời buộc tội”.

Trong cuộc họp báo trên truyền hình cùng kỳ, quả thực Pho đã cố tránh những lời buộc tội, trừ chủ đề như thi hành Hiệp định Pa-ri ở Việt Nam, hoặc trách cứ Thiệu về quyết định “đơn phương” mà không bàn bạc với Hoa Kỳ. Nhưng dù khẳng định ông không “chĩa ngón tay phê phán vào ai”, ông (vốn là thủ lĩnh phe thiểu số trong Hạ viện tới cuối 1973) vẫn cố cáo buộc Quốc hội kiểm soát bởi Đảng Dân chủ là lực lượng chính đứng đằng sau sự sụp đổ của Nam Việt Nam. Pho cho hay đã “nản chí vì hoạt động của Quốc hội”, cụ thể trong vấn đề thông qua khoản viện trợ quân sự cho Nam Việt Nam. Bị hỏi thẳng là Tổng thống có nghĩ rằng, 56.000 người Mỹ thiệt mạng ở Nam Việt Nam là uổng, Pho đã diễn đạt vòng vèo, vừa phủ định cho rằng Hiệp định Pa-ri đã giúp Hoa Kỳ rút ra khỏi chiến sự, và đưa được các tù binh Mỹ về nhưng lại ngầm khẳng định (là sự uổng phí của những lính Mỹ chết trận đang xảy ra), do viện trợ quân sự đột xuất cho Thiệu không thành hiện thực. Ông ngụ ý đang có một cơ hội để cứu con tàu đang đắm ở Sài Gòn, miễn là trao cho Thiệu một cơ hội (ý nói số tiền viện trợ) để được “chiến đấu vì tự do”!

Nhưng Time, số ra ngày 14-4-1975 lại nghĩ khác: “Pho đang có một cơ hội lớn để giúp nước Mỹ giao hảo với Việt Nam”, bằng cách đưa nước Mỹ rút “chân” nhanh ra khỏi Việt Nam chính vào lúc này.

Vì nếu Pho có “đòi” được Quốc hội dành cho Thiệu khoản viện trợ khẩn cấp 722 triệu USD đi nữa, thì quân đội VNCH, đang “cuống cuồng” (in fenzy) bỏ chạy khỏi miền Trung, quẳng lại sau số phương tiện chiến tranh cũng có giá tới 700 triệu USD. Riêng máy bay, đã có tới hàng trăm chiếc còn nguyên vẹn bị bỏ lại tại các sân bay vùng chiến thuật I. Người ta đều biết quân Sài Gòn đang được trang bị các phương tiện chiến tranh hiện đại nhất thế giới …

Một quan chức Lầu Năm Góc chia sẻ với Time: “Hay là chúng ta gửi thẳng số viện trợ này sang Hà Nội? Ít nhất chúng sẽ không bị phá hủy bởi chiến sự”.

Đến giữa tháng 4, vẫn theo Time, tổng thống thấy rõ việc đổ lỗi cho Quốc hội Mỹ không có lợi gì về chính trị. Xét về lý trí, các nhà lập pháp đang làm đúng chức phận của họ, thay mặt cho lợi ích của người dân Mỹ để quyết định ngân sách. Nhất là sau khi Tướng Uây-en (Weyand), vừa đi Việt Nam về, không thể đưa ra bảo đảm gì là viện trợ quân sự sẽ cứu được chế độ Thiệu.

Thúc đẩy chấm dứt bi kịch

Trong chính giới Mỹ, có những ý kiến, nên chăng, nhờ Mát-xcơ-va và Bắc Kinh gây áp lực lên Hà Nội, để có được một hiệp định ngừng bắn. Nhưng các quan chức cao cấp nhất coi điều này là không thực tế, “nhờ vả họ liệu có xứng khoản nợ mà chúng ta phải gánh?… Nếu cần đàm phán với Hà Nội để đầu hàng, chúng ta chẳng cần họ (Liên Xô và Trung Quốc)”…

Cuối tháng 4, các lãnh tụ Thượng viện tới viếng thăm bất thường Nhà Trắng, phát biểu rõ với tổng thống, rằng Quốc hội sẽ sẵn sàng thông qua một khoản viện trợ nhân đạo nào đó, và làm những gì cần thiết để đưa Mỹ ra khỏi cuộc chiến tranh. Nhưng các Thượng nghị sĩ cũng cho hay: Không có hy vọng nào là Quốc hội Mỹ sẽ thông qua viện trợ quân sự bổ sung cho Thiệu mà Tổng thống Mỹ đang đề xuất.

Thực vậy, trong đề xuất của Ủy ban Đối ngoại Thượng viện cuối tháng 4, chỉ có khoản 200 triệu USD viện trợ nhân đạo dành cho Đông Dương, và để di tản người Mỹ khỏi Nam Việt Nam. Sau những bàng hoàng kiểu viện trợ thế này thì “tệ hơn là không có” của trợ lý, Tổng thống Pho đã nghĩ lại và đầu hàng Thượng viện. Ông ra lệnh triển khai chiến dịch di tản người Mỹ khỏi Nam Việt Nam trước khi tháng 4 kết thúc.

Nhưng chính quyền Mỹ, theo báo giới, vẫn cố vớt vát: Một khi viện trợ quân sự chưa được đưa ra cho Quốc hội biểu quyết, thì “vẫn nuôi sống được ở Sài Gòn một tâm trạng chờ đợi (Mỹ sẽ can thiệp)”. Một cố vấn của Tổng thống khuyên: “Nên tránh làm cho người VNCH lo sợ”. Time kết luận: “Đau đớn là sự dính líu của Mỹ ở Việt Nam chắc sắp kết thúc trong một màn diễn lừa dối, quả là trơ tráo, nhưng chắc là cần thiết”.

Nhưng mọi sự đã không bi kịch như thế. Vì, theo Pho, cuộc điện đàm của ông với Ních-xơn hôm 10-4-1975 cho thấy: Không có một “hiệp định bí mật” nào ký trước đó với Sài Gòn buộc Hoa Kỳ phải quay lại giải cứu chế độ Thiệu.

Nếu khẳng định này có tác động đến việc Thiệu từ chức, đẩy nhanh sự sụp đổ của chế độ Sài Gòn, thì có thể xem là một trong những đóng góp của Pho, đáp ứng nguyện vọng của nhiều chính khách và dân thường trên báo chí tháng 4-1975, là nước Mỹ nên hành động để cuộc chiến tranh ở Việt Nam kết thúc càng sớm càng tốt.

LÊ THÀNH (tổng hợp)
qdnd.vn

Bài học về giữ vững độc lập, tự chủ ở Hội nghị Pa-ri

Nguyên Phó chủ tịch nước Nguyễn Thị Bình

Bà Nguyễn Thị Bình, nguyên Phó Chủ tịch nước, nguyên Bộ trưởng Ngoại giao, nguyên Trưởng đoàn đàm phán của Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam
(Nguồn: TTXVN)

QĐND – Hiệp định Pa-ri về chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam được ký kết đầu năm 1973 là thắng lợi có ý nghĩa chiến lược dẫn đến đại thắng mùa xuân năm 1975, giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước. Nhân kỷ niệm 40 năm ngày ký kết Hiệp định Pa-ri (27-1-1973/27-1-2013), bà Nguyễn Thị Bình, nguyên Phó chủ tịch nước, nguyên Bộ trưởng Ngoại giao, Trưởng đoàn đàm phán của Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam đã trả lời phỏng vấn về ý nghĩa của sự kiện này.

– Là nữ Bộ trưởng Ngoại giao duy nhất tại Hội nghị Pa-ri, xin bà cho biết cảm xúc của mình khi nhận nhiệm vụ thiêng liêng nhưng cũng đầy khó khăn này?

– Khi được giao nhiệm vụ đi Pa-ri, tôi rất lo vì biết đây là nhiệm vụ quan trọng và khó khăn, hơn nữa, bản thân tôi không học qua trường ngoại giao nào. Tham gia một cuộc đàm phán tức là tham gia một cuộc đấu tranh chính trị không đơn giản. Nhưng lúc bấy giờ, tôi nghĩ các đồng chí lãnh đạo đã cân nhắc khi cử tôi đi làm nhiệm vụ này, chắc chắn các đồng chí đã tin tưởng và đánh giá tôi có đủ điều kiện cũng như khả năng hoàn thành nhiệm vụ. Điều này đã khiến tôi tự tin lao vào công việc với rất nhiều cố gắng.

– Trước khi Hiệp định Pa-ri được ký kết năm 1973, giai đoạn đàm phán quyết định nhất là thời gian nào, thưa bà?

– Cuộc đàm phán 4 bên ở Pa-ri nhằm mục đích tìm giải pháp chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam. Hội nghị đã diễn ra trong hơn 4 năm 8 tháng, nhiều lúc rất khó khăn. Theo tôi, đợt đàm phán có ý nghĩa quyết định nhất diễn ra vào tháng 10-1972. Khi đó phía Mỹ, chính quyền Ních-xơn nghĩ không thể đánh bại chúng ta bằng quân sự. Vì vậy, họ chấp nhận Dự thảo “Hiệp định về chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam” và Dự thảo “Thỏa thuận về quyền tự quyết của nhân dân miền Nam Việt Nam” do Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đưa ra, trong đó chấp nhận rút quân hoàn toàn khỏi Việt Nam và để vấn đề chính trị của miền Nam Việt Nam cho các bên của Việt Nam tự giải quyết. Tuy nhiên, sau đó, chính quyền Ních-xơn đã lật lọng, ngừng đàm phán và tìm mọi cách để không chấp nhận những yêu cầu của Việt Nam, đồng thời gây sức ép để phía ta sửa đổi một số điều trong dự thảo không có lợi cho Mỹ. Mỹ muốn thực hiện các ý đồ bằng chiến dịch “Việt Nam hóa chiến tranh”, dùng vũ khí Mỹ nhưng dùng quân đội miền Nam Việt Nam thay thế quân đội Mỹ để thực hiện thôn tính Việt Nam.

Đỉnh điểm của sự gây sức ép là cuộc không kích bằng B-52, tàn phá Hà Nội, Hải Phòng và các tỉnh miền Bắc suốt 12 ngày đêm. Nhưng, cuộc không kích của Mỹ đã thất bại nặng nề không những về mặt quân sự mà còn về chính trị, buộc Mỹ phải chấp nhận trở lại đàm phán đi đến ký Hiệp định Pa-ri về chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam.

– Xin bà cho biết, đâu là nhân tố quyết định thành công của Hiệp định Pa-ri?

– Có thể nói, Hiệp định Pa-ri là kết quả của cả một cuộc chiến đấu trường kỳ suốt 20 năm của quân và dân ta. Từ sau Chiến dịch Điện Biên Phủ, năm 1955 ta đã bắt đầu đấu tranh, đến năm 1959, chúng ta vừa đấu tranh vũ trang đồng thời kết hợp đấu tranh chính trị. Thắng lợi đây là thắng lợi quân sự, nhưng cũng là thắng lợi về chính trị đồng thời là thắng lợi về ngoại giao. Nói đến nhân tố quyết định thì phải nói về cả một cuộc đấu tranh lâu dài và thắng lợi trên các mặt trận để đi đến thúc ép Mỹ ký Hiệp định Pa-ri.

– Theo bà, từ Hiệp định Pa-ri có thể rút ra những bài học quý báu nào cho công tác ngoại giao sau này?

– Bài học trước hết là phải giữ vững nguyên tắc về độc lập tự chủ, phải xuất phát từ lợi ích quốc gia, phải biết rõ lực lượng mình như thế nào, đối phương ra sao để quyết định từng bước đi và luôn luôn có sự kết hợp giữa chiến trường và trên mặt trận ngoại giao – đó là bài học về độc lập tự chủ.

Bài học thứ hai là chúng ta phải hết sức kiên định với lập trường nguyên tắc và mục tiêu chiến lược của mình, nhưng trong sách lược phải biết mềm dẻo. Ví dụ, lúc đầu chúng ta đặt ra mục tiêu trong cuộc đàm phán gồm hai yêu cầu: Yêu cầu quân sự là Mỹ phải rút quân hoàn toàn ra khỏi miền Nam Việt Nam. Yêu cầu thứ hai là ở miền Nam Việt Nam phải bỏ chính quyền tay sai của Mỹ để nhân dân tự lựa chọn chính quyền của mình. Nhưng dựa trên tình hình thực tế, chúng ta đã tập trung vào một mục tiêu là Mỹ phải rút hoàn toàn khỏi miền Nam Việt Nam. Chúng ta biết nếu Mỹ rút và chấm dứt sự can thiệp vào miền Nam Việt Nam thì vấn đề miền Nam Việt Nam ta hoàn toàn có thể giải quyết được.

Bài học lớn nữa là chúng ta biết kết hợp sức mạnh dân tộc và sức mạnh thời đại. Trong một cuộc đấu tranh hết sức quyết liệt với đối phương mạnh hơn nhiều lần, chúng ta đã biết tranh thủ sức mạnh đoàn kết quốc tế. Có thể nói, phong trào đoàn kết quốc tế ủng hộ cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của ta là phong trào đoàn kết quốc tế rộng lớn chưa từng có trong lịch sử. Đó chính là sức mạnh to lớn đã góp phần vào thắng lợi trong cuộc đấu tranh của dân tộc ta.

Theo TTXVN
qdnd.vn

Cuốn điều lệ Đảng và đồng tiền thấm máu

QĐND Online – Mùa xuân năm 1968, bộ đội Tăng-Thiết Giáp (T-TG) ra quân trận đầu đánh vào cứ điểm Tà Mây – Làng Vây trong chiến dịch Đường 9 – Khe Sanh. Tham gia chiến dịch này có Nguyễn Tiến Chén, Trợ lý thông tin của Tiểu đoàn tăng 198, với nhiệm vụ giữ vững mạch máu thông tin liên lạc cho đơn vị.

Nguyễn Tiến Chén không chỉ là một trợ lý thông tin giỏi, mà còn là thợ cơ công tài ba, trực tiếp ngồi trong xe cùng đồng đội vào trận. Trong trận đánh Làng Vây, được phân công ngồi trong xe tăng chỉ huy của Đại đội trưởng Ngô Xuân Nghiêm, Nguyễn Tiến Chén đã lập công xuất sắc. Trong lần thử lửa đầu tiên, anh đã sớm khẳng định bản lĩnh của một quân nhân cách mạng.

Lúc 1 giờ sáng ngày 7-2-1968, trên hướng tiến công chủ yếu vào cứ điểm Làng Vây của Đại đội tăng 9, xe tăng PT-76 số 565 của Đại đội trưởng Ngô Xuân Nghiêm đang tung hoành bắn phá trong cứ điểm, thì bị một viên đạn súng máy của địch xuyên thủng vỏ thép thân xe và bất ngờ đâm trúng vỏ một quả đạn trong xe làm ba lô, quần áo bắt lửa, xe cháy khói tuôn mù mịt, hệ thống tự động chữa cháy của xe bị hỏng. Lúc đó tình thế hết sức nguy hiểm, nếu không dập lửa kịp thời, lựu đạn và đạn trong xe sẽ phát nổ, nguy cơ mất xe, kíp xe hy sinh là khó tránh khỏi.

Trong tình huống nguy nan ấy, Nguyễn Tiến Chén đã cùng đồng đội dũng cảm, nhanh chóng dùng các bi đông nước đổ ướt giẻ dập lửa, chỉ ít phút sau, lửa bị dập tắt hoàn toàn, xe lại tiếp tục chiến đấu. Chén sung sướng reo lên: “Báo cáo, lửa đã được dập tắt, thằng Mỹ thua xe ta rồi!”.

Lúc này, trận đánh vẫn diễn ra ác liệt, khói lửa mù mịt, đèn dù địch thả sáng rực, đạn cỡ nhỏ bắn vào xe chát chúa. Cùng lúc đó, pháo thủ Loan của xe bị thương, không có khả năng nạp đạn, Trợ lý thông tin Nguyễn Tiến Chén, mặc dù chưa hiểu biết nhiều về súng pháo xe tăng, nhưng trong khoảnh khắc chiến đấu khẩn trương, anh đã đề nghị đại đội trưởng cho mình thay thế vị trí pháo thủ Loan. Nguyện vọng được chấp thuận và sau khi quan sát đại đội trưởng nạp đạn làm mẫu, Chén đã tự lao đạn vào buồng nòng đóng bảo hiểm K52 rồi nạp cả đạn súng máy. Mỗi khi thao tác xong anh dõng dạc hô: “Báo cáo xong!”. Khẩu pháo 76 ly lại gầm lên, lô cốt địch đổ sập, quân địch bỏ chạy tán loạn!

Sau thắng lợi giòn giã ở Làng Vây, Tiểu đoàn xe tăng 198 được lệnh bí mật giấu quân trên đất bạn Lào. Lúc này đúng vào mùa mưa, độ ẩm cao, việc bảo quản điện đài của đơn vị gặp rất nhiều khó khăn, thông tin liên lạc thường xuyên bị gián đoạn, Chén đã đưa ra sáng kiến đắp lò sấy bảo quản các thiết bị thông tin liên lạc và phổ biến sáng kiến đó cho anh em trong đơn vị áp dụng.

Thời gian này, địch đánh phá ác liệt cả ngày lẫn đêm, thật hiếm hoi có một ngày bình yên ở cánh rừng miền Tây. Hôm ấy, máy bay B52 của địch lại đến ném bom, chúng dùng bom bi ném xuống khu vực giấu quân của đơn vị. Ngay sau khi dứt tiếng bom, Đại đội phó kỹ thuật Trần Vĩnh Đại, Bí thư Chi bộ đã đi kiểm tra tìm thương binh, liệt sĩ và kiểm nghiệm di vật của liệt sĩ, làm hồ sơ bàn giao lên cấp trên. Nguyễn Tiến Chén – người chiến sĩ xe tăng dũng cảm nằm đó, cả một vùng áo ngực trái anh thấm đẫm máu. Tay đồng chí Đại đội phó Trần Vĩnh Đại run run mở cúc áo túi ngực trái của đồng đội. Thật bất ngờ, trong túi áo có cuốn Điều lệ Đảng và tờ tiền giấy một đồng. Viên bom bi của kẻ thù đã xuyên thủng trái tim anh cùng cuốn Điều lệ Đảng và đồng tiền miền Bắc. Đồng tiền này anh để dành đóng đảng phí. Nguyễn Tiến Chén đã anh dũng hy sinh, cả đơn vị lặng đi vì tiếc thương người đồng đội từng cùng nhau vào sinh ra tử.

Cuốn điều lệ Đảng và đồng tiền thấm máu trưng bày tại Bảo tàng Lực lượng Tăng-Thiết giáp.

Với hy vọng giản dị rằng sau ngày chiến thắng, những di vật này sẽ trở về với gia đình liệt sĩ Nguyễn Tiến Chén, đồng chí Trần Vĩnh Đại đã bàn giao những di vật của liệt sĩ Nguyễn Tiến Chén cho Binh chủng T-TG.

Trong cuộc gặp mặt cựu chiến binh Tiểu đoàn tăng 198 vào năm 2002, khi đồng chí Tư lệnh Đoàn Sinh Hưởng trao di vật của liệt sĩ Nguyễn Tiến Chén cho chị Nguyễn Thị Bềnh, vợ liệt sĩ, chị đã tâm sự trong nước mắt: “Đã mấy chục năm nay, tôi chỉ mong có được một tấm hình hay một di vật của chồng để phụng thờ và lưu lại cho con cháu. Nhưng đến đây tôi lại cảm nhận sâu sắc được tình đồng đội, đồng chí đáng quý biết bao, nên tôi xin gửi lại di vật này cho Bảo tàng để chồng tôi mãi mãi ở lại bên đồng đội của mình”.

Kể từ ngày đó, đồng tiền thấm máu và cuốn Điều lệ Đảng – những di vật của liệt sĩ xe tăng Nguyễn Tiến Chén được Bảo tàng lực lượng T-TG trân trọng lưu giữ và trưng bày. Nhờ đó, khách thăm quan bảo tàng được nghe câu chuyện kể xúc động về người lính xe tăng giàu lòng nhân ái, giản dị trong cuộc sống, thông minh, sáng tạo trong công tác, mưu trí dũng cảm trong chiến đấu.

Câu chuyện ấy xảy ra cách đây hơn 40 năm, thời gian đủ nuôi lớn cả một thế hệ. Cuốn Điều lệ Đảng và đồng tiền thấm máu của liệt sĩ như nhắc nhở thế hệ trẻ hãy luôn nhớ rằng, để có được độc lập, tự do hôm nay, biết bao người con ưu tú của dân tộc đã ngã xuống và hiến dâng trọn tuổi thanh xuân của mình cho Tổ quốc. Những di vật của liệt sĩ Nguyễn Tiến Chén được Bảo tàng T-TG nâng niu giữ gìn, giới thiệu với khách tham quan về trách nhiệm và tình cảm của người đảng viên với Đảng – một nghĩa tình cao đẹp, trong sáng của anh Bộ đội Cụ Hồ.

MINH SEN
qdnd.vn

Tình trạng “phe nhóm” trong Quân đội Sài Gòn

QĐND-Theo một tài liệu lưu trữ của Cục Địch vận (Tổng cục Chính trị), vào thời điểm các năm 1972-1973, đội ngũ cán bộ địch vận các đơn vị đã thu thập, nghiên cứu khá chi tiết về tình hình đảng phái trong sĩ quan Quân đội Sài Gòn. Tài liệu cũng nêu rõ xu hướng, thế lực của từng đảng phái, nội tình phe nhóm trong các sĩ quan cao cấp và việc xuất hiện những “ông bầu” Mỹ đứng sau từng phe nhóm…

Mục đích tổ chức và hoạt động của các đảng phái trong Quân đội Sài Gòn là để bảo vệ quyền lợi, địa vị của các đảng phái, song nhìn chung đội ngũ sĩ quan đều dựa vào đảng phái của mình để thăng tiến và “làm giàu” chứ không hẳn là từ những lời rêu rao “vì quyền lợi tối thượng của quốc gia, dân tộc”. Thực tế trong Quân đội Sài Gòn, sĩ quan cầm đầu đơn vị là đảng viên thuộc đảng phái nào thì phần lớn sĩ quan thuộc quyền sẽ là đảng viên của đảng phái ấy.

Nguyễn Văn Thiệu trong lần tiếp Đại sứ Hoa Kỳ Hen-ri Ca-bốt Lốt (Henry Cabot Lodge) tại Sài Gòn. Ảnh tư liệu.

Trong số các đảng phái lớn thời Nguyễn Văn Thiệu, tổ chức đảng của “Cần lao nhân vị” có phần chặt chẽ hơn vì được chính quyền Thiệu ủng hộ và có nhiều tướng lĩnh, sĩ quan cao cấp cầm đầu trong quân đội và chính quyền. “Cần lao nhân vị” từng là đảng của Ngô Đình Diệm, sau khi Diệm đổ, đảng này tan rã, nhưng trong các năm 1967-1971, lại được Thiệu tích cực ủng hộ và phát triển ở nhiều nơi. Khá đông đảng viên “Cần lao nhân vị” đã nắm các vị trí chủ chốt như: Tổng Tham mưu trưởng; Tổng cục trưởng Tổng cục Chiến tranh chính trị; đa số các tư lệnh quân đoàn, sư đoàn, tỉnh trưởng, trung đoàn trưởng, quận trưởng, cảnh sát các cấp… “Đại Việt” cũng là một đảng phái phát triển khá mạnh, nhất là khu vực Vùng 1 Chiến thuật. Tháng 5-1972, sau khi bị Quân giải phóng đánh chiếm Quảng Trị, phái “Đại Việt” miền Trung do Hà Thúc Ký cầm đầu đã đứng ra lập Sư đoàn Thuận Hóa gồm cả lực lượng bảo an, công chức lẫn thương-phế binh nhằm “phòng tránh nguy cơ Cộng sản chiếm Huế”. Ngoài 6 đảng phái chính, chính trường Sài Gòn còn xuất hiện các tổ chức: “Mặt trận cứu nguy dân tộc”, “Phong trào quốc gia cấp tiến”, “Phong trào Tân dân”… cùng các giáo phái khác, tất cả đều chung mục tiêu chính là “chống Cộng”.

Thời kỳ đầu thập niên 1970, từ Tổng thống cho tới các Tư lệnh quân đoàn, sư đoàn, các tỉnh trưởng, trung đoàn trưởng, quận trưởng… đều có dính líu đến các phe nhóm, hoặc là của phe này, hoặc là của phe kia do các mối quan hệ: Cùng quê hương, họ hàng, cùng tín ngưỡng, đảng phái chính trị, hoặc ít ra cũng là quen biết, thân thích nhau. Quân đội Sài Gòn những năm 1972-1973 đã xuất hiện các phe cánh được điểm mặt, gồm: Phe Nguyễn Văn Thiệu, phe Trần Thiện Khiêm, phe Nguyễn Cao Kỳ, phe Nguyễn Văn Vỹ, phe Cao Văn Viên… Ở cấp Quân đoàn, Vùng chiến thuật lại chia thành các phe nhóm do các viên tướng đứng đầu gồm: Phe Hoàng Xuân Lãm, phe Ngô Quang Trưởng, phe Nguyễn Văn Minh, phe Vĩnh Lộc, phe Ngô Du, phe Lữ Lan… Mỗi phe lại có một “ông bầu” là cố vấn Mỹ đứng sau, như phe Nguyễn Văn Thiệu có Bân-cơ (Bunker), Nguyễn Cao Kỳ có Oét-mo-len (Westmoreland), Cao Văn Viên có A-bram (Abrams), Ngô Du có Giôn Pôn Van (John Paul Vann), Ngô Quang Trưởng có tướng Cháp-men (Chapman) – cựu Tư lệnh sư đoàn thủy quân lục chiến Mỹ, Trần Thiện Khiêm có một nhóm CIA và một số chính khách ở Đài Loan, … Những cố vấn Mỹ này thường nắm rất chắc các Tư lệnh quân đoàn, Tư lệnh sư đoàn và Tỉnh trưởng thông qua những cuộc vui chơi, nhậu nhẹt. Thậm chí thông qua những cuộc thăm hỏi, chuyện trò, các “ông bầu” Mỹ còn tranh thủ tìm hiểu ý định, quan điểm của sĩ quan bản địa rồi tìm cách can thiệp vào vị trí chỉ huy của đội ngũ này. Năm 1971, chính Rát-xơn (Russon) (Phó tư lệnh Bộ Chỉ huy viện trợ quân sự Mỹ-MACV) đã từng đưa ra nhận xét về Dư Quốc Đống với Nguyễn Văn Thiệu: “Ông ta chỉ lo làm giàu, không lo hành quân” và bày tỏ ý định muốn loại Đống ra khỏi sư đoàn dù. Đống biết chuyện, muốn Thiệu thu xếp để ông ta chuyển sang nơi khác, nhưng Thiệu vẫn muốn Dư Quốc Đống nắm Sư dù, bởi viên Tổng thống “lo xa”, muốn Đống là chỗ dựa tin cậy để phòng đảo chính. Nguyễn Văn Thiệu cũng từng có ý định đưa vây cánh của mình là Tư lệnh phó Sư đoàn dù Hồ Trung Hậu sang làm Tư lệnh Sư đoàn 21, nhưng các cố vấn Mỹ không đồng tình, cho rằng năng lực của Hậu kém, không hợp vị trí, mãi tới tháng 4-1972, Thiệu mới có dịp cất nhắc, đưa Hậu lên làm Tư lệnh Sư đoàn 21…

Không chỉ số sĩ quan cấp cao mới có tình trạng phe nhóm, đội ngũ sĩ quan trẻ cũng có sự phân hóa rõ rệt trong xu hướng lựa chọn đường binh nghiệp. Các cán bộ địch vận của ta đã tiến hành khảo sát thái độ chính trị của hàng trăm sĩ quan Quân đội Sài Gòn và nhận thấy phần lớn trong số này đều “thích thú” và tự nguyện vào các đơn vị binh chủng hơn là các đơn vị bộ binh, bởi theo họ cầm quân ở các đơn vị binh chủng vừa đỡ vất vả, ít thương vong, lại có “cơ hội” kiếm tiền và dễ dàng tiến thân. Trong các đơn vị binh chủng, sĩ quan không quân và hải quân thường tự cho mình là những thành phần “trí thức” hơn các đơn vị binh chủng khác, số này thường tỏ ra kiêu căng, nặng đầu óc hưởng thụ. Sĩ quan hải quân do hoạt động đặc thù ở xa đất liền nên các đảng phái cũng ít có điều kiện câu móc, lôi kéo.

Với số sĩ quan mới tốt nghiệp được lựa chọn phục vụ ở hậu cứ, gần nhà và tránh xa “hòn tên mũi đạn” thì buộc phải có những điều kiện: Là con một, có cha mẹ già trên 60 tuổi và gia đình đã có 3-4 anh trai đang ở đơn vị chiến đấu. Tuy có những nguyên tắc trên, song thực tế vẫn có những trường hợp dựa vào quyền thế, tiền bạc nhằm lo lót, chạy chọt để được “toại nguyện”…

QUANG HUY
qdnd.vn

Tầm nhìn hướng biển của các vua đầu triều Nguyễn

Biên giới và hải đảo

(Tiếp theo và hết)

QĐND-Gia Long, vị vua khai sáng Triều Nguyễn và vua Minh Mệnh sau này đã nâng cấp tầm nhìn hướng biển, không chỉ hai quần đảo đó, mà còn thực thi nhiều chính sách, nhiều giải pháp để khẳng định chủ quyền của mình trên các đảo gần bờ như Phú Quốc, Côn Lôn.

Thời chúa Nguyễn Phúc Chu, tháng Tư năm Tân Mão (1711) đã điều động quân lính và những người có trách nhiệm mang các phương tiện đo vẽ đi thuyền ra “đo bãi cát vàng Trường Sa dài ngắn, rộng hẹp bao nhiêu” (Đại Nam Thực lục, tập 1, trang 126). Sự kiện nổi bật nhất thời Gia Long trong việc khẳng định chủ quyền của quốc gia trên hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa là lễ thượng cờ và cắm mốc chủ quyền trên hai quần đảo đó. Sự kiện trọng đại ấy được miêu tả hết sức vắn tắt trong Đại Nam Thực lục, tập 1, trang 922 bằng một câu: “Sai thủy quân và đội Hoàng Sa đi thuyền ra Hoàng Sa để thăm dò đường thủy”. Mười bảy năm sau, năm 1833, giám mục Giăng Lu-i Ta-be (Jean Louis Tarberd), người đã nhiều năm truyền giáo ở Đàng Trong (phần đất từ đèo Ngang trở vào) trong một công trình của mình đã viết khá rõ về sự kiện trọng đại đó: “Chúng tôi biết chắc là Hoàng đế Gia Long đã chú tâm thêm cái đóa hoa kỳ lạ đó vào vương miện của ngài, vì vậy mà ngài xét thấy đúng lúc phải thân chinh vượt biển để tiếp thâu quần đảo Hoàng Sa, và chính là vào năm 1816, ngài đã long trọng treo tại đó lá cờ của xứ Đàng Trong (thời này xứ Đàng Trong được hiểu là nước Việt Nam chúng ta)” (1).

Tiếp tục ý tưởng của vua cha, năm 1833, Minh Mệnh đã nói với Bộ Công rằng: “Trong hải phận Quảng Ngãi, có một dải Hoàng Sa, xa trông trời nước một màu không phân biệt được nông hay sâu. Gần đây thuyền buôn thường bị hại. Nay nên dự bị thuyền bè đến sang năm sẽ phái người tới, dựng miếu, lập bia, lại trồng nhiều cây cối. Ngày sau cây cối to xanh tốt, người dễ nhận biết, ngõ hầu tránh được nạn mắc cạn. Đó cũng là việc lợi muôn đời” (sđd, tr.743). Tháng Sáu năm Ất Mùi (1835), Bộ Công cho dựng đền thờ thần ở đảo Hoàng Sa thuộc Quảng Ngãi. Đại Nam Thực lục có ghi: “Hoàng Sa ở hải phận Quảng Ngãi có một chỗ nổi cồn cát trắng, cây cối xanh um, giữa cồn cát có giếng, phía tây nam có miếu cổ có tấm bài khắc 4 chữ “Vạn lý ba bình” (muôn dặm sóng êm), cồn Bạch Sa (cát trắng) chu vi 1070 trượng, tên cũ là núi Phật Tự, bờ đông, tây, nam đều đá san hô thoai thoải uốn quanh mặt nước. Phía bắc, giáp với một cồn toàn đá san hô, sừng sững nổi lên, chu vi 340 trượng, cao 1 trượng 3 thước (1 trượng bằng 10 thước, 1 thước đo đất bằng 0,47m) ngang với cồn cát, gọi là Bàn Than Thạch). Năm ngoái, vua toan dựng miếu lập bia ở chỗ ấy, bỗng vì sóng gió không làm được. Đến đây mới sai Cai đội thủy quân là Phạm Văn Nguyên đem lính thợ Giám thành cùng phu thuyền hai tỉnh Quảng Ngãi, Bình Định, chuyên chở vật liệu đến dựng miếu (cách tòa miếu cổ 4 trượng). Bên tả miếu dựng bia đá; phía trước miếu xây bình phong. Mười ngày làm xong rồi về” (2).

Vua Minh Mệnh đã có tầm nhìn vượt lên cả vua cha. Đó là việc ông ứng xử với đảo Phú Quốc và quần đảo Côn Lôn, những nơi có dân sinh sống, nhưng thường bị bọn hải tặc đến quấy nhiễu. Năm 1832, Minh Mệnh được tâu bọn hải tặc người Chà Và lên đảo Côn Lôn thuộc Phiên An (Gia Định) đón cướp thuyền buôn, lên bờ đốt nhà, cướp của dân ta. Vua suy nghĩ Côn Lôn và Hà Tiên đều là những nơi xung yếu, dân ở đông đúc, thế mà thường có giặc biển ẩn hiện, liền truyền dụ cho quan thành chọn đất hai chỗ ấy, xây đặt pháo đài, liệu cấp súng đạn, khí giới, thuyền bè, phái quân đóng giữ. Cư dân cũng được cấp cho khí giới để cùng phòng giữ. Lại chuyển sức cho 5 trấn trong thành hạt, ra lệnh cho các làng sở tại ven biển đều sẵn sàng thuyền bè khí giới, nếu thấy thuyền giặc đến gần bờ, tức thì cùng nhau tiếp ứng góp sức đánh bắt (3).

Đại Thanh đế quốc vị trí khu hoạch đồ (năm 1909), đã vẽ phần cực Nam Trung Quốc là đảo Hải Nam, không có Hoàng Sa, Trường Sa. Ảnh: Sách “Kỷ yếu Hoàng Sa”– Nxb Thông tin và Truyền thông.

Năm 1833, vâng lệnh vua, Tuần phủ Phạm Xuân Bách ra đảo tìm chọn một nơi vừa ý ở phía nam Phú Quốc tâu lên vua và vua xuống dụ cho khởi công xây đắp, cho đặt tên là đồn Phú Quốc. Đồn “được xây xung quanh bằng đá núi, trên dựng một căn phòng cho lính đương ban đóng. Trên đồn đặt 4 khẩu hồng y cương pháo, 8 khẩu quá sơn đồng pháo, phái 50 lính tỉnh đến đóng giữ. Lại lấy thêm dân sở tại phụ vào việc canh giữ, cấp cho khí giới và thuyền bè đủ dùng. Dùng viên phủ ngự đồn Phú Quốc là Nguyễn Văn Sương làm Phòng thủ úy đứng cai quản, cho mộ thêm lính đặt làm đội phòng thủ” (4).

Với vị trí địa – chính trị quan trọng của quần đảo Côn Lôn, vua Minh Mệnh cũng đã có những ứng xử tương tự như đảo Phú Quốc, tuy có muộn hơn. Tháng Hai năm Bính Thân (1836), Minh Mệnh cho xây dựng đồn Thanh Hải và pháo đài Thanh Hải trên đảo Côn Lôn thuộc Gia Định (sau đó thuộc Vĩnh Long). Bốn mặt đồn đều dài 12 trượng, cao 5 thước, chân rộng 6 thước 3 tấc. Đằng trước và đằng sau đều mở một cửa. Pháo đài xây ở phía nam đồn ngoài binh lính còn thuê dân tất cả 500 người để làm việc. Hoàn tất công việc Bộ Binh tâu: “Đảo ấy có nhiều núi lên từng dãy từng lớp, tàu thuyền có thể đỗ lại yên ổn. Lại có mối lợi là nhiều cá, tôm, ruộng đất màu mỡ, thủy thổ lành, thực là hình thế đẹp ở cương giới về phần biển. Chỉ phải cái là hẻo lánh, xa xôi, hằng năm khoảng xuân sang hạ, thường có thuyền giặc Chà Và thừa cơ, lén lút nổi dậy, làm ngăn trở thuyền buôn đi lại. Nhân dân sở tại thưa ít, chẳng làm thế nào được! Vậy xin phái một suất đội và 50 lính thuộc tỉnh, cấp cho thuyền và khí giới đến đóng giữ, mỗi năm thay phiên một lần… Nơi ấy lại có nhiều đất bỏ hoang, có thể cày cấy được… Quân lính những khi làm việc tuần phòng hải phận đã nhàn rỗi, sức cho khẩn hoang trồng cấy và chiêu mộ dân nghèo cùng ở, cho sống bằng sức mình, còn trâu cày, nông cụ thì do nhà nước cấp phát cho. Như thế, có lính để phòng thủ, có ruộng để cày cấy, giặc biển không dám lại đến, thuyền buôn ngày một đông nhiều, sau vài năm tất thành một nơi vui vẻ, mà việc phòng giữ mặt biển sẽ bền vững được”(5).

Lời tâu của Bộ Binh quá hay nên vua Minh Mệnh không chỉ chuẩn y mà còn gợi mở cho ông một ý tưởng thú vị: Lập làng nơi đây. Công việc đó khởi đầu từ Minh Mệnh với những chính sách rõ ràng, minh bạch như sử dụng những người dân di cư tự do ra đây từ trước, những người bị phát vãng, lính hết thời hạn phục vụ muốn ở lại đảo. Bằng chính sách có lợi cho dân, ông đã điều khiển một luồng dân từ trong đất liền di cư ra đảo lập nên làng mang tên An Hải năm 1840. Như vậy quá trình hình thành một làng trên đảo Côn Lôn diễn ra ròng rã trong 12 năm, khi Minh Mệnh không còn trên đời nữa. (6)

Đối với những tàu thuyền nước ngoài, phần lớn là thuyền đánh cá nhà Thanh (Trung Quốc) xâm phạm lãnh hải của ta, vua Minh Mệnh cho xử lý một cách kiên quyết, không khoan nhượng. Trấn Quảng Yên có trên 300 thuyền đánh cá của nhà Thanh đậu lâu ở phần biển Cát Bà. Quan Bắc Thành đã sai trấn thủ Nguyễn Văn Đoái đem hơn 20 chiếc binh thuyền thân đến nơi khuyên họ đi. Lại sai Phó thống thập cơ Tiền quân là Lương Văn Liễu đem 15 thuyền binh tiến theo để làm thanh ứng. Sự việc được tâu lên triều đình, vua xuống dụ: “Thuyền Thanh vài trăm chiếc mà thuyền của ta chỉ có hơn 30 chiếc, nếu hắn cự lại thì lấy gì mà địch. Phái thêm binh thuyền và chở nhiều súng đạn quân nhu đi ứng tiếp. Nếu chúng nghe lời thì thôi, bằng không thì góp sức vào cố đánh dẹp” (7).

Nhưng đối với những thuyền buôn, thuyền đánh cá các nước gặp nạn trôi dạt vào các đảo thuộc chủ quyền của ta, hoặc dạt vào cảng, bến cảng dọc bờ biển nước ta thì Minh Mệnh đối xử với cương vị là một đất nước có văn hiến. Chẳng hạn, Tháng Tám năm Kỷ Sửu (1829), thuyền của A Sinh, người Chà Và được quốc trưởng phái đến đảo Câu Mạch khai thác yến sào, không may gặp bão trôi dạt vào đảo Côn Lôn. Khi được tâu lên, vua Minh Mệnh sai cấp gạo rồi cho về (8). Hoặc tàu nước Phú Lãng Sa (nước Pháp) đến đậu ở hòn Mỏ Diều thuộc Quảng Nam. Tỉnh thần Quảng Nam cho người xuống tàu khám qua, thấy tàu dài hơn 8 trượng, rộng hơn 1 trượng 8 thước, cao hơn 1 trượng 5 thước, 3 tầng ván lát, 3 cột to, 24 cỗ đại bác, 10 cỗ súng Quá sơn và 6 chiếc xuồng. Cuối thuyền treo cờ tam tài vuông: Xanh, trắng, đỏ và hỏi họ thì họ nói: “Tàu của thành Tu Luân (Toulouse), quốc trưởng sai đi thao diễn ở đường biển, đã hơn 1 năm, nay từ Ma Cao đến đây, xin ở 1, 2 hôm để lấy củi và nước”. Tỉnh thần lấy làm ngờ, nghiêm sức cho binh thuyền tuần tiễu, chỉ thị cho tỉnh Quảng Ngãi phòng bị, rồi dâng sớ tâu lên Triều đình Huế. Vua Minh Mệnh phê: “Đó là việc thường. Họ đi thăm dò, đo đạc đường biển, hà tất phải hoang mang tư báo làm kinh hãi tai mắt người ta. Thực không hiểu việc!”. Qua hôm sau, quả nhiên họ bắn một phát đại bác rồi đi (9).

Rõ ràng, so với các chúa Nguyễn và Triều Nguyễn Tây Sơn, tầm nhìn hướng biển của hai vị vua đầu của Triều Nguyễn, đặc biệt dưới thời Minh Mệnh, có một bước tiến mang tính chiến lược quan trọng. Các vị vua này không chỉ xác lập chủ quyền bằng việc thượng cờ, xây miếu thờ, cắm mốc trên quần đảo Hoàng Sa, mà còn xây dựng đồn, pháo đài, lập làng trên những hòn đảo gần bờ như Phú Quốc và Côn Lôn. Tầm nhìn hướng biển đó thực sự mang tầm chiến lược để trên nền tảng đó ta làm chứng cớ lịch sử trong cuộc tranh chấp chủ quyền trên các quần đảo trên Biển Đông với các nước láng giềng.

——————-

1. Bức tranh thế giới – Lịch sử và mô tả các dân tộc, tôn giáo, phong tục, tập quán của họ. Nxb Firmin-Điot Freses et Cie, paris, 1833).

2. Đại Nam Thực lục. Nxb Giáo Dục. HN, 2004, tập 4, tr, 673.

3. Đại Nam Thực lục. Sđd, tập 3,

tr. 384.

4. Đại Nam Thực lục. Sđd. Tập 3,

tr. 492, 568.

5. Đại Nam Thực lục, Sđd, tập 4,

tr. 873.

6. Xem thêm bài của Phạm Xanh trên tạp chí NCLS, số 1, 1987, tr.105

7. Đại Nam Thực lục. Sđd, tập 3,

tr. 824.

8. Đại Nam Thực lục. Sđd, tập 2,

tr. 882.

9. Đại Nam Thực lục. Sđd, tập 4, tr.1076.

PGS, TS PHẠM XANH
qdnd.vn

—————————–

Bài đầu: Tầm nhìn hướng biển của các chúa Nguyễn

Tầm nhìn hướng biển của các chúa Nguyễn

Biên giới và hải đảo

QĐND-Năm 1558, Nguyễn Hoàng nghe theo lời khuyên của Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm “Hoành Sơn nhất đái, vạn đại dung thân”, vào trấn thủ vùng Thuận Hóa. Cũng bắt đầu từ đó trên đất nước chúng ta diễn ra cục diện Trịnh – Nguyễn phân tranh kéo dài trên hai trăm năm ở 9 đời chúa. Nguyễn Hoàng băng hà năm 1614, ở ngôi 56 năm, hưởng thọ 89 tuổi. Trong những năm thống lĩnh vùng Thuận Hóa, Nguyễn Hoàng vừa lo chống lại những cuộc chinh phạt của Lê-Trịnh từ Đàng ngoài, nhưng chủ yếu là lo củng cố quyền lực và mở nước về phương Nam. Vì thế tầm nhìn hướng biển của Nguyễn Hoàng, do những điều kiện khách quan quy định, còn rất hạn hẹp. Nhưng người kế vị ông, chúa Nguyễn Phúc Nguyên, không chỉ kế tục xuất sắc hai hướng hành động của Chúa cha, mà còn vượt lên bằng tầm nhìn hướng biển mang tính chiến lược.

Sở dĩ Nguyễn Phúc Nguyên cùng quân dân Đàng trong lập được những kỳ tích đó bởi lẽ ông đã thu phục được Đào Duy Từ, người mà vua Lê, chúa Trịnh ở Đàng ngoài không dung nạp, đã trốn vào Đàng trong, đang sống ẩn dật với nghề dạy học ở chốn thôn quê. Sách Đại Nam thực lục, tập I, phần Tiền biên, trang 43 có ghi lại cuộc gặp gỡ giữa hai con người vốn xa lạ này và rồi Đào Duy Từ trở thành người cố vấn chính trị-quân sự thân cận nhất của Chúa.

Dưới sự cố vấn của họ Đào, lũy Trường Dục chạy từ chân núi Trường Dục tới bãi cát Hạc Hải (Nhật Lệ) được xây dựng nhanh chóng, trở thành thành lũy kiên cố, vững chắc, ngăn chặn quân Trịnh từ phía Bắc. Cùng với công trình quân sự đó, cũng theo lời khuyên của họ Đào, chúa Nguyễn Phúc Nguyên mở nước về phương Nam cho đến tận vùng cực nam Trung Bộ hiện nay. Có lẽ, cũng trong thời kỳ này mà xuất hiện tầm nhìn hướng biển của Chúa Nguyễn Phúc Nguyên. Đó là vươn ra biển xác lập chủ quyền của mình ở những hòn đảo ven bờ và quan trọng hơn là vươn xa làm chủ quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa ngoài biển Đông. Sách Phủ biên tạp lục của nhà bác học Lê Quý Đôn đã xác nhận một sự thực:“Ngày trước, họ Nguyễn có thiết lập đội Hoàng Sa gồm 70 suất, lấy người xã Yên Vĩnh bổ sung. Mỗi năm họ luân phiên nhau đi biển, lấy tháng Giêng ra đi nhận lãnh chỉ thị làm sai dịch. Đội Hoàng Sa này được cấp phát mỗi người sáu tháng lương”(1). Ở một chỗ khác, Lê Quý Đôn viết: “Họ Nguyễn còn thiết lập thêm đội Bắc Hải. Đội này không định trước bao nhiêu suất. Hoặc chọn lấy người thôn Tứ Chính thuộc phủ Bình Thuận, hoặc chọn lấy người làng Cảnh Dương, lấy những người tình nguyện bổ sung vào đội Bắc Hải. Quan địa phương cấp phát phó từ và chỉ thị sai phái đội ấy đi làm công tác.

Nhà nước sai chức cai đội Hoàng Sa kiêm lãnh quản đốc đội Bắc Hải này, vì chẳng qua họ chỉ lấy được những hải vật kể trên mà thôi, còn như vàng bạc và các của cải quý báu thì ít khi họ tìm kiếm được”.(2)

Gần đây, chúng ta phát hiện nhiều thư tịch cổ liên quan đến đội Hoàng Sa trên đảo Lý Sơn cho biết thêm những chứng cớ vững chắc về chủ quyền của ta trên hai quần đảo lớn đó. Hằng năm, người đảo Lý Sơn được tuyển mộ vào đội này làm binh, phu đi khai thác, bảo vệ Hoàng Sa và Trường Sa. Mỗi cuộc đi ra đảo xa là muôn vàn khó khăn nên các Chúa Nguyễn đều cho mỗi người lính mang theo một đôi chiếu, 7 đòn tre, 7 sợi giây lạt và một tấm thẻ bài có khắc họ tên, quê quán để phòng nếu chẳng may hy sinh, đồng đội sẽ bó thi hài vào chiếu và thả xuống biển. Trước khi lên đường, thường vào tháng Hai Âm lịch, dân làng làm lễ gọi là “Lễ khao lề thế lính Hoàng Sa”, tái hiện những hùng binh năm xưa trên những chiếc thuyền nan mỏng manh đã dong buồm vượt trùng dương gìn giữ bờ cõi, đồng thời làm những “ngôi mộ gió” – mộ chôn những hình nhân tượng trưng cho những người lính hy sinh vì Hoàng Sa.(3)

Đây là một trong những bản đồ trong “Phủ biên tạp lục” do Lê Quý Đôn (1726-1784) biên soạn năm 1776. Ông mô tả tỉ mỉ địa lý, tài nguyên ở Hoàng Sa và Trường Sa, công việc khai thác của chúa Nguyễn đối với 2 quần đảo này. (Theo sách Kỷ yếu Hoàng Sa của NXB Thông tin và Truyền thông).

Đến đời chúa Nguyễn Phúc Chu, năm 1698 với việc “sai Thống suất Nguyễn Hữu Kính (Cảnh) kinh lược đất Chân Lạp, chia đất Đông Phố, lấy xứ Đồng Nai làm huyện Phúc Long (nay phong làm phủ), dựng dinh Trấn Biên (tức Biên Hòa ngày nay), lấy xứ Sài Gòn làm huyện Tân Bình (nay phong làm phủ), dựng dinh Phiên Trấn (tức Gia Định ngày nay), trên căn bản hình thể nước ta như ngày nay. Tháng Tám năm Mậu Ngọ, 1702, Chúa Nguyễn Phúc Chu được Trấn thủ dinh Trấn Biên là Trương Phúc Phan báo: “Giặc biển là người Man An Liệt (tức người Anh) có 8 chiếc thuyền đến đậu ở đảo Côn Lôn. Trưởng là bọn Tô Thích Già Thi 5 người tự xưng là nhất ban, nhị ban, tam ban, tứ ban, ngũ ban (các cấp bậc trong quân đội) cùng đồ đảng hơn 200 người, kết lập trại sách, của cải chứa đầy như núi, bốn mặt đều đặt đại bác” (4). Ngay lập tức “Chúa sai Phúc Phan tìm cách trừ bọn ấy”(5) để xác định chủ quyền của đất nước, mặc dù lúc đó Côn Đảo chưa có người ở. Trương Phúc Phan lập tức cho nghiên cứu phương án đánh đuổi quân Anh khỏi Côn Đảo. Tổng trấn Trương mộ 15 lính người Ma-lai-xi-a, dùng kế trá hàng lọt được vào lính Anh chiếm đóng trên đảo. Sau một thời gian chung sống với lính Anh, nghiên cứu cung cách phòng vệ của họ và cuối cùng tháng 10 năm Quý Mùi, 1703 họ thống nhất ra tay hành động, tiêu diệt được nhiều lính đánh thuê Anh và thu vô số chiến lợi phẩm. Trong Đại Nam Thực lục, tập I, phần Tiền biên, có ghi vắn tắt sự kiện quan trọng đó như sau: “Mùa đông, tháng 10, dẹp yên đảng An liệt. Trước là Trấn thủ Trấn Biên Trương Phúc Phan mộ 15 người Chà Và sai làm kế trá hàng đảng An Liệt để thừa chúng sơ hở thì giết. Bọn An Liệt không biết. Ở Côn Lôn hơn một năm không thấy Trấn Biên xét hỏi, tự lấy làm đắc chí. Người Chà Và đang đêm phóng lửa đốt trại, đâm chết nhất ban, nhị ban, bắt được ngũ ban trói lại, còn tam ban, tứ ban thì theo đường biển trốn đi. Phúc Phan nghe tin báo, tức thì sai binh thuyền ra Côn Lôn, thu hết của cải bắt được dâng nộp. Chúa trọng thưởng người Chà Và và tướng sĩ theo thứ bực. Tên ngũ ban thì đóng gông giải đi, chết ở dọc đường”.(6)

Thời đó, Côn Đảo thường là nơi lui tới của bọn hải tặc. Để khẳng định chủ quyền của mình trên đảo này, chúa Nguyễn Phúc Chu ra lệnh cho Trấn thủ Trấn Biên Trương Phúc Phan (người Quảng Bình) đánh đuổi quân Anh ra khỏi đảo. Từ đó trở về sau, thực dân Anh mặc dù ở gần đó (thống trị Ma-lai-xi-a), nhưng không dám bén mảng vì đất này đã có chủ.

Dưới thời Chúa Nguyễn Phúc Chu còn diễn ra nhiều sự kiện quan trọng gắn liền với cương vực nước ta. Tháng Tám năm Mậu Tý, 1708, Mạc Cửu dâng nộp mảnh đất Hà Tiên mà ông đã có công khai phá cho chúa Nguyễn và ông được chúa Nguyễn trọng dụng, phong cho ông làm Tổng binh Trấn Hà Tiên. Mùa hạ, tháng 4 năm Tân Mão, 1711, Tổng binh Trấn Hà Tiên Mạc Cửu đến cửa Chúa tạ ơn và được Chúa Nguyễn Phúc Nguyên hậu thưởng. Cùng mùa hạ năm đó, Chúa Nguyễn Phúc Nguyên sai cho lính ra đảo Trường Sa đo đạc, vẽ bản đồ.(7)

Rõ ràng, từ chúa Nguyễn Phúc Nguyên, đặc biệt dưới thời chúa Nguyễn Phúc Chu, tầm nhìn hướng biển mang tính chiến lược có sự phát triển liên tục, từ chiếm hữu đến khẳng định chủ quyền đất nước trên các đảo gần bờ và đặc biệt là hai quần đảo ngoài khơi xa Hoàng Sa và Trường Sa. Tầm nhìn hướng biển đó vẫn được tiếp tục dưới thời các chúa Nguyễn tiếp theo và đặc biệt được nâng cấp khi thành lập Vương triều Nguyễn năm 1802, bắt đầu từ Gia Long và tiếp nối mạnh mẽ hơn dưới thời vua Minh Mạng.

(Xem tiếp số sau)

—————

(1), (2). Lê Quý Đôn. Phủ biên tạp lục. Quyển hai. Bản dịch của Lê Xuân Giáo, tủ sách cổ văn, Ủy ban dịch thuật, Sài Gòn, 1972, tr.208-212.

(3). Biển và Đảo Việt Nam (Mấy lời hỏi-đáp). NXB Tổng hợp Thành phố Hồ Chí Minh. 212, tr.108.

(4), (5). Đại Nam Thực lục, Tập 1. Nxb Giáo dục, HN, 2002, tr.115.

(6). Đại Nam Thực lục. Sdd, tr.117.

(7). Đại Nam thực lục. Sdd. Tr.122 và 126.

PGS.TS Phạm Xanh
qdnd.vn

Chiến dịch Xuân Lộc mở “cánh cửa thép”

Kỷ niệm 37 năm Ngày Giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước (30-4-1975 / 30-4-2012)

QĐND – Với sức tiến công mạnh mẽ của các binh đoàn chủ lực cơ động chiến lược của Quân giải phóng miền Nam và sự nổi dậy phối hợp kịp thời của nhân dân địa phương, trong mùa Xuân 1975, chúng ta đã lần lượt xóa sổ Quân khu 2 – Quân đoàn 2, Quân khu 1 – Quân đoàn 1 của Chính quyền Việt Nam cộng hòa, giải phóng hoàn toàn địa bàn Tây Nguyên và miền Trung, trong đó có hai tập đoàn phòng ngự mạnh của địch là Huế và Đà Nẵng, đẩy chính quyền và quân đội Sài Gòn vào tình trạng bị động đối phó.

Để ngăn chặn, đẩy lùi, làm chậm tốc độ hành tiến của binh đoàn chủ lực Quân giải phóng, tạo thêm thời gian cho việc điều nghiên, bố trí lực lượng và thế trận phản công giành lại thế chủ động trên chiến trường, dưới sự chỉ đạo của cố vấn Mỹ, quân lực Việt Nam cộng hòa huy động hầu hết lực lượng còn lại kết hợp với các đơn vị thu dung quân thất trận từ Tây Nguyên và miền Trung chạy vào, nhanh chóng thiết lập nên tuyến phòng thủ bảo vệ Sài Gòn – Gia Định, kéo dài từ Phan Rang qua Xuân Lộc đến Tây Ninh, trong đó, Xuân Lộc được xác định là điểm trọng yếu – “cánh cửa thép” phía Đông Sài Gòn.

Xuân Lộc là một vị trí chiến lược trọng yếu trên chiến trường Bà Rịa – Long Khánh, cách Sài Gòn 80km theo hướng Đông, án ngữ Quốc lộ 1 và 20 – những tuyến cơ động chủ yếu vào Sài Gòn. Chính diện tuyến phòng ngự Xuân Lộc khoảng 40km, kéo dài từ Túc Trưng qua Dầu Giây, thị xã Long Khánh đến ngã ba Tân Phong. Nơi đây có nhiều núi cao, rừng già che phủ, địa thế rất hiểm yếu cho hoạt động quân sự: “Tiến có thế công, thoái có thế thủ”. Cũng cần nhớ thêm rằng, tại khu vực Xuân Lộc – Long Khánh, dưới thời Pháp thuộc, cùng với việc đầu tư vốn vào các đồn điền cao su để thu lợi, chúng đã thiết lập một hệ thống đồn bốt phòng thủ rất vững chắc không chỉ để bảo vệ nguồn lợi tại chỗ mà còn nhằm để bảo vệ hậu cứ chiến lược Sài Gòn – Chợ Lớn – Gia Định từ xa.

Quân giải phóng phát triển tiến công đánh chiếm Sở chỉ huy sư đoàn 18 ngụy trong Chiến dịch Xuân Lộc tháng 4-1975. Ảnh tư liệu.

Với lực lượng gồm sư đoàn 18 bộ binh, 1 trung đoàn thiết giáp (100 xe), 1 liên đoàn biệt động quân, 9 tiểu đoàn bảo an, 2 tiểu đoàn pháo binh (42 khẩu), 3 đại đội biệt lập, 4 trung đội pháo và các lực lượng cảnh sát, dân vệ, nghĩa quân tại chỗ (tương đương 2 sư đoàn bộ binh)…, theo chỉ đạo trực tiếp của tướng Uây-en – Tham mưu trưởng Lục quân Mỹ và tướng Cao Văn Viên – Tổng Tham mưu trưởng quân đội Việt Nam cộng hòa, một thế trận phòng thủ đã được nhanh chóng thiết lập.

Tất thảy những diễn biến tư tưởng của những người đang đứng bên kia chiến tuyến đều đặt hy vọng cuối cùng vào Xuân Lộc. Bởi, giá trị của Xuân Lộc không chỉ đơn thuần là ở địa thế chiến lược đối với phần đất còn lại của chính quyền Việt Nam cộng hòa, mà quan trọng nữa chính là sư đoàn 18 – một biểu tượng sức mạnh còn lại – con “át chủ bài” canh giữ cửa “cấm thành” Sài Gòn – Gia định của chúng. Và với ta, Xuân Lộc đã thực sự là vấn đề chiến lược liên quan trực tiếp đến thời gian, tốc độ của những chiến dịch kế tiếp trong cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân 1975, mà trực tiếp nhất là Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử.

Nhạy bén nắm bắt diễn biến mau lẹ của tình hình chiến trường, quán triệt chỉ thị của Bộ Chính trị và Quân ủy Trung ương: “… Một mặt cần cơ động lực lượng nhanh chóng, thần tốc, mặt khác sử dụng ngay lực lượng hiện có để kịp thời hành động, không chờ đợi lực lượng đông đủ mới làm ăn”, Bộ tư lệnh Miền quyết định sử dụng Quân đoàn 4 (Binh đoàn Cửu Long), mở chiến dịch tiến công Xuân Lộc, nhằm: Tiêu diệt sư đoàn 18, phá thế phòng thủ bảo vệ Sài Gòn từ xa của quân đội Sài Gòn; cắt giao thông, tạo thế và mở đường cho chiến dịch tiến công giải phóng Sài Gòn – Gia Định.

Quân đoàn 4 là đơn vị chủ lực của chính đất miền Đông Nam Bộ, nên sau khi nhận được mệnh lệnh chiến đấu, việc tập kết lực lượng và triển khai thế trận tiến công diễn ra thuận lợi; duy chỉ có kế hoạch cơ động pháo vào gần để bắn thẳng chi viện trực tiếp cho bộ binh xung phong là rất khó khăn, bởi hầu hết các điểm cao khống chế khu vực địa bàn chiến dịch đã hoàn toàn do địch chiếm giữ. Tuy nhiên, sau khi cân nhắc, bàn thảo, Bộ tư lệnh chiến dịch vẫn quyết định chọn phương án tiến công chính diện vào đội hình phòng ngự của địch ở thị xã Long Khánh.

Đúng như kế hoạch hiệp đồng, sáng 9 tháng 4, với đợt hỏa lực chuẩn bị bắn cấp tập vào những mục tiêu trọng yếu trong thị xã, chiến dịch tiến công Xuân Lộc chính thức mở màn. Tuy bị địch dồn sức chống trả quyết liệt các hướng, mũi tiến công và gây cho ta những tổn thất nhất định, nhưng kết thúc ngày đầu chiến dịch, ta đã đánh chiếm được toàn bộ khu hành chính, cơ bản làm chủ được một nửa thị xã, đưa được 3 tiểu đoàn vào ém sát các mục tiêu trong lòng địch.

Chiến sự ở Xuân Lộc – Long Khánh diễn ra ngày càng thêm ác liệt và đã gây tổn thất lớn cho cả ta và địch. Quyết “tử thủ” Xuân Lộc, ngày 12-4, Bộ Tổng tham mưu quân đội Sài Gòn quyết định tăng cường lực lượng, vũ khí và phương tiện chiến tranh cho Xuân Lộc: Đổ lữ đoàn 1 dù xuống chốt tại ngã ba Tân Phong; đồng thời, nhanh chóng bố trí lại thế trận phòng thủ ở thị xã: Đưa lữ đoàn 3 thủy quân lục chiến, chiến đoàn 318 biệt động quân đến chốt giữ Trảng Bom, chiến đoàn 322 biệt động quân đến chốt ở Bàu Cá và điểm cao 122; đưa trung đoàn 8, sư đoàn 5 từ Lai Khê sang tăng cường cho Bàu Cá; lệnh cho các sân bay Biên Hòa, Tân Sơn Nhất tập trung 80 lần chiếc máy bay chiến đấu mỗi ngày trực tiếp chi viện cho các mũi phản kích. Chỉ sau thời gian ngắn, lực lượng địch ở Xuân Lộc – Long Khánh đã gia tăng đột biến: Chiếm 50% bộ binh, 60% pháo binh, hầu hết số lượng xe tăng thiết giáp của Quân đoàn 3 – Quân khu 3 và lực lượng tổng dự bị chiến lược của quân đội Sài Gòn.

Vậy là, tương quan lực lượng giữa ta và địch ở Xuân Lộc đã thay đổi lớn, đẩy cuộc chiến vào tình thế hết sức cam go, ác liệt. Tuy đã chiếm được một số mục tiêu quan trọng, tiêu hao được một phần lực lượng và phương tiện chiến tranh của địch, giữ được địa bàn đứng chân trong lòng địch, nhưng ta cũng bị tổn thất rất nghiêm trọng. Phương án tiến công chính diện đã không mang lại kết quả như mong muốn, ngày 13-4, Bộ chỉ huy chiến dịch buộc phải tạm thời ngừng tiến công, lệnh cho mỗi sư đoàn chỉ để một bộ phận lực lượng ở lại kiềm chế, nghi binh địch, còn đại bộ phận nhanh chóng rút về tuyến sau để củng cố lực lượng, chuẩn bị thực hiện phương án tác chiến mới.

Thấy bộ đội ta rút khỏi thị xã, chỉ huy quân địch cho rằng, sức mạnh và ý chí tiến công của “Việt Cộng” đã bị đè bẹp, sức chiến đấu của chúng đã được phục hồi, niềm hy vọng vào khả năng giữ được chế độ lại chợt “lóe” lên trong tâm tưởng của giới cầm quyền chóp bu chính phủ và quân đội Sài Gòn. Nhưng rồi chỉ 2 ngày sau đó – rạng sáng 15-4, khi hỏa lực pháo binh chiến dịch tiến hành tập kích mãnh liệt vào sân bay Biên Hòa, Sư đoàn 6 có sự tăng cường của Trung đoàn 95B đã tiến công diệt chiến đoàn 52, 1 tiểu đoàn pháo, 1 chi đoàn thiết giáp, chiếm giữ chi khu Gia Kiệm, ngã ba Dầu Giây, cắt đứt Quốc lộ 1 (đoạn Xuân Lộc đến Bàu Cá) và đường 20 (đoạn Túc Trưng đến ngã ba Dầu Giây), tạo thế bao vây, cô lập hoàn toàn thị xã Long Khánh – khu vực trọng yếu trên tuyến phòng thủ Xuân Lộc của địch.

Trước hiểm họa tồn vong của chế độ như “ngàn cân treo trên sợi tóc”, từ ngày 16-4, Bộ Tổng tham mưu quân đội Sài Gòn khẩn cấp đưa lữ đoàn 3 thiết giáp, trung đoàn 8, Sư đoàn 5; huy động hơn 100 khẩu pháo cỡ lớn ở các căn cứ Nước Trong, Hốc Bà Thức, Long Bình, Đại An và 125 lần chiếc máy bay chiến đấu chi viện mỗi ngày, mở cuộc phản kích quy mô lớn, quyết chiếm lại Dầu Giây. Và, Dầu Giây bỗng chốc trở thành điểm quyết chiến khốc liệt nhất trong cuộc đọ sức giữa ta và địch tại Xuân Lộc. Tổn thất của cả hai bên tiếp tục tăng lên mỗi ngày, song bộ đội ta vẫn kiên cường chiến đấu giữ vững mục tiêu. Cùng thời gian này, Sư đoàn 7 và Sư đoàn 341 tiếp tục tiến công, đánh bại các chiến đoàn 43 và 48, tiêu hao nặng lữ đoàn 1 dù của địch; Sư đoàn 6 và Trung đoàn 95B tiến công Hưng Nghĩa và điểm cao 122, đẩy quân địch xuống Bàu Cá. Phối hợp chặt chẽ với đòn tiến công của chủ lực, bộ đội địa phương và du kích nhanh chóng tiêu diệt, bức hàng, bức rút hệ thống đồn bốt địch ở dọc các trục giao thông bao quanh thị xã.

Khi chiến sự ở Xuân Lộc còn đang diễn ra trong thế giằng co, thì Cánh quân duyên hải, nòng cốt là Binh đoàn Hương Giang sau khi đập tan “lá chắn Phan Rang”, giải phóng Phan Thiết, Hàm Tân đã tiến vào khu vực Rừng Lá. Sức mạnh của một binh đoàn chiến lược thọc sâu vừa đánh tan những tập đoàn cứ điểm phòng thủ mạnh nhất của quân đội Sài Gòn ở Huế, Đà Nẵng, rồi Phan Rang như được nhân lên gấp bội, không chỉ góp phần cô lập trực tiếp đối với quân địch ở Xuân Lộc, mà còn tạo sức ép mạnh đối với toàn bộ quân địch còn lại ở miền Nam. Nhận thấy không thể đủ sức giành lại Dầu Giây – chiếc “then” của “cánh cửa thép” không còn, Bộ Tổng tham mưu quân đội Sài Gòn xuống lệnh rút khỏi Xuân Lộc để bảo toàn lực lượng. Theo đó, vào lúc 22 giờ ngày 20-4, lợi dụng lúc trời mưa lớn, theo tỉnh lộ 2, toàn bộ quân địch ở Xuân Lộc đã tháo chạy về hướng Bà Rịa – Vũng Tàu. Nhưng do chủ quan, mất cảnh giác, chậm phát hiện được hành động của địch, nên ta chỉ kịp chặn đánh được bộ phận rút quân sau cùng của chúng.

Ngày 21-4-1975, Chiến dịch tiến công Xuân Lộc kết thúc thắng lợi, thị xã Long Khánh được hoàn toàn giải phóng. “Cánh cửa thép” phía Đông Sài Gòn – Gia Định đã mở toang. Thừa thắng, quân và dân các địa phương đã tiến công và nổi dậy giải phóng hoàn toàn tỉnh Long Khánh.

Sự kiện Xuân Lộc diễn ra cách nay đã 37 năm và đã có nhiều cuốn sách và công trình khoa học nghiên cứu, giải trình dưới những góc độ, cách nhìn nhận khác nhau; song điều khẳng định là, việc chọn địa bàn và thời điểm mở chiến dịch tiến công Xuân Lộc – Long Khánh là hoàn toàn đúng đắn, cần thiết và rất kịp thời trong thời điểm lịch sử chuyển biến hết sức mau lẹ của cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân 1975. Giá trị của chiến thắng Xuân Lộc không chỉ dừng lại ở chỗ mở thông cửa ngõ phía Đông cho các binh đoàn cơ động chiến lược Quân giải phóng miền Nam tiến vào Sài Gòn, tạo chấn động mạnh đến cả hệ thống phòng thủ nhiều tầng, nhiều lớp bao quanh cơ quan đầu não của chính quyền và quân đội Sài Gòn cũng như những phần đất còn lại của chúng; mà hơn thế, thắng lợi này đã tạo nên một địa bàn hội quân, tập kết lực lượng – bàn đạp xuất phát tiến công của Cánh quân hướng Đông – một trong 5 mũi chủ lực cơ động của đội hình chiến dịch mang tên Bác Hồ kính yêu tiến vào giải phóng Sài Gòn – Gia Định. Cần phải nói thêm rằng, chiến công cùng những tổn thất xương máu cần thiết, những bài học kinh nghiệm thành công và chưa thành công được rút ra từ Xuân Lộc thực sự cũng là động lực hối thúc toàn thể cán bộ, chiến sĩ Cánh quân hướng Đông có thêm sức mạnh và ý chí quyết chiến quyết thắng khi bước vào cuộc tiến công chiến lược cuối cùng, giải phóng thành phố Sài Gòn – Gia Định. Chỉ với những nét khái quát như vậy cũng đủ khẳng định rằng: Chiến dịch tiến công Xuân Lộc (từ 9 đến 21-4-1975) thực sự là bước đà trực tiếp, hữu hiệu cho Cánh quân hướng Đông nói riêng, cho Chiến dịch Hồ Chí Minh (từ 26 đến 30-4-1975), giải phóng Sài Gòn – Gia Định, kết thúc thắng lợi sự nghiệp kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của dân tộc Việt Nam nói chung.

Đại tá Nguyễn Huy Thục
qdnd.vn

Chiến dịch Thượng Lào – Một biểu tượng của liên minh chiến đấu Việt – Lào (Bài 2)

Nhân Năm hữu nghị Việt-Lào

QĐND – Trên hướng đường số 7, ngày 17-4, một bộ phận lực lượng Đoàn 81 quân tình nguyện và Đội vũ trang Pat Chay Lào phối hợp với hai Trung đoàn 66 và 9 (Đại đoàn 304) tiến công tiêu diệt đồn Noọng Hét, tiếp đó đánh địch ở Bản Ban, buộc chúng phải rút chạy về phía Khang Khay. Được tin, một bộ phận lực lượng Đại đoàn 304 đánh chặn địch ở gần Bản Sao, gây cho chúng một số thiệt hại, bọn địch còn lại buộc phải rút về Cánh Đồng Chum. Tỉnh Hủa Phăn và vùng lân cận được hoàn toàn giải phóng.

Nhân dân Lào thăm hỏi và tặng quà bộ đội tình nguyện Việt Nam sau chiến thắng Thượng Lào năm 1953. Ảnh tư liệu

Ở hướng nam đường số 7, hai tiểu đoàn thuộc Đại đoàn 312 phối hợp với một đơn vị Bạn truy kích địch về Sầm Tớ. Hoảng sợ trước sức tiến công của Liên quân Việt-Lào, quân địch đóng giữ ở Mường Sồi, Bản Phiềng và Sầm Tớ lần lượt rút chạy. Ngày 18-4, các đơn vị thuộc Đoàn 81 và bộ đội địa phương Mường Mộc, du kích Xảm Chè phối hợp với Trung đoàn 57 (Đại đoàn 304) vượt qua Then Phun tiến áp sát thị xã Xiêng Khoảng. Trước khí thế tiến công của Liên quân Việt-Lào, lực lượng địch ở đây hoảng sợ rút chạy về co cụm ở Cánh Đồng Chum. Quân địch đóng ở các vị trí Mường Ngạ, Mường Ngạn hoảng sợ cũng lần lượt rút chạy về Tha Thơm, Tha Viêng. Phát huy thắng lợi, một đơn vị Bạn do đồng chí Thao Tu chỉ huy tiến về phía đường số 7, kiểm soát đoạn đường dài từ biên giới Việt-Lào đến Xiêng Khoảng.

Trước nguy cơ Cánh Đồng Chum bị Liên quân Việt-Lào tiến công, Bộ chỉ huy Pháp vội điều động một số tiểu đoàn từ Nà Sản, kể cả lực lượng từ đồng bằng Bắc Bộ (Việt Nam) sang hỗ trợ, xây dựng Cánh Đồng Chum thành tập đoàn cứ điểm mạnh, cố giữ bằng được vị trí chiến lược quan trọng này.

Như vậy, sau hơn một tuần thực hiện cuộc truy kích quân địch rút chạy trên chặng đường 270km, từ Sầm Nưa về Cánh Đồng Chum, Liên quân Việt-Lào đã loại khỏi vòng chiến đấu hơn 1.500 tên địch, diệt và bức rút hàng loạt cứ điểm dọc đường từ Mường Pơn, Hủa Mường…, chỉ có hàng trăm tên địch chạy thoát về Cánh Đồng Chum.

Phát huy thắng lợi trên hướng Sầm Nưa – đường số 7 – Xiêng Khoảng, Bộ chỉ huy chiến dịch ra lệnh cho các đơn vị trên hướng sông Nậm U (hướng phối hợp) tích cực đánh địch. Ngày 21-4, Trung đoàn 148, Đoàn 82 quân tình nguyện phối hợp với đơn vị Quân đội Pa-thét Lào và du kích đẩy mạnh hoạt động, trong đó diệt một đại đội địch ở Mường Ngòi, thu nhiều vũ khí. Quân địch đóng ở Nậm Bạc hoảng sợ bỏ chạy về Pạc U. Ngày 26-4, Trung đoàn 98 và 148 tổ chức lực lượng tiến công cứ điểm Pắc Seng, loại khỏi vòng chiến đấu gần 100 tên địch, thu một số vũ khí, quân trang, quân dụng. Tiếp đó, một bộ phận chủ lực và quân tình nguyện tiến công diệt địch ở Bản Vẽ.

Cuối tháng 4 năm 1953, các đại đoàn chủ lực cùng quân tình nguyện và lực lượng vũ trang Bạn tiếp tục truy kích đánh địch rút chạy từ khu vực sông Nậm U về Luông Phra-băng, uy hiếp kinh đô nước Lào. Phát hiện Liên quân Việt-Lào tiến xuống Luông Phra-băng, tướng Xa-lăng gấp rút điều động hai tiểu đoàn cơ động thuộc binh đoàn cơ động số 1 (GM1) từ Nà Sản sang, tổ chức thành tập đoàn cứ điểm bảo vệ Luông Phra-băng. Cuộc truy kích quân địch rút chạy và tiến công các vị trí địch của Liên quân Việt-Lào kéo dài đến ngày 18-5-1953 thì kết thúc với trận tiến công cụm cứ điểm Mường Khoa, diệt và bắt gần 300 tên địch. Kết quả toàn chiến dịch, Liên quân Việt-Lào đã diệt và bắt gần 2.800 tên địch, giải phóng tỉnh Hủa Phăn, phần lớn tỉnh Xiêng Khoảng và một số huyện của tỉnh Phông-xa-lỳ với 30 vạn dân, mở rộng căn cứ kháng chiến Lào, nối liền với vùng Tây Bắc Việt Nam.

Đây là chiến dịch Liên quân Việt-Lào thực hành vận động truy kích quân địch rút chạy dài ngày lớn nhất kể từ đầu cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược. Thành công của chiến dịch là ta và Bạn chủ động và kịp thời tạo yếu tố thắng lợi từ quá trình chuẩn bị đến khi thực hành chiến dịch. Trên hướng Sầm Nưa (hướng chủ yếu), bộ đội ta và Bạn đã hoàn thành nhiệm vụ chiến dịch trong điều kiện chưa được chuẩn bị đầy đủ trước, lúc đầu mục tiêu chủ yếu là đánh tập đoàn cứ điểm Sầm Nưa, song khi ta tiếp cận mục tiêu thì địch vội rút quân để tránh đòn tiến công lớn của ta và Bạn. Trước tình hình đó, Bộ chỉ huy chiến dịch đã kịp chuyển từ cách đánh công kiên sang đánh vận động truy kích địch đường dài (270km) trên chiến trường rừng núi hiểm trở, gây cho địch nhiều thiệt hại. Đồng thời, đẩy mạnh tiến công tiêu diệt các đồn, bốt và vị trí địch trên hướng Xiêng Khoảng (hướng thứ yếu) và hướng sông Nậm Hu (hướng phối hợp) giành thắng lợi.

Đánh giá về thắng lợi của sự phối hợp chiến đấu giữa quân đội hai nước trong chiến dịch Thượng Lào, tại Hội nghị tổng kết chiến dịch Thượng Lào (2 đến 3-5-1953), Đại tướng Võ Nguyên Giáp nêu rõ: “Thắng lợi này là thắng lợi đầu tiên của quân đội nhân dân ta, của bộ đội chủ lực ta trong quá trình phối hợp chiến đấu với quân đội và nhân dân nước bạn, thực hiện nhiệm vụ quốc tế của Đảng ta, của nhân dân ta đối với cách mạng Pa-thét Lào. Đó cũng là thắng lợi lớn nhất của nhân dân và quân đội Pa-thét Lào kể từ ngày bắt đầu kháng chiến đến nay”(1). Trong diễn văn đọc tại lễ mừng chiến thắng Thượng Lào tổ chức tại thị xã Sầm Nưa (19-5-1953), Hoàng thân Xu-pha-nu-vông khen ngợi: “Bộ đội chủ lực và Quân tình nguyện Việt Nam sát cánh với Quân đội Lào Ít-xa-la, đã chiến đấu dũng cảm, có kỷ luật rất nghiêm và tinh thần quốc tế cao… Thay mặt Chính phủ và nhân dân Lào, xin tỏ lòng hoan nghênh và biết ơn sự giúp đỡ to lớn của nhân dân và quân đội Việt Nam đối với công cuộc giải phóng Lào”(2).

Thắng lợi của chiến dịch Thượng Lào đánh dấu bước phát triển mới của tình đoàn kết chiến đấu đặc biệt giữa quân đội hai nước Việt-Lào. Lần đầu tiên sự phối hợp chiến đấu giữa quân đội hai nước trong một chiến dịch lớn đã giành thắng lợi vẻ vang, tạo tiền đề cho sự phối hợp chiến đấu giữa quân đội và nhân dân hai nước ngày càng chặt chẽ và giành thắng lợi to lớn hơn. Với thắng lợi của chiến dịch Thượng Lào, quân và dân Lào có điều kiện thuận lợi xây dựng, phát triển Sầm Nưa trở thành trung tâm căn cứ địa Trung ương, hậu phương kháng chiến của cả nước Lào, nối thông với nhiều vùng tự do của Việt Nam. Thế phối hợp tác chiến giữa quân đội hai nước trên chiến trường Thượng Lào và Bắc Đông Dương có điều kiện phát triển thuận lợi, góp phần đưa cuộc kháng chiến của quân và dân hai nước giành thắng lợi to lớn trong Chiến cuộc Đông-Xuân 1953-1954, mà đỉnh cao là chiến dịch Điện Biên Phủ, tiến tới kết thúc cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp của nhân dân ba nước Đông Dương.

Đại tá, TS Dương Đình Lập
qdnd.vn


1. Lịch sử quan hệ đặc biệt Việt Nam-Lào, Lào-Việt Nam (1930-2007), Nxb CTQG, H, 2011, tr.260.

2. Lịch sử quân tình nguyện Việt Nam trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp tại Lào (1945-1954), Nxb QĐND, H, 2002, tr.283-284.

Chiến dịch Thượng Lào – Một biểu tượng của liên minh chiến đấu Việt – Lào (Bài 1)

Nhân Năm hữu nghị Việt-Lào

QĐND – Trong lúc các Đại đoàn chủ lực 308, 312, 316, 304 và Trung đoàn bộ binh 148 chuẩn bị hành quân sang chiến trường Thượng Lào, ngày 3-4-1953, Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi thư động viên cán bộ, chiến sĩ tham gia chiến dịch. Bác căn dặn: “Lần này là lần đầu tiên, các chú nhận một nhiệm vụ quan trọng và vẻ vang như nhiệm vụ này, tức là giúp nhân dân nước Bạn. Mà giúp nhân dân nước Bạn tức là mình tự giúp mình”(1).

Thấm nhuần lời căn dặn thiêng liêng của Chủ tịch Hồ Chí Minh, ngày 8-4-1953, các đại đoàn chủ lực Việt Nam nhận lệnh hành quân sang chiến trường Thượng Lào theo ba cánh: Cánh chủ yếu gồm các Đại đoàn bộ binh 308, 312 (2 trung đoàn), 316 (1 trung đoàn), từ Mộc Châu theo đường 6 hành quân lên biên giới Việt-Lào sang Sầm Nưa. Đại tướng Võ Nguyên Giáp và Hoàng thân Xu-pha-nu-vông cùng đi với các đại đoàn ở cánh chủ yếu sang Lào. Cánh thứ hai gồm Đại đoàn Bộ binh 304, từ Nghệ An theo đường số 7 tiến sang Xiêng Khoảng. Cùng đi theo cánh này về phía Lào có đồng chí Phu-mi Vông-vi-chít. Cánh thứ ba gồm Trung đoàn bộ binh 148, từ Điện Biên tiến vào lưu vực sông Nậm U. Trên cơ sở phương án tác chiến chiến dịch, các đơn vị của Việt Nam và Lào tham gia chiến dịch được giao nhiệm vụ tiến công theo ba hướng:

Lễ kết nghĩa bộ đội Việt Nam và bộ đội Pa-thét Lào trong Chiến dịch Thượng Lào năm 1953. Ảnh tư liệu.

Trên hướng Sầm Nưa (hướng chủ yếu), phía Việt Nam có các Đại đoàn bộ binh 308, 312 (2 trung đoàn), 316 (1 trung đoàn), có nhiệm vụ đánh tập đoàn cứ điểm Sầm Nưa và Đoàn 80 quân tình nguyện Việt Nam (2 đại đội tập trung, 4 đại đội độc lập, 4 trung đội vũ trang tuyên truyền). Phía Lào có khoảng 500 bộ đội địa phương, trong đó có một đại đội tập trung của tỉnh Hủa Phăn và lực lượng dân quân du kích các huyện Xiềng Khọ, Mường Xon.

Trên hướng Xiêng Khoảng (hướng thứ yếu), phía Việt Nam có Đại đoàn bộ binh 304, có nhiệm vụ đánh vào thị xã Xiêng Khoảng và Đoàn 81 quân tình nguyện Việt Nam (gồm 1 đại đội tập trung, 4 đại đội độc lập, 1 trung đội vũ trang tuyên truyền). Phía Lào có khoảng 400 bộ đội địa phương và 1.400 dân quân du kích Mường Mộc và Bản Thín.

Trên hướng khu vực sông Nậm U thuộc tỉnh Luổng Phạ-bang (hướng phối hợp), có Trung đoàn bộ binh 148 (Quân khu Tây Bắc) và Đoàn 82 quân tình nguyện Việt Nam (4 đại đội độc lập). Phía Lào có 1 đại đội tập trung, 5 trung đội bộ đội địa phương và 300 du kích huyện Mường Ngòi.

Trong quá trình các đại đoàn chủ lực Việt Nam chia làm ba cánh hành quân từ Việt Nam sang chiến trường Thượng Lào, địch phát hiện lực lượng ta từ các ngả đang tiến về phía Sầm Nưa. Ngay sau khi nhận được báo cáo của Trung tá Man-phát-tơ, chỉ huy Phân khu Sầm Nưa, trưa 12-4-1953, Tướng Xa-lăng liền ra lệnh rút toàn bộ lực lượng khỏi Sầm Nưa hòng tránh bị tiêu diệt khi ta tiến công. Đêm 12-4, toàn bộ lực lượng địch gồm khoảng 1.900 quân lần lượt rút khỏi thị xã Sầm Nưa và đến trưa 13-4 thì rút hết về phía Mường Hàm.

Như vậy, tình huống chiến dịch đã thay đổi. Ta dự định tổ chức đánh quân địch trong công sự vững chắc ở Sầm Nưa, nhưng địch đã rút chạy trước khi ta đến. Trước tình hình đó, Bộ chỉ huy chiến dịch nhận định: Tinh thần địch mệt mỏi, sút kém, đường rút lui dài, chúng lại thoát ly khỏi công sự nên ta có điều kiện tiêu diệt. Vì vậy, nhiệm vụ trọng tâm là phải truy kích thật nhanh, tiêu diệt toàn bộ quân địch rút chạy.

Không bỏ lỡ thời cơ, Bộ chỉ huy chiến dịch ra lệnh cho các đại đoàn chuyển sang truy kích quân địch rút chạy. Cuộc truy kích địch bắt đầu từ ngày 13-4 và diễn ra trên chặng đường dài, từ Sầm Nưa đến đường số 7, Bản Ban và Lát Bua. Mặc dù vừa trải qua chặng đường hành quân hơn 300km còn mệt, nhưng khi nhận được mệnh lệnh, các Đại đoàn 308, 312, 316 nhanh chóng tổ chức 4 tiểu đoàn (888, 23, 79, 166) và hai đại đội trang bị gọn nhẹ bám đuổi, truy kích địch. Những đơn vị còn lại của các đại đoàn cùng Bạn tiến vào chiếm thị xã Sầm Nưa và các vị trí xung quanh, đồng thời chuẩn bị lực lượng truy kích địch trên các hướng. Do công tác tổ chức chậm, một số đơn vị ta xuất phát truy kích chậm hơn bộ phận rút lui cuối cùng của địch 8 giờ. Đêm 13-4, Tiểu đoàn 888 (Đại đoàn 316) và quân tình nguyện truy kích kịp địch ở Mường Hàm, cách Sầm Nưa 30km. Tiểu đoàn triển khai chiến đấu, bắt toàn bộ ngụy quyền tỉnh Hủa Phăn và 40 lính dõng. Đây là trận đánh giành thắng lợi đầu tiên của bộ đội ta trong chiến dịch này.

Ngày 15-4, Trung đoàn 98 (Đại đoàn 316) tổ chức truy kích gặp cơ quan chỉ huy Phân khu Sầm Nưa, một đơn vị lính lê dương và tàn quân của tiểu đoàn biệt kích ngụy Lào thứ 8 ở Nà Noọng. Bằng cách tiến công dồn dập từ ba hướng, bộ đội ta đã diệt và bắt hơn 200 tên địch. Bọn địch còn lại khoảng 200 tên rút chạy về khu vực Cánh Đồng Chum-Xiêng Khoảng. Trong khi đó, Đại đội 216 (Đoàn 81) quân tình nguyện hoạt động ở phía bắc thị trấn Bản Ban (thuộc huyện Mường Khăm, tỉnh Xiêng Khoảng), tuy chưa biết tin địch bỏ chạy khỏi Sầm Nưa, nhưng thấy chúng hoảng hốt chạy qua, đã tập hợp đơn vị nổ súng tiến công địch, loại khỏi vòng chiến đấu hàng chục tên; sau đó bao vây một toán địch khác, gọi hàng hơn 100 tên, thu 70 súng các loại.

Cuộc truy kích quân địch rút chạy của Liên quân Việt-Lào tiếp tục diễn ra khẩn trương, quyết liệt. Ngày 17-4, Tiểu đoàn 79 và một bộ phận của Tiểu đoàn 66 thuộc Trung đoàn 102 (Đại đoàn 308) truy đuổi kịp địch khi chúng vừa rời khỏi Húa Mường khoảng 5km về phía Mường Lạp. Lập tức, quân ta tổ chức lực lượng bao vây, chia cắt, nổ súng mãnh liệt vào đội hình chốt chặn của địch, bắt một số sĩ quan Pháp, diệt nhiều địch, trong đó có cả lính Âu-Phi. Bọn địch còn lại khoảng 200 tên rút chạy về Mường Lạp, Tam La (cách Sầm Nưa 135km), sau đó chúng rút về khu vực Cánh Đồng Chum-Xiêng Khoảng cố thủ.

Quân địch ở Sầm Nưa rút chạy đến đâu kéo theo binh lính địch trấn giữ ở các đồn, bốt và hệ thống chính quyền do chúng dựng lên ở các địa phương hoang mang, dao động. Tại các khu vực Sầm Tớ, Mường Xôi, Hứa Mường thuộc tỉnh Hủa Phăn, quân địch hoảng sợ rút chạy. Chớp thời cơ, Đoàn 80 quân tình nguyện phối hợp với bộ đội địa phương và du kích Bạn truy kích, gây cho địch thiệt hại nặng. (Còn nữa).

Đại tá, TS Dương Đình Lập
qdnd.vn

(1). Hồ Chí Minh toàn tập, tập 7, Nxb CTQG, H, 1996, tr.64.

Những kiểu “làm giàu” của sĩ quan Quân đội Sài Gòn

QĐNDTrong những năm đầu thập niên 1970, Quân đội Sài Gòn từng lan truyền câu nói: “Nhất Trí, nhì Quang, tam Lan, tứ Quảng” nhằm đồn thổi về mức độ giàu có của các viên tướng: Đỗ Cao Trí, Đặng Văn Quang, Lữ Lan và Đoàn Văn Quảng. Chưa rõ thực hư về số tài sản của các viên tướng trên, song qua lời kể của các sĩ quan chế độ cũ – từng học tập, cải tạo ở Trại cải huấn của ta – thì phần đông sĩ quan Quân đội Sài Gòn từ cấp đại đội trở lên đều có mức sống khá “sung túc” do biết “kiếm thêm” những khoản thu nhập từ các chức vụ của họ.

Gieo mộng “hưởng thụ” trong sĩ quan trẻ

Sĩ quan Quân đội Sài Gòn có hai loại ngạch là hiện dịch và trù bị. Sĩ quan hiện dịch là đối tượng lấy quân đội làm nghề nghiệp suốt đời, được thăng cấp nhanh và ưu tiên sắp xếp những vị trí quan trọng, đến tuổi giải ngũ được hưởng lương hưu. Còn sĩ quan trù bị là những đối tượng có lệnh Tổng động viên vào phục vụ quân đội trong thời hạn 4 năm. Sau 2 năm, sĩ quan ngạch trù bị được xét chuyển sang ngạch hiện dịch với điều kiện sức khỏe tốt và sau 6 tháng không vi phạm kỷ luật. Trên thực tế, sau 4 năm, chính quyền Sài Gòn không hề giải ngũ cho số sĩ quan trù bị mà chỉ xem xét trong những trường hợp đặc biệt.

Theo Luật “Tổng động viên” của chính quyền Sài Gòn, tuổi quân dịch của nam thanh niên là 18 và thành phần được xếp vào hàng ngũ sĩ quan là những thanh niên đã có bằng tú tài. Người có bằng tú tài nếu không tình nguyện vào học 4 năm tại Trường Võ bị Quốc gia Đà Lạt (ra trường được phong hàm Thiếu úy hiện dịch) thì sẽ bị gọi trình diện và vào học 8 tháng tại Trường bộ binh Thủ Đức (ra trường được phong hàm sĩ quan trù bị, cấp bậc Chuẩn úy). Đa số sĩ quan hiện dịch xuất thân từ gia đình các quân nhân, cựu quân nhân hoặc công chức phục vụ trong chính quyền Sài Gòn, ngoài ra còn có những sĩ quan trước đây từng phục vụ trong chế độ thực dân của Pháp; số khác thuộc nhóm hạ sĩ quan được thăng lên sĩ quan. Ngạch sĩ quan trù bị lại bao gồm đủ các thành phần xã hội, trong đó có nhiều người xuất thân từ các gia đình công nhân và nông dân.

Trong bản tường trình viết trong Trại cải huấn ở Yên Bái (tháng 11-1976), Tướng Nguyễn Xuân Trang, người từng giữ chức Phó tổng tham mưu trưởng Quân đội Sài Gòn, cho biết: “Trong các năm 1974-1975, sĩ quan Quân đội Sài Gòn có 40% là sĩ quan hiện dịch, còn lại thuộc ngạch trù bị. Sở dĩ tỷ lệ sĩ quan trù bị cao như vậy là vì số thanh niên thi hành Luật Tổng động viên và vào học tại Trường bộ binh Thủ Đức mỗi năm trung bình lên tới 5000 người, trong khi Trường Võ bị Quốc gia Đà Lạt hằng năm chỉ đào tạo khoảng 200 sĩ quan. Tỷ lệ sĩ quan hiện dịch trong hàng ngũ sĩ quan cấp tướng, tá cũng luôn cao hơn sĩ quan cấp úy”.

Với quan niệm: Trở thành sĩ quan hiện dịch sẽ được hưởng một chế độ lương bổng ưu đãi và nhất là sau này được ưu tiên đảm nhận những chức vụ quan trọng nên đa phần sĩ quan trù bị luôn cố gắng “thể hiện” mình để sớm trở thành sĩ quan hiện dịch. Nắm bắt được động cơ tiến thân của số sĩ quan trẻ, chính quyền Sài Gòn đã tung ra “miếng mồi” hưởng thụ nhằm mua chuộc, động viên họ “chiến đấu tốt” để “chức vụ càng cao, quyền lợi càng tăng”. Chẳng hạn, số sĩ quan là Chỉ huy các đơn vị hoặc giữ chức vụ từ Trưởng phòng trở lên đều có tiêu chuẩn xe riêng; một số người còn được cấp hoặc mua nhà trả góp. Sĩ quan nắm chức Đại đội trưởng sẽ được tiêu chuẩn một binh sĩ cận vệ và giúp việc; chức Tiểu đoàn trưởng có từ 2-3 binh sĩ giúp việc; lên tới cấp tướng thì có tiêu chuẩn một sĩ quan Chánh Văn phòng, một sĩ quan tùy viên và 3 binh sĩ giúp việc. Sĩ quan cấp tướng khi về hưu còn được hưởng tiêu chuẩn 1 sĩ quan và 3 binh sĩ phục vụ. Với chính sách kết hợp giữa quân sự và dân sự, sĩ quan cấp tá còn được chuyển sang giữ các chức vụ hành chính như: Quận trưởng, Tỉnh trưởng, Đô trưởng, Tổng giám đốc, Đổng lý văn phòng… hoặc ra ứng cử các ghế dân biểu, nghị sĩ.

Muôn kiểu “làm giàu” của các tướng, tá

Tướng Lê Minh Đảo, từng giữ chức Tư lệnh Sư đoàn bộ binh 18, đã viết trong bản tường trình trong thời gian học tập ở Trại cải huấn của ta: “Khi Ngô Đình Diệm nắm quyền, lương của quân nhân được trả tương đối cao so với vật giá bên ngoài, do đó gia đình quân nhân có được một cuộc sống ổn định. Thời ấy, Quân đội Sài Gòn đã cấm sĩ quan và gia đình kiếm việc làm thêm để mưu sinh. Nhưng đến thời Nguyễn Văn Thiệu và những năm sau đó, do lạm phát, vật giá leo thang nên đồng lương của sĩ quan không đủ sống, Quân đội lại cho phép quân nhân có thể kiếm việc làm ngoài giờ, đó cũng chính là nguyên nhân phát sinh những thủ đoạn kiếm tiền của sĩ quan và gia đình họ”. Viên tướng một sao này đã tự chia ra những kiểu kiếm tiền của đội ngũ sĩ quan cùng thời là những kiểu kiếm tiền “lương thiện” và “không lương thiện”. Theo đó, khá đông sĩ quan ở các đơn vị đồn trú trong đô thị thường tìm việc làm thêm vào ban đêm để kiếm sống như: Dạy học, lái taxi, chạy xe máy chở khách… còn một số bà vợ của các sĩ quan thì chọn cách buôn bán hoặc hùn vốn làm ăn tùy theo cơ hội. Ngoài ra, có không ít sĩ quan (thường từ cấp úy đến cấp thiếu tá) là những người không nắm chức vụ quan trọng, vợ con không kiếm được công ăn việc làm nên đời sống gia đình cũng không mấy dư giả. Tuy vậy, số này vẫn phải tỏ ra là những gia đình sĩ quan có cuộc sống sung túc và chính Lê Minh Đảo đã từng chua chát gọi họ là những thành phần “bần hàn mạ vàng”.

Tướng Đỗ Cao Trí – nhân vật được đồn thổi là giàu có nhất trong số các tướng lĩnh Quân đội Sài Gòn đầu thập niên 1970.

Với kiểu kiếm tiền mà Lê Minh Đảo cho là “bất lương”, số này thường rơi vào những sĩ quan đảm nhiệm các chức vụ hậu cần và phụ trách hành chính. Những chức vụ ấy đã tạo điều kiện để các sĩ quan – không hẳn ở cấp bậc và chức vụ cao – có thể cấu kết để tham nhũng. Đôi khi một sĩ quan cấp úy hoặc một hạ sĩ quan vẫn có cơ hội làm giàu bất chính, thậm chí giàu hơn hẳn một đại tá hoặc một viên tướng trong Quân đội Sài Gòn.

Trong tài liệu tham khảo “Về cơ sở kinh tế của sĩ quan Quân đội Sài Gòn” do Cục Địch vận (Tổng cục Chính trị) khảo sát năm 1973, các cán bộ địch vận đã tiến hành nghiên cứu đời sống kinh tế của 154 sĩ quan (trong đó có 10 sĩ quan cấp tướng, 135 sĩ quan từ đại úy đến đại tá, 9 sĩ quan từ chuẩn úy đến trung úy) thuộc các chức vụ từ trung đội trưởng đến các chức danh dân sự do sĩ quan đảm nhiệm như: Tỉnh trưởng, Quận trưởng, Nghị sĩ, cán bộ bình định… Tài liệu nghiên cứu cho thấy, tất cả trong số này đều dựa vào chức, quyền để kiếm tiền và có tới… 21 biện pháp để sĩ quan Quân đội Sài Gòn “làm giàu” thông qua những khoản thu nhập bất chính.

Để có được cuộc sống sung túc, các tướng, tá trong Quân đội Sài Gòn còn lợi dụng những mối quan hệ thông qua phe cánh hoặc người thân ở trong và ngoài nước. Có người lợi dụng mối quan hệ với giới tư sản trong nước và tư sản Hoa Kiều; có người dựa vào những phi vụ làm ăn với Mỹ và các nước đồng minh; số khác đứng sau để vợ dựa thế chồng đi buôn… “Kín đáo” hơn, một số sĩ quan chọn cách “bật đèn xanh” hoặc dựa vào đàn em để làm tiền. Đỗ Cao Trí và Lữ Lan – hai trong số bốn viên tướng từng bị đồn thổi trong dư luận: “Nhất Trí, nhì Quang, tam Lan, tứ Quảng” – đã chọn cách này. Lúc còn nắm chức Tư lệnh Quân đoàn 3, Đỗ Cao Trí đã từng đưa tướng Đào Duy Ân vào ghế Phó tư lệnh Quân đoàn và gạt Đỗ Kế Giai khỏi vị trí Tư lệnh Sư đoàn 18 của Quân đoàn 3 bởi Giai là người cạnh tranh trực tiếp với Trí trong việc buôn bán gỗ và da trên địa bàn Vùng 3 chiến thuật. Khi là Tư lệnh Quân đoàn 2, Lữ Lan lại dựa vào “đệ tử” của mình là Đại tá Nguyễn Mộng Hùng (Tỉnh trưởng Bình Định) đứng ra nhận tiền hối lộ từ chỉ huy các đơn vị trên địa bàn Vùng 2 Chiến thuật. Lữ Lan đã thu được hàng chục triệu đồng từ những vụ chia chác để dàn xếp, hình thành phe cánh hơn 10 sĩ quan thân tín. Ngoài ra, trong Quân đội Sài Gòn còn có những viên tướng mang biệt danh gắn với những phi vụ buôn bán như “vua gỗ” Võ Văn Cảnh, “vua quế” Nguyễn Văn Toàn. Khi đang là Tư lệnh Sư đoàn 23, Cảnh từng giàu lên bằng việc bắt lính khai thác gỗ về bán, còn Nguyễn Văn Toàn lại lợi dụng công sức của binh sĩ Sư đoàn 2 để khai thác, buôn bán quế khi viên tướng này đang nắm chức Tư lệnh Sư đoàn 2…

Bản ghi lời kể của các sĩ quan Quân đội Sài Gòn trong thời gian ở Trại cải huấn, năm 1975. Ảnh tư liệu.

Qua số liệu ngẫu nhiên thu thập từ 154 sĩ quan, phần lớn trong số này đều trở nên giàu có bằng cách vừa kết hợp kinh doanh tại gia đình, vừa dựa vào chiến tranh để tham nhũng quỹ viện trợ, phương tiện máy móc của Mỹ và chính quyền Sài Gòn, đồng thời kết hợp tổ chức các vụ buôn bán, áp phe, cắt xén tiêu chuẩn và bắt binh sĩ lao động kiếm tiền. Tư liệu cũng thống kê, trong số 154 sĩ quan có tới 70% trong số này có xe hơi; 83% có biệt thự, nhà riêng và đại đa số đều có tiện nghi sinh hoạt sang trọng, trong đó các chức vụ thấp nhất từ Đại đội trưởng trở lên đều có một đời sống sung túc… Tuy vậy, theo bản tường trình của tướng Văn Thành Cao, từng giữ chức Tổng cục phó Tổng cục Chiến tranh chính trị, từ sau Hiệp định Pa-ri năm 1973, tư tưởng sĩ quan và binh lính Quân đội Sài Gòn đã bắt đầu rệu rã do các cấp chỉ huy bắt đầu chuẩn bị tiền bạc và thu xếp các phương án để rời khỏi miền Nam, phần lớn trong số này đã xác định “không sớm thì muộn, miền Nam sẽ nhanh chóng rơi vào tay cộng sản”.

Thực tế đã chứng minh sự “lo xa” của số đông tướng, tá Quân đội Sài Gòn là sự thật và những kiểu “làm giàu” của họ đã không có cơ hội được “phát huy” sau sự kiện 30-4-1975…

Bùi Quang Huy
qdnd.vn

Những người Việt ở Hoàng Sa năm 1937-1938

Ghi chép

QĐND-LTS: Đại tá Nguyễn Văn Bính, giảng viên Học viện khoa học Quân sự vừa chuyển cho chúng tôi một ghi chép đề năm 1998 của cha mình là nhà thơ Nguyễn Minh Hiệu (1924-1998), nguyên hội viên Hội Nhà văn Việt Nam, nguyên Phó trưởng ban Tuyên giáo Tỉnh ủy Thanh Hóa về chủ quyền của Việt Nam đối với quần đảo Hoàng Sa. Xin trân trọng giới thiệu với bạn đọc.

“Giáá như gặp được ông bạn kiều bào nào ở Pa-ri về nước lần này, tôi thử gợi ý xem, khi trở sang bên ấy, nhờ bà con ta ở Pháp hỏi xem có biết gia đình, con cháu ông Nguyễn Kỳ, kỹ sư mỏ ở Đông Dương hồi những năm 30, hiện còn những ai? Chắc là những tư liệu riêng của ông ta trong chuyến đi ra Paracels tức đảo Hoàng Sa năm 1938 ấy vẫn còn nhiều đấy.

Mà chẳng riêng gì ông Kỳ và 4 người chúng tôi trong nhóm cán bộ kỹ thuật thuộc sở mỏ Đông Dương (Service des Mines de l’Indochine francaise) cử theo ông ta mới có mặt ở Hoàng Sa từ tháng 4 đến tháng 8-1938. Trước đó, đã có 60 người lính Việt, phần lớn quê ở Quảng Nam, Quảng Ngãi, ra đóng ở đảo này, dưới quyền của một viên chỉ huy người Pháp lai – nhìn rất “Việt Nam” chỉ có cái mũi là hơi giống người Âu, mà lúc đó thường gọi tắt là ông Môn. Đơn vị quân sự này ra đảo từ năm 1937. Họ xây dựng những công sự ngầm, những kho tàng ngầm chứa lương thực, thực phẩm và cả nước ngọt, đủ dự trữ cho hai, ba năm. Nói chính xác hơn là xây loại kho tàng công sự nửa nổi nửa chìm hoặc một phần nổi hai phần chìm. Tất cả đều khéo nguỵ trang. Chúng tôi ăn chung bếp với lính, ông Nguyễn Kỳ ăn cơm với lão Môn tây lai. Nhưng nhóm kỹ thuật không được phép tò mò quan sát đến các công trình, công sự của họ. Điều đó không chỉ là nguyên tắc mà còn là một kỷ luật nghiêm ngặt lắm. Họ xây cả trụ đèn biển. Và trong số các kho ngầm còn có chứa riêng những vỏ ốc quý trên đảo. Khi chúng tôi trở về đất liền, công việc của nhóm nhà binh này vẫn còn tiếp tục”.

Bác Nguyễn Hựu, 75 tuổi (thời điểm năm 1988-SK&NC), nguyên Giám đốc mỏ Cổ Định, nay đã nghỉ hưu ở Thị xã Thanh Hóa đã kể với tôi như vậy.

Quê gốc bác Hựu cũng chính ở Nam Ngạn, phía Nam cầu Hàm Rồng. Ngày ấy ở Hoàng Sa về được ba năm gì đó, bác lại được cử về khảo sát các mỏ vùng Vĩnh Lộc, Hà Trung (Thanh Hóa). Ở đây bác được đồng chí Nguyễn Văn Huệ (nay đã 80 tuổi), tuyên truyền giác ngộ cách mạng. Sau Tổng khởi nghĩa năm 1945 thành công, Nguyễn Hựu đã từng có thời gian công tác ở Tiểu ban kinh tài của Liên khu 4; họ tổ chức khai thác các mỏ phốt-pho-rít ở Vinh và Thanh Hóa. Sau này đánh Pháp, ông được giao xây dựng và quản lý nhà máy phốt phát Nam Phát Thanh Hoá, rồi mới lên nhận công tác ở Crô-mít Cổ Định.

Bác Hựu kể tiếp:

“Chuyến ra đảo năm 1938 ấy đối với chúng tôi hết sức bất ngờ về tất cả các mặt, từ kỹ thuật nghiệp vụ cũng như nếp sống sinh hoạt và tâm lý, ứng xử, giao tiếp. Một ngày vào hạ tuần tháng ba dương lịch, kỹ sư Nguyễn Kỳ đột ngột triệu tập chúng tôi tới phòng ông ta nói là có lệnh trên cho ra đảo khảo sát. Bốn người được chỉ định có anh Trịnh Đình Hướng quê ở Bắc Ninh, chuyên hóa nghiệm; anh Lê Đức Bảo quê ở Vĩnh Lộc, Thanh Hóa, chuyên về đo đạc; anh Nguyễn Thế Trừ ở vùng cửa sông Ghép và tôi là khảo sát.

Hai giờ chiều hôm sau, chúng tôi xuôi Hải Phòng. Năm giờ sáng hôm sau nữa, cả đoàn đáp chuyến tàu chở hàng của hãng Xô-va (Sauvage), thường gọi là hãng tàu “Tây điếc”, đi Đà Nẵng. Tàu chạy bằng guồng máy. Lênh đênh trên biển mất 5 ngày mới tới nơi. Kỹ sư Nguyễn Kỳ ở khách sạn Tây, 4 chúng tôi được bố trí ở một khách sạn của người Hoa.

Ở Đà Nẵng gần một tuần thì một hôm có hai người đến gặp, đưa cho mỗi chúng tôi một tờ khai theo mẫu thống nhất, cam đoan ra đảo phải làm theo sự hướng dẫn của bộ phận quản lý ngoài đảo, còn phần chuyên môn thì do ông kỹ sư Nguyễn Kỳ phụ trách. Gần sát ngày lên đường, họ mới cho biết nơi đảo sắp đến đã có một cơ đội lính của Nam triều (chính phủ Bảo Đại) ra trước từ gần một năm rồi, các điều kiện sinh hoạt ngoài đó đến lúc này đã được chuẩn bị, không có gì thay đổi lắm so với đất liền.

Hôm sau nữa, chúng tôi được phát giấy tờ tùy thân xem như ngư dân ra đảo đánh cá làm nước mắm. “Nào chúng tôi có biết chút gì về nghề cá mú đâu!”. Họ trả lời: “Đây chỉ là hình thức bên ngoài phải làm như vậy, còn khảo sát thăm dò mỏ vẫn cứ là phần việc riêng của các anh chứ!”. Miễn là phải nhớ, bất cứ có ai hỏi đến, tất cả đều nói là được tuyển mộ ra làm nghề cá cho Nam triều.

Tiếp đó họ phát cho chúng tôi mỗi anh hai bộ quần áo bà ba nâu, hai mảnh vải làm khố, một áo tơi lá và một chiếc nón đan theo kiểu ngư dân miền biển. Chúng tôi mua thêm mỗi người một cái bếp cồn, mua thuốc lá và mấy thứ lặt vặt khác.

9 giờ ngày 2-4-1938, đoàn chúng tôi chính thức khởi hành trên chiếc tàu nhà binh Clốt Sáp (Claude Saf) của Pháp. Hôm đó gió to, sóng lớn, chiều 3-4-1938 mới tới nơi cả nhóm đều say sóng, lên đảo nằm li bì mất hai ngày mới tỉnh táo trở lại.

Trụ sở hành chính của Việt Nam trên đảo Hoàng Sa trước năm 1945.

Căn nhà của 4 chúng tôi ở căng bằng vải bạt. Trước mặt có cột cờ. Lá cờ vàng của Nam triều bay phần phật. Cách đấy dăm chục mét là dãy nhà bạt của bộ phận ra trước đánh cá. Kỹ sư Nguyễn Kỳ ở trên nhà bạt với ông Tây lai chỉ huy (được đóng giả như một ông chủ thầu đánh cá). Chúng tôi không tò mò nhưng rồi cũng biết đó là viên quan Một, những người kia là một cơ lính khố xanh. Thời kỳ này, quân đội Nhật đã chiếm Mãn-Châu (1931), gây sự kiện Lư Cầu Kiều (7-1937), mở rộng cuộc chiến tranh xâm lược ra cả Trung Quốc và hải quân Nhật đã hoạt động mạnh cả ở vùng biển phía này. Chính quyền Pháp phải tổ chức phòng ngự ở Hoàng Sa, nhưng buổi đầu hãy tạm ngụy trang như đơn vị làm kinh tế của chính phủ Nam triều ở Huế

Cụm Hoàng Sa lúc bấy giờ có khoảng bốn năm chục hòn đảo, nhưng chỉ có đảo Paracel là rộng hơn cả, diện tích quy lại cũng được khoảng một ki-lô-mét vuông. Mặt đảo là bãi cát bồi bằng đá san hô phong hóa, có nhiều ụ con nổi lên cao hơn mặt nước biển ba, bốn mét. Các đảo khác cũng có cát bồi và đá san hô nham nhở, nhưng diện tích đều hẹp. Có đảo chỉ thực sự thấy được khi nước triều rút xuống. Trên hòn đảo Paracel có loại cỏ lá dài, mép lá rất sắc. Có loại cây thân như cây núc nác nhưng lá lại như kiểu tàu chuối rừng. Ngoài mép nước gần bờ có những cụm sú vẹt. Sau này, trong những ngày chúng tôi đã xong công việc, chỉ còn chờ tàu ra đón vào đất liền, mấy anh nấu bếp của cơ lính khố xanh mới thuật kể cho nghe thêm nhiều truyền thuyết và những mẩu chuyện về Hoàng Sa do các cụ vùng quê Quảng Nam, Quãng Ngãi của những ông bạn này từng kể lại. Thì ra từ đời Minh Mạng hay trước và sau đó nữa, các vua nhà Nguyễn đã sai chở nhiều giống cây từ đất liền ra trồng trên đảo làm điểm tiêu cho tàu bè từ xa đã biết có đảo san hô mà lựa tránh khỏi mắc đá ngầm. Nhưng thuyền ra nhỏ, chở được có hạn. Nhiều cây không hợp thủy thổ, lại gió lộng suốt ngày suốt tháng, cây khó trụ nổi.

Ở Hoàng Sa có nhiều loại chim hải âu, màu lông trắng có, đen có, hoặc màu đen nâu như chim két cũng có. Đêm đến hải âu về đảo trú ngụ. Sáng ra, trên bãi có hàng ngàn quả trứng. Chúng tôi đốt bếp cồn luộc lên nếm thử mới biết trứng hải âu vị chát, rất khó ăn. Mùa đồi mồi sinh sản, hàng đêm những con đồi mồi cái cũng tìm lên mép đảo đẻ trứng ấp con. Đặc biệt là ở đây rất nhiều vỏ ốc quý, có hàng trăm loại, nhiều màu sắc xanh, đỏ, tím, vàng. Có nhiều loại chỉ bằng móng tay. Có nhiều loại to bằng quả bưởi, ánh mặt trời chiếu vào nhấp nhánh như kim cương. Có những chiếc vỏ ốc gần như trong suốt, soi lên đèn thấy ánh lên những vân màu khác nhau rất đẹp. Anh em cho biết còn có những loại vỏ trai, vỏ ốc lớn hơn nhiều, nhưng các lớp người đến trước đã thu nhặt mất.

San hô ở đây cũng nhiều màu: Ngà trắng, vàng, xanh xanh… Chung quanh các kẽ đá san hô là nơi ẩn náu của họ hàng cua bể và cá hồng. Khi có giờ rỗi, chỉ cần đem ít gạo rang hay một dúm cơm xuống là hàng đàn cá hồng kéo đến tranh nhau ăn. Chúng tôi lấy kim găm uốn thành lưỡi câu, luyện cơm dẻo làm mồi cũng có bận câu được hàng yến. Cho nên thức ăn cua cá chẳng thiếu mà chỉ thèm rau xanh. Và ở đây cũng còn một nét bất ngờ nữa là cả ngày lẫn đêm lộng gió, vùng đảo không hề có muỗi mà vẫn có đàn dơi khá đông, loại màu nâu, loại màu đen. Anh em quê Nam, Ngãi cho biết loại này cũng từ đất liền ra. Chúng ăn moi biển nên rất béo, có con to bằng con chim sáo. Lúc no mồi cần nghỉ ngơi, chúng náu mình trong các kẽ đá san hô.

Dụ số 10 của Bảo Đại ký ngày 29-3-1938 khẳng định chủ quyền lâu đời của Việt Nam trên hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.

Kỹ sư Nguyễn Kỳ chỉ huy nhóm chúng tôi khảo sát, thăm dò trữ lượng và chất lượng phân chim ở Hoàng Sa. Nhưng được phép khảo sát ở hòn đảo nào lại do bộ phận quản lý đảo quy định chứ không thể tự do như những chuyến đi thăm dò mở trên đất liền. Anh Bảo đem máy đo đạc, xác định tọa độ kinh vĩ xong là chúng tôi bắt tay vào việc đào hào thám sát. Hào đào rộng mỗi bề một mét, sâu xuống hai đến ba mét, tùy nơi, chỗ cát ào xuống thì đem gỗ chèn. Gặp đá san hô rắn thì dùng búa đục. Trữ lượng phân chim ở đây có tới vài vạn tấn, chất lượng vào loại tốt, trong đó có chất diêm tiêu làm thuốc súng, có nitrat kali đem bón ruộng càng tốt. Phân tích tụ đã từ rất lâu đời, có chỗ dày tới ba mét. Hào đào xuống vài mét đã thấy một thứ nước khoáng rỉ ra, màu hơi vàng vàng. Bộ phận hóa nghiệm cũng phải làm phân tích cả thứ nước khoáng này.

(Xem tiếp số sau)

Minh Hiệu
qdnd.vn