Thư viện

Hội nghị Paris: Kỷ niệm của người trong cuộc

(VOV) -“Phòng hạnh phúc”, “cuộc bao vây hữu nghị” hay món bánh cuốn sau mỗi lần thương thảo… là những kỷ niệm khó quên.

Cuộc đấu tranh ngoại giao kéo dài gần 5 năm tại bàn đàm phán Paris là một cuộc đấu tranh lặng lẽ, âm thầm, cũng có lúc cao trào, dữ dội. 40 năm, cuộc đấu tranh ấy dù đã đi qua nhưng những câu chuyện kể về nó vẫn chưa bao giờ có hồi kết để chúng ta hiểu thêm về thắng lợi của nền ngoại giao Cách mạng Việt Nam.

Giây phút ký Hiệp định

Suốt 5 năm tham gia bàn đàm phán Paris, nhà báo Hà Đăng-  nguyên là Người phát ngôn của Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam tại Hội nghị Paris luôn đinh ninh rằng sẽ có một ngày Mỹ phải kí kết hiệp định Paris, chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình tại Việt Nam.

Và đúng như thế, 1 tuần sau thất bại với trận “Điện Biên phủ trên không” cuối năm 1972, Mỹ đã phải nối lại bàn đàm phán. Sau đó 3 tuần thì Mỹ đã chính thức kí hiệp định theo đúng đòi hỏi của chúng ta. Đó là những đòi hỏi mà trước đó Mỹ muốn ép ta phải thay đổi bằng nỗ lực chiến tranh cuối cùng của họ- tức là trận tập kích chiến lược bằng B52 đánh vào miền Bắc Việt Nam.

Hội nghị Paris. Ảnh tư liệu

Nhà báo Hà Đăng nhớ lại: Khi nhìn các bên kí hiệp định, tôi như được sống trong giây phút vừa hiện thực, vừa lãng mạn, mường tượng đến ngày này 2 tháng sau, khi quân Mỹ phải cuốn cờ về nước, đánh dấu sự chấm dứt của quân chiếm đóng nước ngoài ở nước ta.

Không ai có thể kìm nén sự xúc động khi chứng kiến giờ phút kí hiệp định Paris. Có được thành công ấy, những con người đã từng tham gia Hội nghị Paris như cố vấn Lê Đức Thọ, Bộ trưởng Xuân Thủy hay bà Nguyễn Thị Bình- trưởng đoàn Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa Miền Nam Việt Nam đã trải qua những cuộc đấu trí một mất một còn.

Ông Lưu Văn Lợi- Thư kí riêng của đồng chí Lê Đức Thọ vẫn nhớ: Ông Sáu Thọ vốn là một người thích làm thơ, yêu thơ ngay cả khi bị giam cầm trong chốn ngục tù. Ấy thế mà, suốt 5 năm đàm phán tại Paris, ông không làm nổi một bài thơ.

Tháng 6/1968, bác Thọ được Bác Hồ trực tiếp chỉ đạo làm cố vấn đặc biệt, sang dự cuộc nói chuyện với Mỹ ở Paris. 5 năm trời bác không làm một bài thơ nào. Tất cả tâm hồn, trí tuệ và suy nghĩ của bác đều tập trung cho cuộc đàm phán với Mỹ- một nước gây ra chiến tranh với chúng ta, hùng mạnh hơn chúng ta về mọi mặt, với những nhà ngoại giao sừng sỏ”, ông Lưu Văn Lợi cho biết.

“Phòng hạnh phúc”, “bao vây hữu nghị”

Với những thành viên trong đoàn đàm phán, không ai có thể quên kỷ niệm về “Phòng hạnh phúc”. Đó là “ám hiệu” về căn phòng bí mật chống nghe trộm. Ông Phạm Ngạc-nguyên Vụ trưởng Vụ Tổ chức Quốc tế, Bộ Ngoại giao nói: “Chúng tôi gọi đó là “Phòng hạnh phúc” bởi vào đó là yên tâm lắm, thoải mái trao đổi không sợ lộ bí mật. Hồi xưa lúc Thủ tướng Phạm Văn Đồng sang họp hội nghị Fontainebleau phải ra ngoài đi dạo. Khi chúng tôi sang Geneve cũng vậy, phải đi ra ngoài vườn nói chuyện để không bị nghe lén. Còn khi vào “Phòng hạnh phúc thì lại yên tâm trao đổi về kế hoạch tác chiến đấu tranh ngoại giao.

Còn với ông Nguyễn Khắc Huỳnh- nguyên Vụ trưởng Vụ tổng hợp, Bộ Ngoại giao ấn tượng không thể phai mờ là những cuộc “bao vây hữu nghị” mà bạn bè quốc tế dành cho phái đoàn của ta: Tôi còn nhớ, khi tôi sang Italy, cuộc mít tinh vừa kết thúc thì hàng vạn thanh niên bao vây hội trường nơi chúng tôi đến phát biểu. Tôi quay lại nói với đồng chí Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Italy là “chúng tôi bị bao vây rồi đấy”, thì ông ấy nói “đó là cuộc bao vây hữu nghị, rất hữu nghị, là biểu hiện tình cảm của nhân dân Italy với những người Việt Nam, những người Việt Nam đang chiến đấu, đàm phán ở Paris”.

Không chỉ có sự đoàn kết của bạn bè quốc tế mà sự ủng hộ của bà con Việt Kiều tại Paris cũng chính là nguồn động lực để những người con xa quê đang ngày ngày đấu tranh với kẻ thù trên bàn đàm phán có thêm niềm hi vọng. 5 năm đàm phán cũng là 5 cái Tết xa quê đối với những ai tham gia hội nghị Paris. Thiếu thốn tình cảm, nhưng hương vị của ngày Tết cổ truyền dân tộc thì không thiếu bởi những thành viên của đoàn đàm phán được sống trong tình cảm thương yêu, trìu mến của bà con Việt Kiều.

Ông Phạm Ngạc nhớ mãi cuộc gặp gỡ với bà con vào dịp Tết năm 1971. Không chỉ là những món ngon quê nhà, họ còn được thưởng thức những vở kịch, vở cải lương do chính đồng bào mình thể hiện tại thủ đô Paris.

Dịp đó chúng tôi rủ nhau đến nhà tương tế của Paris gặp gỡ, diễn văn nghệ. Anh chị em bên đó chủ yếu là trí thức miền Nam, họ đã chọn cải lương để hát. Anh Tổng thư kí- Nguyễn Ngọc Hà cũng đóng vai chính, có lúc đưa cả vợ con lên sân khấu. Các bạn sinh viên cũng hát những bài hát cách mạng, kháng chiến. Đó là chương trình vui nhất”, ông Ngạc kể.

Món bánh cuốn sau mỗi lần thương thảo

Và không mấy ai biết rằng, món bánh cuốn Việt Nam cũng có mặt ở Paris sau những lần thương thảo tại hội nghị. Chuyện kể rằng, đồng chí Xuân Thủy đã giao cho nhà bếp chuẩn bị món bánh cuốn, nước chấm cà cuống để mỗi khi thương thảo thành công sẽ cùng tổ chức liên hoan. Ông còn cho mời phía đối phương thưởng thức món ăn dân dã này khi hai bên đạt được nguyện vọng của mình trên bàn đàm phán.

Ông Tăng Văn Soát, bảo vệ đoàn nhớ lại: Nhiều khi có những cuộc họp phát sinh của hai đoàn lớn, cần gặp nhau để bàn bạc. Những ngày ấy chúng tôi cũng phải phục vụ cho cuộc họp. Thấy gu của họ thích ăn bánh cuốn, ông Xuân Thủy chỉ đạo làm ngay. Làm bánh cuốn ngay ở nơi họp, khi nào cuộc họp thành công thì mang bánh cuốn, nước mắm cà cuống ra chiêu đãi hai đoàn.

Kỷ niệm về 5 năm đàm phán tại hội nghị Paris không bao giờ có thể kể hết. Điều đó cũng giống như viết về một câu chuyện dưới nhiều góc độ khác nhau thì con mắt nhìn cũng vô vàn chi tiết không giống nhau. Chỉ có điều, mỗi câu chuyện là một kí ức không thể phai mờ và rất đáng trân trọng, cũng giống như giờ phút chúng ta có trong tay hòa bình thật đáng quý biết bao!./.

Nhóm PV/VOV- Trung tâm tin
vov.vn

Sách ảnh về Hội nghị Paris: Lời tri ân

(VOV) – Những nhân vật chưa từng xuất hiện và những nội dung lần đầu được tiết lộ qua những bức ảnh hiếm.

Kỷ niệm 40 năm Hiệp định Paris chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam được ký kết, một số thành viên đoàn đàm phán Hiệp định Paris như các ông Trịnh Ngọc Thái, Phạm Ngạc, Lưu Văn Lợi và nữ nhà văn Mỹ Lady Borton ra mắt cuốn sách ảnh Hội nghị Paris về Việt Nam: Nhìn lại, 1968 – 1973. Diễn tiến quá trình đàm phán, lễ ký kết Hiệp định Paris, Định ước quốc tế hay nội dung các cuộc họp chính thức và bí mật lần đầu hé lộ qua những bức ảnh hiếm.

Bộ trưởng Xuân Thủy cùng cố vấn đặc biệt VNDCCH Lê Đức Thọ rời cuộc gặp riêng tại địa điểm của đoàn VNDCCH ở 11 phố Darthe

Năm 2008, trong chuyến công tác tại Paris, Pháp, nhà văn Lady Borton vô tình thấy một bức ảnh đen trắng về Hội nghị Paris về Việt Nam. Đó là một bức ảnh rất đẹp nhưng lại thiếu chú thích khiến nhiều người không hiểu tại sao giữa Paris lại có một bức ảnh của Việt Nam. Ý tưởng thực hiện một cuốn sách ảnh về quá trình đàm phán Hiệp định Paris len lỏi trong tâm trí bà từ đó. Trở lại Việt Nam, bà đã cùng một số thành viên đoàn đàm phán Hội nghị Paris năm xưa biên soạn cuốn sách “Hội nghị Paris về Việt Nam: Nhìn lại, 1968 – 1973”.

Nhà văn Lady Borton kể: “Đầu tiên chúng tôi chỉ định làm một danh sách của 150 hình ảnh. Nhưng trong quá trình thực hiện tôi hay hỏi: Bác Thái ơi, thế lúc bác viết bản thảo thì ông Xuân Thủy làm gì. Bác Thái bảo ông Thủy làm thơ. Thế là tôi thấy cần đưa thơ của ông Xuân Thủy vào đây. Từ đó chúng tôi triển khai thêm và cũng mở ra được những câu chuyện thú vị thời gian đó”.

Hội nghị Paris về Việt Nam: Nhìn lại, 1968 – 1973 gồm 3 chương: Việt Nam, Paris, Việt Nam, dài hơn 170 trang. Tác phẩm là cái nhìn của chính những thành viên đoàn đàm phán năm xưa về quá trình gần 5 năm đàm phán cũng như lý giải tại sao chúng ta lại lựa chọn Paris là nơi tiến hành đàm phán. Song song với các hoạt động trên chiến trường, cuộc đàm phán ở Paris cũng trải qua những thử thách quyết liệt và những chiến sĩ ngoại giao Việt Nam đã sử dụng cây bút như một vũ khí sắc bén đẩy lùi mọi cuộc tấn công của Đế quốc Mỹ.

Ông Dương Xuân Tư, phụ trách điện đài đoàn VNDCCH trong suốt thời gian diễn ra Hội nghị Paris chuyển điện công khai và mật mã với Hà Nội

Mở đầu mỗi chương cuốn sách “Hội nghị Paris về Việt Nam: Nhìn lại, 1968 – 1973” đều dẫn những lời nói và thơ của Chủ tịch Hồ Chí Minh: Nước Việt Nam ta là một/ Dân tộc Việt Nam ta là một/ Dù cho sông cạn đá mòn/ Nhân dân Nam, Bắc là con một nhà – như khẳng định sự đúng đắn trong đường lối ngoại giao Hồ Chí Minh.

Nhà ngoại giao Phạm Ngạc – Nguyên Vụ trưởng Vụ Tổ chức Quốc tế Bộ Ngoại giao, thành viên của phái đoàn Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, một trong những tác giả cuốn sách cho biết: “Trong mỗi dịp Tết hay trong dịp có sự kiện tại Hội nghị Paris thì Bác Hồ đều có những bài thơ. Ông Lê Đức Thọ là Bác Hồ điều từ miền Nam ra, ông Xuân Thủy cũng do Bác chọn, bà Bình cũng vậy. Vì thế tôi mới nói rằng cốt lõi ở đây là ngoại giao Hồ Chí Minh. Do đó, chúng tôi đã trích những bài thơ của Hồ Chí Minh in trong tác phẩm như: Đi đường, Vì Độc lập tự do…”     

Cuốn sách ảnh “Hội nghị Paris về Việt Nam: Nhìn lại, 1968 – 1973” không chỉ giới thiệu đến công chúng những nhân vật cốt cán trong cuộc đàm phán Hiệp định Paris như Bộ trưởng Xuân Thủy, Bộ trưởng Nguyễn Thị Bình, Cố vấn Lê Đức Thọ… mà còn đề cập đến những nhân vật chưa từng xuất hiện. Ông Dương Xuân Tư – người phụ trách đánh moóc, đưa tin cuộc đàm phám về Việt Nam, ông Nguyễn Bội – người phụ trách telex, bác sỹ Nguyễn Văn Thuận hay đầu bếp Hoàng Hữu Cần… là những con người thầm lặng đã góp phần làm nên thành công của Hội nghị Paris.

Ông Sơn, lái xe đoàn VNDCCH đang giúp chuẩn bị tài liệu báo chí

Nhà ngoại giao Phạm Ngạc cho biết thêm: “Chúng tôi làm cuốn sách này để tri ân những thành viên đoàn ngoại giao Việt Nam có mặt tại Hiệp định Paris 40 năm trước. Tôi thấy cần có sự công bằng với những người trực tiếp tham gia, đặc biệt là những người đã “mai danh ẩn tích”, người là cơ yếu, điện đài, bên cạnh đó là những bạn bè Pháp…  Họ là những người không ai biết nhưng thực tế họ là những nhân vật cốt cán”.

Với độ dài hơn 170 trang cùng khoảng 150 bức ảnh tư liệu, “Hội nghị Paris về Việt Nam: Nhìn lại, 1968 – 1973”không chỉ là một tài liệu lịch sử về Hội nghị Paris mà còn giúp công chúng hiểu rõ hơn phương châm ngoại giao kiên định của Việt Nam. Chúng ta đề cao lập trường chính nghĩa, tranh thủ dư luận thế giới, nhất là phong trào phản chiến bùng nổ trong lòng nước Mỹ, đẩy chính quyền Mỹ vào thế cô lập và phải xuống thang.

Cuộc thi bóng bàn giữa bà Dương Thị Duyên và bà Nguyễn Thị Bình tại Paris.

Ý nghĩa to lớn và những bài học kinh nghiệm của Hiệp định Paris trải qua 40 năm vẫn còn tính thời sự, nhiều sách báo đã và vẫn còn tiếp tục viết về sự kiện này. Và cuốn sách ảnh “Hội nghị Paris về Việt Nam: Nhìn lại, 1968 – 1973”như lời nhắn nhủ của thế hệ trước giành cho thế hệ trẻ hôm nay và mai sau: Ông, cha ta đã sống và chiến đấu như thế./.

Mỹ Trà- Ngọc Ngà/VOV- Trung tâm tin
vov.vn

Lần đầu tiên trưng bày kỷ vật quý về 40 năm Hiệp định Paris

(VOV) – Triển lãm trưng bày nhiều hình ảnh và kỷ vật quý về các phiên đàm phán và những hoạt động xung quanh của Việt Nam và thế giới.

Sáng nay, 23/1, tại Nhà triển lãm 29 Hàng Bài (Hà Nội), khai mạc triển lãm “Kỷ niệm 40 năm ngày ký Hiệp định Paris về Việt Nam”. Nguyên Phó Chủ tịch nước Nguyễn Thị Bình, Trưởng đoàn Chính phủ cách mạng lâm thời tại Hội nghị Paris, lãnh đạo các Bộ Ngoại giao, Văn hóa Thể thao và Du lịch…đã tới dự.

Nguyên Phó Chủ tịch nước Nguyễn Thị Bình, trưởng đoàn Chính phủ cách mạng lâm thời tại Hội nghị Paris dự khai mạc triển lãm

Triển lãm trưng bày 140 bức ảnh, 21 lời trích, 23 hiện vật, 3 tài liệu, 8 cuốn sách, trong đó có những hiện vật quý lần đầu được trưng bày như văn bản gốc hiệp định. Đây là triển lãm lớn nhất về sự kiện này từ trước tới nay, góp phần làm sống lại các hình ảnh và sự kiện của những năm tháng khốc liệt của cuộc chiến tranh, sự phối hợp giữa ba mặt trận đấu tranh: chính trị, quân sự và ngoại giao dưới sự lãnh đạo tài tình của Đảng và chủ tịch Hồ Chí Minh, sự giúp đỡ, ủng hộ, cổ vũ của các nước anh em, nhân dân yêu chuộng hòa bình trên thế giới.

Các hiện vật tại triển lãm thu hút sự quan tâm của đông đảo người xem

Ngoài những bức ảnh chụp các phiên đàm phán dẫn tới việc ký kết Hiệp định Paris về Việt Nam còn có hình ảnh các chiến thắng trên chiến trường của quân dân ta, sự ủng hộ của bè bạn thế giới. Những hiện vật được trưng bày tại triển lãm như hai chiếc bút ký Định ước Paris 1973 và Hiệp định Paris về Việt Nam 1973, chiếc xoong nhôm dùng để quấy xi trong thời gian đoàn Việt Nam ký Hiệp định Paris, cuốn sổ cỡ lớn lưu chữ ký của nhân dân Cuba ủng hộ nhân dân Việt Nam đấu tranh giành độc lập… mang đến cho người xem hình dung cụ thể hơn về những gì đã xảy ra trong lịch sử./.

Việt Hòa/VOV online
vov.vn

Cố vấn đặc biệt Lê Đức Thọ với hòa đàm Paris

(VOV) -Lê Đức Thọ từng khiến Kissinger phải thốt lên rằng: Ông là một đối thủ xứng đáng.

Trên bàn đàm phán Paris, người ta chú ý tới một người đàn ông cao gầy, có đôi mắt cương nghị. Đó chính là cố vấn đặc biệt của phái đoàn Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hoà- Lê Đức Thọ.

Gần 5 năm bên bàn đàm phán, với bề dày cách mạng, tầm nhìn xa trông rộng, bản lĩnh chính trị vững vàng, cố vấn đặc biệt Lê Đức Thọ và Bộ trưởng Ngoại giao Xuân Thuỷ đã đưa ra những sáng kiến, giải pháp ngoại giao chiến lược, khiến cho kẻ thù phải khâm phục, trân trọng.

Chính ông đã được đề nghị trao giải thưởng Nobel Hòa bình – giải Nobel duy nhất dành cho người Việt từ trước tới nay nhưng ông đã từ chối với lý do hòa bình chưa thực sự lập lại trên đất nước Việt Nam.

Bộ trưởng Xuân Thủy cùng cố vấn đặc biệt của Việt Nam DCCH Lê Đức Thọ rời cuộc gặp riêng tại địa điểm của đoàn Việt Nam DCCH ở 11 phố Darthe. Ảnh tư liệu

Một tháng sau cuộc thương lượng chính thức giữa đại diện Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hoà và đại diện Chính phủ Hoa Kỳ tại Trung tâm Hội nghị quốc tế Kléber (Paris- Pháp), ngày 12/6/1968, người ta thấy xuất hiện trong Đoàn đại biểu Việt Nam Dân chủ Cộng hoà một gương mặt mới- đồng chí Lê Đức Thọ, Cố vấn đặc biệt của Bộ trưởng Ngoại giao Xuân Thuỷ.

Theo các tài liệu lịch sử, năm 1968, đồng chí Lê Đức Thọ đang là Uỷ viên Bộ chính trị. Sau Tết Mậu Thân, ông được điều vào miền Nam tăng cường cho Trung ương Cục. Cuối đợt 2 của cuộc Tổng tấn công bắt đầu từ ngày 4/5/1968, Hồ Chủ tịch gọi ông ra Hà Nội và cử ông làm Cố vấn đặc biệt cho Bộ trưởng Ngoại giao Xuân Thuỷ.

Ông Lưu Văn Lợi- Thư ký của đồng chí Lê Đức Thọ từ năm 1968 đến năm 1989 kể lại: “Tại sao Bác Hồ lại chọn đồng chí Lê Đức Thọ? Như tôi hiểu và cảm nhận thì thấy rằng, từ đầu cách mạng Tháng Tám, đồng chí Lê Đức Thọ đã ở gần bên Bác. Bác rất hiểu con người này. Đó là một con người rất kiên định, đã từng trải qua nhiều công tác quan trọng, 8 năm có mặt ở Nam Bộ, hiểu được chiến trường, hiểu được tình cảm của nhân dân cho nên Bác đã trực tiếp đề cử đồng chí Lê Đức Thọ đi Paris. Theo Bác nói, con người này biết cương và nhu đúng lúc. Suốt 5 năm tại hội nghị Paris, đồng chí đã thể hiện được đúng tinh thần đó”.

Hội nghị Paris về Việt Nam (1968-1973) được coi là một trong những cuộc thương thuyết kéo dài nhất trong lịch sử thế giới. Đó cũng là cuộc đấu trí giữa ngành ngoại giao non trẻ của Việt Nam với ngoại giao nhà nghề sừng sỏ ở Mỹ với những cái tên như Harriman, Kissinger, …

Với tư cách là đại diện của Bộ Chính trị chỉ đạo cả hai đoàn đàm phán Bắc và Nam, Cố vấn đặc biệt Lê Đức Thọ và các nhà ngoại giao Việt Nam luôn kiên định lập trường “Nước Việt Nam là một dân tộc. Chiến đấu và bảo vệ Việt Nam là quyền thiêng liêng của mọi người dân Việt Nam từ Nam đến Bắc”.

Nhà ngoại giao Phạm Ngạc khi đó giữ vai trò phiên dịch và ghi biên bản hội nghị nhớ lại: Trên bàn thương thuyết, hai ông Xuân Thuỷ và Lê Đức thọ đã phối hợp với nhau rất ăn ý. Lúc người này nhu thì người kia cương và ngược lại. Trong đó, phần nhiều cố vấn Lê Đức Thọ sắm vai cương . Không ít lần, ông đã đập bàn, nổi cơn thịnh nộ ngay trước mặt Kissinger.

“Ông Lê Đức Thọ là một con người kiên định trong lập trường, kiên quyết giữ lại các lợi ích cơ bản của mình, không mắc bẫy thủ đoạn của đối phương. Khi văn bản Hiệp định đã hoàn thành đến một mức độ nào đó rồi, Kissinger muốn phía ta ký tắt vào văn bản nội bộ nhưng ông Lê Đức Thọ không chịu nhượng bộ và Kissinger đã phải thốt lên rằng: ông là một đối thủ xứng đáng. Lập trường chính nghĩa và sáng suốt theo đường lối ngoại giao Hồ Chí Minh đã được ông Lê Đức Thọ thực hiện và nhận được sự cảm phục của đối phương”- Ông Phạm Ngạc nói.

Trong các cuốn hồi ký, ông Henry Kissinger từng nhiều lần nhắc đến đối thủ của mình trên bàn đàm phán là cố vấn đặc biệt của phái đoàn Việt Nam Dân chủ Cộng hoà Lê Đức Thọ. Kissinger thừa nhận Lê Đức Thọ là người có phong cách đàm phán uyển chuyển, sắc sảo. Ông cũng nhớ như in giây phút đầu tiên gặp cố vấn Lê Đức Thọ ngày 21/2/1970. Ông miêu tả Lê Đức Thọ có mái tóc hoa râm, bao giờ cũng mặc bộ đại cán, đôi mắt mở to và sáng, ít khi để lộ suy nghĩ.

Có thể nói, các cuộc đấu trí giữa ông Lê Đức Thọ với đại diện phái đoàn Mỹ, cả bí mật lẫn công khai tại Paris đã trở thành một huyền thoại trong lịch sử ngoại giao thế giới.

Kết quả là Hiệp định Paris về chấm dứt chiến tranh, lập lại hoà bình ở Việt Nam đã được ký kết ngày 27/1/1973, tạo tiền đề dẫn đến thắng lợi cuối cùng ngày 30/4/1975. Cũng trong năm 1973, cố vấn Lê Đức Thọ cùng Henry Kissinger được đồng trao giải Nobel Hoà bình nhưng ông đã từ chối nhận giải.

Ông Lưu Văn Lợi- Thư ký của đồng chí Lê Đức Thọ cho biết: “Trong nhiều cuộc trả lời phỏng vấn, đồng chí Lê Đức Thọ đã giải thích vì sao lại từ chối giải thưởng chung với Kissinger. Ông nói, tại sao lại đặt ngang hàng giữa một nước luôn luôn gây ra chiến tranh và một nước luôn đấu tranh để giành lại độc lập. Giữa xâm lược và bị xâm lược lại nhận chung một giải thưởng. Hơn nữa, vì chưa có hoà bình thực sự ở Việt Nam nên ông chưa nhận giải thưởng đó và người xứng đáng chính là nhân dân Việt Nam”

5 năm giữ vai trò Cố vấn tại Hội nghị Paris dù chỉ chiếm một khoảng thời gian ngắn trong suốt cuộc đời hoạt động cách mạng của mình nhưng đồng chí Lê Đức Thọ đã hoàn thành xuất sắc sứ mệnh của một nhà ngoại giao chiến lược thời đại Hồ Chí Minh.

Trong bài viết nhân kỷ niệm 100 năm ngày sinh của đồng chí Lê Đức Thọ, Bộ trưởng Bộ Ngoại giao Phạm Bình Minh cho rằng, từ kinh nghiệm hoạt động của đồng chí Lê Đức Thọ tại Hội nghị Paris có thể rút ra một số bài học quí báu cho thế hệ ngoại giao Việt Nam hôm nay và mai sau, trong đó bài học đầu tiên là bảo đảm sự lãnh đạo toàn diện của Đảng trong công tác ngoại giao nhằm bảo vệ tốt nhất lợi ích quốc gia./.

Hương Giang/VOV- Trung tâm tin
vov.vn

Những bài học của đàm phán

Khi có ý định làm loạt bài nhân kỷ niệm 40 năm Ngày ký Hiệp định Paris (1973-2013), lật giở lại những trang tư liệu xưa, chúng tôi tìm gặp ông với mong muốn hiểu thêm về cuộc đàm phán lịch sử ấy; hiểu thêm về câu chuyện của những nhà ngoại giao Việt Nam trong hoàn cảnh lịch sử đặc biệt của những năm tháng chiến tranh ác liệt ấy. Và ông- nhà ngoại giao Nguyễn Khắc Huỳnh- thành viên đoàn đàm phán Hiệp định Paris năm nào đã say sưa chia sẻ với chúng tôi về những gì ông đã trải qua trong những thời khắc ấy.

Thưa ông, là một trong những thành viên của đoàn đàm phán, ông có thể kể đôi chút về diễn biến cũng như đặc điểm của cuộc đàm phán này. Nó có gì giống và khác so với các cuộc đàm phán khác?

Theo tôi, tất cả các cuộc đàm phán về cơ bản giống nhau là có 2 phe hoặc nhiều phe khác nhau cùng ngồi đàm phán và đó là cái chung nhất. Ở đàm phán Hiệp định Paris cũng thế.  Nhưng  cuộc đàm phán Paris còn có đặc điểm khác. Thứ nhất, đây là một cuộc đối đầu rất quyết liệt của 2 nền ngoại giao. Nếu nền ngoại giao của Mỹ là nền ngoại giao của nước mạnh, nước giàu nhất thế giới suốt  thế kỷ 20. Tôi muốn nhấn mạnh yếu tố này là bởi, nếu không thấy được cái đối chọi giữa khó khăn như thế thì không thấy được bối cảnh lịch sử của đàm phán Paris lúc ấy. Thứ hai, về mặt quân sự, Việt Nam yếu phải đánh Mỹ mạnh. Chúng ta không thể thắng Mỹ trong ngày một ngày hai được; chiến tranh kéo dài đàm phán càng kéo dài. Thứ ba, cuộc đàm phán Paris là cuộc đàm phán có nhiều loại diễn đàn.  Diễn đàn giữa hai bên Việt Nam-Hoa Kỳ (diễn ra suốt năm 1968); Diễn đàn 4 bên kéo dài hơn 3 năm  (1969-1971) gồm Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam và Chính phủ lâm thời miền Nam Việt Nam; còn bên kia là Mỹ và chính quyền Sài Gòn. Thứ tư, các bên đều sử dụng cuộc đàm phán này để nói cho bên thứ ba nghe. Nói cách khác,  tức là nói cho nhân dân thế giới nghe.

Vậy, vào thời kỳ đầu của cuộc đàm phán, ông cùng các đồng nghiệp tham gia vào đoàn đàm phán như thế nào?

Phải nói, tôi may mắn là một trong những người đầu tiên được thông báo về việc chuẩn bị đàm phán. Ngay sau đó, anh em chúng tôi bắt đầu tỏa ra tìm tài liệu có liên quan đến các cuộc đàm phán. Tiếp đó, chúng tôi lo tư liệu, nội dung lên án tội ác của Mỹ, lên án Mỹ xâm lược làm nội dung tranh đấu; lên án chính quyền Sài Gòn bù nhìn- từ đó để đòi Mỹ  chấm dứt hoàn toàn ném bom miền Bắc.

Từ cuộc đàm phán Paris, ông thấy có thể rút ra được những bài học gì trong cuộc đấu tranh bảo vệ độc lập tự do nói chung, bảo vệ chủ quyền lãnh thổ nói riêng, thưa ông?

Kinh nghiệm tôi nhớ nhất, quan tâm nhất chính là phải nắm chỗ mạnh của ta, xoáy vào chỗ yếu của đối phương để mà đánh. Bởi vì mình bảo vệ độc lập chủ quyền bao giờ mình cũng ở phía chính nghĩa, người nào động đến độc lập chủ quyền và chủ quyền lãnh thổ của mình thì người đó không phải là chính nghĩa. Vì vậy, mình phải nắm lấy cái chính nghĩa xoáy vào cái phi chính nghĩa, phi pháp của họ. Giờ tôi thấy, tuyên truyền về điều này của chúng ta hơi yếu. Giờ với kinh nghiệm của đàm phán Paris, của cuộc đấu tranh chính nghĩa bảo vệ chủ quyền, tôi cho phải tuyên truyền mạnh hơn, nhiều hơn. Tờ báo nào không dám viết vì lý do này, lý do khác là yếu. Gần đây tôi có thấy báo Đại Đoàn kết, báo Thanh niên có nhiều bài hơn một chút về bảo vệ độc lập chủ quyền. Bảo vệ chủ quyền lãnh thổ là nhiệm vụ thường xuyên bất di dịch của bất kỳ quốc gia nào. Cần coi đó là công việc của toàn dân nhưng trước hết các nhà lãnh đạo phải quan tâm từng ngày từng giờ. Bài học thứ hai là đề cao độc lập tự chủ. Đàm phán Paris gay go lắm, rất nhiều ý kiến đề nghị ta phải thế này, phải thế kia. Nhưng ta phải có độc lập, tự chủ, đánh theo cách của ta; đàm cũng theo cách của ta. Bài học thứ ba là đoàn kết quốc tế. Độc lập tự chủ phải gắn với đoàn kết quốc tế. Từ chiến tranh thế giới thứ hai đến nay, Việt Nam luôn phải đối đầu với nước lớn, giàu mạnh hơn ta. Theo truyền thống của cha ông, nhân dân Việt Nam lấy tự lực, tự cường làm chính; nhưng phải biết vận dụng sự ủng hộ của quốc tế, ta thường nói là kết hợp sức mạnh thời đại. Bởi vậy độc lập tự chủ và đoàn kết quốc tế là điểm sáng chói trong đường lối ngoại giao quốc tế của Việt Nam.

Xin trân trọng cảm ơn ông!

Mai Loan- Lục Bình (thực hiện)
daidoanket.vn

Những câu chuyện về Hội nghị Paris Điều kỳ diệu mang tên Việt Nam!

Ngày 14-12-1972 trước khi lên máy bay tại sân bay Paris để trở về Hà Nội, anh Lê Đức Thọ dặn tôi: “Mình về thì nay mai chắc nó sẽ đánh Hà Nội bằng B52, việc này cậu đã biết. Cậu cần có kế hoạch hiệp đồng tốt với nhà trong trận đánh này”. Do đó về mặt ngoại giao trong 12 ngày đêm B52 đánh Hà Nội, Bộ trưởng Ngoại giao Pháp lúc đó là Maurice Schumann và tôi ngày nào cũng có những cuộc gặp nhau, có lúc còn gọi điện thoại cả vào đêm khuya để thông tin tình hình và trao đổi ý kiến. Phía Pháp cần thông tin để có thái độ còn phía ta cũng muốn Pháp góp phần lên án Mỹ. Thực tế trong những ngày đó Chính phủ Pháp đã phát tuyên bố lên án cuộc đánh phá Hà Nội mà Mỹ gọi là Chiến dịch Linebaker-II. Đến ngày 30.12.1972 sau khi tôi báo tin thắng lợi của ta trong 12 ngày đêm bắn rơi 81 máy bay Mỹ, trong đó có 34 chiếc B52, ông Schumann đã thốt lên: “Thật là kỳ diệu!”. Rồi ông đưa tôi ra thềm trụ sở Bộ Ngoại giao Pháp gặp hàng chục nhà báo Pháp và quốc tế đang nóng lòng chờ sẵn ở đó để tôi thông báo cho họ về “điều kỳ diệu” ấy.

Trong thời gian này song song với các hoạt động ngoại giao trên, cũng đã diễn ra cả một chiến dịch vận động dư luận rộng rãi ở Pháp và Tây Âu do tất cả các cơ quan đại diện Việt Nam, các hội đoàn người Việt Nam và bạn bè quốc tế phối hợp tiến hành. Cùng với 12 ngày đêm rực lửa trong trận “Điện Biên Phủ trên không” trên bầu trời Hà Nội giữa mùa Đông năm 1972 ấy cũng là những ngày đêm hừng hực nóng bỏng tình cảm của người Việt và bạn bè  của Việt Nam ở Pháp và các nước đấu tranh chống đế quốc Mỹ, bảo vệ Hà Nội anh hùng, bảo vệ đất nước của Hồ Chí Minh. Không phải ngẫu nhiên mà chúng ta đã chủ động đáp trả và toàn thắng trong chiến dịch “12 ngày đêm” bởi đây thực sự là thành công tất yếu của công tác dự báo tình hình. Chính Chủ tịch Hồ Chí Minh, sau này được UNESCO vinh danh là “người anh hùng giải phóng dân tộc, danh nhân văn hoá kiệt xuất”, đã có lời tiên tri thiên tài lúc sinh thời: “Chỉ sau khi bị thua ta trên bầu trời Hà Nội thì Mỹ mới thực sự chịu thua”. Suốt 30 năm kháng chiến chống ngoại xâm, Tư tưởng Hồ Chí Minh chẳng những đã giữ vững quyết tâm, củng cố niềm tin của nhân dân ta, mà còn dẫn dắt từng bước đi cho thắng lợi của dân tộc.

Võ Văn Sung
Nguyên Đại sứ Việt Nam tại Pháp
Nguyên thành viên đoàn đàm phán Paris

“Hiệp định Paris 1973 là bài học về độc lập tự chủ”

Bà Nguyễn Thị Bình, nguyên Phó Chủ tịch nước, nguyên Bộ trưởng Ngoại giao, nguyên Trưởng đoàn đàm phán của Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam.
(Nguồn: TTXVN)

Hiệp định Paris về chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam được ký kết đầu năm 1973 là thắng lợi có ý nghĩa chiến lược dẫn đến đại thắng mùa Xuân năm 1975, giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước.

Nhân kỷ niệm 40 năm ngày ký kết Hiệp định Paris (27/1/1973-27/1/2013), bà Nguyễn Thị Bình, nguyên Phó Chủ tịch nước, nguyên Bộ trưởng Ngoại giao, nguyên Trưởng đoàn đàm phán của Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam đã dành cho phóng viên TTXVN cuộc trả lời phỏng vấn về những ngày tháng không thể nào quên tại Paris 40 năm về trước. Sau đây là nội dung cuộc phỏng vấn:

– Là nữ Bộ trưởng Ngoại giao duy nhất tại Hội nghị Paris, xin bà cho biết cảm xúc của mình khi nhận nhiệm vụ thiêng liêng nhưng cũng đầy khó khăn này?
 
Bà Nguyễn Thị Bình: Khi được giao nhiệm vụ đi Paris, tôi rất lo vì biết đây là nhiệm vụ quan trọng và khó khăn, hơn nữa, bản thân tôi không học qua trường ngoại giao nào.

Trong thực tế, tham gia một cuộc đàm phán tức là tham gia một cuộc đấu tranh chính trị không đơn giản, nhưng lúc bấy giờ, tôi nghĩ các đồng chí lãnh đạo đã cân nhắc khi cử tôi đi làm nhiệm vụ này, chắc chắn các đồng chí đã tin tưởng và đánh giá tôi có đủ điều kiện cũng như khả năng hoàn thành nhiệm vụ, vì vậy, tôi đã tự tin lao vào công việc, thực tế là tôi đã rất cố gắng.

Chúng tôi và một số cán bộ từ nhiều cơ quan chức năng, được phân công tham gia hai đoàn đàm phán: đoàn Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và đoàn Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam đều đã hết sức cố gắng và hoàn thành nhiệm vụ.

-Trước khi Hiệp định Paris được ký kết năm 1973, giai đoạn đàm phán quyết định nhất là thời gian nào, thưa bà?
 
Bà Nguyễn Thị Bình: Cuộc đàm phán 4 bên ở Paris với mục đích tìm giải pháp chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam, thời gian hội nghị hơn 4 năm 8 tháng, nhiều lúc rất khó khăn.

Theo tôi, đợt đàm phán có ý nghĩa quyết định nhất diễn ra vào tháng 10/1972. Khi đó phía Mỹ, chính quyền Nixon nghĩ không thể đánh bại chúng ta bằng quân sự. Vì vậy, họ chấp nhận Dự thảo “Hiệp định về chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam” và Dự thảo “Thỏa thuận về quyền tự quyết của nhân dân miền Nam Việt Nam” do Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đưa ra, trong đó chấp nhận rút quân hoàn toàn khỏi Việt Nam và để vấn đề chính trị của miền Nam Việt Nam cho các bên của Việt Nam tự giải quyết.

Tuy nhiên, sau đó, chính quyền Nixon đã lật lọng, ngừng đàm phán và tìm mọi cách để không chấp nhận những yêu cầu của Việt Nam đồng thời gây sức ép để phía ta sửa đổi một số điều trong dự thảo không có lợi cho Mỹ. Mỹ muốn thực hiện các ý đồ bằng chiến dịch “Việt Nam hóa chiến tranh,” dùng vũ khí Mỹ nhưng dùng quân đội miền Nam Việt Nam thay thế quân đội Mỹ để thực hiện thôn tính Việt Nam.

Đỉnh điểm của sự gây sức ép là cuộc không kích bằng B52, tàn phá Hà Nội, Hải Phòng và các tỉnh miền Bắc suốt 12 ngày đêm. Nhưng, cuộc không kích của Mỹ đã thất bại nặng nề không những về mặt quân sự mà còn về chính trị và buộc Mỹ phải chấp nhận trở lại đàm phán đi đến ký Hiệp định Paris về chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam.

– Xin bà cho biết, đâu là nhân tố quyết định thành công của Hiệp định Paris?

Bà Nguyễn Thị Bình: Có thể nói, Hiệp định Paris là kết quả của cả một cuộc chiến đấu trường kỳ suốt 20 năm của quân và dân ta, từ sau chiến dịch Điện Biên Phủ, năm 1955 ta đã bắt đầu đấu tranh, đến năm 1959, chúng ta vừa đấu tranh vũ trang đồng thời kết hợp đấu tranh chính trị. Như vậy, kết quả của hiệp định là kết quả của cả một cuộc đấu tranh kéo dài.

Cuộc đấu tranh của chúng ta là cuộc đấu tranh toàn dân, toàn diện. Thắng lợi đây là thắng lợi quân sự, nhưng cũng là thắng lợi về chính trị đồng thời là thắng lợi về ngoại giao. Nói đến nhân tố quyết định thì phải nói về cả một cuộc đấu tranh lâu dài và thắng lợi trên các mặt trận để đi đến thúc ép Mỹ ký Hiệp định Paris.

– Theo bà, từ Hiệp định Paris có thể rút ra những bài học quý báu nào cho công tác ngoại giao sau này?
 
Bà Nguyễn Thị Bình: Tôi nghĩ rằng, Hội nghị Paris trải qua hơn 4 năm, nếu nói cho đúng, trước đó chúng ta cũng đã quan tâm đến vấn đề đấu tranh trên mặt trận dư luận, ngoại giao, nhưng tập trung ở cuộc đàm phán 4 bên ở Paris. Với nhân dân ta nói chung, đặc biệt là các đồng chí làm công tác ngoại giao thì tôi nghĩ cuộc đấu tranh ở hội nghị cho chúng ta rất nhiều bài học và những bài học đó vẫn có giá trị cả ngày nay và mai sau.

Theo tôi, trước hết cuộc đấu tranh của chúng ta rất phức tạp. Tuy là giữa ta và Mỹ nhưng cũng là mối quan tâm của nhiều nước lớn trên thế giới. Nên bài học từ Hội nghị trước hết là phải giữ vững nguyên tắc về độc lập tự chủ, phải xuất phát từ lợi ích quốc gia, phải biết rõ lực lượng mình như thế nào, đối phương ra sao để quyết định từng bước đi và luôn luôn có sự kết hợp giữa chiến trường và trên mặt trận ngoại giao – đó là bài học về độc lập tự chủ.

Bài học thứ 2 là chúng ta phải hết sức kiên định đối với lập trường nguyên tắc và mục tiêu chiến lược của mình, nhưng trong sách lược phải biết mềm dẻo. Ví dụ, lúc đầu chúng ta đặt ra mục tiêu trong cuộc đàm phán gồm 2 yêu cầu: yêu cầu quân sự là Mỹ phải rút quân hoàn toàn ra khỏi miền Nam Việt Nam. Yêu cầu thứ 2 là ở miền Nam Việt Nam phải bỏ chính quyền tay sai của Mỹ để nhân dân tự lựa chọn chính quyền của mình. Nhưng dựa trên tình hình thực tế, chúng ta đã tập trung vào 1 mục tiêu là Mỹ phải rút hoàn toàn khỏi miền Nam Việt Nam. Chúng ta biết nếu Mỹ rút khỏi và chấm dứt sự can thiệp vào miền Nam Việt Nam thì vấn đề miền Nam Việt Nam ta hoàn toàn có thể giải quyết được.

Bài học lớn nữa là chúng ta biết kết hợp sức mạnh dân tộc và sức mạnh thời đại. Nghĩa là chúng ta phải trông vào sức mình; về mặt chính trị, quân sự chúng ta đã hết sức cố gắng để đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác. Ngoài ra, trong một cuộc đấu tranh hết sức quyết liệt với đối phương mạnh hơn nhiều lần, chúng ta đã biết tranh thủ sức mạnh đoàn kết quốc tế. Có thể nói, phong trào đoàn kết quốc tế ủng hộ cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước của ta là phong trào đoàn kết quốc tế rộng lớn chưa từng có trong lịch sử. Đó chính là sức mạnh to lớn đã góp phần vào thắng lợi trong cuộc đấu tranh của dân tộc ta./.

Đỗ Quyên (TTXVN)
vietnamplus.vn

Giao lưu “Hiệp định Paris và tấm lòng bạn bè quốc tế”

Giao lưu giữa các đại biểu Việt Nam và quốc tế. (Ảnh: An Đăng/TTXVN)

Trong khuôn khổ các hoạt động kỷ niệm 40 năm Ngày ký Hiệp định Paris về chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam (27/1/1973-27/1/2013), khoảng 50 đại biểu quốc tế tham dự các hoạt động kỷ niệm tại Việt Nam.

Sáng 26/1, tại Cung Văn hóa, Thể thao Thanh niên Hà Nội, Đoàn đại biểu quốc tế đã tham dự giao lưu “Hiệp định Paris và tấm lòng bạn bè quốc tế.”

Cùng dự có: nguyên Phó Chủ tịch nước, nguyên Trưởng đoàn đàm phán Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam Nguyễn Thị Bình; Chủ tịch Liên hiệp các tổ chức hữu nghị Việt Nam Vũ Xuân Hồng; Phó Trưởng ban Đối Ngoại Trung ương Trần Đắc Lợi, Thứ trưởng Bộ Ngoại giao Nguyễn Phương Nga; một số đại biểu Việt Nam đã tham gia quá trình đàm phán và ký kết Hiệp định Paris về Việt Nam; đại diện các ban, ngành hữu quan và đại diện các tầng lớp nhân dân…

Những người bạn quốc tế…

Có khoảng 30 trong số 50 đại biểu đến từ 14 quốc gia và một số tổ chức quốc tế là những người đã đóng góp trực tiếp, gián tiếp vào thành công của Hiệp định Paris, tham gia tích cực các phong trào đoàn kết quốc tế ủng hộ Việt Nam trong cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc thống nhất đất nước.

Đó là những đại biểu đã lên tiếng phản đối cuộc chiến tranh của Mỹ ở Việt Nam và có nhiều hoạt động đoàn kết ủng hộ Việt Nam; thành viên Nhóm du kích tham gia vụ bắt giữ sỹ quan Mỹ Michael Smolen để đánh đổi chiến sỹ biệt động Nguyễn Văn Trỗi; hay là người đã từng tổ chức nhiều hoạt động trong phong trào thanh niên sinh viên Ấn Độ phản đối chiến tranh ở Việt Nam; kiều bào tại Pháp đã tham gia và đóng góp tích cực trong thời gian đàm phán và ký kết Hiệp định Paris; nhà hoạt động xã hội đã từng tham gia các hoạt động chống chiến tranh ở Việt Nam, đang tích cực ủng hộ nạn nhân chất độc da cam Việt Nam….

Khách mời giao lưu là những người bạn quốc tế đã giúp đỡ trực tiếp Việt Nam trong thời kỳ đấu tranh ký kết Hiệp định Paris.

Ông Ramsey Clark, nguyên Bộ trưởng Tư pháp Mỹ (1967-1969) đã nhớ về thời điểm tháng 8/1972 ông tham gia một đoàn đại biểu quốc tế đi thực tế ở miền Bắc Việt Nam lúc chiến tranh ác liệt để tìm hiểu, bày tỏ sự ủng hộ đối với cuộc đấu tranh chính nghĩa, vì hòa bình, độc lập dân tộc và thống nhất đất nước của nhân dân Việt Nam. Chuyến đi này đã gây tiếng vang rộng rãi trong dư luận Mỹ và thế giới.

Ông từng nói “Tôi cảm thấy Chính phủ Hoa Kỳ đã phạm sai lầm bi thảm khi tiến hành những hoạt động quân sự ở Việt Nam, và một người nào đó thực sự yêu đất nước có nghĩa vụ cao cả là nói lên điều đó và đứng lên phản kháng.”

Người nước ngoài đầu tiên mang quốc tịch Việt Nam

Tiếng Việt nhỏ nhẹ mang âm sắc Nam Bộ, ông Andre Marcel Menras tự hào nhận mình là người nước ngoài đầu tiên mang quốc tịch Việt Nam. Xúc động nghẹn lời khi nhớ về thời điểm năm 1970, khi ông cùng một người bạn đồng hương Pháp treo lá cờ Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam trước hạ nghị viện của Việt Nam cộng hòa (nay là nhà hát lớn) và rải truyền đơn đòi hỏi Mỹ và quân đội đồng minh rút quân để Việt Nam lặp lại hòa bình trong độc lập.

Ông bị bắt giam trong suốt 2 năm rưỡi. Cái tên Hồ Cương Quyết trong chứng minh thư của ông chính là do một người bạn Việt Nam cùng trong tù đặt tặng.

Chia sẻ lý do tại sao một người Pháp lúc đó lại sẵn sàng làm những việc nguy hiểm như thế, ông Andre Marcel Menras cho biết năm 1968 sau khi tốt nghiệp đại học sư phạm thành phố Montpellier (Pháp), ông sang Việt Nam dạy học tại Đà Nẵng. Là một thầy giáo trẻ, phải chứng kiến những cảnh chiến tranh tang thương hằng ngày, ông không cầm lòng được. Ông cho biết, sự phản kháng lúc đó là một phản ứng rất con người và tự nhiên từ trái tim, chỉ mong có thể góp phần nhỏ bé để mang lại hòa bình cho Việt Nam.

Ông bị trục xuất về nước ngày 1/1/1973, tức là 27 ngày trước khi Hiệp định Paris về Việt Nam được ký kết. Từ đầu năm 1973 đến Chiến dịch Hồ Chí Minh hoàn toàn thành công, ông đã vận động tuyên truyền trên thế giới để chính quyền Sài Gòn tôn trọng Hiệp định Paris và trả tự do cho các tù nhân chính trị và để dư luận buộc chính quyền Nixon phải ngừng hỗ trợ cho chiến tranh ở Việt Nam.

Khi được trả tự do từ nhà lao Chí Hòa, ông đã bí mật lấy danh sách tù nhân chính trị đang bị giam giữ tại Côn Đảo, Chí Hòa, Tân Hiệp và Phú Quốc lúc đó để gửi tận tay bà Phạm Thị Minh (phái đoàn chính phủ cách mạng lâm thời cộng hòa Miền nam Việt Nam) nhằm giúp phái đoàn bác bỏ luận điệu của phái đoàn Việt Nam cộng hòa và Mỹ rằng không có tù nhân chính trị tại miền Nam Việt Nam.

4 năm đồng hành cùng phái đoàn Việt Nam tại Paris

Nhớ lại thời điểm nhận trọng trách lái xe cho phái đoàn Việt Nam trong 4 năm tại Paris, ông Michel Strachinescu (Pháp) đã chia sẻ niềm vinh dự của mình cùng đông đảo các đại biểu quốc tế và Việt Nam. Đối với ông, 4 năm đồng hành cùng Trưởng đoàn đàm phán Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam Nguyễn Thị Bình và những người bạn Việt Nam khác lúc bấy giờ là những kỷ niệm lớn lao không bao giờ quên trong cuộc đời.

Một câu chuyện mà ông nhớ như in là có lần, đang chở các bạn Việt Nam trên đường cao tốc Pháp thì lá cờ của Mặt trận giải phóng miền Nam Việt Nam bị rơi xuống đường. Xe đã chạy qua, lại trong điều kiện đường cao tốc có nhiều phương tiện đi nhanh, “Tôi suy nghĩ các bạn Việt Nam tại quê nhà đang chiến đấu hy sinh vì lá cờ đó nên bằng mọi giá phải quay lại ngay lập tức để cầm lại lá cờ”, ông Michel Strachinescu bồi hồi chia sẻ về tình yêu và sự đồng lòng ủng hộ Việt Nam của mình.

Xen lẫn các câu chuyện về những tấm lòng bạn bè quốc tế đại diện cho cả phong trào đoàn kết quốc tế ủng hộ Việt Nam là những phóng sự được trình chiếu, bắt đầu từ cảnh ký Hiệp định Paris về Việt Nam, về niềm vui, sự hân hoàn về thành quả đã đạt được trên mặt trận ngoại giao của nhân dân ta. Đó là kết quả của một chặng đường dài 5 năm đấu tranh không ngừng nghỉ, những lúc khó khăn, bế tắc nhưng cuối cùng cũng đạt được kết quả tốt đẹp nhờ nỗ lực không ngừng của nhân dân ta và sự giúp đỡ của bạn bè quốc tế.

Các đại biểu đến từ Liên bang Nga (ông Khyupenen), Trung Quốc (ông Lương Phong); Tổ chức đoàn kết Nhân dân Á Phi (ông Nouri Hussain), Mỹ (ông John Francis)…. chia sẻ về những phong trào nhân dân khắp nơi trên thế giới đấu tranh ủng hộ Việt Nam, về những năm tháng sát cánh cùng nhân dân Việt Nam đấu tranh dẫn tới việc ký kết Hiệp định Paris; nỗ lực góp phần cùng nhân dân Việt Nam hiện thực hóa Hiệp định Paris để cuối cùng dẫn tới thắng lợi của chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử, giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất Tổ quốc vào mùa Xuân năm 1975.

Những vị khách mời đến từ Hội đồng Hòa bình thế giới, Tổ chức Hòa bình đoàn kết toàn Ấn, Italy…. chia sẻ về những hoạt động ủng hộ và giúp đỡ Việt Nam sau Hiệp định Paris và trong công cuộc xây dựng phát triển ngày nay, những nỗ lực góp phần chia sẻ hậu quả chiến tranh để lại như vấn đề bom mìn, chất độc da cam/dioxin…

Sau 40 năm kể từ ngày Hiệp định Paris về Việt Nam được ký kết, phần lớn những đại biểu quốc tế nay tuổi đã cao, nhưng những câu chuyện về tình yêu Việt Nam của họ năm xưa như chưa bao giờ phai mờ, vẫn nguyên vẹn và đầy xúc động. Đến Việt Nam lần này, các bạn quốc tế có một cảm nhận chung như được trở về nhà, cảm nhận được sự chân tình hiếu khách của người dân Việt Nam đồng thời bày tỏ vui mừng khi chứng kiến một đất nước Việt Nam đang nỗ lực phát triển và hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng.

Thay mặt nhân dân Việt Nam, nguyên Phó Chủ tịch nước, nguyên Trưởng đoàn đàm phán Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam Nguyễn Thị Bình phát biểu bày tỏ lời cảm ơn sâu sắc và khẳng định, nhân dân Việt Nam mãi mãi ghi nhớ và biết ơn về sự ủng hộ của hàng triệu bạn bè quốc tế đối với cuộc đấu tranh chính nghĩa, vì hòa bình, độc lập dân tộc và thống nhất đất nước của nhân dân Việt Nam trước đây.

Tại buổi giao lưu, bày tỏ niềm xúc động khi lắng nghe những câu chuyện, những kỷ niệm về tình cảm bạn bè quốc tế trong quá trình đàm phán Hiệp định Paris, nguyên Phó Chủ tịch nước Nguyễn Thị Bình và Chủ tịch Liên hiệp các tổ chức hữu nghị Việt Nam Vũ Xuân Hồng phát biểu nhấn mạnh, cuộc đấu tranh chính nghĩa của nhân dân Việt Nam trước đây được đông đảo nhân dân toàn thế giới ủng hộ. Cuộc đấu tranh đó đã cổ vũ hàng triệu người trên khắp thế giới xuống đường tuần hành biểu thị tình đoàn kết với Việt Nam. Trong lịch sử, thật hiếm có trường hợp nào huy động được số người ủng hộ đông đảo đến vậy.

Tin tưởng tình đoàn kết hữu nghị và hợp tác giữa nhân dân Việt Nam và nhân dân yêu chuộng hòa bình trên thế giới ngày càng phát triển tốt đẹp, nguyên Phó Chủ tịch nước Nguyễn Thị Bình và Chủ tịch Liên hiệp các tổ chức hữu nghị Việt Nam Vũ Xuân Hồng cùng bày tỏ mong muốn, bạn bè quốc tế từng ủng hộ Việt Nam trong công cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc trước đây, sẽ tiếp tục ủng hộ và giúp đỡ Việt Nam trong quá trình xây dựng và phát triển đất nước ngày này./.

Hoàng Thị Hoa (TTXVN)
vietnamplus.vn

Khách quốc tế về dự kỷ niệm 40 năm Hiệp định Paris

Đại biểu Mỹ tặng Chủ tịch nước bức ảnh nhân dân Mỹ xuống đường phản đối cuộc chiến tranh của đế quốc Mỹ tại Việt Nam. (Ảnh: Nguyễn Khang/TTXVN)

Ngày 25/1, tại Phủ Chủ tịch, Chủ tịch nước Trương Tấn Sang đã tiếp thân mật đoàn khách quốc tế đang có mặt tại thủ đô Hà Nội dự lễ kỷ niệm 40 năm ngày ký Hiệp định Paris về chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam.

Tại buổi tiếp, các đại biểu xúc động cảm ơn đón tiếp nồng hậu của Ban tổ chức lễ kỷ niệm, đã tạo điều kiện để các đoàn khách đến Việt Nam dự buổi lễ trọng đại.

Đại diện các đoàn Pháp, Nga, Mỹ, Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào nhấn mạnh những ngày này, tại những địa điểm khác nhau trên thế giới có liên quan đến Hiệp định Paris năm 1973, nhiều hoạt động kỷ niệm đã được tổ chức trọng thể.

Các đại biểu đã ôn lại những kỷ niệm không quên trong quãng thời gian phục vụ hai đoàn đàm phán Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam tại Paris hơn 4 thập kỷ trước.

Các đại biểu khẳng định trước tính chất chính nghĩa sáng ngời của cuộc chiến tranh giải phóng và thiện chí hòa bình của nhân dân Việt Nam, dù sinh sống tại các quốc gia khác biệt về chính trị, văn hóa với Việt Nam, đông đảo các tầng lớp nhân dân tiến bộ trên thế giới cùng kề vai sát cánh, ủng hộ Việt Nam, vạch trần tính chất phi nghĩa, của cuộc chiến tranh xâm lược; nhấn mạnh thắng lợi của Hiệp định Paris đã niềm cổ vũ lớn lao nhân dân yêu chuộng hòa bình và công lý trên thế giới.

Các đại biểu cũng bày tỏ những vấn đề đang được cộng đồng quốc tế quan tâm: bảo vệ môi trường, khai thác và sử dụng tài nguyên năng lượng, giải quyết bất đồng tranh chấp biển đảo, đề nghị Việt Nam với vai trò vị thế ngày càng được khẳng định trên các diễn đàn quốc tế, tích cực tham gia giải quyết các vấn đề toàn cầu, để thế kỷ 21 là thế kỷ hòa bình, hữu nghị, hợp tác, phát triển của nhân loại tiến bộ.

Phát biểu tại buổi gặp mặt, Chủ tịch nước Trương Tấn Sang hoan nghênh sự hiện diện của các vị khách quốc tế đúng vào dịp Việt Nam tổ chức kỷ niệm ngày lễ trọng đại.

Chủ tịch nước bày tỏ lòng biết ơn của Đảng, Nhà nước Việt Nam, với các nước xã hội chủ nghĩa anh em, bạn bè quốc tế, trong đó có nhân dân tiến bộ Mỹ, đã ủng hộ cuộc chiến đấu chính nghĩa của nhân dân Việt Nam, tin tưởng trái tim và khối óc của bạn bè quốc tế sẽ đồng hành với nhân dân Việt Nam trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

Chủ tịch nước nhấn mạnh Việt Nam luôn chào đón những người bạn quốc tế và sẵn sàng hợp tác với các nước trên nhiều lĩnh vực.

Chủ tịch nêu rõ trên các diễn đàn trong nước và quốc tế, Việt Nam luôn thể hiện rõ vai trò là thành viên tin cậy và trách nhiệm của cộng đồng quốc tế, góp phần xây dựng môi trường hòa bình và phát triển cho các quốc gia.

Trước đó, chiều 25/1, đoàn đại biểu quốc tế, Chủ tịch Liên hiệp các tổ chức hữu nghị Việt Nam Vũ Xuân Hồng và đại diện các cơ quan hữu quan đã tham dự Lễ trồng cây tại Công viên Hòa Bình, Hà Nội./.

Hoàng Giang (TTXVN)
vietnamplus.vn

Paris – sự lựa chọn sáng suốt

(VOV) -“Paris đã chứng minh đúng là địa điểm tốt nhất cho hòa đàm giữa Việt Nam và Hoa Kỳ”.

Thắng lợi của Hiệp định về chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam hay còn gọi là Hiệp định Paris năm 1973 là thắng lợi của tổng hòa sức mạnh quân sự, chính trị và ngoại giao cùng với những lựa chọn chiến lược sáng suốt của Đảng ta. Trong đó, phải kể đến sự tài tình trong việc lựa chọn địa điểm cho cuộc đàm phán lịch sử.

Sau khi Việt Nam và Mỹ đồng ý tiến hành các cuộc đàm phán chấm dứt chiến tranh Việt Nam, tháng 4/1968, hai bên cùng đưa ra những địa điểm để lựa chọn cho cuộc thương lượng.

Trái với những đề xuất của Mỹ chọn một số thủ đô ở Đông Nam Á để gần và tiện cho phía Việt Nam, thì chúng ta lại chọn Paris, một nơi không những xa mà còn là một trong những thủ đô đắt đỏ nhất thế giới. Một tháng sau vào ngày 13/5/1968, phiên họp chính thức đầu tiên được diễn ra tại Paris.

Ông Phạm Ngạc – Nguyên Vụ trưởng Vụ Tổ chức Quốc tế Bộ Ngoại giao, từng là thành viên của phái đoàn Việt Nam Dân chủ Cộng hòa cho biết: “Ta đồng ý ở Paris thì có ý nghĩa khác, đó là ngay lúc đó chính Tổng thống Pháp Charles de Gaulle cũng đã lên án Mỹ trong chính sách tại Việt Nam. Ngoài ra, Pháp là nơi có lực lượng Đảng Cộng sản rất mạnh, Việt kiều rất đông và cũng là nơi cụ Hồ khởi sự ra cuộc đấu tranh quốc tế”.

Toàn cảnh Hội nghị Paris về chấm dứt chiến tranh ở Việt Nam. Ảnh tư liệu

Trong suốt quá trình đàm phán kéo dài gần 5 năm, đoàn Việt Nam không chỉ nhận được sự ủng hộ chính trị của Chính phủ Pháp mà còn nhận được ủng hộ và giúp đỡ tối đa về tinh thần và hậu cần  từ các tầng lớp nhân dân nước này.

Liên tục trong 5 năm, họ thường xuyên tổ chức các cuộc mít tinh, biểu tình, hội họp để ủng hộ lập trường của các đoàn đàm phán của ta. Riêng Đảng Cộng sản Pháp đã chuyển toàn bộ Trường đảng Trung ương Maurice Thorez đi nơi khác để nhường địa điểm cho đoàn đàm phán Việt Nam Dân chủ Cộng hòa sử dụng suốt 5 năm và cử nhiều đảng viên của đảng đến phục vụ 2 phái đoàn của ta như lái xe, nấu ăn, gác cổng… Nhờ có cơ sở vật chất tốt nên công tác an ninh của đoàn đã được đảm bảo an toàn tuyệt đối.

Ông Phạm Ngạc cho biết: “Đảng Cộng sản Pháp đã dành cho ta chỗ họp an ninh rất tốt, đầy đủ các phương tiện; phòng ngủ, chỗ làm việc, tiếp khách rất tốt. Trong suốt quá trình 5 năm Hiệp định Paris có rất nhiều chuyện nhưng chưa bao giờ bị lộ bí mật. Đó là một thành công, hậu cần rất thuận lợi. Từ chỗ tưởng như rất khó khăn cho Việt Nam nhưng bây giờ lại rất thuận lợi và khó nơi nào có được như vậy”.

Hai đoàn đàm phán của ta là Đoàn Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và Đoàn Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam còn nhận được sự ủng hộ to lớn và tham gia trực tiếp của cộng đồng người Việt tại Pháp. Nhiều người Việt Nam giỏi tiếng Pháp đã tình nguyện làm phiên dịch, biên dịch, ghi biên bản các cuộc họp, họp báo…

Bà Tôn Nữ Thị Ninh, Nguyên Phó Chủ nhiệm Uỷ ban Đối ngoại Quốc hội, lúc đó là một sinh viên Việt kiều nhớ lại: “Việt Nam, lúc đó là khẩu hiệu tiêu biểu nhất của phong trào giải phóng dân tộc trên thế giới nói chung và tại Paris nói riêng, cho nên việc tham gia phong trào phản chiến của người Việt là lẽ rất tự nhiên. Lúc đó phải nói thật là chuyện học và bằng cấp là chuyện thứ yếu. Công việc chính yếu của chúng tôi là kiếm sống để có thể tham gia phong trào rất tự nhiên và hào hứng. Phải nói rằng chúng tôi trưởng thành trong phong trào phản chiến đó”.

Tại Paris trong suốt 5 năm đàm phán chúng ta còn có sự ủng hộ mạnh mẽ từ báo chí Pháp. Hầu hết các báo đều có những bài viết ủng hộ lập trường của ta.

40 năm trôi qua, điểm lại những diễn biến trên bàn đàm phán có thể thấy rằng Paris là địa điểm có môi trường đàm phán, đấu tranh dư luận, tranh thủ quốc tế tốt nhất cho hai Đoàn đàm phán của ta.

Một trong những nhà ngoại giao ủng hộ đề xuất phương án địa điểm Paris lúc đó là  ông Võ Văn Sung- nguyên Đại sứ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa tại Pháp, thành viên phái đoàn đàm phán Paris đã từng khẳng định: ” Có thể nói rằng liên tục trong 5 năm, Paris đã sống theo giờ Việt Nam và Việt Nam đã sống theo giờ Paris vì Paris đã chứng minh đúng là địa điểm tốt nhất cho hòa đàm giữa Việt Nam và Hoa Kỳ”./.

Mỹ Trà/VOV- Trung tâm tin
vov.vn

Bà Nguyễn Thị Bình: Nếu tôi ở tuổi 20

Bà Nguyễn Thị Bình

(VOV)- Đọc hồi ký “Gia đình, đất nước và bạn bè” của bà, ta sẽ tìm thấy một lời khuyên giản dị: điều gì có lợi cho đất nước thì làm

Bài học lớn nhất của nhân dân ta là bài học đoàn kết. Bà Nguyễn Thị Bình, nguyên Phó Chủ tịch nước, Trưởng đoàn đàm phán của Chính phủ Cách mạng Lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam tại Hòa đàm Paris đã khẳng định như vậy trong cuốn hồi ký “Gia đình, bạn bè và đất nước” của mình. Sách do nhà xuất bản Tri thức phát hành tháng 5/2012, dày hơn 400 trang, hé lộ nguồn gốc tạo nên sức mạnh đặc biệt của bà.

Cuốn sách cũng là sự gửi gắm những mong mỏi và tâm huyết của bà và thế hệ của mình-những con người đã dành cả tuổi xuân đấu tranh giành độc lập cho đân tộc đến các bạn trẻ-chủ nhân quyết định đến vận mệnh và sự phát triển của nước nhà.

Về cuốn hồi ký, bà Nguyễn Thị Bình chia sẻ: “Trong những ngày này, tôi nhớ đến kinh nghiệm của bản thân và những bài học của cuộc đấu tranh của nhân dân ta trước đây. Chúng tôi nghĩ bài học lớn nhất của nhân dân ta là bài học đoàn kết. Đoàn kết dân tộc vì một mục tiêu chung. Đó là phương châm của thắng lợi trong quá khứ. Bây giờ chúng ta đều hiểu rằng, sở dĩ mà chúng ta thắng ở trong hai cuộc kháng chiến là vì chúng ta có đoàn kết dân tộc vì một mục tiêu chung, vì độc lập tự do của đất nước. Chúng tôi nghĩ đó cũng sẽ là những phương châm của sự thành công trong hiện tại và tương lai”.

Nguyên Phó Chủ tịch nước Nguyễn Thị Bình cho rằng có 3 cơ sở để tạo nên đại đoàn kết dân tộc để tiếp tục phát triển. Chúng ta có chung một cội nguồn, chung một mối an nguy đối với thế lực bên ngoài và chung một tương lai huy hoàng cho đất nước. 3 cái chung đó nó gắn kết chúng ta trước đây và trong ngày hôm nay. Và niềm tin trước đây và hôm nay vẫn sẽ là sức mạnh tinh thần to lớn nhất của dân tộc ta.

“Tôi nghĩ để xây dựng đất nước Việt Nam hùng mạnh, để chúng ta đủ sức bảo vệ đất nước và có một xã hội trong đó mọi người dân được tự do, hạnh phúc và có thể góp phần vào tiến trình phát triển của đất nước thì chúng ta phải có những con người mới, có nhân cách, có dân trí cao. Những con người có lý tưởng và niềm tin. Đó là kinh nghiệm trước đây và chúng tôi tin rằng ngày nay và trong tương lai”, bà Nguyễn Thị Bình nói.

Cuộc đời của bà Nguyễn Thị Bình gắn chặt với những sự kiện lịch sử quốc gia của thế kỷ 20, từ kháng chiến chống Pháp, chống Mỹ đến hơn 30 năm sau hòa bình. Qua cuốn hồi ký, bà muốn tri ân đến đồng chí, đồng bào đã hi sinh xương máu đem lại hòa bình độc lập cho đất nước.

Bà Nguyễn Thị Bình tâm sự: “Chúng ta đã từng tạo được những lớp người Việt Nam làm nên những điều thần kỳ thì giờ đây chúng ta phải chuyển tinh thần đó vào sự nghiệp xây dựng, bảo vệ và phát triển đất nước. Và tôi tin rằng nhân dân ta với truyền thống của mình, đặc biệt là thanh niên sẽ thực hiện được điều đó. Đó là những điều tôi muốn gửi gắm qua hồi ký của mình. Và tôi dám chắc rằng đó là những gì mà thế hệ chúng tôi mong muốn với thế hệ sau”.

Sau khi phát hành cuốn hồi ký, nhiều câu hỏi của các bạn đọc trẻ tuổi đã được gửi đến bà, hỏi về những điều tiếc nuối cũng như nếu bây giờ, trong hoàn cảnh đất nước hiện nay, bà 20 tuổi, bà sẽ làm gì? Bà Nguyễn Thị Bình nêu ví dụ, nếu bà giỏi cả tiếng Pháp và tiếng Anh thì trong đàm phán Paris đã có thể làm được nhiều điều tốt hơn cho đất nước và nếu giờ bà trẻ lại như các bạn thanh niên bà sẽ trau dồi kiến thức thật tốt để cống hiến cho đất nước.

Bà cũng cho rằng: “Là người biết tự trọng thì luôn phải biết tự phê bình, không cần phải báo cáo với ai là mình đã tự phê bình như thế nào, mà là để thấy được những gì mình làm chưa tốt để lần sau làm tốt hơn”.

Những ai còn băn khoăn về bản thân và thời cuộc khi đọc cuốn hồi ký “Gia đình, đất nước và bạn bè” của nguyên Phó Chủ tịch nước Nguyễn Thị Bình sẽ tìm thấy một lời khuyên giản dị của bà. Đó là: điều gì có lợi cho đất nước thì nên làm, điều gì có hại thì không nên./.

Mỹ Trà/VOV- Trung tâm tin
vov.vn

Đại sứ quán Việt Nam tại Mỹ tọa đàm về Hiệp định Paris

(VOV) – Tại buổi tọa đàm, các diễn giả đã trình bày khái quát về tiến trình đàm phán, kết quả và ý nghĩa lịch sử của Hiệp định Paris.

Ngày 18/1, Đại sứ quán Việt Nam tại Mỹ đã tổ chức buổi tọa đàm nhân dịp kỷ niệm 40 năm ngày ký “Hiệp định chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam” (27/1/1973-27/1/2013), gọi tắt là Hiệp định Paris.

Đại sứ Việt Nam tại Mỹ Nguyễn Quốc Cường phát biểu tại buổi tọa đàm

Tại buổi tọa đàm, các diễn giả đã trình bày khái quát về tiến trình đàm phán, kết quả và ý nghĩa lịch sử của Hiệp định Paris. Diễn ra trong 4 năm 8 tháng 16 ngày, với 202 phiên họp công khai tại Trung tâm Hội nghị Quốc tế Kléber và 36 phiên gặp riêng cấp cao tại nhiều địa điểm khác nhau ở Paris (Pháp), đây là một trong những cuộc đàm phán dài nhất và cam go nhất trong lịch sử ngoại giao Việt Nam.

Hiệp định Paris năm 1973 có ý nghĩa rất to lớn đối với cách mạng Việt Nam. Việc thực hiện Hiệp định Paris đã góp phần quan trọng vào sự nghiệp giải phóng miền Nam tháng 4/1975 và công cuộc thống nhất đất nước. Nhiều bài học trong đàm phán đã được các đại biểu ôn lại như bài học về tranh thủ thời cơ, bài học về kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại, bài học về kết hợp giữa ngoại giao và quân sự,….

Phát biểu kết luận buổi tọa đàm, Đại sứ Việt Nam tại Mỹ Nguyễn Quốc Cường khẳng định, 40 năm đã trôi qua nhưng ý nghĩa lịch sử của Hiệp định Paris vẫn còn nguyên giá trị. Đại sứ đề nghị các cán bộ Đại sứ quán và các cơ quan bên cạnh đại sứ quán vận dụng linh hoạt, sáng tạo những bài học kinh nghiệm từ cuộc đàm phán Paris vào thực tiễn công tác, góp phần vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam XHCN; thúc đẩy mối quan hệ hợp tác giữa Việt Nam và Mỹ trong tình hình mới./.

Huy Hoàng/VOV – Washington
vov.vn

“Cuộc đàm phán dài nhất lịch sử” – Kỳ cuối: Thắng lợi

Đến cuối tháng 9/1972, chỉ còn hai tháng nữa là đến ngày bầu cử tổng thống Mỹ. Đây là thời cơ thuận lợi để ép Mỹ đi vào đàm phán thực chất. Đồng chí Lê Đức Thọ, cố vấn đặc biệt của Đoàn Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đã mang từ trong nước sang “Dự thảo Hiệp định Paris về chấm dứt chiến tranh và lập lại hòa bình ở Việt Nam”. Chúng tôi được thông báo nội dung Dự thảo Hiệp định đã được Bộ Chính trị trong nước cân nhắc rất kỹ.

Bộ trưởng Xuân Thủy (phải) và ông Hariman, Bộ trưởng Ngoại giao Hoa Kỳ (trái) tại cuộc họp báo sau Phiên thứ 27 Cuộc nói chuyện chính thức giữa đại diện Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và đại diện chính phủ Hoa Kỳ ở Pari ngày 23/10/1968.

Từ ngày đầu cuộc đàm phán đến tháng 9/1972, lập trường của Việt Nam luôn nhấn mạnh hai nội dung cơ bản, được coi là giải pháp “cả gói”: Mỹ phải rút quân hoàn toàn vô điều kiện ra khỏi miền Nam Việt Nam và phải xóa bỏ chính quyền Sài Gòn do Mỹ dựng lên, hai vấn đề này phải gắn chặt với nhau. Dự thảo Hiệp định lần này, ta chủ động nhấn mạnh việc Mỹ phải rút quân hoàn toàn ra khỏi miền Nam, chấm dứt chiến tranh, song nới lỏng yêu cầu vấn đề chính trị ở miền Nam Việt Nam.

Khi biết được nội dung cụ thể của Dự thảo Hiệp định, một số đồng chí trong đoàn Chính phủ Cách mạng Lâm thời chúng tôi cũng có những băn khoăn. Liệu để lại vấn đề chính trị ở miền Nam thì Mỹ có chịu rút quân thực sự không? Có thể chấm dứt chiến tranh không? Kinh nghiệm ở Lào cho thấy sau Hiệp định Genève 1962 vì chấp nhận chính phủ liên hiệp nhiều thành phần mà đã dẫn đến nội chiến. Và còn hàng chục vạn anh chị em tù chính trị của ta, có đảm bảo họ được thả và an toàn không? Chúng tôi phải trao đổi với nhau nhiều ngày, hình dung tình hình miền Nam sau rút quân… sẽ như thế nào? Nhưng rồi mọi người cũng hiểu việc quân Mỹ rút hoàn toàn ra khỏi miền Nam là vấn đề mấu chốt.

Trong hơn 2 tháng giữa đồng chí cố vấn Lê Đức Thọ, Bộ trưởng Xuân Thủy và ông Henry Kissinger cố vấn đặc biệt của Tổng thống Nixon, có những cuộc tranh cãi “nảy lửa”, xung quanh bản Dự thảo Hiệp định Paris. Lúc đó, dư luận quốc tế, nhất là ở Paris, nói nhiều về ông cố vấn, đặc biệt là Kissinger, như là một nhà ngoại giao khôn ngoan, có kinh nghiệm về đàm phán chính trị… Có người hỏi tôi gặp ông Kissinger không? Sự thật là tôi gặp ông nhiều lần nhưng mà “gián tiếp”, trong các cuộc đối thoại giữa hai ông cố vấn, khi nói đến lập trường của Chính phủ Cách mạng Lâm thời miền Nam Việt Nam, chỉ một lần tôi và ông ấy trực tiếp nói chuyện với nhau là khi Hiệp định Paris được ký kết xong, để nâng cốc sâm – panh, chúc mừng hòa bình!

Đến đầu tháng 10/1972, hai bên đã thỏa thuận về cơ bản một dự thảo và dự định đến ngày 30/10 sẽ ký Hiệp định Paris nhằm chấm dứt chiến tranh. Những ngày này hai đoàn đàm phán chúng tôi hoạt động rất nhộn nhịp. Đoàn miền Nam tăng cường các cuộc tiếp xúc để làm rõ thêm lập trường của ta, tố cáo địch ngoan cố muốn kéo dài chiến tranh. Nhiều đại biểu các nước muốn biết kết quả của các tiếp xúc “bí mật”. Chúng tôi vừa phấn khởi, vừa lo lắng… Quả nhiên đến đầu tháng 11/1972, khi Nixon thắng cử, thì ông ta liền lật lọng, đòi sửa lại nội dung Hiệp định. Và để buộc Việt Nam chấp nhận, ông ta đã tiến hành cuộc không kích tội ác liên tục 12 ngày đêm, từ ngày 18/12 đến ngày 31/12, bằng B52 xuống Hà Nội, Hải Phòng.

Khi nghe Mỹ dùng B52 oanh tạc thủ đô và các thành phố lớn của ta, chúng tôi thực sự lo. B52 là máy bay giội bom hiện đại nhất của Mỹ, bay cao trên 10 km, có hệ thống máy bay chiến đấu hỗ trợ và gây nhiễu khiến rađa của ta khó phát hiện, tên lửa khó bắn trúng… Các bạn ở Pháp và các nước cũng đều lo lắng cho chúng ta, liệu lần này ta có chống cự được không? Đây là đòn đánh phản trắc và quyết liệt nhất của Mỹ. Ngày 21/12, chúng tôi tuyên bố ngừng đàm phán để phản đối. Đó là những ngày vô cùng căng thẳng.

Chúng tôi hồi hộp theo dõi tình hình trong nước. Đến khi nghe tin chiếc máy bay B52 đầu tiên bị bắn rơi ở Hải Phòng, rồi ở Hà Nội, liên tiếp bắn rơi một, hai, ba máy bay B52… chúng tôi vui mừng khôn xiết, tin rằng cuộc oanh kích cực kỳ dã man này của kẻ thù nhất định bị quân đội và nhân dân anh hùng của chúng ta đánh bại. Ngoài việc lo cho cái chung, tất cả anh chị em trong đoàn, nhất là các chị, đều hồi hộp theo dõi nghe ngóng các trận mưa bom B52 có rơi vào khu vực người thân mình đang sống không? Riêng tôi, khi nghe tin Mỹ giội bom trúng thị xã Hưng Yên, một thị xã nhỏ cách Hà Nội khoảng 30 km, tôi bàng hoàng lo lắng, không biết các con tôi có thoát khỏi nguy hiểm không? May quá, vài ngày sau, các đồng chí trong nước báo tin các con tôi đều an toàn. Tôi thở phào!

Tôi được gọi về nước cấp tốc. Đến Trung Quốc tôi gặp Chủ tịch Mao Trạch Đông và một số lãnh đạo khác của Trung Quốc. Chủ tịch Mao nói: “Sao các đồng chí Việt Nam phản ứng mạnh như vậy? Rồi Mỹ sẽ ra đi thôi”. Tôi không hiểu ý của Chủ tịch nên cũng không trả lời. Giữa đêm 30/12, tôi về Hà Nội, được tin Mỹ tuyên bố sẽ chấm dứt ném bom.

Mỹ đã cay đắng thấy rằng cả B52 cũng không thể làm nhụt ý chí của nhân dân ta. Trái lại, ngoài thất bại quân sự, tổn thất nặng nề về B52, thất bại chính trị của Mỹ còn lớn hơn. Cả thể giới lên án Mỹ. Chính phủ Anh, đồng minh thân cận nhất của Mỹ cũng ra tuyên bố “đáng tiếc” trước hành động này của Mỹ.

Sau này, tôi được biết từ những năm 1960, Hồ Chủ tịch đã nói: “Kinh nghiệm ở Triều Tiên, Mỹ cuối cùng sẽ dùng B52 để đe dọa chúng ta. “Và theo sự chỉ đạo của Bộ Quốc phòng, từ đó quân đội ta đã nghiên cứu cách hạ máy bay B52. Quả là Bác đã nhìn xa và quân đội ta thật anh hùng, thông minh.

Ngày 21/1/1973, tôi trở lại Paris, thời tiết Paris bớt lạnh, nắng đẹp. Ngày 23/1/1973 đồng chí Lê Đức Thọ và Henri Kissinger ký tắt vào văn bản Hiệp định. Và Hiệp định Paris được ký kết. Đòi hỏi dai dẳng từ đầu của Mỹ “Hai bên cùng rút quân (quân Mỹ và quân miền Bắc)”, cái gọi là “có đi có lại” đã thất bại. Phải ký Hiệp định hòa bình với Chính phủ Cách mạng Lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam rõ ràng Mỹ không còn con đường nào khác. Chúng ta đã đạt được thắng lợi to lớn, quan trọng, Mỹ phải rút hết đi, còn quân Việt Nam vẫn ở trên đất Việt Nam.

Trong lòng tôi, một cảm xúc mãnh liệt, bên cạnh một cảm giác bình thản, vì đinh ninh cái gì phải đến, tất sẽ đến.

Ngày 27/1/1973, ngày ký kết Hiệp định Paris, có một ý nghĩa lịch sử to lớn đối với dân tộc. Đối với mỗi chúng tôi trong đoàn cũng là ngày không thể quên trong cả cuộc đời.

Tất cả các báo trên thế giới để đưa lên trang nhất sự kiện trọng đại này. Mọi người yêu hòa bình và công lý trên thế giới đều hồ hởi như chính mình đã chiến thắng.
Đêm 26 tháng Giêng, trong cả hai đoàn hầu như không ai ngủ, mọi người đều khẩn trương chuẩn bị cho công việc sẽ làm trong ngày hôm sau.

Sáng 27/1/1973, phòng hội nghị Kléber rực sáng ánh đèn. Trước nhà hội nghị, hàng vạn người – kiều bào ta, bạn bè Pháp và các nước – vẫy chào chúng tôi giữa một rừng cờ đỏ sao vàng và cờ nửa đỏ nửa xanh. Tôi bước và phòng họp, rất hồi hộp… Đúng 10 giờ, bốn Bộ Trưởng Ngoại giao của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (Nguyễn Duy Trinh), Chính phủ Cách mạng Lâm thời miền Nam Việt Nam (Nguyễn Thị Bình), Mỹ (William P. Rogers), Cộng hòa miền Nam (Trần Văn Lắm) ngồi vào bàn. Mỗi người ký vào 32 văn bản của Hiệp định.

Đặt bút ký văn bản Hiệp định Paris lịch sử, tôi vô cùng xúc động, nghĩ đến đồng bào, đồng chí, đến bạn bè ở cả hai miền Nam Bắc… Khi nhớ đến những người không còn nữa để biết được sự kiện này, tôi trào nước mắt. Tôi đã được thay mặt nhân dân và các chiến sĩ cách mạng miền Nam Việt Nam làm nhiệm vụ đấu tranh trực diện với Mỹ tại Paris, được thấy niềm tự hào vinh quang cùng với ân tình sâu đậm mà cả thế giới dành cho cuộc chiến đấu anh dũng của nhân dân ta. Vinh dự đó đối với tôi thật quá to lớn. Tôi không có đủ lời để nói lên được lòng biết ơn vô tận đối với đồng bào và chiến sĩ ta từ Nam chí Bắc đã chấp nhận mọi hy sinh dũng cảm chiến đấu để có được thắng lợi to lớn hôm nay, biết ơn Bác Hồ và cảm ơn các đồng chí lãnh đạo Đảng, Mặt trận và Chính phủ Cách mạng Lâm thời đã tin cậy giao cho tôi nhiệm vụ khó khăn nhưng rất vẻ vang này. Tôi muốn nói lời cảm ơn sâu sắc bà con Việt kiều tại Pháp và các nước xung quanh, cảm ơn bạn bè quốc tế đã hết lòng vì cuộc chiến đấu của chúng ta, cảm ơn sự đoàn kết cộng tác của tất cả anh chị em trong hai đoàn đàm phán và các cơ quan, đoàn thể của ta ở Paris. Và tôi nghĩ đến gia đình, đến chồng con…

(Trích hồi ký của nguyên Phó Chủ tịch nước Nguyễn Thị Bình)
baotintuc.vn

————————

Tin liên quan: