Lịch sử hàng ngàn năm dựng nước và giữ nước của dân tộc Việt Nam đã khẳng định một chân lý trường tồn: dựng nước phải đi đôi với giữ nước. Chân lý đó đã trở thành truyền thống quý báu của dân tộc, đồng thời là một quy luật nội tại của quá trình xây dựng và phát triển bền vững đất nước.
Thư viện
Giá trị tư tưởng quân sự Hồ Chí Minh trong “Chỉ thị thành lập Đội Việt Nam tuyên truyền Giải phóng quân”
Trong thời kỳ chuẩn bị tiến tới Tổng khởi nghĩa giành chính quyền, nhất là vào cuối năm 1944, tình hình diễn biến mau lẹ, thời cơ khởi nghĩa đang đến gần, lực lượng chính trị quần chúng đã phát triển mạnh mẽ, các lực lượng vũ trang cách mạng của quần chúng (du kích, tự vệ) lần lượt ra đời và phát triển nhanh chóng. Ngày 22-12-1944, Chủ tịch Hồ Chí Minh ra Chỉ thị thành lập Đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân. Bản Chỉ thị là sự kế thừa, phát triển những di sản tư tưởng quân sự phong phú của dân tộc, tiếp thu những giá trị tinh hoa tư tưởng của nhân loại. Tiếp tục đọc
Chủ tịch Hồ Chí Minh với sự ra đời Quân đội nhân dân Việt Nam
Chủ tịch Hồ Chí Minh là vị lãnh tụ thiên tài của nhân dân Việt Nam, là người Cha thân yêu của các lực lượng vũ trang cách mạng. Người đã trực tiếp sáng lập, tổ chức, giáo dục và rèn luyện Quân đội nhân dân Việt Nam.
Với tầm nhìn chiến lược và nhạy bén, lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc đã tích cực chuẩn bị cho sự ra đời của một quân đội cách mạng. Từ năm 1925 đến năm 1927, tại Quảng Châu (Trung Quốc) Nguyễn Ái Quốc mở các lớp đào tạo cán bộ để “ươm mầm” những “hạt giống đỏ” cho cách mạng Việt Nam. Tiếp tục đọc
Tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng quân đội cách mạng, chính quy, từng bước hiện đại
Xây dựng quân đội cách mạng, chính quy, hiện đại là nội dung cốt lõi của Tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng quân đội. Tư tưởng chiến lược quan trọng này của Người không chỉ là phương hướng xuyên suốt quá trình xây dựng quân đội ta gần 70 năm qua, mà còn là cơ sở lý luận trọng yếu để Đảng ta đề ra định hướng chiến lược cho sự nghiệp xây dựng quân đội trong thời kỳ mới.
MỘT PHƯƠNG DIỆN CỦA THIÊN TÀI HỒ CHÍ MINH : NĂNG LỰC TỔNG KẾT LỊCH SỬ, TỔNG KẾT THỰC TIỄN VÀ DỰ BÁO TƯƠNG LAI
Bác Hồ của chúng ta là một thiên tài đa diện. Thế giới đã biết đến Hồ Chí Minh là anh hùng giải phóng dân tộc và nhà văn hóa kiệt xuất. Chúng ta có thể nói thêm : Người là nhà tư tưởng, nhà lý luận lỗi lạc, nhà thơ lớn của dân tộc, nhà báo cách mạng vĩ đại, nhà chiến lược quân sự đại tài, nhà ngoại giao xuất sắc, v.v.. Nhưng có một phương diện nữa của thiên tài Hồ Chí Minh còn ít được nhắc đến : năng lực tổng kết lịch sử, năng lực tổng kết thực tiễn và dự báo tương lai.
Bác Hồ – Người khai sinh ra lực lượng Công an nhân dân vũ trang
Công an nhân dân vũ trang (nay là Bộ đội Biên phòng, được thành lập ngày 3.3.1959) có vinh dự lớn được Chủ tịch Hồ Chí Minh đến giao nhiệm vụ trong ngày đầu thành lập. Bác đã chỉ thị nhiều điều rất cơ bản. Người chỉ rõ nhiệm vụ, phương hướng hoạt động chiến đấu, xây dựng lực lượng. Những chỉ thị ban đầu ấy trở thành kim chỉ nam cho mọi hoạt động, công tác không chỉ buổi ban đầu mà cho suốt mấy chục năm qua. Tiếp tục đọc
Bác Hồ đã chọn vị tướng tài của dân tộc như thế nào?
Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đại tướng, Tổng tư lệnh Võ Nguyên Giáp bàn kế hoạch quân sự tại Sở chỉ huy Chiến dịch biên giới (năm 1950). Ảnh: Tư liệu TTXVN
Ngày 22-12-1949, trong thư gửi bộ đội chủ lực, bộ đội địa phương và dân quân du kích nhân kỷ niệm 5 năm ngày thành lập Quân đội, Bác Hồ viết: “Quân đội ta quen gọi Đại tướng Tổng Tư lệnh Võ Nguyên Giáp là Anh cả. Cách gọi thân ái ấy rất đúng với tinh thần và lịch sử của Quân đội ta…”. Tiếp tục đọc
Nghệ thuật quân sự Hồ Chí Minh
Các nhà nghiên cứu nghệ thuật quân sự Việt Nam đã phân tích, khái quát tư tưởng nghệ thuật quân sự Hồ Chí Minh, coi đó là đường lối quân sự cơ bản của cách mạng Việt Nam – một trong những nhân tố quyết định dẫn đến thắnglợi giải phóng hoàn toàn đất nước ta.

Sau khi Bác Hồ qua đời, Tổng bí thư Đảng Cộng sản Mỹ, ông Gớt Hôn đánh giá về Bác: “Người là một lãnh tụ chính trị nhưng Người cũng là một lãnh tụ xuất sắc về quân sự”. Không ngẫu nhiên ông đánh giá cao Bác Hồ như vậy, bởi chắc ông đã đọc kỹ tiểu sử và nghiên cứu những bài viết về quân sự của Bác. Nghệ thuật quân sự Hồ Chí Minh là sự kế thừa tinh hoa nghệ thuật quân sự thế giới. Hồi ở Pháp Người đọc nhiều sách quân sự của cách mạng tư sản Pháp, của công xã Pa-ri và quân đội Pháp hiện thời. Thời gian ở Liên Xô Người đã nghiên cứu nghệ thuật quân sự Xô viết. Đặc biệt Người nghiên cứu rất kỹ binh pháp cổ Trung Quốc để có “Những hiểu biết cơ bản về quân sự”, ”Phép dùng binh của Tôn Tử”(1943)… Nghệ thuật quân sự Hồ Chí Minh là sự tiếp nối truyền thống nghệ thuật quân sự Việt Nam với những nguyên lý cơ bản: Đem đại nghĩa để thắng hung tàn. Lấy chí nhân để thay cường bạo (Nguyễn Trãi), Vua tôi đồng lòng, anh em hoà thuận, cả nước chung sức, là khoan thư sức dân để làm kế sâu rễ bền gốc (Trần Quốc Tuấn), là lấy nhỏ đánh lớn, lấy ít địch nhiều, là “ngụ binh ư nông”…
1. Chúng ta muốn hoà bình…
Nghệ thuật quân sự Hồ Chí Minh là trọng hoà bình, là không muốn chiến tranh. Khi cả nước chuẩn bị phải bước vào cuộc kháng chiến chống Pháp, Bác Hồ tuyên bố với thế giới rằng: “Đồng bào tôi và tôi thành thực muốn hoà bình. Chúng tôi không muốn chiến tranh… Cuộc chiến tranh này chúng tôi muốn tránh bằng đủ mọi cách… Nhưng cuộc chiến tranh ấy, nếu người ta buộc chúng tôi phải làm thì chúng tôi sẽ làm. Chúng tôi không lạ gì những điều đang đợi chúng tôi…”(1). Rõ ràng để trở thành nhà quân sự kiệt xuất là ngoài ý muốn của Người, không hề muốn chiến tranh, nhưng cần thiết thì Người cùng cả dân tộc buộc phải tiến hành chiến tranh để giành độc lập, tự do, để cho xứ sở này luôn tràn ngập ánh trăng hoà bình như trong những áng thơ của Người vậy. Cây muốn lặng gió chẳng muốn đừng, dã tâm của kẻ thù là muốn đưa dân ta trở về kiếp nô lệ, cả nước ta phải cầm súng, Bác Hồ viết Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến:
“Chúng ta muốn hoà bình, chúng ta đã nhân nhượng. Nhưng chúng ta càng nhân nhượng, thực dân Pháp càng lấn tới, vì chúng quyết tâm cướp nước ta lần nữa.
Không! Chúng ta thà hy sinh tất cả, chứ nhất định không chịu mất nước, nhất định không chịu làm nô lệ”.
Tư tưởng hoà bình yêu tự do của Người là sự kế thừa, tiếp nối tinh thần trọng hoà hiếu của cha ông, cách sống thương người như thể thương thân của dân tộc: “Theo tinh thần bốn bể đều là anh em, tôi yêu mến thanh niên Pháp cũng như yêu mến thanh niên Việt Nam. Đối với tôi, sinh mệnh của một người Pháp hay sinh mệnh của một người Việt đều đáng quý như nhau… Trước lòng bác ái thì máu Pháp hay máu Việt cũng đều là máu, người Pháp hay người Việt cũng đều là người”.(2)
2. Toàn dân kháng chiến, toàn diện kháng chiến
Nghệ thuật chiến tranh trong lịch sử giữ nước của dân tộc Việt Nam luôn là nghệ thuật chiến tranh nhân dân, toàn dân đánh giặc, Giặc đến nhà đàn bà cũng đánh. Bác Hồ giải thích: “Toàn dân kháng chiến nghĩa là toàn cả dân, ai cũng đánh giặc. Bất kỳ đàn ông đàn bà, người già con trẻ, ai cũng tham gia kháng chiến”(3). Đường lối kháng chiến này lại được thể hiện cụ thể mà sinh động trong một bài thơ của Người: Toàn dân kháng chiến, toàn diện kháng chiến/ Chí ta đã quyết, lòng ta đã đồng/ Tiến lên chiến sỹ! Tiến lên đồng bào/ Sức ta đã mạnh, người ta đã đông/ Trường kỳ kháng chiến, nhất định thắng lợi/ Thống nhất độc lập, nhất định thành công (Chúc năm mới – 1947). Có nhà phê bình đã chia thơ Hồ Chí Minh ra thành hai loại, thơ tuyên truyền cổ động và thơ nghệ thuật. Chúng tôi lại cho rằng thơ Hồ Chí Minh chỉ có một loại thơ nghệ thuật, dĩ nhiên cần phải hiểu nghệ thuật ở nghĩa rộng rãi hơn, nghệ thuật cả ở những vấn đề ngoài văn bản chứ không chỉ tồn tại trong hình thức văn bản. Những tác phẩm như Chúc năm mới trên thì vừa là tuyên truyền vừa là nghệ thuật, nghệ thuật đưa chính trị vào nghệ thuật, nghệ thuật mượn nghệ thuật để tuyên truyền…

Cách đánh du kích là hệ quả tất yếu của đường lối chiến tranh nhân dân được Bác Hồ đặc biệt chú ý. Người viết tác phẩm Đánh du kích như đánh cờ nêu những cách đánh giặc cụ thể của một cụ nông dân đã già yếu: Một ông già, một sợi dây/ Làm cho điêu đứng một bầy địch nhân; của một cụ bà cao tuổi: Tuổi già gan lại càng già/ Làm cho địch biết tay bà mưu cao; của một em bé: Tuổi nhỏ mà gan thì to/ Đem hai thứ trứng bán cho quân thù… Đây chính là sự cụ thể hoá của nghệ thuật chiến tranh nhân dân: “Bất kỳ đàn ông, đàn bà, bất kỳ người già, người trẻ, không chia tôn giáo, đảng phái, dân tộc… Ai có súng dùng súng, ai có gươm dùng gươm, không có súng có gươm thì dùng cuốc thuổng, gậy gộc, ai cũng phải ra sức chống thực dân Pháp cứu nước”.

3. Kiên quyết không ngừng thế tiến công
Hạt nhân của tư tưởng quân sự Hồ Chí Minh là tư tưởng chiến lược tiến công. Đây chính là vấn đề quyết định sự thắng lợi của bất kỳ công việc gì chứ không chỉ là việc đánh giặc, bởi chỉ nhờ có tiến công mới có thể tạo ra được thế chủ động, mà trong đánh giặc thì việc này là tối cần thiết, như Bác Hồ nói: “Giữ quyền chủ động chính là giữ thế công, giữ thế công mới đánh được giặc”(4). Bài thơ Học đánh cờ được các nhà nghệ thuật quân sự nước ta coi là sự thể hiện của đường lối chiến lược quân sự Việt Nam ngắn gọn nhất, sinh động nhất. Bài thơ có 3 khổ, 12 câu, 108 chữ thì hai chữ tấn công được nhấn mạnh tới ba lần: Tấn công thoái thủ ưng thần tốc (Tấn công thoái thủ nhanh như chớp), Kiên quyết thì thì yếu tấn công (Kiên quyết không ngừng thế tấn công), Công thủ vận trù vô lậu toán (Tấn công phòng thủ không sơ hở). Chỉ có trên cơ sở tấn công mới tạo ra được thời cơ. Cấu trúc của khổ thơ sau là một kết cấu nhân quả:
Phải nhìn cho rộng suy cho kỹ
Kiên quyết không ngừng thế tấn công
Lạc nước hai xe đành bỏ phí
Gặp thời một tốt cũng thành công
Nhờ có tầm nhìn rộng, suy nghĩ kỹ càng kết hợp với thế công (thì) dù có “lạc nước” nhưng vẫn có thể “gặp thời một tốt cũng thành công”.
4. Quân ta khí mạnh nuốt Ngưu Đẩu…
Hồ Chí Minh rất chăm lo xây dựng lực lượng quân đội theo nguyên tắc tập trung: “Về quân sự, nguyên tắc chính là nguyên tắc tập trung lực lượng”(5). Quân đội ấy phải hết sức coi trọng chính trị: “Quân sự mà không có chính trị như cây không có gốc, vô dụng lại có hại. Quân đội ta là quân đội nhân dân. Nhân dân có Đảng lãnh đạo, Đảng có chính cương, chính sách. Đã là quân đội nhân dân thì phải học chính sách của Đảng”(6). Học tập chính trị để có quyết tâm, để rèn luyện ý chí đánh giặc. Ở bất cứ thời nào, bất cứ nơi đâu, nếu có chiến tranh thì yếu tố con người vẫn là yếu tố quyết định sự thành bại. Bác Hồ đã khẳng định điều đó bằng nhiều hình thức khác nhau, những câu nói khác nhau, ví như một mệnh đề nổi tiếng: Đoàn kết, đoàn kết, đại đoàn kết/ Thành công, thành công, đại thành công thì vấn đề đoàn kết chính là con người. Hay ở một bài thơ khác, bài Thơ chúc mừng năm mới -1956 có hai câu cuối:
Quyết chí bền gan phấn đấu
Hoà bình thống nhất thành công

Thì chỉ nhờ có giáo dục chính trị mới có thể quyết chí bền gan được. Cái gốc của giáo dục là tình thương. Bác Hồ rất thương chiến sỹ mà bài thơ Tư chiến sĩ chỉ là một biểu hiện: Canh thâm lộ cấp như thu vũ/ Thần tảo sương nùng tự hải vân/ Khoái tống hàn sam cấp chiến sỹ/ Dương quang hoà noãn báo tân xuân (Đêm khuya, móc rơi dồn dập như mưa thu/ Sáng sớm, sương dày như mưa mặt biển/ Mau gửi áo rét cho chiến sỹ/ Ánh nắng ấm áp đã báo trước tin xuân mới sắp về). Đúng là một tình thương cha con. Điều này được tiếp nối từ lịch sử: Tướng sĩ một lòng phụ tử, hoà nước sông chén rượu ngọt ngào (Bình Ngô đại cáo)… Nhân đây xin nói tới đạo làm tướng theo quan niệm của Bác thì cái gốc vẫn là tình thương yêu và sự gương mẫu: “Từ tiểu đội trưởng trở lên, từ Tổng Tư lệnh trở xuống, phải săn sóc đời sống vật chất và tinh thần của đội viên… Bộ đội chưa ăn cơm, cán bộ không được kêu mình đói. Bộ đội chưa đủ áo mặc, cán bộ không được kêu mình rét. Bộ đội chưa đủ chỗ ở, cán bộ không được kêu mình mệt”(7). Có thế thì mới tạo ra được Hùng sư bách vạn tất thính lệnh (Trăm vạn hùng binh đều nghe lệnh).
Xin khép lại bài viết bằng lời dạy của Bác với quân đội ta: “Phải nhớ rằng nhân dân là chủ. Dân như nước, mình như cá, lực lượng bao nhiêu là nhờ ở dân hết”; “Nhân dân là nền tảng, là cha mẹ của bộ đội”. Đấy là nghệ thuật quân sự cốt lõi nhất, cơ bản nhất đã góp phần quyết định tạo nên sức mạnh vô địch của quân đội ta, quân đội của nhân dân: “Trung với Đảng. Hiếu với dân. Nhiệm vụ nào cũng hoàn thành. Khó khăn nào cũng vượt qua. Kẻ thù nào cũng đánh thắng”
Nguyễn Xuân Nguyên
——-
(1) Hồ Chí Minh toàn tập – tập 4 – Nxb Chính trị Quốc gia, 1995, tr 473
(2) Hồ Chí Minh toàn tập – tập 4 – Nxb Chính trị Quốc gia, 1995, tr 457
(3) Hồ Chí Minh toàn tập – tập 4 – Nxb Chính trị Quốc gia, 1995, tr 485
(4) Hồ Chí Minh toàn tập – tập 3 – Nxb Chính trị Quốc gia, 1995, tr 473
(5) Hồ Chí Minh toàn tập – tập 3 – Nxb Chính trị Quốc gia, 1995, tr 507
(6) Hồ Chí Minh toàn tập – tập 6 – Nxb Chính trị Quốc gia, 1995, tr 318
(7) Hồ Chí Minh toàn tập – tập 6 – Nxb Chính trị Quốc gia, 1995, tr 207
Văn nghê Quân đội
quocphonganninh.edu.vn
Bác Hồ thăm đại đội tôi
Giữa năm 1951, Đại đội 612 – đơn vị Pháo Phòng không đầu tiên của quân đội ta được thành lập, có nhiệm vụ chiến đấu bảo vệ cầu Tà Lùng (Cao Bằng). Sau một thời gian thành lập, đại đội đã vinh dự được Bác Hồ đến thăm. Một trong những người công tác ở đại đội này là Đại tá, Nhà giáo nhân dân Lê Quang Bửu, nguyên Phó hiệu trưởng Trường Trung cao Phòng không.
“Ngày nay ta có ngày, có trời, có biển…”
Tháng 3-1961, Bác Hồ đến thăm bộ đội Hải quân lần thứ hai. Lần này đến, vấn đề Bác quan tâm nhiều là kết quả xây dựng lực lượng của Hải quân, tình hình bảo vệ bờ biển và các hải đảo, nhất là các đảo xa. Sau khi nghe lãnh đạo đơn vị báo cáo, Bác căn dặn: Các chú phải tìm ra cách bảo vệ đảo sao cho phù hợp với điều kiện con người, địa hình bờ biển, hải đảo của ta, và vũ khí trang bị mình có.
Bác Hồ với vị Bộ trưởng Quốc phòng đầu tiên
Vị Bộ trưởng của nhiều Bộ nhất
Theo lời kêu gọi của Chủ tịch Hồ Chí Minh, trước và sau năm 1945, nhiều trí thức Tây học, chủ yếu là Pháp đã về nước nắm giữ nhiều trọng trách khác nhau trong Chính phủ mới do Bác lãnh đạo. Những cái tên như Phan Anh, Trần Đại Nghĩa, Tạ Quang Bửu, Ngụy Như Kon Tum,… không còn xa lạ với nhiều người.
Thư gửi các chiến sĩ quyết tử
Bức thư nồng nàn tình cảm và với lời lẽ thống thiết viết: Các em ăn Tết thế nào? Vui vẻ lắm chứ?
– Ngày 27/1/1947, giữa lúc cuộc chiến đấu của quân dân Thủ đô trên các đuờng phố Hà Nội đang diễn ra quyết liệt, đã bước sang ngày thứ 40, và vừa đón Tết Đinh Hợi, các chiến sĩ quyết tử nhận được một bức thư của Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi qua vô tuyến điện.
Bức thư nồng nàn tình cảm và với lời lẽ thống thiết viết:
“Cùng các chiến sĩ yêu quý của Trung đoàn Thủ đô,
Các em ăn Tết thế nào? Vui vẻ lắm chứ? Tôi và nhân viên Chính phủ vì nhớ đến các em cho nên cũng không ai nỡ ăn Tết. Còn 90 phần trăm mâm cỗ tiệc tùng, ai cũng tiết kiệm để dự bị công cuộc trường kỳ kháng chiến.
Các em là đội cảm tử. Các em quyết tử để cho Tổ quốc quyết sinh. Các em là đại biểu cái tinh thần tự tôn tự lập của dân tộc ta mấy nghìn năm để lại, cái tinh thần quật cường đó đã kinh qua Hai Bà Trưng, Lý Thường Kiệt, Trần Hưng Đạo, Lê Lợi, Quang Trung, Phan Đình Phùng, Hoàng Hoa Thám, truyền lại cho các em. Nay các em gan góc tiếp tục cái tinh thần bất diệt đó, để truyền lại cho nòi giống Việt Nam muôn đời về sau”.
Đêm giao thừa Tết Canh Tý 27/1/1960, Bác thăm gia đình công nhân điện Trần Văn Tốt
Bức thư còn nhắc nhở: “Chí kiên quyết dũng cảm, các em đã sẵn có, đây tôi chỉ nhắc lại một vài điều mà các em phải nhớ luôn luôn:
1. Phải hết sức khôn khép, nhanh chóng bí mật phải biết cách hoá chỉnh vi linh (phân tán và sử dụng lực lượng một cách khôn khéo)
2. Phải đề phòng Việt gian trinh thám.
3. Phải hết sức cẩn thận. Phải luôn luôn có sáng kiến lợi dụng thời cơ.
4. Tuyệt đối đoàn kết “.
Và bức thư động viên: “Các em hăng hái tiến lên, lòng Già Hồ, lòng Chính phủ và lòng toàn thể đồng bào luôn luôn ở bên cạnh các em! Tôi thay mặt Chính phủ và đồng bào gửi cho các em lời chào thân ái và quyết thắng”.
Nhìn thấy trước cuộc chiến tranh chống thực dân Pháp để bảo vệ nền độc lập và mục tiêu thống nhất quốc gia sẽ phải nổ ra, trong một lần đi thăm công tác chuẩn bị kháng chiến trên đường phố Hà Nội, Bác hỏi các cán bộ quân sự rằng có thể kìm chân giặc ở Hà Nội bao nhiêu lâu, có thể được một vài tuần không? Đồng chí Võ Nguyên Giáp thay mặt anh em báo cáo sẽ quyết tâm giữ được 1 tháng.
Bác khen nhưng nhắc nhở: “Quyết tâm chưa đủ, phải tín tâm thì mới đồng tâm được”. Chính với niềm tin mãnh liệt vào thắng lợi cuối cùng, các chiến sĩ Trung đoàn Thủ đô đã kiên cường trụ vững và chống trả quyết liệt đội quân nhà nghề của thực dân Pháp 60 ngày đêm ngay trong lòng Hà Nội, sau đó bí mật rút lui lên chiến khu bảo toàn lực lượng để tiếp tục cuộc kháng chiến trường kỳ. Trung đoàn thủ đô trưởng thành trở thành Đại đoàn Quân Tiên phong và ngày 10/10/1954 trở về giải phóng Thủ đô
Ngày 27/1/1952 cũng là ngày Tết Nguyên đán năm Nhâm Thìn, báo Nhân Dân đăng bài thơ chúc Tết của Bác Hồ: “Xuân này, Xuân năm Thìn/ Kháng chiến vừa 6 năm/ Trường kỳ và gian khổ/ Chắc thắng trăm phần trăm/ Chiến sĩ thi giết giặc/ Đồng bào thi tăng gia/ Năm mới thi đua mới/ Thắng lợi ắt về ta/ Mấy câu thành thật nôm na/ Vừa là kêu gọi, vừa là mừng xuân”.
X&N
kienthuc.net.vn


Bạn phải đăng nhập để bình luận.