Thư viện

Những con số góp phần làm nên Chiến thắng “Điện Biên Phủ trên không”

QĐND – Cách đây 40 năm, quân và dân Việt Nam đã lập lên kỳ tích “Điện Biên Phủ trên không”, buộc Mỹ phải ký kết Hiệp định Pa-ri về chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam. Một trong những nhân tố góp phần đem lại chiến thắng vang dội này là sự giúp đỡ thiết thực và hiệu quả của bạn bè quốc tế, đặc biệt là về vũ khí, khí tài của các nước xã hội chủ nghĩa (XHCN) anh em.

Tên lửa Sam-2 được sử dụng trong chiến dịch “Điện Biên Phủ trên không”. Ảnh tư liệu

Trước tiên phải kể tới các loại pháo phòng không cỡ lớn, máy bay tiêm kích và tên lửa có thể chế ngự và tiêu diệt được máy bay B-52 – con chủ bài trong cuộc tập kích đường không của Mỹ tấn công ra miền Bắc. Theo thống kê của các cơ quan chức năng làm nhiệm vụ đặt hàng, tiếp nhận, từ năm 1965 đến 1972, các nước XHCN đã giúp Việt Nam khoảng hơn 7000 quả đạn tên lửa SA-75, gần 5000 khẩu pháo cao xạ các loại, gần 5 triệu viên đạn pháo cao xạ các cỡ, hơn 400 trăm máy bay chiến đấu MIG-17, 19, 21, K6, K5, cùng hàng trăm ra-đa tiên tiến hiện đại.

Việt Nam đã đưa ngay các vũ khí, khí tài này vào khai thác và sử dụng, trực tiếp phục vụ cho cuộc chiến đấu chống lại hai cuộc chiến tranh phá hoại do đế quốc Mỹ gây ra đối với miền Bắc, đồng thời bổ sung tiêu hao, biên chế cho các đơn vị mới được thành lập và chuyển phần lớn thành nguồn dự trữ chiến lược. Điều quan trọng là Việt Nam đã tính toán kỹ lưỡng để sử dụng hiệu quả và hợp lý các vũ khí này để vừa phục vụ chiến đấu, vừa có nguồn dự trữ chiến lược. Chẳng hạn, chính phủ Liên Xô trước đây chỉ cung cấp tên lửa SA-75 – loại hỏa lực chính tiêu diệt B-52, chủ yếu tập trung từ năm 1965 đến hết 1969. Nhưng ta đã có chiến lược sử dụng hợp lý nên vẫn có đủ nguồn đạn tên lửa cũng như các loại vũ khí hiện đại khác phục vụ cho các chiến dịch hoạt động quân sự lớn về sau. Chẳng hạn, trong Chiến dịch Quảng Trị năm 1972, Việt Nam đã đưa 800 quả đạn tên lửa cùng khí tài vào bảo đảm chiến đấu. Ngoài ra, Việt Nam còn sử dụng gần 1000 quả tên lửa SA-75 cho chiến dịch phòng không cuối tháng 12-1972.

Nhờ số trang bị, khí tài và vũ khí của các nước bạn bè viện trợ, lực lượng Phòng không-Không quân miền Bắc được trang bị tương đối mạnh và tổ chức thành một mạng phòng không có tầm thấp, tầm trung bình và tầm cao. Tính đến trước ngày 18-12-1972, ngày Mỹ mở đầu cuộc tập kích chiến lược bằng B-52 ra Hà Nội và Hải Phòng, chỉ riêng ở Hà Nội, quân và dân miền Bắc đã xây dựng được 30 trận địa cho tên lửa, hơn 100 trận địa cho cao xạ các loại… Trên chiến trường miền Bắc, từ Nghệ An trở ra, Việt Nam đã tập trung một lực lượng phòng không chủ lực mạnh nhất từ trước cho đến lúc bấy giờ cho cuộc quyết chiến trên không cuối tháng 12-1972 với Mỹ. Nhờ đó, quân và dân miền Bắc đã chủ động giáng trả kịp thời và hiệu quả máy bay, tàu chiến Mỹ ngay từ ngày đầu, trận đầu. Kết quả cuộc chiến đấu 12 ngày đêm cuối năm 1972 là 81 máy bay các loại của Mỹ, trong đó có 34 chiếc B-52, 5 F-111, 44 phi công đã bị lực lượng phòng không Việt Nam bắn hạ và bắt sống. Thắng lợi trong trận “Điện Biên Phủ trên không” lịch sử này đã góp phần buộc Mỹ phải ký kết Hiệp định Pa-ri về chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam, cam kết rút quân và không can thiệp vào nội bộ Việt Nam.

Ta đã đập tan cuộc tập kích chiến lược đường không của Mỹ cuối năm 1972, buộc địch phải khuất phục nhờ bắn hạ con chủ bài B-52 nhiều tới mức không thể chịu đựng. Bộ đội tên lửa phòng không Việt Nam là lực lượng bắn rơi nhiều máy bay B-52 nhất (29/34 chiếc), góp phần quyết định vào thắng lợi của chiến dịch phòng không bảo vệ Hà Nội. Việt Nam đã quyết tâm sử dụng lực lượng tên lửa để tiêu diệt lực lượng tập kích chủ chốt B-52, chỉ giành tên lửa để đánh B-52 ban đêm còn lực lượng không quân và cao xạ tập trung đánh không quân chiến thuật vào ban ngày.

Việc Việt Nam sớm xây dựng được một hệ thống phòng không mạnh mẽ khiến chính Mỹ phải kinh ngạc và thừa nhận: “Lúc Mỹ khởi đầu chiến dịch ném bom miền Bắc năm 1965, miền Bắc Việt Nam không có máy bay phản lực, có rất ít sân bay, không có tên lửa, chỉ có một số ít súng phòng không lỗi thời. Nhưng năm 1967, các phi công Mỹ đã phải bay qua lưới phòng không kinh khủng hơn, nhiều hơn lưới lửa gặp phải ở Đức năm 1944… Tổn thất của Mỹ về máy bay và phi công đã gia tăng tỷ lệ thuận với mức độ phát triển hệ thống phòng không của Hà Nội”. Chính giới quân sự Mỹ cũng phải công nhận: “Bắc Việt Nam có một trong các hệ thống phòng không hiệu quả nhất trong lịch sử”. Và để có được hệ thống phòng không này, theo tướng 4 sao của Mỹ là Brúc Pan-mơ (Bruce Palmer) khẳng định: “Với sự giúp đỡ to lớn, chủ yếu là của Liên Xô, cuối cùng Hà Hội đã phát triển các hệ thống phòng không ghê gớm nhất mà các lực lượng chúng ta chưa bao giờ vấp phải”. Ông này cũng thừa nhận: “Tất nhiên người của họ được huấn luyện rất cẩn thận và được các chuyên gia Nga hướng dẫn tỉ mỉ để sử dụng những loại vũ khí phòng không tinh vi”.

Trên thực tế, bên cạnh giúp Việt Nam trang bị, vũ khí, các nước XHCN anh em cũng cử một đội ngũ chuyên gia quân sự giàu kinh nghiệm sang hướng dẫn quân và dân Việt Nam cách sử dụng những loại vũ khí này. Theo thống kê của các cơ quan chức năng Việt Nam, từ năm 1965 đến 1970, Liên Xô đã cử sang Việt Nam tổng số 3.935 chuyên gia ở các lĩnh vực khác nhau. Ngoài ra còn có một số chuyên gia quân sự của Triều Tiên, bộ đội phòng không của Trung Quốc sang giúp Việt Nam.

Trung tá NGUYỄN VĂN QUYỀN

Viện Lịch sử quân sự Việt Nam
qdnd.vn

Đỉnh cao về nghệ thuật tác chiến của Không quân nhân dân Việt Nam trong kháng chiến chống Mỹ

QĐND – Chiến thắng “Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không” tháng 12-1972 là một biểu tư­­ợng rực rỡ về sức mạnh của chủ nghĩa anh hùng cách mạng, của tầm cao trí tuệ và bản lĩnh Việt Nam trong thời đại Hồ Chí Minh, của sức mạnh chiến tranh nhân dân Việt Nam chống chiến tranh phá hoại của đế quốc Mỹ. Đó là trận quyết chiến chiến lược trong một chiến dịch lớn, có ý nghĩa quan trọng cả về chính trị, quân sự, ngoại giao, góp phần thúc đẩy cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nư­­ớc của nhân dân ta đi đến thắng lợi “đánh cho Mỹ cút” tiến lên “đánh cho ngụy nhào”, giải phóng hoàn toàn miền Nam thống nhất đất nước.

Sau 12 ngày đêm chiến đấu oanh liệt bằng tất cả lòng yêu nước, căm thù giặc, sự dũng cảm; với trí tuệ và bản lĩnh Việt Nam, quân dân thủ đô Hà Nội, Hải Phòng và toàn miền Bắc mà nòng cốt là bộ đội phòng không – không quân (PK-KQ), đã bắn rơi 81 máy bay Mỹ, trong đó có 34 chiếc B-52, 5 F-111 diệt và bắt sống nhiều giặc lái Mỹ. Để làm nên chiến thắng vĩ đại đó có nhiều yếu tố, nhưng trong phạm vi bài viết này, tôi xin được đề cập đến nội dung: Đánh thắng cuộc tập kích chiến lược bằng không quân của Mỹ cuối tháng 12-1972 – đỉnh cao về nghệ thuật tác chiến của Không quân nhân dân (KQND) Việt Nam trong kháng chiến chống Mỹ.

Trước hết, một trong những bất ngờ lớn nhất của Mỹ trong 2 cuộc chiến tranh phá hoại đối với miền Bắc nước ta là lực lượng không quân trẻ tuổi của Việt Nam đã phát triển nhanh chóng, có cách đánh độc đáo, táo bạo, thiện chiến, hiệu quả và trở thành lực lượng đột kích mạnh trên không, gây cho không quân Mỹ nỗi ám ảnh, kinh hoàng mỗi khi bay vào vùng trời miền Bắc Việt Nam.

Ngay sau khi mở mặt trận trên không thắng lợi vào mùa xuân năm 1965, không quân ta tiếp tục lập nên nhiều chiến công hiển hách. Trong suốt 2 cuộc chiến tranh phá hoại miền Bắc bằng không quân và hải quân của địch, không quân ta đã cất cánh chiến đấu, bắn rơi hàng trăm máy bay gồm hàng chục kiểu loại của địch, thế hệ phi công nào của ta cũng đánh thắng, loại máy bay nào cũng lập công. Sự xuất hiện của KQND Việt Nam trên bầu trời đã làm cho kẻ thù run sợ.

“Én bạc” MiG-21 – máy bay tiêm kích chủ lực bảo vệ vùng trời miền Bắc Việt Nam trong chống chiến tranh phá hoại của đế quốc Mỹ. Ảnh tư liệu

Để có được chiến công đó, vấn đề đầu tiên có tính quyết định đó là do chúng ta có sự chuẩn bị chu đáo về chiến lược, chiến dịch và chiến thuật. Trên cơ sở quán triệt sâu sắc nhận định đánh giá về địch của Bác Hồ và sự chỉ đạo sáng suốt của Bộ Chính trị, Quân ủy Trung ương, Bộ Tổng tư lệnh, Quân chủng PK-KQ chủ động làm công tác chuẩn bị và nghiên cứu tìm cách đánh B-52.

Đầu năm 1968, Bộ tư lệnh Quân chủng đã giao nhiệm vụ cho Bộ tư lệnh Binh chủng Không quân phải nghiên cứu cách đánh B-52. Theo đó, Binh chủng đã tổ chức một bộ phận cán bộ tham mưu và phi công vào Quảng Bình, Vĩnh Linh, lên đỉnh đèo Mụ Giạ, trực tiếp quan sát, tìm hiểu đội hình và quy luật hoạt động của B-52 cả ngày lẫn đêm.

Tháng 9-1971, Binh chủng đã đưa ra-đa dẫn đường vào Ba Đồn, Quảng Bình và Vĩnh Linh, liên tục cho ra-đa mở máy tìm bắt mục tiêu, lần đầu bị nhiễu nặng, không phát hiện được. Sau nhiều lần rút kinh nghiệm đã phát hiện được mục tiêu trong nhiễu, tổng hợp được quy luật hoạt động của B-52, xây dựng phương án tác chiến, nghiên cứu cách đánh và huấn luyện cho một số phi công MiG chuyên đánh B-52. Cuối tháng 9-1971, Binh chủng Không quân đã tổ chức bộ phận chỉ huy tiền phương bên cạnh sở chỉ huy tiền phương của Quân chủng PK-KQ ở phía Nam để theo dõi và nghiên cứu, tổ chức trận đánh B-52.

Đồng thời, ngay từ khi địch mở rộng chiến tranh bằng không quân ra miền Bắc và không quân ta mở mặt trận trên không đánh địch, dưới sự chỉ đạo của Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng, Quân chủng PK-KQ đã tổ chức lực lượng củng cố, nâng cấp, xây dựng mới hệ thống sân bay trên miền Bắc. Một số sân bay được xây dựng thành căn cứ tập kết và xuất phát chính của các loại máy bay hoạt động trên chiến trường phía Nam. Những sân bay bị địch phá hủy nặng ngay từ đầu chiến tranh có kế hoạch tu sửa riêng. Sau mỗi lần đánh phá của địch, các đơn vị công binh và nhân dân địa phương kịp thời huy động lực lượng sửa chữa gấp, bảo đảm cho máy bay có thể cất cánh và hạ cánh được. Một số sân bay dã chiến cũng được xây dựng, kịp thời phục vụ cho máy bay chiến đấu, máy bay vận tải cất cánh, hạ cánh. Ngoài ra, một số sân bay ở hướng Tây Bắc và trên đất bạn Lào được củng cố làm căn cứ dự bị cho không quân ta khi làm nhiệm vụ.

Yếu tố thứ hai là, Binh chủng đã tập trung xây dựng ý chí quyết tâm chiến đấu cao cho mọi đối tượng mà tập trung nhất là đội ngũ phi công. Đây là yếu tố then chốt giành thắng lợi. Trận chiến trong điều kiện ở trên không không có chiến hào, công sự trận địa. Hơn nữa, cuộc chiến đấu của không quân ta với không quân Mỹ phải nói là không cân xứng về lực lượng, chúng ta chỉ thắng được khi có cách đánh độc đáo, sáng tạo cộng với ý chí quyết tâm, bản lĩnh vững vàng của bộ đội. Mỗi trận đánh dù ngày hay đêm là một thử thách toàn diện đối với người chỉ huy, sĩ quan dẫn đường, đặc biệt là phi công – người trực tiếp đối mặt với kẻ thù; chần chừ một chút là mất thời cơ và có thể thất bại.

Trong 12 ngày đêm đánh B-52, ngoài những khó khăn bị tiêm kích địch khống chế, uy hiếp nhiều tầng, nhiều lớp thì những điều kiện phức tạp trong quá trình cất, hạ cánh cũng gây cho phi công không ít căng thẳng về tâm lý, đó là: Trực chiến dưới tầm bom đạn của các loại máy bay cường kích kể cả B-52. Cất, hạ cánh trong điều kiện ban đêm, đường băng ngắn, hẹp hoặc đã bị đánh phá, thiếu đèn chiếu sáng, không có chỉ huy hoặc chỉ huy hạn chế.

Ở đây, có một vấn đề hết sức quan trọng đó là: Trong phương châm tác chiến của không quân có nêu “đánh chắc thắng, tiêu diệt địch, bảo vệ mục tiêu, giữ gìn, bồi dưỡng lực lượng ta”. Nhưng riêng với đánh B-52 khi chúng ném bom miền Bắc, nhất là Hà Nội, với sự nguy hiểm của chúng, đặc biệt với ý nghĩa chính trị quan trọng là bảo vệ Thủ đô, nên bằng mọi cách không quân phải cất cánh. Trong bất cứ điều kiện khí tượng nào, hoàn cảnh khó khăn nào, không quân cũng phải có mặt để cùng với các lực lượng phòng không, ít nhất ngăn cản được các cuộc tiến công của địch.

Trong điều kiện địch tìm mọi cách để tiêu diệt không quân, chúng ta đã nêu cao ý chí quyết tâm, vượt qua khó khăn, gian khổ, hy sinh để tồn tại và phát triển, từng bước đánh bại kẻ thù. Đường băng bị đánh hỏng thì “ta sửa, ta bay” hoặc cất cánh từ đường lăn; sân bay chính bị đánh bom, bị khống chế thì xuất kích từ sân bay dự bị, sân bay dã chiến; cơ động ban ngày bị địch phát hiện thì tổ chức chuyển trường vào ban đêm, dùng trực thăng cẩu máy bay tiêm kích đi sơ tán hay đến sân bay bí mật…

Thực tế, trước khi diễn ra trận đánh của đồng chí Phạm Tuân ngày 27-12, chiến dịch đã diễn ra 10 ngày, lực lượng phòng không, đặc biệt là bộ đội tên lửa đã bắn rơi nhiều B-52 và các loại máy bay khác. Không quân đã xuất kích nhiều lần, bắn rơi một số máy bay chiến thuật. Sự xuất hiện của không quân đã làm giãn đội hình, giảm cường độ nhiễu và phân tán sự đối phó của địch, tạo điều kiện tốt cho lực lượng phòng không lập công. Tuy nhiên, không quân vẫn chưa bắn rơi được B-52. Những luồng tư tưởng khác nhau đã xuất hiện kể cả trong cơ quan và bộ phận phục vụ, đặc biệt là trong đội ngũ phi công. Số ít thì lo lắng khả năng bắn rơi B-52 của không quân ta, số khác thì nôn nóng dễ dẫn đến mất bình tĩnh và mạo hiểm, phần lớn phi công thấy trách nhiệm nặng nề đè lên đôi vai và cảm thấy mình có lỗi, chưa làm tròn sứ mệnh lớn lao đối với cấp trên, với Quân chủng và với đồng chí, đồng đội. Cái bao trùm lên tất cả là không quân phải bắn rơi B-52.

Thực tế đó khẳng định, nhiệm vụ đánh B-52 đã được quán triệt kỹ hơn, sâu sắc hơn đến mọi cán bộ, chiến sĩ, nhất là đội ngũ phi công. Nó trở thành khẩu hiệu hành động, trở thành quyết tâm sắt đá của không quân. Máy bay B-52 đã đánh ra miền Bắc, chưa bắn rơi B-52 coi như không quân còn món nợ. Trong những phút giây gian khổ và ác liệt nhất, tất cả mọi cán bộ, chiến sĩ, đặc biệt là đội ngũ phi công luôn giữ vững ý chí chiến đấu, khát khao thực hiện nhiệm vụ, còn một người, một máy bay cũng kiên quyết tiến công. Yếu tố tinh thần, tâm lý, bản lĩnh, ý chí của phi công cùng với nghệ thuật chỉ huy tài tình đã tạo nên sức mạnh to lớn để không quân vượt lên, giành chiến thắng.

Ba là, không quân ta tập trung xây dựng lực lượng, huấn luyện giỏi về kỹ thuật, nhuần nhuyễn về chiến thuật, cách đánh. Về xây dựng lực lượng: Với đặc thù của KQND Việt Nam, số phi công chiến đấu ở mỗi trung đoàn không nhiều nhưng được chia thành 2 bộ phận: Bộ phận huấn luyện và chiến đấu ban ngày (chiếm đa số), còn lại là huấn luyện và làm nhiệm vụ chiến đấu ban đêm. Năm 1972, lực lượng phi công chiến đấu ban ngày đã lập công xuất sắc, nhiều đồng chí bắn rơi 5-6 máy bay địch, hầu như đồng chí nào tham gia chiến đấu cũng lập công.

Tuy nhiên, trong chiến đấu do bị tổn thất nên có thời điểm lực lượng phi công còn rất mỏng. Số phi công đánh đêm đã tham gia trực ban chiến đấu, xuất kích ban đêm nhiều lần nhưng chưa ai bắn rơi được máy bay địch. Một vấn đề đặt ra là số anh em bay đêm mong mỏi được chiến đấu cùng đội ngũ đánh ngày, đây vừa là mong muốn được thử thách, lập công, vừa khắc phục tình trạng thiếu hụt phi công đánh ngày. Nhưng cấp trên đã nắm chắc ý đồ của địch, quyết tâm giữ gìn lực lượng, vì vậy cho đến trước khi chiến dịch 12 ngày đêm diễn ra, số phi công đánh đêm vẫn được giữ nguyên. Nhờ có sự chuẩn bị ấy mà trong 12 ngày đêm, không quân ta liên tục có lực lượng cất cánh. Đây cũng là yếu tố bất ngờ đối với kẻ thù.

Về công tác huấn luyện: Phi công chiến đấu đêm phải được huấn luyện kỹ hơn về kỹ thuật lái, nhất là cất, hạ cánh ở đường băng ngắn, hẹp, vào ban đêm, khí tượng phức tạp. Từ thực tế huấn luyện và chiến đấu thấy rằng: Nếu như có điều kiện và đủ lực lượng, những phi công đánh đêm được lựa chọn đào tạo từ những phi công chiến đấu ban ngày thì có thể kết quả chiến đấu còn cao hơn. Đây cũng là kinh nghiệm quý báu về huấn luyện phi công trong hoàn cảnh ta chưa có điều kiện bay nhiều để đồng hóa giữa phi công đánh ngày và đánh đêm. Một vấn đề hết sức quan trọng trong huấn luyện phi công, đó là phải mạnh dạn rèn luyện phi công trong thực tế chiến đấu. Sau mỗi lần gặp địch, tuy không bắn rơi nhưng phi công trưởng thành lên rất nhiều, từ ý chí quyết tâm đến tư duy chiến thuật tự tin và vững vàng hơn.

Trong 12 ngày đêm cuối năm 1972, B-52 đánh đêm là chủ yếu, ta sử dụng sân bay dã chiến, ánh sáng hạn chế để xuất kích và hạ cánh sau chiến đấu, do đó thường sử dụng lực lượng nhỏ 1-2 chiếc, mặt khác để nhanh chóng tiếp cận, công kích nhanh, thoát ly nhanh, đánh được địch, bảo vệ ta. Chỉ sử dụng 2 chiếc khi cần tăng cường nghi binh để kéo tiêm kích địch ra hướng khác, còn hướng đánh B-52 phải giữ bí mật bất ngờ, tránh tiêm kích, tiếp cận trực tiếp mục tiêu chủ yếu. Đây là kinh nghiệm quý được đúc kết qua thực tế chiến đấu.

Vì vậy, đòi hỏi người lái phải điêu luyện đánh đêm, cất, hạ cánh tại sân bay dã chiến đường băng nền đất, ban đêm ánh sáng hạn chế; trong điều kiện địch gây nhiễu nặng, ra-đa dẫn đường phát hiện mục tiêu không liên tục, chỉ căn cứ vào thông báo của mạng B1 để dẫn máy bay vào khu vực chiến đấu, phi công phát hiện mục tiêu bằng mắt, ước lượng cự ly, hướng bay, phân loại được máy bay địch qua ánh sáng của đèn, tăng lực tiếp cận, công kích đúng thời cơ. Phi công phải xác định cự ly xạ kích đối với tên lửa hồng ngoại hợp lý, nếu xa thì hiệu quả thấp, nếu quá gần thì sau khi công kích sẽ bị ảnh hưởng của luồng khí lưu phía sau B-52, máy bay ta dễ bị rơi hoặc lao thẳng vào B-52, không thoát ly kịp.

Về công tác chỉ huy, dẫn đường: Quá trình chuẩn bị cho cả chiến dịch nói chung và từng trận đánh của không quân ta nói riêng hết sức gian khổ, công phu và tỉ mỉ, từ công tác nghiên cứu đặt sở chỉ huy, theo dõi quy luật hoạt động của địch, chuẩn bị mọi phương án, nghiên cứu cách đánh. Trong 12 ngày đêm năm 1972, ta có phương án cất cánh đánh B-52 từ các sân bay vòng ngoài, sân bay dã chiến. Cả hai trận bắn rơi B-52 của không quân đều cất cánh từ sân bay vòng ngoài.

Ra-đa dẫn đường là mắt thần của không quân. Tuy nhiên, trong thực tế 12 ngày đêm năm 1972, dẫn đường gặp nhiều khó khăn do ra-đa bị nhiễu nặng, chúng ta đã phải tận dụng tất cả các yếu tố, các nguồn tình báo, các trạm ra-đa dẫn đường khác (mạng B1, ra-đa của tên lửa, cao xạ, các trạm quan sát mắt) phối hợp với nhau để có những tham số dẫn đường, người chỉ huy nghiên cứu bố trí các trạm ra-đa dẫn đường trên một đường bay cùng phối hợp dẫn đường, các trạm ra-đa hai bên sườn của đường bay rất linh hoạt, như các trạm ở Thọ Xuân, Mộc Châu, Yên Bái… vì chúng ta đã đúc kết được kinh nghiệm: Máy gây nhiễu của B-52 chỉ có tác dụng tốt về phía trước theo hướng bay, hai bên sườn và phía sau cường độ yếu hơn. Thực tế đúng như vậy, các trạm ra-đa này đã phát hiện tốt và dẫn khá chuẩn xác máy bay ta.

Bốn là, nghiên cứu tìm cách đánh và rút kinh nghiệm để thay đổi cách đánh kịp thời khi địch thay đổi thủ đoạn là một yêu cấp cấp thiết thường xuyên sau mỗi trận đánh.

Khi đánh vào Hà Nội, địch cảnh giác và chuẩn bị kỹ cả trên 3 mặt: Gây nhiễu, hộ tống nhiều tầng, nhiều lớp tạo nên lá chắn cho B-52 và đánh đồng loạt các sân bay của ta. Ngay từ trận đầu đêm 18-12 và tiếp tục một số trận sau, phi công ta đều phát hiện đèn của F-4 và đèn của B-52 nhưng chúng ta không tiếp cận được hoặc khi tiếp cận mở ra-đa vừa bị nhiễu, vừa lộ lực lượng, địch cơ động, ta mất mục tiêu. Nếu tổ chức chỉ huy và phi công rút kinh nghiệm thay đổi cách dẫn dắt và phương pháp tiếp cận bằng đèn sớm hơn thì có thể thời cơ đánh B-52 của ta còn nhiều hơn. Rõ ràng đây là bài học sâu sắc, nhất là khi lực lượng của ta mỏng đối chọi với một lực lượng mạnh, ta càng phải biến hóa, càng phải chủ động, sáng tạo trong cách đánh mới giành được thắng lợi.

Trước một lực lượng không quân nhà nghề của Mỹ, với VKTBKT hiện đại, chúng ta đã tìm ra cách đánh sáng tạo, phán đoán chính xác âm mưu, thủ đoạn của địch, xử lý linh hoạt các tình huống trên không và mặt đất, đồng thời luôn luôn hiệp đồng tác chiến chặt chẽ giữa các lực lượng trong từng khâu, từng bước. Vì vậy, không quân ta càng đánh, càng thắng, càng đánh càng trưởng thành, phát triển, những chiếc MiG vẫn tung hoành trên bầu trời và giáng cho địch những đòn đích đáng.

Khu vực địch tập trung săn lùng MiG của ta nhiều nhất là là vùng trời Việt Trì – Tam Đảo, nơi đây đã trở thành nơi vùi thây những “thần sấm”, “con ma” và trở thành khu vực khiếp đảm của giặc lái Mỹ. Chúng đã gọi đây là “Thung lũng MiG”. Có trận, địch âm mưu chọn vùng trời này để phục kích, sẵn sàng chặn đánh MiG của ta ngay sau khi cất cánh bay lên, nhưng chúng không ngờ một biên đội MiG đã phục kích trước ở khu chờ. Địch vừa đến nơi đã bị MiG chủ động công kích và 2 chiếc “thần sấm” đã phải đền tội, bọn còn lại quăng bom bừa bãi để chạy tháo thân… Nhiều trận MiG của ta đã giấu mình trong mây, thậm chí ngay trong vệt đường bay của máy bay địch để chờ thời cơ tiêu diệt chúng…

Không quân địch thường xuyên thay đổi thủ đoạn, càng ngày càng tinh vi, khó đối phó nhưng chúng ta đã có nhiều cách đánh sáng tạo, độc đáo như: Đánh quần, đánh gần, kéo địch đến khu vực có lợi để đánh, chủ động đánh chặn từ xa, sử dụng tất cả các số trong đội hình đều có thể tham gia công kích khi xuất hiện thời cơ, tổ chức đội hình chiến đấu phù hợp, sử dụng ra-đa, thiết bị vô tuyến linh hoạt; kết hợp chặt chẽ trên không và mặt đất… Khi tiếp cận B-52 ta đã nghiên cứu, áp dụng và phát triển các hình thức chiến thuật từ “bay thấp, kéo cao” đến “bay cao, tiếp cận nhanh” rất hiệu quả và đã thành công trong 2 trận bắn rơi liên tiếp 2 chiếc B-52 trong hai đêm 27 và 28-2-1972 của đồng chí Phạm Tuân và Vũ Xuân Thiều.

Thực tế trên, một lần nữa chúng ta có thể khẳng định: Đánh thắng cuộc tập kích chiến lược bằng không quân của Mỹ cuối tháng 12 năm 1972 – đỉnh cao về nghệ thuật tác chiến của KQND Việt Nam trong kháng chiến chống Mỹ.

Trung tướng PHƯƠNG MINH HÒA, Ủy viên Trung ương Đảng, Tư lệnh Quân chủng PK-KQ
qdnd.vn

Tên lửa “dìm” B-52 xuống hồ Hữu Tiệp

QĐND Online – Những ngày này, Bảo tàng Chiến thắng B-52 (157 Đội Cấn, Hà Nội) đang khẩn trương làm công tác chuẩn bị đón khách tham quan, nhân kỷ niệm 40 năm Chiến thắng “Hà Nội-Điện Biên Phủ trên không”. Tại khu vực trưng bày ngoài trời, bên cạnh đống xác B-52 khổng lồ, là pháo cao xạ, đài điều khiển tên lửa, máy bay của Quân chủng PK-KQ đã từng lập công xuất sắc trong Chiến dịch “Hà Nội-Điện Biên Phủ trên không”. Ngay trước cửa Bảo tàng, Đài điều khiển tên lửa Sam-2 đã từng “vít cổ” pháo đài bay B-52 xuống hồ Hữu Tiệp (Ngọc Hà, Hà Nội) vẫn kiêu hãnh hướng lên bầu trời Thủ đô.

Đài điều khiển tên lửa Sam-2 đã “dìm” máy bay B-52 xuống hồ Hữu Tiệp (Ngọc Hà, Hà Nội)

Gần đây, trong dịp 10 kíp chiến đấu của Sư đoàn phòng không 361 (Quân chủng PK-KQ) gặp mặt, làm rõ 25 trận đánh của Sư đoàn, tiêu diệt 25 máy bay B-52 trong Chiến dịch “Hà Nội-Điện Biên Phủ trên không”, chúng tôi đã được nghe kể về chiến công của Tiểu đoàn 72 (Trung đoàn 261) gắn với Đài điều khiển tên lửa Sam-2 này.

Bộ đài điều khiển, từ góc nhìn khác

Chiều 27-12-1972, Tiểu đoàn 72 được lệnh cơ động từ Hải Phòng lên tăng cường lực lượng chiến đấu cho Trung đoàn 261. Vào lúc 23 giờ 02 phút, nhận được lệnh tiêu diệt tốp B-52 mang số hiệu 419 từ hướng Tây đang lao vào đánh Hà Nội, Tiểu đoàn 72 vào cấp 1. Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 72 Phạm Văn Chắt lệnh cho sĩ quan điều khiển Nguyễn Văn Dự và kíp trắc thủ sục sạo, phát hiện mục tiêu nhưng không thấy, chỉ thấy dải nhiễu đậm đặc ở phương vị 180. Tiểu đoàn trưởng Chắt quyết định phóng 2 quả đạn, bám chính xác vào giữa dải nhiễu mịn, phương pháp điều khiển 3 điểm. Hai quả đạn đều nổ tốt. Tại cự ly 34km, dải nhiễu tách, sĩ quan điều khiển báo cáo mục tiêu bị tiêu diệt; quan sát mắt báo cáo B-52 cháy, rơi về phía Hà Nội.

Chiếc B-52 này bị bắn cháy khi chưa kịp cắt bom, rơi xuống hồ Hữu Tiệp, Ngọc Hà (Hà Nội). Lúc đó là 23 giờ 09 phút ngày 27-12-1972.

Bài, ảnh: PHẠM HOÀNG HÀ
qdnd.vn

Chiến thắng có ý nghĩa lịch sử và thời đại sâu sắc (*)

QĐND – Hôm nay, trong niềm phấn khởi và tự hào của đồng bào và chiến sĩ cả nước, Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam, Chủ tịch nước, Quốc hội, Chính phủ nước Cộng hòa XHCN Việt Nam, ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tổ chức trọng thể Lễ kỷ niệm 40 năm Chiến thắng “Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không”, sự kiện lịch sử trọng đại và kỳ tích có một không hai – biểu tượng chiến thắng của bản lĩnh, trí tuệ và chủ nghĩa anh hùng cách mạng Việt Nam. Đây là chiến thắng có ý nghĩa lịch sử và thời đại sâu sắc, góp phần rất quan trọng đưa cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước của dân tộc ta đi đến thắng lợi hoàn toàn.

Tháng 12 năm 1972, sau khi đơn phương tuyên bố hoãn không thời hạn Hội nghị Pa -ri về “Chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam”, đế quốc Mỹ đã mở cuộc tập kích chiến lược bằng đường không vào miền Bắc nước ta với tên gọi Chiến dịch “Lai -nơ-bếch-cơ II”, nhằm đánh phá, hủy diệt tiềm lực kinh tế, quốc phòng miền Bắc, gây sức ép buộc ta phải chấp nhận ký Hiệp định Pa -ri theo các điều khoản có lợi cho Mỹ; hạn chế sự chi viện cho cách mạng miền Nam; làm tê liệt ý chí chiến đấu, giảm thế và lực của ta so với địch trên chiến trường; đe dọa phong trào đấu tranh của nhân dân tiến bộ, yêu chuộng hòa bình trên thế giới. Đây là cuộc tập kích bằng đường không huy động lực lượng lớn nhất của Mỹ kể từ sau chiến tranh thế giới lần thứ hai, với hàng trăm máy bay ném bom chiến lược B -52, được mệnh danh là “Siêu pháo đài bay” – “thần tượng bất khả chiến bại” của không lực Hoa Kỳ, cùng hàng ngàn máy bay chiến thuật và nhiều tàu sân bay, tàu chiến tối tân, hiện đại.

Ngay từ những năm đầu của cuộc chiến đấu chống chiến tranh phá hoại của Mỹ ở miền Bắc, sớm nhận rõ và dự báo chính xác tình hình, Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng ta đã xác định quyết tâm chiến lược, tập trung lãnh đạo, chỉ đạo, động viên quân và dân ta chuẩn bị sẵn sàng về mọi mặt để quyết đánh, quyết thắng cuộc tập kích chiến lược bằng máy bay B -52 của Mỹ. Từ cuối năm 1967, đầu năm 1968, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ rõ: “Sớm muộn rồi đế quốc Mỹ cũng sẽ đưa B -52 ra đánh Hà Nội rồi có thua nó mới chịu thua. Phải dự kiến trước tình huống này càng sớm càng tốt, để có thời gian mà suy nghĩ, chuẩn bị… ở Việt Nam, Mỹ sẽ nhất định thua, nhưng nó chỉ thua sau khi thua trên bầu trời Hà Nội”.

Dưới sự lãnh đạo sáng suốt của Đảng, Chủ tịch Hồ Chí Minh và Quân ủy Trung ương, Quân chủng Phòng không – Không quân đã sớm có kế hoạch tác chiến đánh trả cuộc tập kích bằng B -52 của Mỹ vào Hà Nội, Hải Phòng. Với sự chủ động, sáng tạo của nghệ thuật quân sự Việt Nam, qua nhiều năm nghiên cứu, tìm tòi cách đánh máy bay B -52, các lực lượng vũ trang ta, với nòng cốt là Quân chủng Phòng không – Không quân và nhân dân miền Bắc, nhất là quân dân thủ đô Hà Nội đã tổ chức, phát huy sức mạnh tổng hợp của thế trận phòng không nhân dân vững chắc, hợp đồng tác chiến chặt chẽ giữa các lực lượng, quyết đánh, biết đánh và quyết thắng. Ngay từ trận đầu ra quân, đêm 18-12-1972, ta đã bắn rơi tại chỗ “siêu pháo đài bay B -52”, mở màn cho những thắng lợi vang dội trong những trận đánh tiếp theo. Trong 12 ngày đêm chiến đấu anh dũng, kiên cường, mưu trí, sáng tạo, quân và dân ta đã đánh bại hoàn toàn cuộc tập kích chiến lược đường không quy mô lớn chưa từng có, chủ yếu bằng B -52 của Mỹ, làm nên chiến thắng “Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không” lẫy lừng, bắn rơi 81 máy bay các loại, trong đó có 34 chiếc B -52, tiêu diệt và bắt sống hàng trăm giặc lái Mỹ. Đây cũng là lần đầu tiên trong lịch sử, “siêu pháo đài bay B -52” thảm bại và không quân Mỹ phải chịu thiệt hại nặng nề nhất. Sau thất bại này, nhà cầm quyền Mỹ phải tuyên bố ngừng ném bom từ vĩ tuyến 20 trở ra và chấp nhận quay trở lại bàn đàm phán.

Ngày 27-1-1973, Hiệp định Pa -ri về “chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam” được ký kết. Cuối tháng 3-1973, quân đội Mỹ và chư hầu phải rút khỏi miền Nam Việt Nam. Chiến thắng “Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không” là một trong những chiến thắng mang tầm vóc lịch sử ở thế kỷ XX, viết tiếp những trang sử vàng chiến công chói lọi trong lịch sử chống ngoại xâm, giữ nước của dân tộc ta. Chiến thắng đó đã góp phần bảo vệ vững chắc miền Bắc XHCN, giữ vững thành quả cách mạng; tạo ra cục diện mới để quân và dân ta thực hiện trọn vẹn lời dạy của Bác Hồ kính yêu “đánh cho Mỹ cút, đánh cho ngụy nhào”; giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước vào mùa Xuân năm 1975. Chiến thắng “Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không” đã chứng minh hùng hồn chân lý: “Không có gì quý hơn độc lập, tự do”, một nước đất không rộng, người không đông, nhưng biết đoàn kết đấu tranh cho độc lập dân tộc, hòa bình, dân chủ và chủ nghĩa xã hội, dưới sự lãnh đạo của một đảng mác -xít chân chính với đường lối và phương pháp cách mạng đúng đắn, được sự đồng tình, ủng hộ của nhân dân yêu chuộng hòa bình trên thế giới thì có thể chiến thắng mọi kẻ thù, dù chúng có các loại vũ khí, phương tiện chiến tranh hiện đại nhất.

Chiến thắng “Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không” đã góp phần làm tăng thêm sức mạnh và thế tiến công của phong trào cách mạng thế giới; củng cố niềm tin chiến thắng cho các lực lượng tiến bộ đấu tranh vì hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội. Chiến thắng “Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không” là chiến thắng của đường lối chiến tranh nhân dân, toàn dân, toàn diện; chiến thắng của nghệ thuật quân sự Việt Nam: Mưu trí, sáng tạo, lấy ít địch nhiều, lấy nhỏ đánh lớn, dựa trên cơ sở phát huy sức mạnh tổng hợp của toàn dân tộc; chiến thắng của nghệ thuật xây dựng thế trận phòng không nhân dân vững chắc, phát huy cao nhất vai trò của lực lượng phòng không ba thứ quân; là chiến thắng của tinh thần độc lập tự chủ, tự lực, tự cường, thông minh, sáng tạo; của ý chí quyết đánh và quyết thắng; đồng thời tranh thủ sự đồng tình, ủng hộ, giúp đỡ của các nước XHCN anh em, các lực lượng tiến bộ, yêu chuộng hòa bình trên thế giới.

Làm nên Chiến thắng “Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không”, có sự đóng góp hy sinh to lớn của lực lượng vũ trang và nhân dân các địa phương miền Bắc, trực tiếp là thủ đô Hà Nội. Trong 12 ngày đêm, Hà Nội, Hải Phòng và một số thành phố, thị xã trên miền Bắc đã phải hứng chịu hơn tám mươi ngàn tấn bom, đạn tàn phá, hủy diệt, nhưng quân và dân ta, Đảng bộ, chính quyền, lực lượng vũ trang và nhân dân Thủ đô văn hiến, anh hùng đã biến đau thương thành hành động cách mạng, giữ vững niềm tin vào sự lãnh đạo của Đảng, vào thắng lợi cuối cùng của cuộc kháng chiến; vượt qua mọi hy sinh gian khổ, anh dũng, ngoan cường, quyết chiến đấu với tinh thần “quyết tử để Tổ quốc quyết sinh”. Đó là một trong những điển hình về sức mạnh chính trị tinh thần trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của nhân dân ta.

Trong những ngày chiến đấu đó, cả nước hướng về Thủ đô, bảo vệ Thủ đô. Quân và dân ta ở miền Nam ruột thịt đã “chia lửa” cùng đồng bào và chiến sĩ miền Bắc, đẩy mạnh tiến công trên khắp các chiến trường, làm cho kẻ địch phải phân tán lực lượng, bị động đối phó trên nhiều hướng, nhiều mặt trận, hoang mang, nhụt chí chiến đấu.

Năm tháng sẽ qua đi, Chiến thắng “Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không” mãi mãi là biểu tượng của ý chí kiên cường, bất khuất, thông minh, sáng tạo; là niềm tự hào của dân tộc ta, nhân dân ta, quân đội ta, là một trong những chiến công hiển hách trong lịch sử chống ngoại xâm của dân tộc Việt Nam Anh hùng; ghi đậm dấu ấn của cuộc đấu tranh cách mạng hào hùng của nhân dân ta trong thời đại Hồ Chí Minh.

Ngày nay, đất nước ta hòa bình, thống nhất, đang thực hiện công cuộc đổi mới, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế vì dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh, vững bước đi lên chủ nghĩa xã hội và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam XHCN. Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung, phát triển năm 2011) và Chiến lược phát triển kinh tế – xã hội 2011- 2020 được thông qua tại Đại hội lần thứ XI của Đảng tiếp tục khẳng định đường lối xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong giai đoạn mới; phấn đấu đến năm 2020 nước ta cơ bản thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại; giữ vững độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ; nâng cao vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế; tạo tiền đề vững chắc để phát triển cao hơn trong giai đoạn tiếp theo.

Để thực hiện thắng lợi các mục tiêu, nhiệm vụ đó, đòi hỏi sự quyết tâm, nỗ lực phấn đấu rất cao của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta. Chiến công oanh liệt của trí tuệ, lòng dũng cảm và ý chí quật cường của dân tộc ta, quân đội ta, của cán bộ, chiến sĩ Quân chủng Phòng không – Không quân, của quân dân Thủ đô và các tỉnh, thành phố miền Bắc trong 12 ngày đêm chống cuộc tập kích chiến lược bằng đường không của đế quốc Mỹ cổ vũ, khích lệ chúng ta vững bước đi lên.

Lòng dũng cảm, trí thông minh, sáng tạo đánh thắng máy bay chiến lược B -52 và những phẩm chất cao đẹp của cán bộ, chiến sĩ và đồng bào ta trong những năm tháng kháng chiến gian khổ, sẵn sàng hy sinh tất cả vì độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội cần được giữ gìn, truyền lại cho các thế hệ hôm nay và mai sau.

Những bài học về dự báo tình hình, chuẩn bị và tổ chức lực lượng; nghệ thuật xây dựng thế trận phòng không nhân dân; tinh thần tự chủ, tự lực, tự cường và sử dụng có hiệu quả sự giúp đỡ quốc tế, tạo nên sức mạnh tổng hợp để kháng chiến thắng lợi, cần được vận dụng sáng tạo và phát triển trong điều kiện mới. Tăng cường công tác tuyên truyền, giáo dục lý tưởng, tinh thần yêu nước, niềm tự hào dân tộc, trách nhiệm và nghĩa vụ bảo vệ Tổ quốc trong toàn dân, nhất là thế hệ trẻ. Tiếp tục củng cố, tăng cường tiềm lực mọi mặt của đất nước; kết hợp hài hòa giữa phát triển kinh tế – xã hội với tăng cường quốc phòng – an ninh; xây dựng nền quốc phòng toàn dân, toàn diện, tự chủ, tự lực, tự cường và ngày càng hiện đại; tăng cường đoàn kết gắn bó giữa quân và dân, xây dựng thế trận quốc phòng toàn dân gắn với thế trận an ninh nhân dân vững chắc. Phát huy truyền thống 68 năm xây dựng, chiến đấu và trưởng thành của Quân đội nhân dân Việt Nam và thành tựu 23 năm Ngày hội Quốc phòng toàn dân, tập trung nâng cao chất lượng xây dựng Quân đội nhân dân cách mạng chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại, xây dựng Quân chủng Phòng không – Không quân hiện đại, xứng đáng là lực lượng chính trị, chiến đấu, tuyệt đối trung thành với Đảng, Nhà nước và nhân dân, hoàn thành thắng lợi mọi nhiệm vụ được giao.

Đảng, Nhà nước và nhân dân Việt Nam luôn ghi nhớ và biết ơn sự ủng hộ, giúp đỡ chí tình, chí nghĩa của các nước XHCN anh em, bạn bè quốc tế, nhân dân yêu chuộng hòa bình và công lý trên thế giới, trong đó có nhân dân Mỹ, đã dành cho nhân dân ta trong những năm tháng chiến tranh gian khổ ác liệt. Trải qua những tàn phá nặng nề và hy sinh to lớn trong chiến tranh, hơn ai hết, nhân dân Việt Nam thiết tha, quý trọng hòa bình để xây dựng và phát triển đất nước. Kế thừa và phát huy truyền thống hòa hiếu của dân tộc Việt Nam, “khép lại quá khứ, hướng tới tương lai”, nhân dân ta luôn mong muốn tăng cường quan hệ hữu nghị hợp tác cùng phát triển với các nước trên thế giới, trong đó có Hoa Kỳ, theo tinh thần Việt Nam là bạn, là đối tác tin cậy và thành viên có trách nhiệm trong cộng đồng quốc tế; giữ vững môi trường hòa bình, ổn định để thực hiện thắng lợi sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa, bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ và lợi ích của đất nước; xây dựng một nước Việt Nam XHCN giàu mạnh, góp phần xứng đáng vào cuộc đấu tranh của nhân dân thế giới vì hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội.

Kỷ niệm 40 năm Chiến thắng “Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không”, chúng ta tự hào về những chiến công oanh liệt, truyền thống yêu nước, đoàn kết, ý chí kiên cường, bất khuất của dân tộc; tự hào về Đảng ta, một Đảng mác -xít kiên trung, có đường lối đúng đắn, sáng tạo, lãnh đạo cách mạng Việt Nam đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác; tự hào với truyền thống vẻ vang của Quân đội nhân dân Việt Nam anh hùng, một Quân đội từ nhân dân mà ra, vì nhân dân mà chiến đấu, sẵn sàng hy sinh vì độc lập, tự do của Tổ quốc, vì hạnh phúc của nhân dân; tự hào về dân tộc ta, một dân tộc giàu lòng yêu nước, yêu chuộng hòa bình và công lý, không bao giờ chịu cúi đầu, khuất phục trước bất kỳ thế lực xâm lược hung bạo nào. Toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta quyết tâm giữ gìn và phát huy cao độ truyền thống vẻ vang đó trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc hôm nay.

Hào khí Việt Nam, vận hội mới của đất nước thôi thúc chúng ta tranh thủ thời cơ, vượt qua thách thức, nỗ lực phấn đấu xây dựng thành công và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam XHCN, thực hiện thắng lợi mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh, xứng đáng với công lao to lớn, khát vọng cháy bỏng và sự hy sinh cao cả của các thế hệ đi trước, viết tiếp trang sử vẻ vang của dân tộc Việt Nam anh hùng.

(Diễn văn của Chủ tịch nước Trương Tấn Sang tại Lễ kỷ niệm)

(*) Đầu đề của Báo Quân đội nhân dân.
qdnd.vn

Ngày 30-12-1972: Chiến dịch “Hà Nội-Điện Biên Phủ trên không” thắng lợi

Ngày này 40 năm trước

QĐND – Lúc 7 giờ sáng ngày 30-12-1972 (giờ Hà Nội), Tổng thống Mỹ Ri-sác Ních-xơn ra lệnh ngừng ném bom từ vĩ tuyến 20 trở ra và họp lại Hội nghị Pa-ri về Việt Nam.

Cuộc tập kích chiến lược quy mô lớn bằng máy bay B-52 của Mỹ vào Hà Nội, Hải Phòng và một số địa phương miền Bắc nước ta kéo dài 12 ngày đêm của Mỹ đã bị thất bại hoàn toàn. Trong 12 ngày đêm “Hà Nội-Điện Biên Phủ trên không”, quân và dân ta đã bắn rơi 81 máy bay các loại, trong đó có 34 máy bay B-52, 5 máy bay F-111 và 42 máy bay chiến thuật khác.

Niềm vui gặp lại sau 40 năm của các cựu chiến binh tham gia Chiến dịch phòng không tháng 12-1972. Ảnh: Đình Xuân.

Cuộc ném bom nhằm đưa miền Bắc nước ta “trở về thời kỳ đồ đá” của quân đội Mỹ đã tàn phá tan hoang nhiều khu phố, làng mạc, phá sập 5.480 ngôi nhà, trong đó có gần 100 nhà máy, xí nghiệp, trường học, bệnh viện, nhà ga; sát hại 2.368 dân thường và làm bị thương 1.355 người khác. Đặc biệt, không quân Mỹ đã ném bom rải thảm, hủy diệt phố Khâm Thiên, tàn phá chiều dài khu phố hơn 1.200m, làm 287 người chết, 290 người bị thương. Máy bay B-52 còn ném bom xuống hơn 100 điểm dân cư khác trong thành phố, làm hơn 1000 người chết, bị thương.

XUÂN GIANG (tổng hợp)
qdnd.vn

Ngày 29-12-1972: Chiếc B-52 thứ 34 bị tiêu diệt, Lai-nơ bếch-cơ II…phá sản

Nhật ký Chiến thắng B-52

QĐND Online – Ngày 29-12-1972, ban ngày, địch sử dụng 30 lần chiếc máy bay chiến thuật đánh phá nhà máy điện Cao Ngạn, Đồng Hỷ và khu vực cây số 4 Bắc Thái Nguyên.

Ban đêm, từ 22 giờ 57 phút đến 23 giờ 30 phút, địch huy động 33 lần chiếc B-52 đánh vào Thái Nguyên, 23 lần chiếc B-52 đánh vào sân bay Hòa Lạc.

Ngoài ra, địch còn sử dụng 70 lần chiếc máy bay chiến thuật của không quân và hải quân đánh xen kẽ các sân bay: Thọ Xuân, Yên Bái, Hòa Lạc, Kép và khu vực Kim Anh (Vĩnh Phúc), Đông Anh (Hà Nội), ngoại vi TP Hải Phòng và Quảng Ninh.

Bom đạn, xác B-52 và “khắc tinh” của chúng – tên lửa Sam 2 hiện đang được trưng bày tại Bảo tàng PK-KQ.

Vào lúc 22 giờ 57 phút, Tiểu đoàn 79 (Trung đoàn 257) được lệnh vào cấp 1. Hai phút sau, Tiểu đoàn vào cấp 1 xong, khí tài sẵn sàng chiến đấu tốt.

Sau khi phát hiện nhiễu B-52, 23 giờ 6 phút, Tiểu đoàn trưởng Nguyễn Văn Chiến hạ lệnh phóng 2 quả đạn tên lửa, với chế độ bám sát bằng tay, phương pháp điều khiển 3 điểm.

Đạn có điều khiển tốt, gặp mục tiêu ở cự ly 30km và 29km. Sau khi đạn nổ, nhiễu tách dải, mờ dần. Vọng quan sát mắt báo B-52 cháy, bay về phía Bắc, rơi xa. Đây là chiếc B-52 thứ 34 và cũng là chiếc B-52 cuối cùng bị bắn rơi trong chiến dịch tập kích đường không chiến lược của Mỹ, mang tên Lai-nơ bếch-cơ II.

Trước tổn thất nặng nề về máy bay, nhất là máy bay B-52 và người lái, Mỹ không thể kéo dài hơn nữa cuộc tập kích chiến lược vào Thủ đô Hà Nội và Hải Phòng. 7 giờ sáng ngày 30-12-1972, chính quyền Mỹ buộc phải tuyên bố ngừng ném bom từ Bắc vĩ tuyến 20 trở ra và đề nghị gặp lại đại diện Chính phủ ta tại Pa-ri, bàn việc ký hiệp định.

Như vậy, sau 12 ngày đêm, cuộc tập kích chiến lược quy mô lớn bằng máy bay B-52 của Mỹ vào Hà Nội, Hải Phòng đã bị thất bại hoàn toàn. Quân và dân miền Bắc đã tiêu diệt 81 máy bay các loại của Mỹ, trong đó có 34 máy bay B-52 (16 chiếc rơi tại chỗ) và 5 máy bay F-111.

HOÀNG HÀ (tổng hợp)
qdnd.vn

——————

Đêm 28-12-1972: Địch nao núng, không quân và tên lửa tiếp tục lập công
Đêm 27-12-1972: “Én bạc” hạ gục “ngáo ộp” B-52
Ngày 26-12-1972: Trận then chốt quyết định, 8 chiếc B-52 bị tiêu diệt
Ngày 25-12-1972: Ta rút kinh nghiệm, điều chỉnh đội hình chiến đấu
Đêm 24-12-1972: “Rụng” thêm một B-52, địch tạm dừng tập kích
Đêm 23-12-1972: Thua đau, B-52 giãn xa Hà Nội, Hải Phòng
Đêm 22-12-1972: Bộ đội Tên lửa Hải Phòng diệt 2 siêu pháo đài bay
Đêm 21-12-1972: 3 phút, bắn rơi tại chỗ 3 máy bay B-52
Đêm 20-12-1972: Thắng lợi giòn giã, 7 máy bay B-52 bị quật cổ
Đêm 19-12-1972: 2 siêu pháo đài bay B-52 đền nợ máu
Đêm 18-12-1972: B-52 tan xác khi vừa mò vào Hà Nội

Điều chỉnh thế trận và cách đánh

QĐND – Thành phố Hải Phòng là một trong những mục tiêu trọng điểm mà Không quân Mỹ sử dụng máy bay ném bom chiến lược B-52 và không quân hải quân đánh phá trong chiến dịch tập kích 12 ngày đêm tháng 12-1972. Vì vậy, thực hiện sự chỉ đạo của Trung ương, Thành ủy Hải Phòng gấp rút tổ chức xây dựng thế trận phòng không nhiều tầng nhiều lớp, chủ động chuẩn bị mọi mặt sẵn sàng đập tan âm mưu của kẻ địch.

Trận địa súng máy phòng không của dân quân huyện Tiên Lãng, khống chế cửa sông Thái Bình tháng 12-1972. Ảnh tư liệu.

Để tạo thành thế trận phòng không nhiều tầng, nhiều lớp, Thành ủy Hải Phòng chỉ đạo các cấp ủy Đảng, chính quyền và lực lượng vũ trang địa phương phối hợp chặt chẽ giữa với Bộ tư lệnh Quân khu Tả ngạn, Quân chủng Hải quân và Sư đoàn 363 (Quân chủng Phòng không – Không quân)… Trong thời gian ngắn, thế trận phòng không thiên la địa võng nhiều tầng nhiều lớp được thiết lập, với sự chỉ huy điều hành thống nhất của Bộ tư lệnh 350 (Bộ tư lệnh phòng không Thành phố Hải Phòng), đặt dưới sự chỉ đạo trực tiếp của Thành ủy Hải Phòng. Trong đó, Sư đoàn 363 tên lửa phòng không tập trung đánh B-52 và bảo vệ các mục tiêu trọng yếu; lực lượng phòng không lục quân, công an nhân dân vũ trang và dân quân tự vệ bảo vệ các mục tiêu then chốt, trận địa tên lửa và phục kích đánh máy bay bay thấp của địch. Tàu chiến của hải quân, tàu thuyền vận tải, đánh cá tổ chức thành các cụm chiến đấu liên hoàn, tập trung có chiều sâu, dày đặc trên cửa sông, biển. Ngay trước khi Mỹ tiến hành chiến dịch tập kích, Bộ tư lệnh 350 đã tổ chức diễn tập thực binh, làm cơ sở để Thành ủy rút kinh nghiệm và tổ chức lãnh đạo xử lý các tình huống trong chiến đấu.

Đêm 18-12-1972, địch huy động nhiều tốp máy bay chiến thuật và máy bay ném bom chiến lược B-52 đánh phá Hải Phòng. Các tốp máy bay hải quân A-6, A-7 luôn thay đổi thủ đoạn chiến thuật, bất ngờ, bay rất thấp dọc theo sông Thái Bình, Văn Úc… vào đánh Hải Phòng. Những ngày đầu, hiệu suất chiến đấu đạt thấp. Bộ tư lệnh 350 chỉ đạo các đơn vị rút kinh nghiệm, tìm biện pháp khắc phục. Công tác tổ chức trinh sát, quan sát, thông tin liên lạc, phối hợp hiệp đồng giữa các lực lượng được chấn chỉnh. Trên cơ sở đó, các đơn vị kịp thời điều chỉnh thế trận, cơ động lực lượng thành lập cụm hỏa lực có trọng điểm, cùng đánh ở một cự ly, chốt mục tiêu và cơ động quanh chốt, kiên quyết khóa chặt các cửa sông, chặn đứng đường bay vào, bay ra của máy bay địch, chọn hướng tây nam và các cửa sông Thái Bình, Văn Úc… làm trọng điểm để bẻ gãy các cuộc tiến công của địch.

Bằng thế trận đã được điều chỉnh, đêm 19-12-1972, phát hiện máy bay địch từ hướng tây nam lao vào đánh phá cảng Hải Phòng, các trận địa phòng không tầm thấp của tự vệ Công ty Công nghệ phẩm Hải Phòng, tự vệ Bưu điện, Nhà máy nước, Đoàn chèo… đồng loạt nổ súng, bắn rơi 1 máy bay A-6D. Tương tự như vậy, đêm 21-12-1972, đại đội pháo cao xạ Trần Thành Ngọ (Thành đội Hải Phòng) chốt hướng tây nam kết hợp với khẩu đội súng máy của nữ dân quân xã An Thụy bắn rơi 1 chiếc A-6D, rơi ngay trên cửa sông Thái Bình.

TRẦN VĂN TOẢN
qdnd.vn

Bảo vệ tiếng loa truyền thanh

40 năm Chiến thắng “Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không”:

Ông Vũ Văn Viễn. Ảnh: Hoàng Thùy

QĐND – 40 năm sau Chiến dịch Điện Biên Phủ trên không, chúng tôi đã gõ cửa nhà “tư lệnh” của hệ thống phát thanh thời kỳ đó – ông Vũ Văn Viễn, nguyên Giám đốc Xí nghiệp truyền thanh Hà Nội. Ở cái tuổi 80, sức đã yếu, tai đã nặng nhưng nhắc đến 12 ngày đêm hào hùng ấy, ông Viễn vẫn rất hăng say và tự hào.

– Phóng viên (PV): Thưa ông, hệ thống truyền thanh của Thủ đô trong những ngày chiến tranh ác liệt của tháng 12-1972 chắc chắn phải có điều gì thật đặc biệt mới khiến phương Tây thán phục đến vậy?

Ông Vũ Văn Viễn: Hứng chịu bom đạn, nhà cửa bị phá nát, đường sá bị cày xới nhưng hệ thống truyền thanh phòng không của Hà Nội vẫn được những người công nhân cần mẫn bảo vệ, thực hiện nhiệm vụ báo động trọn vẹn, không hề bị ngừng tắt hay bất cứ một sai sót gì. Sự to rõ và trong sáng của tiếng nói Thủ đô vẫn hiên ngang vang lên trong tiếng gầm rú của máy bay Mỹ. Gần 200 công nhân, kể cả những công nhân sửa chữa đường dây đều an toàn, không có thương vong về người, chỉ có duy nhất một đồng chí bị thương nhẹ sau vài ngày đã bình phục. Đang ở gia đình ngày nghỉ, có báo động, có bom đạn là anh chị em không ngần ngại đạp thẳng xe đến Xí nghiệp nhận nhiệm vụ. Cả người bị bom sập hầm như anh Nguyễn Trọng Nhị nhưng vừa đứng dậy được là xông ngay vào trận tuyến. Cả những công nhân nhà cửa bị bom địch phá tan như anh Vũ Duy Lễ, Nguyễn Công Niết, Lê Quang Nhánh… cũng xếp khó khăn riêng, xông lên chiến đấu.

– PV: Đế quốc Mỹ bất ngờ tấn công và ném bom ở Hà Nội, hệ thống truyền thanh của chúng ta có rơi vào thế bị động không?

Ông Vũ Văn Viễn: Chiều 18-12-1972, Bộ tư lệnh Thủ đô đã cho nhóm phóng viên thường trú ở hầm chỉ huy Hội đồng phòng không nhân dân thành phố biết khả năng địch sẽ đánh lớn vào Hà Nội đêm nay. Được lệnh của Hội đồng phòng không nhân dân thành phố, Đài truyền đi từ hầm chỉ huy của Hội đồng phòng không nhân dân thành phố lên mạng lưới truyền thanh toàn thành phố băng ghi âm tiếng còi báo động và hướng dẫn phòng không nhân dân: “Đồng bào chú ý! Giặc Mỹ đang thua to, chúng âm mưu đánh phá điên cuồng vào Hà Nội. Hội đồng phòng không nhân dân thành phố ra lệnh, khi có báo động, mọi người phải xuống hầm trú ẩn, không ai được đi lại, đứng ngồi trên mặt đất”. Đây là một mệnh lệnh báo tin có máy bay B-52 vào đánh phá Hà Nội và là mệnh lệnh cho hệ thống truyền thanh lúc đó: Phải đảm bảo đường dây luôn thông suốt.

Người dân phố Khâm Thiên đi sơ tán.Ảnh: Chu Chí Thành

– PV: Đó không phải là yêu cầu dễ thực hiện khi mà bom đạn của Mỹ dội xuống ngày càng nhiều với tần suất ném ngày càng dày đặc…

Ông Vũ Văn Viễn: Chỉ sau hai ngày đế quốc Mỹ rải thảm, những khu vực trọng điểm như ga Yên Viên, ga Dục Nội, Cổ Loa, các bến phà… là những điểm cơ sở hạ tầng kỹ thuật đường dây bị đánh phá nặng nề. Hơn 130km đường dây có dấu vết của bom đạn để lại, hàng nghìn chiếc loa ở nội, ngoại thành, trong đó quá nửa tổng số xã (58 xã) của 4 huyện ngoại thành bị mất tiếng. Tại tất cả những điểm này đều có mặt những chiến sĩ công nhân. Họ đang làm việc mà như chiến đấu và đã chiến đấu rất dũng cảm. Những chiếc xe đạp lọc cọc phi trên đường, đối chọi với máy bay hiện đại, bom đạn tối tân của kẻ thù.

Trên mặt trận các trạm máy, nơi đầu não phát ra các mệnh lệnh của Hội đồng phòng không cũng là nơi chiến đấu rất căng thẳng. Suốt 12 ngày đêm, những nữ công nhân như Vũ Thanh Vân, Ngô Thị Lai, Doãn Thị Chắt… đã gắn liền cuộc sống của mình với máy phát, ăn cạnh máy, nằm cạnh máy, làm việc cùng máy, thức thâu đêm với máy. Dưới tầm B-52, có lúc hơi bom dội làm rung cả máy, ánh chớp bom sáng lóe cả phòng máy nhưng chị em rất bình tĩnh điều khiển những thao tác máy chính xác và kịp thời phát đi những mệnh lệnh chiến đấu và tin chiến thắng làm nức lòng người dân Thủ đô.

– PV: Trong trận Điện Biên Phủ trên không, thời khắc nào khó khăn nhất với ông và các công nhân chiến sĩ của Xí nghiệp?

Ông Vũ Văn Viễn: Đêm 20-12-1972, Chủ tịch Hội đồng phòng không Thành phố đã điện một lần nữa xuống cho chúng tôi yêu cầu: Phải đảm bảo bằng được tiếng loa ở những khu vực trọng điểm, đặc biệt là khu ga Yên Viên, ga Dục Nội, Đông Anh… để cho đội dân quân vận chuyển hết hàng hóa tập kết ở đây đi. Số hàng hóa, thuốc men rất lớn, lên đến hàng nghìn tấn do Liên Xô ủng hộ và viện trợ chúng ta để từ đây chuyển cho cả nước, nhất là cho chiến trường miền Nam. Giặc Mỹ biết nên liên tục cho máy bay quần thảo và giã bom không ngừng nghỉ xuống khu vực này. Với tính chất quan trọng và cấp bách như vậy, ngay sau khi nhận lệnh, trong đêm 20-12, đích thân tôi đã lên đường sang khu vực này chỉ huy trực tiếp để vừa đảm bảo cho loa thông suốt vừa hạn chế đến mức thấp nhất thương vong về người.

– PV: Ông và các đồng nghiệp của mình đã giải bài toán khó trên như thế nào?

Ông Vũ Văn Viễn: Vì bị công phá ác liệt, không kể ngày hay đêm, hệ thống truyền thanh của huyện Đông Anh bị phá hủy phải nói là rất kinh khủng. Công nhân không thể nối hết được các đường dây bị phá mà còn dễ bị dính đạn. Quan trọng, sửa chữa chậm giây phút nào, tiếng loa có nguy cơ bị ngừng giây phút đó. Đây là điều không được phép xảy ra. Cả đêm 20-12, tôi cùng các anh em ở tổ đảng của trạm Đông Anh thức trắng, họp bàn để tìm ra bằng được biện pháp thực hiện. Có rất nhiều phương án được đưa ra, tính toán… và cuối cùng rồi cũng chọn được một biện pháp hiệu quả nhất. Thay vì mắc từng loa một, chúng tôi quyết định kéo dây đến một nơi xa vùng trọng điểm (khoảng 2-3km) để đánh lừa địch, mắc ở đầu gió và sử dụng loa to hướng vào đó. Nếu một loa không đủ thì mắc cả chùm 2-3 loa. Nhờ vậy, các vùng trọng điểm vẫn duy trì được tiếng loa ngay cả khi có máy bay địch bắn phá mà không có công nhân nào thiệt mạng.

– PV: Xin cảm ơn ông!

ĐỨC HẠNH (thực hiện)
qdnd.vn

Tự hào về bản lĩnh, trí tuệ Việt Nam

QĐND – Vượt lên những mất mát, đau thương, quân và dân Hà Nội, nòng cốt là Bộ đội Phòng không-Không quân đã đập tan cuộc tập kích chiến lược bằng không quân của đế quốc Mỹ, làm nên một trận “Điện Biên Phủ trên không” sáng chói… 40 năm đã qua, nhưng chiến thắng này vẫn mãi lắng đọng trong tâm hồn mỗi người dân nước Việt.

Nhớ mãi 12 ngày đêm năm ấy

Còn nhớ, trước khi đánh Hà Nội và vùng phụ cận bằng máy bay ném bom chiến lược B-52, đế quốc Mỹ đã cho nhiều loại tiêm kích và cường kích khác đồng thời tấn công các kho tàng, bến bãi, khu dân cư, nhà trường, bệnh viên… Nhiều khu phố, trường học, bệnh viện, làng xã bị bon Mỹ san phẳng. Những quân và dân Thủ đô không hề nao núng. Lực lượng phòng không – không quân ta vẫn chắc tay súng đánh trả lại những đợt tấn công của kẻ thù. Còn những người công dân, nông dân chúng tôi vẫn chắc tay búa, tay cày thi đua tăng gia sản xuất. Sau mỗi trận bom của kẻ thù, chúng tôi lại mang cuốc, xẻng ra giúp bộ đội phòng không củng cố trận địa.

Cuốn sách “25 trận đánh bắn rơi B-52”. Ảnh: Nguyễn Chí Hòa

Đế quốc Mỹ định dùng sức mạnh quân sự để khuất phục nhân dân ta. Nhưng vượt lên những mất mát, đau thương, quân và dân Hà Nội, nòng cốt là Bộ đội Phòng không-Không quân đã đập tan cuộc tập kích chiến lược bằng không quân của đế quốc Mỹ, làm nên một trận “Hà Nội- Điện Biên Phủ trên không” buộc Mỹ phải thú nhận thất bại và đặt bút ký vào bản Hiệp định đình chiến, chấm dứt sự có mặt của quân đội Mỹ ở Việt Nam.

40 năm đã qua, nhưng những kỷ niệm về 12 ngày đêm sát cánh cùng bộ đội phòng không – không quân chiến đấu bảo vệ Thủ đô luôn sống động trong mỗi chúng tôi. Giờ đây, ở cái tuổi “Thất thập cổ lai hy” chúng tôi vẫn tích cực giáo dục truyền thống bất khuất kiên cường của dân tộc cho các thế hệ con cháu. Chúng tôi dạy thế hệ trẻ hôm nay rằng, không sức mạnh nào có thể bẻ gãy ý chí, chiến thắng được khát vọng độc lập, tự do của dân tộc Việt Nam. Đó là truyền thống văn hóa từ hàng ngàn năm đã kết tinh thành sức mạnh, thành điểm tựa cho một đất nước.

NGUYỄN VIẾT ĐỨC

(Xuân Phương, Từ Liêm, Hà Nội)

Bắn rơi B-52 tại chỗ có ý nghĩa mở màn

Trận đánh B-52 đêm 22-11-1972 là một trong những trận đánh đẹp, thắng lợi giòn giã. Ngay ngày hôm sau ban tác chiến Sư đoàn 361, Ban Tác chiến (Quân chủng PK-KQ) từ Hà Nội vào sở chỉ huy trung đoàn ở Nghệ An để chúc mừng và họp rút kinh nghiệm trận đánh thắng B-52 của đơn vị nhằm tìm cách đánh tốt nhất, hiệu quả nhất để bổ sung vào quyển sách đỏ “Cách đánh B-52” của quân chủng PK-KP và phổ biến, rút kinh nghiệm cho các đơn vị trong toàn quân. Từ những kinh nghiệm và cách đánh có hiệu quả của E263 một trận đánh có ý nghĩa mở màn nó như một niềm khích lệ, động viên và cổ vũ cho các trắc thủ ở các đơn vị tên lửa vững tin và quyết đánh, quyết thắng B-52 cho dù chúng có dùng những thủ đoạn tinh vi, xảo quyệt như thế nào cũng không thể khuất phục được ý chí quyết đánh và quyết thắng của dân tộc Việt Nam.

Chỉ sau 26 ngày kể từ trận thua đau đêm 22-11-1972, máy bay Mỹ liều lĩnh đánh phá vào Hà Nội. Chúng tưởng sẽ “ngon ăn”. Nhưng chúng đã lầm, chúng đã bay vào thế trận của lòng dân, bay vào thế trận như thiên la địa võng, tầng tầng, lớp lớp của lực lượng phòng không: Cao xạ, tên lửa, không quân của quân và dân miền Bắc để rồi chuốc lấy thất bại nặng nề.

Trận bắn rơi B-52 tại chỗ của E263 có ý nghĩa như một trận mở màn cho trận đại thắng của bộ đội tên lửa nói riêng và lực lượng PK-KQ Hà Nội và miền Bắc nói chung đã làm nên chiến thắng “Hà Nội-Điện Biên Phủ trên không” chấn động địa cầu buộc Mỹ phải ký kết hiệp định Pa-ri.

ĐÀO QUANG CƠ

(Thôn Đình, Tiên Lữ, Lập Thạch, Vĩnh Phúc)

Thêm một tư liệu quý

Nhân kỷ niệm 40 năm Chiến thắng “Hà Nội-Điện Biên Phủ trên không”, Sư đoàn Phòng không 361 (Quân chủng Phòng không-Không quân) kết hợp với Ban liên lạc Bạn chiến đấu của Sư đoàn đã cho xuất bản cuốn sách “25 trận đánh bắn rơi B-52”. Cuốn sách chỉ dày 100 trang, khổ 25x27cm, được in màu bằng giấy ảnh, bìa cứng, được Nhà xuất bản Quân đội nhân dân xuất bản vào tháng 12-2012. Đọc cuốn sách bạn đọc nói chung và thế hệ trẻ hiện nay được hiểu thêm về 25 trận đánh bắn rơi 25 máy bay B-52 của Sư đoàn Phòng không 361 trong chiến dịch 12 ngày đêm lịch sử tháng 12-1972. Đây cũng là bài học tổng kết về xây dựng thế trận phòng không nhân dân gắn với thế trận quốc phòng toàn dân và tinh thần dám đánh, biết đánh và quyết thắng của cán bộ, chiến sĩ Sư đoàn Phòng không 361 anh hùng.

Cuốn sách còn cung cấp cho bạn đọc một số dữ liệu chính về thời gian, địa điểm, danh sách kíp chiến đấu, sơ đồ các trận đánh, diễn biến của từng trận… phục vụ cho việc học tập, nghiên cứu và hiểu sâu sắc hơn về truyền thống Sư đoàn Phòng không 361 anh hùng.

NGUYỄN CHÍ HÒA

(ngõ 445 đường Lạc Long Quân, Tây Hồ, Hà Nội)

Tập làm chiến sĩ

Nhân kỷ niệm 40 năm Chiến thắng “Hà Nội-Điện Biên Phủ trên không”, 68 năm Ngày thành lập Quân đội nhân dân Việt Nam và 23 năm Ngày hội quốc phòng toàn dân, ngày 20-12, thầy và trò Trường THCS Hà Trung, TP Hạ Long, (Quảng Ninh) đã có buổi hoạt động ngoại khóa “Tập làm chiến sĩ” tại Trung đoàn 213, Sư đoàn 363 (Quân chủng Phòng không – Không quân). Tại đây, thầy và trò nhà trường được lãnh đạo đơn vị giới thiệu về truyền thống Quân đội nhân dân Việt Nam, Quân chủng Phòng không-Không quân và truyền thống đơn vị. Bên cạnh đó, thầy và trò nhà trường còn được nghe giới thiệu về truyền thống của bộ đội phòng không-không quân trong 12 ngày đêm chiến đấu bảo vệ Thủ đô, làm nên chiến thắng “Hà Nội-Điện Biên Phủ trên không” năm 1972.

Cô Đàm Thị Thanh Tâm, Hiệu trưởng nhà trường xúc động nói: Buổi giáo dục ngoại khóa này rất có ý nghĩa đối với thầy và trò nhà trường. Đối với giáo viên chúng tôi hiểu thêm về truyền thống chiến đấu kiên cường dũng cảm sáng tạo của quân đội ta, đặc biệt là các anh bộ đội phòng không-không quân trong chiến thắng “Hà Nội-Điện Biên Phủ trên không”. Tin rằng sau buổi dã ngoại này, việc dạy và học lịch sử của nhà trường sẽ có nhiều chuyển biến tích cực.

Các em học sinh đang tập xếp đặt nội vụ vệ sinh cá nhân. Ảnh: Cao Thanh Đông

Nguyễn Phương Anh, học sinh lớp 7A tâm sự: Trước đây chúng em hiểu chưa nhiều về truyền thống của Quân đội nhân dân Việt Nam, nhất là về Chiến thắng “Hà Nội-Điện Biên Phủ trên không”. Nay được nghe các bác, các chú bộ đội giới thiệu về truyền thống Quân đội nhân dân Việt Nam, Quân chủng Phòng không, chúng em đã thêm hiểu và tự hào hơn về thế hệ ông, cha mình. Chúng em sẽ cố gắng học tập thật tốt để sau này trở thành những công dân có ích cho xã hội, góp phần xây dựng đất nước ta “đàng hoàng hơn, to đẹp hơn” như lời Bác dạy trước lúc Người đi xa.

Còn theo Lê Thị Lan, học sinh lớp 8B: chuyến đi này để lại trong chúng em nhiều ấn tượng tốt đẹp về anh Bộ đội Cụ Hồ. Nhất là khi được tập làm chiến sĩ, chúng em rất vui và càng cảm phục các anh bộ đội.

Cao Thành Đông

(Hà Lầm, Hạ Long, Quảng Ninh)
qdnd.vn

“Đầu sỏ “52” nát mặt dày”

Cuộc sống – Trang viết

QĐND – Chiến công của quân và dân ta trong 12 ngày đêm “Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không” làm nức lòng bạn bè quốc tế và tạo môi trường để các nhà văn, nhà thơ “mặc sức” tung hoành, thỏa chí với ngòi bút sắc bén của mình. Nhiều chi tiết rất thú vị đã được các nhà văn phát hiện, ví như chuyện Tiểu đoàn tên lửa 72 – đơn vị bắn B-52D rơi tại chỗ ở làng hoa Ngọc Hà vốn được thành lập ở núi rừng Yên Thế, chiến khu xưa của nghĩa quân Đề Thám và xác chiếc máy bay đơn vị bắn rơi lại rơi ngay trên đường Hoàng Hoa Thám, giữa Thủ đô.

Nhà văn Nguyễn Tuân có mặt ở Ngọc Hà trong những ngày ác liệt ấy, đã viết bài ký rất hay: “Cánh B-52 rụng xuống một thôn hoa Hà Nội”. Trong đó có đoạn: “Đình Hữu Tiệp trước đây là nơi tuyển lựa chim họa mi hót hay thì nay là nơi triển lãm xác đại bàng Mỹ gãy cánh. Lòng hồ con trước đình, ngoi lên một cái đầu lâu Đuy-ra khổng lồ, với ký hiệu B-52. Trên cái cục Mỹ to tướng chềnh ềnh trên mặt hồ đó, vươn lên một tấm biển còn ướt nước sơn viết bằng chữ ta. Dọc ngang cái làng hiền xưa nay chỉ chuyên một nghề lành là giồng hoa, ầm ầm tung tóe lên vô khối là những cục Mỹ giết người ấy. Đúng là thằng siêu đế quốc Mỹ đêm trước vừa bĩnh vào thôn hoa. Bà Huấn tổ hợp tác hoa Bờ Hồ nói như gỡ tay ai chịt cổ mình: “Đấy, ông xem, B-52 có mảnh nào rơi đúng vào luống hoa cả làng chúng tôi đâu…”.

Chiến thắng “Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không” làm nức lòng nhân dân yêu chuộng hòa bình trên thế giới. Thất bại nhục nhã của B-52 làm Nhà Trắng, Lầu Năm Góc điên đầu. Thần tượng B-52 của Mỹ tan tành mây khói trước thiên la địa võng lưới lửa phòng không của nhân dân Việt Nam khiến nhiều bài thơ trào phúng ra đời. Trong đó có bài của nhà thơ Thanh Tịnh, đăng Báo Quân đội nhân dân ngày 7-1-1973 với tiêu đề “Đầu sỏ “52” nát mặt dày”; trong đó có đoạn: “Băm bốn “năm hai” cuối bảy hai/Xác văng tung tóe với đầu thui/Siêu âm liền biến siêu… đun nước/Cánh pháo đài bay hóa mảng dài/Xác “bê” chưa thấy chiếc nào nguyên/Chỉ thấy phi hành mấy chục tên/Mặt mũi râu ria còn đủ cả/Mặc quần áo ngủ nói như rên/Thằng móc trên cây, thằng dưới ao/Đứa lê xuống rãnh, đứa chui rào/Tên đầy đỉa bám, tên ruồi bám/Còn “xiếc” “năm hai” đủ kiểu nhào”.

Không chỉ các văn nghệ sĩ trong nước mà nhiều văn nghệ sĩ có tên tuổi trên thế giới và ngay tại nước Mỹ cũng đã viết những tác phẩm ca ngợi Việt Nam, tố cáo tội ác tày trời của chính quyền Mỹ. Nữ minh tinh Giên Phôn-đa của nước Mỹ đã thốt lên trong nước mắt: “Tôi đau nỗi đau mất mát của nhân dân Việt Nam, cho nỗi đau mất mát của chính đất nước tôi, một nước tự cho mình là văn minh, mà tội ác lại như thời kỳ hoang dã”.

Chính Kít-xinh-giơ, cánh tay phải của Ních-xơn trong chiến dịch sử dụng B-52 hủy diệt Hà Nội đã thừa nhận: “Thế giới phê phán hành động của chúng tôi là thất nhân tâm, là không bào chữa được. Quyết liệt nhất là Thụy Điển, họ đã so sánh chúng tôi với Hít-le. Báo Pháp gọi cuộc tàn sát vào Hà Nội là kinh tởm. Báo ở Nhật Bản nhận xét: Mỹ là tên khổng lồ mù quáng”…

MÃ TÙNG
qdnd.vn

“Liên hoàn kế” diệt máy bay địch

QĐND – Tên lửa SAM2, qua bàn tay tài hoa và cái đầu thông minh của bộ đội phòng không Việt Nam đã trở thành nỗi khiếp đảm của B-52 Mỹ. Nhưng ít người biết, để lập nên những kỳ tích trong 12 ngày đêm “Hà Nội-Điện Biên Phủ trên không”, tên lửa đã có trận đánh hợp đồng “liên hoàn kế” cùng các loại pháo phòng không đầu tiên từ ngày 24-7-1965.

Ông Nguyễn Ngọc Quỳ, một chiến sĩ tham gia trận đánh đó, kể rằng: Trận này, 2 tiểu đoàn tên lửa 63 và 64 thuộc Trung đoàn 236 tham gia. Để phối hợp, Quân chủng Phòng không – Không quân điều động thêm Trung đoàn 220 pháo cao xạ 100mm và Trung đoàn 234 pháo cao xạ 57mm cùng một số đơn vị khác tham gia.

Cựu chiến binh Trung đoàn 236 gặp mặt, ôn lại chiến thắng trận đầu.

Trận địa chủ yếu thuộc địa bàn huyện Ba Vì (Hà Nội). Ta bố trí ba cụm liên kết, lấy các tiểu đoàn tên lửa làm cơ sở. Cụm 1 được bố trí ở Đồi Chùa; cụm 2 ở Võ Khuy và cụm 3 ở giữa. Kế hoạch của ta là dùng tên lửa đánh máy bay địch, cao xạ chỉ đánh bảo vệ tên lửa khi máy bay địch vào trận địa. Tên lửa đánh xong thì đưa mồi nhử là tên lửa “cót tre” (làm bằng cót tre) vào thế chỗ để nhử địch, tạo thế liên hoàn để đánh lớn.

13 giờ 53 phút ngày 24-7-1965, hai tiểu đoàn tên lửa tập trung diệt tốp máy bay F4C của địch ở độ cao 8km đang trên đường vào ném bom Hà Nội. Bị đánh bất ngờ, địch không kịp trở tay. Ngay đêm đó, hai tiểu đoàn tên lửa của ta rút ra ngoài, bố trí trận địa gần đó, ngụy trang kín đáo để chuẩn bị đánh bồi. Tại trận địa cũ, ta bố trí tên lửa cót tre lừa địch. Ngày 25-7, địch không dám bén mảng đến khu vực. Ngày 26-7, chúng mới dùng máy bay trinh sát tầm cao BQM và máy bay trinh sát chiến thuật RF101 vào dò la để chuẩn bị trả đũa. Hai máy bay trinh sát lại bị ta bắn hạ trong ngày 26-7 càng khiến địch cay cú. Ngày 27-7-1965, địch sử dụng 48 máy bay của hai biên đội U-bon và Tắc-ly phối hợp đánh phá hai trận địa tên lửa cót tre của ta. Chúng đã mắc bẫy. Các loại pháo phòng không cùng tên lửa thật của ta chỉ chờ lúc ấy, bắn rơi tại chỗ 5 máy bay, bắn bị thương hai chiếc khác và bắt được nhiều giặc lái.

Trận đầu ra quân của tên lửa, ta đã dùng “liên hoàn kế” đánh cho Mỹ bại hoại. Từ đây, bộ đội tên lửa liên tục phát huy ưu thế, cách đánh độc đáo của ta để tiêu diệt nhiều máy bay địch. Đỉnh cao là Chiến dịch “Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không”, tên lửa đã lập công xuất sắc, được nhân dân yêu mến tặng cho danh hiệu “Rồng lửa Thăng Long”.

Bài và ảnh: TRÚC LINH-BẢO ANH
qdnd.vn

Ra trận dưới đuốc lửa B-52

QĐND – Đúng những ngày quân và dân Hà Nội bước vào 12 ngày đêm Chiến dịch “Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không” thì Trường Sĩ quan Lục quân 1 (nay là Trường Đại học Trần Quốc Tuấn) diễn ra một sự kiện làm những người trong cuộc khó quên: Khóa học 33-Tiểu đoàn 9 được lệnh kết thúc trước một năm trong chương trình đào tạo 3 năm, học viên tốt nghiệp phần lớn lên đường vào mặt trận nhận nhiệm vụ chiến đấu (tiểu đoàn có 251 học viên tốt nghiệp, trừ 9 đồng chí được chọn ở lại trường công tác, số còn lại được điều về các đơn vị chiến đấu).

Do tiểu đoàn sơ tán rải rác ở các xã Đồng Trúc, Hạ Bằng, Thạch Thất (Hà Tây cũ) không có điều kiện làm lễ tốt nghiệp tập trung, ngày 21-12-1972, sau lễ tổng kết khóa học của từng đại đội, học viên được quán triệt sẵn sàng về các đơn vị chiến đấu nhận nhiệm vụ, phần lớn các đơn vị đang trong mặt trận phía Nam.

Đêm hôm ấy, 23-12, trong lúc trên bầu trời Thủ đô, bao trùm cả vùng Sơn Tây, tiếng máy bay các loại ầm ì; tiếng tên lửa, pháo cao xạ của ta nổ giòn phía Hà Nội, bắc sông Hồng; các đại đội của tiểu đoàn được lệnh báo động, từng người ba lô gọn gàng lặng lẽ ra vị trí tập kết. Không lâu sau, ai về đơn vị nào, hướng nào đã yên vị trên xe có ký hiệu của đơn vị đó. Lệnh xuất phát, đoàn xe bật đèn gầm, xuyên đêm thẳng hướng Hà Đông-Giáp Bát-Hà Nội.

Khi đoàn xe đi qua Văn Điển, Giáp Bát, cảnh tượng tàn khốc của chiến tranh đập vào mắt anh em. Những căn nhà bên đường vừa bị trúng bom địch, khói bom vẫn âm ỉ tỏa lên làm mỗi người đều căm phẫn tội ác tày trời của địch. Trước đó, ngày 22-12, được biết máy bay B-52 đã rải thảm, đánh phá Bệnh viện Bạch Mai, ga Giáp Bát, Văn Điển, Gia Lâm, giờ ai cũng nóng lòng, muốn nhanh chóng có mặt ở chiến trường.

Sau mấy ngày hành quân, đoàn quân đã có mặt tại địa điểm tập kết bàn giao cho Bộ tư lệnh Mặt trận B5 tại Bãi Hà (Vĩnh Linh) đúng thời gian quy định, an toàn và từng người được khẩn trương biên chế về đơn vị chiến đấu.

Lúc này, anh em được Bộ tư lệnh Mặt trận quán triệt: Sau thất bại choáng váng trong Chiến dịch “Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không”, Mỹ sẽ phải ký Hiệp định Pa-ri kết thúc chiến tranh, các đơn vị chiến đấu được bổ sung cán bộ chỉ huy, được đào tạo cơ bản là rất quý sẽ giúp đơn vị tăng cường sức chiến đấu mở rộng vùng giải phóng trước khi hiệp định được ký kết. Hiểu như thế, anh em ai cũng khâm phục sự tính toán chiến lược của trên và càng tự hào về sự có mặt ở chiến trường lúc này.

Những ngày sau đó, hầu hết các đồng chí vừa về đơn vị đã tham gia chiến đấu bảo vệ tuyến phòng thủ Quảng Trị. Một số đồng chí đã anh dũng hy sinh trước khi Hiệp định Pa-ri có hiệu lực như Nguyễn Hữu Hoãn (Quảng Bình), Phùng Thiên Hổ… khi tham gia đánh trận Thượng Đức.

Do yêu cầu nhiệm vụ, một số sau đó được lệnh trở ra miền Bắc bổ sung cho Bộ tư lệnh Thiết giáp đào tạo chỉ huy xe tăng. Và trong đội hình xe tăng các hướng dũng mãnh tiến về giải phóng Sài Gòn (tháng 4-1975) đều có anh em tham gia.

Trong khói lửa chiến tranh, hầu như lớp tốt nghiệp đặc biệt này đều phấn đấu hoàn thành tốt và xuất sắc nhiệm vụ. Có những người là vinh dự có mặt trong thời khắc vẻ vang kết thúc chiến tranh như Trương Quang Siều, Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 8, Trung đoàn 66, Sư đoàn 304 đã chỉ huy đơn vị đánh chiếm Đài phát thanh ngụy quyền Sài Gòn. Sau đó còn đi tìm, động viên nhân viên kỹ thuật của đài trở lại vị trí làm việc để phát sóng lời đầu hàng quân giải phóng vô điều kiện của tướng Dương Văn Minh, Vũ Văn Mẫu.

Đó còn là Trung tướng Nguyễn Văn Đạo, trưởng thành nhanh trong chiến đấu và xây dựng, năm 2006 là Tư lệnh Quân khu 1; Phan Khuê Tảo là Tư lệnh Quân đoàn 1, Phó đô đốc, Phó tư lệnh Quân chủng Hải quân; Bùi Duy Nhâm, Phó bí thư Thường trực Thành ủy Hà Nội, đại biểu Quốc hội khóa XII… Ở đâu, làm việc gì những học viên Khóa 33 cũng phát huy truyền thống vẻ vang từ cái nôi đào tạo của Trường Sĩ quan Lục quân 1 anh hùng, luôn hoàn thành tốt và xuất sắc nhiệm vụ được giao.

Đại tá TRỊNH THANH PHI, cựu học viên Đại đội 31
qdnd.vn