Thư viện

Cơ động linh hoạt, đón đánh hiệu quả

Kỷ niệm 40 năm Chiến thắng “Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không” (12-1972 / 12-2012)

QĐND – Vừa ra đời, còn non trẻ, nhưng chỉ 7 năm sau, bộ đội tên lửa Việt Nam đã chủ động nghênh chiến, giáng trả đích đáng cuộc tập kích đường không ồ ạt của “pháo đài” bay B-52 vào Hà Nội tháng 12-1972… Bài học từ chiến dịch 12 ngày đêm rất phong phú, trong đó có một bài học mà cho đến nay, không chỉ với LLVT nhân dân Việt Nam, mà quân đội nhiều quốc gia vẫn đang dày công nghiên cứu, phát triển, đó là cơ động để đánh thắng.

Cơ động nghi binh “gài bẫy”

Mỹ gọi là SAM-2, nhưng người Nga đặt tên từ lúc khai sinh cho tên lửa này là CA-75 Dvina.

Tham gia giành chiến thắng trận đầu cho binh chủng tên lửa phòng không của Việt Nam, Dvina đã diệt một máy bay F4C hiện đại của không quân Mỹ ở độ cao 7000m vào tháng 7 năm ấy.

Nhờ tính năng cơ động tốt, các tiểu đoàn tên lửa của Việt Nam ngay trong đêm đã bí mật cơ động rời trận địa. Các chiến sĩ tên lửa thông minh đã nhanh chóng thu hồi bộ vũ khí rất cồng kềnh, với hàng chục xe đại xa, mỗi xe nặng hàng chục tấn, rút khỏi trận địa lặng lẽ như hôm họ lặng lẽ, trật tự tới đây.

Bộ đội tên lửa đưa đạn vào bệ phóng. Ảnh minh họa/tư liệu.

Cơ động không chỉ để bảo toàn, phòng tránh, mà là để “giăng bẫy”. Ngày sau, thêm 3 máy bay của Mỹ tiếp tục phải đền tội, khi chúng định thực hiện đòn trả đũa tên lửa Việt Nam, ngay chính trên trận địa còn khét lẹt mùi thuốc phóng Dvina. Rất khôi hài là những trái đạn giả ngày hôm sau làm toàn bằng cót tre, đã nhử hàng đàn máy bay vào làm mồi cho đạn pháo tầm thấp.

Trong suốt 7 năm chiến đấu với không quân chiến thuật, chiến lược Mỹ, tên lửa Việt Nam đã thực hiện hàng trăm lần cơ động. Gần thì chục cây số, xa thì ngót ngàn cây số, từ miền Bắc vào tận Cồn Tiên, Dốc Miếu, chiến trường Quảng Trị, để lại những bài học quý giá về cơ động đánh địch. “Khúc ruột miền Trung” không chỉ dài, mà cứ 20 cây số lại có một con sông. Cơ động khí tài nặng nề trong chiến tranh, dưới bom đạn tuyến lửa qua sông, qua phà không hề dễ dàng.

Cơ động “tìm diệt” trong tuyến lửa

Sĩ quan điều khiển Võ Trí Trư, một người đã tham gia đánh AC-130 ở Quảng Trị, trong đội hình Trung đoàn 238, anh nhiều lần nói với chiến sĩ trẻ, khí tài tên lửa CA-75 thuộc dòng “công tử”, hiện đại, rất “khó chiều”. Mỗi khi hành quân, việc thu hồi rất tốn công sức, thời gian. Phải dùng xe cẩu từng mô-đun ăng-ten, hạ xuống êm nhẹ, rồi quay tời, kích bệ, tháo lắp hàng trăm đầu cáp nguồn, cáp tín hiệu. Tới trận địa mới, lại cẩu, lại kích, lại định hướng ăng-ten… phải hiệu chỉnh hàng loạt các thông số cơ khí, định vị, mã-cốt… cấp nguồn, kiểm tra đồng bộ đài-bệ-đạn…

Khí tài khi hành quân dễ bị rung, xóc do cơ động, hay bị ẩm ướt do khí hậu nhiệt đới gây chập cháy, sai lệch tham số… Đưa được một bộ khí tài vào trận địa tuyến lửa phải mất hàng tháng trời, đã có nhiều hy sinh, tổn thất.

Tiểu đoàn 67, Trung đoàn 236, trên cung đường 100km phải hành quân nhích từng cây số, mất hai tháng trời. Tiểu đoàn này bị địch chặn đánh 21 lần, trong đó một lần bị B-52 rải thảm làm hỏng xe khí tài, hệ thống dẫn sóng, thiệt hại 4 xe chở đạn tên lửa, cả xe chở dầu, nhiều xe kéo. Không ít chiến sĩ thương vong.

Nhờ tổ chức cơ động tốt, dẫu bệ đạn, xe khí tài rất nặng nề, dọc đường qua phà, qua ngầm, có lúc tên lửa phải rọi đèn “rùa” đưa từng xe đạn vào trận địa lúp xúp cây dại vùng giới tuyến quân sự… nhưng vượt qua bom đạn cày đạn xới, theo vệt xích bệ phóng, chiến sĩ tên lửa đã triển khai khí tài hiện đại, tìm diệt, bắn rơi B-52 ở chiến trường, rút ra bài học quý bắn máy bay B-52 trong nhiễu.

Đối đầu với loại máy bay chuyên bắn chặn xe cơ giới AC-130, các bệ phóng tên lửa đã cuộn xích, cơ động tìm trận địa lợi thế, liên tiếp trong hai tháng, bắn rơi 3 chiếc AC-130, khiến địch không dám bén mảng dò tìm, đánh phá. Xe của đoàn 559 lại vượt cung, băng tuyến, chạy suốt ngày đêm chở hàng vào tiền tuyến.

Cơ động đánh trả B-52

Lực lượng không quân nhà nghề Mỹ biết rõ tính năng lợi hại của tên lửa CA-75 Dvina. Trong chiến dịch Lai-nơ-bếch-cơ II, tập kích vào Hà Nội, tháng 12-1972, chưa nói đến hệ thống gây nhiễu, chỉ nói đến đội hộ tống của không quân chiến lược B-52, lực lượng này rất chú tâm xăm xoi trận địa Dvina để đánh phá. Qua 2 đêm đầu oanh tạc, nhận thấy đối thủ đe dọa lớn nhất đối với B-52 là tên lửa chứ không phải không quân, Bộ chỉ huy 57 của Mỹ ở Thái Bình Dương ra lệnh cho các liên đội không quân chiến thuật tập trung các loại máy bay cường kích F4, F105, F111 săn lùng gắt gao các trận địa tên lửa để chế áp, dọn sạch đường bay cho B-52 đột nhập không phận Hà Nội.

Phải nói đến loại tên lửa cao tốc dòng Shrike, chuyên bắn phá khí tài vô tuyến điện tử. Năm 1967, tập đoàn không quân số 7 của Mỹ ở Thái Bình Dương “tiêu tốn” 1.322 quả Shrikes ở Bắc Việt Nam. Đầu năm 1968, tên lửa tìm diệt ra-đa loại mới AGM-78 được đưa tới. Nó bay nhanh hơn và xa hơn Shrike, đắt gấp 10 lần, hai trăm nghìn USD/quả. Đây là những vũ khí diệt Dvina khá nguy hiểm. Nhưng “gần 150 bệ phóng Dvina, quây tụ thành những nhóm tối đa 6 bệ tại khoảng 30 trận địa, Bắc Việt đã di chuyển bệ phóng một cách thường xuyên, đến nỗi máy bay Mỹ tấn công một trận địa tên lửa có thể chỉ gặp phải súng phòng không hạng nặng”(Tài liệu của Không quân Mỹ).

Còn các nhà khoa học quân sự Nga là Đại tá, Tiến sĩ Alexcander Malgin Giáo sư Viện Hàn lâm quân sự, giảng viên Viện khoa học phòng thủ hàng không vũ trụ Liên bang Nga; Đại tá, Tiến sĩ Mikhain Malgin Chuyên viên Viện nghiên cứu khoa học quân sự Bộ Quốc phòng Liên bang Nga đã tổng hợp như sau: “Đợt tấn công thứ 1 chiến dịch Lai-nơ-bếch-cơ II, không quân chiến thuật Mỹ đã tập kích 12 đòn tấn công vào trận địa tên lửa gây tổn thất cho 7 phân đội (trung bình hai bệ phóng chịu một tên lửa Shrike). Các tiểu đoàn đã di chuyển 6 lần để đánh trả”.

Đợt 2 hệ số cơ động của các đơn vị tên lửa tăng cao, 12 lần cơ động sang vị trí mới (tương đương khoảng 4 lần cơ động trong một tháng).

Đợt 3 Mỹ đã tấn công vào các trận địa tên lửa 55 lần, 20 phân đội bị tổn thất, trong đó có 8 khẩu đội bị trúng tên lửa Shrike. Trong đợt này, các đơn vị tên lửa đã 20 lần cơ động trận địa, khiến hiệu quả đánh trúng hạ xuống rất thấp”. Không còn sự minh chứng nào xác thực hơn về ý thức cơ động để bảo toàn và đánh thắng của bộ đội tên lửa.

Nếu tính cả năm 1972 đầy thử thách, năm mà Ních-xơn chủ trương đánh phá ồ ạt, sử dụng cả bom la-de, tên lửa cao tốc cải tiến loại mới Standard AGM-78 có đầu dẫn dải rộng, nhớ tọa độ mục tiêu, tấn công các trận địa tên lửa 200 lần. Các đơn vị tên lửa phải cơ động rút khỏi trận địa 98 lần, nhờ cơ động tốt, hiệu quả tấn công của địch giảm xuống rất thấp.

Chỉ tính trong khoảng thời gian 6 tháng, từ tháng 3 đến tháng 10 năm 1972, Mỹ tấn công vào các trận địa tên lửa 166 lần. Tính chung tên lửa di chuyển trận địa, trung bình 4 đến 5 lần trong một tháng. Đó là tần suất cơ động rất cao với khí tài nặng nề, cồng kềnh, mà vẫn bảo đảm tham số để chiến đấu. Công lao này thuộc về đội ngũ kỹ sư, kỹ thuật viên dày dạn kinh nghiệm của chúng ta.

Một hành động quả cảm, không thể quên, đó là giữa năm 1972, tại trận địa Kép Hạ, Lục Ngạn, Hà Bắc, Thượng úy Kharitonop, một chuyên gia kỹ thuật người Nga, đang sửa khí tài cho Tiểu đoàn 72, thì bị máy bay Mỹ bắn vào trận địa, Kharitonop bị thương. Chính trị viên phó tiểu đoàn Nguyễn Long Hiếu kể lại, anh đã cùng đơn vị động viên bộ đội đến bệnh viện tiếp máu cho Kharitonop. Nhưng vết thương quá nặng, Thượng úy Kharitonop đã anh dũng hy sinh trong niềm tiếc thương vô hạn của cán bộ, chiến sĩ Tiểu đoàn 72 đoàn Nam Triệu.

Trong 12 ngày đêm xáp mặt với B-52, Sư đoàn 361 đã chỉ đạo các đơn vị tên lửa vùng Hà Nội thường xuyên cơ động, đánh trả địch tại các trận địa, đến nỗi không còn khái niệm trận địa cơ bản, trận địa dự bị. Bởi tại trận địa dự bị, tên lửa cũng lập công xuất sắc.

Trong khoảng 7 năm, tên lửa Dvina tại Việt Nam đã cơ động hàng trăm lần, tham gia đánh 3.452 trận, phóng 5.885 quả đạn, bắn rơi 788 máy bay các loại hiện đại của không quân Mỹ, trong đó có 366 chiếc rơi tại chỗ. Tháng 12-1972, có 29 chiếc máy bay B-52 bị tên lửa ta bắn rơi. Xác suất trúng rất cao, một đạn tên lửa trung bình hạ 0,34 máy bay.

Cơ động tên lửa thời hiện đại

Từ những kinh nghiệm cơ động đánh địch thắng lợi, lý luận quân sự Việt Nam đã khẳng định cơ động lực lượng là một nội dung quan trọng trong hoạt động tác chiến chiến dịch phòng không, nhằm mục đích tạo lập và chuyển hóa thế trận có lợi, bảo toàn lực lượng, tạo bất ngờ, chớp thời cơ đánh trả có hiệu quả các đòn tiến công đường không, bảo vệ vững chắc mục tiêu, hoàn thành nhiệm vụ chiến dịch.

Quá trình cơ động, có thể vận dụng phương pháp cơ động lần lượt; thậm chí chỉ cơ động một phần khí tài chủ yếu, đồng thời, phối hợp chặt chẽ với cơ động nghi binh, lừa địch, bảo đảm cơ động an toàn, đánh thắng. Thật ý nghĩa khi từ trận đầu tiên, bộ đội tên lửa Việt Nam ra quân, đã thực hiện tốt hành động tác chiến đầy hiệu quả này.

Cơ động để đánh địch tập kích đường không, những giá trị phổ biến của nghệ thuật quân sự đã trở thành lý luận chung cho nhiều quốc gia. Vấn đề còn lại là ý chí quyết thắng và sự sáng tạo không ngừng của người sử dụng vũ khí đó. Điều này, những chiến binh tên lửa Việt Nam đã tự tin cơ động, nghênh chiến đánh thắng ngay từ những tháng năm vừa mới ra đời.

TRẦN DANH BẢNG
qdnd.vn

Điều chỉnh “giảm tín, giảm tạp”, lộ mặt B-52

QĐND – Đại đội 12, Trung đoàn ra-đa 290 và Đại đội 16, Trung đoàn ra-đa 291, qua nhiều năm trực chiến đã rèn luyện được nhiều kíp trắc thủ giỏi. Đồng chí Nguyễn Văn Hòa, quê làng Bát Tràng Hà Nội, nguyên trắc thủ ra-đa Đại đội 12 kể: Hầu hết anh em trong đài ra-đa của đơn vị “nhắm mắt” cũng đọc thuộc các tọa độ có hàng trăm tín hiệu địa vật, dễ làm cho ta lẫn với tín hiệu máy bay bay thấp.

Tối 18-12-1972, đại đội của đồng chí Hòa đã phát hiện sớm máy bay B-52 trên hành lang bên kia dãy Trường Sơn, từ hướng Tây bay về phía Bắc Lào, đó là nhờ các trắc thủ biết điều chỉnh các núm, nút trên mặt máy, sao cho tín hiệu máy bay hiện ra rõ nhất, dù trong khoảnh khắc rất ngắn.

Loại ra-đa P-35, từng được bộ đội ta sử dụng hiệu quả trong chiến dịch phòng không 12 ngày đêm cuối năm 1972.

Tại một trận địa ở Nghệ An, các trắc thủ ra-đa P-35 Nguyễn Văn Cầu và Nguyễn Văn Xích tập trung cao độ. Tháng 12-1972, ra-đa P-35 còn lại ở đại đội đều trực chiến tốt, với 6 máy thu, 6 cánh sóng chồng lên nhau. Khi máy bay B-52 bay vào, tín hiệu nhiễu của “bầy đàn” B-52 quá mạnh, khiến cho màn hình trắng xoa. Rút kinh nghiệm, các anh chỉ mở một máy thu, điều chỉnh hệ cơ khí “chúc, ngẩng” ăng-ten cho búp sóng máy thu ở góc phát hiện B-52 tốt nhất (ta phán đoán chúng bay ở độ cao từ 9 đến 12km). Sau đó các anh khéo léo điều chỉnh giảm độ khuyếch đại máy thu, để kéo tín hiệu nhiễu xuống thấp nhất. Quả nhiên, trong nền nhiễu giảm, bất ngờ xuất hiện tín hiệu B-52. Các anh đồng thanh đọc to các tọa độ để đài trưởng Tích và đại đội trưởng Nguyễn Văn Thuần phân tích nhanh rồi khẳng định B-52 sẽ đánh vào Hà Nội. Đại đội trưởng Thuần kể: Giảm khuyếch đại máy thu mà vẫn nhận ra B-52, phải là trắc thủ giỏi mới dám làm, vì muốn giảm tín hiệu nhiễu xuống nhiều lần, thì cũng phải giảm khuếch đại máy thu xuống một phần.

Trong đêm 18-12, Tham mưu phó binh chủng ra-đa Hứa Mạnh Tài trực ở Hà Nội đã trao đổi trực tiếp với đại đội trưởng Thuần những nội dung chỉ đạo quan trọng. Cựu chiến binh Tài, nhà ở phố Phan Huy Ích Hà Nội, khi còn sống, ông từng đến Báo Quân đội nhân dân kể lại: “Tôi rất thận trọng khi Đại đội 45 báo cáo trực tiếp phát hiện B-52. Tôi rất tin ở anh em trắc thủ, họ tinh mắt, nhạy cảm và thông minh. Những lần vào thăm Đại đội 45, nhìn họ điều chỉnh các núm, nút để triệt nhiễu “giảm tín, giảm tạp”, tôi biết anh em đã rất “nhuyễn” nội dung thao tác. Ông còn suýt xoa tiếc rẻ, giá còn một số đài ra-đa đo cao PRV-11, “nó” chắc chắn cũng lập công, vì đài này công suất phát sóng cao, nếu nó trực, cánh sóng hẹp của nó rất lợi hại. Nhưng các đài này bị tên lửa cao tốc standard Mỹ bắn hỏng khá nhiều, ta sửa chữa không kịp.

Các đài ra-đa của các Trung đoàn 290 và 291 đã báo động sớm cho Hà Nội truớc khoảng 35 phút, để tên lửa, pháo phòng không đĩnh đạc chờ địch vào để “khai hỏa”.

Năm 1973, các anh Nguyễn Văn Cầu và Nguyễn Văn Xích được ra Sơn Tây, học ở Trường Sĩ quan Phòng không. Nguyễn Văn Cầu ở lại trường làm giáo viên ra-đa. Nguyễn Văn Xích về làm cán bộ tại Trung đoàn 290. Năm 1976 anh Xích là chỉ huy Trạm ra-đa 41-SơnTrà, sau khi Đà Nẵng giải phóng

Bài và ảnh: TRẦN DANH BẢNG
qdnd.vn

Tổ chức sơ tán và phòng tránh hiệu quả

QĐND – Để chủ động thực hiện tốt nhiệm vụ đánh thắng cuộc tập kích chiến lược của Không quân Mỹ bằng máy bay B-52 vào Hà Nội, Bộ tư lệnh chiến dịch phối hợp chặt chẽ với Thành ủy Hà Nội, chủ động tổ chức tốt công tác sơ tán và phòng tránh cho nhân dân, nội dung trọng tâm gồm: Tổ chức vận động nhân dân sơ tán ra khỏi các trọng điểm đánh phá; củng cố và xây dựng hệ thống hầm hố trú ẩn; tổ chức tốt hệ thống thông tin – thông báo, quan sát báo động; triển khai các phương án cứu hỏa, cứu sập, cứu thương, khắc phục hậu quả.

Trạm cấp cứu phòng không cơ động phục vụ chiến đấu. Ảnh tư liệu.

Trên cơ sở kế hoạch, phương án đã dự kiến, Thành ủy Hà Nội chủ động sơ tán trước 25.000 dân. Ngày 18-12-1972, trước khi máy bay B-52 bắt đầu đánh Hà Nội, cấp ủy, chính quyền các cấp kịp thời phối hợp với ngành giao thông – vận tải huy động gấp 370 ô-tô các loại, nhanh chóng sơ tán 30.000 dân ở các khu vực trọng điểm ra nơi an toàn. Trong thời gian ngắn, ta đã sơ tán 92% nhân dân ra khỏi khu vực có thể bị đánh phá, hạn chế thiệt hại; đồng thời, bố trí 450 trạm, đài quan sát, 36 còi báo động, hệ thống cấp cứu phòng không bốn tuyến với 240 trạm, đội cấp cứu sẵn sàng phục vụ chiến đấu.

Để sơ tán các kho hàng, nhà máy, xí nghiệp, Thành ủy Hà Nội chỉ đạo cấp ủy các cấp tổ chức và huấn luyện tốt cho các đơn vị dân quân, tự vệ, thanh niên xung phong, khi có tình huống thì sơ tán nhanh, gọn; đồng thời, đây cũng là lực lượng nòng cốt phối hợp với bộ đội, công an trong cứu hỏa, cứu sập, cứu thương, bảo vệ trị an các mục tiêu, khu phố… Nhờ chủ động làm tốt công tác sơ tán phòng tránh, ta đã hạn chế thấp nhất thiệt hại về người và tài sản trong quá trình chiến dịch.

TRẦN VĂN
qdnd.vn

Đêm 19-12-1972: 2 siêu pháo đài bay B-52 đền nợ máu

Nhật ký Chiến thắng B-52

QĐND Online – Sau cuộc chiến đấu ngày 18-12-1972, các lực lượng tham gia Chiến dịch đã kịp thời rút kinh nghiệm và hạ quyết tâm đánh mạnh hơn nữa, lập thành tích chào mừng Ngày toàn quốc kháng chiến 19-12.

Nhiều nước trên thế giới ra tuyên bố, hoặc điện tới Tổng thống Mỹ yêu cầu chấm dứt hành động dùng máy bay B-52 ném bom tàn phá Hà Nội, Hải Phòng và miền Bắc Việt Nam. Nhân dân nhiều nước trên thế giới và cả nhân dân Mỹ xuống đường biểu tình đòi chấm dứt chiến tranh Việt Nam.

Tên lửa, cao xạ trong Chiến dịch 12 ngày đêm tháng 12-1972

Đêm 19 rạng sáng 20-12, máy bay B-52 Mỹ tiếp tục ném bom Hà Nội, Hải Phòng. Riêng ở Hà Nội có 87 lần chiếc B-52 và hơn 200 lần chiếc máy bay cường kích ném 3 đợt bom xuống 68 điểm thuộc nội và ngoại thành.

20 giờ ngày 19-12, Tiểu đoàn 75 (Trung đoàn 261) do Tiểu đoàn trưởng Nguyễn Văn Phiệt chỉ huy đã phóng 2 quả đạn tên lửa. Kíp chiến đấu đã bình tĩnh thao tác chuẩn xác, hiệp đồng chặt chẽ. Quả đạn thứ nhất gặp mục tiêu ở cự ly 30km, quả thứ hai gặp mục tiêu ở cự ly 28km. Quả thứ hai vượt mục tiêu, lệnh hủy. Quả thứ nhất diệt mục tiêu, nhiễu tách. Vọng quan sát mắt của Tiểu đoàn báo cáo, máy bay B-52 bốc cháy.

Lúc 4 giờ 54 phút sáng 20-12, từ trận địa Cổ Loa (Đông Anh, Hà Nội), Tiểu đoàn 59 (Trung đoàn 261) phát hiện tốp 3 chiếc B-52 với cường độ nhiễu lớn. 5 giờ 2 phút, Tiểu đoàn trưởng Nguyễn Thăng ra lệnh phóng 2 quả đạn. Đạn có điều khiển, nổ tốt. Quả thứ nhất tiêu diệt mục tiêu, nhiễu tách, mất mục tiêu, B-52 rơi xa.

Như vậy, trong đêm 19 rạng sáng 20-12, Bộ đội Tên lửa tiếp tục tiêu diệt 2 siêu pháo đài bay B-52 của Mỹ.

HOÀNG HÀ (tổng hợp)
qdnd.vn

Đêm 18-12-1972: B-52 tan xác khi vừa mò vào Hà Nội

S-75 trên bầu trời Việt Nam (Tiếp theo và hết)

Hướng tới kỷ niệm 40 năm chiến thắng “Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không”

Cuộc chiến điện tử

QĐND – Theo tài liệu từ các chuyên gia Liên Xô (trước đây), bắt đầu từ tháng 9 và 10 năm 1967 trên màn hình của trạm điều khiển tên lửa bắt đầu xuất hiện những trường hợp đơn lẻ nhiễu chủ động trên kênh điều khiển tên lửa. Các kỹ thuật viên đã không thực sự chú ý đến hiện tượng này, mà cho đó là sự trùng hợp ngẫu nhiên. Việc địch phát hiện và gây nhiễu trên tần số điều khiển của tên lửa là rất khó có thể xảy ra, tần số điều khiển là chỉ số tuyệt mật của mỗi tổ hợp tên lửa. Việc phát hiện ra tần số này bằng trinh sát điện tử là rất khó. Tuy nhiên, nếu địch gây nhiễu trên tần số này các tổ hợp tên lửa của ta sẽ bị vô hiệu hóa, trạm điều khiển tên lửa sẽ bị “bịt mắt” không nhìn thấy các tên lửa của mình.

Ngày 15-12-1967, tình hình bất ngờ thay đổi theo chiều hướng không có lợi cho bộ đội tên lửa của ta. Tình huống ta không ngờ đến đã xảy ra, máy bay địch gây nhiễu hàng loạt vào tần số của đài điều khiển tên lửa. Các đài điều khiển bị vô hiệu hóa, tên lửa phóng lên mất điều khiển và rơi xuống. Theo thông tin thu thập được từ các phi công Mỹ bị bắt ta đã khẳng định máy bay địch được trang bị máy phát nhiễu chống tên lửa. Rõ ràng tần số điều khiển tên lửa đã bị lộ, rất có thể Mỹ đã lấy được tần số này sau khi phân tích tổ hợp tên lửa S-75 mà Israel chiếm được trong cuộc chiến 6 ngày tại Trung Đông tháng 6-1967. Vấn đề cấp bách đặt ra lúc này là, cần có những giải pháp kỹ thuật ngay lập tức để phục hồi khả năng chiến đấu của tên lửa phòng không.

Giải pháp đối phó duy nhất lúc bấy giờ là thay đổi tần số đài điều khiển. Mặc dù việc mở khí tài và thay đổi tần số lúc đó bị cấm vì lý do bảo mật, nhóm chuyên gia Liên Xô đã họp và quyết định tăng tần số của đài điều khiển thêm 3Mhz. Đại sứ Liên xô Sherbakov I.S. đã nhận hoàn toàn trách nhiệm về quyết định này. Tết dương lịch năm 1968 do thời tiết xấu, địch ngừng ném bom, ta đã có nhiều thời gian hơn để thay đổi lại tần số của các tổ hợp tên lửa. Các kỹ sư Liên Xô đã phụ trách một khối lượng công việc khổng lồ – thay đổi tần số, kiểm tra, thử nghiệm hoạt động của hàng nghìn tên lửa và đài điều khiển. Đầu năm 1968, Mỹ bắt đầu tấn công Hà Nội trở lại và tiếp tục bị bất ngờ, các thiết bị gây nhiễu của địch đã hoàn toàn không còn tác dụng, các tổ hợp tên lửa của ta đã sẵn sàng hoạt động trên tần số mới.

Tổ hợp tên lửa S-75 Dvina thừa sức tiêu diệt B-52 mà không cần “nối tầng”. Ảnh tư liệu.

Cùng với việc thay đổi tần số, nhiều cải tiến khác cũng đã được thực hiện nhằm tăng tầm hỏa lực, tăng khả năng chống nhiễu của tổ hợp tên lửa. Trong đó hiệu quả nhất là phương pháp điều khiển thụ động và kỹ thuật “phóng giả”. Phương pháp điều khiển thụ động giúp ta vô hiệu hóa tên lửa Shrike. Kỹ thuật “phóng giả” sử dụng máy phát tín hiệu mô phỏng theo tín hiệu phóng của tên lửa, máy bay địch khi phát hiện tín hiệu phóng lập tức thực hiện những kỹ thuật bay cơ động tránh tên lửa, phá vỡ đội hình chiến đấu và giúp ta phân biệt được trên màn hình ra-đa đâu là máy bay B-52.

Đối đầu với B-52

Năm 1972, sau 3 năm ngừng ném bom, Mỹ trở lại ném bom phá hoại miền Bắc lần thứ hai, đỉnh điểm là chiến dịch ném bom 12 ngày đêm vào Hà Nội, Hải Phòng và một số địa phương lân cận tháng 12-1972. Đây là chiến dịch ném bom lớn nhất trên thế giới kể từ sau Chiến tranh thế giới thứ hai. Địch đã huy động một lực lượng lớn không quân chiến thuật, không quân chiến lược và không quân từ tàu sân bay vào chiến dịch này. Máy bay ném bom chiến lược B-52 được dùng làm phương tiện tấn công chủ lực nhằm phá hoại các trung tâm công nghiệp lớn. Nhiệm vụ đánh trả B-52 được đặt lên vai của Binh chủng Tên lửa.

Cho đến năm 1972, các tổ hợp tên lửa S-75 của ta đã có nhiều cải tiến đáng kể, nhưng không có chuyện cải tiến để nối tầng tên lửa. Bởi lẽ việc nối tầng tên lửa là không cần thiết. Tên lửa S-75 tiêu diệt rất hiệu quả những mục tiêu ở tầm cao, máy bay do thám U-2 có tầm bay cao nhất thế giới lúc bấy giờ cũng đã bị tên lửa S-75 bắn rơi ở Liên Xô và Cu-ba. Để đánh được B-52 cần phải đối phó với nhiễu điện tử. Bay kèm B-52 là đội hình máy bay chiến đấu yểm trợ và máy bay tác chiến điện tử phát nhiễu, vì vậy nhiều đài ra-đa P-12 của tổ hợp tên lửa S-75 bị nhiễu nặng không thể phát hiện và bắt mục tiêu. Ta đã dùng loại ra-đa không bị địch gây nhiễu cải tiến ghép nối với đài điều khiển tên lửa, đảm bảo phát hiện kịp thời và tiêu diệt máy bay B-52.

Các chuyên gia quân sự Liên Xô giao lưu với các học viên trường Phòng không – Không quân dịp Tết dương lịch năm 1972. Ảnh tư liệu.

Một cải tiến quan trọng khác là việc lắp kính tiềm vọng trên an-ten của xe thu phát. Thiết bị ngắm quang học này còn có thể sử dụng để điều khiển bắn với phương pháp bắn 3 điểm mà không cần bật ra-đa. Bản chất của phương pháp bắn này là tên lửa được điều khiển sao cho 3 điểm – xe thu phát, tên lửa và mục tiêu luôn nằm trên một đường thẳng, vì vậy có thể ngắm bắn bằng phương pháp quang học, không cần bật ra-đa, chống được nhiễu điện tử và tránh được tên lửa tự dẫn Shrike. Tuy nhiên, hiệu quả bắn và độ chính xác của phương pháp này không cao. Bộ đội tên lửa ta đã sáng tạo thêm phương pháp bắn “vượt nửa góc”, thay vì nằm trên cùng 1 đường thẳng với mục tiêu, tên lửa bay đón trước mục tiêu nửa góc, đảm bảo bắn chính xác hơn, hiệu quả hơn. Tuy nhiên, phương pháp này đòi hỏi bộ đội phải được huấn luyện nhuần nhuyễn, có bản lĩnh, lòng dũng cảm, chủ động bật ra-đa “vạch nhiễu tìm thù”, đối phó kịp thời với tên lửa tự dẫn Shrike.

Tối 18-12-1972, những tốp B-52 đầu tiên cất cánh từ căn cứ Anderson tấn công miền Bắc. Chiến dịch 12 ngày đêm “Điện Biên Phủ trên không” mở màn. Tên lửa của ta đã chủ động sẵn sàng đón đánh địch và tiêu diệt máy bay B-52 ngay trong những ngày đầu tiên của chiến dịch. Theo số liệu từ các đơn vị tên lửa, trong suốt chiến dịch đã có gần 1.700 lượt máy bay đi vào vùng hoạt động của các tổ hợp tên lửa, trong đó 390 lượt là máy bay B-52. Tên lửa ta đã bắn 181 lượt và tiêu diệt 54 máy bay, trong đó có 31 máy bay B-52. Đây là một kết quả bắn xuất sắc. Trong các cuộc chạm trán sau này giữa tên lửa phòng không và máy bay ném bom, cho dù sử dụng các hệ thống tên lửa hiện đại hơn nhưng chưa có nước nào đạt được kết quả chiến đấu như thế.

Không quân Mỹ cũng chưa bao giờ phải chịu những thiệt hại lớn như vậy. Trong Chiến tranh thế giới lần thứ hai, tỷ lệ thiệt hại của không quân Mỹ là 9 máy bay trong 1000 lượt bay, trong chiến tranh Triều Tiên là 4 máy bay, còn trong tháng 12-1972 là 27 máy bay. Cùng thời gian này các tổ hợp tên lửa S-125 hiện đại hơn cũng đã bắt đầu được triển khai nhưng chưa kịp tham gia chiến đấu. Theo nhận định của các chuyên gia, nếu S-125 được triển khai kết hợp với S-75 thì không quân Mỹ chỉ có thể trụ được một tuần. Hãng tin AP đã nhận định: “Với tốc độ bị bắn rơi như thế này thì chỉ sau ba tháng, B-52 sẽ tuyệt chủng”.

Mức độ thiệt hại này khiến Mỹ buộc phải ngừng ném bom miền bắc. Chiến dịch ném bom “đưa miền Bắc về thời kỳ đồ đá” đã thất bại thảm hại, Mỹ buộc phải ngồi vào bàn đàm phán Pa-ri chấm dứt chiến tranh ở Việt Nam. Chiến thắng “Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không” và kết quả cuộc đấu tranh kiên cường, bất khuất của quân dân ta trên chiến trường miền Nam, đã mở ra bước ngoặt mới cho cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước của dân tộc ta. Chiến thắng “Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không” đã viết thêm những trang vàng trong truyền thống chống ngoại xâm của dân tộc ta. Không chỉ có ý nghĩa to lớn đối với dân tộc Việt Nam, Chiến thắng “Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không” còn góp phần tăng thêm sức mạnh thế tiến công trên toàn thế giới. 40 năm đã trôi qua, bài học chiến thắng “Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không” cho đến nay và mãi về sau vẫn còn nguyên giá trị.

—————–
Kỳ 1: S-75 trên bầu trời Việt Nam

PHÙNG KIM PHƯƠNG (*)
qdnd.vn

(*) Trong bài có sử dụng một số tài liệu của nhóm chuyên gia quân sự Liên Xô.

Họp mặt cựu chiến binh, bạn chiến đấu Sư đoàn phòng không 361

QĐND – Ngày 15-12, Ban liên lạc truyền thống Cựu chiến binh (CCB) Sư đoàn Phòng không 361 tổ chức gặp mặt nhân kỷ niệm 40 năm chiến thắng “Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không” và 68 năm ngày thành lập QĐND Việt Nam. Hơn 500 CCB là các tướng lĩnh, sĩ quan chỉ huy, cán bộ, chiến sĩ từng tham gia chiến đấu, công tác tại sư đoàn tham dự buổi họp mặt.

Sư đoàn Phòng không 361 (Đoàn phòng không Hà Nội) ra đời ngày 19-5-1965, lập nhiều chiến công oanh liệt, góp phần cùng quân và dân miền Bắc đánh bại chiến tranh phá hoại của đế quốc Mỹ. Đặc biệt, trong chiến dịch 12 ngày đêm năm 1972, cán bộ, chiến sĩ sư đoàn đã bắn rơi 30 máy bay các loại, trong đó có 25 pháo đài bay B-52, góp phần cùng quân và dân Thủ đô làm nên chiến thắng “Hà Nội – Biện Biên Phủ trên không”.

Mặc dù mỗi người ở một lĩnh vực, hoàn cảnh, nhưng tình cảm đồng chí, đồng đội của những năm tháng đánh Mỹ vẫn luôn thôi thúc các CCB sư đoàn quan tâm, giúp đỡ lẫn nhau, đặc biệt gần đây các CCB sư đoàn đã quyên góp xây dựng 3 nhà tình nghĩa, cùng nhiều sổ tiết kiệm giúp đỡ, ủng hộ các gia đình chính sách và bạn chiến đấu có hoàn cảnh khó khăn.

THU ANH
qdnd.vn

Hà Nội quật cường giữa thành phố mang tên Bác

Cầu truyền hình “Huyền thoại Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không”

QĐND – Tối 18-12-1972, đế quốc Mỹ chính thức mở cuộc tấn công quy mô lớn bằng không quân vào Hà Nội, Hải Phòng và một số vùng phụ cận. Từ ngày 18 đến ngày 29-12-1972, quân và dân Hà Nội, Hải Phòng đã bắn rơi 81 máy bay các loại của đế quốc Mỹ, trong đó có 34 máy bay B-52. Chiến công vĩ đại ấy đã được tái hiện sinh động trong chương trình cầu truyền hình “Huyền thoại Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không” diễn ra vào tối 18-12 do Bộ tư lệnh Quân chủng Phòng không – Không quân (PK-KQ) và Đài truyền hình TP Hồ Chí Minh phối hợp tổ chức.

Tham dự cầu truyền hình có các đồng chí: Trung tướng Mai Quang Phấn, Ủy viên Trung ương Đảng, Phó chủ nhiệm Tổng cục Chính trị; Trung tướng Võ Văn Tuấn, Phó tổng Tham mưu trưởng; bà Nguyễn Thị Quyết Tâm, Chủ tịch HĐND TP Hồ Chí Minh, cùng nhiều tướng lĩnh, anh hùng LLVTND, lãnh đạo các cơ quan, đơn vị và các cựu chiến binh.

Quang cảnh chương trình truyền hình “Huyền thoại Hà Nội – Điện Biên Phủ”.

Niềm tin chiến thắng B-52

Trước khi Cầu truyền hình “Huyền thoại Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không” bắt đầu, chúng tôi đã có dịp gặp gỡ và trao đổi với nhiều cựu chiến binh của Quân chủng PK-KQ đã từng tham gia chiến đấu, phục vụ chiến đấu trong 12 ngày đêm lịch sử và các cán bộ đang học tập, công tác ở nước ngoài thời gian đó. Trung tướng Trần Nhẫn, nguyên Tư lệnh Quân chủng Phòng không, nguyên Phó sư đoàn trưởng Sư đoàn 361 trong những ngày diễn ra chiến dịch đã ở tuổi 86, nhiều ngày qua ông mệt, có lúc phải ra Bệnh viện 175 để điều trị, nhưng vẫn cố gắng đến tham dự cầu truyền hình. Khi hỏi về niềm tin để chiến thắng B-52, ông hào hứng hẳn lên: “Chấp hành mệnh lệnh của trên, Đảng ủy Sư đoàn 361 đã nhạy bén ra nghị quyết lãnh đạo, trong đó nói rõ về tình hình của Hội nghị Pa-ri với những thủ đoạn lật lọng, lừa dối dư luận của phía Mỹ; nhận định địch sẽ đánh phá miền Bắc không như những lần trước, nhất định chúng sẽ sử dụng B-52 như tiên đoán của Bác Hồ, nên phải quyết tâm bắn hạ B-52”.

Trả lời phỏng vấn trên cầu truyền hình, Đại tá Lê Cổ – nguyên là sĩ quan huấn luyện chiến đấu tên lửa phòng không (Bộ Tham mưu PK-KQ) nhớ lại: “Từ năm 1967, khi B-52 đánh ở Bến Cát (Sông Bé), rồi đến đèo Mụ Giạ – đường 9 (Quảng Bình) và vươn ra Nghệ An, Thanh Hóa… quân chủng đã thành lập nhiều đoàn nghiên cứu chung về các loại máy bay Mỹ, mà chúng tôi đã gọi đùa là: Gánh hát rong”. Các đoàn nghiên cứu đã phải vượt qua bao đèo dốc hiểm trở, sống trong điều kiện vô cùng thiếu thốn và phải dầm mình vào các đợt mưa bom, bão đạn của kẻ thù để quan sát, trao đổi, tính toán và viết thành tài liệu đánh B-52. Tài liệu này lại được sự đóng góp, bổ sung của cán bộ, chiến sĩ tên lửa và trở thành cuốn sách “đỏ”. Chính “cẩm nang đỏ” ấy, cùng với quyết tâm bắn hạ B-52 bằng lòng dũng cảm và sự thông minh, sáng tạo tuyệt vời, quân và dân ta đã chiến thắng.

Đại tá, Anh hùng Không quân Vũ Ngọc Đỉnh, người đã bắn hạ 6 máy bay của Mỹ thời gian đó đang học ở Học viện Không quân Ga-ga-rin tâm sự: “Khi máy bay B-52 ném bom xuống Hà Nội và Hải Phòng, tôi và nhiều đồng chí khác đang học tập tại Liên Xô. Dù rất đau xót khi quê hương bị tàn phá, nhưng ai cũng tin rằng các đồng chí bộ đội tên lửa và không quân ở nhà sẽ hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ, nhất định B-52 sẽ bị bắn rơi trên bầu trời Hà Nội. Ngay tại cổng trường tôi học, nhà trường cho dựng một bản đồ điện tử, cập nhật mọi thông tin về cuộc chiến đấu của quân và dân ta chống lại không quân Mỹ; B-52 đánh vào đâu, bị bắn rơi ở chỗ nào đều được hiện lên bảng điện tử. Mỗi khi đi qua cổng, không những học viên của Việt Nam, học viên Liên Xô và nhiều nước khác tại học viện đều biết được thông tin về những trận đánh B-52 tại Việt Nam. Ai cũng rất vui và tự hào”.

Tự hào với Hà Nội anh hùng

Mặc dù đã trực tiếp tham dự, hoặc xem trên ti-vi chương trình truyền hình “Viết tiếp bản hùng ca” và cầu truyền hình “Bản hùng ca Hà Nội” vừa qua, nhiều cựu chiến binh, cán bộ chiến sĩ trong quân đội và người dân thủ đô Hà Nội vẫn đến Bảo tàng Quân chủng PK-KQ (Hà Nội) rất đông. Trong điểm cầu tại Sư đoàn 367 (TP Hồ Chí Minh) cũng vậy, hơn 1000 người đã đến chật kín khuôn viên của đơn vị từ lúc trời chưa tối. Đây là lần đầu tiên một chương trình truyền hình trực tiếp về chiến thắng B-52 được thực hiện tại các tỉnh phía Nam. Người dân của Thành phố mang tên Bác và cả nước như được chứng kiến trực tiếp diễn biến của trận chiến trên không trong 12 ngày đêm cách đây 40 năm. Hà Nội quật cường, oai hùng và chiến thắng được tái hiện sinh động giữa TP Hồ Chí Minh khiến ai cũng phấn chấn, tự hào khôn tả.

Đại tá Bùi Văn Tiệp, Sư đoàn trưởng Sư đoàn 367 không giấu nổi niềm vui khi tham gia cầu truyền hình được tổ chức ngay tại đơn vị mình. Anh tâm sự: “Đây là cơ hội để mọi người biết đến Sư đoàn Phòng không 367 và quan trọng hơn là hiểu sâu hơn về chiến thắng “Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không”. Chúng tôi sẽ tiếp tục giáo dục truyền thống cho bộ đội về chiến thắng to lớn này, để họ phấn đấu và rèn luyện tốt”.

Chiến thắng “Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không” mãi là niềm tự hào của dân tộc ta. Chiến thắng này sẽ sống với thời gian và truyền lửa anh hùng cho các thế hệ mai sau. Những ca khúc xen kẽ trong chương trình cầu truyền hình như: “Hà Nội niềm tin và hy vọng”, “Không cho chúng nó thoát”, “Người Hà Nội”, “Tên lửa ta đánh rất hay”, “Phi đội ta xuất kích”, “Hà Nội – Điện Biên Phủ”… càng làm cho chiến thắng “Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không” thêm âm vang và ngân nga trong trái tim mỗi người Việt Nam.

Bài và ảnh: PHI HÙNG – DUY MINH
qdnd.vn

Từ nhận định sáng suốt đến kỳ tích trên bầu trời Hà Nội (kỳ 5)

Chiến thắng “Hà Nội-Điện Biên Phủ trên không”:

Kỳ 5: Lặng lẽ phía sau

QĐND Online – Sau đêm 19 rạng sáng ngày 20-12-1972, tình trạng thiếu đạn đã trở nên phổ biến ở các tiểu đoàn hỏa lực tên lửa. Để đảm bảo đủ tên lửa cho các đơn vị hỏa lực, có sự góp công lặng lẽ của nhiều tập thể, cá nhân…

Đảm bảo cho thắng lợi

Trung tướng Lưu Hữu Sắt, nguyên Cục trưởng Cục Kỹ thuật Phòng không – Không quân, kể: “Tôi rất lo lắng cho việc chuẩn bị đạn tên lửa đánh máy bay B-52. Ngày 31-10-1972, Bộ Tư lệnh QC PK-KQ tổ chức chỉ đạo hội nghị rút kinh nghiệm chiến đấu và thông qua tài liệu “cách đánh B-52″. Tư lệnh Quân chủng Lê Văn Tri trực tiếp giao nhiệm vụ cho tôi chuẩn bị đạn tên lửa và các cán bộ Cục Kỹ thuật xây dựng phương án bảo đảm đạn tên lửa cho chiến đấu”.

Các quả đạn tên lửa vốn được tháo rời từng bộ phận, đóng hòm, vận chuyển đến ga tàu phải sử dụng xe chuyên dụng chở vào khu sơ tán, cách nhà ga chừng 30 đến 50 km. Yêu cầu đặt ra lúc đó là phải giải phóng số đạn trên khỏi tàu hỏa ngay trong đêm, để đối phương không phát hiện được.

Sau đó, các đơn vị nhận đạn tên lửa tại nơi sơ tán, vận chuyển về đơn vị. Việc vận chuyển ấy kéo dài từ 5 đến 6 ngày đêm mới xong. Tuần sau lại có chuyến tàu đến, công việc lại bắt đầu…

Bãi lắp ráp đạn tên lửa trong rừng. Ảnh tư liệu

Quá trình lắp ráp đạn tên lửa rất gian nan và đòi hỏi hết sức tỉ mỉ, bởi các bộ phận của một quả tên lửa được đóng trong các hòm khác nhau: Hòm đầu đạn, hòm đuôi, hòm cánh, hòm nhiên liệu… trong khi tài liệu không kèm theo. Các chuyên gia Liên Xô chuyển “lý lịch” từng quả đạn về Bộ Quốc phòng Việt Nam, từ đó mới phát xuống các đơn vị để lắp ráp tên lửa. Vậy nhưng, không có bất cứ một quả tên lửa nào bị nhầm “lý lịch” hoặc lạc hòm.

Với sự cố gắng cao độ của các đơn vị bảo đảm đạn, nên ngày đầu của chiến dịch (18-12-1972), ta không bị bất ngờ và có đủ đạn tên lửa phục vụ chiến đấu. Tuy nhiên, đêm 19 rạng sáng ngày 20-12, tình trạng thiếu đạn đã trở nên phổ biến ở các tiểu đoàn tên lửa.

Đạn rời dây chuyền, về bệ phóng

Chiều 20-12-1972, Tư lệnh và Chính ủy QC PK-KQ trực tiếp giao nhiệm vụ cho ông Sắt và Phó Cục trưởng Cục Kỹ thuật Phòng không- Không quân Phan Thái phải tích cực giải quyết vấn đề lắp ráp đạn tên lửa, bảo đảm cho nhiệm vụ đánh B-52.

Đồng chí Thái đã trực tiếp xuống chỉ đạo công tác lắp ráp đạn tên lửa ở Tiểu đoàn kỹ thuật 95; còn ông Sắt cùng với Phó phòng Tên lửa Trần Trung Ngọc xuống Tiểu đoàn 80, nơi sản xuất đạn cho các tiểu đoàn hỏa lực thuộc Trung đoàn 257.

Xuống đến đơn vị, ông Sắt nhận thấy nguyên nhân lắp ráp tên lửa không kịp phục vụ chiến đấu vì 3 bãi để vật tư riêng lẻ và chỉ có một dây chuyền lắp ráp. Muốn vận chuyển vật tư đến dây chuyền, bãi nào cũng cần phải có cần cẩu, trong khi chỉ có một cần cẩu K61 duy nhất.

Qua vài đêm làm việc cật lực, anh em rất mệt mỏi, mắt thâm quầng, chân tay rã rời và luôn thiếu đèn pin để làm đêm, thiếu vải bạt, ni-lông che mưa. Mặc dù Phó tiểu đoàn trưởng Nguyễn Huy đã tổ chức phát động phong trào “Thi đua quyết thắng B-52”, 100% quân số đều tham gia công tác, kể cả số yếu, mệt nhưng năng suất lắp ráp đạn tên lửa vẫn thấp. Ông Sắt thấy nhiều anh em ngủ gục bên máy.

Xe chở đạn TMZ của các tiểu đoàn sản xuất đạn bảo đảm cho 10 tiểu đoàn tên lửa trong những ngày chiến đấu ác liệt (12-1972). Ảnh tư liệu

Từ thực tế đó, Tư lệnh Lê Văn Tri giao nhiệm vụ cho ông Lưu Hữu Sắt phải chỉ đạo tìm phương án tháo gỡ khó khăn cho Tiểu đoàn 80. Ông Sắt đề nghị Tư lệnh Quân chủng điều Tiểu đoàn kỹ thuật của đoàn 274 vừa từ Quảng Trị ra đang chờ nhiệm vụ, tăng cường cho dây chuyền sản xuất đạn tên lửa của Tiểu đoàn 80; đồng thời điều đội lắp ráp đạn của Xưởng A31 xuống tăng cường tiếp cho Tiểu đoàn 80. Việc sản xuất đạn tên lửa được chia một ngày ba kíp; tất cả vật tư của ba bãi được đưa về một nơi, sản xuất tập trung. Theo đề nghị của Cục Kỹ thuật, Bộ Tư lệnh Quân chủng đã chỉ thị cho Quyền Cục trưởng Cục Hậu cần Mai Xuân Tiến tổ chức lực lượng cung cấp đường, sữa, lương khô, thuốc chống buồn ngủ xuống các tiểu đoàn kỹ thuật, cấp phát đến tận tay cán bộ, chiến sĩ.

Lặng lẽ và quyết tâm, những người lính phòng không làm công tác bảo đảm đạn cần mẫn hoàn thiện những quả đạn tên lửa mang dòng chữ “Trả thù cho đồng bào Hà Nội”. Rời dây chuyền sản xuất theo các xe TZM về các tiểu đoàn hỏa lực, những quả đạn ấy lần lượt vút lên bầu trời Thủ đô, hạ gục nhiều “siêu pháo đài bay” B-52, làm nên Chiến thắng “Hà Nội-Điện Biên Phủ trên không” lừng lẫy…

THÀNH TRUNG-NGỌC TUẤN
qdnd.vn

Từ nhận định sáng suốt đến kỳ tích trên bầu trời Hà Nội (kỳ 4)
Từ nhận định sáng suốt đến kỳ tích trên bầu trời Hà Nội (kỳ 3)
Từ nhận định sáng suốt đến kỳ tích trên bầu trời Hà Nội (kỳ 2)
Từ nhận định sáng suốt đến kỳ tích trên bầu trời Hà Nội (kỳ 1)

Từ nhận định sáng suốt đến kỳ tích trên bầu trời Hà Nội (kỳ 4)

Chiến thắng “Hà Nội-Điện Biên Phủ trên không”:

Kỳ 4: Cuộc săn lùng “con ngáo ộp” trên không

QĐND Online – Từ mặt đất, lực lượng phòng không đã anh dũng vào cuộc và lập công xuất sắc. Trên không, lực lượng đánh đêm của Không quân nhân dân Việt Nam cũng ráo riết săn lùng “con ngáo ộp” B-52, ngay từ đêm đầu của Chiến dịch…

Những đêm trực “săn mồi”

Anh hùng LLVT nhân dân, phi công, Trung tướng Phạm Tuân vẫn nhớ rõ những ngày lịch sử cách đây đã 40 năm. Ông kể: “19 giờ 15 phút, ngày 18-12-1972, lệnh báo động phát ra, tôi lao ra máy bay, leo nhanh lên buồng lái chờ lệnh. Ngồi trong buồng lái được vài phút thì nghe tiếng rít xé tai của F-111; tiếp đó là những loạt bom dội xuống sân bay. Xung quanh sân bay đạn pháo phòng không bắn lên như mưa. Vừa lúc đó tôi nhận lệnh xuống cấp. Bước chân vào phòng trực, trong tôi nặng trĩu suy tư: Chẳng lẽ đêm nay vẫn tiếp tục phải chờ! Đã tròn 27 đêm trực chiến liên tục. Nhưng rồi, nỗi nuối tiếc chỉ thoáng qua giây lát đã được cấp trên “giải toả” bằng nhiệm vụ mới: Tiếp tục xuất kích đánh B-52”.

19 giờ 25 phút, nhận được lệnh cất cánh từ sở chỉ huy, Phạm Tuân điều khiển máy bay lăn ra thì thấy dưới đường băng lổn nhổn đất đá. Bình thường, trong điều kiện như vậy máy bay không được phép hoạt động. Nhưng nhiệm vụ đánh B-52 lúc này hết sức quan trọng, nóng bỏng. Phạm Tuân vận dụng các kiến thức, kinh nghiệm đã được tích lũy, đẩy tay ga tăng vòng quay động cơ, chiếc Mig-21 vút đi và rời đất gần như theo phương thẳng đứng để tránh những luồng đạn cao xạ đang bắn yểm hộ cho máy bay ta cất cánh.

“Én bạc” chuẩn bị xuất kích. Ảnh tư liệu

Vừa lấy độ cao, anh vừa đưa máy bay đến khu vực chiến đấu theo sự dẫn dắt của các sở chỉ huy: Sao Vàng, Mộc Châu, Yên Bái. Bay đến Ba Vì, anh nhận được lệnh thả thùng dầu phụ và lấy độ cao khoảng 6.000m. Ngay sau đó, Phạm Tuân phát hiện ra từng dãy đèn đang lừng lững trên không, tiến vào Hà Nội. Anh lập tức báo cáo sở chỉ huy. Nhận lệnh tiếp cận mục tiêu, Phạm Tuân bật ra-đa để sục sạo, ngay tức khắc đèn B-52 vụt tắt. Trên màn hình ra-đa nhiễu trắng xoá, nhìn ra xung quanh thấy đèn của bọn F-4, Phạm Tuân nhanh chóng cơ động. Tiêm kích địch bám theo phóng tên lửa tới tấp. Anh làm động tác lật ngửa máy bay, lao xuống tránh tên lửa địch rồi kéo máy bay lên nhưng không thấy mục tiêu B-52 đâu nữa. Bọn B-52 đã tẩu thoát!

Nhận lệnh từ sở chỉ huy, Phạm Tuân nhanh chóng trở về sân bay hạ cánh. Sở chỉ huy QC PK-KQ thông báo sân bay Nội Bài vừa bị đánh phá ác liệt. Sân bay mất điện, không có đèn hạ cánh; thông tin liên lạc đang bị gián đoạn. Nhìn đồng hồ trên máy bay biết lượng dầu không đủ để đi sân bay khác, Phạm Tuân xin phép hạ cánh tại sân bay Nội Bài bằng đèn pha máy bay. Khi máy bay đang giảm độ cao vào hạ cánh thì trên bầu trời phía cuối đường băng bùng lên một khối lửa sáng rực, giúp Phạm Tuân nhìn rõ sân bay hơn.

Khi máy bay vừa tiếp đất, nó bỗng chồm lên và lao đi một đoạn rồi lật ngửa, quay ngoắt 180 độ. Phạm Tuân tự đập buồng lái và chui ra khỏi máy bay. Chiếc ô tô của trung đoàn đỗ xịch ngay tại đó, đón anh về đơn vị.

Biến “pháo đài bay” thành bó đuốc

Trung tướng Trần Hanh, nguyên Tư lệnh Binh chủng Không quân nhớ lại: “Ngày 26-12, Phạm Tuân được lệnh bay chuyển sân từ Nội Bài lên sân bay Yên Bái đợi lệnh đánh B-52. Trong những ngày trước đó, sân bay Yên Bái liên tục bị không quân Mỹ đánh phá. Phán đoán Mỹ sẽ chủ quan cho rằng Mig không thể hoạt động ở sân bay Yên Bái nên ta vừa sửa chữa gấp sân bay, vừa bí mật cơ động máy bay đến ém sẵn ở đó để tạo thế bất ngờ”.

17 giờ ngày 26-12, Phạm Tuân nhận lệnh cất cánh đi Yên Bái. Để tránh sự phát hiện của đối phương, anh bay ở độ cao 100m. Do điều kiện thời tiết không cho phép hạ cánh tại Yên Bái, nên anh phải quay về Nội Bài hạ cánh.

Tối 27-12, Phạm Tuân tiếp tục cất cánh từ Nội Bài đi sân bay Yên Bái. Bay ở độ cao thấp nên anh không bị tiêm kích địch phát hiện và đã hạ cánh trực tiếp xuống sân bay Yên Bái.

22 giờ 16 phút hôm đó, anh nhận lệnh vào cấp 1. Bật tăng lực, Phạm Tuân cùng chiếc Mig-21 lao vào bầu trời đêm. Vừa ra khỏi mây, anh phát hiện 2 chiếc F-4 của đối phương đang bay phía trước. Theo lệnh từ sở chỉ huy, anh vòng tránh F-4 và lấy độ cao. Sau đó, anh tiếp tục “qua mặt” vài tốp F-4 khác. Ngay sau đó, Phạm Tuân nhận được thông báo từ sở chỉ huy: B-52 cách 200km.

Anh hùng Phạm Tuân (thứ hai từ trái qua) sau trận bắn rơi B-52 (tháng 12-1972). Ảnh tư liệu

Anh được dẫn về phía Nam, bay ở độ cao 3.000m. Khi còn cách mục tiêu 80km, Phạm Tuân xin phép thả thùng dầu phụ, sở chỉ huy chưa đồng ý. Vào đến cự ly 50km rồi 40km, lệnh sở chỉ huy phát ra: Thả thùng dầu phụ, tăng tốc độ, lấy độ cao 10.000m

Tập trung quan sát, Phạm Tuân phát hiện phía trước là 2 dãy đèn của B-52. Sau khi báo cáo sở chỉ huy, được phép tăng tốc độ, anh vòng trái tiếp cận mục tiêu. Trong khi đó, 5 sở chỉ huy đều phát hiện và dẫn dắt tốt máy bay ta. Bỗng giọng nói nhẹ nhàng, ấm áp của Phó tư lệnh Binh chủng Trần Hanh vang lên: “Các sở chỉ huy khác ngừng liên lạc để sở chỉ huy Binh chủng dẫn 361” (361 là số hiệu của Phạm Tuân).

Biết tâm trạng hồi hộp, lo lắng của của các đồng chí dưới mặt đất, Phạm Tuân buột miệng: “Các anh yên tâm, tôi nhất quyết bắn rơi máy bay đối phương”. Vào đến cự ly 5km, máy bay của ta vẫn bay thấp hơn B-52 khoảng 500m. Từ sở chỉ huy thông báo: “Có 2 F-4 đang tăng lực bám theo”. Đã phát hiện chúng ở phía sau, nhưng đang bay ở tốc độ lớn, cự ly so với F-4 chưa đến mức nguy hiểm nên Phạm Tuân quyết định tiếp tục bám theo tốp B-52. Đến cự ly 3km, nhận lệnh từ sở chỉ huy, Phạm Tuân phóng liền hai quả tên lửa và thoát ly bên trái.

Kéo máy bay lên, làm động tác lật ngửa, Phạm Tuân thấy một quầng lửa sáng rực ngay dưới cánh máy bay mình. Anh nhanh chóng làm động tác thoát ly quay về sân bay Yên Bái hạ cánh an toàn.

21 giờ 41 phút ngày 28-12-1972, phi công Vũ Xuân Thiều cũng cất cánh từ sân bay Cẩm Thủy, được sở chỉ huy Thọ Xuân dẫn vòng ra phía sau đội hình B-52. Đến vùng trời Sơn La, Vũ Xuân Thiều phát hiện được mục tiêu. Mặc dù ở cự ly rất gần, nhưng anh vẫn xin vào công kích quyết tâm tiêu diệt địch. Sau khi công kích, máy bay địch bốc cháy và Vũ Xuân Thiều đã anh dũng hy sinh…

THÀNH TRUNG-NGỌC TUẤN
qdnd.vn

Từ nhận định sáng suốt đến kỳ tích trên bầu trời Hà Nội (kỳ 3)
Từ nhận định sáng suốt đến kỳ tích trên bầu trời Hà Nội (kỳ 2)
Từ nhận định sáng suốt đến kỳ tích trên bầu trời Hà Nội (kỳ 1)

Từ nhận định sáng suốt đến kỳ tích trên bầu trời Hà Nội (kỳ 3)

Chiến thắng “Hà Nội-Điện Biên Phủ trên không:

Kỳ 3: Tên lửa lập công

QĐND Online – Với một kế hoạch tỉ mỉ, và “vỏ bọc” chắc chắn cho lũ B-52, Lầu Năm Góc bảo đảm như đinh đóng cột với các phi công Mỹ rằng: “Các bạn bay vào Hà Nội như một cuộc dạo chơi đêm phương Đông”; rằng: “Ở độ cao trên 10.000m, đối phương không thể nào với tới, các bạn chỉ cần bấm nút rồi trở về căn cứ an toàn, sạch sẽ!”.

Thế nhưng thực tế diễn ra trên bầu trời Hà Nội, Hải Phòng đã hoàn toàn trái ngược với mong đợi của các nhà cầm quyền Mỹ. Ra-đa của chúng ta không bị mù, thông tin liên lạc của chúng ta không bị gián đoạn, hệ thống phòng không của ta không bị vô hiệu hóa… Ngay đêm hôm đó, Hà Nội đã trả lời bằng chiến công đầu xuất sắc, bắn rơi 3 “pháo đài bay” B-52, có 2 chiếc rơi tại chỗ.

Trận đầu thắng lợi

Từ cuối tháng 9-1972, các đơn vị tên lửa của Sư đoàn Phòng không Hà Nội đã nghiêm túc luyện tập cách đánh B-52 theo hướng dẫn của cuốn “Cẩm nang bìa đỏ”. Tiểu đoàn 59 (Trung đoàn 261) được bố trí tại trận địa Cổ Loa, Đông Anh, để bảo vệ TP Hà Nội. Cùng với luyện tập theo tài liệu, đơn vị còn tích cực đặt ra các tình huống giả định để kíp chiến đấu điều khiển vũ khí thành thạo. Nếu B-52 xuất hiện, các thành phần có thể đưa ra các thông số nhanh, chính xác, tiêu diệt được mục tiêu.

Kíp trực ban chiến đấu ngày 18-12-1972 của Tiểu đoàn 59 gồm: Tiểu đoàn trưởng Nguyễn Thăng, Chính trị viên Vũ Văn Đương, các trắc thủ Nguyễn Văn Linh, Lê Xuân Tứ, Nguyễn Văn Độ và sĩ quan điều khiển Dương Văn Thuận.

18 giờ, Tiểu đoàn báo động cấp 1. Các tốp B-52 bay vào đánh phá các mục tiêu ở Đông Anh, Yên Viên, Cổ Loa. Tiếng pháo cao xạ, súng máy của lực lượng phòng không rền vang. Trận chiến đấu đã bắt đầu. Trận địa Tiểu đoàn 59 nằm sát ngay trọng điểm đánh phá, đất đá tung lên nóc xe điều khiển, xe thu phát, xe chia điện…nhưng toàn bộ kíp chiến đấu vẫn vững vàng, bám máy, bám xe, bám bệ phóng, chờ lệnh đánh.

Tượng đài Chiến thắng B-52 được xây dựng tại vị trí chiếc B-52 đầu tiên bị bắn hạ ở Phù Lỗ, Đông Anh, Hà Nội. Ảnh: Thành Trung

20 giờ 13 phút, Tiểu đoàn 59 nhận được thông báo từ sở chỉ huy có một tốp B-52 đang từ hướng Tam Đảo lao xuống Đông Anh. Trung đoàn trưởng Trung đoàn 261 lệnh cho các Tiểu đoàn 94, 57 và 59 tập trung tiêu diệt tốp 671. Ngay lập tức, kíp chiến đấu Tiểu đoàn 59 phát hiện dải nhiễu có cường độ lớn, đậm đặc, ổn định. Tiểu đoàn trưởng Nguyễn Thăng hạ lệnh: “Tập trung đánh tốp B-52!”

Sĩ quan điều khiển Dương Văn Thuận báo cáo: “Đã bám sát dải nhiễu B-52, phương vị 359”; các trắc thủ cũng báo cáo đã bám sát chính xác dải nhiễu. Đại đội trưởng Đại đội 2 báo cáo: “6 bệ phóng đã sẵn sàng!” Đến đúng góc tà 340, sĩ quan điều khiển phóng liền 3 quả. Đạn có điều khiển.

Đồng chí Nguyễn Chí Quang ngồi quan sát đài A-00 trên ca-bin hét vào mi-cro: “Cháy rồi, cháy rồi!”. Cùng lúc đó, 3 trắc thủ đồng loạt thông báo mất dải nhiễu. Lúc này là 20 giờ 13 phút. Tiểu đoàn trưởng Nguyễn Thăng tập trung số liệu báo cáo lên Sở chỉ huy Trung đoàn.

Một giờ sau, tiểu đoàn được Chính ủy Sư đoàn Phòng không Hà Nội Trần Văn Giang thông tin chính thức là Tiểu đoàn 59 đã bắn rơi máy bay B-52 tại chỗ. Xác chiếc máy bay rơi xuống cánh đồng Chuôm, thuộc xã Phủ Lỗ, huyện Đông Anh, Hà Nội, cách trận địa chưa đầy 10km. Đây là chiếc B-52 đầu tiên bị lực lượng tên lửa bắn hạ trên bầu trời Hà Nội.

Trận đánh thần kỳ

Chúng tôi tìm đến nhà Trung tướng Nguyễn Văn Phiệt (Anh hùng LLVT nhân dân, nguyên là Phó Tư lệnh về Chính trị QC PK-KQ). Ông nguyên Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 57 (Đoàn tên lửa Thành Loa, Sư đoàn Phòng không Hà Nội). Ông lật mở tập vở đã ố vàng, ghi lại ký ức trong những trận đánh cuối tháng 12-1972.

Ông say sưa kể với chúng tôi trận đánh diễn ra đêm 20 rạng sáng 21-12-1972 (đêm thứ 3 của cuộc tập kích đường không chiến lược bằng máy bay B-52 của Mỹ vào Thủ đô Hà Nội, Hải Phòng và các vùng phụ cận). Tham gia đánh trận đêm đó có trắc thủ góc tà Ngô Ngọc Linh, trắc thủ cự ly Mè Văn Thi, trắc thủ phương vị Nguyễn Xuân Đài, sĩ quan điều khiển Nguyễn Đình Kiên (đã bắn rơi loại máy bay F-4 ngày 27-6-1972).

Kíp chiến đấu Tiểu đoàn 57 rút kinh nghiệm sau trận đánh B-52, tháng 12-1972. Ảnh tư liệu

Trước đó, đêm 20-12-1972, tình trạng thiếu đạn không chỉ xảy ra với Tiểu đoàn 57 của Nguyễn Văn Phiệt mà với nhiều Tiểu đoàn tên lửa khác tại mặt trận Hà Nội. Do vậy, mãi tới đợt chiến đấu thứ ba trong đêm, Tiểu đoàn 57 mới được lệnh đánh.

5 giờ, lệnh báo động từ Sở chỉ huy Đoàn Thành Loa được truyền xuống các trận địa. 5 phút sau, Tiểu đoàn 57 sẵn sàng chiến đấu. Máy bay Mỹ đã xuất hiện trên bảng tiêu đồ 9×9 của tiểu đoàn. Trong lúc đó, cả đơn vị chỉ còn 3 quả đạn đang sẵn sàng trên bệ phóng (xe đi nhận thêm đạn chưa về kịp). Đây là điều khiến cả kíp trăn trở suy nghĩ, tính toán. Tiểu đoàn trưởng Nguyễn Văn Phiệt truyền quyết tâm cho cả kíp chiến đấu: “Dùng một đạn tên lửa tiêu diệt một B-52”.

Theo đường chì của tiêu đồ, tốp mục tiêu mang số hiệu 318 tiến rất nhanh. Trên đài 1, đài ra-đa bổ trợ đều đã có mục tiêu và xác định chắc chắn là B-52. Nguyễn Văn Phiệt ra lệnh cho 2 đài chọn dải nhiễu so sánh, xác định tính chất dải nhiễu. Dải nhiễu B-52 đã được kíp trắc thủ chọn đúng, nhanh chóng bám sát và sẵn sàng chờ lệnh. Trắc thủ góc tà Ngô Ngọc Linh theo dõi từng bước tiến một và liên tục báo cáo.

Khi B-52 vào đến cự ly 32km, Tiểu đoàn trưởng Nguyễn Văn Phiệt lệnh cho sĩ quan điều khiển Nguyễn Đình Kiên phóng một đạn. Nhưng khi ấn nút đạn không rời bệ. Không để mất cơ hội, ông lệnh phóng quả 2. Đạn rời bệ nhìn rõ trên màn hiện sóng. Bắt được tín hiệu ở cự ly 28km, các trắc thủ nhanh chóng bám sát, khéo léo đưa đạn đến mục tiêu chính xác. Đạn nổ! Cả kíp trắc thủ đồng thanh hô: “Nổ! Tiêu diệt mục tiêu”. Lập tức trắc thủ NA-00 báo cáo: “Mục tiêu bốc cháy ở hướng Tây Nam”. Lúc đó là 5 giờ 9 phút.

Vui mừng trước chiến công vừa lập được, mọi người chưa kịp rút kinh nghiệm thì tiếng của chiến sĩ tiêu đồ lại vang lên “B-52, cự ly 45km”. Nguyễn Văn Phiệt lệnh cho 2 đài chọn dải nhiễu và so sánh. Sau một phút, kíp chiến đấu đã xác định mục tiêu ở cự ly 30km. Nguyễn Văn Phiệt động viên đồng đội: “Cố gắng còn một quả đạn cuối, chúng ta phải đổi lấy một B-52”. Sau khi phát sóng, mục tiêu bị bắt ở cự ly 29km. Lệnh phóng vang lên, quả đạn rời bệ, trên màn hiện sóng 2 tín hiệu dần tiến sát vào nhau và một tiếng nổ vang lên. Kíp chiến đấu lại đồng thanh hô: “Mục tiêu bị tiêu diệt”. Tiếp đó trắc thủ An-00 cũng báo “Mục tiêu bốc cháy rơi tại chỗ”. Đó là chiếc B-52 trong tốp mang số hiệu 532, rơi tại khu vực chợ Thá, gần núi Đôi (Sóc Sơn, Hà Nội), lúc 5 giờ 19 phút.

THÀNH TRUNG-NGỌC TUẤN
qdnd.vn

Từ nhận định sáng suốt đến kỳ tích trên bầu trời Hà Nội (kỳ 2)
Từ nhận định sáng suốt đến kỳ tích trên bầu trời Hà Nội (kỳ 1)

Từ nhận định sáng suốt đến kỳ tích trên bầu trời Hà Nội (kỳ 2)

Chiến thắng “Hà Nội-Điện Biên Phủ trên không”:

Kỳ 2: Không để Hà Nội bị bất ngờ, lỡ thời cơ

QĐND Online – Cuối tháng 11-1972, không quân Mỹ phát huy cao độ chiến thuật sử dụng tên lửa sơ-rai để đánh phá các đài ra-đa của ta ở chiến trường Quân khu 4, nhằm chặt đứt việc đảm bảo ra-đa cho các lực lượng phòng không của ta. Với quyết tâm phát hiện, thông báo B-52 xa hơn, nhanh hơn, đúng hơn, liên tục hơn, bộ đội ra-đa đã bảo đảm cho các lực lượng phòng không của ta không bị rơi vào thế bất ngờ…

Báo động B-52 sớm cho Hà Nội

Đại tá Nghiêm Đình Tích (nguyên đài trưởng ra đa P-35, Đại đội 45, Trung đoàn ra đa 291), vẫn nhớ như in những ngày trung đoàn sử dụng Đại đội 45 làm đơn vị chủ lực phát hiện B-52: “Mặc dù máy bay Mỹ đánh phá ác liệt xung quanh Đại đội 45, Phó trung đoàn trưởng Trần Liên vẫn cùng bộ đội kiên cường bám trụ trận địa, quyết tâm tìm cách chống nhiễu, phát hiện B-52 từ xa và phòng tránh tên lửa sơ-rai để bảo vệ lực lượng và phương tiện có hiệu quả. Các trắc thủ theo dõi diễn biến cường độ, góc phương vị nhiễu và đặc điểm hình sóng B-52 khi chúng đánh phá ở khu vực Cánh Đồng Chum, Xiêng Khoảng (Lào) và ở Nam, Bắc đường 9.

Được lệnh của Bộ tư lệnh Binh chủng Ra-đa, ngày 15-12-1972, ban chỉ huy Trung đoàn 291 ra lệnh cho các đơn vị vào cấp 1, sẵn sàng chiến đấu cao nhất. Tất cả các phiên ban đều nêu cao cảnh giác, sẵn sàng hoàn thành nhiệm vụ.

Ngày 18-12-1972, mức độ đánh phá của không quân Mỹ ở Quân khu 4 giảm đột ngột. Đặc biệt, tất cả các đài ra-đa mở máy trực ban đều không bị nhiễu tích cực và không phát hiện được máy bay B-52. Nhận thấy tình hình khác lạ, ban chỉ huy trung đoàn nhận định: Đề phòng Mỹ sử dụng B-52 đánh trở lại Thanh Hoá. Hết sức chú ý B-52 đánh ra Hà Nội. Nhận định đó được phổ biến ngay cho các cơ quan và đơn vị.

Đại đội ra đa 45 ở Đồi Si, Nghệ An (năm 1972). Ảnh tư liệu

16 giờ 40 cùng ngày, trên bản đồ thu mạng tình báo quốc gia B1 xuất hiện 2 tốp F-111 từ Sầm Tơ (Lào) bay về phía Yên Bái. Chỉ huy trung đoàn nhất trí nhận định: Có khả năng diễn ra tình huống đã dự kiến.

Ngay lập tức, Trung đoàn trưởng Đỗ Năm chỉ thị cho Đại đội 16 là đơn vị đang mở máy trực ban trong phiên từ 18 đến 20 giờ, tập trung quan sát phát hiện mục tiêu từ phương vị 220-300; đặc biệt chú ý phát hiện B-52. Trong khi đó, trên các màn hiện sóng ra-đa của Đại đội 16 ở Nghệ An xuất hiện một số dải nhiễu mới. Do đã có kinh nghiệm chiến đấu, Đại đội trưởng Trần An và Chính trị viên Trịnh Đình Nham đã thống nhất nhận định tình hình và ra lệnh cho các đài ra-đa chống nhiễu, phát hiện B-52. Trong giây lát, trắc thủ đài 843 Tô Trọng Huy và trắc thủ đài 514 Phạm Quốc Hùng khẳng định ngay đó là B-52.

Tình báo nhiễu B-52 của Đại đội 16 được nữ chiến sĩ thông tin Thúy Ngà ở Sở chỉ huy trung đoàn đánh dấu lên bản đồ. Trong khi đó, thấy đài ra-đa P-12 của đơn vị đang mở máy trực ban báo cáo có nhiễu B-52, Đại đội trưởng Đại đội 45 Đinh Hữu Thuần cũng ra lệnh mở máy ra-đa P-35 và báo cáo lên sở chỉ huy trung đoàn.

Do có kinh nghiệm phát hiện B-52, Nghiêm Đình Tích cùng các trắc thủ Phạm Hoàng Cầu và Nguyễn Văn Xích đã xác định ngay những dải nhiễu B-52. Đồng chí Tích ra lệnh: “Cả phiên ban thao tác quy trình chống nhiễu”. Ngay sau đó, trắc thủ số 1 Phạm Hoàng Cầu đã thông báo tình báo B-52 vào sở chỉ huy đại đội. Những tình báo đó được tiểu đội trưởng tiêu đồ Nguyễn Trường Kỳ thể hiện trên bảng đánh dấu đường bay rồi qua các chiến sĩ phát thanh, ghi chép, báo vụ truyền lên sở chỉ huy trung đoàn.

Ban đầu, tất cả cán bộ, chiến sĩ phán đoán B-52 lại tiếp tục vào đánh Cánh Đồng Chum, vì đường bay này gần như trùng khít đường bay địch đã vào đánh phá trong thời gian trước đó. Những lần ấy các tốp B-52 thường bay đến phương vị 290º thì vòng lại, còn lần này chúng bay tới phương vị 300º và vẫn bay thẳng về phía Tây Bắc nước ta.

Do vừa mới sinh hoạt chính trị, quán triệt sâu sắc tình hình nhiệm vụ và khả năng B-52 đánh phá miền Bắc nên sau khi thống nhất với các trắc thủ, Nghiêm Đình Tích báo cáo với đại đội trưởng: “Có khả năng B-52 vào đánh miền Bắc”. Báo cáo đó từ Đại đội 45 qua sở chỉ huy trung đoàn lên tới Tổng trạm ra-đa ở Hà Nội.

Nhận được báo cáo giữa lúc tất cả các đài ra-đa của hai Trung đoàn ra-đa 292, 293 bị nhiễu nặng, không có tình báo B-52, Phó tham mưu trưởng Binh chủng Ra-đa Hứa Mạnh Tài trực chỉ huy ở tổng trạm liền sử dụng đường dây hữu tuyến của ngành bưu điện trực tiếp yêu cầu Trung đoàn trưởng Trung đoàn ra đa 291 và Đại đội trưởng Đại đội 45 trả lời câu hỏi: “Có đúng B-52 sắp vào miền Bắc?”.

Nhìn rõ tín hiệu trên màn hiện sóng, từng tốp 3 chiếc trên dải nhiễu nhẹ, lại vừa phát hiện thấy các tốp máy bay của không quân chiến thuật bắt đầu phóng nhiễu tiêu cực ở phía Tây Bắc Hà Nội, nên đồng chí Tích báo cáo dứt khoát: “Đúng là mục tiêu B-52 sắp bay vào khu vực Hà Nội”.

Nhận được báo cáo, Phó tham mưu trưởng Binh chủng Ra-đa báo cáo với Tư lệnh QC PK-KQ Lê Văn Tri: Đúng là B-52 đang vượt qua vĩ tuyến 20, có khả năng vào đánh Hà Nội.

Lập tức Tư lệnh Quân chủng ra lệnh cho các lực lượng phòng không-không quân chuẩn bị đánh B-52.

Đường chì lịch sử

Chúng tôi tìm gặp báo vụ viên Nguyễn Thị Hường, nguyên là chiến sĩ Trung đội 3, Đại đội 3, Lữ đoàn Thông tin 26, trong Chiến dịch 12 ngày đêm tháng 12-1972. Cô binh nhì ngày nào với “đường chì lịch sử” hiện đang kinh doanh tại khu chợ Bắc Kinh, phố Sơn Hòa (TP Hải Dương).

Tháng 12-1972, trước ngày bước vào Chiến dịch, Hường vừa tròn 18 tuổi và được phân công làm báo vụ viên chính thức của đơn vị, đảm bảo hướng Tây Nam Hà Nội.

Đêm 18-12-1972, Hường bắt đầu phiên trực phục vụ chiến đấu chính thức của Trung đội 3, tại Sở chỉ QC PK-KQ. Sau khi kiểm tra chu đáo mọi phương tiện đảm bảo cho phiên trực, tay phải chị cầm ba chiếc bút chì đỏ, xanh, đen (đỏ để đánh dấu đường bay của máy bay ta; xanh, đen đánh dấu đường bay của địch); tay trái chị hết chỉnh máy lại áp chặt thêm tai nghe, tập trung hết thính lực để đón chờ tín hiệu tình báo.

Đại tướng Võ Nguyên Giáp duyệt phương án đánh B-52 (tháng 12-1972). Ảnh tư liệu

Nhưng khi đó hướng chị phụ trách không có mục tiêu. Liếc nhanh sang các hướng khác, chị vẫn không thấy động tĩnh gì. Trên không lúc này yên tĩnh đến lạ thường…Bỗng nhiên, như đã “sờ” được tín hiệu từ đài bạn, chị dừng tay chỉnh máy, mở to mắt, tai lắng nghe từng tiếc “tịch, tè”, rồi đột nhiên dồn dập. Tiếng rào của máy thu tăng dần không như những tín hiệu thường ngày. Với linh cảm của mình, chị nhận rõ mục tiêu đã xuất hiện dù khi đó tín hiệu còn rất mỏng.

Nguyễn Thị Hường tập trung nghe thật rõ từ khởi điểm, đầu tốp, số lượng, thời gian, kiểu loại đến độ cao mục tiêu, rồi đối chiếu với tín hiệu đã quy ước. Chị thầm nhận định, từ trạm ra-đa cách đó hàng trăm cây số, đồng đội của mình đã khẳng định kẻ thù mới xuất hiện: Nó chính là B-52.

Lập tức một đường chì xanh, nét đậm, đường bay thẳng hơn các loại máy bay tiêm kích và một “mũi” của nó đi dài hơn, được chị đưa lên trên bảng tiêu đồ. Lúc này, cả sở chỉ huy sôi lên. Đó là sự sôi động thường có mỗi khi ta “tóm” được kẻ thù. Song lần này, kẻ thù ta tóm được là B-52 nên sự sôi động lúc này mang một ý nghĩa đặc biệt quan trọng. Sau vài giây như để thống nhất nhận định, Tư lệnh Lê Văn Tri ra lệnh: “Báo động B-52”. Tiếp đó là lệnh: “Tập trung tiêu diệt tốp B-52” của đồng chí Phó Tư lệnh.

Ngay tức thì, cả Hà Nội dậy lên hiệu lệnh báo động chiến đấu. Lúc đó là 19 giờ 15 phút.

Những đường chì xanh, đậm nét trên bảng tiêu đồ, theo nhịp tay của Hường cứ kéo dài, kéo dài mãi từ hướng biên giới Tây-Nam đang lao thẳng về phía Hà Nội…

THÀNH TRUNG-NGỌC TUẤN
qdnd.vn

Từ nhận định sáng suốt đến kỳ tích trên bầu trời Hà Nội (kỳ 1)

Từ nhận định sáng suốt đến kỳ tích trên bầu trời Hà Nội (kỳ 1)

Chiến thắng “Hà Nội-Điện Biên Phủ trên không”:

QĐND Online – Ngày 19-7-1965, khi đến thăm một Trung đoàn pháo cao xạ của Sư đoàn Phòng không Hà Nội, Bác Hồ đã căn dặn: “Dù đế quốc Mỹ có lắm súng nhiều tiền, dù chúng có B-57, B-52 hay “Bê” gì đi chăng nữa, từng ấy máy bay, từng ấy quân Mỹ chứ nhiều hơn nữa ta cũng đánh mà đã đánh là nhất định thắng”. Thực hiện lời dạy của Bác và sự chỉ đạo của Bộ Quốc phòng, ngay từ giữa năm 1966, Quân Chủng Phòng không-Không quân (QC PK-KQ) đã cử một lực lượng quan trọng trực tiếp cơ động chiến đấu và nghiên cứu cách đánh B-52 của Mỹ ngay tại chiến trường Quân khu 4…

Kỳ 1: Đi trước, đón đầu

Một câu hỏi lớn?

Trong căn nhà nhỏ trên đường Trường Chinh, quận Đống Đa, Hà Nội, Thượng tướng Phùng Thế Tài, Tư lệnh đầu tiên của Quân chủng Phòng không, rồi sau đó là QC PK-KQ (trong Chiến dịch “Hà Nội-Điện Biên Phủ trên không”, Thượng tướng Phùng Thế Tài là Phó Tổng tham mưu trưởng QĐND Việt Nam, người có vị trí quan trọng trong cuộc chiến đấu chống chiến tranh phá hoại của đế quốc Mỹ), bồi hồi kể lại: “Năm 1962, tôi được bổ nhiệm làm Tư lệnh Phòng không. Trước khi nhận nhiệm vụ mới, tôi được Bác Hồ gọi lên. Gặp tôi, Bác hỏi: “Giờ chú là Tư lệnh Phòng không, vậy chú đã biết gì về B-52 chưa”? Tôi ngớ người rồi thành thật thưa: “Cháu chưa biết gì về B-52”. Bác cười và nói: “Nói thế thôi chứ chú biết cũng chưa làm gì được nó. Nó bay trên cao 10 cây số mà trong tay chú hiện nay mới chỉ có pháo cao xạ thôi. Nhưng ngay từ lúc này, là Tư lệnh Bộ đội Phòng không, chú phải theo dõi chặt chẽ và thường xuyên quan tâm đến loại máy bay B-52”.

Nhận ý kiến chỉ đạo của Bác, Tư lệnh Phùng Thế Tài bắt đầu tập trung nghiên cứu B-52. Ông chỉ thị cho các cơ quan tác chiến, quân báo bằng mọi cách phải thu thập toàn bộ tính năng, tác dụng của loại máy bay này.

Chủ tịch Hồ Chí Minh đến thăm Đoàn cao xạ Tam Đảo (25-9-1966)

Tháng 10-1963, Bộ đội Phòng không và Bộ đội Không quân có quyết định hợp nhất thành Quân chủng PK-KQ. Đồng chí Phùng Thế Tài được bổ nhiệm làm Tư lệnh đầu tiên của quân chủng. Đồng chí Đặng Tính, nguyên Cục trưởng Cục Không quân được bổ nhiệm làm Chính uỷ quân chủng. Nhưng thực tế lúc ấy Không quân của ta còn rất mỏng, chỉ có một đơn vị máy bay vận tải, còn một trung đoàn Mig-17 đang huấn luyện ở nước ngoài. Một câu hỏi luôn thường trực trong suy nghĩ của Tư lệnh PK-KQ là “làm thế nào để đánh được B-52?”

Ngày 5-8-1964, cuộc tiến công, ném bom phá hoại quy mô lớn đầu tiên của không quân Mỹ vào miền Bắc được đặt tên là “Mũi tên xuyên”, tiến hành tại khu vực Bến Thuỷ (Vinh), Lạch Trường (Thanh Hoá), Hòn Gai (Quảng Ninh) và Cảng Giang (Quảng Bình). Nhưng không quân Mỹ chịu tổn thất lớn, 8 trong tổng số 64 lần chiếc máy bay cất cánh đã bị bắn rơi. Trong trận này, ta bắt được một giặc lái. Tư lệnh Phùng Thế Tài đã chỉ thị cho cấp dưới khai thác tên giặc lái này về tính năng, tác dụng của B-52.

Ngày 18-6-1965, 30 chiếc B-52 đã được không quân Mỹ thực hiện cuộc ném bom rải thảm đầu tiên trên thế giới, vào khu Bến Cát, Tây Bắc Sài Gòn. Kể từ đó, cường độ hoạt động của máy bay B-52 ngày một tăng. Để đối phó với tình hình đó, một trung đoàn tên lửa phòng không SAM-2, loại vũ khí có thể tiêu diệt được B-52 đã được thành lập.

Tìm phương án đánh B52

Chỉ một tháng sau ngày Mỹ đưa B-52 vào miền Nam, giữa năm 1966, được sự chỉ đạo của Bộ Tổng tham mưu, Bộ Tư lệnh QC PK-KQ đã điều Trung đoàn 238 (gồm các tiểu đoàn 81, 82, 83, 84), vào Vĩnh Linh (Quảng Trị), tìm cách đánh B-52.

“Tôi nhớ mãi khi tôi báo cáo suy nghĩ đưa tên lửa vào đánh B-52 ở Vĩnh Linh, Bác Hồ trầm ngâm suy nghĩ một lúc rồi thong thả nói “Đúng! muốn bắt cọp thì phải vào tận hang….””, đồng chí Phùng Thế Tài nhớ lại.

Ngay đêm đầu tiên vượt sông Bến Thủy, chiếc xe xích cùng bệ phóng tên lửa nặng hơn 20 tấn của Trung đoàn 238 bị rơi xuống sông Lam. Vượt sông Gianh, xe có giàn an-ten đi lạc sang đèo Lý Hòa và bị đổ xuống chân đèo. Tiểu đoàn 84, cánh quân đầu tiên của Trung đoàn 238 đành phải quay trở lại miền Bắc để nhận khí tài mới. Mãi đến đầu năm 1967, các tiểu đoàn hỏa lực của trung đoàn mới đến được Vĩnh Linh, nhưng cả 4 tiểu đoàn đều bị đánh tổn thất nặng.

Anh hùng Phạm Trương Uy bàn cách đánh B52 trên chiến trường Quảng Trị.

Thượng tướng Phùng Thế Tài kể tiếp: Ngày 2-9-1967, tôi lên gặp Bác Hồ để báo cáo tình hình chiến đấu của bộ đội PK-KQ. Bác khen những thắng lợi mà quân dân Hà Nội đã lập được, rồi bất ngờ hỏi “Thế còn B52 đâu?”. Câu hỏi của Bác làm tôi day dứt, suốt đêm đó hầu như tôi không ngủ. Tôi cùng anh Đặng Tính suy nghĩ về vấn đề này. Sau đó, anh Đặng Tính được Bộ Tư lệnh QC PK-KQ cử vào Vĩnh Linh kiểm tra tình hình Trung đoàn 238. Cùng đi có đoàn cán bộ của Tư lệnh Tên lửa do đồng chí Hoàng Văn Khánh, Phó Tư lệnh Binh chủng Tên lửa dẫn đầu, trực tiếp xuống chỉ đạo Trung đoàn 238 quyết tâm bắn rơi bằng được B-52. Phó Tư lệnh Binh chủng Tên lửa đã lăn lộn cùng với bộ đội giữa chiến trường Vĩnh Linh đầy gian khổ ác liệt. Sự có mặt của ông đã giúp cán bộ, chiến sĩ ta thêm vững tin vào chiến thắng. Trung tướng Hoàng Văn Khánh nhớ lại: “Có trực tiếp vào đó mới thấy hết được những khó khăn, gian khổ của Trung đoàn 238…Bản thân tôi cũng mấy lần chết hụt, có lần xe vừa rời sở chỉ huy được mấy phút thì quả bom rơi đúng chỗ xe vừa chuyển bánh. Lại có lần bom đánh trúng hầm ở Vĩnh Chấp khi tôi vừa mới rời khỏi đó…”

Đêm 17-9-1967, từ Vĩnh Linh, đồng chí Hoàng Văn Khánh báo tin, Trung đoàn 238 đã bắn rơi máy bay B-52. Tư lệnh PK-KQ Phùng Thế Tài run lên vì vui sướng và ông nghĩ ngay tới Bác Hồ. Nhấc điện thoại gọi báo cáo Bác, nhưng chưa kịp báo tin thì Người đã hỏi đồng chí Phùng Thế Tài: “Chú Tài đấy à, có chuyện gì thế? bắn rơi B52 rồi phải không?”. Có lẽ bằng linh cảm của một lãnh tụ vĩ đại mà Bác đoán được điều này!.

Tháng 10-1967, đồng chí Phùng Thế Tài chính thức nhận nhiệm vụ làm Phó Tổng tham mưu trưởng, có nhiều công lao trong cuộc chiến đấu chống chiến tranh phá hoại của đế quốc Mỹ, có nhiệm vụ chuẩn bị phương án chiến đấu bảo vệ Hà Nội, Hải Phòng trong tình huống địch sử dụng B-52 đánh phá.

Năm 1968, khi xuống thăm QC PK-KQ cùng với Đại tướng Hoàng Văn Thái, trước những vũ khí mới mà đồng chí Phùng Thế Tài giới thiệu, Bác trầm ngâm và bảo, kẻ thù đã áp dụng khoa học kỹ thuật vào chiến tranh, cán bộ khoa học kỹ thuật của chúng ta còn quá ít. Nếu chỉ có lòng căm thù giặc và tinh thần xả thân vì nước vẫn chưa đủ thắng lợi mà phải chú ý đào tạo thật nhiều cán bộ khoa học kỹ thuật, nghiên cứu kỹ kẻ thù thì mới trăm trận trăm thắng.

Ngay sau đó, đồng chí Phùng Thế Tài và các cán bộ của QC PK-KQ xây dựng được phương án đánh B-52. Ngày 31-10-1972, tại hội nghị quân chính của QC PK-KQ, tài liệu “Cách đánh B52 của bộ đội tên lửa” đã được đưa ra bàn bạc kỹ lưỡng. Trong lần họp này, ngoài sự có mặt của các cán bộ quân chủng, sư đoàn, trung đoàn, tiểu đoàn và các cơ quan, còn có nhiều trắc thủ, sĩ quan điều khiển thuộc kíp chiến đấu của các tiểu đoàn hỏa lực. Hội nghị này đã mang đến cho mọi người niềm tin: Chúng ta có thể bắn rơi B-52 tại chỗ!

THÀNH TRUNG-NGỌC TUẤN
qdnd.vn

Kỳ 2: Không để Hà Nội bị bất ngờ, lỡ thời cơ