Thư viện

Từ tiểu thuyết đến cuộc đời

Người “bắt thóp” giặc lái B-52:

QĐND – Nhà xuất bản Hội Nhà văn vừa ra mắt cuốn tiểu thuyết “Mảnh giấy bạc” của nữ nhà báo trẻ Nguyễn Thị Thu Thủy, sinh năm 1981, hiện là phóng viên Báo Vĩnh Phúc. Tuy là tiểu thuyết nhưng tác phẩm mang… tính thời sự vì nó gắn với câu chuyện người chiến sĩ tình báo mang tên Mạc Lâm và cuộc chiến đấu đánh trả B-52. Đáng chú ý, nhân vật chính của cuốn tiểu thuyết được viết từ một nguyên mẫu có thật, một chuyên gia hỏi cung giặc lái Mỹ. Ông là Đại tá Phan Mạc Lâm, nguyên Chánh văn phòng Tổng cục II-Bộ Quốc phòng, từng là cán bộ Cục Quân báo chuyên khai thác tù binh suốt hai cuộc kháng chiến…

Đại tá Phan Mạc Lâm. (ảnh: Tuấn Nghĩa)

Người trong tiểu thuyết

Trong tiểu thuyết, câu chuyện về Mạc Lâm khá “ly kỳ”: Chàng lính trẻ Mạc Lâm công tác tại bộ phận khai thác xét hỏi tù hàng binh bị bệnh sốt rét kinh niên phải vào bệnh viện đã gặp Mary Hương, một nữ tình báo viên được quân đội Pháp cài lại sau đó tiếp tục làm việc cho quân đội Mỹ. Mary Hương với sự quyến rũ và thủ đoạn “hồ ly” đã tạo thiện cảm cho Mạc Lâm rồi tìm cách đánh cắp tài liệu khai thác tù binh mà anh phải mang cả vào bệnh viện nghiên cứu vì quá gấp rút. Thị hí hửng vì đánh cắp được mảnh giấy bạc bút tích của Mạc Lâm cho thấy Quân đội nhân dân Việt Nam hiểu biết quá mơ hồ về B-52 mà hoàn toàn không biết rằng đó chỉ là một màn kịch do lực lượng tình báo ta dựng lên để che mắt địch… Sự thực, Mạc Lâm cũng như quân đội ta hiểu rất kỹ, rất sâu về B-52 và “mảnh giấy bạc” đã gắn với số phận “bạc mệnh” của những kẻ xâm lược và bán nước…

Trao đổi với chúng tôi, nữ nhà báo trẻ Nguyễn Thị Thu Thủy cho biết: Ngoại trừ tình huống cuộc gặp gỡ trong bệnh viện và nhân vật Mary Hương được hư cấu, câu chuyện về người cán bộ tình báo Mạc Lâm hoàn toàn có thật. Thu Thủy đã may mắn được gặp gỡ, được nghe Đại tá Phan Mạc Lâm nhiều lần kể về cuộc đời khai thác tù binh, đặc biệt là tù binh giặc lái Mỹ với rất nhiều câu chuyện về tài trí tuyệt vời của những chiến sĩ tình báo cùng bao đóng góp thầm lặng cho một “Điện Biên Phủ trên không”, đúng như đánh giá của Đại tướng Văn Tiến Dũng, họ đã làm được nhiều việc “không thể kể ra”…

Từ những trang viết đầy cảm xúc của Thu Thủy, chúng tôi đã tìm đến những người trong cuộc cùng thời với Đại tá Phan Mạc Lâm để tìm hiểu về cuộc đời thật của ông. Thiếu tướng Vũ Thắng, nguyên Phó cục trưởng Cục Quân báo (Cục 2)-Bộ Quốc phòng, cho biết: Cục 2 ngày ấy đã nghiên cứu, nắm bắt về B-52 từ năm 1960 và tiếp tục nhiều năm sau này, qua nhiều kênh khác nhau. Trong đó, kênh khai thác tù hàng binh nổi lên có Phan Mạc Lâm, một cán bộ là chuyên gia khai thác tù binh từ thời đánh Pháp. Mạc Lâm giỏi tiếng Pháp, riêng tiếng Anh thì chưa vượt trội so với nhiều cán bộ khác, nhưng Mạc Lâm có tài tiếp cận, khai thác tù binh rất giỏi và từ đó lấy được nhiều thông tin rất giá trị về B-52.

Để có được những thông tin giá trị

Phan Mạc Lâm sinh năm 1928 tại xã Hoa Thành, huyện Yên Thành, tỉnh Nghệ An trong một dòng họ nhiều danh nhân yêu nước như Phan Đăng Lưu, Phan Đăng Tài… Bố ông là một thầy giáo nổi tiếng trong vùng và giỏi tiếng Pháp, nên dù nhà nghèo, ông vẫn được cha mẹ cho vào học ở trườngCollege thành phố Vinh. Từ năm 1945, ông đã tham gia làm liên lạc cho lực lượng Việt Minh. Năm 1948, nhờ giỏi tiếng Pháp nên ông được biên chế về Phòng Khai thác thông tin tù binh thuộc Cục Quân báo với nhiệm vụ phiên dịch, khai thác tin tức tài liệu từ tù binh, hàng binh. Cũng từ đây, cuộc đời ông gắn liền với việc tiếp cận, xét hỏi, khai thác thông tin từ tù binh và hàng binh. Trong đội hình cán bộ của phòng, Mạc Lâm là cán bộ trẻ nhất.

Trong kháng chiến chống Pháp, ông đã được tham gia hỏi cung nhiều tù binh, trong đó có cả bại tướng Đờ Cát-xtơ-ri. Thời kỳ này, có một cuộc hỏi cung không thể nào quên trong cuộc đời nhà tình báo Mạc Lâm. Ấy là khi ông được hỏi cung một hàng binh Pháp tại Phú Thọ. Tên này đã khai báo, nhấn mạnh sức mạnh quân đội Pháp và khuyên ta không nên tấn công kẻo chuốc lấy thất bại. Nhìn thái độ của y có vẻ tự tin, không hề lộ ra sự mệt mỏi, lo lắng của kẻ thất bại, Mạc Lâm sinh nghi, phán đoán rằng tên này có thể trá hàng. Ông mạnh dạn báo cáo với cấp trên suy nghĩ của mình. Quả nhiên, ít lâu sau, khi Đờ Cát-xtơ-ri bị bắt, quân ta đã xác minh được y chính là một sĩ quan trá hàng của Đờ Cát-xtơ-ri.

Nữ nhà báo Thu Thủy khi tiếp xúc với Phan Mạc Lâm đã được ông kể lại chuyện khai thác An-vơ-rét, phi công Mỹ đầu tiên bị bắn rơi ở Quảng Ninh và bị bắt làm tù binh. Ban đầu, An-vơ-rét rất ngoan cố, dữ dằn, ánh mắt vằn những tia lửa phản kháng, không ăn, không ngủ, chỉ gào thét, đập phá suốt đêm. Nhưng rồi, từ sự chăm sóc, chữa bệnh chu đáo, sắp xếp nơi ăn ở, cách ứng xử rất nhân đạo cùng những chia sẻ về tuổi trẻ, ước mơ và hoài bão mà Mạc Lâm khơi gợi lên… đã khiến An-vơ-rét dần dần bị thuyết phục. Qua cuộc khai thác này, ta đã có được những thông tin hết sức quan trọng để đánh giá sự kiện Vịnh Bắc Bộ.

Một trong những tù binh khiến Phan Mạc Lâm ấn tượng nhất là Giôn Mắc-kên, một thiếu tá phi công sinh ra trong gia đình danh gia vọng tộc về quân sự, có cả ông nội và bố đều là đô đốc, tư lệnh Hạm đội Thái Bình Dương. Mắc-kên là niềm tự hào, là người hùng của không quân Mỹ được tin tưởng sẽ dễ dàng đánh sập Nhà máy điện Yên Phụ, không thất bại như nhiều phi công khác. Anh này ban đầu cũng rất bất cần, không cần ai cứu. Nhưng đến khi Mạc Lâm mang đến cho anh ta một cuốn tạp chí hải quân Mỹ có hình đô đốc, cha Mắc-kên thì anh ta thốt lên xúc động và dần đổi khác… Tương tự với tên phi công Đen-tơ bị bắt sau phi vụ đánh cầu Hàm Rồng bất thành, cuộc “viếng thăm” lúc nửa đêm mà Mạc Lâm bất ngờ thực hiện cùng câu nói buột miệng của anh ta-người từng học thuộc 7000 trang tài liệu tối mật về chính sách quốc phòng của Mỹ đối với Việt Nam đã hé lộ thông tin quan trọng về B-52. Đêm hôm ấy, Mạc Lâm ngồi ngay vào bàn, viết ngay bản báo cáo. Khi xong, trời vừa hửng sáng…

Giữa “ma trận” thông tin

Ngày 6-7-1972, theo chỉ thị của Đại tướng, Tổng tư lệnh Võ Nguyên Giáp, Bộ Tổng tham mưu đã tổ chức một cuộc họp rất kín và rất… hẹp chỉ gồm 10 người để bàn về cách đánh B-52. Mở đầu hội nghị, một chiến sĩ tình báo trẻ tuổi đã đứng lên trình bày bản báo cáo dài 30 trang về B-52. Đó là một báo cáo trung tâm, cung cấp thông tin và tạo cơ sở cho hội nghị thảo luận. Người trình bày bản báo cáo ấy là Phan Mạc Lâm. Hồi ức của Đại tá Phan Mạc Lâm đã được nữ nhà báo Thu Thủy ghi lại như sau:

“Tôi được Cục trưởng Cục 2 chỉ định tham gia hội nghị của Bộ Tổng tham mưu ngày 6-7-1972 để trình bày nội dung chuyên đề đặc biệt vừa nghiên cứu. Tôi là người đầu tiên của Cục Quân báo trình bày những nội dung làm cơ sở cho việc thảo luận. Tôi đưa trang tài liệu về lời khai của một phi công tù binh Mỹ, trong đó có đoạn:

– Thưa ông! Người ta đang chuẩn bị đánh vào Hà Nội, Hải Phòng…

– Anh nói sao? Mỹ sẽ dùng B-52 đánh Hà Nội, Hải Phòng?

Người tù binh tỏ ra sợ sệt những vẫn nói giọng tự tin:

– Vâng! Đúng thế. Sắp tới Mỹ sẽ dùng B-52 đánh Hà Nội, Hải Phòng!

– Anh có thể nói rõ hơn?

– Thưa ông! Cách đây 10 ngày, tôi được tham gia trong đội hình diễn tập dùng B-52 đánh phá Hà Nội, Hải Phòng. Đó là một cuộc tập trận quy mô lớn phối hợp tác chiến mà lực lượng chủ yếu là B-52. Trong đội hình chiến đấu cùng B-52 còn có máy bay trinh sát RF4C, QF4C, các loại máy bay F105, F4D, máy bay gây nhiễu điện tử EC121, đội cấp cứu và chỉ huy trên không…

Tôi đã hỏi kỹ, đưa ra nhiều tình huống để kiểm tra tính xác thực của những thông tin người tù binh khai báo. Cộng thêm với lời khai của tên Đen-tơ đã từng đánh phá Thanh Hóa, tôi đi tới khẳng định: Tin về Mỹ dùng B-52 đánh phá Hà Nội, Hải Phòng là đúng. Tôi mừng lo lẫn lộn. Mừng vì có thêm thông tin mới mà cấp trên đang cần để giúp ta chuẩn bị đối phó với âm mưu của kẻ thù. Nhưng nghĩ đến hàng trăm B-52 ném bom rải thảm xuống Hà Nội, nơi đầu não cách mạng, nơi tập trung đông dân nhất, lòng tôi thắt lại.

Bìa cuốn tiểu thuyết “Mảnh giấy bạc” của nhà báo Nguyễn Thị Thu Thủy.

Suốt những ngày sống cùng những phi công tù binh, tôi đặc biệt quan tâm khai thác những tin tức liên quan tới B-52. Quả thật, B-52 có một sức mạnh khác thường mà như hăm dọa của Mỹ, có thể đưa Việt Nam trở về thời kỳ đồ đá. Phần lớn các loại máy bay chiến thuật F4, F105 đều được tham gia diễn tập với các đơn vị không quân chiến lược B-52 trong cuộc tập kích đường không chiến lược. Muốn tổ chức một chiến dịch dùng B-52 đánh vào Hà Nội phải có nhiều thành phần khác trong hoạt động yểm trợ như hộ tống, chế áp tên lửa, cao xạ đối phương, kể cả việc chiếm lĩnh ưu thế trên cao của các đơn vị F4, F105 ở các căn cứ không quân Thái Lan, kể cả cấp cứu, nghi binh…

Cuộc gặp ngắn ngủi với Đại tướng Võ Nguyên Giáp trong buổi sớm hôm ấy đã cho tôi những kinh nghiệm mới cho các lần khai thác tù binh tiếp theo. Gương mặt Đại tướng bình thản nhưng không che nổi niềm lo âu. Ông vẫy tay, tôi lại ngồi bên cạnh, Đại tướng nói:

– Sức khỏe của đồng chí có tốt không? Có đủ sức đối phó với B-52 không?

Tôi hiểu, đây không chỉ đơn giản là cuộc tới thăm anh em mà tin về B-52 đánh Hà Nội, Hải Phòng quan trọng vô cùng khiến Đại tướng đích thân đến kiểm tra lại.

– Dạ, thưa thủ trưởng! Chúng tôi đã sẵn sàng-Giọng tôi rắn rỏi mà không tự tin lắm. Bởi khai thác, thẩm định tin tức là thế, nhưng chiến tranh, biết thế nào?

– Thế còn lực lượng không quân chiến lược? Điểm mạnh, điểm yếu của B-52? Các cậu nắm như thế nào?

– B-52 là loại máy bay ném bom chiến lược hạng nặng do hãng Boeing sản xuất theo đơn đặt hàng của Bộ Quốc phòng Mỹ. Mỗi tốp B-52 ba chiếc có thể rải thảm 60-90 tấn bom trên một diện rộng thay cho 120-150 máy bay cường kích đánh phá. B-52 được cải tiến “khôn ngoan” bằng hệ thống gây nhiễu đánh lừa ra-đa đối phương.

– Các đồng chí cần tập trung khai thác về B-52, không bỏ qua những chi tiết dù là nhỏ nhất. Như vậy, chúng ta cũng khẳng định được sự nguy hại của B-52.

Đại tướng nhẹ nhàng cầm tay tôi, cái cầm tay trong thoáng giây như lo sợ vận mệnh của toàn đất nước…

Suốt một tuần trời tôi không tài nào chợp mắt. Tôi trở dậy châm thuốc liên tục. Bầu trời đêm nào cũng như nghẹt thở, không biết bão tố sẽ ập đến lúc nào…”.

Được tiếp cận, khai thác nhiều tù binh qua hai cuộc kháng chiến đã cho Mạc Lâm một bề dày kinh nghiệm vô giá. Sau mỗi lần khai thác, khi chắp bút viết bản báo cáo với ông luôn là sự trăn trở, đắn đo bằng cả con tim và khối óc. Ông tâm sự: “Tôi ngồi suy nghĩ, lần lại các chi tiết… Báo cáo của tôi có thể bị địch cho leo cây như hồi tên tù binh trá hàng ở Điện Biên Phủ! Có thể lắm chứ?”. Nhưng rồi, với tư duy lô-gích và biện chứng, Mạc Lâm lập luận: “Lừa ta, nhưng nằm trong nhà tù của ta, tên tù binh được gì? Thực chất, chính phía Mỹ đang bỏ rơi những phi công như hắn nếu B-52 vào, dưới làn bom rải thảm, Hỏa Lò lại ở giữa Thủ đô, bọn tù binh phi công có thoát chết không?”. Ông đã đem vấn đề này ra bàn bạc và được Cục trưởng Phan Bình ghi nhận là có lý, cho rằng quân Mỹ “số một thế giới” về mức độ tinh vi, xảo quyệt, lắm mưu nhiều kế và bất chấp thủ đoạn”. Từ đó, những kết luận về B-52 được “định vị” đúng, không thay đổi!

ĐẠI BÀNG
qdnd.vn

Gặp phi công đầu tiên bắn rơi máy bay phản lực Mỹ (kỳ 2)

Tiếng súng tạm ngưng ở miền Bắc, nhưng ở phía Nam, Mỹ gạt Pháp trực tiếp can thiệp vào Việt Nam. Phạm Ngọc Lan cùng đồng đội được giao nhiệm vụ phải học để nắm vững những trang bị mới.

(ĐVO) Kỳ 2: Lối rẽ cuộc đời

Phi công Phạm Ngọc Lan.

“13 tháng 6 lớp”

Tháng 5/1954, chiến dịch Điện Biên Phủ kết thúc thắng lợi, Hiệp định Geneva được ký kết (tháng 7/1954). Phạm Ngọc Lan cùng đơn vị (Sư đoàn 305) nhận lệnh tập kết ra miền Bắc. Anh được cấp trên cử đi học tại Trường Văn Hóa thuộc Bộ Tổng Tham Mưu tại Kiến An, Hải Phòng. Mục đích khi đó nhằm tuyển chọn đào tạo nguồn sĩ quan để xây dựng quân đội cách mạng, từng bước hiện đại, đảm đương nhiệm vụ mới.

Trước khi vào học, các thầy giáo đã kiểm tra trình độ để xếp lớp. Người lính già vẫn còn nhớ như in câu hỏi thú vị hôm đó: “Có bao nhiêu loại hình tam giác”. Tuy không nhớ rõ, nhưng với sự nhanh trí, thông minh ông vẫn hoàn thành câu trả lời. “Ngoài tam giác thường và tam giác cân, còn có tam giác thước thợ (chỉ tam giác vuông),” ông nhớ lại. Còn tam giác đều ông nói bằng…tiếng Pháp. Nhưng chính nhờ những câu trả lời đặc biệt đó mà ông được các thầy đánh giá cao và cho vào học lớp 5/10.

Vào trường, ông chăm chỉ không nghỉ chủ nhật. Ông nói: “Xưa mình không được học, giờ học đâu nhớ đấy, học 13 tháng, không tháng nào là không được biểu dương”. Chẳng thế mà, tháng đầu tiên trường phải phân công một anh học lớp 8 kèm cặp, đến tháng thứ 2 trò đã bắt đầu tranh luận với trợ giáo về bài tập. Đến tháng thứ 3 thì “thầy” nói trò không cần phải học thêm với mình nữa.

Không chỉ có vậy, thời gian học tại Kiến An còn để lại cho ông kỷ niệm sâu sắc về tình thầy trò và học kết hợp với hành rất cụ thể. Một buổi dạy vật lý về máy hơi nước, thầy giáo ông đã dùng một chiếc xe lu (xe lăn đường) – quân Pháp để lại, mô tả nguyên lý hoạt động giúp các trò dễ hiểu hơn.

Nhưng học trò Phạm Ngọc Lan nghĩ xa hơn như thế, anh hỏi “thầy ạ, xe này còn tốt, thầy sửa được không”. Thầy đáp: “sửa thì phải có thợ”. Thế là, buổi chiều, nhà trường mời thợ ở nhà máy điện vào sửa giúp. Và ngay hôm sau, hai thầy trò đã cùng nhau lái chiếc xe lu chạy quanh sân trường.

Mất ba buổi chiều, hai thầy trò lăn đường quanh sân trường và sân bóng đá trở thành nhẵn nhụi, êm bước cho mọi người luyện tập chơi đùa. Kỷ niệm về chiếc xe lu in dấu mãi trong tâm trí anh sau này.

Với tinh thần học hỏi không ngừng nghỉ, học một cách sáng tạo, có suy nghĩ chặt chẽ, sau 13 tháng học tập ông đã đạt trình độ yêu cầu của khóa học để chuyển sang học chuyên ngành ở bậc cao hơn.

Ước mơ lái xe tăng

Sau khi bổ túc văn hóa, ông cùng nhiều đồng chí trải qua kiểm tra sức khỏe và được phép đề đạt nguyện vọng ngành học. Không ngần ngại, ông quyết địch xin học lái xe tăng. Vì, có lần ông được xem bộ phim công phá Berlin, trong đó có cảnh xe tăng Hồng quân Liên Xô húc đổ cổng tổng hành dinh Hitler và những hình ảnh đó đem lại ấn tượng mạnh cho ông.

Thế nhưng, khi các đồng chí học cùng đều lần lượt lên đường, người học hải quân, người học xe tăng, pháo binh, thông tin,… riêng ông vẫn chưa được gọi đi, tư tưởng có phần lo lắng. Nhưng rồi, mọi việc sớm được giải tỏa khi cấp trên thông báo, ông cùng những đồng đội còn lại được cử đi học lái máy bay.

Trước ngày lên đường, đồng chí Nguyễn Chí Thanh – Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị đã gặp và dặn dò: “các đồng chí đi học thì 60 người vì 1 người, 1 người vì 60 người, phải học hành thật tốt để góp phần xây dựng quân đội chính quy hiện đại và tiếp tục công cuộc giải phóng miền Nam thống nhất đất nước”. Lời dặn đó đã đi theo Phạm Ngọc Lan suốt cả thời gian học tập khi xa đất nước.

“8 môn 80 điểm”

Trong thời gian học tập ở nước ngoài, tiếp tục phát huy tinh thần tự học, Phạm Ngọc Lan cùng các đồng chí khác vượt qua rất nhiều thử thách, khó khăn, đạt được thành tích cao. Ban đầu, ông và đồng đội trải qua 1 năm học lý thuyết. Đặc biệt, trong bài kiểm tra lý luận 8 môn (khí động lực học, động cơ, địa hình, khí hậu…) kết thúc khóa học, riêng ông làm bài thi bằng tiếng sở tại. Kết quả, 8 môn ông đều đạt điểm 10.

Trung đoàn không quân tiêm kích 921 (Sao Đỏ) được thành lập ngày 3/2/1964.

Sang phần học bay, ông được học lái trên 4 loại phi cơ từ máy bay Yak-18, Yak-11 tới tiêm kích đánh chặn phản lực MiG-15 và MiG-17F. Ở mỗi loại ông đều đạt kết quả xuất sắc. Không những thế, Phạm Ngọc Lan nằm trong tốp đầu được bay đơn (một mình cất cánh bay đi và hạ cánh an toàn). Lần đó, ông đã hoàn thành xuất sắc bài tập. Nhớ lại, ông kể đối với phi công bay đơn đầu tiên trong bữa ăn sẽ được chúc mừng bằng bánh ga tô. Và ông còn được 2-3 chiếc khác trong những lần tiếp theo.

Sau 6 năm miệt mài học tập, tới năm thứ 7 cũng là lúc xảy ra sự kiện Vịnh Bắc Bộ hôm 5/8/1964. Ngày 6/8, 36 chiếc tiêm kích MiG-17F do đồng chí Đào Đình Luyện làm trung đoàn trưởng cất cánh trở về nước chuẩn bị cho cuộc chiến bảo vệ vùng trời tổ quốc. Ngày hôm đó, phi công Phạm Ngọc Lan là một trong những phi công đầu tiên hạ cánh xuống sân bay Nội Bài – căn cứ Trung đoàn Không quân tiêm kích 921 mang tên Sao Đỏ.

– Máy bay huấn luyện sơ cấp 2 chỗ ngồi Yak-18 do Liên Xô thiết kế sản xuất, chính thức đi vào phục vụ năm 1946. Yak-18 trang bị một động cơ cánh quạt Ivchenko AI-14RF cho phép đạt tốc độ tối đa 300km/h, bán kính hoạt động 350km, trần bay 5.000m.

– Máy bay huấn luyện sơ cấp 2 chỗ ngồi Yak-11 do Liên Xô chế tạo và đi vào phục vụ năm 1946. Yak-11 trang bị một động cơ cánh quạt Shvetsov Ash-21 cho phép đạt tốc độ tối đa 460km/h, bán kính hoạt động hơn 600km, trần bay 7.100m. Máy bay thiết kế với 1 súng máy cỡ 7,62 hoặc 12,7mm cùng 2 giá treo dưới cánh mang 200kg bom.

– Tiêm kích đánh chặn cận âm MiG-15 do Liên Xô phát triển, đưa vào trang bị năm 1949. Đây là một trong những thiết kế thành công nhất của Liên Xô, với 18.000 chiếc được sản xuất. MiG-15 trang bị một động cơ tuốc bin phản lực Klimov VK-1 cho phép đạt tốc độ bay 1.075km/h, bán kính bay 600km, trần bay 15.000m. Tiêm kích MiG-15 lắp 2 pháo 23mm (160 viên đạn) và 1 pháo 37mm (40 viên đạn).

– Tiêm kích đánh chặn cận âm MiG-17 được phát triển từ MiG-15, đi vào hoạt động năm 1952. MiG-17 sử dụng một động cơ tuốc bin phản lực Klimov VK-1F cho phép đạt tốc độ 1.145km/h, bán kính bay 1.000km (với thùng dầu phụ), trần bay 15.000m.

MiG-17 lắp 2 pháo 23mm (160 viên đạn) và 1 pháo 37mm (80 viên) hoặc mang được 500kg bom trên hai giá treo dưới cánh. MiG-17 một thời gian dài là lực lượng chủ lực của Không quân Nhân dân Việt Nam.

Lê Văn
baodatviet.vn

Gặp phi công đầu tiên bắn rơi máy bay phản lực Mỹ (kỳ 1)

Thế hệ phi công đầu đàn của Việt Nam đều trưởng thành từ lính bộ binh, Phạm Ngọc Lan cũng vậy, ông đã gắn bó với đơn vị bộ binh trước khi lên “buồng lái máy bay”.

Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân, thiếu tướng Phạm Ngọc Lan là phi công đầu tiên của Quân đội ta bắn rơi máy bay phản lực Mỹ F-8U trên bầu trời Hàm Rồng – Thanh Hóa, ngày 3/4/1965.

Để có chiến công đầu, cũng như các phi công Việt Nam ông đã trải qua quá trình học, làm chủ khoa học kỹ thuật quân sự trong hoàn cảnh bền bỉ, gian khổ.

(ĐVO) Kỳ 1: Trưởng thành từ người lính bộ binh

Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân, thiếu tướng Phạm Ngọc Lan.

Tuổi nhỏ làm việc nhỏ

Quê Phạm Ngọc Lan ở xã Điện Nam Đông, huyện Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam – mảnh đất giàu truyền thống cách mạng. Sinh năm 1934, bố mẹ của Phạm Ngọc Lan đều làm nghề y, theo công việc đi khắp các tỉnh miền trung. Vì vậy, ngay từ nhỏ ông theo gia đình đi nhiều nơi, qua các miền đất lịch sử.

Cách mạng tháng Tám thành công, cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp bùng nổ. Hình bóng các anh bộ đội trong đoàn quân Nam tiến dưới sự chỉ huy của Đàm Quang Trung, Đoàn Khuê (sau này trở thành những tướng lĩnh cốt cán trong Quân đội Nhân dân Việt Nam) đã gọi thế hệ Phạm Ngọc Lan nối bước.

14 tuổi, Phạm Ngọc Lan xin vào lực lượng công an xung phong. Trong đơn vị, ông không nề hà mọi việc từ nấu cơm, văn thư và làm liên lạc. Để đảm bảo bí mật, ông thuộc lòng tài liệu dưới dạng tiếng lóng, mã đơn giản hoặc ghi vào bàn tay để kịp xóa đi nếu bị bắt giữ.

Ngay trong giai đoạn kháng chiến ác liệt, ông vẫn cố gắng tận dụng thời gian để học vì khi thoát ly mới qua lớp 3. Nhờ vốn tiếng Pháp ít ỏi học từ cha, ông giao tiếp và học thêm với một hàng binh người Pháp. Đổi lại ông dạy người này tiếng Việt.

Ngoài ra, Phạm Ngọc Lan còn tự học tiếng Ê đê  để phục vụ công việc làm liên lạc. Có lần bị lính Pháp bắt, ông nhanh trí trả lời bằng tiếng Ê đê. Bà con người Ê đê cũng nói anh là người cùng bản. Vì thế, quân địch đã thả anh.

Trở thành bộ đội

Trong 4 năm từ 1948-1952, là khoảng thời gian Phạm Ngọc Lan vừa làm việc, vừa học nhưng khát vọng muốn ra chiến truờng trực tiếp chiến đấu vẫn luôn cháy bỏng.

Năm 18 tuổi, anh chính thức trở thành anh “bộ đội cụ Hồ” thuộc biên chế trung đoàn bộ đội địa phương 84 – mang tên người anh hùng các dân tộc Tây Nguyên N’Trang Lơng. Dù rất nóng lòng tham gia chiến đấu, nhưng ông lại được giao nhiệm vụ làm văn thư.

Tới năm 1953, khi Liên khu 5 quyết định thành lập tiểu đoàn 30, nằm trong đội hình trung đoàn 96, sư đoàn 305 (*), Phạm Ngọc Lan mới chính thức tham gia chiến đấu. Ba tháng bám trụ ở chiến khu Hòn Hèo, (Khánh Hòa) thâm nhập nắm vững địa hình.

Có lúc nằm trên núi nhìn thấy biển, ngửi mùi gió mặn, trông thấy hàng đống muối trắng trong khi bộ đội vẫn thiếu muối do địch vây hãm gắt gao. Những đợt hoạt động đầu tiên chính là tìm cách vận chuyển muối an toàn lên chiến khu.

Giai đoạn 1953-1954, Liên khu 5 triển khai nhiều chiến dịch phối hợp với chiến cuộc Đông Xuân trên toàn quốc và nhất là chiến dịch Điện Biên Phủ lịch sử. Trong những ngày tháng chiến đấu đó, anh đã bắt sống được 6 tù binh. Đặc biệt, trận đèo Măng Giang tiêu diệt binh đoàn cơ động GM-100, Phạm Ngọc Lan bắt sống được 1 lính Pháp.

Nhớ lại trận chiến hôm đó ông kể, sau khi trận đánh kết thúc ông cùng tổ 2 người ở lại với nhiệm vụ tìm kiếm đồng đội. “Trong lúc đi dọc đường 19 quan sát thì phát hiện ở hầm ta luy có gì đó động đậy, tôi liền lệnh cho anh em nằm xuống, bò đến tiếp cận thì phát hiện ra một lính Pháp”.

Ông nói bằng tiếng Pháp “hô lê măng” (giơ tay lên). Sau đó, ông cùng anh em bắt trói tên lính để giải về sở chỉ huy trung đoàn. Ban đầu, ông lệnh hai chiến sĩ đi trước về căn cứ đề nghị thêm người tới hỗ trợ giải tù binh.

Nhưng, hai đồng chí đi mãi không thấy quay lại, ông đành tự dẫn tên lính Pháp về. Do trời tối thay vì dẫn về căn cứ ông lại dẫn ngược về vùng quê nơi gia đình ông sơ tán. Tới sáng mới nhận ra, vậy nên ông đành ở lại đó nghỉ ngơi và nhờ Ủy ban kháng chiến giúp đỡ giải tù binh về sở chỉ huy liên khu V.

Chia sẻ với chúng tôi, ông nói chính việc cố gắng học tiếng Pháp, tiếng Ê Đê và nắm vững địa hình của mấy tỉnh miền trung, sau này đã giúp ông rất nhiều cho những chuyến bay chỉ huy và huấn luyện từ 1975.

Ông nhấn mạnh dù nhiều khó khăn nhưng bố mẹ và các anh chị đã đi cùng cuộc kháng chiến, được nhân dân đùm bọc trong mọi hoàn cảnh. Năm 1954, ông cùng đơn vị tập kết ra miền bắc. Một chặng đường mới bắt đầu.

(*) Sư đoàn bộ binh 305 khi tập kết ra bắc, một bộ phận đưa đi làm kinh tế còn lại được huấn luyện và chuyển thành lữ đoàn dù 305 – lực lượng lính dù đầu tiên của Quân đội Nhân dân Việt Nam. Và sau này trở thành lực lượng Đặc công 305 của Binh chủng đặc công ngày nay.

Lê Văn
baodatviet.vn

4 tàu sân bay Mỹ từng tham chiến ở Việt Nam

Trong chiến tranh Việt Nam, Hải quân Mỹ đã huy động gần 20 tàu sân bay thay nhau làm nhiệm vụ thực hiện các chiến dịch ném bom phá hoại miền Bắc.

>> Chuyên đề: Cha ông ta đánh giặc

Chiến tranh Việt Nam được xem là nơi tập trung nhiều tàu chiến của Mỹ nhất kể từ sau chiến tranh thế giới thứ 2. Khi đó, 20 tàu sân bay thay nhau làm nhiệm vụ trực chiến.

Vào những lúc cao điểm của các chiến dịch leo thang đánh phá miền Bắc, ngoài khơi vịnh Bắc Bộ có tới 4 tàu sân bay đẳng cấp của Mỹ thay nhau thực hiện các cuộc không kích với cường độ cao nhất kể từ sau chiến tranh thế giới thứ 2.

Trong số các tàu sân bay đã tham chiến tại chiến trường Việt Nam có 4 tàu sân bay thực hiện nhiệm vụ lâu nhất, thực hiện nhiều cuộc không kích nhất đó là các tàu sân bay USS-Enterprise (CVN-65), USS Coral Sea (CV-43), USS-Oriskany (CV-34), USS-Midway (CV-41).

Đây đều là những tàu sân bay đẳng cấp nhất thời đó, nhất là tàu sân bay USS-Enterprise. Đến nay, ngoại trừ tàu sân bay lớp Nimizt không có tàu sân bay nào trên thế giới có thể so sánh được với tàu sân bay USS-Enterprise.

USS-Enterprise (CVN-65)

USS-Enterprise (CVN-65) lớp Kitty Hawk đây là tàu sân bay chạy bằng năng lượng hạt nhân đầu tiên của Mỹ tham gia vào một cuộc chiến tranh thực tế.

Tàu được đưa vào biên chế trong Hải quân Mỹ vào ngày 25/11/1961, tại thời điểm đó, USS-Enterprise (CVN-65) được xem là tàu sân bay số 1 thế giới thời kỳ đó. Đây là nền tảng cho sự ra đời của các siêu tàu sân bay lớp Nimizt.

USS-Enterprise trong chiến tranh Việt Nam. Dòng chữ E=mc2 ám chỉ tàu sân bay này chạy bằng năng lượng hạt nhân.

Tàu sân bay USS-Enterprise có khả năng mang 90 máy bay các loại trong đó có 70 máy bay chiến đấu cánh cố định. USS-Enterprise tham chiến tại chiến trường Việt Nam vào tháng 11/1965, ngay ngày đầu tiên tham chiến, tàu sân bay này đã thực hiện 125 phi vụ tấn công, ném hơn 151 tấn bom đạn vào các căn cứ của quân giải phóng gần khu vực Biên Hòa.

Trong quá trình tham chiến tại Việt Nam, tàu sân bay này gặp phải một tai nạn khá lớn. Một quả tên lửa MK-32 Zuni gắn trên chiếc F-4 Phantom chuẩn bị thực hiện không kích miền Bắc Việt Nam đã bị phát nổ gần khu vực nhà ăn.

Vụ nổ đã thiêu rụi 15 chiếc máy bay, 27 người thiệt mạng và 314 người bị thương, thiệt hại gây ra cho boong tàu khá lớn. Tàu buộc phải kéo đến Trân Châu Cảng để tiến hành sửa chữa, đầu tháng 3/1969 tàu sân bay USS-Enterprise tiếp tục trở lại vịnh Bắc Bộ và tham gia vào các chiến dịch phá hoại miền Bắc

Đến 30/7/1971, tàu sân bay USS-Enterprise đã thực hiện tổng cộng hơn 2001 phi vụ không kích trong các chiến dịch theo lang đánh phá miền Bắc, cũng như thực hiện các phi vụ hỗ trợ cho lực lượng mặt đất của thủy quân lục chiến Mỹ trên chiến trường miền Nam.

Đến cuối năm 1972, tàu sân bay này lại được huy động tham gia chiến dịch Linebacker-II (Điện Biên Phủ trên không).

Những ngày cuối cùng của chiến tranh Việt Nam, tàu sân bay này tiếp tục được huy động tham gia hỗ trợ cho cuộc di tản khỏi Sài Gòn vào cuối tháng 4/1975.

USS-Midway (CV-41)

USS-Midway (CV-41) lớp Midway, là tàu sân bay của Mỹ tham chiến sớm nhất tại chiến trường Việt Nam.

Tháng 3/1965, tàu sân bay USS-Midway được lệnh rời cảng Alameda đến Việt Nam, tháng 4/1965, tàu sân bay này chính thức tham gia vào sự kiện vịnh Bắc Bộ.

Một chiếc A-6 đang cất cánh làm nhiệm vụ ném bom miền Bắc Việt Nam từ tàu sân bay của Mỹ.

Một chiếc F-4B Phantom do Trung tá Batson cất cánh từ tàu sân bay này đã bắn rơi một chiếc MiG-17 của Việt Nam đây được xem là chiến thắng đầu tiên trước máy bay chiến đấu Mig tại chiến trường Việt Nam.

Năm 1969, tàu sân bay USS-Midway quay trở lại cảng Alameda để tiến hành công tác bảo trì và hiện đại hóa. Tháng 4/1971, tàu sân bay này tiếp tục quay trở lại chiến trường Việt Nam.

Trong suốt quá trình tham chiến tại Việt Nam, bay USS-Midway đã thực hiện tổng cộng 11.900 phi vụ tấn công trên khắp Việt Nam. Ngoài việc triển khai máy bay chiến đấu, tàu sân bay này còn tham gia vào các hoạt động rải mìn tại các khu vực cửa biển tại miền Bắc Việt Nam.

Cuối tháng 4/1975, tàu sân bay này tiếp tục được huy động tham gia các hoạt động hỗ trợ di tản khỏi Sài Gòn. Tàu sân bay USS-Midway chính thức ngưng hoạt động vào ngày 11/4/1992.

USS-Oriskany (CV-34)

Tàu sân bay USS-Oriskany thuộc lớp Essex, cũng là một trong những tàu sân bay tham chiến sớm nhất tại chiến trường Việt Nam. USS-Oriskany tham gia các chiến dịch không kích miền Bắc Việt Nam ngay sau sự kiện vịnh Bắc Bộ năm 1965.

Tháng 4/1965, tàu sân bay này đến Việt Nam cùng với số lính thủy quân lục chiến Mỹ đầu tiên đến Việt Nam. Nhiệm vụ ban đầu của tàu sân bay này là tiến hành các hoạt động hỗ trợ cho quân lực VNCH đối phó với các hoạt động gia tăng của lực lượng quân giải phóng miền Nam Việt Nam.

Trong suốt chiến tranh Việt Nam, tàu sân bay USS-Oriskany đã thực hiện tổng cộng 12.000 phi vụ không kích trên khắp Việt Nam, với hơn 9.100 tấn bom đạn được ném xuống đất nước ta.

Tàu sân bay USS-Oriskany được đặc biệt chú ý bởi sự kiện trung tá phi công Jonh McCain bị bắn hạ khi lái một chiếc A-4 Skyhawk thực hiện nhiệm vụ ném bom trên bầu trời Hà Nội năm 1967. Ông bị bắt làm tù binh và được trả tự do vào năm 1973 sau hiệp định Paris. Hiện nay ông là một trong những thượng nghị sỹ có uy tín tại Thượng viện Mỹ và có thiện chí với Việt Nam.

Trong quá trình tham gia chiến tranh Viêt Nam, tàu sân bay USS-Oriskany cũng gặp phải sự cố phát nổ vũ khí tương tự như tàu sân bay USS-Enterprise. Vụ nỗ làm 44 người thiệt mạng trong số đó có rất nhiều phi công vừa thực hiện cuộc tấn công ném bom miền Bắc vài giờ trước đó.

Ngày 17/5/2006, tàu sân bay USS-Oriskany bị đánh chìm ngoài khơi bờ biển Florida để tạo dãy san hô nhân tạo, một trong những nỗ lực của chính quyền địa phương trong việc khôi phục các rặng san hô đang ngày một chết dần.

Tàu sân bay Mỹ trong chiến tranh Việt Nam.
Biên tập, dựng hình: Hà Tiệp

USS Coral Sea (CV 43)

Tàu sân bay USS Coral Sea (CV 43) thuộc lớp Midway, tàu sân bay này chính thức tham chiến tại chiến trường Việt Nam vào tháng 2/1965. Tàu sân bay này đã chứng minh được khả năng thực hiện các nhiệm vụ trong điều kiện thời tiết xấu.

Cuộc không kích đầu tiên của các máy bay trên tàu sân bay này diễn ra gần thành phố Đồng Hới, Quảng Bình trong chiến dịch trả đũa cho cuộc tấn công của quân giải phóng miền Nam Việt Nam vào khu vực đóng quân của Mỹ ở Pleiku.

Ngày 2/3/1965, tàu sân bay USS Coral Sea chính thức mở màn chiến dịch Sấm Rền đánh phá ác liệt các mục tiêu tại miền Bắc Việt Nam. Với sự xuất hiện của máy bay cường kích F-105 Thunderchiefs (Thần Sấm), và biến thể F-105G Wild Weasels “Chồn hoang” đã thực hiện các cuộc không kích với cường độ cao nhất kể từ sau chiến tranh thế giới thứ 2.

Nhằm bảo vệ cho phi đội ném bom trước các hệ thống phòng không của Bắc Việt Nam. Không quân Mỹ đã sử dụng chiến thuật SEAD (áp chế phòng không không quân đối phương, >> chi tiết) trong chiến tranh hiện đại với sự xuất hiện của F-105G và tên lửa chống radar AGM-45 Shrike tại chiến trường Việt Nam. Từ đó đến này SEAD trở thành một nhiệm vụ chủ đạo trong bất kỳ chiến dịch không kích nào.

>> Chiến thuật chế áp phòng không hiện đại (kỳ 1)
>> Chiến thuật chế áp phòng không hiện đại (kỳ 2)

Trong chiến dịch Sấm Rền kéo dài từ 2/3/1965-1/11/1968, chỉ tính riêng Hải quân và thủy quân lục chiến Mỹ đã thực hiện tổng cộng 152.399 phi vụ tấn công. Tổng số bom đạn mà Mỹ ném xuống trong chiến dịch này lên đến 643.000 tấn, nhiều hơn bất kỳ cuộc chiến tranh nào từ sau chiến tranh thế giới thứ 2. Tổng cộng có gần 900 máy bay của Mỹ bị bắn hạ trong chiến dịch.

Kể từ sau chiến dịch Sấm Rền, tàu sân bay USS Coral Sea còn quay trở lại nhận nhiệm vụ tại chiến trường Việt Nam thêm 7 lần nữa. Chỉ tính riêng năm 1972, tàu sân bay này đã thực hiện tới 4.833 phi vụ tấn công trên khắp Việt Nam.

Cuối tháng 4/1975, tàu sân bay này tiếp tục tham gia hỗ trợ cuộc di tản khỏi Sài Gòn, ngày 26/4/1990, tàu sân bay USS Coral Sea chính thức ngưng hoạt động. Trung Quốc từng tìm cách để mua lại tàu sân bay này, tuy nhiên Tòa án Liên bang Mỹ đã ra lệnh cấm bán tất cả các tàu sân bay ngưng sử dụng ra nước ngoài. Tàu sân bay USS Coral Sea chính thức bị đánh chìm vào 8/9/2000.

Trong suốt những năm chiến tranh Việt Nam, quân và dân Việt Nam không chỉ phải đối đầu với lực lượng quân sự khổng lồ của Mỹ với hơn nữa triệu thủy quân lục chiến trên chiến trường miền Nam, cùng với hơn 1 triệu binh lính của quân lực VNCH mà còn phải đối đầu với áp lực rất lớn đến từ 20 tàu sân bay đẳng cấp của Mỹ ngoài khơi vịnh Bắc Bộ thay nhau thực hiện các chiến dịch đánh phá ác liệt miền Bắc Việt Nam. Song với tinh thần quả cảm, không hề nao núng quân và dân Việt Nam đã chiến đấu một cách ngoan cường, bẻ gãy sức mạnh quân sự khổng lồ của Mỹ, buộc Mỹ phải ký hiệp định Paris rút quân về nước.

>> Tác động tàu sân bay Trung Quốc tới biển Đông
>> Mạng Trung Quốc: ‘Việt Nam lo lắng trước tàu sân bay?’
>> Dân mạng Trung Quốc đánh giá hạm đội tàu ngầm Việt Nam

>> ‘Bom thông minh’ trong chiến tranh Việt Nam
>> Người hẹn giờ cho những chiến công

Quốc Việt
baodatviet.vn

Anh hùng Lê Thanh Đạo kể chuyện diệt F-4

Trong suốt quá trình chiến đấu, phi công Lê Thanh Đạo đã lập công tiêu diệt 6 máy bay địch góp phần vào chiến thắng của toàn quân dân ta trong chống chiến tranh phá hoại miền bắc.

Anh hùng phi công Lê Thanh Đạo.

Phi công Lê Thanh Đạo sinh năm 1944 tại xã Thụy Phương, huyện Từ Liêm, Hà Nội. Năm 1965, ông được cử đi học lái máy bay ở Liên Xô. Năm 1968, ông hoàn thành nhiệm vụ học tập trở về nước tham gia chiến đấu trong Trung đoàn Không quân Tiêm kích 921 (Sao Đỏ). Năm 1973, ông được Nhà nước phong tặng danh hiệu anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân.

Trong một ngày cuối hè 2011, Đất Việt đã có dịp gặp người anh hùng năm xưa. Qua lời kể của ông cụ tóc bạc trắng nhưng thân hình vẫn vạm vỡ, giọng nói sang sảng, chiến công của một thời oai hùng được thuật lại vô cùng hấp dẫn.

Chiến công đầu

Từ ngày 1/11/1968, Không quân Mỹ ngừng ném bom toàn miền bắc. Nhưng năm 1969 chính quyền Nixon chối bỏ cam kết ngừng ném bom tiếp tục các cuộc đánh phá từ vĩ tuyến 17 tới vĩ tuyến 20.

Cuối năm 1971, mật độ đánh phá của Không quân Mỹ ngày càng trở nên ác liệt hơn, các máy bay trinh sát hoạt động liên tục bất kể ngày đêm do thám miền bắc.

Ngày 18/12/1971 là ngày bình thường như mọi ngày. Vào khoảng 3h chiều, còi báo động bất ngờ hú vang ở căn cứ Trung đoàn Không quân Tiêm kích 921 (đóng ở Nội Bài), giọng nói trong điện thoại khi đó rất khẩn trương. Người phi công trẻ Lê Thanh Đạo linh cảm hôm nay không phải là một cuộc diễn tập.

Sau tiếng còi báo động, biên đội 2 chiếc tiêm kích MiG-21 nhanh chóng cất cánh bay vút lên cao. Trong đó, chiếc thứ nhất do phi công Lê Thanh Đạo điều khiển.

Biên đội MiG-21 bay về hướng 270 độ theo lệnh của người dẫn đường. Vốn đã làm quen với địa hình nên ông ước lượng rằng mình đang ở khu vực Hòa Bình. Hai chiếc “én bạc” tiếp tục bay qua Ba Vì rồi vượt lên.

“Sau đó tiếp tục có thông báo “phía trước 40km, 20 độ” thêm một đoạn nữa thì “phía trước 30km”. Cảm giác của tôi lúc đó cho rằng minh hơi “đối đầu”, nghĩa là nó đi vào còn mình đi ra,” ông nhớ lại.

Tiếp tục có lệnh “vòng trái 60 độ, phía trước 25km”, phi công số 2 (sau này đã khi hi sinh trong một trận đánh khác) reo lên “tôi phát hiện ra rồi, phía trước có 1 chiếc”. Số 2 khẳng định lại lần nữa “phía trước, bên trái 30 độ, 20 km”.

“Tôi nhìn theo hướng mà phi công số 2 chỉ thì thấy có một chiếc, tôi liền nói “tôi thấy rồi”. Khi đó thì máy bay địch tiếp cận từ 20km rồi còn 15km, còn 10km. Tôi nói với số 2 “tôi công kích chiếc thứ nhất,” ông kể.

Sau đó, ông điều khiển chiếc MiG-21 tiếp cận vào cự ly 5km, trần bay của MiG-21 lúc đó đang ở độ cao 7.000m trong khi máy bay địch là 5.000m. Từ độ cao 7.000m, ông lái MiG-21 bổ nhào xuống tiếp cận ở cự ly khoảng 3km. Lúc này, tên lửa không đối không R3S đã bắt được mục tiêu.

Nhưng lúc đó, ông cho rằng vẫn còn khá xa. “Tôi hướng vào máy bay địch thì thấy nó còn xa, theo kinh nghiệm lớp trước truyền lại (anh hùng Nguyễn Văn Cốc) thì nếu trông thấy kiểu máy bay có cánh đuôi cụp xuống, cánh chính vểnh lên thì F-4 là chính. Vào gần hơn, tôi thấy rõ hai động cơ, tôi quyết định bắn nếu không bắn thì đâm vào nó mất”.

Cầm cần điểu khiển chiếc MiG, ông “bóp cò” phóng tên lửa. “Nhưng nghĩ mãi chả thấy tên lửa ra, dù thực tế chỉ có 3/10 giây để động cơ tên lửa cháy nhưng tôi thấy sốt ruột với thời gian trôi quá lâu,” phi công Lê Thanh Đạo nhớ lại giây phút quyết định đó.

Tên lửa phóng, cảm giác cánh máy bay dềnh lên. Ông nhanh chóng lái MiG thoát ly và nói với số 2 “anh vào công kích tiếp đi”. Ngay lập tức số 2 trả lời “cháy rồi còn đâu”. Ông lật cánh lại và nhìn rõ chiếc F-4 của địch bùng cháy như bó đuốc, một chiếc dù bật ra – phi công địch nhảy dù.

Trung đoàn Không quân Tiêm kích 921 (Sao Đỏ).

Ông cùng số 2 thoát ly an toàn về hạ cánh  trong niềm hân hoan với chiến công đầu bắn rơi máy bay địch.

Viên phi công địch bị dân quân Hòa Bình bắt sống, khi lấy cung thì tên này đã khai là chúng thực hiện một phi vụ trinh sát miền bắc. Ban đầu, đúng ra phải có 2 chiếc F-4 cùng xuất kích tuy nhiên 1 chiếc bất ngờ bị hỏng động cơ nên chỉ có một chiếc cất cánh.

Táo bạo, dũng cảm, quyết tâm diệt địch

Không bao lâu sau, tháng 4/1972 chính quyền Mỹ tiếp tục cuộc chiến tranh phá hoại miền bắc với quy mô, cường độ mạnh hơn nhiều so với lần trước. Chúng tiếp tục đưa vào miền bắc những công nghệ kỹ thuật quân sự mới mẻ hơn, nguy hiểm hơn.

Sau chiến công đầu, ngày 3/2/1972 ông được chuyển sang Trung đoàn Không quân Tiêm kích 927. Khi đó, ông mới 28 tuổi đã được cử làm Phi đội trưởng Phi đội 9 (mỗi phi đội có khoảng 18 chiếc MiG-21).

Lúc này, trung đoàn 927 chuyển về sân bay Kép (Bắc Giang). Hôm đó là ngày 10/5/1972, ông cùng với phi công số 2 (tên là Hợp) đang trong kíp trực ở sân bay Kép thì có lệnh báo động. Biên đội 2 chiếc MiG-21 nhanh chóng nổ máy cất cánh.

Dưới sự hướng dẫn mặt đất, biên đội ta đuổi theo một tốp máy bay địch. “Khi đó, tôi bắt đầu thấy biển, áng chừng có lẽ đã tới Uông Bí. Lúc này, biên đội phát hiện hai chiếc F-4 của địch, có vẻ địch cũng phát hiện có đuổi theo nên tăng lực bỏ chạy,” ông kể lại tình huống trận đánh.

Dù vậy, biên đội MiG-21 vẫn bám đuổi được địch và  tiếp cận vào rất gần khoảng 4km. Sở chỉ huy khi đó mới yêu cầu biên đội quay lại do đã tới sát biển, nếu tiếp tục có thể máy bay hết dầu buộc phải nhảy dù như vậy sẽ rất nguy hiểm cho phi công.

Hai chiếc F-4 của Mỹ trong chiến tranh Việt Nam.

Tuy nhiên, lúc này khoảng cách rất gần, hoàn toàn có thể đánh tiêu dịch địch nên ông vẫn chỉ huy biên đội tiếp tục bám theo. Sở chỉ huy tiếp tục nhắc lần 2 yêu cầu quay lại. Nhưng lúc này, cự ly cách địch còn 3km, tên lửa R3S đã khóa mục tiêu.

Tốp 2 chiếc F-4 địch tách ra, ông liền nói với số 2 “tôi bám chiếc số 1”, số 2 bám chiếc còn lại. Vào tiếp cận gần hơn khi chỉ còn cách 2km thì số 2 reo lên “cháy rồi”, phi công số 2 đã phóng tên lửa tiêu diệt địch trước. Vài giây sau, ông cũng phóng tên lửa và tiêu diệt chiếc F-4 còn lại. Hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ bắn rơi liền 2 chiếc, biên đội MiG-21 do phi công Lê Thanh Đạo bay số 1 chỉ huy nhanh chóng thoát ly về sân bay Kép.

Tuy nhiên, lúc này lại nảy sinh tình huống cực kỳ nguy hiểm. Về gần tới Kép, biên đội phát hiện 2 tốp F-4 đang khống chế sân bay, phi công số 2 lúc này đã hết dầu buộc phải hạ cánh. Ông bình tĩnh yểm hộ cho số 2, cùng với đó là hỏa lực pháo phòng không mặt đất cũng nổ súng tạo hành lang an toàn cho số 2 đáp cánh.

Riêng ông, với kinh nghiệm thông thuộc địa hình đã nhanh chóng đưa chiếc MiG-21 hạ thấp bay sát núi lách về sân bay Nội Bài an toàn. “Lớp của tôi về năm 1968, năm 1969-1971 bay huấn luyện nên rất thông thạo từng con sông, ngọn núi, không bao giờ bị lạc, luôn biết mình ở đâu,” ông chia sẻ.

Trong suốt cuộc chiến ác liệt năm 1972, anh hùng phi công Lê Thanh Đạo tiếp tục lập công bắn rơi 4 chiếc máy bay khác góp phần vào chiến thắng vang đội của toàn quân dân ta trong cuộc chiến chống chiến tranh phá hoại của Mỹ. Ngày 11/1/1973, phi công Lê Thanh Đạo được Nhà nước tặng Danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân.

Mặc dù vậy, trong các trận đánh trên không anh hùng phi công Lê Thanh Đạo cũng bị bắn rơi một lần vào ngày 15/10/1972. Ông bị thương buộc phải điều trị gần 1 năm. Sau khi lành vết thương, ông tiếp tục rèn luyện sức khỏe và “tung cánh trở lại” trên chiếc MiG-21 thêm 5-6 năm nữa.

F-4 Phantom là máy bay tiêm kích đánh chặn siêu âm, hai chỗ ngồi do Tập đoàn McDonnell Douglas chế tạo.Trong chiến tranh Việt Nam, F-4 tham gia chiến đấu trong nhiều vai trò: tiêm kích đánh chặn, ném bom, trinh sát.  Chiến đấu cơ F-4 có khả năng mang tới hơn 8 tấn vũ khí (gồm tên lửa không đối không, không đối đất, bom, rocket).F-4 được coi là một trong những chiến đấu cơ thành công nhất của Mỹ sau Thế chiến thứ 2. Khoảng 5.000 chiếc F-4 được sản xuất và cho tới ngày nay vẫn còn hàng trăm chiếc phục vụ tích cực ở một số quốc gia đồng minh Mỹ.

MiG-21 là tiêm kích siêu âm đánh chặn hạng nhẹ do Cục thiết kế Mikoyan Gurevich (Liên Xô) thiết kế chế tạo. Khoảng 10.000 chiếc MiG-21 đã được sản xuất và hoạt động trong thành phần trang bị 50 quốc gia trên thế giới.

MiG-21 có tốc độ bay siêu âm Mach 2, bán kính tác chiến khoảng 300km, các mẫu biến thể đầu của MiG-21 chỉ mang được 2 tên lửa đối không R3S. Những biến thể sau này có thể mang 4 tên lửa đối không.

Trong chiến tranh Việt Nam, lực lượng Không quân Nhân dân Việt Nam thường sử dụng chiến thuật bay biên đội 2 chiếc: chiếc số 1 đóng vai trò chỉ huy, chiếc số 2 làm nhiệm vụ bảo vệ và có thể tham gia công kích mục tiêu. Chúng ta luôn luôn trong tình trạng chọi với số đông quân địch, phải đối đầu với những phi công Mỹ già dặn với hàng nghìn giờ bay kinh nghiệm. Mặc dù vậy, với tinh thần dũng cảm, sáng tạo trong chiến đấu những phi công trẻ tuổi của Không quân Nhân dân Việt Nam anh hùng vẫn giành được những chiến thắng trên không.

>> Chuyên trang: Cha ông ta đánh giặc

Lê Nam
baodatviet.vn

Nguyễn Biểu, sứ giả trung dũng

Nguyễn Biểu người làng Bình Hồ, huyện Chi La, nay là Yên Hồ, huyện Đức Thọ, tỉnh Hà Tĩnh. Ông đỗ Thái học sinh vào cuối đời nhà Trần, đầu đời nhà và mất trong một lần đi sứ phương Bắc.

>> Lăng Mạc Cửu đẹp nhất Hà Tiên
>> Chuyện khó tin: không ai biết có đền Trung Liệt?

Khi Trần Trùng Quang lên ngôi, Nguyễn Biểu được phong chức Điện tiền ngự sử. Ông là người cương trực, gặp việc sai trái dám can ngăn, nói thẳng. Khi Trương Phụ nhà Minh đóng quân ở núi Nghĩa Liệt thuộc đất Nghệ An, Trùng Quang đế đắp thành phía nam Chi La đối lũy với nhau.

Sau Trùng Quang đế chuyển vào Hóa Châu – nhà Minh có chiếu tìm con cháu nhà Trần để lập ngôi. Trùng Quang đế sai Nguyễn Biểu đi sứ cầu phong. Nguyễn Biểu đến dinh giặc, Trương Phụ bắt Nguyễn Biểu quỳ lạy, Nguyễn Biểu không theo. Trương Phụ lại muốn uy hiếp tinh thần của Nguyễn Biểu, sai quân soạn một bữa tiệc đặc biệt.

Thức ăn, đồ uống bày trong một cái quả màu sơn nâu, khảm xà cừ, đậy nắp nghiêm trang. Nguyễn Biểu vào tiệc. Lính hầu của Trương Phụ mở nắp quả thì có một cái đầu người luộc chín để trong một cái đĩa bạc sang trọng.

Phố Nguyễn Biểu, Ba Đình, Hà Nội.

Nguyễn Biểu hơi sửng sốt nhưng sắc mặt vẫn không thay đổi, ông ung dung rót rượu, cầm đôi đũa ngà và dao khoét mắt chấm muối nhắm với rượu một cách ngon lành.Sau khi nuốt xong con mắt, uống xong chén rượu, Nguyễn Biểu tiếp tục khoét con mắt thứ hai để vào bát, rồi rót tiếp một chén rượu đầy, cười và nói một mình nhưng cốt để cho Trương Phụ nghe được: “Không mấy khi người Nam được nhắm rượu với đầu luộc người Bắc”.

Ông còn kiêu hãnh ngâm một bài thơ: “Ngọc thiệt trân tu đã đủ mùi/Gia hào thêm có cỗ đầu người/Nem công chả phượng còn chưa béo…“. Đọc xong bài thơ, Nguyễn Biểu tươi cười khoan thai đứng dậy. Trương Phụ tròn xoe mắt kinh ngạc.

Để tỏ ra mình cũng biết trọng người tài, có khí phách, Trương Phụ lấy lễ tiếp đãi Nguyễn Biểu rồi tiễn chân sứ giả ra về.

Khi Nguyễn Biểu về rồi, tên Việt gian Phan Liêu ton hót với Trương Phụ: “Người đó là một hào kiệt nước Nam, ngài muốn lấy nước Nam mà thả người ấy ra thì xong sao được”. Trương Phụ hạ lệnh cho quân đuổi theo gọi Nguyễn Biểu trở lại. Nguyễn Biểu biết trở lại là chết, bèn dừng chân, xuống ngựa đề vào cột Cầu Lam “Thất nguyệt sơ nhất nhật, Nguyễn Biểu tử”.

Xong rồi, lên ngựa thong dong trở lại dinh Trương Phụ. Trương Phụ trách Nguyễn Biểu ra về không quay đầu ngựa lại chào là vô lễ. Nguyễn Biểu giận, chỉ tay mắng vào mặt Trương Phụ rằng: “Trong bụng toan tính cướp nước người ta, ngoài mặt lại nói láo phô trương là danh nghĩa, trước đã hứa lập con cháu họ Trần mà bây giờ lại chia lập quận, huyện, không những cướp bóc của báu, mà còn tàn hại sinh dân. Mày là thằng giặc tàn ác, bạo ngược”. Trương Phụ giận tím gan ra lệnh trói Nguyễn Biểu vào cột cầu gần chùa Yên Quốc rồi giết đi.

Không chỉ người dân Việt Nam tôn vinh Nguyễn Biểu mà chính kẻ thù, sau khi giết hại Nguyễn Biểu cũng đem lòng thán phục. Trương Phụ đã nói với quân lính: “Thật là một bậc tráng sĩ, là một hào kiệt nước Nam”.

Theo Kienthuc.net
baodatviet.vn

Núi Thành –Trận đầu đánh Mỹ

QĐND Online – Đến đầu năm 1965, cuộc chiến tranh xâm lược của đế quốc Mỹ ở miền Nam nước ta leo thang lên một bước mới, chuyển sang chiến lược “chiến tranh cục bộ”, xuất con chủ bài quân viễn chinh xâm lược Mỹ, từng bước phản công hòng giành lại quyền chủ động, giành thắng lợi quyết định về chiến lược. Lúc này, vấn đề nóng bỏng và bức thiết nhất được đặt ra là: quân và dân ta liệu có khả năng đánh được quân viễn chinh Mỹ không? Đánh Mỹ và thắng Mỹ bằng cách nào?

Trên chiến trường Quảng Nam, sau khi quân Mỹ đổ bộ vào Đà Nẵng, Tỉnh uỷ, Ban Chỉ huy Tỉnh đội Quảng Nam nhận được thông báo của Bộ Tư lệnh Quân khu V về tình hình chiến sự và dự kiến cửa biển An Hoà là một trong những địa điểm Mỹ có thể đổ quân. Quân khu chỉ thị cho Tỉnh phải chuẩn bị tư tưởng cho các lực lượng vũ trang với tinh thần sẵn sàng cao nhất để đánh Mỹ. Ngày 7 tháng 5 năm 1965, Bộ Tư lệnh Quân khu V giao nhiệm vụ cho Ban Chỉ huy Tỉnh đội Quảng Nam, phải nhanh chóng phát động chuyển tư tưởng bộ đội, du kích từ đánh nguỵ sang đánh cả nguỵ lẫn Mỹ. Tổ chức lực lượng hình thành vành đai bao vây, tiêu hao, tiêu diệt quân Mỹ ở khu vực Kỳ Liên, Kỳ Hà; hạn chế không cho chúng phát triển nhanh ra vùng giải phóng. Trước mắt quyết diệt gọn cho được một đại đội lính Mỹ. Mục tiêu đánh, đơn vị thực hành trận đánh do Tỉnh lựa chọn, quyết định.

Quán triệt nhiệm vụ trên giao, Tỉnh đội Quảng Nam đã chọn đại đội lính thuỷ đánh bộ Mỹ chốt giữ núi Thành làm mục tiêu tiến công.

Núi Thành thực chất là một quả đồi dài 1.250 m, rộng 60 m, có hai mỏm chính: mỏm đông cao 50 m, mỏm tây cao 49 m. Hai mỏm đông, tây cách nhau 500m bởi một “yên ngựa”. Núi Thành có độ dốc thoai thoải, đất đá, cây cối lúp xúp ngang ngực, xen kẽ nhiều loại dây leo chằng chịt. Sáng ngày 17 tháng 5 năm 1965, quân Mỹ càn quét lên vùng giải phóng của ta ở phía tây xã Kỳ Liên và chiếm giữ núi Thành. Đây là vị trí có tầm quan sát xa, khống chế rộng 3 xã Kỳ Sanh, Kỳ Liên, Kỳ Khương và một số điểm chốt khác trong dãy núi răng cưa làm thành hệ thống chốt tiền tiêu bảo vệ cho sân bay Chu Lai, cảng Kỳ Hà, kiểm soát quốc lộ Số 1, đoạn từ An Tân đến dốc Sỏi. Đại đội lính thuỷ đánh bộ Mỹ chốt giữ núi Thành có 140 tên, chia làm 3 cụm chốt. Cụm chốt điểm cao 50 có ban chỉ huy đại đội và hai trung đội (thiếu 1 tiểu đội), có trận địa súng ĐKZ 75mm, trận địa súng cối 81mm. Cụm chốt điểm cao 49 có một trung đội, một trận địa súng ĐKZ 75 mm. Cụm chốt ở mỏm phụ ở phía bắc đồi 50 có một tiểu đội. Trang bị chủ yếu của quân Mỹ ở đây là súng đại liên M60, phóng lựu 79, súng Gơ – răng M2 và lựu đạn M26. Trận địa chốt của chúng được bố trí theo kiểu hình vòng bậc thang từ thấp lên cao; các cứ điểm, trận địa bên trong có thể chi viện các trận địa vòng ngoài bằng cả lực lượng và hoả lực. Chiến hào của chúng sâu đến thắt lưng, xen kẽ có các công sự. Ban ngày, chúng căng bạt che nắng, ban đêm dỡ ra. Giữa các công sự dọc chiến hào là các hố cá nhân. Cách chiến hào ngoài cùng khoảng 5m, chúng rải một lớp rào kẽm gai bùng nhùng xen kẽ trong những bụi gai tạo nên vật cản khiến quân ta khó tiếp cận. Đóng quân trên núi Thành, quân Mỹ không lùng sục, tuần tra rộng mà chỉ trong phạm vi phía trong rào kẽm gai. Ban ngày, chúng dùng ống nhòm để quan sát, nếu phát hiện được mục tiêu hoặc nghi ngờ thì gọi máy bay, pháo binh bắn phá, hoặc dùng súng ĐKZ, súng cối bắn vào mục tiêu. Ban đêm, chúng ở yên trong các công sự, canh gác tại chỗ, tránh phát ra tiếng động, không bắn pháo sáng nhằm đề phòng trinh sát của ta xác định thế phòng ngự và chi tiết phòng ngự. Mọi sinh hoạt từ cung cấp lương thực, thực phẩm, nước uống đến vũ khí, trang bị…, chúng đều dựa vào máy bay trực thăng.

Qua quá trình theo dõi, trinh sát nắm chắc các quy luật hoạt động của quân Mỹ, ta rút ra kết luận:quân Mỹ tuy đông, hoả lực mạnh, chốt giữ trên điểm cao có rào kẽm gai, công sự bố trí nhiều tầng để hỗ trợ nhau, có pháo binh, không quân sẵn sàng chi viện… nhưng điểm yếu vẫn là cơ bản. Đấy là, lính thuỷ đánh bộ Mỹ mới đến chiến trường Việt Nam, còn nhiều bỡ ngỡ. Chúng được huấn luyện tốt về đổ bộ đánh chiếm đầu cầu trong chiến tranh hiện đại, nay bị đẩy lên chốt giữ điểm cao là trái sở trường, lại phải đối phó với chiến tranh nhân dân rộng khắp của ta nên bị động. Công sự, vật cản dã chiến của chúng đã đơn giản lại nằm sâu trong vùng đất giải phóng của ta nên dễ bị cô lập, chia cắt. Nếu ban dêm, ta dùng lực lượng tinh nhuệ, có trình độ kỹ thuật, chiến thuật giỏi, bất ngờ tiến công, đánh gần, đánh nhanh thì có thể hạn chế đựơc sức mạnh hoả lực của địch, kể cả pháo binh và không quân, nhất là chúng không thể dùng xe tăng, bộ binh ứng cứu trong đêm tối. Từ phân tích, đánh giá về địch và căn cứ vào khả năng, trình độ tác chiến tập trung của các đơn vị, Ban Chỉ huy Tỉnh đội Quảng Nam quyết định sử dụng Đại đội 2, tiểu đoàn 70, có tăng cường Phân đội đặc công V.16, làm lực lượng chủ công trong trận đánh Mỹ ở núi Thành. Phương án tác chiến là sử dụng chiến thuật đặc công hoá, bộ đội bí mật tiềm nhập, khắc phục vật cản, áp sát mục tiêu, hình thành thế bao vây, bất ngờ đồng loạt nổ súng; đánh gần bằng lựu đạn, thủ pháo, tiểu liên, kiên quyết thọc sâu vào tung thâm, phát triển chia cắt từng cụm quân địch, từng đoạn chiến hào để tiêu diệt, không cho địch co cụm chống trả.

Sau một thời gian ngắn gấp rút huấn luyện bổ sung và làm công tác chuẩn bị, sáng 25 tháng 5 năm 1965, tại thôn 2, xã Kỳ Thanh, huyện Tam Kỳ, tỉnh Quảng Nam, Đại đội 2 và Phân đội đặc công V.16 làm lễ xuất quân đánh Mỹ. dồng chí Hoàng Minh Thắng, Uỷ viên Thường vụ Tỉnh uỷ, Chính trị viên Tỉnh đội Quảng Nam tham dự lễ giao nhiệm vụ đánh Mỹ cho đơn vị và trao lá cờ Quyết chiến, quyết thắng giặc Mỹ xâm lược của Đảng bộ Tỉnh cho Đại đội trưởng Võ Thành Nam, để cắm lên núi Thành vào giờ phút chiến thắng.

Đúng 0 giờ 30 ngày 26-5-1965, Đại đội 2 và Phân đội đặc công V16 đã nổ súng tiến công quân Mỹ ở núi Thành. Trận đánh diễn ra trong vòng 30 phút. Với cách đánh thích hợp, tiến công bất ngờ và tinh thần chiến đấu ngoan cường, cán bộ, chiến sĩ ta đã lập nên chiến công vang dội: tiêu diệt gọn Đại đội 2, thuộc Tiểu đoàn 2, Lữ đoàn 3 lính thuỷ đánh bộ Mỹ, thu 14 súng, phá huỷ 2 súng ĐKZ 75mm, 1súng cối 81mm, 3 máy thông tin vô tuyến và nhiều trang thiết bị chiến tranh khác. Đây là đòn phủ đầu choáng váng không những đối với Bộ Tư lệnh Lữ đoàn 3 lính thuỷ đánh bộ Mỹ đóng ở căn cứ Chu Lai, mà còn là nỗi sợ hãi chung của sĩ quan, binh sĩ Mỹ mới chân ướt, chân ráo nhảy vào tham chiến trên chiến trường miền Nam.

HÀ THÀNH
qdnd.vn

Địa đạo Long Phước – “núm sữa” nuôi dưỡng phong trào cách mạng

QĐND Online – Xã Long Phước thuộc thị xã Bà Rịa, tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu, cách trung tâm thị xã 7km về phía đông bắc. Do có vị trí chiến lược quan trọng về quân sự, chính trị và kinh tế nên Long Phước luôn là địa bàn tranh chấp quyết liệt giữa ta với địch suốt hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ. Trong những năm tháng ác liệt của chiến tranh, chính nơi đây đã hình thành hệ thống địa đạo nổi tiếng, một công trình sáng tạo độc đáo của chiến tranh nhân dân do Đảng ta lãnh đạo.

Khởi đầu từ phong trào đào hầm bí mật tại nhà ông Năm Hồi năm 1948, chi bộ Long Phước đã vận động nhân dân phát triển thành hệ thống địa đạo ở cả 5 ấp trong xã: ấp Đông, ấp Tây, ấp Nam, ấp Bắc và ấp Phước Hữu. Các cụm địa đạo được nối liền với nhau bởi đường xương sống, có hầm bí mật chứa lương thực dự trữ, các công sự chiến đấu để đánh trả địch. Đường địa đạo xương sống cách mặt đất 2-3m, lòng địa đạo cao 1,5-1,6m, rộng 0,6-0,7m, bảo đảm đi lại vận động khá dễ dàng. Tuyến địa đạo ấp Đông dài 360m có nhiều công sự chiến đấu, trạm cứu thương, kho vũ khí và lương thực.

Trong kháng chiến chống Mỹ, hệ thống địa đạo Long Phước được khôi phục và phát triển thành hệ thống liên hoàn vững chắc. Địa đạo được đào sâu xuống lòng đất tới 6m, đường xương sống mở rộng 0,7-0,8m, cao 1,6-1,8m, có nhiều cửa ngăn và lỗ thông hơi, nhiều ụ chiến đấu. Khu địa đạo ấp Bắc, ấp Tây dài tổng cộng 3,6km, hai bên phía trên mặt đất có giao thông hào, công sự chiến đấu, hầm chông, bãi mìn… là các bẫy tử địa với quân giặc.

Qua 27 năm (1948-1975) hình thành và phát triển – từ kháng chiến chống Pháp đến kháng chiến chống Mỹ – địa đạo Long Phước là nơi bám trụ đánh giặc kiên cường của lực lượng cách mạng, góp phần giữ vững căn cứ hoạt động của Khu ủy và các cơ quan Đảng, chính quyền từ tỉnh đến huyện, xã.

Dựa vào hệ thống địa đạo liên hoàn cùng với các ụ chiến đấu, quân và dân huyện Long Phước đã sát cánh cùng bộ đội C.445 (tỉnh) và C.20 (huyện) kiên cường chiến đấu giáng cho Mỹ-ngụy những tổn thất nặng nề. Điển hình là trận chiến đấu kéo dài 44 ngày đêm (từ 5/3 đến 11/4/1963) chống địch càn quét vào Long Phước, du kích xã và bộ đội địa phương đã gây cho địch nhiều thiệt hại, loại khỏi vòng chiến đấu 243 tên, phá hủy 12 xe M113. Ngày 25/3/1966, liên quân Mỹ – Úc và quân ngụy Sài Gòn có xe tăng, máy bay, pháo binh yểm trợ mở cuộc hành quân càn quét vào Long Phước hòng phá hủy hệ thống địa đạo, tiêu diệt lực lượng cách mạng. Nhưng chúng đã bị thất bại thảm hại trước sức chiến đấu kiên cường của lực lượng vũ trang tỉnh, huyện và quân dân Long Phước. Trong trận này, địch chết và bị thương 800 tên, 6 xe quân sự bị phá hủy. Vùng giải phóng của ta được giữ vững và mở rộng.

Từ năm 1974, nhờ khôi phục lại địa đạo, bố trí thành trận địa, nên lực lượng ta tuy ít nhưng vẫn liên tục đánh địch lấn chiếm vùng giải phóng dù chúng đông hơn gấp nhiều lần về quân số và được trang bị vũ khí hiện đại hơn hẳn, góp phần vào thắng lợi hoàn toàn của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước tháng 4/1975 trên quê hương Bà Rịa-Vũng Tàu.

Trải qua bao mưa bom, bão đạn, hủy diệt của quân thù, địa đạo và quân dân Long Phước vẫn đứng vững kiên cường, xứng danh vùng đất một thời đạn bom, vẫn được xem như “núm sữa” quan trọng nuôi dưỡng phong trào cách mạng tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu.

Tháng 1/1990, Nhà nước ta đã ra quyết định công nhận Di tích lịch sử địa đạo Long Phước. Tháng 2/1992, Tỉnh ủy, Ủy ban nhân dân tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu đã quyết định khởi công khôi phục và tôn tạo khu di tích địa đạo Long Phước, xây dựng phòng trưng bày lưu niệm di tích để giáo dục truyền thống cách mạng cho nhân dân và làm nơi tham quan của khách du lịch trong nước và quốc tế.

Đến với địa đạo Long Phước là thăm lại chiến trường xưa. Những chứng tích và di vật lịch sử sẽ gợi lên trong tâm tưởng du khách nét độc đáo của chiến tranh nhân dân. Ta sẽ hiểu vì sao một dân tộc nhỏ bé, nghèo nàn lại đánh thắng được những tên thực dân, đế quốc hùng mạnh. Hãy xuống lòng địa đạo để cùng sống lại những năm tháng hào hùng, bám trụ đánh giặc, chúng ta sẽ thấy những âm vang chiến thắng dường như còn dội trong lòng đất.

Quang Vân
qdnd.vn

Chu Lai và việc hình thành “Vành đai diệt Mỹ”

Chu Lai là một căn cứ quân sự do Mỹ xây dựng năm 1965 bên bờ vũng Dung Quất, cách thành phố Đà Nẵng 84 km về hướng Đông-Nam, nay thuộc xã Tam Nghĩa, huyện Núi Thành, tỉnh Quảng Nam. Căn cứ Mỹ ở đây gồm: sân bay Chu Lai có đường băng xi măng (dài 3.050m, rộng 45m) và đường băng phên nhôm (dài 2.400 m, rộng 30m); cảng quân sự Kỳ Hòa.

Ngay khi quân chiến đấu Mỹ đổ bộ vào Chu Lai (10-5-1965), Bộ Tư lệnh Quân khu V giao cho tỉnh đội Quảng Nam: Nhanh chóng phát động chuyển tư tưởng bộ đội, du kích từ đánh ngụy sang đánh cả ngụy lẫn Mỹ. Tổ chức lực lượng hình thành vành đai bao vây tiêu hao, tiêu diệt quân Mỹ ở Chu Lai, hạn chế không cho chúng lan nhanh ra vùng giải phóng… Căn cứ vào lực lượng vũ trang tỉnh, huyện đang hoạt động ở khu vực Tam Kỳ, ở phía trong (giáp căn cứ Chu Lai) có một đại đội bộ binh, một trung đội trinh sát; ở phía ngoài (cách căn cứ Chu Lai 5-20km) có Tiểu đoàn 70, Tiểu đoàn 42, Đại đội 706, Tiểu đoàn Đặc công 409 (Quân khu tăng cường); ở phía nam Chu Lai có Đại đội 21 (bộ đội địa phương huyện Bình Sơn, Quảng Ngãi) phối hợp. Ban Chỉ huy tỉnh đội Quảng Nam giao nhiệm vụ cho các đơn vị và huyện Nam Tam Kỳ: Tổ chứcVành đai diệt Mỹ là nhằm tiêu hao, tiêu diệt sinh lực và phá hủy phương tiện chiến tranh của Mỹ- ngụy trong căn cứ, làm chúng bối rối ngay từ đầu, buộc chúng lo giữ vị trí, không càn quét rộng ra được. Đồng thời, thiết kế trận địa, bố trí hầm chông, cạm bẫy, bắn tỉa ngăn chặn và đánh những quân nống lấn ra ngoài, tạo điều kiện cho bộ đội đánh những đòn phủ đầu tiêu diệt lớn, làm lung lay ý chí xâm lược của chúng ngay từ đầu, bảo vệ và mở rộng vùng giải phóng.

Sự chủ động tiến công của quân và dân Quảng Nam, Quảng Ngãi vào căn cứ Chu Lai được chính phía Mỹ thừa nhận. Trong thời gian (từ 1965-1967), các trận đánh với quân Mỹ ở vùng ven căn cứ Chu Lai đã đưa chiến tranh nhân dân địa phương ở đây lên đỉnh cao. Đây là mô hình tổ chức tiêu biểu cho hoạt động tổng hợp của các lực lượng chính trị, vũ trang địa phương cùng bộ đội chủ lực nhằm ngăn chặn, hạn chế sự tiến công của kẻ thù; tiêu hao, tiêu diệt địch, giữ vững vùng giải phóng. Nây Shi-han -Sử gia quân sự Mỹ- viết: “Với sự giúp đỡ của nông dân, Cộng sản biến mỗi làng thành một pháo đài. Các con đường đi qua đồng lúa và những chỗ trống khác được khống chế tỷ mỷ bằng những điểm hỏa lực phối hợp với nhau do những khẩu súng tự động đặt trong các chốt có những lớp cát bảo vệ phía trên. Các chốt được xây dựng bằng những thanh sắt phá ra từ đường xe lửa dọc bờ biển và buộc lại bằng dây thừng lớn để chống đỡ những bao cát. Các hầm cá nhân được ngụy trang trong giao thông hào thật tài tình. Một cái hốc được khoét vào bên hông, trong đó lính có thể ẩn nấp vào để tránh bom đạn và pháo giống như lính ở các chốt vậy. Cũng có những giao thông hào hình chữ chi để những người chỉ huy có thể tiếp viện, tiếp tế đạn dược và chuyển người bị thương ngay trong trận đánh. Họ có nhiều thời gian để sắp đặt những gì cần thiết trước khi lính Kỵ binh bay (Mỹ) tới”.(Nây Shihan: Sự lừa dối hào nhoáng. Bản dịch tiếng Việt. Nxb Thành phố Hồ Chí Minh, 1990, T2, tr248).

Tiếng súng đánh Mỹ trên “Vành đai diệt Mỹ” Chu Lai khởi đầu bằng trận thắng oanh liệt của Đại đội 2, tiểu đoàn 70 tiêu diệt một đại đội Mỹ ở Núi Thành đêm 25 rạng sáng 26-5-1965. Tiếp đến, ngày 10-6-1965, du kích xã Kỳ Sanh do Xã đội trưởng Lê Văn Tâm chỉ huy, bố trí trận phục kích tại chợ Cả Dó, chặn đánh một đại đội Mỹ từ đồi 69 (xã Kỳ Khương) càn quét ra vùng giải phóng, diệt 11 tên; sau đó dựa vào làng chiến đấu đánh quần lộn với địch diệt thêm 6 tên nữa… Những chiến công đánh Mỹ vang dội trên “Vành đai diệt Mỹ” Chu Lai nối tiếp nhau cho đến khi quân chiến đấu Mỹ phải rút hết về nước.

Ngày nay, cùng với Khu công nghiệp Dung Quất (Quảng Ngãi) đang được đẩy nhanh tiến độ hoàn thành, Chu Lai (Núi Thành, Quảng Nam) cũng đang được xây dựng để trở thành khu kinh tế mở. Trong tương lai gần, khu vực Núi Thành sẽ có bước phát triển mới về kinh tế, đồng thời nhiệm vụ củng cố quốc phòng-an ninh sẽ hết sức nặng nề. Bài học đánh Mỹ năm xưa có giá trị thời sự đối với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc hôm nay. Đấy là, phải tạo được sự nhất trí cao trong việc quán triệt đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước trong cán bộ, đảng viên và trong mọi tầng lớp nhân dân, làm cho mọi người toàn tâm, toàn ý, kiên định con đường xây dựng CNXH mà Đảng và Bác Hồ đã lựa chọn.

THU TRANG
qdnd.vn

Tân Trào – quê hương cách mạng

Cây đa Tân Trào. Ảnh: Internet

QĐND Online – Tân Trào giờ đây đã nổi danh cả nước bởi là một di tích lịch sử quý giá của dân tộc. Tân Trào vốn thuộc xã Kim Long huyện Sơn Dương tỉnh Tuyên Quang. Đây là một địa danh không chỉ đẹp vì cảnh trí thiên nhiên hùng vĩ mà còn đắc địa về quân sự . Chẳng thế mà ở đây đã lưu truyền câu da dao : “ Kim Long đất hiểm tứ bề. Kẻ địch muốn chết thì về Kim Long

Kim Long đã được đổi tên thành Tân Trào (Trào lưu cách mạng mới) sau khi địa phương làm cuộc khởi nghĩa thành công, chính quyền nhân dân được thành lập vào ngày 11-3-1945. Lãnh tụ Hồ Chí Minh đã chọn Tân Trào làm căn cứ chỉ đạo cách mạng cả nước. Tại đây Bác Hồ đã ở và làm việc suốt từ tháng 5 đến tháng 8 năm 1945. Ngày 4-6-1945, thực hiện chỉ thị của Bác Hồ, Khu giải phóng chính thức thành lập.Tân Trào được Bác Hồ chọn làm thủ đô của Khu giải phóng

Ngày 15-5-1945, Việt Nam Tuyên truyền giải phóng quân, Cứu quốc quân và các lực lượng vũ trang khác được hợp nhất mang tên mới do lãnh tụ Hồ Chí Minh đặt: Việt Nam Giải phóng quân. Khu giải phóng với Thủ đô Tân Trào đã trở thành căn cứ cách mạng chủ yếu, là ngọn cờ vẫy gọi, cổ vũ nhân dân cả nước, là hình ảnh thu nhỏ của nước Việt Nam mới sau này. Về mặt quân sự, đó là hậu phương vững chắc cho giải phóng quân xây dựng, phát triển lực lượng, chiến đấu và liên tục giành chiến thắng, bảo vệ và mở rộng Khu giải phóng .

Trong lúc không khí cách mạng đang sục sôi khắp cả nước thì ngày 7-5-1945, phát xít Đức- ý đầu hàng Đồng minh vô điều kiện. Ngày 8-8-1945, Hồng quân Liên Xô đập tan đạo quân Quan đông của phát xít Nhật ở đông bắc Trung Quốc, báo hiệu sự diệt vong tất yếu của phát xít Nhật.

Chủ động tạo thời cơ và đón thời cơ, từ ngày 13 đến ngày 15-8-1945, Hội nghị Toàn quốc của Đảng họp tại Đình Tân Trào dưới sự chủ trì của lãnh tụ Hồ Chí Minh, quyết định Tổng khởi nghĩa giành chính quyền trong cả nước.

Đêm 13-8-1945, Uỷ ban khởi nghĩa do Tổng bộ Việt Minh thành lập ra Quân lệnh số 1, kêu gọi nhân dân cả nước vùng dậy giành quyền độc lập cho nước nhà.

Ngày 16-8-1945 Quốc dân Đại hội khai mạc tại Đình Tân Trào, nhiệt liệt tán thành chủ trương Tổng khởi nghĩa của Đảng, quy định Quốc kỳ, Quốc ca, thông qua mười chính sách lớn của Việt Minh, cử ra Uỷ ban dân tộc giải phóng tức Chính phủ của nước Việt Nam mới do lãnh tụ Hồ Chí Minh làm Chủ tịch.

Vào hai giờ chiều ngày 16-8-1945, một đơn vị giải phóng quân đã tập họp dưới gốc đa Tân Trào, hướng về lá cờ đỏ sao vàng, làm lễ xuất phát tiến đánh thị xã Thái Nguyên, mở đầu cuộc Tổng khởi nghĩa tháng Tám. Các đại biểu về dự Quốc dân Đại hội đều có mặt dưới gốc đa cổ thụ cạnh ngôi nhà Hội đồng cứu quốc xã để đưa bộ đội lên đường chiến đấu. Chưa bao giờ Tân Trào lại đón tiếp một đoàn người nhiều màu sắc như vậy. Cùng với màu chàm rừng núi quen thuộc, còn có màu nâu dày dạn của đồng bằng và những màu sắc tươi sáng của đô thị. Những chiến sĩ Giải phóng quân, quần áo đủ kiểu. Đồng chí chỉ huy Võ Nguyên Giáp mặc một bộ vét đã cũ, đội mũ phớt đứng đối diện với hàng quân , xếp thành đội ngũ chỉnh tề, lắng nghe như nuốt lấy từng lời bản Quân lệnh số 1 của Uỷ ban khởi nghĩa do đồng chí Võ Nguyên Giáp đọc:

“ Hỡi quân dân toàn quốc!

Giờ Tổng khởi nghĩa đã đến!

Cơ hội có một cho quân dân Việt Nam vùng dậy giành lấy quyền độc lập của nước nhà!…

Mang nhiệm vụ lãnh đạo cuộc khởi nghĩa toàn quốc cho đến toàn thắng, Uỷ ban khởi nghĩa đã thành lập.

Hỡi các tướng sĩ và đội viên quân Giải phóng Việt Nam!

Dưới mệnh lệnh của Uỷ ban khởi nghĩa, các bạn hãy tập trung lực lượng, kíp đánh vào các đô thị và trọng trấn của quân địch, đánh chặn các đường rút lui của chúng, tước vũ khí của chúng! Đạp qua muôn trùng trở lực các bạn hãy kiên quyết tiến !

Hỡi quân dân toàn quốc!

Dưới mệnh lệnh của Uỷ ban khởi nghĩa, đồng bào hãy đem hết tâm lực ủng hộ đạo quân giải phóng, sung vào bộ đội, xông ra mặt trận đánh đuổi quân thù.

Chúng ta phải hành động cho nhanh với một tinh thần vô cùng quả cảm, vô cùng thận trọng!

Tổ quốc đang đòi hỏi những hy sinh lớn lao của các bạn!

Cuộc thắng lợi hoàn toàn nhất định về ta

Uỷ ban khởi nghĩa”

Lòng các chiến sĩ rạo rực lạ thường. Trước mắt lá cờ đỏ sao vàng như có vầng hào quang lấp lánh , lồng lộng in trên nền trời Việt Nam

Cây đa Tân Trào toả bóng mát che cho các vị đại biểu, đoàn quân giải phóng trước giờ xung trận.Những cành lá vươn xa như những cánh tay vẫy chào, tiễn biệt đoàn quân, chúc chiến sĩ giành toàn thắng ngay trong trận đầu.

Thực hiện quyết tâm sắt đá “ Dù phải đốt cháy cả dãy Trường Sơn cũng phải kiên quyết giành cho được độc lập, tự do” của Chủ tịch Hồ Chí Minh, cả nước vùng dậy, triệu người như một, có lực lượng vũ trang làm nòng cốt đã làm cuộc Cách mạng tháng Tám thành công, lập nên nước Việt Nam Dân chủ cộng hoà.

Tấm ảnh Cây đa Tân Trào, nơi làm lễ xuất phát của đội Giải phóng quân ngày 16-8-1945 với số phim P 239 hiện đang được lưu giữ, trưng bày trong phần Cách mạng Tháng 8 tại Bảo tàng Lịch sử Quân sự Việt Nam. Nói đến Việt Bắc – căn cứ địa của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp là chúng ta nhớ ngay đến mái đình Hồng Thái, cây đa Tân Trào.

Mình về mình có nhớ ta

Mái đình Hồng Thái, cây đa Tân Trào

Vâng chúng ta không bao giờ quên và không được phép quên cái nôi cách mạng- Thủ đô gió ngàn, niềm tự hào của mỗi người dân Việt Nam.Trách nhiệm của chúng ta là phải gìn giữ các di tích lịch sử, giáo dục các thế hệ tương lai phát huy truyền thống và niềm tự hào về lịch sử cách mạng của Tân Trào nói riêng- chiến khu Việt Bắc nói chung, góp phần vào sự nghiệp công nghiệp hoá- hiện đại hoá đất nước.

Đoàn Thị Lợi
qdnd.vn

Vũ Xuân Chiêm – Vị tướng của Trường Sơn huyền thoại

QĐND – Tôi không có may mắn được sống, chiến đấu và học tập công tác dưới quyền Trung tướng Vũ Xuân Chiêm, nguyên Thứ trưởng Bộ Quốc phòng, nguyên Chủ nhiệm Tổng cục Hậu cần, nguyên Chính ủy Bộ tư lệnh Đoàn 559; Đại biểu Quốc hội khóa IV, khóa V, khóa VI; Cán bộ lão thành cách mạng, Huy hiệu 70 năm tuổi Đảng. Mới chỉ được gặp một đôi lần, còn phần nhiều tôi biết về Trung tướng Vũ Xuân Chiêm qua sử sách, các phương tiện truyền thông và lời kể của các cựu chiến binh với những câu chuyện đậm chất huyền thoại về Bộ đội Trường Sơn, về Đoàn 559… Dẫu vậy khi hay tin Trung tướng Vũ Xuân Chiêm (bí danh Vũ Xuân Chi) – một vị tướng tài ba, một người con ưu tú của dân tộc về cõi vĩnh hằng, chúng tôi không khỏi bàng hoàng, xúc động, nuối tiếc khôn nguôi.

Trung tướng Vũ Xuân Chiêm, sinh tháng 2 năm 1923 tại thôn An Mỹ, xã Trực Đông (nay là xã Trung Đông), huyện Trực Ninh, tỉnh Nam Định. Sinh trưởng trong một gia đình nông dân nghèo, từ quê hương giàu truyền thống cách mạng, năm lên 8 tuổi, Vũ Xuân Chiêm đã lên Hà Nội làm thợ. Sớm giác ngộ lý tưởng cách mạng, thấu hiểu cảnh lầm than, cùng cực của người công nhân do bị chế độ thực dân đế quốc áp bức bóc lột, năm 1936, khi chưa tròn 14 tuổi, Vũ Xuân Chiêm đã tham gia cách mạng với nhiệm vụ vận chuyển công văn tài liệu. Năm 1938, Vũ Xuân Chiêm tham gia vào Thanh niên Phản đế, tập hợp thanh niên đứng lên chống lại chế độ thực dân ở Hà Nội, đòi quyền lợi cho người công nhân dưới chế độ thực dân, phong kiến… Với những đóng góp xuất sắc cho cách mạng, năm 1940, Vũ Xuân Chiêm được kết nạp vào Đảng Cộng sản Việt Nam. Tháng 12 năm 1940, Vũ Xuân Chiêm bị địch bắt. Dù không tìm được tài liệu trên người, nhưng địch vẫn kết án ông 15 năm khổ sai, biệt xứ giam tại nhà tù Sơn La rồi đày ra Côn Đảo. Kẻ thù tra tấn rất dã man nhằm uy hiếp tinh thần, lấy lời khai. Chết đi sống lại nhiều lần vì những đòn tra tấn của bọn cai ngục nhưng Vũ Xuân Chi (bí danh trong tù của ông) vẫn giữ vững khí tiết người cộng sản. Cách mạng Tháng Tám thành công, tháng 9-1945, Vũ Xuân Chiêm được ra tù và tiếp tục hoạt động cách mạng. Vũ Xuân Chiêm được đồng chí Hồ Tùng Mậu đưa về Huế tham gia Ủy viên Ban Chấp hành Công đoàn Trung Bộ, Ủy viên Quân sự khu C. Tháng 1-1947, Vũ Xuân Chiêm là Tỉnh ủy viên tỉnh Thừa Thiên, Phó bí thư Thành ủy Huế.

Trung tướng Vũ Xuân Chiêm (thứ 2 từ trái sang) cùng Đại tướng Võ Nguyên Giáp, Thượng tướng Song Hào và Thượng tướng Hoàng Văn Thái bàn kế hoạch giải phóng miền Nam năm 1975.
Ảnh tư liệu

Tháng 3 năm 1950, Vũ Xuân Chiêm được cử đi học Trường Nguyễn Ái Quốc. Cùng năm đó vào tháng 7, Vũ Xuân Chiêm được cử vào Quân đội và được giao phụ trách công tác chính trị – hậu cần cho các chiến dịch lớn. Trong ký ức của mình Trung tướng Vũ Xuân Chiêm không bao giờ quên kỷ niệm lần đầu tiên được gặp Bác Hồ. Trong Chiến dịch Biên giới, ngày 28-7-1950, Trung ương Đảng quyết định thành lập Đảng ủy chiến dịch do Đại tướng, Tổng tư lệnh Võ Nguyên Giáp làm Bí thư, Tư lệnh chiến dịch. Đầu tháng 8-1950, Đại tướng Võ Nguyên Giáp tổ chức đoàn cán bộ trực tiếp đi nghiên cứu địa hình thị xã Cao Bằng – một mục tiêu trọng yếu phải giải phóng. Sau cuộc thị sát, Đại tướng Võ Nguyên Giáp họp Đảng ủy Mặt trận mở rộng lấy ý kiến dân chủ. Bác Hồ đến Sở chỉ huy chiến dịch, nghe Đại tướng Võ Nguyên Giáp báo cáo chủ trương của Đảng ủy Mặt trận. Trong giờ giải lao, Bác Hồ hỏi Vũ Xuân Chiêm: “Chú làm công việc gì?”. Vũ Xuân Chiêm đáp: “Báo cáo Bác! Cháu làm công tác chính trị ạ!”. Bác Hồ tiếp: “Đó là việc tuyên truyền, vận động mọi người thực hiện chủ trương, đường lối cách mạng. Công việc đó quan trọng lắm, nhưng phải có cặp tai thính, đôi mắt tinh tường mới làm tốt được. Chú hiểu chứ?”. Thấy Vũ Xuân Chiêm chưa rõ ý, Bác Hồ vui vẻ nói: “Bác kể chú nghe một chuyện nhé. Một lần Bác ở chỗ làm việc về nhà, chú bảo vệ đón, Bác khẽ gật, đưa tay lên miệng nói: “Cho Bác chút nước…”. Chú bảo vệ quay vào rồi ra ngay, đưa thuốc và lửa cho Bác. Thấy vậy mấy chú đứng gần cười ồ rồi nói: “Bác khát hỏi nước sao lại đưa lửa”. Bác nhận thuốc, đưa mọi người cùng hút và khuyên anh em không nên trách chú ấy, rồi hỏi: “Tại Bác nói không rõ hay tại chú ấy nghe nhầm, nhưng tại ai thì cũng có bài học là cán bộ nói cho dân nghe phải rõ ràng, dứt khoát và cũng chớ làm như chú bảo vệ: Dân xin nước, cán bộ lại cho lửa”. Rồi Bác cười hỏi Vũ Xuân Chiêm: “Chuyện chỉ có thế, chú thấy cái tai, con mắt, cách nói khi làm công tác tuyên truyền với quần chúng quan trọng thế nào chứ?”. Bài học về công tác chính trị mà Bác Hồ dạy trong lần gặp gỡ đầu tiên ấy được Vũ Xuân Chiêm ghi nhớ và làm theo đến hết đời.

Trung tướng Vũ Xuân Chiêm từng giữ nhiều trọng trách. Tháng 10 năm 1951 đến tháng 7 năm 1963, ông là Cục phó rồi Cục trưởng Cục Chính trị Tổng cục Hậu cần. Tháng 8 năm 1963 đến tháng 2 năm 1965, ông là Phó chủ nhiệm Tổng cục Hậu cần. Trong giai đoạn khó khăn nhất của cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước (tháng 3 năm 1965 đến tháng 5 năm 1970), với cương vị là Phó chính ủy rồi Chính ủy Bộ tư lệnh Đoàn 559, đồng chí đã tham gia lãnh đạo, chỉ huy góp phần làm nên con đường huyền thoại Hồ Chí Minh lịch sử. Tháng 6 năm 1970, Vũ Xuân Chiêm được điều động trở lại làm Phó chủ nhiệm Tổng cục Hậu cần. Là cán bộ chủ chốt của ngành Hậu cần Quân đội đồng chí Vũ Xuân Chiêm đã cùng với tập thể cấp ủy, chỉ huy Tổng cục Hậu cần lãnh đạo, chỉ đạo tổ chức đảm bảo kịp thời cả về con người và vũ khí trang bị hậu cần – kỹ thuật cho chiến trường miền Nam, cùng quân và dân cả nước làm nên Đại thắng mùa Xuân 1975, giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước. Sau giải phóng miền Nam, đồng chí được bổ nhiệm làm Chủ nhiệm Tổng cục Hậu cần, Bí thư Đảng ủy Tổng cục. Tháng 9 năm 1976, đồng chí được bổ nhiệm giữ chức Thứ trưởng Bộ Quốc phòng. Trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN đồng chí đã có nhiều cống hiến cho sự nghiệp xây dựng quân đội, củng cố quốc phòng và luôn hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ được giao. Trung tướng Vũ Xuân Chiêm là một người lãnh đạo, chỉ huy uy tín của Đảng, Nhà nước và Quân đội. Đồng chí đã cùng với Quân ủy Trung ương và Bộ Quốc phòng vận dụng sáng tạo đường lối chính trị, quân sự của Đảng và sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, xây dựng LLVT cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại. Đồng chí là người cán bộ tận tâm, tận lực, cần, kiệm, liêm, chính, với mọi nhiệm vụ được giao, sâu sát, khiếm tốn, giản dị và luôn phát huy bản chất tốt đẹp Bộ đội Cụ Hồ. Tháng 10 năm 1987, Trung tướng Vũ Xuân Chiêm được Đảng, Nhà nước cho nghỉ hưu.

Từ buổi đầu tham gia cách mạng đến khi về cõi vĩnh hằng Trung tướng Vũ Xuân Chiêm luôn giữ trọn danh hiệu cao quý của người cộng sản, một lòng một dạ phục vụ Tổ quốc, phục vụ nhân dân, phấn đấu hy sinh vì sự nghiệp cách mạng của dân tộc. Trung tướng Vũ Xuân Chiêm là tấm gương sáng về phẩm chất đạo đức của người cán bộ cách mạng. Từ ngoài trận địa, trong nhà tù, cũng như trong công tác, học tập, sinh hoạt đồng chí luôn thể hiện rõ đức hy sinh, lòng dũng cảm, sống liêm khiết, giản dị, trung thực, đoàn kết, thân mật, gần gũi cán bộ, chiến sĩ và đồng bào, đồng chí… Trung tướng Đồng Sĩ Nguyên, nguyên Tư lệnh Đoàn 559 – một người có nhiều năm gắn bó với Trung tướng Vũ Xuân Chiêm đã nói: “Tôi đã từng công tác với nhiều đồng chí, ở nhiều cương vị khác nhau, nhưng ở đồng chí Chiêm có những nét đặc biệt quý hiếm của một chính ủy. Anh luôn chăm lo xây dựng đơn vị, thể hiện tinh thần đoàn kết chân thật trong Đảng ủy, Bộ tư lệnh; tiêu biểu tinh thần ủng hộ sự đổi mới, sáng tạo; tiêu biểu ý chí thống nhất tư tưởng nghệ thuật lãnh đạo chỉ huy hiệp đồng. Trong những năm tháng gian nguy ác liệt, anh vẫn lạc quan kiên định niềm tin tất thắng… Với Vũ Xuân Chiêm, tôi quý nhất một con người trung thực, thủy chung, giản dị, tiêu biểu nhân cách vị tướng của Quân đội nhân dân Việt Nam anh hùng”. Quá trình hoạt động của Trung tướng Vũ Xuân Chiêm là tấm gương sáng để chúng ta học tập, noi theo.

Trung tướng Vũ Xuân Chiêm không còn nữa, song những tình cảm thân thương, quý mến và công lao cống hiến của đồng chí vẫn còn mãi trong niềm thương tiếc của chúng ta và những người thân yêu của đồng chí.

PHÙNG KIM LÂN
qdnd.vn

81 ngày đêm rực lửa tại Thành Cổ Quảng Trị năm 1972 (Tiếp theo và hết)

Bài III: Vang danh Vĩnh Định

QĐND – Trung đoàn 64 (Sư đoàn 320) được thành lập ngày 22-1-1946; đã lập nhiều chiến công lừng lẫy trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp; hai lần được Bác Hồ khen, tặng danh hiệu: “Trung đoàn Quyết thắng” và “Trung đoàn dũng cảm, đánh hăng”.

Bước vào cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, Sư đoàn 320 được tách làm 2 khung sư đoàn, gồm Sư đoàn 320A và Sư đoàn 320B. Trung đoàn 64 thuộc Sư đoàn 320B, có nhiệm vụ huấn luyện chiến sĩ để chi viện cho chiến trường miền Nam. Từ tháng 1-1972, sau mấy tháng nhận quân, huấn luyện ở Thanh Hóa, Nghệ An, đơn vị hành quân vào chiến trường Quảng Trị. Những ngày tháng gian khổ, hiểm nguy cùng những chiến công đang chờ Trung đoàn…

Ngày 1-5-1972, toàn bộ tỉnh Quảng Trị, vị trí đầu cầu chiến lược được giải phóng. Không chịu nổi sự thất bại, ê chề và nhằm cứu vãn tình thế ở Hội nghị Pa-ri, ngụy quyền Sài Gòn tập trung binh lực, được hậu thuẫn tối đa của vũ khí hiện đại và cố vấn Mỹ, hòng tái chiếm Quảng Trị. Cuộc chiến khốc liệt, giành giật từng mét đất diễn ra trong 81 ngày đêm, không chỉ xảy ra ở Thành cổ và thị xã mà trên toàn tỉnh Quảng Trị, từ cánh Đông, duyên hải đến cánh Tây, rừng núi.

Trung đoàn 64 đứng chân ở đồng bằng ven biển, phía bắc huyện Hải Lăng và phía đông nam huyện Triệu Phong thuộc mặt trận cánh Đông. Địa hình tác chiến chủ yếu nằm dọc sông Vĩnh Định, một nhánh của sông Thạch Hãn. Vì thế mà Trung đoàn 64 còn gọi là Trung đoàn Vĩnh Định.

Chiến sĩ trẻ trong Thành Cổ. Ảnh: Đoàn Công Tính.

Đêm 27-6-1972, Tiểu đoàn 9, do đồng chí Lê Triệu làm Tiểu đoàn trưởng, là đơn vị chủ công của trung đoàn, được tăng cường hai đại đội thiếu, vượt qua “bức tường lửa” của bom B52, pháo hạm và pháo mặt đất, vào chốt ở hai thôn Đồng Dương, Diên Khánh. Sáng sớm 28-6, 3 tiểu đoàn thủy quân lục chiến cùng ba chi đoàn tăng thiết giáp của địch, được phi pháo dọn đường, máy bay lên thẳng yểm trợ, chia làm hai mũi, tạo gọng kìm, tấn công hai thôn trên. Vào 8 giờ cùng ngày, đơn vị nổ súng, mở màn cuộc chiến đấu của Trung đoàn 64.

Tại mũi 1, chính diện, các chiến sĩ đương đầu với hai tiểu đoàn lính thủy đánh bộ và hai chi đoàn xe tăng. Khi địch cách 300m thì khẩu ĐKZ của Đại đội 11 khai hỏa, phát đạn đầu thiêu cháy một chiếc xe tăng. Đạn B40, B41, AK nhất loạt chụp xuống đội hình địch, diệt nhiều tên. Cùng lúc, trận địa 12,7mm của Đại đội 12, do khẩu đội trưởng Vũ Thanh Bình chỉ huy, cũng bắn trúng một chiếc trực thăng khiến nó lao xuống cát bốc cháy. Xác địch nằm ngổn ngang trước trận địa.

Ở mũi thứ hai, một tiểu đoàn thủy quân lục chiến, có xe tăng đi cùng phối hợp với lực lượng đổ bộ từ phía bờ biển, đánh vào phía đông trận địa của ta. Ở hướng này, kẻ thù vô cùng xảo quyệt và hèn hạ. Chúng đã đẩy hàng trăm phụ nữ, trẻ em, người già đi trước để làm bia đỡ đạn. Trước tình huống phức tạp này, một câu hỏi đặt ra, làm thế nào để đánh được địch mà vẫn bảo đảm được tính mạng cho dân. Đồng chí Nguyễn Văn Bình, được đơn vị giao chỉ huy một tổ, thực hiện kế hoạch cứu dân.

Mặc cho kẻ thù bắn như vãi đạn, cả tổ vẫn trườn trên bãi cát trống trải, tiếp cận đông đảo bà con đang bị chúng xua lên phía trước. Khi các chiến sĩ ở khoảng cách rất gần, Bình liền bắn loạt đạn chỉ thiên rồi hô to cho nhân dân nằm rạp xuống. Thấy địch lộ mặt ra, không còn được che chắn, tổ bắn mấy loạt đạn, vừa bắn vừa lui để dụ chúng đuổi theo, nhằm tách xa địch với quần chúng nhân dân. Địch hí hửng, xua quân lên hòng bắt sống “mấy tên Việt cộng” to gan. Thế là, chúng dẫn xác vào trận địa phục kích của ta.

Đại đội trưởng Nguyễn Văn Bốn phát lệnh nổ súng. Từ các công sự, đạn AK, đại liên, trung liên, B40, B41, nổ giòn giã, xé nát đội hình địch. Ta tiêu diệt ngay tên chỉ huy và tên mang máy thông tin PRC-25 cùng hàng trăm tên khác. Số sống sót, bỏ chạy tán loạn.

Bị đánh bật ở cả hai mũi, giặc gọi máy bay và pháo binh, đánh phá suốt nhiều giờ rồi mở đợt tấn công mới. Trong một ngày, với 3 tiểu đoàn thủy quân lục chiến, 2 chi đoàn tăng thiết giáp, 20 máy bay lên thẳng cùng sự chi viện tối đa của không quân và pháo binh, địch mở tới 6 đợt tấn công nhưng vẫn không chiếm nổi Đồng Dương và Diên Khánh. Ngay trận đầu ra quân, cán bộ, chiến sĩ Trung đoàn 64 đã phát huy truyền thống “Trung đoàn Quyết thắng”, “Dũng cảm đánh hăng”, chiến đấu hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ.

Tượng đài Thành cổ Quảng Trị. Ảnh: Việt Cường.

Ngày 18-7-1972, diễn ra trận đánh vào nhà thờ Trí Bưu, ở phía sau bờ sông Thạch Hãn, cách Thành cổ Quảng Trị khoảng 1km. Đây là một hang ổ của địch, như một thách thức với ta. Trong nhà thờ, có ngụy quân và dân. Nếu diệt địch thì sẽ làm thương vong cả dân. Do đó, ta phải dùng loa kêu gọi nhiều lần để giãn dân, bảo vệ bà con, ít đổ xương máu. Song giặc vẫn ngoan cố, tử thủ đến cùng. Nhiều lần, các đơn vị của Trung đoàn, thay nhau đánh vào nhà thờ, đều vấp phải sự kháng cự mãnh liệt của chúng.

Tối 18-7-1972, Tiểu đoàn 9 xung trận. Màn đêm xuống, các mũi, các hướng đã bố trí sẵn sàng. Chiến sĩ giữ B40, Đại đội 10, Bùi Duy Dân đi theo mũi do Tiểu đoàn phó Kiều Ngọc Luân dẫn đầu. Lúc này, trên trời giặc thả pháo sáng, máy bay lượn vè vè. Dưới đất, đạn cối, pháo tầm xa của chúng bắn liên tục như giã giò. Mũi của Luân vấp phải ổ trung liên từ phía cửa sổ tầng 2 của nhà thờ bắn ra rát mặt, không tiến lên được. Dân ẩn mình dưới một hố bom, tìm mục tiêu và được lệnh bóp cò. Đạn B40 bay đi, để lại phía sau một vệt sáng và khói mù. Ổ đề kháng súng trung liên của địch câm bặt. Bắn xong, Bùi Duy Dân lao xuống hào, lập tức, mấy quả cối cá nhân của giặc bắn tới nổ ngay cạnh làm anh bị thương vào thái dương, máu ra nhiều. Đồng đội kịp thời băng bó và đưa Dân về tuyến sau. Tại trận này, anh được tặng thưởng Huân chương Chiến công hạng ba vì đã góp phần cùng đơn vị, chiếm được nhà thờ Trí Bưu.

Noi gương Tiểu đoàn 9, cán bộ, chiến sĩ Tiểu đoàn 7 và Tiểu đoàn 8, cũng ra sức đánh giặc, lập công. Thời điểm Trung đoàn 64 bắt đầu nổ súng chiến đấu đúng vào lúc địch mở cuộc hành quân Lam Sơn 72, hòng tái chiếm Quảng Trị. Các tiểu đoàn đã kiên cường bám trụ, quyết chiến quyết thắng, đánh 230 trận, diệt hơn 5.000 tên, bắn cháy 70 xe tăng, thiết giáp và xe quân sự, bắn rơi 49 máy bay. Những trận đánh của Trung đoàn như: Đồng Dương, Diên Khánh, nhà thờ Trí Bưu, Bích La Đông, Thành Cổ, Phương Lạng Đông, chốt thép Long Quang, cảng Cửa Việt… đã góp phần làm nên trang sử vẻ vang, chiến đấu giành độc lập, tự do cho dân tộc.

Trong số những đơn vị, cá nhân được Nhà nước phong tặng danh hiệu “Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân” thời kỳ chống Mỹ, cứu nước, có tên Trung đoàn 64 – Trung đoàn Vĩnh Định và Anh hùng liệt sĩ Kiều Ngọc Luân.

Anh Luân là trợ lý tác chiến của tiểu đoàn. Trong trận chốt giữ làng Linh Chiểu, Tiểu đoàn trưởng Lê Triệu điều Đại đội 10 (thay thế Đại đội 11), đương đầu với một tiểu đoàn và 10 xe tăng địch, có pháo binh và trực thăng vũ trang chi viện. Giặc chia làm 3 mũi, ào ạt tấn công vào chốt. Kiều Ngọc Luân dũng cảm dùng súng AK, chờ địch đến gần, chỉ cách dăm, bảy mét mới bắn. Anh phát hiện ở gò cát, chân điểm cao 16, có ụ súng đại liên đang bắn cấp tập về phía ta. Luân nhanh chóng tìm cách tiếp cận rồi tiêu diệt tên lính và chiếm luôn được khẩu đại liên, quay nòng, bắn mãnh liệt vào sườn đội hình giặc. Chúng bất ngờ và kinh hoàng, xác địch nằm la liệt. Sau hai ngày chiến đấu quyết liệt, đơn vị diệt gần 300 tên; trận địa vẫn giữ vững. Trận này, Tiểu đoàn 9 giành thắng lợi lớn nhất. Kiều Ngọc Luân đạt thành tích cao trong chiến đấu, được trên đề bạt giữ chức Tiểu đoàn phó. Anh đã 13 lần đạt danh hiệu: Dũng sĩ diệt Mỹ.

Trung tuần tháng 8-1972, Kiều Ngọc Luân được lệnh ra ngoài Cửa Tùng, gặp các nhà báo để kể về tình hình chiến đấu của bản thân và đơn vị. Song thật không may, Luân chưa kịp lên đường thì trận đánh nhà thờ Trí Bưu xảy ra. Sau tiếng súng báo hiệu, các đại đội cùng khẩu đội ĐKZ do anh chỉ huy đồng loạt nhả đạn vào các mục tiêu định trước. Kẻ thù chống cự mãnh liệt và Kiều Ngọc Luân đã anh dũng hy sinh.

Như vậy là, khi hành quân vào chiến trường Quảng Trị, Trung đoàn 64 có hơn 2.000 cán bộ, chiến sĩ. Quá trình tham gia chiến đấu, bổ sung quân nhiều đợt, sau chiến dịch, đơn vị có 600 đồng chí hy sinh; 1.700 đồng chí bị thương. Khúc tráng ca Quảng Trị được viết bằng máu của cả một thế hệ tuổi thanh xuân cho Tổ quốc, trong đó có sự cống hiến, hy sinh của cán bộ, chiến sĩ Trung đoàn 64 – Trung đoàn Vĩnh Định, đơn vị Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân, còn vang danh mãi trong lòng người dân yêu nước Việt Nam.

————–

Bài I: Khí phách kỳ diệu
Bài II: Người anh hùng và trận đánh huyền thoại

Ghi chép của CHI PHAN
qdnd.vn