Tag Archive | Chính trị – Xã hội

Chuyện vui về những lần Bác đi thăm hữu nghị các nước Bạn

Bác chụp trong chuyến thăm Cộng hòa Dân chủ Đức, giữa năm 1957Bác chụp trong chuyến thăm Cộng hòa dân chủ Đức, giữa năm 1957

Cá không xương

Trong cuộc hội đàm giữa Đoàn đại biểu Đảng, Chính phủ ta và Đoàn đại biểu Đảng, Chính phủ Cộng hòa Đức ngày 26/7/1957, phía Bạn đã thông báo với Bác Hồ thành quả mọi mặt trong mấy năm qua. Khi Bạn báo cáo năng suất cao của việc nuôi một loại cá chép lai giống, Bác hỏi:

– Các đồng chí có loại cá không có xương không?

Thủ tướng Ốt-tô Gờ-rô-tơ-von rất ngạc nhiên:

– Thưa không! Ở Việt Nam có loại cá không xương sao?

Bác Hồ nói nghiêm nghị:

– Vâng, có đấy!

Thủ tướng đề nghị:

– Thưa Chủ tịch, có thể xuất khẩu loại cá ấy cho chúng tôi được không?

Bác nghiêm trang trả lời:

– Chúng tôi sẵn sàng. Loại cá này ở Nghệ An có rất nhiều.

Thủ tướng nói tiếp:

– Xin các đồng chí chuyển cho chúng tôi nhé!

Các thành viên Đoàn Việt Nam đều hiểu Bác nói loại cá gì. Bác kể câu chuyện “con cá gỗ”. Mọi người cười thoải mái.

Tình yêu xuất phát từ đâu?

Bác Hồ đã đến thăm Viện Y học nổi tiếng của Cộng hòa Dân chủ Đức tại thành phố cổ Draxden. Nổi bật trong Viện là phòng trưng bày cơ thể “người thủy tinh”. Đó là một mô hình người to bằng người thật, làm bằng chất dẻo bọc nhựa trong suốt nhìn thấy tất cả các bộ phận của con người như: Xương, gân, mạch máu, tim, phổi, lục phủ ngũ tạng… Sau khi Giáo sư Viện trưởng giới thiệu xong về người thủy tinh, đã cảm ơn Bác Hồ và hỏi:

– Thưa Chủ tịch, Người có câu hỏi gì không ạ!

Bác hỏi:

– Giáo sư cho biết, tình yêu xuất phát từ đâu?

Giáo sư và mọi người đều ngạc nhiên trước câu hỏi của Bác. Sau vài phút suy nghĩ, Giáo sư giải thích khá lâu về hệ thống tình cảm xuất phát từ trái tim.

Bác cười, chỉ vào bộ lòng của “người thủy tinh” và nói:

– Ở Việt Nam, tình yêu lại xuất phát từ “toàn bộ lục phủ, ngũ tạng”.

Bác nói bằng tiếng Pháp, mọi người cười thoải mái.

Bác Hồ giới thiệu

Ngày 29-7-1957, Bác Hồ đã tới Mô-rít-sơ-buốc thăm các cán bộ, sinh viên và học sinh Việt Nam đang học ở Cộng hòa Dân chủ Đức. Đó là một ngày rất đáng ghi nhớ của chúng tôi (những công nhân Việt Nam ở nước Bạn) và của các Bạn Đức.

Ngay từ phút đầu, Bác bước đến trước micrô và tươi cười nói chuyện với các cháu. Trước hết, Bác giới thiệu những người cùng đi, từ cụ Ốt-tô Búc-vít-sơ, một nhà cách mạng Đức lão thành, bạn thân thiết của Bác đến các vị trong Đoàn đại biểu Đảng và Nhà Nước ta. Khi giới thiệu viên Thiếu tướng và Đại tá người Đức, Bác nói:

– Hai chú mặc quân phục rất đẹp kia là sĩ quan cấp cao của quân đội nhân dân Đức đấy. Các chú ấy có nhiệm vụ bảo vệ Bác và bảo vệ các cháu nữa!

Chúng tôi vỗ tay sung sướng, đến lượt chú Hum-men-ten-béc, Bác giới thiệu:

– Còn chú có khổ người to lớn kia thì làm lễ tân. Các cháu có hiểu lễ tân là gì không? Ví dụ, chú ấy có quyền nhắc Bác phải tuân theo giờ ăn, giờ ngủ.

– Nghe Bác nói, chúng tôi cảm phục chú ấy lắm, vì chú ấy có quyền to quá, đối với cả Bác Hồ của chúng tôi!

Bác Hồ với các cháu nhỏ thị trấn Bác-tơ

Chị Kê-dê-la Kiếc Bao, giáo viên Trường Thể dục thể thao thanh niên Rô-tốc (Đức), vốn là một thiếu nhi được đón Bác Hồ ở sân bay Rô-tốc khi Người đến thăm thành phố này ngày 27/7/1957. Nhớ lại những giây phút đẹp đẽ ấy chị kể: “Thay mặt các đội viên thị trấn Bác-tơ, tôi kính chào vị Chủ tịch nước, dâng hoa và sung sướng quàng lên vai Người chiếc khăn đội viên màu xanh của tôi. Bác Hồ âu yếm hôn tôi, hôn các đội viên bạn tôi và lần lượt bắt tay những người ra đón”.

Từ phút ấy cho đến khi Bác cùng Đoàn đại biểu lên xe về nhà khách chúng tôi vẫn được đi bên cạnh Bác Hồ, được Người trìu mến hỏi han. Chúng tôi thưa với Bác về tên tuổi, lớp học, cha mẹ… Tôi thấy Bác rất vui. Bác đột nhiên hỏi chúng tôi:

– Các cháu có biết ai là người giàu nhất nước Cộng hòa Dân chủ Đức không?

Chúng tôi suy nghĩ nhưng không thể nào tìm ra câu trả lời để thưa với Bác. Bác cười: “Để Bác nói nhé. Mãi đến gần đây, Bác cũng không biết đâu. Hóa ra chính Bác là Người giàu nhất nước Cộng hòa dân chủ Đức đấy, các cháu ạ! Các cháu xem, hầu như cửa hàng nào cũng có chữ Ho, tên Bác đấy thôi!” (HO chữ viết tắt “Handels organisati-on” Chỉ các cửa hàng quốc doanh ở Cộng hòa Dân chủ Đức trước đây).

Không riêng chúng tôi mà tất cả các bác, các cô, các chú có mặt hôm đó đều cười vui vẻ.

Ở Việt Nam gia đình cũng có máy tự động

HCM noi chuyenj voi nhan dan LXBác Hồ nói chuyện với người dân Liên Xô

Một lần, tại Liên Xô, Bác đã được mời đến thăm Viện Tự động hóa. Sau khi xem các phòng nghiên cứu với nhiều máy móc tinh vi, ông Giáo sư Viện trưởng tự hào báo cáo một thành tích mới thí nghiệm xong về máy điều khiển từ xa. Chiếc máy đó được đặt trong một phòng riêng. Cách phòng này chừng 10 mét, ở ngoài trời có chiếc máy xúc, cần gầu đang gục xuống. Giáo sư Viện trưởng tiến đến bàn điều khiển, ấn nút, Cần gầu ngóc lên, quay đi quay lại, gục lên gục xuống. Thao tác xong, Giáo sư Viện trưởng tỏ vẻ rất tự hào. Bác Hồ hỏi ông:

– Các đồng chí đã trang bị máy này cho các nông trường chưa?

– Thưa Chủ tịch, đấy mới chỉ là một kết quả thí nghiệm. Dự kiến trong vài năm tới có thể sản xuất vài nghìn chiếc, cung cấp cho các ngành công nghiệp nặng.

Bác nói nghiêm trang:

– Ở Việt Nam nhà nào cũng có!

Nghe Bác nói, người phiên dịch là một người Nga, chưa dám dịch vì sợ nghe chưa đúng, hỏi lại:

– Thưa Bác, có phải Bác nói nhà nào cũng có không ạ?

– Đúng.

Nghe dịch xong, mọi người cứ ngơ ngác. Giáo sư Viện trưởng rất ngạc nhiên:

– Thưa Chủ tịch, ở Việt Nam đã có máy tự động nhiều đến thế kia ạ?

– Vâng. Nhà nào cũng có, nhưng… phụ nữ điều khiển nam giới.

Người phiên dịch không nhịn được cười. Nghe anh dịch xong, mọi người cười ồ.

Trên đường về người phiên dịch nói với một cán bộ Việt Nam:

– Tôi thật bái phục tài hài hước của Bác Hồ.

Dùng từ ngữ chính xác

Năm 1959, Bác có chuyến công tác đặc biệt ở Liên Xô. Khi đến Thủ đô Mát-xcơ-va, Bác đến thăm Đại sứ quán mới được xây dựng lại. Đồng chí Đại sứ Nguyễn Văn Kỉnh giới thiệu với Bác khung cảnh ngôi nhà, tiếp đó đi vào cửa chính:

– Thưa Bác, bên phải là nơi khách gửi quần áo…

Bác nói rất tự nhiên:

– Các vị khách ngoại giao ở đây cũng gửi cả quần à?

Mọi người cười vui vẻ.

Trong cuộc gặp mặt chung toàn bộ cán bộ và nhân viên sứ quán, Bác hỏi:

– Ở đây các cháu học những gì?

Đồng chí phụ trách học tập đứng dậy:

– Thưa Bác, bọn cháu mở lớp cho anh chị em học tiếng Liên Xô.

– Các chú giỏi thật, học mấy chục thứ tiếng của các dân tộc Liên Xô…

Bác Hồ làm vua hay sao?

Một lần sang thăm Liên Xô, ở trong Điện Kremlin, một phóng viên Liên Xô đến xin chụp ảnh Bác và đề nghị Bác ngồi ở ghế tựa bọc gấm vàng rất đẹp, hai chỗ tì hai tay giống như hai đầu rồng rất tinh xảo. Bác tươi cười nói:

– Tôi ngồi cái ghế thường thôi, không ngồi ghế này vì ảnh đưa về Việt Nam chắc sẽ có người hỏi: Bác Hồ “làm vua” hay sao mà lại ngồi ghế này?

Người phóng viên hiểu ngay ý Bác, nghe theo lời Bác, đổi ngay một ghế bình thường để Bác ngồi chụp ảnh.

Quà của tôi, tôi phải tự nhận lấy

Tháng 2 năm 1958, Bác Hồ sang thăm hữu nghị chính thức Ấn Độ. Trong chuyến đi này Người đã nói chuyện với nhân dân Thủ đô Niu Đê-li, trong cuộc mít tinh tại Thành Đỏ. Theo phong tục Ấn Độ, đại biểu các tầng lớp nhân dân Ấn Độ đều lần lượt choàng những dải hoa tươi lên cổ các vị khách quý để tỏ lòng kính trọng và hiếu khách. Nhiều vị khách nước ngoài trước phong tục này thường nhận hoa rồi đưa cho cán bộ lễ tân đứng cạnh hoặc đặt lên bàn, nhưng Bác Hồ đã nhận tất cả để cho từng người choàng những dải hoa lên cổ mình và không gỡ ra. Điều ngạc nhiên hơn là lúc Bác nhận tấm thảm len lớn do bà Thị  trưởng của Thủ đô Niu Đê-li thay mặt nhân dân Thủ đô trao tặng. Mọi người tưởng rằng như các vị khách khác, Bác chỉ nhận tượng trưng, nhưng Bác nói:

– “Quà của tôi, tôi phải tự nhận lấy!”. Bằng một động tác khá nhanh nhẹn, Bác vác tấm thảm đó lên vai, trước sự ngạc nhiên của hàng vạn người tham gia. Bác nói:

– Tôi vác cả tình cảm của nhân dân Ấn Độ trên vai!

Những tiếng hoan hô nổi lên như sấm dậy:

– Hồ Chí Minh, Zin-ba-đa! (Hồ Chí Minh muôn năm!)

– Việt Nam, Zin-ba-đa! (Việt Nam muôn năm!)

– Hin-đi – Việt Nam, Ba-hai ba-hai! (Ấn Độ Việt Nam là anh em!)

Tôi tặng ngài một cái hôn

bh di indonexia
Bác Hồ và Tổng thống Xu-các-nô với các cháu 
thiếu nhi In-đô-nê-xi-a, ngày 2/3/1959

             Năm 1959, Bác đi thăm In-đô-nê-xi-a. Ngày 2 tháng 3 năm 1959, Bác đến Băng Dung nơi diễn ra Hội nghị Á Phi lần thứ nhất. Nhân dân Băng Dung đón Bác rất đông. Sau khi ông Thị trưởng đọc diễn văn chào mừng, Bác đứng trước mic-cờ-rô, nói chậm dãi bằng tiếng In-đô-nê-xi-a:

– “Các bạn thân mến…”.

Vừa dứt lời, hàng nghìn dân nhân, đặc biệt là các cháu học sinh, thanh niên cầm cờ hai nước In-đô-nê-xi-a và Việt Nam nhảy lên hô vang:

–  “Hi-dup Pa-man Hồ” (Bác Hồ muôn năm!)

Mọi người nghe từng câu, từng lời Bác nói. Đến khi Bác nói:

– “Se-le-mat ting-gal!” (Chào tạm biệt!)

Mọi người đều phất cờ và hô lớn:

– In-đô-nê-xi-a – Việt Nam, Hi-dup Pa-man Hồ!

Khi Bác ra xe, mọi người ùa tới gần để nhìn Bác, nhìn bộ quần áo kaki giản dị, đôi dép cao su của Bác… với tấm lòng trìu mến, như muốn Bác hãy chậm bước. Bác tươi cười vẫy tay thân ái chào mọi người.

Khi đến Jo-ja-ka-ta, miền Trung Ja-va, Bác vừa xuống xe, đã có hàng trăm cháu thiếu niên, học sinh vừa đàn Ang-khung (một nhạc cụ dân tộc làm bằng ống trúc), vừa ca múa chào đón Bác. Bác đi vào giữa, nhảy múa cùng các cháu.

Không khi trang nghiêm, mà đầm ấm, vui tươi giữa chủ và khách.

Bác được mời đi xem Bo-ro-bu-dua, một công trình kiến trúc cổ kính bằng đá được đặt trong một tháp hình chuông cũng bằng đá, có những khe hở theo chiều cao, Người có thể đưa tay vào sờ tượng Phật. Theo tục lệ, ai đưa tay chạm vào Phật là gặp may mắn, hạnh phúc. Theo hướng dẫn viên đã có nhiều vị Nguyên thủ quốc gia, Thủ tướng Chính phủ nước ngoài đến chiêm ngưỡng đền và thử dịp may, nhưng cũng rất ít người sờ được tượng Phật. Bác Hồ sờ vào tượng Phật chẳng mấy khó khăn. Người hướng dẫn viên phấn chấn vỗ tay và hoan hô:

– “Pa-man Hồ!”.

Trong số các quan chức Jo-ja-ka-ta đón Bác có cả ông Hoàng Jo-ja-ka-ta. Tối hôm đó sau buổi chiêu đãi, Bác bảo báo ngay cho lễ tân của Bạn là sáng mai trước khi trở về Gia-các-ta, Bác đến thăm ông Hoàng.

Khi đoàn xe dừng trước cổng Phủ, Hoàng thân cùng các quan chức thành phố ra đón. Sân phủ đầy ắp sinh viên, học sinh tung cờ hai nước hô vang:

– “Bác Hồ muôn năm!”

Trong không khí tưng bừng ấy, Bác đã ôm hôn ông Hoàng Jo-ja-ka-ta và nói bằng tiếng Anh:

– Tôi là người cộng sản, ngài là một vị Hoàng thân. Tôi tặng ngài một cái hôn. Đó là tình hữu nghị, đó là chung sống hòa bình.

Ông Hoàng Jo-ja-ka-ta cảm động, ôm hôn Bác thắm thiết. Người sĩ quan In-đô-nê-xi-a bảo vệ Bác, dịch ra tiếng địa phương. Cả đám đông lại hô vang:

– Hin-đup Pa-man Hồ!

Kim Yến (Tổng hợp)
bqllang.gov.vn

Hiệp định Paris – Sự khẳng định quyền tự quyết dân tộc của người Việt Nam

QĐND – Hiệp định chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình là một văn bản mang tính pháp lý quốc tế, chỉ được thực hiện khi kết cục thắng – thua trên chiến trường của các bên tham chiến đã được phân định một cách rõ ràng [1]. Chiến dịch lịch sử Điện Biên Phủ (5-1954) dẫn đến việc ký kết Hiệp định Giơ-ne-vơ (20-7-1954) và Chiến thắng “Điện Biên Phủ trên không” (12-1972) dẫn đến việc ký kết Hiệp định Pa-ri (27-1-1973) là những minh chứng hùng hồn, mãi trường tồn trong lịch sử quân sự Việt Nam và thế giới. Tuy nhiên, vấn đề lợi ích quốc gia, chủ quyền lãnh thổ và thậm chí cả cách thức tổ chức thực hiện của các hiệp định trên có những điểm khác biệt nhau. Điều này có liên quan trực tiếp đến vận mệnh của đất nước ta ở thời kỳ “hậu” của mỗi hiệp định cũng hoàn toàn khác nhau. Nguyên nhân của tình trạng khác biệt đó có nhiều cách luận giải, song vấn đề cốt lõi trực tiếp nhất chính là sức mạnh nội lực và vị thế của quốc gia, dân tộc trên trường quốc tế-yếu tố quyết định đến vấn đề tự quyết dân tộc của nhân dân Việt Nam.

Giành được chính quyền không lâu, nhân dân Việt Nam lại phải tiến hành kháng chiến chống quân xâm lược Pháp lần thứ hai. Với sức mạnh của toàn dân tộc vào trận, đồng thời được sự ủng hộ, giúp đỡ của các nước bè bạn, nhất là về vũ khí, phương tiện quân sự, bằng tư duy độc lập, sáng tạo trên nền tảng “cách đánh giặc” của tổ tiên, quân và dân ta đã tìm ra những cách đánh phù hợp và hiệu quả, từng bước phát triển quy mô tác chiến từ cấp trung đoàn lên đại đoàn và nhiều đại đoàn, chuyển thế cuộc kháng chiến từ cầm cự sang phản công và tổng phản công; đẩy quân Pháp vào thế bị động đối phó và cuối cùng làm nên một trận Điện Biên Phủ lừng lẫy năm châu, chấn động địa cầu; buộc chúng phải ký kết Hiệp định Giơ-ne-vơ, chấm dứt chiến tranh, công nhận độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam.

Toàn cảnh Hội nghị Pa-ri về chấm dứt chiến tranh ở Việt Nam. Ảnh tư liệu.

Tuy nhiên, do quan hệ quốc tế phức tạp lúc đó, nên những quy định trong Tuyên bố chung của Hội nghị quốc tế này về giới tuyến quân sự, khu phi quân sự… đã “vô tình” tạo ra những “kẽ hở” nhạy cảm để ngay sau khi Hiệp định có hiệu lực, Mỹ đã nhảy vào thay chân Pháp, xâm chiếm miền Nam. Vậy là, chúng ta chưa thực hiện được quyền tự quyết vận mệnh của dân tộc mình. Lường định trước diễn biến phức tạp này, Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: Chúng ta phải chuẩn bị đánh một trận nữa với một đế quốc lớn hơn.

Vừa trải qua cuộc kháng chiến chống Pháp 9 năm, kinh tế, xã hội, quốc phòng còn chồng chất khó khăn, lại bước ngay vào cuộc chiến đấu với đế quốc Mỹ; do vậy, bên cạnh việc động viên nỗ lực cao nhất sức mạnh của toàn dân tộc, “thóc không thiếu một cân, quân không thiếu một người”, “Tất cả vì miền Nam ruột thịt, tất cả để đánh thắng hoàn toàn giặc Mỹ xâm lược”, chúng ta tiếp tục mở rộng quan hệ quốc tế, thu hút sự ủng hộ, giúp đỡ của chính phủ và nhân dân các nước anh em. Do vậy, từ năm 1955 đến 1975, các nước XHCN anh em mà Liên Xô và Trung Quốc là trụ cột đã viện trợ cho nhân dân ta khối lượng lớn vật chất thiết yếu trị giá 7.076 triệu rúp [2]. Mặt khác, nhiều cán bộ chỉ huy các cấp và cán bộ khoa học kỹ thuật của quân đội ta được các nước bạn tiếp nhận sang đào tạo, bồi dưỡng để phục vụ cho kháng chiến. Một số nước còn cử những đoàn chuyên gia kỹ thuật quân sự sang giúp huấn luyện và bồi dưỡng nghiệp vụ cho bộ đội binh chủng kỹ thuật của quân đội ta… Cuộc kháng chiến của ta còn được nhân loại tiến bộ và cả nhân dân Mỹ lên tiếng ủng hộ mạnh mẽ. Điều quan trọng nhất là, những vũ khí, trang bị quân sự mà các nước viện trợ được quân và dân ta sử dụng hết sức hiệu quả; những thắng lợi Ấp Bắc, Ba Gia, Bình Giã, Đồng Xoài (1963-1965), hai mùa khô 1965-1966 và 1966-1967, Tổng tiến công và nổi dậy Mậu Thân (1968), Tiến công chiến lược 1972 là những minh chứng hùng hồn. Đặc biệt, với đòn Mậu Thân 1968, chúng ta đã buộc giới cầm quyền Nhà Trắng phải đến Hội nghị Pa-ri để bàn bạc về vấn đề chấm dứt chiến tranh lập lại hòa bình ở Việt Nam. Trải qua cuộc đấu trí căng thẳng, quyết liệt suốt 4 năm 9 tháng với 202 phiên họp công khai và 24 lần tiếp xúc riêng nằm trong bối cảnh quan hệ quốc tế có lúc rất nhạy cảm, đến đòn quyết định năm Nhâm Tý (1972), chúng ta đã buộc Mỹ chấp thuận văn bản Hiệp định Pa-ri do phía ta soạn thảo và dự định ngày ký.

Tuy nhiên, để cố cứu vớt thể diện, Nhà Trắng đã quyết định mở cuộc tập kích không quân chiến lược bằng máy bay B-52 vào Hà Nội, Hải Phòng và một số mục tiêu trọng điểm khác của miền Bắc – “Tung con át chủ bài cuối cùng”- với hy vọng sẽ “làm mềm xương sống Hà Nội”, buộc ta phải ký một hiệp định theo sự áp đặt của họ.

Sau kỳ tích “Điện Biên Phủ trên không” của quân và dân ta, hạ gục 81 máy bay, trong đó có 34 chiếc B-52, gây chấn động thế giới, rung chuyển Nhà Trắng và nước Mỹ, sáng 30-12-1972, Ních-xơn phải tuyên bố chấm dứt ném bom miền Bắc, đề nghị Chính phủ ta trở lại bàn đàm phán Pa-ri. Ngày 27-1-1973, Mỹ chấp nhận ký kết Hiệp định Pa-ri theo văn bản ta dự thảo. Với 9 chương, 23 điều và 4 Nghị định thư kèm theo, nội dung chủ yếu của Hiệp định Pa-ri khẳng định: Mỹ và các nước khác tôn trọng độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam; các bên thực hiện ngừng bắn, chấm dứt chiến sự không thời hạn; Mỹ chấm dứt mọi hoạt động chống Việt Nam dân chủ cộng hòa; … thừa nhận sự hiện diện hợp pháp của Quân đội nhân dân Việt Nam ở miền Nam, sự tồn tại và địa vị hợp pháp của Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam… Tiếp đó, ngày 2-3-1973, đại diện 12 chính phủ, gồm: Việt Nam dân chủ cộng hòa, Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam, Liên Xô, Trung Quốc, Anh, Mỹ, Pháp, Việt Nam cộng hòa và 4 nước trong Ủy ban Kiểm soát và Giám sát quốc tế đã họp tại Pa-ri để ra Định ước ghi nhận và bảo đảm Hiệp định Pa-ri và các Nghị định thư về kết thúc chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam được thi hành một cách nghiêm chỉnh và triệt để.

Phải khẳng định rằng, từ xưa đến nay, chưa bao giờ việc ký kết một văn kiện về quyền dân tộc cơ bản của nhân dân một nước lại được các dân tộc và nhân dân thế giới theo dõi chăm chú, chứng giám trang trọng như Hiệp định Pa-ri về chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam. Đây là minh chứng khẳng định vị thế, uy tín và sức mạnh của dân tộc Việt Nam. Hiệp định Pa-ri được ký kết, quân và dân ta đã thực hiện xuất sắc nhiệm vụ chiến lược “Đánh cho Mỹ cút”, tiến lên “Đánh cho ngụy nhào”, giải phóng miền Nam, thống nhất Tổ quốc vào mùa Xuân Ất Mão (1975). Đây thực sự là cột mốc vàng đánh dấu quyền tự quyết dân tộc của người Việt Nam được thực hiện một cách đầy đủ và trọn vẹn.

————–

Đại tá, TS NGUYỄN HUY THỤC
qdnd.vn

[1] Chỉ với trường hợp chiến tranh xâm lược và chống xâm lược.
[2] Ban Tổng kết chiến tranh trực thuộc Bộ Chính trị – Tổng kết cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (1954-1975) – Thắng lợi và bài học, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội. 1995, tr. 317.

Có những giá trị của quá khứ lại đang ở phía trước

Kỷ niệm 40 năm chiến thắng “Hà Nội-Điện Biên Phủ trên không”

QĐND-40 năm đã trôi qua kể từ 12 ngày đêm khói lửa chiến đấu với cuộc tấn công điên cuồng của không quân Mỹ vào thủ đô Hà Nội và thành phố cảng Hải Phòng đang bị phong tỏa bởi thủy lôi. Nhằm hủy diệt không phải chỉ là những gì dưới mặt đất, bằng bom đạn, mà quan trọng hơn là hủy diệt được ý chí chiến đấu và quyết thắng của một dân tộc, buộc đối phương phải chấp nhận những điều kiện như kẻ bại trận trong một Hiệp định Pa-ri đã được hai bên ký tắt.

Đế quốc Mỹ muốn thoát ra khỏi cuộc Chiến tranh Việt Nam trong danh dự và với tư thế của kẻ thắng trận. Cuộc giội bom này là cơ hội để họ thực hiện lời đe dọa “đưa miền Bắc Việt Nam trở lại thời kỳ đồ đá” như những kẻ hiếu chiến và hiếu thắng đã từng tuyên bố ngay từ những ngày đầu tiến hành cuộc Chiến tranh phá hoại bằng không quân và hải quân ra miền Bắc nước ta, sau khi đã mạo dựng “Sự kiện Vịnh Bắc Bộ” (8-1964) để làm cái cớ phát động cuộc chiến. Và với việc huy động những khí tài chiến tranh thuộc loại hiện đại hàng đầu nằm trong lực lượng chiến lược của quân đội Mỹ và với một quy mô có thể nói là lớn nhất sau cuộc Đại chiến Thế giới lần thứ hai. Tối ngày 18-12-1972, Ních-xơn bất ngờ khởi động Chiến dịch mang mật danh quân sự là Lai-nơ-bếch-cơ 2 (Linebacker II), còn với mọi người lương thiện lấy định vị thời gian thì gọi đó là cuộc giội bom vào Lễ Giáng sinh 1972 để thấy rõ hơn cái dã tâm của những kẻ chủ trương. Người đứng đầu Nhà Trắng là Tổng thống Ních-xơn khi đó hoàn toàn tin vào chiến thắng cuối cùng thuộc về mình vì vừa mới trúng cử thêm một nhiệm kỳ nữa.

Nhưng tất cả những gì đã diễn ra trong hai tuần cuối cùng của năm 1972 ấy đã làm tổn thất không chỉ là số lượng khí tài mà là uy thế quân sự, đặc biệt là của lực lượng không quân chiến lược Mỹ trước con mắt của nhân dân Mỹ và nhân dân thế giới. Hà Nội, Hải Phòng và hậu phương miền Bắc vẫn trụ vững sau trận đánh, khí thế quân dân ta vẫn kiên cường và lạc quan hướng tới chặng đường cuối cùng để thực hiện cái nguyên lý của Bác Hồ đã để lại như một cẩm nang cho chiến thắng: “Đánh cho Mỹ cút, đánh cho ngụy nhào” đã hoàn thành trọn vẹn chỉ hơn hai năm sau đó (4-1975).

Bác Hồ đến thăm Quân chủng PK-KQ (ngày 19-7-1965). Ảnh: XUÂN MAI.

40 năm đã trôi qua, những người trực tiếp tham chiến của cả hai bên đều đã tổng kết trận đánh. Với Mỹ là chiến dịch tập kích chiến lược bằng B-52, còn với ta là cuộc phòng thủ kiên cường nhưng lại mang tên gọi của một trận công kiên diễn ra 18 năm trước đó: “Điện Biên Phủ” nhưng lại ở “trên không” và ở ngay giữa lòng Thủ đô của đất nước, đúng như lời tiên đoán của Bác Hồ về một trận quyết chiến chiến lược sẽ diễn ra trên bầu trời Hà Nội, cũng như Mỹ sẽ sử dụng B-52.

40 năm đã trôi qua, nhiều vị tướng lĩnh trụ cột và những chiến sĩ kỳ cựu tham gia chỉ huy và trực tiếp tham dự trận chiến ấy không còn nữa, những người trẻ đều đã bước vào tuổi lão niên. Nhiều hiện vật đã được đưa vào bảo tàng, nhiều pho sử tổng kết chiến tranh đã được ghi lại. Bên cạnh những con số thống kê như những biểu tượng chiến thắng, như số lượng những chiếc máy bay của địch, đặc biệt là những “pháo đài bay” B-52, loại máy bay mà cho đến nay chưa từng bị bất cứ đối phương nào trên thế giới bắn hạ lại bị bắn rơi trên bầu trời Hà Nội và miền Bắc trong 12 ngày đêm 40 năm trước, cho đến số lượng các phi công Mỹ bị bắt sống và đưa vào giam ở “Hin-tơn Hà Nội”. Còn có cả các tượng đài, bia ký ghi lại những trận đánh hủy diệt cuộc sống của người dân, những con số bộ đội ta hy sinh trong trận chiến đấu đúng với tinh thần truyền thống của Thủ đô từ thời kháng chiến chống thực dân Pháp “Quyết tử để Tổ quốc quyết sinh”…

Nhưng còn những pho sử chỉ là ký ức của những người chứng kiến, những người dân hay người lính có mặt trong những ngày diễn ra trận “Điện Biên Phủ trên không” ấy thì biết bao mà kể. Chỉ lật mấy trang báo của những ngày hào hùng ấy đã thấy biết bao nhiêu sử liệu không kém chất hào hùng: Ngay trong đêm đầu tiên máy bay Mỹ ào vào bắn phá, đêm 18-12-1972, nhà thơ Huy Cận đã làm ngay bài thơ mang tên “Sẵn sàng” rồi mang đến Báo Nhân Dân để sớm 20-12 kịp xuất hiện trên trang báo giữa mùi thuốc súng, khói bom trong trận đánh. Rồi bài xã luận của số báo đó mang tựa đề: “Hà Nội, Thủ đô của phẩm giá con người” có nhắc nhiều chi tiết mang tính thời sự, như câu chuyện một nhân viên phục vụ trong khách sạn Thống Nhất (vốn là Métropole Hà Nội) khi được hỏi “Bom B-52 ném xuống Hà Nội thì ra sao?”. Và câu trả lời khiến nhà báo nước ngoài thán phục và chép lại: “Nhà cửa có thể sập nhưng có một thứ không sập được, đó là ý chí của con người”. Một nhà báo Pháp mô tả về Hà Nội trong những ngày chiến tranh khốc liệt ấy vẫn là “một thành phố luôn sôi động và hài hòa, tài giỏi và bình thản”. Còn Neo Sin-han (Neil Sheenhan) nhà văn Mỹ trong bài tựa cho cuốn sách viết về chiến tranh của không quân Mỹ ở Đông Dương của Đại học Coóc-neo (Corneil) đã đánh giá: “Thắng lợi của người Việt Nam là một thí dụ vô song về sự toàn thắng của trí tuệ trước máy móc”…

Trên trang báo số ra ngày 29-12-1972, tức là chỉ vài ngày sau khi Mỹ đã rải thảm xuống Khâm Thiên và Bệnh viện Bạch Mai làm hàng trăm dân thường thiệt mạng đã xuất hiện mẩu phóng sự của nhà văn Nguyễn Tuân “Bên ụ súng Hà Nội một đám cưới pháo thủ” thuật lại lễ kết hôn của hai công nhân Nhà máy cơ khí Hà Nội, chú rể Vũ Đình Hán và cô dâu Lưu Thị Hảo diễn ra trên một không gian giữa 7 ụ súng phòng không tầm cao vừa diễn ra trước đó một ngày (28-12).

Rồi trên trang báo ra trong ngày cuối cùng của năm, 31-12-1972, khi Hà Nội vừa im tiếng súng, Mỹ đã chấm dứt bắn phá và chấp nhận bước vào cuộc họp cuối cùng để ký Hiệp định Pa-ri, lại thấy nhà văn Bùi Hiển xuất hiện với phóng sự ngắn “Khâm Thiên, tội ác và trừng phạt” và cả ông thầy khảo cổ của tôi, Giáo sư Trần Quốc Vượng với bài ký “Tình người Hà Nội ngát hoa lan”.

Cũng trên những trang báo của những ngày chiến tranh khốc liệt ấy, người ta còn đọc được những mẩu thông báo bằng lời lẽ mộc mạc nhưng có thể các bạn trẻ ngày nay chưa hiểu hết được, tựa như: “Để nhân dân mua lương thực được thuận tiện, Bộ Lương thực và Thực phẩm chủ trương bán lương thực theo sổ “Sơ tán PK (phòng không)”, các cửa hàng phải tổ chức tốt việc bán hàng không để nhân dân đợi lâu… Sơ tán đến đâu mua hàng ở đó. Gia hạn tem phiếu năm 1972”…

Hà Nội 40 năm trước là thế đó. Trong hồi ức của mình, Bí thư Thành ủy Nguyễn Văn Trân tự phê bình rằng, lãnh đạo Hà Nội có khuyết điểm là chủ quan nên để đồng bào Hà Nội ở những nơi sơ tán trở về nhân ngày Giáng sinh năm 1972 đông quá. Mất cảnh giác, không lường hết sự tàn bạo của giặc Mỹ ném bom dữ dội, rải thảm B-52 vào khu dân cư trung tâm Hà Nội, chỉ một ngày sau làm mấy trăm con người thiệt mạng… Do vậy, từ ngày 27-12, lệnh sơ tán triệt để được phát ra và đêm hôm ấy, những ai được chứng kiến đều thấy cái hào hùng của dòng người Hà Nội lặng lẽ tỏa đi ra khỏi thành phố trên những phương tiện rất thô sơ của mình, và những chiếc ô tô cũ rích mà chính quyền huy động được. Chừng 50 vạn người trên tổng số 60 vạn cư dân Thủ đô đã hoàn thành việc sơ tán chỉ trong một đêm, một ngày.

Người Hà Nội ra đi nhẹ nhàng, vì nhà cửa và tài sản bên trong có thể giao phó cho những người hàng xóm hay chính quyền có trách nhiệm ở lại; họ có thể giao con cái của mình cho những người không mấy thân thích nhưng cùng cảnh ngộ hay được xã hội phân công; họ đến đâu cũng được những chủ nhà vốn là những người nông dân mộc mạc sẵn sàng nhường những chỗ ở tốt nhất với câu nói cửa miệng không hề khách sáo mà lại chan chứa tình nghĩa: “Các bác vì nước, vì dân, (đôi khi còn nói: Vì thằng Mỹ)… mới phải về đây với chúng em”… Hồi ấy, rất ít thấy nói đến trộm cắp, cướp của, giết người… Phải chăng, khi mọi người cùng chung ý chí, cùng chia sẻ cảnh ngộ, cùng mong đến ngày thắng lợi với ước mơ thanh bình thì xã hội trở nên trong sạch, ngay trong khói đạn của chiến tranh và nghèo khó?…

Mới cách đây không lâu, cả thế giới được chứng kiến với lòng thông cảm đối với nhân dân Nhật Bản đã hứng chịu những thảm họa khủng khiếp của thiên nhiên, như động đất, sóng thần cùng với vụ nổ ở nhà máy điện nguyên tử… và cũng được chứng kiến với lòng thán phục cách ứng xử, đối phó với thử thách của nhân dân Nhật Bản để khắc phục những mất mát to lớn với tinh thần Nhật Bản thể hiện qua ý chí kiên cường, tinh thần kỷ luật, sức chịu đựng và nghĩa đồng bào giúp đỡ lẫn nhau cùng chính phủ vượt qua thử thách…

Chạnh nghĩ, những phẩm chất ấy cũng từng nhiều lần xuất hiện trong đời sống xã hội nước ta qua những thử thách trong quá khứ lịch sử mà những ngày diễn ra “Điện Biên Phủ trên không” là một bằng chứng sống động… Lại chạnh nghĩ, vì sao những phẩm chất ấy dường như đã phai nhạt, thậm chí đang diễn ra trái ngược trong đời sống xã hội trên đất nước ta ngày hôm nay…

Kỷ niệm 40 năm Chiến thắng “Điện Biên Phủ trên không” với niềm tự hào về quá khứ, không thể không nghĩ đến chuyện khơi lại những truyền thống, những phẩm chất vốn tiềm ẩn trong con người Việt Nam chúng ta, từng phát huy trong quá khứ, vì sao không thể trở lại trong phẩm chất con người Việt Nam ngày hôm nay, và mai sau?!

Nhà sử học DƯƠNG TRUNG QUỐC
qdnd.vn

Hiệp định Pa-ri: Ký ức của người trong cuộc

QĐND – Trong gần 5 năm tiến hành đàm phán để đi đến thắng lợi cuối cùng ký Hiệp định Pa-ri ngày 27-1-1973, có rất nhiều sự kiện đã đi vào lịch sử ngoại giao Việt Nam. Từ thỏa hiệp nhỏ nhất như chọn bàn đàm phán (tròn hay vuông) cho đến thỏa hiệp lớn nhất về chấm dứt chiến tranh, tất cả vẫn còn in đậm trong tâm trí những người tham gia buổi tọa đàm trong khuôn khổ Hội thảo khoa học quốc tế “Hiệp định Pa-ri 1973: 40 năm nhìn lại” do Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn tổ chức tại Hà Nội, hôm 17-1.

“Điểm cộng lớn” cho đoàn đàm phán

Từng là sinh viên Việt Nam theo học tại Pháp trong những năm 60 của thế kỷ trước, bà Tôn Nữ Thị Ninh, nguyên Phó chủ nhiệm Ủy ban đối ngoại của Quốc hội là người có nhiều cơ hội tiếp xúc với bà Nguyễn Thị Bình, Trưởng đoàn đàm phán của Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam và giúp đỡ bà Bình một số việc trong quá trình đàm phán.

Quang cảnh buổi tọa đàm

Hồi tưởng lại quá khứ hào hùng 40 năm về trước, với chất giọng Huế nhẹ nhàng, bà Ninh cho biết, không khí ở Pa-ri những năm 60 của thế kỷ trước thật đặc biệt. “Khi đó, phong trào giải phóng dân tộc trên thế giới đang ở đỉnh cao. Chúng tôi, những sinh viên, sau đó là những giảng viên tại Pa-ri, cũng hồ hởi tham gia vào phong trào này. Có những người hy sinh việc học tập để tham gia vào các phong trào giải phóng dân tộc như in và rải truyền đơn, tổ chức mít tinh, hậu thuẫn cho phái đoàn của ta ở Pa-ri. Có người đến 4, 5 năm vẫn chưa tốt nghiệp được. Đối với chúng tôi khi đó, bằng cấp là thứ yếu. Công việc chủ yếu của chúng tôi là kiếm sống để tham gia phong trào giải phóng dân tộc”, bà Ninh cho hay.

Nhắc đến Hiệp định Pa-ri, không thể không nói đến vai trò đặc biệt của nữ Trưởng đoàn đàm phán Nguyễn Thị Bình. Bà Ninh cho biết, việc cử bà Bình là phụ nữ duy nhất làm Trưởng đoàn Chính phủ Cách mạng lâm thời tham gia đàm phán khiến những người không hiểu về Việt Nam cho rằng, người phụ nữ đó chắc chỉ biết ngồi đọc tuyên bố chứ làm gì có tài đàm phán và biết tranh thủ dư luận.

Thế nhưng, suy nghĩ ấy đã nhầm. Sự xuất hiện của bà Bình ở Pa-ri đã là “điểm cộng lớn” cho đoàn đàm phán của ta, tạo lợi thế trong việc tìm kiếm sự ủng hộ của dư luận thế giới, đặc biệt là đối với báo chí. Bà đã tạo ấn tượng khi thể hiện là người có thể kết hợp “cương-nhu” mà chúng ta áp dụng trên bàn đàm phán. Bà có phong cách đi đứng nhanh nhẹn, nói năng, đối đáp, xử trí linh hoạt. Thêm vào đó, bà sử dụng tiếng Pháp lưu loát, hiểu biết sâu rộng về tiếng Anh. Có thể nói, bà Nguyễn Thị Bình là một trong những “át chủ bài” của đoàn đàm phán Việt Nam. Bà đã hoàn thành tốt nhiệm vụ “kép” của một trưởng đoàn là đàm phán, đồng thời tranh thủ dư luận. Nói theo cách nhận xét của bà Ninh, bà Nguyễn Thị Bình đã góp phần quan trọng tạo ra “phong thái ngoại giao Việt Nam”, đàng hoàng, tự tin, cần thì rất cương quyết, nhưng đồng thời cũng mềm mỏng và uyển chuyển.

Vì sao chọn Pa-ri là địa điểm đàm phán?

Để Mỹ và Việt Nam đi đến giai đoạn cuối cùng là ký Hiệp định Pa-ri ngày 27-1-1973, hai bên đã phải trải qua những cuộc đấu trí vô cùng căng thẳng. Theo ông Nguyễn Khắc Huỳnh, nguyên Đại sứ, thành viên đoàn đàm phán Việt Nam dân chủ cộng hòa, Hội nghị ở Pa-ri có những đặc điểm mà các hội nghị quốc tế khác không có. “Chúng tôi mất hơn một tháng để lựa chọn địa điểm, mất hơn hai tháng để giải quyết vấn đề bàn vuông hay bàn tròn”.

Giáo sư Giăng Crít-tốp-phơ Nô-en (Bộ Ngoại giao Pháp) phát biểu tại Hội thảo.

Giải thích vì sao lựa chọn Pa-ri là địa điểm đàm phán, ông Huỳnh cho biết, ban đầu Mỹ yêu cầu Việt Nam mở hội nghị tại Viêng Chăn vì lúc đó chính quyền Viêng Chăn thân Mỹ. Chúng ta đề nghị tổ chức ở Phnôm Pênh bởi khi đó Quốc vương Xi-ha-núc ủng hộ cách mạng Việt Nam. Mỹ tiếp đó đề nghị một loạt nước ở Đông Nam Á có quan hệ với Mỹ. Việt Nam phản đối và đề nghị tổ chức ở Ba Lan, Liên Xô và Trung Quốc. Việt Nam đề nghị Ba Lan có nhiều ý nghĩa, đó là đối chọi với Mỹ, đồng thời cũng tranh thủ các nước XHCN đã giúp đỡ Việt Nam. Mỹ phản đối Ba Lan và sau đó đưa ra 11 nước ở khắp các châu lục trên thế giới… “Trong tổng số 20 nước mà Mỹ đề nghị lại không có Pháp. Chúng ta đã nghiên cứu hiện tượng này và tiến hành thăm dò quan điểm của Pháp. Pa-ri cho biết, họ ủng hộ ý kiến của ta. Vì vậy, sau một tháng cân nhắc, chúng ta thông báo cho Mỹ đề nghị chọn Pa-ri là địa điểm đàm phán và cử Bộ trưởng Xuân Thủy sang đàm phán. Đề xuất này cuối cùng được Mỹ chấp thuận. Chọn được Pa-ri là rất thuận lợi cho Việt Nam về mặt vị trí và phối hợp để tìm kiếm sự ủng hộ quốc tế”, ông Huỳnh nhớ lại.

Câu chuyện “nhỏ”, ý nghĩa “lớn”

Những câu chuyện kể về nghệ thuật “đánh-đàm” của những người từng có mặt ở Pa-ri những năm 1960-1970 khiến các học giả quốc tế đến từ Pháp, Mỹ tham dự hội thảo đi từ ngạc nhiên này đến ngạc nhiên khác. Quả thực, đối với họ, Hiệp định Pa-ri mà họ biết đến hầu hết là qua những trang tài liệu, sách báo ở các thư viện nước ngoài. Nhưng những câu chuyện “nhỏ” có ý nghĩa “lớn” này thì không phải lúc nào họ cũng có dịp được nghe.

Giáo sư Pi-e Giuốc-nu (Pierre Jourrnoud), thuộc Viện Nghiên cứu chiến lược Pháp, Học viện Quốc phòng Pháp, cho biết khi các cuộc đàm phán được diễn ra tại Pa-ri, giới ngoại giao Pháp đã gợi ý về các giải pháp mang tính nhân nhượng và thỏa hiệp để tìm lối thoát cho cuộc chiến và kết tội tất cả những ai nuôi tham vọng leo thang chiến tranh, đặc biệt là chính sách “Việt Nam hóa” chiến tranh của Ních-xơn và các trận ném bom xuống Hà Nội-Hải Phòng vào tháng 12-1972. “Hiệp định Pa-ri đã thể hiện một trong những nguyên tắc mà chính quyền Pháp bảo vệ và một số thỏa hiệp theo gợi ý của giới ngoại giao Pháp”, Giáo sư Giuốc-nô cho hay.

Giáo sư Pi-e A-xơ-lanh (Pierre Asselin), tác giả cuốn sách “Nền hòa bình mong manh”, cho biết, ông thật sự ngưỡng mộ về tài trí của Việt Nam trong quá trình đàm phán ở Pa-ri. Nó góp phần giúp ông hiểu được vì sao người Việt Nam luôn tự hào về chiến thắng này. Mặc dù ông A-xơ-lanh còn có một số nhận xét trái chiều về Hiệp định Pa-ri, song ông A-xơ-lanh khẳng định rằng, nhờ có Hiệp định Pa-ri, hòa bình đã lập lại trên đất nước Việt Nam là điều không thể bàn cãi.

Bài và ảnh: Linh Oanh
qdnd.vn

Kỳ 2: Dự án “Hòa bình trong danh dự”

Hiệp định Pa-ri và sự vớt vát danh dự của Mỹ

QĐND – Giá trị và ý nghĩa của Hiệp định Pa-ri đã được cả thế giới công nhận, trong đó bao gồm đánh dấu sự thất bại của chủ nghĩa đế quốc. Vậy nhưng, phía Mỹ vẫn tìm cách vớt vát danh dự bằng nhiều cách. Trả lời phỏng vấn các báo vào những ngày sau khi Hiệp định được ký kết, Cố vấn Mỹ Kít-xinh-giơ vẫn cố tình bào chữa cho lỗi lầm của người Mỹ và vờ tỏ ra thông cảm đối với nhân dân Việt Nam nói chung và nhân dân Đông Dương nói riêng. Kít-xinh-giơ cho rằng: “Đến giờ phút này, một thế hệ người dân ở Đông Dương và đặc biệt là nhân dân Việt Nam đã phải hứng chịu cảnh chiến tranh. Nỗ lực lớn nhất của chúng tôi là chấm dứt nỗi đau của họ và khôi phục hòa bình”. Nhưng trước đó, ngay trong buổi tối ngày 23-1-1973, ngày Hiệp định Pa-ri được ký tắt, chính Tổng thống Mỹ Ních-xơn đã phát biểu trên truyền hình nhấn mạnh: “Tôi muốn thông báo rằng, chúng ta đã ký kết được một thỏa thuận để chấm dứt chiến tranh và mang lại “Hòa bình trong danh dự” ở Việt Nam và Đông Nam Á”.

Thực hiện Hiệp định Hòa bình Pa-ri, trong hai ngày 28 và 29-3-1973, tại sân bay Gia Lâm, 107 nhân viên quân sự Mỹ (đợt cuối cùng) được Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa trao trả cho Hoa Kỳ. Ảnh: TTXVN

Và chính quyền Ních-xơn cũng từng thừa nhận: “Hiệp định Pa-ri là một thành công của Dự án “Hòa bình trong danh dự”. Bởi chính Ních-xơn tuyên bố muốn ký kết một Hiệp định hòa bình, trong đó Mỹ sẽ chấp nhận rút hết quân, lấy được hết tù binh Mỹ mà không thừa nhận thất bại, mặt khác vẫn giữ được chính quyền Sài Gòn do Mỹ dựng lên. Sau này, Bộ Quốc phòng Mỹ đã tuyên bố một cách bao biện rằng: “Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đã thành công trong quá trình thương lượng chủ yếu vì Mỹ đã cơ bản thay đổi các mục tiêu của mình và rất muốn thoát ra khỏi Việt Nam nếu tù binh Mỹ được trao trả về, và Nam Việt Nam có cơ hội đứng vững trong một thời gian đáng kể”.

Thực tế trong những năm tháng diễn ra đàm phán, Mỹ càng chịu thêm những thất bại nặng nề về cả quân sự và chính trị tại chính quốc cũng như Việt Nam. Từ đó, buộc Mỹ và chính quyền Ních-xơn nhanh chóng tìm giải pháp đi đến ký kết một Hiệp định hòa bình, chấm dứt cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam. Bộ Quốc phòng Mỹ khẳng định: “Tổng thống Ních-xơn và ông Kít-xinh-giơ thừa nhận là không thể có một giải pháp quân sự cho cuộc chiến tranh. Vì vậy, họ cố gắng đạt tới một trạng thái không phân thắng bại trên chiến trường, cô lập Việt Nam Dân chủ Cộng hòa với các nước Cộng sản vẫn viện trợ cho họ; và đi đến một giải pháp chính trị qua thương lượng”.

Sau này, trong cuốn hồi ký của mình, Kít-xinh-giơ đã viết: “Hầu hết các đồng sự của tôi và tôi hiểu ngay tầm cỡ của những điều mà chúng tôi vừa nghe. Tôi yêu cầu ngừng phiên họp ngay. Lót (C. Lord) – Trưởng đoàn đàm phán Mỹ, và tôi nắm tay nhau tuyên bố: Chúng ta đã thành công! Tướng Hai-gơ (Haig), người đã từng chỉ huy ở miền Nam Việt Nam xúc động tuyên bố: “Chúng ta đã cứu vớt danh dự cho bao người đã chiến đấu, đau khổ, bỏ mạng ở đó… Chúng ta sẽ đạt được điều mà chúng ta tìm kiếm: “Một nền hòa bình phù hợp với danh dự và trách nhiệm quốc tế của chúng ta”.

Tuy nhiên, nhiều nhà nghiên cứu lịch sử của Mỹ và phương Tây lại tỏ ra nghi ngờ về cái gọi là “Hòa bình trong danh dự” mà chính quyền Mỹ rêu rao. Họ cho rằng, nước Mỹ đưa một đội quân thiện chiến hơn nửa triệu người được trang bị đến tận răng sang trực tiếp tham gia cuộc chiến vốn được điều hành bởi những chiến lược gia quân sự, “bộ óc điện tử” có hàng chục năm kinh nghiệm ở nhiều chiến trường nóng bỏng trên thế giới. Chi phí trực tiếp cho cuộc chiến tranh hơn 150 tỷ đô-la, có gần 60.000 lính chết, hàng trăm nghìn người bị thương… nhưng việc Mỹ buộc phải ký vào Hiệp định để kết thúc một cuộc chiến tranh với mục tiêu hạn chế, mà không giành được thắng lợi, là điều chưa từng có tiền lệ trong lịch sử nước Mỹ. Nhà sử học Mỹ Ga-bri-en Côn-cô (Gabriel Kolko), trong cuốn “Giải phẫu một cuộc chiến tranh” bình luận thêm: “Việc Mỹ rút quân mà không phải thừa nhận thất bại quân sự sau gần hai thập kỷ nỗ lực bất thành là một thắng lợi cay đắng của một siêu cường quốc tế”. Còn nhà sử học Mỹ Gioóc-giơ C. Hơ-rinh (George C. Herring), trong cuốn “Cuộc chiến tranh dài ngày nhất của nước Mỹ” đánh giá, kết quả đạt được của Hiệp định Pa-ri đó quả thực là một sự trả giá quá đắt đối với Mỹ, ảnh hưởng to lớn đến uy tín, sức mạnh của siêu cường này, và “Ních-xơn đã kiên quyết tìm đến một nền “Hòa bình trong danh dự” để duy trì địa vị của Mỹ trên thế giới. Nhưng Mỹ đã ra khỏi cuộc chiến tranh với hình ảnh rất nhem nhuốc trong con mắt của nhân dân thế giới và nhân dân Mỹ vốn đã chán ngấy việc dính líu vào chiến tranh”.

Sau khi Hiệp định Pa-ri được ký kết, nhiều nhà phân tích chính trị, quân sự phương Tây đã có những đánh giá và nhận định rất chính xác về khả năng Mỹ sẽ tìm cách phá hoại việc thực thi Hiệp định. Giáo sư lịch sử Oét-đơn Ây Brao (Weddon A Brown) thuộc Viện Bách khoa Virginia (Mỹ), trong cuốn sách “Chiếc trực thăng cuối cùng kết thúc vai trò của Mỹ ở Việt Nam”, viết rằng: “Bất cứ một đánh giá nào về bản Hiệp định này cũng chỉ nhận xét rằng bản Hiệp định đã chỉ làm người ta lo sợ nhiều hơn là hy vọng”. Những người theo quan điểm này cho rằng với bản chất ngoan cố, hiếu chiến, chính quyền Ních-xơn sẽ tiếp tục theo đuổi cuộc chiến tranh. Do đó, “những thỏa thuận hòa bình tháng 1-1973 chỉ tạo dựng một khuôn khổ để tiếp tục cuộc chiến tranh mà không có Mỹ trực tiếp tham gia”.

Nhà sử học Mỹ Giô-dép Am-tơ (Joseph A. Amter) cũng cho rằng, việc ký Hiệp định thực chất chỉ là sản phẩm của luận điệu giả dối, những trò lừa bịp dư luận của chính quyền Ních-xơn… Và với khát vọng độc lập tự do, thống nhất Tổ quốc, tinh thần đấu tranh kiên cường, bền bỉ của người Việt Nam, chắc cuộc chiến sẽ còn tiếp diễn.

Mai Hương – Minh Nam
qdnd.vn

(Hết)

Kỳ 1: Thắng lợi cống hiến cho hòa bình

Kỳ 1: Thắng lợi cống hiến cho hòa bình

Hiệp định Pa-ri và sự vớt vát danh dự của Mỹ

QĐND – Sự kiện Hiệp định Pa-ri về chấm dứt chiến tranh và lập lại hòa bình ở Việt Nam được ký kết giữa Việt Nam và Mỹ được nhắc tới khá nhiều trong hồi ký của các tướng lĩnh Mỹ, những người trực tiếp tham chiến. Đây cũng là sự kiện làm tốn khá nhiều giấy mực của các học giả nước ngoài trong các công trình nghiên cứu về chiến tranh Việt Nam. Đặc biệt là có nhiều bài báo, dư luận tại Mỹ và các nước phương Tây với những cách nhìn đa dạng về bản Hiệp định lịch sử này.

Trong khi phần lớn các ý kiến đều cho rằng, Hiệp định Pa-ri là một thất bại của Mỹ tại Việt Nam, thì Bộ Chỉ huy không quân chiến lược Mỹ (SAC) và Lầu Năm Góc vẫn cố tình bào chữa và lảng tránh thất bại này. Nhưng các tài liệu được giải mật tại Trung tâm lưu trữ của Mỹ đã phơi bày sự thật. Dù Mỹ có bao biện thế nào đi nữa cũng không lừa bịp được sự thật và dư luận quốc tế.

Chữ ký của Bộ trưởng Ngoại giao 12 nước trong bản Định ước của Hội nghị quốc tế về Việt Nam tại Pa-ri, ngày 2-3-1973. Ảnh tư liệu

Ngày 2-3-1973, Hội nghị quốc tế về Việt Nam, gồm đại biểu các nước Liên Xô, Trung Quốc, Anh, Pháp, bốn bên tham gia ký Hiệp định Pa-ri cùng bốn nước trong Ủy ban giám sát và kiểm soát quốc tế (Ba Lan, Ca-na-đa, Hung-ga-ri, In-đô-nê-xi-a) được triệu tập tại Pa-ri. Đặc biệt, Hội nghị còn có sự tham gia của Tổng thư ký LHQ. Hội nghị đã thông qua Định ước quốc tế trong đó ghi nhận tính pháp lý của Hiệp định và khẳng định đây là “cống hiến to lớn đối với hòa bình, quyền tự quyết, độc lập dân tộc và việc cải thiện quan hệ giữa các nước. Hiệp định và các Nghị định thư phải được tôn trọng triệt để và phải thi hành nghiêm chỉnh”.

Sau khi Hiệp định Pa-ri được ký kết, báo chí, đài phát thanh và truyền hình ở Pa-ri cũng như trên thế giới đều liên tiếp đưa tin về Hội nghị và bản Hiệp định chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam. Đảng Cộng sản Pháp liên tục có những bài phát biểu trên truyền hình lên tiếng ủng hộ mạnh mẽ chiến thắng của Việt Nam. Xã luận báo Nhân đạo (Pháp) đăng tải trên trang nhất số ra ngày 5-2-1973 không chỉ ca ngợi cuộc chiến tranh chính nghĩa của nhân dân Việt Nam mà còn tập trung vạch trần sự cản trở của Mỹ đối với Hiệp định. Tổng thống Pháp G.Pông-pi-đu đã gửi điện mừng Việt Nam, trong đó khẳng định rằng: “Hiệp định Pa-ri có nghĩa là chấm dứt cảnh đau khổ, tàn phá, tang tóc ngày càng chồng chất”.

Tổng bí thư Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Liên Xô Brê-giơ-nhép (Brejnev) khẳng định: “Thắng lợi quan trọng trong cuộc đấu tranh chống chủ nghĩa đế quốc là bằng chứng hùng hồn cho thấy trong thời đại chúng ta không lực lượng nào có thể bẻ gãy được ý chí của một dân tộc đấu tranh cho những quyền không thể tước đoạt được của mình và được tất cả các lực lượng tiến bộ trên thế giới ủng hộ”. Tại Mát-xcơ-va, nhà văn Liên Xô Gam-da-tốp (Gamzatov) đã bày tỏ niềm xúc động mạnh mẽ: “Sau khi nghe tin vui này, tôi muốn ôm hôn tất cả mọi người Việt Nam. Đó là những con người tuyệt vời. Họ đã tiến hành chiến tranh không chỉ vì độc lập và tự do của Tổ quốc mình, mà còn bảo vệ chân lý, vẻ đẹp của hành tinh chúng ta”.

Không chỉ ở Liên Xô, nhiều báo chí tiến bộ phương Tây cũng liên tục đưa ra bình luận về thắng lợi này. Báo Người công nhân (Anh) ca ngợi: “Nhân dân Việt Nam là vô địch, vì sự nghiệp của họ là chính nghĩa, vì cuộc chiến đấu tuyệt vời của họ đã được tiến hành dưới sự lãnh đạo chính trị đúng đắn và vì họ có lòng dũng cảm, sự hiểu biết và quyết tâm giành thắng lợi”.

Đảng Cộng sản Ca-na-đa ra tuyên bố: “Sau cuộc chiến tranh tàn bạo và lâu dài chống nhân dân Việt Nam, chủ nghĩa đế quốc Mỹ đã buộc phải chấm dứt xâm lược, chấp nhận rút toàn bộ quân đội Mỹ ra khỏi Việt Nam và ký kết Hiệp định về chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam. Đây là thắng lợi của Việt Nam dân chủ cộng hòa, của Mặt trận Dân tộc giải phóng và của Chính phủ Cách mạng lâm thời cộng hòa miền Nam Việt Nam”.

Có thể thấy, thắng lợi của Hiệp định Pa-ri đã làm nức lòng bạn bè khắp năm châu, đặc biệt là những người yêu chuộng tự do, hòa bình. Báo Thế giới công nhân – cơ quan Trung ương của Đảng Cộng sản Tây Ban Nha, trong những năm Việt Nam kháng chiến chống đế quốc Mỹ đã hết lòng ca ngợi cuộc kháng chiến vĩ đại của nhân dân Việt Nam, con người Việt Nam. Khi nhận được tin Hiệp định Pa-ri được ký kết, tờ báo đã có bài viết chia vui cùng Việt Nam, trong đó nêu rõ: “Chúng tôi vui mừng nhận tin thắng lợi của các bạn. Không chỉ nhân dân Tây Ban Nha mà tất cả những người lao động trên thế giới đều muốn ca ngợi các bạn”.

Ở phía bên kia cuộc chiến, phản ánh tâm lý của người dân Mỹ khi Tổng thống Ních-xơn tuyên bố Hiệp định hòa bình được ký kết ngày 27-1-1973, Uy-li-am Côn-bai (William Colby) – nhân viên cao cấp của Cục Tình báo Trung ương Mỹ (CIA) hoạt động ở Việt Nam lúc đó đã đưa ra nhận xét: “Người dân Hoa Kỳ cảm thấy nhẹ nhõm trong lòng và đối với họ, vấn đề Việt Nam chìm vào quên lãng”. Đối với Đảng Cộng sản Mỹ, trước ngày chính thức ký kết Hiệp định, đã ra tuyên bố khẳng định rõ ràng: “Thất bại của cuộc chiến tranh xâm lược kéo dài và tàn bạo của đế quốc Mỹ trước hết là do kết quả đấu tranh giành tự do của nhân dân Việt Nam, được sự ủng hộ của tất cả các dân tộc yêu chuộng hòa bình”.

Mai Hương – Minh Nam
qdnd.vn

(Còn nữa)

Ân tình hội ngộ

Giao lưu Hiệp định Pa-ri và tấm lòng bè bạn Ân tình hội ngộ

QĐND – Ngày 26-1, tại Hà Nội đã diễn ra cuộc Giao lưu “Hiệp định Pa-ri và tấm lòng bè bạn” giữa những cựu thành viên đoàn đàm phán Việt Nam tại Pa-ri và những người bạn quốc tế từng ủng hộ hết lòng cho cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc của Việt Nam. Tại cuộc hội ngộ hiếm có sau 40 năm, những người đồng chí năm xưa đã xúc động cùng nhau ôn lại những kỷ niệm đẹp đẽ và hào hùng của một thời sôi nổi chung tay đấu tranh vì hòa bình và chính nghĩa.

Những chiến sĩ trên mặt trận “Thế giới vì Việt Nam”

40 năm trước, tại Pa-ri, Việt Nam đã giành được thắng lợi vang dội khi buộc Mỹ phải ký Hiệp định Pa-ri về chấm dứt chiến tranh và lập lại hòa bình ở Việt Nam. Thắng lợi này không chỉ là thắng lợi của Việt Nam mà còn là thắng lợi của tình đoàn kết quốc tế trong sáng. Sẽ không bao giờ có thể quên sự ủng hộ chí tình, chí nghĩa, sự giúp đỡ to lớn của nhân dân khắp nơi trên thế giới đối với sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc của Việt Nam.

Quang cảnh cuộc Giao lưu “Hiệp định Pa-ri và tấm lòng bè bạn”. Ảnh: Ngọc Thư

30 vị khách quốc tế có mặt tại buổi giao lưu chỉ là một số rất ít trong số hàng triệu con tim luôn hướng về Việt Nam trong thời kỳ đấu tranh gian khổ giành độc lập dân tộc. Họ chính là những “chiến sĩ” trên mặt trận nhân dân thế giới sát cánh cùng Việt Nam trong thời kỳ đó. Họ cũng chính là những người đã góp phần hình thành nên phong trào phản chiến và tổ chức đoàn kết với Việt Nam, từ đó từng bước hình thành “mặt trận” rộng lớn ủng hộ Việt Nam, lan rộng khắp Âu, Á, Phi, Mỹ La-tinh.

Đặc biệt, có cả những người bạn đến từ phía bên kia của cuộc chiến, những người bạn Mỹ chấp nhận mang tội phản bội Tổ quốc để ủng hộ Việt Nam. Đó là cựu Bộ trưởng Tư pháp Mỹ Rem-xi Cờ-lác (Ramsey Clark), người từng trừng phạt những người Mỹ vì tội hoạt động chống chiến tranh, để rồi cuối cùng, khi biết những sự thật kinh hoàng mà Mỹ đã gây ra cho Việt Nam trong cuộc chiến, bất bình vì sự lừa dối của chính phủ đối với nhân dân Mỹ, ông lại tham gia vào những hoạt động phản đối chiến tranh. Đó là bà Mơn Rát-nơ (Merle E. Ratner), người phụ nữ bé nhỏ từng tham gia phong trào phản chiến ở Mỹ khi mới 13 tuổi. Bà nổi tiếng với hành động dũng cảm dám leo lên tượng Nữ thần Tự do để phất lá cờ của Việt Nam… Tại cuộc giao lưu, bà Mơn Rát-nơ đã hát lại bài hát quen thuộc năm nào, bài hát cổ vũ Việt Nam mà bà và những người bạn từng hát vang khi sát cánh với nhau tham gia phong trào phản chiến.

Trong số những người bạn quốc tế tới thăm Việt Nam vào dịp này, có 11 người từng bị bắt giam vì các hành động phản chiến hoặc ủng hộ Việt Nam ở nước mình. Ông Rê-na-tô Đa-xi (Renato Darsie), thủ lĩnh của phong trào ủng hộ Việt Nam trong kháng chiến chống Mỹ và đàm phán ở Pa-ri tại I-ta-li-a, là một trong số đó. Năm lần bị bắt vì tham gia biểu tình chống chiến tranh, vì hiến máu gửi tới Việt Nam… ông không hề nhụt chí. Ông kể, ở I-ta-li-a từng có phong trào hiến máu gửi tặng Việt Nam. Nhiều người cộng sản I-ta-li-a đã sang Nam Tư để hiến máu, rồi từ đó gửi sang Việt Nam, vì một số nơi ở I-ta-li-a không cho phép hành động này. Những người ủng hộ Việt Nam ở I-ta-li-a như ông Đa-xi còn tham gia hoạt động chặn không cho Mỹ chất hàng lên tàu trong những lần tàu Mỹ cập cảng ở I-ta-li-a để tiếp tế cho hành động chiến tranh ở Việt Nam… Khi nghe tin chiến dịch Lai-nơ-bếch-cơ II của Mỹ tàn phá các bệnh viện ở Hà Nội, ông đã cùng những người I-ta-li-a phản chiến đã phát động phong trào quyên góp gửi quà sang ủng hộ Việt Nam.

“Phản ứng từ trái tim”

Tại buổi giao lưu, các đại biểu đã kể về những tấm gương xả thân, quên mình, thậm chí hy sinh tính mạng vì phong trào phản chiến, vì Việt Nam. Đó là 11 người Mỹ đã tự thiêu để buộc chính phủ Mỹ phải chấm dứt cuộc chiến đẫm máu ở Việt Nam. Trong số họ có cậu thanh niên mới chỉ 20 tuổi, cũng có cụ già đã 80 tuổi. Đó là những người phụ nữ Mỹ đã tự xích tay mình vào hàng rào ở Nhà Trắng cho tới khi nào chính quyền thôi đàn áp những người phản đối chiến tranh…

Các hành động phản chiến mạnh mẽ theo nhiều cách khác nhau của những “chiến sĩ”, của các phong trào và tổ chức trên mặt trận nhân dân thế giới ủng hộ Việt Nam đã tạo nên sức ép dư luận to lớn, buộc chính quyền Mỹ phải có những nhượng bộ ở bàn đàm phán Pa-ri, chấm dứt cuộc chiến phi nghĩa tại Việt Nam. Phong trào lan rộng khắp thế giới cũng góp phần buộc các chính phủ phải thay đổi thái độ và có cánh nhìn đúng đắn hơn đối với cuộc chiến ở Việt Nam.

Những người bạn Việt Nam có chung cách giải thích cho các hành động phản chiến quyết liệt của mình. Đó là lòng yêu chuộng hòa bình. Nhưng trên hết, đó là sự bất bình trước cuộc chiến phi nghĩa và đẫm máu cướp đi sinh mạng của hàng triệu con người. Như lý giải của ông An-đrê Men-rát (Andre Menras) người Pháp thì đó chính là “phản ứng từ trái tim”. “Tôi cũng tự hỏi vì sao mình không thể tự kiềm chế. Hằng ngày chứng kiến cảnh tượng chiến tranh ở miền Nam Việt Nam, lại là một thầy giáo giảng dạy về tự do, bình đẳng, bác ái… làm sao chúng tôi chịu được. Điều đó thôi thúc chúng tôi phải chống lại chiến tranh. Đó là phản ứng từ trái tim vì lúc đó tôi chưa hiểu nhiều về chính trị”, ông Men-rát chia sẻ. Ông Men-rát từng là thầy giáo người Pháp ở miền Nam Việt Nam thời ngụy quyền. Ông chính là người đã “liều lĩnh” leo lên đầu tượng đài hai tên lính thủy đánh bộ trước trụ sở quốc hội chính quyền ngụy Sài Gòn để phất cao lá cờ của Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam, tung truyền đơn đòi quân đội Mỹ rút khỏi miền Nam Việt Nam.

Câu chuyện của cựu du kích quân Ca-ra-cát Các-lốt Rây Gô-mết (Carlos Rey Gomez), thành viên nhóm du kích Vê-nê-xu-ê-la tham gia vụ bắt cóc sĩ quan Mỹ Mai-cơn Xmo-len (Michael Smolen) để đánh đổi chiến sĩ biệt động Nguyễn Văn Trỗi bị chính quyền ngụy bắt giữ, đã gây nhiều thu hút. Ông kể thời đó, những du kích quân Ca-ra-cát hành động táo bạo như vậy nhằm để bày tỏ tình đoàn kết với nhân dân Việt Nam, với cuộc đấu tranh chính nghĩa của dân tộc Việt Nam.

Những tấm gương điển hình trong phong trào phản chiến ấy, những hành động ủng hộ hết mình vì Việt Nam ấy càng chứng tỏ “cuộc đấu tranh của nhân dân Việt Nam là lương tri của loài người, là trái tim của nhân loại” như bà Xa-ra Lít-man, một nữ văn sĩ người Thụy Điển đã đúc kết. Điều đó cũng lý giải cho lời đánh giá của ai đó rằng, “cuộc chiến ở Việt Nam đã làm thức tỉnh lương tri thế giới”.

Tại buổi giao lưu, các cựu thành viên đoàn đàm phán của ta ở Pa-ri có dịp gặp lại những người bạn Pháp đã trực tiếp giúp đỡ phái đoàn tận tình trong những năm tháng đấu tranh trên mặt trận cam go ở Pa-ri. Bà Nguyễn Thị Bình, nguyên trưởng đoàn đàm phán Chính phủ cách mạng lâm thời không giấu được xúc động khi gặp lại người lái xe cho mình năm xưa – một đồng chí Pháp đã tận tình phục vụ đoàn đàm phán CPCMLT ở Verriere-le-Buisson. Cả những người bạn Pháp từ Choisy-le-Roi, thị trấn nơi đoàn đàm phán VNDCCH từng ở và đã nhận được sự giúp đỡ chí tình của họ cũng có mặt. Chính sự giúp đỡ về hậu cần của những người bạn Pháp cho hai đoàn ta cùng với phong trào Việt kiều yêu nước, phong trào phản chiến, ủng hộ trên khắp nước Pháp, đã tạo thành “hậu phương” vững chắc cho hai đoàn đàm phán ta đấu tranh trên mặt trận ngoại giao ở Pa-ri.

Mãi mãi khắc ghi tấm lòng bè bạn

Tấm lòng của bè bạn năm châu chính là nguồn cổ vũ, tạo sức mạnh tinh thần to lớn đối với Việt Nam đang trong cuộc đấu tranh chống xâm lược để đi tới thắng lợi cuối cùng. Nhiều người trong số họ từng ủng hộ Việt Nam trong thời kỳ chiến tranh, nay lại tiếp tục tích cực hoạt động ủng hộ Việt Nam trong thời bình và tham gia các hoạt động thúc đẩy tình hữu nghị, phát triển mối quan hệ, khắc phục hậu quả chiến tranh… Tại buổi giao lưu, nguyên Phó chủ tịch nước Nguyễn Thị Bình, nguyên Bộ trưởng Ngoại giao, trưởng đoàn đàm phán Chính phủ cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam tại Hội nghị Pa-ri đã bày tỏ xúc động khi được nghe những câu chuyện từ chính những người bạn của Việt Nam trực tiếp kể lại, dù trước đó bà đã nghe đâu đó nhiều lần. Bà khẳng định, Việt Nam luôn đánh giá phong trào đoàn kết quốc tế là một nhân tố hết sức quan trọng góp phần vào thắng lợi của Việt Nam. Bà thay mặt nhân dân Việt Nam bày tỏ lòng biết ơn các bạn bè quốc tế, nhấn mạnh Việt Nam mãi mãi khắc ghi những gì mà họ đã dành cho Việt Nam.

Chủ tịch Liên hiệp các Tổ chức hữu nghị Việt Nam Vũ Xuân Hồng khẳng định, cuộc giao lưu hôm nay chỉ là một hoạt động tri ân rất nhỏ so với những gì mà Việt Nam muốn nói với hàng triệu nhân dân trên thế giới – những người đã dành cho Việt Nam sự ủng hộ lớn lao. Sẽ còn ngàn vạn lời tri ân từ hàng triệu trái tim của người dân Việt Nam gửi tới những bạn bè quốc tế. Phần ân tình đã nhận được trong những năm tháng đấu tranh vì độc lập dân tộc, Việt Nam luôn sẽ mãi khắc ghi trong những năm xây dựng và phát triển đất nước sau này.

Ông I-ra-cơ-li-xơ Xáp-đa-ri-đi-xơ (Iraklis Tsavdaridis), Thư ký thường trực Hội đồng Hòa bình Thế giới:

Nguồn cổ vũ cho phong trào đấu tranh thế giới

Cuộc đấu tranh của nhân dân Việt Nam được nhân dân thế giới ủng hộ vì đây là cuộc đấu tranh chính nghĩa vì công lý. Cuộc đấu tranh của các bạn đã trở thành điểm hội tụ của tình đoàn kết quốc tế và hữu nghị giữa các dân tộc. Chiến thắng của Việt Nam cũng trở thành chiến thắng của nhân dân các nước, là nguồn cổ vũ động viên lớn lao với cuộc đấu tranh giải phóng của nhân dân nhiều nước tại châu Á, châu Phi và Mỹ La-tinh.

Ông Ép-ghê-ni Pa-vơ-lô-vích Gla-du-nốp, nguyên Chủ tịch Hội hữu nghị Nga-Việt (Evgheni Pavlovich Glaxunov):

Thắng lợi của loài người tiến bộ

Hiệp định Pa-ri về chấm dứt chiến tranh và lập lại hòa bình ở Việt Nam không chỉ là thắng lợi của nhân dân Việt Nam mà còn là thắng lợi của toàn thể loài người tiến bộ. Nhiều hoạt động kỷ niệm nhân ngày ký Hiệp định Pa-ri sẽ góp phần giáo dục và tuyên truyền rộng rãi cho các thế hệ trẻ ngày nay hiểu biết về cuộc chiến đấu của cha ông bảo vệ độc lập, tự do cho dân tộc.

Bà Gien-ni Mi-rơ (Jeanne Mirer), Chủ tịch Hiệp hội Luật sư dân chủ quốc tế:

Luôn sát cánh cùng Việt Nam!

Nhiều luật sư của chúng tôi đã trực tiếp biểu tình chống lại cuộc chiến tranh phi nghĩa mà Mỹ tiến hành trên đất nước Việt Nam và nhiều người cũng đã bị bắt giam. Tuy nhiên, không vì thế mà chúng tôi từ bỏ mà ngược lại, chúng tôi vẫn luôn sát cánh ủng hộ nhân dân và chính phủ Việt Nam trong sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc. Và ngày nay, chúng tôi cũng sẽ tiếp tục sát cánh với các bạn trong sự nghiệp xây dựng và phát triển đất nước.

HẠNH – TOÀN – THƯ
qdnd.vn

Đoàn đại biểu kiều bào dự Xuân quê hương 2013 đặt hoa tưởng niệm và vào Lăng viếng Chủ tịch Hồ Chí Minh

Cứ mỗi độ xuân về, Ủy ban Nhà nước về người Việt Nam ở nước ngoài (thuộc Bộ Ngoại giao) lại tổ chức chương trình Xuân quê hương, một điểm hẹn cho bà con kiều bào ở khắp nơi trên thế giới trở về Việt Nam đón Tết Nguyên đán. Chương trình “Xuân quê hương” năm nay diễn ra đúng vào 23 Tháng Chạp với chủ đề “Đất Tổ rạng ngời” tập trung chào mừng sự kiện Tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương vừa được UNESCO công nhận là Di sản văn hóa phi vật thể tiêu biểu của nhân loại, là niềm tự hào của gần 90 triệu người dân Việt Nam cũng như khoảng 4,5 triệu kiều bào ta đang sinh sống và làm việc ở nước ngoài.

Xuan que huongĐoàn đại biểu kiều bào đặt hoa tưởng niệm và vào Lăng viếng Chủ tịch Hồ Chí Minh

Trong khuôn khổ các hoạt động của Đoàn, sáng ngày 03/02/2013, tức ngày 23 Tháng Chạp, 100 kiều bào – tượng trưng cho 100 người con của mẹ Âu Cơ – thay mặt bà con Việt kiều về dự lễ đã đến đặt hoa tưởng niệm và vào Lăng viếng Chủ tịch Hồ Chí Minh. Vòng hoa của Đoàn mang dòng chữ: “Đoàn đại biểu kiều bào dự Xuân quê hương 2013 kính viếng Chủ tịch Hồ Chí Minh”.

Trong nhiều năm qua, công tác đối với người Việt Nam ở nước ngoài là một bộ phận quan trọng trong chính sách đại đoàn kết toàn dân tộc của Đảng và Nhà nước. Sau khi Bộ Chính trị (Khóa X) ban hành Nghị quyết 36-NQ/TƯ (ngày 26/3/2004), công tác đối với người Việt Nam ở nước ngoài đã đạt được những kết quả và nhiều bước đột phá quan trọng, nhiều kiều bào đã tìm về quê hương với quyết tâm chung tay với bà con trong nước xây dựng đất nước Việt Nam giàu mạnh hơn. Thời gian gần đây, Việt Nam đã có rất nhiều cải cách, đổi mới để kiều bào đóng góp nhiều hơn cho đất nước. Ngọn cờ đại đoàn kết dân tộc đang thấm dần vào từng tầng lớp, từng gia đình trong cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài. Trong các cuộc tiếp xúc với nhiều đối tượng kiều bào, từ trí thức, sinh viên, doanh nhân…, ai cũng mong muốn được trở về quê hương để cùng xây dựng đất nước Việt Nam giàu mạnh.

Ông Lê Văn Duyên, kiều bào từ Hoa Kỳ (83 tuổi) trở về Việt Nam tâm sự: Mỗi dịp Tết đến xuân về, tôi lại trở về quê hương để ôn lại những kỷ niệm nơi mình được sinh ra, hưởng không khí ấm cúng, hạnh phúc khi gặp mặt người thân trong gia đình, dòng họ. Xuân Quê hương năm 2013 với chủ đề “Đất Tổ rạng ngời” thật sự có ý nghĩa và đi vào lòng người. Đã là người Việt Nam thì ai cũng biết và hiểu rõ về lịch sử các vua Hùng. Tôi luôn ghi nhớ câu nói của Bác Hồ: “Các vua Hùng đã có công dựng nước, bác cháu ta phải cùng nhau giữ lấy nước”.

Ông Trần Văn Hùng – Phó Chủ tịch Hội người Việt Nam ở Cộng hòa Séc chia sẻ: “Năm vừa qua đã có rất nhiều hoạt động giao lưu ở Séc. Được ngắm nhìn lá cờ Tổ quốc tung bay giữa Thủ đô Praha, tà áo dài tha thướt hay làn điệu dân ca quan họ được các bạn quốc tế đánh giá cao trong các chương trình Tuần văn hóa Việt Nam ở Séc, là niềm sung sướng tự hào không gì tả nổi.”

Năm Quý Tỵ 2013 đang đến, Việt Nam còn phải đối mặt với nhiều khó khăn, thách thức, song với bản lĩnh, trí tuệ và truyền thống quật cường của dân tộc, đồng bào ta ở trong nước cũng như ở nước ngoài luôn nêu cao tinh thần đoàn kết một lòng, cùng quyết tâm xây dựng đất nước ta ngày càng giàu mạnh. Đó cũng là tâm niệm của mỗi người con đất Việt./.

Lan Hương
bqllang.gov.vn

Vàng là ở hai bàn tay

Bác Hồ vào Phan Thiết dạy học ở Trường Dục Thanh của Hội Liên Thành. Bác sĩ Nguyễn Kinh Chi ở Bộ Y tế là học trò của thầy Thành kể lại:

– Thầy giáo Thành dạy lớp ba, thầy thường mặc áo vải, chân đi guốc. Trong giờ địa lý, thầy giáo Thành dạy tiếng Pháp, tôi còn nhớ mãi buổi học đầu tiên của thầy Thành:

“Montagne” là núi, “rivière” là sông

Núi kia là núi của ai
Sông xanh nước biếc chảy dài đi đâu ?

Chuyện kể về NgườiThầy giáo Thành bảo núi thì có rừng. Trên rừng rất nhiều gỗ quí như lim, trai, sến, táu, vàng tâm, v.v.. . Có nhiều cây thuốc quí, có nhiều muông thú như hổ, báo, hươu, nai, voi… Trong núi có nhiều khoáng sản như vàng, bạc, châu báu, dưới sông có nhiều cá ngon, nước sông có nhiều phù sa, nên ngǎn nước ấy lại tưới cho đồng ruộng thì màu mỡ tươi tắn. Tổ tiên ta kiên cường, giang sơn ta gấm vóc: Thầy giáo Thành dạy chúng tôi như vậy?

Ông thắc mắc tại sao thầy giáo Nguyễn Tất Thành dạy rừng núi, sông ngòi, đất đai là của ta. Thế mà bây giờ Tây nó lại lấy. Đời sống của người lao động thì khổ cực, nghèo đói. Ngày ngày làm nghề thuốc tiếp xúc với người bệnh, bao nhiêu câu hỏi đã gieo vào đầu óc ông: Tại sao người đàn bà làm ǎn vất vả, sớm tối ngày đêm sương gió, thế mà chỉ có một cái yếm bằng vải và chiếc khố tải che thân? Người đàn ông cũng chỉ có cái quần đùi? Các em bé tám chín tuổi vẫn trần truồng chưa có áo quần mặc? Ông Chi suy nghĩ và càng thấm thía những lời giảng của thầy giáo Thành gieo vào lòng tuổi trẻ nhiều ý nghĩa. Ông và các bạn ở Trường Dục Thanh cũ dần dần ghét Tây. Từ đó ông bắt đầu đi tìm cách mạng và ông cũng như nhiều bạn bè khác trở nên người Cộng sản.

Rời Phan Thiết, Bác Hồ đi vào Sài Gòn học nghề. Ngày ngày, lúc học xong, Bác thường xuống xem cảng Sài Gòn. Bác đi để biết tình hình. Ở cảng này, Bác Hồ làm quen với ông Mai, được ông giới thiệu xuống làm ở chiếc tàu của hãng “Vận tải hợp nhất” của Pháp. Tàu Đô đốc Latútsơ Trêvin chuyên chở thực phẩm cho Pháp ở thuộc địa. Ông Mai người ở An Dương (Hải Phòng), gặp Bác lần đầu đã thấy mến. Bác Hồ ngỏ ý muốn xin làm ở dưới tàu. Ông Mai vui vẻ nhận lời giới thiệu giúp Bác. Ông đưa Bác đến gặp thuyền trưởng người Pháp. Người thuyền trưởng nói:

– Nếu cần làm việc ở đây, tám giờ sáng mai đến?

Tối hôm ấy về chỗ ở, Bác rủ thêm một người bạn cùng đi Pháp. Người bạn thân đó nói:

Ta đi Pháp sẽ chết đói thôi, bởi vì chúng ta không có tiền để ǎn.

Bác đã giơ tay ra và nói:

– Tiền là ở đây, vàng là ở đây. Chúng ta còn trai trẻ. Chúng ta sẽ làm lụng để sống.

Sáng hôm sau, người bạn ấy ngần ngại từ chối, không đi. Bác chia tay anh ta. Ông Mai đưa Bác xuống tàu gặp người thuyền trưởng. Nhìn Bác một lát, người thuyền trưởng Pháp nói:

– Ở đây không có việc gì nhẹ cho anh làm cả. Chỉ có những việc nặng thôi, trông anh gầy yếu thế kia. Làm sao nổi?!

Bác trả lời:

– Vâng, tôi gầy yếu thật, nhưng tôi còn trai trẻ, tôi có nghị lực, tôi có thể làm được tất cả!

Người thuyền trưởng thấy Bác nhanh nhẹn giỏi tiếng Pháp nên cho làm phụ bếp. Bác nhận lời làm việc ở đây và lấy tên là Vǎn Ba.

Qua những ngày làm việc đầu tắt mặt tối ở dưới tàu, Bác nhận thấy ở đây có hai hạng người: Người bị bóc lột và người đi bóc lột. Hai thái cực đó thật là rõ ràng. Công việc mà Bác phải làm hàng ngày thật là cực nhọc: Hết bưng những sọt khoai tây lên mặt bàn để gọt rửa, lại bê những thùng rượu để phục vụ các bữa ǎn, rồi rửa bát, nồi, xoong, giặt giũ, lau bàn ghế, đánh bóng boong tàu. Suốt ngày Bác nhễ nhại mồ hôi và mình đầy than bụi. Công việc vất vả thật nhưng khi được nghỉ tay là Bác tranh thủ dạy ông Mai chữ quốc ngữ.

Trong phong trào Đông Du do cụ Phan đề xướng, cụ chủ trương “Gương Nhật Bản, đất Á Đông”. Cụ mong nhờ vào bọn Nhật cô lập giặc Pháp thì thật khác nào “đưa hổ cửa trước, rước hùm cửa sau”. Cụ Phan Chu Trinh lúc này đã bị bắt và theo quan niệm của cụ thì “Học Pháp càng nhiều; làm bồi càng to”.

Vậy tại sao Bác Hồ lại đi Pháp? Vừa rồi chúng ta tìm được cuốn lược dịch “Binh thư Tôn Tử” của Bác, Bác nói là lược dịch, nhưng khi đọc chúng ta nhận thấy là chiến lược của Bác. Qua sự giáo dục của gia đình và cuốn lược dịch “Binh thư Tôn Tử”, qua trao đổi với một số cụ đương thời có học với Bác và ngay cụ thân sinh ra Bác vẫn thường dạy học trò là “biết địch biết ta, trǎm trận trǎm thắng”, chúng ta càng thấy rõ việc Bác đi Pháp là Bác có suy nghĩ chín chắn. Với lại hồi ấy, những từ Pháp “Tự do, bình đẳng, bác ái rất hay, Bác muốn biết đằng sau nhừng từ ấy ẩn giấu cái gì…”

Bác lĩnh được mười quan, dần dà sau này được nǎm mươi quan (trong khi đó mỗi nhân viên người Việt Nam ít nhất cũng phải lĩnh đến một trǎm quan). Lên đất pháp, vì tiền ít Bác thường phải thuê chỗ ngủ đứng. ở nước Pháp lúc này có hai loại tiệm ngủ. Một loại ngủ giường đệm, màn và lò sưởi. Một loại là lấy vé vào ngủ đứng. Ở Pháp ít lâu, Bác đi châu Phi, rồi Bác lại trở về Pháp. Lúc rời châu Phi, Bác có nói:

– Người ta nói ở Châu Phi có nhiều ác thú, nhưng ác thú ở đây mà ác hơn cả, chính lại là lũ thực dân. Sau này, các đồng chí cộng sản quốc tế sang dự Lễ tang Bác có cho biết:

Bác đi Châu Phi trên một chiếc tàu buôn. Chiếc tàu buôn này rời cảng Lơ Havơrơ đỗ tại Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha, Angiêri, Tuynidi và các cửa biển phía đông Châu Phi cho đến Công gô. Mỗi khi tàu cập bến, Bác tìm cách lên thǎm thành phố, khi chiếc tàu này trở về Pháp sửa chữa, người thuyền trưởng thấy anh Ba làm được việc, bèn giới thiệu đi làm bồi ở một chiếc tàu chở sĩ quan Pháp đi Anh nghỉ mát. Đến nước Anh, Bác không đi làm bồi tàu nữa. Lên Thủ đô nước Anh, Bác tìm đến một Trường Trung học. Bác rất thích cuộc đời học sinh. Bác ngồi xem các em học và Bác làm quen được với một người gác cổng. Bác xin làm việc quét tuyết ở Trường học này. Làm được một tuần lễ, vì lao động cực nhọc quá trời lại rét buốt nên Bác bị cảm lạnh và sưng phổi phải thôi việc.

Khi khỏi bệnh Bác xin làm ở tiệm ǎn Cáclơtông, một khách sạn lớn nhất nước Anh lúc bấy giờ. Khách sạn có một người Pháp tên là ÊcÔpphie làm bếp nổi tiếng, được người ta đặt tên là “Vua bếp”. Những tiệc lớn của Nữ hoàng Anh đều do ông ta đứng ra đảm nhận.

Một hôm anh Ba đang rửa bát. Vua bếp đi qua hỏi:

– Anh Ba, anh đổ các thứ thừa đi, chứ anh để lại làm gì?

– Ở đây thừa đổ đi – anh Ba trả lời – nhưng ngoài kia những người đói lại đang cần, tôi để lại lát nữa cho người ta.

Vua bếp ra chiều cảm động thấy một thanh niên Châu Á lòng nhân hậu như vậy nên rất có cảm tình. Nhân đấy Bác lại nói:

– Xin ông cho tôi làm công việc gì có nhiều tiền để tôi chi trả tiền học tiếng Anh. Tôi học nǎm bài đã mất nǎm đồng, trong khi đó tôi chỉ được trả có sáu đồng, còn lại không đủ ǎn trong một tuần lễ.

Vua bếp cười bảo:

– Tôi là người Pháp mà không học được tiếng Anh, còn anh là người Châu Á mà dám học tiếng Anh cơ à? Tôi ở đây hai nǎm rồi mà chỉ biết có vài ba tiếng “vâng” và “không. Nói vậy, ông này vẫn giúp Bác, Bác được bố trí đốt lò.

Thế là từ nǎm giờ sáng đến tám giờ tối Bác phải nặng nhọc đưới hầm lò. Tuy tiền công có được nhiều hơn, nhưng không được học hành, vì đêm về mệt lả làm sao đi học được nữa.

Do đó Bác tìm gặp Vua bếp yêu cầu cho Bác làm một nghề khác. Vua bếp xếp cho Bác làm bánh ga tô, đỡ nặng nhọc hơn và có thêm tiền để học. Thời kỳ này Bác tranh thủ học nhiều ngoại ngữ: Nǎm 1913 – 1914, ở Anh, Bác học tiếng Anh do một giáo sư người Ý dạy. Thầy giáo này biết tiếng Đức, cho nên Bác học cả tiếng Đức và Ý của giáo sư này. Hàng ngày, Bác ra ngồi ở vườn hoa Hayđơ để học. Lúc này, Bác có quan hệ với các nhà yêu nước ở Ấn Độ như Gǎngđi. Nhà sử học Thụy Điển, trong một cuốn sử viết về Bác, cho biết: Nǎm 1915, Bác ở khu vực người da đen Háclem (nước Mỹ) và làm nghề chụp ảnh. Nǎm 1916 sang Đức, trước chiến tranh thế giới lần thứ nhất. Bác trở lại Pháp và ở nhà cụ Phan Chu Trinh. Ở Pháp, Bác tham gia phong trào của giai cấp công nhân và nhân dân lao động Pháp. Bác tổ chức nhóm Việt kiều. Bác đã gặp Sác lông ghê (Charles Longuet), chủ bút Báo “Dân chúng” là cháu ngoại của Các Mác. Ông này đã giúp đỡ Bác viết báo. Lúc đầu Bác viết nǎm dòng rồi sửa hết, rồi lại viết. Bài báo đầu tiên của Bác là bài báo nǎm dòng đǎng ở Báo “Đời sống thợ thuyền”, nǎm 1917. Sau đó Bác viết cho nhiều tờ báo ở Pháp như Báo “Nhân đạo và “Dân chúng”… hồi đó Bác ở nhà số 9 ngõ hẻm Công poǎng (compoint). Đạo diễn Phạm Kỳ Nam đi Pa-ri làm phim về Bác cung cấp thêm nhiều tư liệu: Nhà số 9 Công poǎng tầng dưới là quán cà phê, tầng trên, Bác thuê ở, Bác làm nghề rửa ảnh. Nhà Bác kê vừa một cái giường, hai cái ghế một cái bàn con. Trên bàn có cái chậu thau, trong thau có một xô nước. Khi viết, Bác phải đút thau và xô xuống gầm giường. Hàng ngày, Bác nấu một nồi cơm (gọi là nồi nhưng thật ra nó là cái hộp bích qui vuông thấp). Khi thổi cơm, Bác hấp vào đó một con cá khô, Bác ǎn một nửa, còn một nửa lấy giấy báo gói mang đi, làm việc xong, Bác mang ra ǎn nốt suất cơm còn lại. Bác làm việc rất khẩn trương để có đủ tiền sống, để có nhiều thời gian vào thư viện đọc sách. Bác còn tranh thủ đi nghe người ta giảng thuyết để học tập. Khi Cách mạng Tháng Mười Nga thành công, Bác rất vui mừng, phấn khởi. Bác vào Đảng Xã hội Pháp. Tháng 3 nǎm 1919, Quốc tế thứ ba (tức quốc tế Cộng Sản) thành lập, Lênin có đọc bản Luận cương về cách mạng thuộc địa. Khi tiếp thu bản Luận cương ấy, Bác đã nói:

– Luận cương của Lênin đã làm cho tôi rất cảm động, phấn khởi sáng tỏ, tin tưởng biết bao. Tôi vui mừng phát khóc lên. Ngồi một mình trong buồng, mà tôi nói to, như đang nói trước quần chúng đông đảo. Hỡi đồng bào bị đọa đày đây là cái cần thiết cho chúng ta?

Bác tiếp thu điều này rất sâu sắc. Báo Gramma Cuba đã viết: “Nhân loại tiến bộ trên thế giới đời đời mắc nợ nhân dân Việt Nam”.

Dư luận nhiều nước trên thế giới nêu rõ: Các Mác đề ra chủ nghĩa xã hội khoa học, Lênin là người tổ chức thực hiện. Lênin là người đề ra cách mạng ở các nước thuộc địa, Hồ Chí Minh là người tổ chức thực hiện và rút những kinh nghiệm quí báu.

Vâng lời Bác dạy:

Không có việc gì khó
Chỉ sợ lòng không bền
Đào núi và nấp biển
Quyết chí ắt làm nên

Bác chỉ có hai bàn tay trắng mà Bác xây dựng cả sơn hà. Vàng là ở đôi bàn tay lao động, như thế đấy?

Theo bacho.camau.gov.vn/
Thúy Hằng (st)

bqllang.gov.vn

Món đặc biệt

37
Ảnh Tư liệu

Hồi đầu kháng chiến, ở Việt Bắc đời sống cán bộ rất kham khổ. Nhiều khi không đủ gạo nói gì đến thức ăn. Bác Hồ cũng vui vẻ chịu đựng như mọi người.

Mỗi lần có họp hành, cán bộ nhân viên thường phải chia nhau đi câu cá, săn bẫy thú nhỏ để kiếm thêm chút chất tươi.

Lần ấy, vào năm 1949, Ban thường vụ Trung ương họp ở Tân Trào. Anh em vệ binh cùng rủ nhau đi tìm, nhưng những người đi săn đều về không, những người đi câu cũng vậy, vì trời mưa to quá, cá không cắn mồi.

Đến bữa ăn, các đồng chí thường vụ cùng anh em làm việc ở cơ quan cùng quây quần quanh những chiếc “bàn” tre (cắm cọc xuống đất, trên đặt cái liếp). Trong rá thì chỉ toàn lá sắn do cơ quan tăng gia, loáng thoáng mới có vài hạt cơm. Còn món thức ăn duy nhất là măng rừng chấm muối. Thế mà  mọi người vẫn ăn ngon lành, chuyện trò rôm rả.

Như sực nhớ ra điều gì, Bác Hồ gọi đồng chí Thư ký ngồi bàn bên bảo:

– Hôm nay có khách; chú lấy món “đặc biệt” ra.

Mọi người chưa hiểu “món đặc biệt” là gì, thì người Thư ký đã đưa ra một cái ống tre, nút chặt…Bác mở nắp ống, chia cho mỗi người một ít thức ăn mầu đỏ, thơm nức. Đó là thứ “thịt hộp Việt Minh”, Bác thường dùng khi đi công tác xa, chế biến bằng một cân thịt lợn thái nhỏ vụn, kho với một cân muối và một cân ớt tươi, bỏ vào ống tre, đậy kín, có thể để rất lâu.

Bác bảo:

– Chú nào không ăn được cay nhiều thì đừng dùng món này lẫn với măng. Các chú nên tập ăn ớt vì ớt có rất nhiều sinh tố.

Kháng chiến gian khổ, thiếu thốn, nhưng mỗi lần về quây quần bên Bác như thế này, ai cũng cảm thấy đầm ấm, vui vẻ…

(Theo “Chiến đấu trong vòng vây”của Đại tướng Võ Nguyên Giáp)

Kim Yến (st)
bqllang.gov.vn

Những câu chuyện đời thường của Bác Hồ với phụ nữ

c1

Không có chỗ cho “Bác gái” đứng à?

Ngày 26 tháng 12 năm 1956, Bác Hồ đã tiếp hơn 300 đại biểu phụ nữ Thủ đô tại Phủ Chủ tịch. Họ là những phụ nữ ưu tú, gồm đủ các thành phần: Công nhân, nông dân, trí thức, tiểu thương, học sinh, các tôn giáo, phụ nữ miền Nam tập kết ra Bắc và các gia đình có công với cách mạng. Được đi gặp Bác, ai cũng tươi cười hớn hở, diện những bộ quần áo đẹp nhất.

Sau khi nói chuyện và căn dặn các đại biểu phụ nữ, Bác vui vẻ chỉ vào những đĩa bánh, những đĩa kẹo bày trên bàn và bảo:

– Các cô ăn bánh, ăn kẹo đi. Cô nào có cháu bé thì mang về cho cháu; có chồng thì mang về cho chồng; có người yêu thì mang về cho người yêu, nói là quà của Bác Hồ.

Được lời của Bác, mọi người phấn khởi chia nhau bánh, kẹo.

Nào bây giờ Bác cháu ta ra chụp ảnh.

Mọi người cùng kéo cả ra thềm Phủ Chủ tịch. Chị nào, cô nào cũng muốn được đến gần Bác để chụp ảnh. Bác bảo:

– Ai cũng muốn đứng gần Bác cả thì không có chỗ cho “bác gái” đứng à?

Mọi người còn chưa hiểu “bác gái” nào Bác đã kéo bác sĩ Trần Duy Hưng, Chủ tịch thành phố Hà Nội lại bảo: “Bác gái đây!”.

Tất cả mọi người cười vui vẻ. Bác nói tiếp:

– Bây giờ những cô nào đứng phía trước thì ngồi xuống, để những người đứng phía sau được rõ mặt hơn.

Mọi người răm rắp vâng theo lời Bác.

Nhà nhiếp ảnh bấm liền mấy “pô” ảnh. Ai cũng nghĩ: Chụp ảnh xong sẽ được chào Bác ra về. Nhưng đến khi quay lại, Bác đã không đứng đó nữa làm mọi người vô cùng luyến tiếc.

Các chú ấy nói có đúng không?

Chủ nhật trước ngày 2 tháng 9 năm 1958, một số chị em trong cơ quan Thành hội Phụ nữ đã đi phố sắm sửa cho ngày lễ. Nhưng khu tập thể vẫn đông vui vì hôm đấy không chỉ có các ông chồng về chơi, mà nhiều chị em còn đón cả bố mẹ ở quê ra dự ngày hội lớn ở Thủ đô. Mọi người không ngờ đã được Bác Hồ đến thăm. Xe vừa đỗ, Bác nhanh nhẹn bước xuống. Các chị trong cơ quan mừng quá, ùa ra đón, mời Bác vào phòng khách, nhưng Bác không vào mà nói:

– Không, Bác chưa vào phòng khách. Các cô cứ để Bác đi xem các cô ăn ở thế nào đã.

Bác đi qua sân, qua dãy nhà tập thể xuống thẳng bếp, hỏi thăm việc nấu nướng và khen ngợi chị em cấp dưỡng giữ gìn bếp núc sạch sẽ. Đến thăm nhà trẻ nhưng là ngày nghỉ, các cháu ở nhà, Bác nhìn qua cửa thấy nhà trẻ sạch bong, Bác gật đầu tỏ ý hài lòng. Bác thấy ngoài sân có một số cán bộ nam giới, Bác hỏi anh em:

– Cơ quan phụ nữ sao lại có các chú ở đây?

– Thưa Bác, hôm nay là Chủ nhật, chúng cháu về thăm gia đình ạ!

Bác hỏi lại:

– Các chú chỉ về thăm thôi à? Các chú về phải giúp đỡ các cô ấy việc gì chứ!

– Thưa Bác, chúng cháu có giặt giũ, bế con, dọn dẹp nhà cửa đấy ạ!

Bác quay lại hỏi các chị em:

Thế nào, các chú ấy nói có đúng không?

– Thưa Bác, đúng ạ!

Tất cả vui vẻ cười rộ lên sung sướng theo cái gật đầu, bằng lòng của Bác. Lúc ấy Bác mới đi vào phòng khách và hỏi thăm sức khỏe, tuổi tác của mấy cụ già, rồi căn dặn các chị em làm việc tốt, riêng với các cô giữ trẻ, Bác nhắc nhở:

– Các cháu là mầm non của Tổ quốc, là tương lai của xã hội, các cô phải trông nom dạy dỗ các cháu cho chu đáo.

Eo ơi, tướng giặc, sợ quá!

Trong đời mình, nghệ sĩ ưu tú Lệ Thanh đã nhiều lần vinh dự được vào Phủ Chủ tịch hát và cũng đồng nghiệp biểu diễn phục vụ Bác. Đầu năm 1967, Đoàn Kim Phụng đã biểu diễn vở Kiều Nguyệt Nga để Bác xem. Về lần biểu diện này nghệ sĩ Lệ Thanh kể:

“Chúng tôi chọn màn đầu của vở Kiều Nguyệt Nga vì muốn để Bác được nghe nhiều làn điệu và vui. Tôi đóng vai Lục Vân Tiên. Các vai khác cũng do toàn nữ diễn viên đóng. Anh Ngọc vai Kim Liên, Liên Phương vai quân hầu và chị Tốn đóng vai tướng giặc Phong Lai.

Trong khi chúng tôi đang hóa trang, đột nhiên Bác bước vào, tay cầm mảnh giấy đọc:

– Hồng Trang: Bà bầu.

Chị Hồng Trang lúc đấy là Trưởng đoàn Kim Phụng vội thưa:

– Thưa Bác, cháu đây ạ!

Bác gọi tiếp:

– Lệ Thanh, Lục Vân Tiên.

Tôi vội đứng lên:

– Thưa Bác, cháu ạ!

Bác cười:

– Con gái đóng con trai à?

Tôi thưa :

– Vâng ạ!

Bác lại gọi:

– Tướng giặc Phong Lai đâu?

Chị Tốn đang vẽ mặt, đeo râu, vội bước ra.

Bác giơ hai bàn tay, lắc đầu nói vui:

– Eo ơi, Tướng giặc, sợ quá!

Tất cả Bác cháu đều cười rộ lên rất vui vẻ. Khi biểu diễn xong, các diễn viên đứng ra chào, được Bác lên tặng hoa và bắt tay từng người. Lúc đến trước mặt tôi vẫn trong trang phục Lục Vân Tiên – Bác nói vui:

– Dại thế, lúc nãy Kiều Nguyệt Nga tặng trâm sao không lấy?

Tôi cũng cười, mạnh dạn thưa:

– Thưa Bác, vì Vân Tiên là một tráng sĩ gặp người bị nạn giữa đường thì cứu giúp, vì việc nghĩa chứ không vì vàng bạc ạ.

Bác cười gật đầu…

Bác đến thăm và nói chuyện với Đại hội Ba đảm đang của phụ nữ Thủ đô

cac co co bi chong danh khong a1Ảnh Tư liệu

Đại hội Ba đảm đang của phụ nữ Thủ đô lần thứ nhất, khai mạc rất trọng thể vào tối 1-12-1965 tại hội trường Trường Đảng cao cấp Nguyễn Ái Quốc. Chiều 2-12-1065 (ngày họp thứ 2) vào khoảng 16 giờ, Đại hội vô cùng sung sướng, phấn khởi được đón Bác. Cùng đi với Người có Thủ tướng Phạm Văn Đồng và Anh hùng miền Nam Tạ Thị Kiều. Vừa thấy Bác, cả Hội trường đứng bật dậy, vỗ tay ran như sấm lẫn với tiếng reo vô cùng phấn khởi.

– Bác! Bác đến! Bác đến!… Hồ Chủ tịch muôn năm! Hồ Chủ tịch muôn năm!

Sau mấy phút vô cùng sôi nổi, Bác giơ tay ra hiệu (một cử chỉ thường có của Bác) cho Đại hội im lặng, rồi Bác tươi cười chỉ vào chị Kiều và nói:

– Hôm nay, Bác dẫn “cô bé này” đến với Đại hội, các cô, các chú(Đại hội có một số đại biểu là nam giới) có phấn khởi không?

Cả Đại hội vỗ tay rầm rầm xen lẫn tiếng:

– Thưa Bác, có ạ!

Không khí Đại hội thật vô cùng náo nhiệt, sôi nổi. Bác đã kể cho Đại hội nghe về những gương anh hùng của phụ nữ ta trong thời kỳ bí mật, trong cuộc kháng chiến chống Pháp và sự hy sinh anh dũng của chị em miền Nam trong chống Mỹ.

Thật bất ngờ, Bác rút trong túi ra một cột báo của Báo Thủ đô ngày hôm đó, đọc tên bảy bà và chị, xong Bác hỏi:

– Các cô ấy có mặt ở Đại  hội này không?

Hội trường lại vang lên:

– Thưa Bác, có ạ!

Bác tươi cười nói:

– Hôm nay, Bác đọc báo thấy có đăng thành tích của bảy cô là công nhân, là nông dân, là giáo viên… Bác rất vui, Bác có mấy chiếc huy hiệu để tặng các cô ấy.

Mọi người sung sướng vỗ tay tưởng làm vỡ phòng họp.

Sau cùng Bác hỏi:

– Các cô có muốn được Bác thưởng Huy hiệu của Bác không?

Cả Hội trường lại phấn khởi trả lời vang lên:

– Thưa Bác, có ạ, có ạ!

Vậy các cô về làm công tác cho tốt, Bác sẽ thưởng!

Cả Hội trường lại vang lên như sấm.

Vào nhầm nhà trẻ

Ở chiến khu Việt Bắc, một lần Bác đến thăm nhà nữ đồng chí Loan, người đã kéo cờ ở Quảng trường Ba Đình ngày 2-9-1945. Vào đến nhà, thấy đông con nhỏ, Bác nói vui:

– Ồ tưởng đây là nhà cô Loan, hóa ra mình vào nhầm nhà trẻ!

Biết Bác phê bình khéo, chị gượng cười và báo cáo:

– Thưa Bác đây là tiểu đội của vợ chồng cháu đấy ạ!

Bác vui vẻ bảo chị tập trung “tiểu đội” cứ lần lượt, bé nhất đứng trước Bác chia kẹo. Chị đang loay hoay sắp xếp đội hình, Bác bảo:

– Tiểu đội trưởng cũng đứng vào hàng chứ!

Bác chia kẹo cho các cháu và chị nữa. Khi đến lượt chị, Bác nói vui:

– Bác khen là cô đã có công nuôi dạy các cháu ngoan.

Bác “Chấm bài” cho một cô giáo

c3Ảnh Tư liệu

Sáng 17 tháng 9 năm 1958, Bác đến thăm ngót 3.000 thầy giáo, cô giáo của toàn miền Bắc được tập trung về Trường Bổ túc Công nông Trung ương để nghiên cứu tình hình nhiệm vụ của cách mạng và nhiệm vụ của ngành giáo dục.

Bác nói chuyện với các thầy giáo, cô giáo về nghề dạy học, nghề “trồng người”.

Tại buổi nói chuyện này, có một chuyện làm mọi người nhớ mãi và trở thành một kỷ niệm không thể quên. Lúc Bác nói chuyện xong một cô giáo của Trường Lương Ngọc Quyến – Liên khu Việt Bắc lên tặng Bác một món quà nhỏ. Mọi người thấy cô giáo trân trọng tặng Bác một chiếc cặp ba dây. Bác mở ra: Trong cặp có 4 chiếc khăn mùi soa. Bác cầm một chiếc và đọc to những dòng chữ thêu trên khăn. Đó là một bài thơ ngắn. Đọc xong Bác trích ra hai câu và “chấm bài” ngay tại chỗ. Câu thứ nhất: “Bác là ánh sáng quang vinh”, Bác sửa: “Bác là Hồ Chí Minh” ; và câu thứ hai: “Chúng con quyết trí hy sinh” lại được Bác sửa: “Chúng tôi quyết chí hy sinh”. Bác vui vẻ nói: “Quyết chí” mà cô giáo viết sai chính tả thành “Quyết trí”. Cả Hội trường cười vui, làm không khí thân mật, đầm ấm, tình cảm giữa lãnh tụ với nhân dân mà ấm áp như cha con trong nhà.

Gái mà làm anh nuôi à?

Đến thăm một đơn vị bộ đội phòng không, đang giữa câu chuyện với ngót 500 cán bộ, chiến sĩ, Bác hỏi:

– Có anh nuôi ở đây không?

– Có ạ!

– Các cháu lên đây.

Các cô gái ngày thường lấm lem than nồi, thế mà giờ đây lại được Bác Hồ quan tâm, cảm động quá cứ ôm lấy Bác Hồ mà khóc. Bác hỏi vui:

– Các cháu làm gì?

– Chúng cháu làm anh nuôi ạ!

– Gái mà làm anh nuôi à?

Bác cháu bật cười vui vẻ.

Tâm Trang (Tổng hợp)
bqllang.gov.vn

Người lái xe tận tụy của “Nữ hoàng Việt cộng”

QĐND – Ông là Mi-sen Xtra-si-ne-xquy (Michel Strachinescu), người lái xe cho Bộ trưởng Ngoại giao Nguyễn Thị Bình, trưởng đoàn đàm phán Chính phủ Cách mạng lâm thời (CPCMLT) tại Hội nghị Pa-ri. Chúng tôi đã tìm gặp Mi-sen khi ông vừa tới Hà Nội, với tư cách là khách mời quốc tế nhân dịp kỷ niệm 40 năm ngày ký Hiệp định Pa-ri.

Công việc ủng hộ chính nghĩa

Ông hồ hởi kể về những người đồng chí Việt Nam, về công việc ông đã làm trong suốt 3 năm phục vụ đoàn CPCMLT. Câu chuyện diễn ra nhiều chục năm về trước mà cách kể nhiệt tình, sôi nổi của ông như thể mới chỉ vừa diễn ra. Bởi đó là những ký ức ông không thể nào quên. Ông vui vẻ nói: “Bà Bình đúng là một “nữ hoàng”, một người phụ nữ tuyệt vời mà tôi rất kính trọng!”.

Mi-sen mô tả lại cuộc đối đáp giữa người phát ngôn Lý Văn Sáu và tay nhà báo Mỹ. Ảnh: Mai Nguyên

Hồi đó, báo chí tại Pa-ri đã phong tặng bà danh hiệu “Nữ hoàng Việt cộng” với hình ảnh đẹp đẽ của người phụ nữ Việt Nam, mang bản lĩnh, trí tuệ và tinh thần quật khởi của người miền Nam. Sự xuất hiện của bà đã đập tan những luận điệu xuyên tạc của đối phương về những người chiến sĩ cộng sản Việt Nam thời ấy. Bà Bình thường hỏi chuyện ông bằng tiếng Pháp với âm điệu rất chuẩn xác, chủ yếu hỏi thăm gia đình và con cái ông ở nhà ra sao. Trong suốt 3 năm (từ năm 1970 đến 1973), vì nhà xa không thể đi về thường xuyên, ông đã để lại gia đình, vợ con để tới Verriere-le-Buisson phục vụ đoàn đàm phán CPCMLT.

Tuy được giao nhiệm vụ trực tiếp lái xe phục vụ bà Nguyễn Thị Bình, nhưng nhiều lúc ông cũng lái xe cho các đồng chí khác, trong đó có đồng chí Lý Văn Sáu, người phát ngôn của đoàn CPCMLT. Đang nói chuyện, bỗng Mi-sen đứng bật dậy, làm điệu bộ chỉ tay và quay người. Thì ra ông đang mô tả cuộc đối đáp của ông Lý Văn Sáu với một tay nhà báo Mỹ, người đã giơ tấm bản đồ và hỏi vùng giải phóng của miền Nam Việt Nam ở đâu tại một cuộc họp báo. Mi-sen còn nhớ khi đó, ông Lý Văn Sáu đã đáp rằng, “máy bay Mỹ ném bom nơi nào ở miền Nam Việt Nam thì những nơi ấy chính là vùng giải phóng của chúng tôi”. Mi-sen kể ông đã được người phát ngôn Lý Văn Sáu giải thích cho rất nhiều về ý nghĩa cuộc chiến tranh chống Mỹ của dân tộc Việt Nam. Nhờ đó, từ lúc ban đầu chỉ biết qua báo chí, dần dần ông đã hiểu hơn về cuộc chiến đấu của dân tộc Việt Nam.

Khi mới được bộ phận chuyên trách của Đảng Cộng sản Pháp đề xuất giao nhiệm vụ lái xe phục vụ đoàn CPCMLT, ông thực sự vẫn còn mơ hồ về công việc mình sẽ làm. Khi ấy, Mi-sen là một đảng viên trẻ, mới 24 tuổi của Đảng Cộng sản Pháp. Nhưng càng tiếp xúc lâu và gần gũi với những đồng chí Việt Nam, với công việc của đoàn đàm phán, ông Mi-sen càng hiểu hơn những gì mình đang làm là một nhiệm vụ chính trị, chứ không chỉ là công việc đơn thuần. Ông hiểu đó là công việc vì chính nghĩa, giúp đỡ một đất nước chống lại chiến tranh xâm lược.

Bức ảnh chụp bà Nguyễn Thị Bình mà ông Mi-sen lưu giữ. Ảnh tư liệu

“Nếu là công việc thì sẽ bắt đầu lúc 8 giờ và kết thúc vào 17 giờ. Còn chúng tôi làm việc bất kể giờ giấc, có lúc chờ đoàn họp xong đến 2, 3 giờ đêm là chuyện bình thường”, ông kể lại. Nhiệm vụ cũng khá căng thẳng vì ngoài việc lái xe, ông còn kiêm luôn nhiệm vụ bảo vệ cho bà Bình khi di chuyển trên đường. Ông luôn phải cảnh giác quan sát vì đề phòng phía đối phương sẽ có những hành động bất lợi, gây nguy hiểm cho các thành viên trong đoàn.

Một lần Mi-sen đang lái xe trên đường cao tốc chở đồng chí Lý Văn Sáu và một số thành viên khác trong đoàn thì phát hiện lá cờ nhỏ của CPCMLT cắm trên ô tô gãy và rơi xuống đất. Dường như có ai đó đã cố tình bẻ gãy chiếc đế cắm cờ. Khi đó, xe đã chạy được khoảng 200m rồi. Lúc ấy trong đầu Mi-sen chỉ kịp nghĩ rằng không thể để lá cờ nằm đó mà phải nhặt bằng được mang về. Vậy là bất chấp nguy hiểm, ông ra các dấu hiệu khẩn cấp, rồi dừng xe, bước xuống quay lại nhặt lá cờ trong tiếng hò hét, quát tháo của những người lái xe khác. Lúc đó họ tưởng ông bị điên vì có hành động quá nguy hiểm có thể tai nạn chết người.

Mi-sen cũng chia sẻ thật, công việc bận rộn, lại kéo dài nhiều năm nên thật sự cũng không phải dễ dàng gì cho vợ ông. “Nhưng các đồng chí Việt Nam đã tới tận nhà gặp Giắc-cơ-lin (Jacquelines) và giải thích nên cô ấy cũng rất thông cảm với công việc của chồng”, Mi-sen nhớ lại.

Bánh ga-tô chúc mừng Việt Nam

Ba năm phục vụ đoàn đàm phán CPCMLT, trong ký ức Mi-sen đầy ắp những kỷ niệm đẹp với những người mà ông vẫn gọi là các “đồng chí Việt Nam”. Ông vui với niềm vui của các “đồng chí Việt Nam” mỗi lần đón đoàn đi họp về có kết quả tích cực. Và cũng buồn lây sau mỗi cuộc họp căng thẳng, mệt mỏi và kéo dài của họ. Tự tay Mi-sen đã làm một chiếc bánh ga-tô nhiều tầng kiểu Pháp để chúc mừng các đồng chí Việt Nam sau khi Hiệp định Pa-ri được ký tắt. Trên tầng cao nhất của chiếc bánh còn có hình một lá cờ đỏ sao vàng của Việt Nam. Ông cũng nhớ cả người đầu bếp Việt Nam mà các ông vẫn gọi là “papa” (nghĩa là “bố”) đã nhiệt tình nấu cho các đồng chí người Pháp phục vụ đoàn thưởng thức các món ăn Việt Nam.

“Trong ngày Hiệp định Pa-ri chính thức được ký, 27-1-1973, niềm vui vỡ òa của các đồng chí Việt Nam cũng chính là niềm hạnh phúc của chúng tôi”, Mi-sen còn nhớ. Nhưng chính lúc đó, Mi-sen cũng hiểu rằng cuộc chiến ở Việt Nam còn chưa kết thúc. Vì sau khi Mỹ rút quân về nước theo Hiệp định Pa-ri thì vẫn còn lại chính quyền ngụy tay sai.

Cầm xấp ảnh tư liệu trên tay, ông đọc vanh vách tên những đồng chí Việt Nam trong đoàn mà ông có dịp chụp ảnh kỷ niệm cùng. Ông cũng trân trọng lưu giữ bức ảnh chân dung của “Nữ hoàng Việt cộng” ở Pa-ri với chữ ký tặng của bà. Sau giải phóng, năm 1976, bà Bình đã mời Mi-sen sang thăm Việt Nam để tỏ lòng cảm ơn. Đó là lần đặt chân đầu tiên của Mi-sen tới đất nước của những người “đồng chí Việt Nam” mà ông từng một thời gắn bó.

MỸ HẠNH
qdnd.vn