Thư viện

“Gặp Bác Hồ” giữa đất nước Singapore

Đến đảo quốc Singapore, chúng tôi còn lưu lại một kỉ niệm đẹp về đất nước nổi tiếng xanh – sạch – đẹp này. Trong hành trình tham quan, chúng tôi đi qua Bảo tàng văn minh châu Á của Singapore, một vị trí rất đẹp bên bờ sông. Anh hướng dẫn viên du lịch người bản địa chợt hoạt bát hẳn lên sau khi giới thiệu bằng tiếng Anh cho chúng tôi về quá trình phát triển giao thương của Singapore, anh dẫn mọi người đi về phía tiền sảnh của bảo tàng, miệng nói liên tục bằng tiếng Việt rất rõ: “Hồ Chí Minh! Hồ Chí Minh!” Miệng anh cười tươi và ánh mắt tỏ ra ấm áp đặc biệt khi nhắc đến tên Bác Hồ.

Thoạt tiên mọi người chưa hiểu anh định nói gì, nhưng khi rẽ sang đến đúng vị trí tiền sảnh của bảo tàng thì tất cả cùng “à” lên một tiếng khi nhận thấy một tấm bia tưởng niệm bằng đá đặt trang trọng trước bảo tàng. Bia tưởng niệm chủ tịch Hồ Chí Minh! Không ai bảo ai, tất cả cùng ùa đến bên tấm bia, xúc động ngắm nhìn hình ảnh thiêng liêng và gần gũi của Bác. Một điều thật bất ngờ và làm tất cả chúng tôi cảm thấy tự hào vì chỉ có duy nhất Bác Hồ được dựng bia tưởng niệm ở vị trí đẹp nhất, trang trọng nhất trước bảo tàng.

bac ho - singapoBia tưởng niệm Bác Hồ ở Bảo tàng Văn minh Châu Á của Singgapore

Trên tấm bia cao gần 2 mét là những dòng tiếng Anh giới thiệu trang trọng về tiểu sử của Bác cùng với chân dung thật đẹp của Người. Tấm bia ghi ngắn gọn về quá trình ra đi tìm đường cứu nước của Bác cũng như vai trò trong đấu tranh giải phóng dân tộc khỏi ách thực dân. Trên hành trình vận động cứu nước và tuyên truyền chủ nghĩa cộng sản, Bác đã đáp thuyền đến Singapore vào tháng Năm năm 1933 và sau đó đi tiếp đến Hồng Kông. Những thông tin ngắn gọn về tiểu sử của Bác trong một tấm bia cùng bài thơ Giã gạo của Người đã đem đến hình ảnh một lãnh tụ, một chiến sĩ đấu tranh kiên cường cho dân tộc và một nhà thơ, nhà văn hoá lớn của Việt Nam. Chúng tôi cảm động vì được quây quần bên Bác giữa Singapore, để cảm nhận được những tình cảm rất đáng quý mà bạn đã dành cho Bác Hồ, cho Việt Nam.

Được “gặp” Bác Hồ giữa đất nước Singapore, tôi chợt nghĩ dường như Bác vẫn đang là một chiếc cầu nối giữa quá khứ và hiện tại, dường như khoảnh khắc đặt chân lên đất nước xinh đẹp này vào 76 năm trước, Người trở lại để gặp những người bạn Singapore, thắt chặt thêm tình hữu nghị giữa hai nước anh em trong khối ASEAN. Khoảnh khắc quây quần thật ngắn ngủi, nhưng đã để lại nhiều ấn tượng sâu sắc ấm nồng vì những tình cảm trân trọng mà đất nước Singapore dành cho Bác Hồ kính yêu, dành cho những người bạn Việt Nam.

Theo Trần Hà Nam/yume.vn
Kim Yến(st)
bqllang.gov.vn

Nhà sư cưu mang Hồ Chủ tịch trên đất Thái

– Năm 1929, Bác Hồ bị sự truy lùng ráo riết của chính quyền thực dân Pháp. Thời điểm này, Bác sang Thái Lan. Để có thể tiếp tục sự nghiệp cách mạng, Bác ẩn mình trong một ngôi chùa trên đất bạn. Những thông tin liên quan đến thời gian này của Bác vẫn là một khoảng trống trong các tư liệu được công bố về Bác.

Ngôi chùa trên đất Thái 

Vào tháng 7/1928, Bác Hồ từ Đức sang Thái Lan. Thời điểm đó, Pháp biết tin Người đang ở Xiêm nên đã phối hợp với cảnh sát Xiêm lúc ấy để truy bắt để giao nộp cho Pháp. Gặp lúc hiểm nguy, Bác Hồ đã lánh nạn vào một ngôi chùa Việt trên đất Thái vào tháng 7/1929. Hồi ký bà Đặng Quỳnh Anh (một Việt Kiều Thái Lan) cũng đã viết, lúc ấy, Bác từ U đon đi bộ 70km đến huyện Sa Vàng (tỉnh Sa Côn) mất 1 ngày.

su-3.jpgNhà sư Bình Lương chụp ảnh với bà con Việt Kiều Thái Lan trước khi về nước năm 1964.

Sau đó, Bác từ Sa Côn lên Băng Kok (cách đó hơn 600km) và vào chùa Từ Tế vào thời gian trên. Ngôi chùa này có tên Việt là Từ Tế Tự và tên Thái Lan là Vắt Lô Ca Nu Kho ở xã Chặc Ca Văn, huyện Xẳm Phăn Tha Vông – Băng Kok. Để tránh sự theo dõi và truy lùng gắt gao của cảnh sát Thái Lan và mật thám Pháp, Bác Hồ phải cạo đầu, mặc áo cà sa giả làm sư và ẩn dật trong ngôi chùa này. Sau thời gian trên, Bác hồ mới rời Thái Lan sang Thượng Hải, rồi sang Hồng Kông.

Việc Bác có mặt tại ngôi chùa đã được tác giả Trần Dân Tiên đề cập tới ở cuốn “Những mẩu chuyện về đời hoạt động của Hồ Chủ tịch” do Nhà xuất bản Sự Thật in năm 1975. Trang 71 cuốn sách này có ghi:

“…Gặp nguy hiểm quá, bị theo dõi riết, ông Nguyễn đã lãnh nạn vào một ngôi chùa, tạm cắt tóc đi tu để tiếp tục hoạt động. Sự việc cũng được khẳng định trong cuốn “President Ho Chi Minh” của tác giả Vi Nay Khun U Đôm của Thái Lan. Trang 53 của cuốn này viết: “ để che mắt cảnh sát và mật thám Pháp, ông Hồ Chí Minh đã dùng áo cà sa làm vật che thân, bằng cách đi tu ở trong một ngôi chùa của người Việt ở thủ đô Băng Cốc”.

Sự việc trên cũng được minh chứng bởi hình ảnh Bác mặc áo cà sa vàng. Bức ảnh này từng được Hội Việt kiều Thái Lan tại Uông Bí tặng cho Hội Việt kiều Hà Nội. Tại khu lưu niệm về Hồ Chí Minh tại U đon Tha Ni của Thái Lan cũng có treo một bức ảnh Bác Hồ trong trang phục áo cà sa tương tự.

Nhà sư Bình Lương là người đã từng cưu mang Bác Hồ

Theo ông Ngô Vĩnh Bao – người đã có hơn 40 năm tìm hiểu các thông tin về Bác Hồ khi ở Thái Lan , thì thời gian Bác Hồ ở chùa Từ Tế, nhà sư Bình Lương đang làm trụ trì và nhà sư chính là người đã cưu mang Bác trong suốt thời gian từ tháng 7 đến tháng 11/1929. Trong một số tài liệu viết về Hồ Chí Minh của Thái Lan, có khá nhiều đoạn nhắc đến vị sư này.

Các bác sĩ bệnh viện Việt Xô sang tận nơi đón nhà sư Bình Lương về nước. Các bác sĩ bệnh viện Việt Xô sang tận nơi đón nhà sư Bình Lương về nước.

Nhà sư Bình Lương còn được cộng đồng người Việt ở Thái gọi là cụ sư Ba. Ông sinh năm 1882 tại xã Sơn Bằng, huyện Hương Sơn, Hà Tĩnh. Tên thật của nhà sư là Phan Ngọc Đạt.

Tháng 3/1964, nhà sư Bình Lương bị bệnh nặng. Thể theo nguyện vọng của nhà sư được về nước để sống những ngày cuối cùng và gặp lại chủ tịch Hồ Chí Minh. Từ nguyện vọng này, phía ta đã có sự thoả thuận với Hội đồng thập tự Thái Lan và phía Việt Nam đã tổ chức một chuyến bay đặc biệt đưa nhà sư từ Băng Kok qua Viên Chăn và về Hà Nội. Bệnh viện Việt Xô lúc ấy cũng đã cử 2 bác sỹ sang tận nơi đón vị hoà thượng này về nước.

Và cũng từ đó, Bác Hồ nhiều lần vào thăm hoà thượng Bình Lương trong bệnh viện Việt Xô. Hiện Bảo tàng Hồ Chí Minh vẫn còn lưu giữ bức thư mà hoà thượng Bình Lương gửi cho Bác Hồ lúc hoà thượng đang nằm viện. Trong bức thư này, hoà thượng Bình Lương đã tường thuật lại câu chuyện Bác và thăm ông. Một lần, Bác vào thăm nhà sư nhưng nhà sư đang hôn mê. Bác hỏi: “Ông còn nhớ tôi không?”

Khi đó, nhà sư đang sốt và hôn mê nên ông lắc đầu. Khi tỉnh dậy, nhà sư được các bác sỹ kể lại. Ông lấy làm tiếc và đã viết thư cho Bác Hồ bày tỏ điều đó.

Chuyện người có công sưu tầm 

Phần thông tin về Bác tại Thái Lan trong các tư liệu hiện nay còn khá mờ nhạt. Ông Ngô Vĩnh Bao – một cán bộ ngoại giao nay đã về hưu đã dành hơn 40 năm qua để sưu tầm và nghiên cứu các tư liệu về Bác trong hành trình ở Thái Lan. Việc Bác từng ở chùa mới chỉ được đề cập qua loa trong một số tài liệu. Chính ông Bao là người trực tiếp tìm tòi những thông tin liên quan đến sự việc này một cách kỹ lưỡng.

Ông cho biết, ông đã dành rất nhiều thời gian để đi tìm lại nơi an táng cụ sư Bình Lương. Thời cụ mất (1966) đang chiến tranh loạn lạc nên những thông tin về cụ hoàn toàn không được chú ý. Ngay từ năm 1969, khi bắt đầu để tâm nghiên cứu các tư liệu về Bác, ông Bao đã mong tìm thấy mộ cụ sư Bình Lương nhưng ông không thể thực hiện được mong ước này vì các thông tin về cụ không có ai biết.

Mãi đến năm 2008, trong một lần vô tình đến chùa Long Ân (Quảng Bá, Tây Hồ, Hà Nội), ông Bao mới được biết nhà sư Bình Lương đang an bài tại đây. Cốt của nhà sư Bình Lương được đặt trong tháp cùng phần cốt của hoà thượng Thích Chí Độ.

Trong chùa Long Ân cũng có một bảng ghi công của hoà thượng Bình Lương. Bản ghi công này đã ghi rõ quá trình hoà thượng định cư tại chùa Từ Tế – ngôi chùa có công che giấu nhiều thế hệ làm cách mạng. Bảng ghi công này cũng cho biết lúc hoà thượng viên tịch Thủ tướng Phạm Văn Đồng đã thay mặt Hồ chủ tịch đến đặt vòng hoa viếng.

Ngân Giang
bee.net.vn

Tấm ảnh Bác Hồ trong ống tre

Tại Bảo tàng Hồ Chí Minh, chi nhánh Quân khu 5 có trưng bày tấm ảnh chân dung Bác Hồ, bên cạnh là chiếc ống tre đã bóng màu thời gian. Đó là những kỷ vật quý giá mà bà Đặng Thị Ngận (tức bà Kiểm) ở xã Kỳ Xuân – nay là xã Tam Giang, huyện Núi Thành (Quảng Nam) cất giữ trong suốt những năm kháng chiến chống Mỹ cứu nước.

Tháng 2 năm 1965, anh Nguyễn Như Lâm (con trai bà Kiểm) là Xã đội trưởng lên chiến khu học cách đánh Mỹ. Kết thúc khóa học, với kết quả xuất sắc, anh được cấp trên tặng thưởng tấm ảnh Bác Hồ. Anh đem ảnh này về trao lại cho mẹ cất giữ. Thời điểm ấy, địch tai mắt khắp nơi, Đồn Kỳ Xuân lại sát bên cạnh nhà, nếu để lộ tấm ảnh Bác Hồ thì khó mà bảo toàn tính mạng. Sau khi suy nghĩ rất lâu, bà Kiểm quyết định cuốn tấm ảnh cho vào trong một đoạn ống tre và đậy kỹ. Bà làm việc này một mình trong đêm, sau đó mới báo cho chồng con biết. Cô Nguyễn Thị Thu Hương, con gái bà Kiểm hiện đang sống ở xã Tân Bình, thị xã La Gi (Bình Thuận) kể: Hồi đó, tuy mới 10 tuổi nhưng tôi đã giác ngộ cách mạng và làm liên lạc cho các chú cán bộ. Có lần, mẹ chỉ mấy ống tre giắt trên tấm phên tranh rồi thầm thì với hai chị em tôi: “Đây là tài liệu mấy chú cán bộ đưa mẹ cất và một tấm ảnh Bác Hồ thằng Lâm được trên trao tặng. Toàn những tài liệu mật và quý. Mẹ con mình phải cố giữ cho đến ngày đất nước thống nhất con nghe!”.

Tam anh bac hoTấm ảnh Bác Hồ được bà Kiểm cất giữ trong ống tre gần 20 năm được trưng bày tại Bảo tàng Hồ Chí Minh, chi nhánh Quân khu 5.

Có lần, nghi ngờ gia đình bà Kiểm nuôi giấu cán bộ cách mạng, địch cho quân càn quét, lục soát và phát hiện 3 căn hầm bí mật trong nhà và ngoài vườn. Cũng may các đồng chí cán bộ đã được đưa đi nơi khác. “Chúng bắt bố, mẹ tôi và chị Năm Lũy xuống Kỳ Hải tra tấn dã man đến nỗi bố tôi hy sinh. Tôi còn nhỏ nên chỉ bị chúng đánh đòn” – Cô Hương bùi ngùi nhớ lại.

Nhà của bà Kiểm bị địch phá tan hoang. Chum sành đựng gạo khoai bị đập nát, nồi đồng bị địch dùng súng bắn thủng để không sử dụng được nữa. Tấm phên nhà bếp bị phá tung tóe, các ống tre rơi xuống đất, địch lấy chân đá qua lại vì nghĩ rằng đây là vật dụng đựng hạt giống rau quả mà người dân trong xóm vẫn hay cất giữ. Khi chúng đi khỏi, cô Hương mới dám lấy các ống tre chôn cất ngoài vườn. Sau này, khi được vào thăm nuôi mẹ ở trại giam, biết con gái đã giấu ảnh Bác Hồ và tài liệu, bà Kiểm ôm con mừng rỡ. Khi bà được thả về, dựng lại nhà, các ống tre lại tiếp tục được đặt trên gác bếp. Tháng 10 năm đó, anh Lâm hy sinh ngay trong xã, bà Kiểm đau đớn lắm, đấu tranh quyết liệt với địch mới giành được xác để chôn cất anh… Từ đó, vào mỗi tối, người mẹ già lại lấy chiếc ống tre trên bếp xuống nâng niu, tần ngần, nước mắt ngắn dài…

Ngày 24-3-1975, Kỳ Xuân được giải phóng, Ủy ban Tự quản được thành lập và ra mắt nhân dân. Khi nghe các anh trong Ủy ban trăn trở là không có ảnh Bác Hồ treo cho trang trọng, bà Kiểm đã lấy tấm ảnh Bác Hồ trong ống tre đưa cho anh Nguyễn Đình Nam (cán bộ binh vận của Khu 5) mượn để làm lễ. Năm 1983, đoàn công tác Bảo tàng Khu 5 nghe câu chuyện cảm động ấy đã vận động bà Kiểm tặng cho Bảo tàng, bà vui vẻ nhận lời. Năm 2001, bà Kiểm mất trong niềm thương tiếc của cả xóm làng.

Hiện nay, người con trai duy nhất của liệt sĩ Nguyễn Như Lâm là Trung tá Nguyễn Ngọc Quân, công an huyện Núi Thành, thờ tự ông bà nội. Câu chuyện về tấm ảnh Bác Hồ được cất giữ trong ống tre suốt cuộc chiến tranh càng làm anh tự hào về người bà dũng cảm và lòng dân Khu 5 hướng về Bác kính yêu.

Hồng Vân/ Theo qdnd.vn
Thu Hiền (st)

bqllang.gov.vn

“Nỗi đau dân nước, nỗi năm châu”

Câu này dẫn trong bài “Bác ơi” của Tố Hữu viết vào ngày 6-9-1969, những ngày “…đau tiễn đưa/ Đời tuôn nước mắt, trời tuôn mưa” . Và nhà thơ viết: “Bác ơi tim Bác mênh mông thế/Ôm cả non sông mọi kiếp người/ Bác chẳng buồn đâu, Bác chỉ đau/ Nỗi đau dân nước, nỗi năm châu”. “Nỗi năm châu” thì đã rõ. Thế còn “nỗi đau dân nước” là nỗi đau gì đây.

Bác Hồ với thiếu nhi – Ảnh TL

Vào buổi ấy, đó là nỗi đau đất nước bị chia cắt, khói lửa chiến tranh thiêu đốt cả hai miền, là nỗi đau của người mẹ, người vợ Việt Nam nhận được tin dữ từ chiến trường, là nỗi đau B52 làm bằng địa nhiều cánh rừng, nhiều dãy phố, là chất da cam đầu độc cuộc sống cỏ cây và con người để lại di chứng cho nhiều thế hệ Việt Nam, là nỗi đau của “chuồng cọp”, trại tập trung và những trận bố ráp, rình rập của lũ chó săn chuyên săn bắt người yêu nước…Vậy thì hôm nay, “nỗi đau dân nước” là nỗi đau gì đây?

Cũng là “nỗi đau”, trong “Muôn vàn tình thân yêu trùm lên khắp quê hương” Việt Phương lại viết :

“Trời đổ mưa, đi viếng Bác, đồng bào chờ, bị ướt
Bác thương đồng bào, con biết Bác không vui”
[ Cửa Mở ]

Câu thơ viết cách nay đã hơn bốn mươi năm mà sao xốn xang tính thời sự. “Thương đồng bào, con biết Bác không vui”! Những ngày này thì trời lại đang nắng gắt. Đài truyền hình vừa đưa tin những vùng đất chuyên canh trồng ngô huyện miền núi ở Lào Cai đang nứt nẻ. Trên màn hình, những khuôn mặt sạm đen khắc khổ nói mà như mếu về nỗi lo đói, vì vụ ngô mất trắng, vì mãi chẳng có giọt mưa nào.

Vậy thì liệu “trời không đổ mưa” như buổi ấy có làm khuây khỏa được nỗi niềm “không vui” của Bác như tác giả của “Cửa Mở” day dứt?

“Thương đồng bào”, niềm thương buổi ấy, “nỗi đau dân nước” buổi ấy giờ đây là gì, khi mà sự nghiệp giải phóng dân tộc hoàn thành, non sông quy vào một mối đã hơn phần ba thế kỷ, bằng thời gian của cả hai cuộc kháng chiến chống thực dân, đế quốc gộp lại? Và gộp lại thời gian thì đồng thời cũng “gộp cả những nỗi đau khổ riêng của mỗi người, mỗi gia đình lại thì thành nỗi đau khổ của tôi” tích tụ trong trái tim Hồ Chí Minh. Câu này Bác nói với một nhà báo nước ngoài 50 ngày trước khi mất, lúc “ngừng đập trái tim tột bậc con người” [Việt Phương. Cửa Mở].

Đắm mình trong những miên man suy ngẫm, cứ ngỡ như là Bác đã nói về những điều này, khi trong Di chúc Bác lưu ý đến “cuộc chiến đấu chống lại những gì đã cũ kỹ, hư hỏng, để tạo ra những cái mới mẻ, tốt tươi”! Đây là điều Hồ Chí Minh gọi là “cuộc chiến đấu khổng lồ”, mà để giành thắng lợi thì phải “động viên toàn dân, tổ chức giáo dục toàn dân, dựa vào lực lượng vĩ đại của toàn dân”!

“Những cái cũ kỹ, hư hỏng” thì đã quá rõ, vậy những “cái mới mẻ tốt tươi” là gì nếu không phải là dân chủ và tự do? Độc lập đã hoàn thành, vấn đề còn lại phải là dân chủ và tự do. Ai cũng nhớ câu nói của Hồ Chí Minh từ những ngày chính quyền mới thành lập năm 1946: “Nếu độc lập mà dân không được hưởng tự do và hạnh phúc thì độc lập cũng chẳng có ý nghĩa gì”.

Dân chủ là tiền đề tất yếu để có tự do và hạnh phúc, là công cụ và phương tiện để đấu tranh giành tự do và xây đắp hạnh phúc. Không ai cho không quyền đó. Máu chảy thành sông, xương chất thành núi để giành độc lập, là nhằm tạo ra điều kiện để đấu tranh cho dân chủ và tự do! Phải chăng đây chính là “cuộc chiến đấu khổng lồ”?

Nghĩ kỹ về cuộc “chiến đấu khổng lồ” mà Bác viết trong Di chúc quả là có dáng dấp của những lời tiên tri. Tiên tri? Đúng như vậy. Có người gọi đó là “những dự cảm thiên tài” của những tầm vóc vĩ nhân. Xin gợi lại vài cứ liệu lịch sử để hiểu thêm về điều đó. Năm 1941, trong cuốn sách nhỏ Bác viết làm tài liệu tuyên truyền về “Lịch sử nước ta” bằng thơ lục bát, ở cuối có mục “Những năm tháng quan trọng”, Bác viết: “1945-Việt Nam độc lập”! Trong Hồi ký của mình, Đại tướng Võ Nguyên Giáp cho biết, lúc ấy “Anh em có người nói sớm, kẻ nói muộn. Bác nghe trao đổi chỉ nói :” Để rồi xem”. Một ví dụ khác: trong diễn văn đọc tại lễ mừng Quốc khánh 2-9-1960, Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: “Toàn dân ta đoàn kết nhất trí, bền bỉ đấu tranh, thì chậm lắm là 15 năm nữa, Tổ quốc ta nhất định sẽ thống nhất, Bắc-Nam nhất định sẽ sum họp một nhà”. Trong bút tích bản thảo in trên báo “Nhân Dân” số ra ngày 30-4-1985 cho thấy: Bác gạch dưới những chữ “chậm lắm là 15 năm nữa”! Rồi chuyện Bác từng căn dặn Tư lệnh bộ đội Phòng không-Không quân: “Mỹ nhất định thua, nhưng nó chỉ chịu thua sau khi thua trên bầu trời Hà Nội”!

Phải chăng những dấu ấn của thiên tài ấy là sự thăng hoa kỳ diệu của bản lĩnh Hồ Chí Minh. Bản lĩnh dám đặt ra và giải quyết những vấn đề lý luận có ý nghĩa thực tiễn. Vì mục tiêu trước sau như một là giải phóng dân tộc, đem lại độc lập cho Tổ quốc, tự do, hạnh phúc cho nhân dân mà Hồ Chí Minh dám có quyết định táo bạo, sáng suốt, là tuyên bố Đảng tự giải tán chính vào lúc giành được chính quyền vào năm 1945. Làm được như vậy vì “Hồ Chí Minh có sự nhạy cảm đặc biệt đối với lịch sử, thấu hiểu cuộc sống con người, có nhận thức sâu về vận mệnh dân tộc, về hướng đi của thời đại”. Không phải chiếc ghế nguyên thủ quốc gia mà chính là sự “nhạy cảm”, sự “thấu hiểu”, “sự nhận thức” đó khiến cho Hồ Chí Minh được lịch sử chọn làm lãnh tụ của nhân dân ở vào thời điểm có ý nghĩa nhất, đáp ứng đòi hỏi của cuộc sống đất nước cần bước vào quỹ đạo chung của thời đại.

Trong dòng chảy bất tận của thời gian, có những thời điểm xuất hiện những con người đáp ứng một cách tuyệt vời đòi hỏi đã chín muồi của lịch sử, người ta gọi đó là sự xuất hiện của thiên tài. Điều này cho thấy thiên tài không ra đời từ những cuộc tranh bá đồ vương để giành nhau chiếc ghế quyền lực. Đành rằng trong lịch sử không thiếu những nhân vật cũng đã bước vào lịch sử bằng con đường như vậy như những hôn quân, bạo chúa, những gian thần, nghịch tướng bán nước, bán chúa cầu vinh. Nét bi hài của lịch sử là có sự trộn lẫn chính tà ấy để giúp cho nhân dân có dịp nhận ra chuyện vàng thau lẫn lộn. Đó cũng là cách để cho nhân dân tự vượt lên chính mình, biết tự “xoay chung quanh mặt trời của chính mình” mà không để bị những ngón đòn lừa mị, ru ngủ của bọn thống trị, mà C.Mác đã từng chỉ ra. Và đó cũng là lý do trong Di Chúc, Hồ Chí Minh đòi hỏi phải “động viên toàn dân, tổ chức giáo dục toàn dân”.

Điều cần nói rõ là thiên tài Hồ Chí Minh không đứng cao vời vợi tách khỏi cuộc sống bình thường của người dân mà ngược lại. Thiên tài Hồ Chí Minh, bản lĩnh Hồ Chí Minh được hun đúc từ cuộc sống của nhân dân mình. Mỗi người Việt Nam đều có thể nhìn thấy mình trong sự nghiệp Hồ Chí Minh, trong trái tim của Hồ Chí Minh. Cái làm nên thiên tài Hồ Chí Minh, rèn đúc nên bản lĩnh ấy là vì nhịp đập của trái tim “Người Yêu Nước Hồ Chí Minh” luôn gắn quyện với nhịp đập của cuộc sống đất nước, nơi mà người ấy gửi gấm một “ham muốn, ham muốn đến tộc bậc” là làm sao đem lại cuộc sống ấm no cho con người, đem lại tự do và hạnh phúc cho mọi tầng lớp nhân dân.

Không có trái tim ấy, không thể có bản lĩnh ấy. Vì rằng, “ở đâu nội dung của sự tất yếu phổ biến không nhất trí được với trái tim, thì sự tất yếu ấy – xét về nội dung- không là gì cả, và phải nhường chỗ cho quy luật của trái tim” như Hêghen nói. Có lẽ thực chất của “quy luật trái tim” mà Hégel nói đây trước hết là sự trung thực với chính mình, là bản sắc cá nhân được thể hiện một cách chân thực. Vì nói cho đến cùng, quy luật của trái tim là sự phản ánh chân thực nhất biện chứng của cuộc sống với tất cả những sắc thái phong phú và phức tạp của nó. Vì vậy, những gì mà trái tim thờ ơ thì mắt cũng không nhìn thấy được ! Không thường trực “nỗi đau dân nước” trong tim thì mọi cao đàm khoát luận giảng giải hàng ngày không sao đến được với lòng dân mà chỉ tạo ra những phản cảm.

Cho nên,với Hồ Chí Minh, “Khi đã quyết rất kiên cường mạnh mẽ/ Đốt cháy Trường Sơn đánh Mỹ cũng không sờn” nhưng “Bác không bằng lòng gọi trận đánh chết nhiều người là “đánh đẹp”/Con xóa chữ “đẹp” đi như xóa sự cạn hẹp trong lòng con/ Thêm hiểu lòng người đối với quân thù như sắt thép/ Mà tình thương mênh mông ôm hết mọi linh hồn”. [ Việt Phương. nt]

Với Hồ Chí Minh, “tình thương mênh mông ôm hết mọi linh hồn” ấy trước hết là thương dân, trọng dân vì nhận thức rõ sức mạnh bất tận của dân. Đây là điểm cốt lõi trong tư tưởng và đạo đức Hồ Chí Minh. Nói học tập và làm theo tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh mà không trước hết vận dụng một cách thiết thực tư tưởng cơ bản này thì chỉ là nói suông.

Đặc biệt, cần lưu ý điều mà Hồ Chí Minh khẳng định rất dứt khoát: “nếu cán bộ không phụ trách trước nhân dân, tức là không phụ trách trước Đảng và Chính phủ, tức là đưa nhân dân đối lập với Đảng và Chính phủ”. Cần nhớ rằng, điều này được nhắc nhở vào năm 1947 khi Bác phê phán gay gắt lối “Đóng cửa lại mà đặt kế hoạch, viết chương trình rồi đưa ra cột vào cổ dân chúng, bắt dân chúng theo… Làm theo cách quan liêu đó, thì dân oán. Dân oán, dù tạm thời may có chút thành công, nhưng về mặt chính trị, là thất bại!”

Việc “đưa nhân dân đối lập với Đảng và Chính phủ” là điều tối kỵ đối với người cầm quyền. Có phải khi nói đến điều này, như vẫn thường làm, Bác đã nhắc đến luận điểm của Mạnh Tử : “Vua coi dân như cỏ rác thì dân coi vua như cừu thù” và lên án việc đẩy dân đến chỗ là “cừu thù” rồi dùng hình phạt hà khắc để trừng trị họ “khác nào đặt lưới bẫy dân”.

Hồ Chí Minh đòi hỏi “phải đưa chính trị vào giữa dân gian” phải “tin vào dân chúng. Đưa mọi vấn đề cho dân chúng thảo luận và tìm cách giải quyết. Chúng ta có khuyết điểm, thì thật thà thừa nhận trước mặt dân chúng”. Làm được điều ấy chính là đi đúng vào quỹ đạo của tư tưởng và đạo đức Hồ Chí Minh, điều mà hiện nay đang được thường xuyên giảng giải. Cho nên, lắng nghe tiếng nói của dân, tiếp nhận nguồn sức mạnh từ dân chính là điều Hồ Chí Minh thiết tha căn dặn.

Nói theo ngôn từ và hình tượng thơ thì như tác giả “Cửa Mở” đã viết từ những năm 60 thế kỷ trước, đó là: “Nơi sự thật chỉ cần là sự thật/ Nơi lương tâm đến gặp tấm gương soi/ Lời hàn huyên có màu trời hương đất/ Bỗng sáng bừng chân lý hiện tinh khôi”![Việt Phương. Cửa Mở].

GS Tương Lai
daidoanket.vn

Dân tộc mang họ Bác và những kỷ vật có một không hai

Có lẽ, trên thế giới, ít có một dân tộc nào vì quý trọng một vị lãnh tụ anh minh của dân tộc mình mà tự nguyện lấy họ của lãnh tụ đó làm họ cho cả dân tộc mình như đồng bào Tà Ôi, Pa Cô hay Pahy ở huyện A Lưới (tỉnh Thừa Thiên – Huế) của Việt Nam. Không những thế, đồng bào nơi đây còn lưu giữ những kỷ vật thiêng liêng, có một không hai về Người.

Tấm chân dung in trên vải sau ngày Bác mất
luôn hiện hữu ở nơi trang trọng trong các nhà dân

30 năm trường tồn một di vật

Đi trong các xã của huyện A Lưới chúng ta không khỏi rưng rưng xúc động về các hiện vật có thể coi là tầng tầng, lớp lớp về Bác Hồ mà các dân tộc như Tà Ôi, Pa Cô, Pahy đang lưu giữ. Những kỷ vật về hình ảnh người lãnh tụ kính yêu, bậc danh nhân kỳ tài của nước Việt cũng như của thế giới được đồng bào lưu giữ “ít tuổi” nhất cũng đã được trên chục năm, “nhiều tuổi” nhất cũng đã được gần 40 năm rồi. Những kỷ vật đó thể hiện sự kính trọng lớn lao với Bác mà cuộc đời giản dị, hết lòng vì dân, vì nước đã như một mạch nguồn, thấm chẩy trong từng tấc đất, trong mỗi tấm lòng người dân.

Lần đầu tiên đặt chân lên mảnh đất này, chúng tôi thật sự bất ngờ vì được đối diện với một kho kỷ vật về Bác mà đồng bào đã cất công lưu giữ, thờ tụng đến lớn lao như vậy. Và thú thực chúng tôi rất khó lựa chọn để giới thiệu về các kỷ vật đó.

Khi chúng tôi đến nhà ông Lê Xuân Rắc, xã Hồng Quảng, huyện A Lưới để được xem kỷ vật về Bác chúng tôi phải chờ đến tận 2 ngày vì ông Rắc đang ở trên ngàn. Ngoài ông Rắc, những người trong gia đình không ai được tự ý lấy xem những kỷ vật mà ông giữ.

Chờ đợi đến khi ông Rắc về. Đó là một người nông dân vậm chắc và trực tính. Khi chúng tôi đề xuất ý định của mình là muốn xem di vật của Bác mà ông gìn giữ đã gần 40 năm nay, không nói không rằng ông Rắc lặng lẽ ra con suối đầu bản để tắm. Lúc trở lại nhà ông mới cho biết là ông không muốn để người còn bụi bặm khi động đến và nói về kỷ vật ấy.

Nói rồi ông đặt thang trèo lên nơi bàn thờ của gia đình, lật tấm vải đỏ phủ kín, ông cẩn trọng mang xuống một bức phù điêu bằng đá tạc nổi rõ chân dung của Bác. Ông bảo, ông đã được cơ quan, bà con lối xóm ủy quyền để gìn giữ bức phù điêu tạc chân dung Bác đã gần 40 năm nay. Ông hồi tưởng, bức phù điêu ra đời và được đưa về nhà ông từ năm 1971. Năm ấy, toàn dân tộc ta đang dốc sức, dốc lực cho chiến trường miền Nam để thực hiện thống nhất Nam Bắc một nhà theo di nguyện của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Năm này, có một đoàn Quân bưu miền Bắc hành quân vào chi viện cho miền Nam đã qua làng ông. Trong thời gian lưu trú, biết dân tộc Tà Ôi, Pa Cô, Pahy ở đây rất yêu kính Bác Hồ nên một người trong đoàn có hoa tay đã lấy đá ở Hồng Quảng tạc một bức phù điêu về Bác để kỷ niệm bà con. Sau đó, bức phù điêu này đã được Quân bưu A Lưới gìn giữ. Sau vì dân hay tìm đến xem nên Quân bưu A Lưới đã có ý định đưa về cho dân quản lý.

Quân bưu và lãnh đạo ở đây thống nhất giao ông Rắc là người được dân quý mến, có đạo đức vinh hạnh nhận nhiệm vụ này. Sau lễ tiếp nhận, có xôi đồ, gà luộc, hương hoa như một ngày lễ trọng đại, ông Rắc đã kính cẩn cùng gia đình, làng xóm rước Bác về cùng gia đình. Ông đã chọn nơi tôn nghiêm nhất, ấy là bàn thờ tổ tiên mình để đặt bức phù điêu của Bác. Ông và gia đình cũng như bà con đã thờ tự, nhang khói cho Bác được gần 40 năm nay.

Người sống mãi trong trái tim dân

Thấu hiểu được những tình cảm mà Bác đã dành cho toàn dân Việt Nam cũng như dân tộc mình, sau khi Bác mất, không ai bảo ai, đồng bào các dân tộc như Tà Ôi, Pa Cô, Pahy đã đồng loạt tự nguyện lấy họ của Bác để làm họ cho dân tộc, dòng họ và cá nhân mình. Những người được mang họ Hồ ở đây luôn tâm niệm một lòng học và phấn đấu theo lời Bác dạy. Từ hành động và tâm nguyện này nên nhiều người trong các dân tộc Tà Ôi, Pa Cô, hay Pahy đã trở thành các cá nhân xuất sắc và điển hình. Tiêu biểu nhất là Anh hùng Kan Lịch và Anh hùng Hồ Đức Vai. Đây là hai đại biểu, đã được Bác tiếp ở Phủ Chủ tịch.

Trong các kỷ vật hiện hữu nhiều nhất ở nhà đồng bào các dân tộc như Tà Ôi, Pa Cô, Pahy là chân dung Bác được in trên vải, được treo trang trọng nhất trong gian nhà lớn của các gia đình. Sau khi Bác mất, với tấm lòng tiếc thương vô hạn, theo đề xuất của người dân, lãnh đạo Huyện đã tặng mỗi gia đình một chân dung như vậy để đồng bào đem về nhà treo cho đỡ nhớ Bác. Theo ông Hồ Rơi thì đồng bào treo ảnh Bác, ngoài việc tưởng nhớ còn là nơi để dạy dỗ cháu con. Cha mẹ đã kể cho con cháu những mẩu chuyện về Bác để khuyên dạy cháu con.

Trong lần vào các gia đình ở đây chúng tôi rất cảm động trước “Hũ muối Bác Hồ”. Hũ muối này hình thành từ thời đất nước ta còn chịu sự đô hộ của thực dân Pháp. Khi đó bắt đồng bào Tà Ôi, Pa Cô, Pahy phải “đói muối”. Bác đã gửi muối vào cho đồng bào. Đồng bào giữ  muối trong các hũ và để nhớ ơn Người, đồng bào gọi đó là “Hũ muối Bác Hồ”. Ngày nay, đất nước ta thống nhất, phát triển và hội nhập, muối trở thành gia vị thông thường nhưng đồng bào các dân tộc nơi đây vẫn giữ “Hũ muối Bác Hồ”. Theo ông Hồ Phờn, thôn A Vin, xã Hồng Thái thì “Hũ muối Bác Hồ” không bao giờ vơi trong gia đình ông. Lúc nào nhà có việc trọng như cúng tế, tết nhất hay giỗ chạp ông và gia đình luôn lấy muối ở “Hũ muối Bác Hồ” để dùng. Ngoài sự thiêng liêng, ông và gia đình đều tâm niệm: Dùng muối ấy để ăn mà nhớ về công lao trời biển của Bác đối với các dân tộc trong đó có người Tà Ôi, Pa Cô và Pahy.

Đơn Thương
daidoanket.vn

Gặp người sưu tầm 2222 bức ảnh về Bác Hồ

Cụ Đinh Văn Thân là người may mắn đã 3 lần được gặp Bác Hồ, cũng từ đó, để tỏ lòng biết ơn và thành kính công lao trời biển của Người, cụ đã bỏ biết bao công sức, tiền của đi khắp mọi miền đất nước để sưu bộ ảnh của Bác với 2222 bức ảnh, 22 bài thơ chúc tết, 11 hình ảnh về các kỳ Đại hội Đảng và 100 ảnh Đại tướng Võ Nguyên Giáp, đó không chỉ là thú vui mà còn là cách thể hiện sự kính yêu với vị cha già dân tộc.

Cụ Đinh Văn Thân

Cụ Đinh Văn Thân quê ở thôn Ngô Đồng (xã Gia Phú, huyện Gia Viễn, tỉnh Ninh Bình). Gặp cụ trong những ngày đầu hè (năm 2012) cụ rất yếu, đi lại rất khó khăn, bởi đầu năm cụ bị một trận tai biến (năm nay cụ Thân đã 84 tuổi), Dù vậy, nhưng khi hỏi cụ về việc sưu tầm ảnh Bác, mắt cụ như sáng lên và cụ chầm chậm kể cho tôi nghe về những chuyến đi sưu tầm ảnh Bác: Cụ đã bỏ ra biết bao thời gian, công sức cũng như lòng đam mê, kiên trì và nghị lực để có được một bộ sưu tập ảnh với 2222 bức được sắp xếp thứ tự theo thời gian. Từ lúc Bác trưởng thành, ra đi tìm đường cứu nước, những hoạt động cách mạng ở nước ngoài, đến khi về nước lãnh đạo cuộc Cách mạng tháng Tám thành công, qua hai cuộc kháng chiến chống Pháp, chống Mỹ cho đến lúc Bác đi xa. Bộ sưu tập ảnh về Bác giúp cho người xem thấy được hầu như trọn vẹn cả cuộc đời của Bác, cũng như tài năng toàn diện và đạo đức cao cả của lãnh tụ Hồ Chí Minh, một con người suốt đời vì nước, vì dân, được cả nhân loại ngưỡng mộ, tôn sùng và công nhận là Anh hùng giải phóng dân tộc và Danh nhân văn hóa thế giới.

Để có những bức ảnh như mong muốn, ngoài những tư liệu sách báo có sẵn trong tỉnh, cụ phải đi đến khắp mọi miền của Tổ quốc như: Thư viện, bảo tàng, nhiều cơ quan, bạn hữu ở trong và ngoài tỉnh như: Nam Định, Thái Bình, Hòa Bình, Hà Nội, Hải Phòng hay lên tận Thái Nguyên, Tuyên Quang là nơi Bác Hồ sống và làm việc suốt 9 năm kháng chiến chống Pháp để sưu tầm ảnh Bác. Có chuyến đi xa kéo dài hàng tháng, từ các tỉnh miền Trung như: Thanh Hóa, Nghệ An, Quảng Bình, đến Đăk Lăk, Đăk Nông và vào tới Bình Dương, Bình Phước, TP Hồ Chí Minh.

Lần đầu tiên cụ Thân đã được gặp Bác vào năm 1958, nhân dịp Bác đến thăm khu triển lãm tiểu thủ công nghiệp tại phố Yết Kiêu (Hà Nội). Ấn tượng đó về cuộc gặp đầu tiên ấy vẫn vẹn nguyên trong ký ức ông: “Bác nói rất ít, nhỏ nhẹ nhưng lại dễ hiểu. Được nghe Bác nói, tôi hiểu thêm nhiều điều về Đảng, cách mạng”. Lần thứ 2 cụ Thân vinh dự được gặp Bác tại quê hương vào ngày 15-3- 1959 nhân chuyến Bác về thăm và động viên nhân dân Ninh Bình chống hạn. Lần thứ 3 gặp Bác trong lần cụ cùng đoàn cán bộ Y tế vào Thanh Hóa công tác và gặp Người đang đến thăm địa phương. Ba lần gặp Bác đã để lại trong cụ Thân nhiều ấn tượng tốt đẹp và những kỷ niệm không thể nào quên. Cụ lắng nghe và dõi theo từng cử chỉ, lời nói và hành động của Bác, mọi cái đều rất ân cần và thắm thiết. Cụ tự nhủ, mình phải làm một việc gì đó thật ý nghĩa để khắc sâu hình ảnh Bác, một vị lãnh tụ thiên tài, một tấm gương sáng mà suốt cuộc đời mỗi người đều cần phải học tập và làm theo.

Là cán bộ nghỉ hưu, tại quê nhà, con cái đã có gia đình riêng, giờ chỉ còn hai ông bà chăm sóc nhau, với căn nhà cấp 4 đã khá cũ ở một vùng quê chiêm trũng, song cụ chọn nơi trang trọng nhất trong căn nhà là nơi đặt bàn thờ Bác. Kể cả ngày giỗ, ngày sinh và những ngày lễ lớn cụ đều thắp hương tưởng nhớ Bác. Việc sưu tầm ảnh Bác vừa là đam mê, lại là một thú vui của tuổi già, vừa thỏa mái, lại có ích. Cụ bộc bạch: Với tôi, việc sưu tầm ảnh Bác là một thú chơi tâm đắc nhất. Đây không chỉ là thú vui mà còn là cách thể hiện sự kính yêu với vị cha già dân tộc. Chia tay cụ, chúng tôi cầu mong sao cụ chóng khỏe và tiếp tục dong duổi trên con đường tìm kiếm những bức chân dung về Người để bộ sưu tập vô giá kia ngày càng trọn vẹn và ý nghĩa hơn.

Thùy Trang
daidoanket.vn

Họa sĩ Phan Kế An kể về chuyến đi vẽ Bác Hồ

(VOV) – Ở tuổi ngoài 90, sức khỏe suy yếu đi nhiều nhưng người họa sĩ ấy vẫn còn nhớ như in chuyến đi vẽ Bác và những kỉ niệm khi được sống cùng Bác tại Khuôn Tát (Thái Nguyên) năm 1948.

Có một người họa sĩ đã từng trải qua hai cuộc kháng chiến gian khổ chống Pháp và chống Mỹ, ông là người đầu tiên ký họa chân dung Chủ tịch Hồ Chí Minh và là họa sĩ nổi tiếng của báo Sự Thật, đó là Phan Kế An.

PV: Thưa ông, là một người đã từng có thời gian sống gần Bác, ấn tượng về sự giản dị của Chủ tịch Hồ Chí Minh đọng lại trong ông như thế nào?

Họa sĩ Phan Kế An: Lúc bấy giờ, đến trạm liên lạc của Bác, gặp anh trạm trưởng cũng là người quen, anh chỉ cho tôi con đường vào cơ quan của Bác, chỉ cách đấy chừng 300m thôi. Đấy là đường mòn, lần mà đi, được nửa đường đã thấy Bác mặc bộ đồ nâu đi đến đón tôi.

Bác để đầu trần, tóc đã hơi bạc. Chòm râu quen thuộc tôi đã được biết qua nhiều cuộc gặp ở hội nghị, lần này, người có chòm râu ấy ôm lấy tôi và ghé tai nói: “An đấy à!”. Bác gọi tôi bằng tên và Bác xưng là mình: “Về đây ở với mình, ở bao lâu tùy An. Mình làm việc quanh đây, khi chỗ này khi chỗ khác. Bây giờ xuống chỗ của anh em nghỉ, muốn tắm thì xuống suối ở gần đấy”.

Họa sĩ Phan Kế An bên những bức ký họa chân dung Bác Hồ. (Ảnh: Nhân Dân)

Bác dẫn tôi đến chỗ nhà sàn của Bác. Nói nhà sàn vì có sàn cao không đến 1m, có ba bậc thang thôi. Ngồi đấy nói chuyện uống nước, Bác chỉ cho tôi gian Bác ở thì nhỏ hẹp, chỉ trải được hai cái chiếu cá nhân và có một cái ngách, trên có cái bàn bằng tre nứa.

Việc Bác ra đón tôi ở giữa đường và ôm lấy tôi, đấy là một cử chỉ khiến tôi cảm động đến tận bây giờ. Lần đầu tiên, một Chủ tịch nước ôm lấy tôi và nói những câu thân tình như người trong gia đình. Tôi nhớ mãi, kể cả lúc đến và lúc về Bác cũng tiễn tôi đến nửa đường, đi khỏi mấy chục mét, qua những bụi rậm sắp sửa lấp không nhìn thấy, quay lại vẫn thấy Bác trong bộ đồ nâu vẫy tay tiễn tôi. Đến tận bây giờ, tôi đã 90 tuổi nhưng vẫn nhớ ông cụ đầu râu tóc bạc, mặc bộ đồ nâu đứng tiễn tôi.

PV: Ông có thể kể một kỷ niệm về Bác mà ông thấy sâu sắc nhất trong thời gian được ở cùng Bác?

Họa sĩ Phan Kế An: Trước khi ra về, Bác còn rút điếu thuốc lá ra, châm diêm cho tôi hút. Có lúc tôi mải vẽ, tôi lại cất điếu thuốc lá vào túi, với ý định là cơ quan mình có rất nhiều cán bộ lão thành mà chưa bao giờ được gặp Bác Hồ, tôi nghĩ giữ một số điếu thuốc đem về cho anh em ở cơ quan chắc là anh em thích lắm. Không ngờ việc tôi cất giữ Bác biết. Bác tinh lắm, không giấu được cái gì đâu.

Bác nói: “An tích trữ được bao nhiêu điếu rồi?”. Tôi nói cơ quan có nhiều cán bộ chưa được gặp Bác, tôi muốn đem về cho anh em ở nhà, chắc các đồng chí ấy sung sướng lắm. Bác hỏi cơ quan có bao nhiêu người, tôi ngồi đếm thử cả cán bộ, thủ trưởng, giám mã, liên lạc… “Thưa cụ có 30 người”.

Bác nói: “An cất được bao nhiêu điếu rồi?”. Tôi đáp lại: “Thưa cụ 13 điếu”. Cụ cầm hộp thuốc Craven A 50 điếu, cụ đếm 17 điếu đưa tận tay tôi, An đem về cho anh em nhớ, còn điếu mình vừa mời An hút đi. Điều này cho thấy, Bác Hồ chú ý đến từng điểm nhỏ.

PV: Bác Hồ là một tấm gương sáng với nhiều đức tính tốt cho chúng ta học tập. Vậy ông học được gì từ Bác? 

Họa sĩ Phan Kế An: Tôi thấy Bác giúp tôi hiểu được qua nhiều điều. Bác mong rằng mọi người đầu tiên phải giữ được cái trung thực. Thứ hai là đã trung thực phải thẳng thắn và nhất là bộc lộ được cái thẳng thắn trung thực của mình bằng lời nói, việc làm. Học ở Bác thì học suốt đời không hết.

Điều làm cho tôi thấm nhuần là mình nghĩ trung thực và mình thẳng thắn nói điều trung thực đó ra. Ngay cả những khi điều thẳng thắn ấy mang hại cho mình mà vẫn làm. Chính cuộc đời tôi đã có những lúc như thế, biết là có hại nhưng nói ra điều mình cho là đúng, cho là trung thực, cho là có lợi cho cách mạng thì vẫn nói, vẫn làm.

PV: Vâng, xin cảm ơn ông!

Mỹ Ngọc/VOV-Trung tâm tin
vov.vn

Hơn 30 năm sưu tầm hiện vật về Bác

Ông Ngô Vĩnh Bao trình bày những tác phẩm của mình (Ảnh: Quân đội nhân dân)

(VOV) – Có một cán bộ nghỉ hưu đã dành hơn 30 năm để nghiên cứu, tìm tòi và sưu tầm tư liệu về Bác Hồ với niềm tin yêu và kính trọng vô bờ bến.

Trong con ngõ nhỏ của phố Hào Nam, quận Đống Đa, TP Hà Nội, ông Ngô Vĩnh Bao (70 tuổi) dành vị trí trang trọng nhất trong ngôi nhà đang ở để trưng bày hiện vật về Chủ tịch Hồ Chí Minh mà ông đã cất công sưu tầm suốt 30 năm qua.

Ông Bao có trí nhớ của ông không còn tốt nhưng những câu chuyện lịch sử gắn liền với từng kỷ vật liên quan đến hoạt động của Bác Hồ tại Thái Lan thì ông nhớ rõ từng chi tiết.

Ông kể: Sau Bác mất năm 1969, ông lặng lẽ cất chiếc khăn tang của mình trong tủ. Dần dần, việc cất giữ những di vật về Bác đã trở thành niềm say mê của ông. Từ một viên đá lát còn lại khi xây Lăng, một vài bài báo, hay hình ảnh về Bác…

Nhưng bộ sưu tập chỉ thực sự dày dặn lên từ năm 1999, khi ông sang làm việc ở Tổng Lãnh sự quán Việt Nam tại Thái Lan. Suốt 3 năm ở đây, lần theo hồi ký của các cán bộ từng hoạt động với Bác Hồ tại Thái Lan, ông Bao đã tái hiện lại lộ trình của Bác trên đất Thái Lan bằng 24 tấm bản đồ và sơ đồ.

20 tỉnh ở Thái Lan, tỉnh nào ông cũng đi qua. Ông tìm gặp và được bà con Việt kiều tặng lại rất nhiều hiện vật về Bác. Từ chiếc phản gỗ, ghế tựa, rìu sắt…, đặc biệt là chiếc phản gỗ – nơi đã lưu giữ hơi ấm của Người những ngày ở Thái Lan, đã được kiều bào thay nhau gìn giữ suốt 80 năm như một kỷ vật thiêng liêng.

Ông Ngô Vĩnh Bao cho biết, trong nhà bất kỳ bà con kiều bào nào cũng có một bàn thờ Bác Hồ, nên những kỷ vật liên quan đến Người thì với họ càng thiêng liêng hơn. Có những kỷ vật như: Chiếc phản, chiếc ghế, rìu…họ đã gìn giữ, bảo quản gần 80 năm.

Gần 50 chuyến đi khắp đất nước Thái Lan trong suốt 3 năm theo dấu chân Bác, hàng nghìn bức ảnh ông tự chụp và những hiện vật do kiều bào tặng đều được ông chuyển về nước. Tâm huyết của ông đã được bù đắp khi bộ sưu tập, tài liệu về Bác ngày càng dày dặn, sống động hơn. Tình yêu và niềm say mê sưu tập những tư liệu, hiện vật về Bác Hồ được tiếp thêm sức mạnh từ người vợ đảm đang của mình.

Dành 1/3 đời người để sưu tầm những kỷ vật, tài liệu liên quan đến cuộc đời và sự nghiệp của Chủ tịch Hồ Chí Minh, và giữ gìn tất cả những kỷ vật về Người như một phần máu thịt của mình suốt nhiều năm qua, nhưng cuối cùng ông Ngô Vĩnh Bao lại quyết định đem toàn bộ kho tư liệu, hiện vật quý giá mà ông đã bỏ mồ hôi, công sức trong hành trình 1.000 ngày trên đất Thái Lan tặng Bảo tàng Hồ Chí Minh.

Ông Chu Đức Tính, Giám đốc Bảo tàng cho rằng: Đây là những hiện vật rất quý mà có thể ngay cả những cán bộ Bảo tàng đi sưu tầm cũng không thể có được. Những hiện vật này sẽ được Bảo tàng bảo quản, giữ gìn để cho thế hệ sau

Tuy tuổi đã cao, nhưng bất cứ khi nào hay ở đâu thông báo có phát hiện mới về Bác, ông Ngô Vĩnh Bao lại tìm đến, mong sẽ góp thêm vào kho thông tin, tư liệu quý giá của mình.

Bên cạnh việc sưu tập, bổ sung hiện vật vào “bảo tàng” về Bác Hồ, ông cũng luôn lấy những câu chuyện kể về Chủ tịch Hồ Chí Minh để răn dạy, nhắc nhở con cháu rèn luyện, tu dưỡng trong học tập, công tác, vì ông con cháu mình học tập theo gương Bác để có những việc làm có ích cho đất nước, quê hương./.

Huyền Trang/VOV – Trung tâm tin
vov.vn

Học sinh kiều bào tại Lào thi tìm hiểu về Bác Hồ

(VOV) – Ngày 16/5, Hội Người Việt tại thủ đô Vientiane phối hợp Đại sứ quán Việt Nam tổ chức cuộc thi tìm hiểu về Bác Hồ cho học sinh bậc tiểu học, mẫu giáo, thu hút hàng ngàn con em kiều bào và học sinh Lào tham gia.

Sự kiện nằm trong khuôn khổ các họat động Năm đoàn kết hữu nghị Việt Nam- Lào và kỷ niệm các ngày lễ lớn của hai nước Việt Nam và Lào của cộng đồng người Việt Nam tại nước bạn.

Sống và học tập trên đất nước Lào anh em, các thế hệ người Việt vẫn luôn nhớ cội nguồn tổ tiên của mình. Bên cạnh các tiết mục văn nghệ ca ngợi quê hương đất nước và Bác Hồ kính yêu, các em còn tham gia cuộc thi tìm hiểu về Chủ tịch Hồ Chí Minh nhân dịp 122 năm ngày sinh của Người.

Các em thiếu niên nhi đồng đã tham gia rất hào hứng với những câu hỏi và hiểu biết cơ bản về thân thế, sự nghiệp và quê hương Chủ tịch Hồ Chí Minh, về nhân cách giản dị mà vĩ đại của Bác.

Đại đa số các em đều nắm bắt rất kỹ và trả lời đúng các câu hỏi, qua đây giúp nhiều em khác hiểu biết thêm về Bác Hồ và đất nước Việt Nam thân yêu. Cuộc thi cũng giúp rèn luyện kỹ năng nói, nghe và tư duy bằng tiếng Việt cho thế hệ trẻ cộng đồng người Việt Nam tại Lào./.

Quốc Khánh (từ Vientiane)
vov.vn

Tháng 5, người Kor Trà Bồng về thăm Lăng Bác

(VOV) – Trong suy nghĩ của người Kor Trà Bồng, Bác Hồ là biểu tượng của tinh thần đoàn kết, là ý chí đấu tranh bền bỉ vì độc lập của dân tộc.

Những ngày tháng 5 này, hàng triệu người con đất Việt lại về Quảng trường Ba Đình lịch sử, vào Lăng viếng Chủ tịch Hồ Chí Minh. Hòa cùng muôn triệu trái tim ấy, có những người con của dân tộc Kor, ở huyện Trà Bồng, tỉnh Quảng Ngãi – một trong những dân tộc đã tự nguyện mang họ của Bác- họ Hồ nhằm tỏ lòng thành kính đối với vị lãnh tụ kính yêu và thể hiện sự thủy chung của đồng bào đối với con đường, mà Bác Hồ và Đảng đã lựa chọn.

43 năm trước, giữa lúc chiến tranh ác liệt, đồng bào Kor ở huyện Trà Bồng, tỉnh Quảng Ngãi nghe tin Bác mất. Chiến tranh chưa kết thúc mà Bác đã ra đi, ngày toàn thắng sẽ không còn được đón Bác vào thăm. Ý nghĩ đó thôi thúc các già làng người Kor ở Trà Bồng phải làm gì đó để thể hiện tấm lòng thành kính với Bác, thủy chung, sắt son với con đường mà Bác Hồ và Đảng ta đã lựa chọn. Nguyện vọng mang họ Bác Hồ của người Kor bắt nguồn từ đó.

Đại diện người dân Kor Quảng Ngãi ra thăm Lăng Bác

 

Ông Hồ Minh Sơn, ở xã Trà Tân, nguyên là Bí thư tỉnh Đoàn Quảng Ngãi nhớ lại: Đêm đầu tiên người Kor chính thức mang họ Bác Hồ, rừng quế Trà Bồng sáng bừng lửa đuốc và nồng nàn men rượu cần. Trong tiếng cồng tiếng chiêng rộn ràng, dân làng nắm tay nhau múa hát cả đêm không biết mệt. Họ vui vì từ nay vinh dự được mang họ Bác, tự nguyện gắn bó cuộc đời của dân tộc mình với Bác. Với họ, đó là cách để người Kor tỏ lòng biết ơn vị lãnh tụ kính yêu đã đem ánh sáng tự do, độc lập cho dân tộc. Trong suy nghĩ của người Kor Trà Bồng, Bác Hồ là biểu tượng của tinh thần đoàn kết, là ý chí đấu tranh bền bỉ vì độc lập của dân tộc. Đi theo con đường mà Bác Hồ và Đảng lựa chọn là chuẩn mực đạo đức, lối sống của người Kor.

Ông Hồ Minh Sơn khẳng định: “Bác Hồ nói như mặt Trời, ở đâu cũng sáng hết. Không ở đâu, người dân tin như người Kor tin Bác Hồ. Đồng bào nói rằng bây giờ không có gì để trả công ơn của Bác, chỉ có gắn nòi giống của người dân tộc Kor này vào tên họ của Bác Hồ. Cho nên khi Bác mất, đồng bào mong muốn được đổi họ Đinh  để mang họ Bác Hồ”.

Anh Hồ Văn Liệu, ở xã Trà Thuỷ, huyện Trà Bồng không khỏi xúc động: “Đây là lần đầu tiên tôi ra đây thăm Lăng Bác, được xem phim tài liệu về những giờ phút cuối đời của Bác, tôi rất xúc động. Được vào thăm Bác, thấy Bác đang nằm yên giấc, tôi cảm động lắm. Tình cảm của Bác bao la, dành hết cho đồng bào cả nước. Dù là Chủ tịch nước nhưng Bác sống rất giản dị. Bác muốn làm sao cho đất nước chúng ta được hòa bình, độc lập, dân tộc ta được ấm no, bình đẳng hạnh phúc. Tình cảm của Bác chúng tôi rất ghi nhớ và không biết đền đáp như thế nào”.

Bà con xúc động khi nhắc tới kỷ niệm với Bác

 

Tự hào được mang họ Bác, người Kor Trà Bồng hôm nay luôn đoàn kết một lòng, chung tay xây dựng quê hương đổi mới, giàu đẹp như tâm nguyện của Bác trước lúc đi xa. Ông Hồ Văn Thịnh, Trưởng ban tổ chức Huyện uỷ Trà Bồng, tỉnh Quảng Ngãi cho biết: Được ra thăm Bác, hiểu hơn về cuộc đời thanh bạch, giản dị của vị lãnh tụ, những cán bộ, đảng viên như ông càng ý thức sâu sắc hơn trách nhiệm của mình, quyết tâm học tập và làm theo tấm gương đạo đức của Bác.

“Lâu nay, Trung ương đã triển khai nhiều chuyên đề về học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh, đặc biệt là chuyên đề học tập về cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư. Với ý nghĩa đó, chúng tôi cho rằng làm công tác cán bộ, truớc hết mỗi cán bộ, công nhân viên chức trong các cơ quan Nhà nước của Đảng phải có cái tâm, cái tầm, chăm lo đời sống cho người dân” – ông Thịnh chia sẻ.

Tháng 5 về bên Người, đồng bào Kor ở miền Tây Quảng Ngãi càng vững tin hơn vào con đường cách mạng mà Đảng và Bác Hồ đã lựa chọn. Mỗi người con của dân tộc Kor hôm nay ai cũng tâm nguyện suốt đời phấn đấu xây dựng quê hương Trà Bồng quật khởi ngày càng giàu đẹp, thoả lòng mong ước của Bác Hồ, sống xứng đáng với tình cảm yêu thương mà Bác đã dành cho đồng bào các dân tộc thiểu số, xứng đáng là những người con mang họ của Bác./.

Vân Thiêng- Minh Châm/VOV-Trung tâm tin
vov.vn

Tri ân những người có công với cách mạng

Hướng tới kỷ niệm 65 năm Ngày Thương binh, Liệt sỹ (27/7), Ban Quản lý Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chủ động phối hợp với Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội, trực tiếp là Sở Lao động – Thương binh và Xã hội các tỉnh, thành phố trong cả nước để tổ chức đón tiếp các đoàn Bà Mẹ Việt Nam Anh hùng, Người có công với cách mạng về Lăng viếng Bác, tưởng niệm các Anh hùng liệt sỹ và tham quan các di tích lịch sử, văn hoá ở Thủ đô Hà Nội.

Mới hơn 6 giờ sáng ngày 17/4/2012, nhưng các đại biểu trong Đoàn Người có công với cách mạng của thành phố Cần Thơ đã tề tựu đông đủ tại Nhà khách Quốc tế số 8 – Hùng Vương để chuẩn bị vào Lăng viếng Bác. Tranh thủ gặp Phó Giám đốc Sở Lao động – Thương binh và Xã hội Trần Minh Đăng chúng tôi được biết: “Thành phố Cần Thơ hiện nay có 32.060 người có công với cách mạng. Trong đó có 95 cán bộ lão thành cách mạng, tiền khởi nghĩa, 271 Bà Mẹ Việt Nam Anh hùng, 30 Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân, Anh hùng Lao động trong kháng chiến, 2.850 thương bệnh binh, 8.230 liệt sỹ… những còn rất nhiều người chưa một lần được ra thăm Lăng Bác. Lần này, Tỉnh ủy, Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân, các cấp, các ngành của Thành phố đã lựa chọn, ưu tiên 50 đại biểu, phần lớn là những Bà Mẹ Việt Nam Anh hùng, Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân và những đồng chí thương binh nặng được ra Thủ đô Hà Nội viếng Bác Hồ”.

Nhìn các má, các ba hầu hết tuổi đã ngoài 70, sức khỏe tuy đã giảm sút, lại đi suốt chặng đường dài hơn 1.500 km, nhưng trong khóe mắt ai nấy đều ánh lên niềm vui “sắp được gặp Bác rồi”. Quây quần trò chuyện tại khuôn viên Nhà khách, bác Nguyễn Văn Của, thương binh hạng 1/4 còn nhớ như in hình ảnh của 48 năm về trước: “Đúng vào ngày 19/5/1964, kỷ niệm 74 năm Ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh, Đại đội 1, Địa phương quân huyện Châu Thành của chúng tôi đã chiến đấu chống lại 7 đại đội nguỵ quân của địch đi càn quét. Trận chiến đấu vô cùng cam go, ác liệt suốt gần một ngày trời nhưng địch không chiếm được. Trước khi rút lui, địch còn gọi pháo binh vùi dập. Sau đó tôi thấy tim mình đau nhói và ngất lịm đi. Khi tỉnh dậy đã biết mình đang điều trị trong Quân y viện tiền phương được ba ngày. Sau nhiều năm điều trị, hiện giờ 2 mảnh đạn vẫn còn găm trong ngực. Nhưng đau thương nhất lại là những ngày nghe tin Bác Hồ mất. Không ai bảo ai, mà toàn thể cán bộ, y bác sĩ, đến các bệnh nhân trong Viện Quân y tiền phương của tỉnh tự tay may băng đen để tang Bác 7 ngày”.

Thiếu tướng Đặng Nam Điền, Chính ủy Bộ Tư lệnh Bảo vệ Lăng tiếp và gắn
Huy hiệu Bác Hồ cho các thành viên trong Đoàn

Giờ viếng Bác chưa bắt đầu, nhưng lượng người vào trong khuôn viên Nhà khách mỗi lúc một đông. Có điều đặc biệt là hầu như trên ngực áo ai cũng lấp lánh những Huân chương và nhiều Huy hiệu cao quý. Đoàn nào đến cũng được các nhân viên Ban Đón tiếp thuộc Cơ quan Văn phòng tiếp đón, hướng dẫn, mời vào phòng khách, phòng xem phim tài liệu tận tình chu đáo. Nhận ra chúng tôi, đồng chí Trung tá Lương Kỳ Hải, Trưởng Ban Đón tiếp chia sẻ: “Riêng ngày hôm nay chúng tôi đón tiếp 5 đoàn người có công với cách mạng thuộc thành phố Cần Thơ, các tỉnh Kon Tum, Bình Dương, Cao Bằng và Đoàn cán bộ Lão thành cách mạng đang nghỉ dưỡng tại Đại Lải. Và tới đây, sẽ tiếp tục đón hơn 80 đoàn Người có công ở khắp mọi miền về Lăng viếng Bác. Riêng những đoàn ở các tỉnh phía Nam, chúng tôi còn cử cán bộ, nhân viên đón từ bến tàu, sân bay và phục vụ đoàn khi đi tham quan các di tích ở Thủ đô Hà Nội. Dẫu công việc bận rộn, vất vả, nhưng chúng tôi đều tự nhủ: Đón tiếp tận tình, chu đáo cũng là thể hiện tình cảm tri ân những người có công với cách mạng”.

Từng đoàn Người có công với cách mạng trước khi đi viếng Bác đều được các hướng dẫn viên giới thiệu chi tiết về nhiệm vụ giữ gìn lâu dài, bảo vệ tuyệt đối an toàn thi hài Chủ tịch Hồ Chí Minh và quá trình xây dựng Công trình Lăng của Người; được xem phim tư liệu về Chủ tịch Hồ Chí Minh và công tác đón tiếp, tuyên truyền tại Lăng Bác. Sau khi đi viếng Bác, tham quan Nhà sàn và Bảo tàng Hồ Chí Minh, chúng tôi gặp lại Đoàn Cần Thơ. Nhìn các má, các ba đều vui vẻ, phấn khởi chúng tôi cũng yên tâm. Trước khi chia tay để Đoàn trở về Nhà khách ở số 12 Ngô Quyền, bác Võ Bá Tường và bác Nguyễn Văn Tài đều bùi ngùi xúc động: “Chúng tôi đều tham gia kháng chiến từ năm 13 tuổi, đều là Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân, chỉ cần duy nhất một lần này được ra Hà Nội và vào Lăng viếng Bác Hồ là chúng tôi đã mãn nguyện lắm rồi. Chỉ thương nhiều đồng đội hiện nay tuổi cao, sức yếu, bệnh trọng, suốt ngày mong mỏi hoài mà vẫn chưa một lần được gặp Bác. Liệu các đồng chí đó có còn sống để chờ ngày được gặp Bác không? Rất mong các cháu hãy chăm sóc, giữ gìn thi hài Bác Hồ thật tốt, thật lâu dài, để nhiều đồng đội, con cháu của chúng tôi, cũng như nhiều thế hệ người Việt Nam được vào Lăng viếng Người”.

Lời mong mỏi của các má, các ba trong Đoàn Cần Thơ cũng là lời nhắn nhủ đến các cấp, các ngành, các địa phương hãy dành sự quan tâm đặc biệt, tổ chức cho những đồng chí Lão thành cách mạng, các Bà Mẹ Việt Nam Anh hùng, các Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân, các đồng chí thương binh nặng, các gia đình chính sách… được về Lăng viếng Bác Hồ, tham quan Thủ đô. Đó cũng là sự tri ân những người có công với cách mạng./.

Nguyễn Hữu Mạnh
bqllang.gov.vn

“Thoả lòng Bác mong….”

1. Cho đến nay, hầu như tất cả người Việt Nam mình, từ già đến trẻ, cũng như rất đông đồng bào ở nước ngoài, đều thuộc và có thể hát say sưa bài “Như có Bác Hồ trong ngày vui đại thắng” của nhạc sĩ Phạm Tuyên.

Nhìn các em thơ trong lớp mẫu giáo vừa vỗ tay vừa hát –mà nếu cô giáo không ra hiệu dừng lại, thì các cháu có thể hát mãi, hát đi hát lại nhiều lần. Bài ca xúc tích, đã trải qua gần 40 năm, và chắc sẽ còn được hát trong nhiều năm nữa, bởi nó đã thể hiện đúng tình cảm, niềm vui và những suy nghĩ của người Việt Nam mình trong ngày đại thắng lịch sử đó. Theo lời tác giả kể lại, những thôi thúc, những cảm xúc hồ hởi của ngày 30 tháng 4 năm xưa đã khiến ông ngồi viết một mạch trong 2 tiếng đồng hồ, không sửa một chữ nào. Hai tiếng đồng hồ để toàn dân cùng ca hát trong 40 năm. Đối với một nhạc sĩ sáng tác, có hạnh phúc nào lớn hơn, và có giải thưởng nào lớn hơn ?

Không người dân nào không thuộc lời bài hát
“Như có Bác Hồ trong ngày vui đại thắng”
Ảnh: Hoàng Long

Lớp tuổi trên dưới 50 chắc chưa ai quên ngày tháng hào hùng đó. Bài hát được truyền trên loa phát thanh suốt ngày và cứ thế, già trẻ, lớn bé đều say sưa hát theo. (Ngày đó, đã làm gì có máy thu vô tuyến truyền hình, thậm chí mãi mấy năm sau mới có cái cột phát VTTH ở phố Quán Sứ và cái máy phát sóng thử nghiệm đầu tiên được anh chị em trong nghề gọi vui là khẩu “súng ngựa trời” !) Lương thời bao cấp nhỏ nhoi, gạo nước đều phải tem phiếu, nhưng các gia đình đều rủ nhau đi mua một bánh pháo Bình Đà để đốt ăn mừng (hồi đó còn được phép đốt pháo), nổ râm ran trong ngày 30 tháng 4 và cả ngày hôm sau.

Vậy mà đã là 37 năm rồi đấy ! Có những bé ra đời đúng ngày 30 tháng 4 lịch sử, được bố mẹ đặt tên là Huy Hoàng (theo lời ca “Lời Bác nay đã thành chiến thắng huy hoàng”) hôm nay cũng đã ngót 40, chắc đã có vợ con, chồng con đề huề và cả nhà vẫn thuộc lòng bài hát thân quen.

Ít lâu sau còn có một bài hát nữa – bài “Tiếng hát từ thành phố mang tên Người” thấm sâu vào lòng người với câu hát mở đầu “Từ thành phố này Người đã ra đi…” của nhạc sĩ Cao Việt Bách. Đã có nhiều ca sĩ nổi tiếng, nghệ sĩ nhân dân, nghệ sĩ ưu tú…trình bày bài ca này, với tình cảm da diết, xúc động khi nhắc đến Bác Hồ ra đi tìm đường cứu nước từ Bến Nhà Rồng, mà ngày chiến thắng Bác chưa kịp về với miền Nam. Các nghệ sĩ đã hát bằng cả trái tim mình, nhưng không hiểu sao, tôi vẫn bồi hồi khi được nghe và xem trên đài VTTH tường thuật lại một buổi biểu diễn (hay hội diễn gì đó) : một linh mục cùng với dàn kèn đồng của một xứ đạo tỉnh Hà Nam Ninh (khi chưa tách tỉnh như bây giờ) bước lên sân khấu hát bài này. Mãi đến hôm nay, kỷ niệm 37 năm ngày giải phóng miền Nam, thống nhất Tổ quốc, lời ca từ bài hát vẫn nói với chúng ta những điều thiêng liêng: “Thoả lòng Bác mong : Nước non này nghìn năm vững bền!”

2. Vững và bền, đó là điều tâm niệm, là mục tiêu của toàn thể dân tộc ta, đất nước ta từ thuở ngàn xưa. Chẳng phải mỗi ngày, chúng ta đều nhắc lại, ghi nhớ lại chân lý này khi bài Quốc ca của chúng ta vang lên “Tiến lên ! Cùng tiến lên ! Nước non Việt Nam ta vững bền !” đó sao ?

Trong những ngày tháng này, khi những lực lượng thù địch -cả trong và ngoài nước- đang xúm nhau rắp tâm phá hoại sự nghiệp của dân tộc ta, lại càng thấm thía điều này : Phải quyết tâm giữ gìn nước non ta thật vững và thật bền. Một nhúm những kẻ thuộc những cái gọi là “Phục Quốc”, “Việt Tân”…đang lăm le lật đổ chính quyền mà toà án của ta vừa đưa ra xét xử gần đây, là những dẫn chứng rõ rệt. “Phục” gì lũ chúng, “Tân” gì lũ chúng, hay chỉ là những kẻ nhận những đồng tiền nhơ nhớp của nước ngoài như một bè lũ tay sai toan tính làm suy yếu sự vững bền của đất nước ta, của dân tộc ta ? Rồi những lực lượng thù địch ở nước ngoài phụ hoạ theo, rêu rao chiêu bài cũ rích như “nhân quyền”, “tự do ngôn luận”…để dẫn đường cho những tên phản bội ở trong nước, mà báo chí của ta đã vạch trần bộ mặt thật của bè lũ chúng không chỉ một lần.

Chúng ta nói công khai với niềm kiêu hãnh và tự hào rằng Đảng Cộng sản Việt Nam chính là lực lượng lãnh đạo duy nhất, lãnh đạo toàn diện công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam ta. Chúng ta cũng đường hoàng và công khai nêu mục tiêu xây dựng chế độ xã hội chủ nghĩa trên đất nước thân yêu này, mà không có con đường nào khác. Ai đó còn mơ hồ về con đường của chủ nghĩa tư bản thì hãy nhìn vào cuộc khủng hoảng ghê gớm đang quét qua một loạt nước tư bản -từ nước phát triển nhất cho đến nước phát triển trung bình- để hiểu tại sao chúng ta quyết tâm chọn con đường mà Bác Hồ và Đảng ta đã vạch ra. Mặc cho các thế lực thù địch xuyên tạc, chống đối và phá hoại, nhân dân ta không hề nao núng. Câu trả lời đích đáng nhất cho bè lũ này, có lẽ thích hợp nhất là một câu ngạn ngữ ở phương tây “Chó cứ sủa, đoàn người cứ tiến!”.

Đảng ta, người lãnh đạo tuyệt đối của nhân dân ta, đất nước ta, cũng không hề che giấu những tồn tại, những khiếm khuyết của mình. Chỉ có một đảng vững mạnh mới công khai nói rõ những điểm còn yếu kém của mình, nói để tìm cách khắc phục và tiến lên. Nghị quyết trung ương 4 vừa qua là một minh chứng rõ ràng. Những thường dân chúng tôi cứ hay liên hệ một cách nôm na dân dã thế này : giống như trên cơ thể mọc lên một cái nhọt bọc, mưng mủ và đau đớn. Phải là một người dũng cảm, có bản lĩnh thì mới dám nghiến răng để nặn ra, và bôi thuốc cho khỏi, chứ nếu cứ che dấu, xoa dịu để cho nhẹ cơn đau thì sẽ không bao giờ khỏi được.

Lâu nay, trên báo chí của chúng ta cũng không hề che dấu những vụ việc tham nhũng, quan liêu, thoái hoá. Nhờ sự phát hiện của báo chí, của dư luận mà đã có những quan chức bị lôi ra trước vành móng ngựa, chịu kỷ luật thích đáng. Phải cám ơn và biểu dương những nhà báo, những tờ báo dũng cảm, không quản hiểm nguy –thậm chí bị trả thù, bị đánh đập- mới loại trừ được những con sâu đó.

Tuy nhiên, lại cũng phải thẳng thắn nhận xét rằng có một số tờ báo hơi thiên về việc phanh phui những vụ việc tiêu cực (không kể một vài trang báo mạng cố tình đưa những tin giật gân, moi móc đời tư của nghệ sĩ, hoặc những tấm hình hở hang phản cảm…mà có thể xếp chung vào loại báo…lá cải), quên đi hoặc coi nhẹ mặt “xây” những điển hình tốt, những gương “người tốt việc tốt”, bởi đó chính là một chức năng quan trọng của báo chí cách mạng. Báo Đại Đoàn Kết -tờ báo của Mặt trận đã rất đúng và rất trúng khi mở những chuyên trang như “Cán bộ là công bộc của dân” hoặc cuộc thi viết “Gương sáng khu dân cư”, đề cao việc “xây” bên cạnh việc “chống”. Không biết dân “ngoại đạo” mà nói như vậy có gì sai sót không, nhưng vì mong muốn góp phần xây dựng nước non ta vững và bền, nên tôi cứ mạnh dạn phản ánh như vậy.

3. Vững và bền, đó là mục tiêu của việc xây dựng đất nước ta. “Nước non Việt Nam ta vững bền” là lời của bài Quốc ca mà ta hằng tâm niệm. “Nước non này nghìn năm vững bền” là nguyện vọng của hơn 80 triệu người dân Việt Nam -cả trong và ngoài nước , là điều Bác Hồ kính yêu của toàn dân hằng mong từ khi rời bến Nhà Rồng cách đây hơn 7 thập kỷ. Kỷ niệm ngày 30 tháng 4 và cũng chỉ còn ít ngày nữa là kỷ niệm ngày sinh của Người, hôm nay chúng ta đã có thể thưa với Bác: Chúng con đã “thoả lòng Bác mong” là xây dựng “nước non này nghìn năm vững bền”, sẽ quyết tâm để nước Việt Nam ta mãi mãi “vững” và “bền”.

Nguyễn Lê Bách
qdnd.vn