Vấn đề nhân quyền ở Việt Nam và sự vu khống bịa đặt

Có thể nói, nhân quyền là cái vốn có của nhân loại, nhưng nó đã bị biến dạng và thui chột đi từ khi xã hội loài người phân chia thành giai cấp. Do vậy, nhân loại vừa phải xây dựng, vừa phải tiếp tục đấu tranh để giành lại quyền thiêng liêng cơ bản của mình. Cho nên, nhân quyền là thành quả xây dựng và đấu tranh lâu dài của loài người, của nhân dân lao động qua các thời đại lịch sử và nó là kết tinh giá trị nhân văn của nhân loại.

Trong xã hội phân chia giai cấp thì quyền con người bao giờ cũng mang tính giai cấp sâu sắc. Trong xã hội nô lệ, người nô lệ không bao giờ được hưởng quyền con người ; họ chỉ được coi như là một công cụ lao động biết nói mà thôi. Trong xã hội phong kiến, quyền con người cũng còn tuỳ thuộc theo đẳng cấp và thang bậc xã hội. Hệ thống đặc quyền, đặc lợi theo đẳng cấp chủ yếu phục vụ cho vua chúa, quan lại được pháp luật phong kiến bảo vệ.

Cách mạng dân chủ tư sản do giai cấp tư sản lãnh đạo, nêu khẩu hiệu “tự do, bình đẳng, bác ái” được quần chúng ủng hộ và đã giành thắng lợi. Chế độ tư bản chủ nghĩa ra đời đã mang đến cho con người từ tư sản đến thợ thuyền, dân cày… những quyền tự do thân thể, tự do buôn bán làm ăn, tự do bán sức lao động của mình. “Tuyên ngôn độc lập” của nước Mỹ, năm 1776, và bản “Tuyên ngôn về quyền con người và quyền công dân” của nước Pháp, năm 1789, đều tuyên bố : “Tất cả mọi người sinh ra đều bình đẳng, tạo hóa cho họ những quyền không ai có thể xâm phạm được ; trong những quyền ấy, có quyền được sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc…”.

Đó là thành tựu vĩ đại qua nhiều thiên niên kỷ đấu tranh của loài người, là bước phát triển nhảy vọt của nền văn minh nhân loại. Tuy nhiên, chế độ tư bản chủ nghĩa với quá trình phát triển lớn mạnh của nó lại là sự phủ định, chà đạp những thành tựu về nhân quyền phổ biến mà chính cách mạng tư sản đã đem lại.

Lẽ nào sự cướp đoạt đối với nông dân theo kiểu “cừu ăn thịt người” biến họ thành những người cùng cực, như ở nước Anh lại là sự tôn trọng nhân quyền? Lẽ nào bọn thực dân, đế quốc đem quân đi xâm chiếm thuộc địa và thị trường, cướp bóc tài nguyên, giết hại những người dân vô tội ở các nước đó là sự tôn trọng nhân quyền?

Trong tác phẩm “Bản án chế độ thực dân”, Chủ tịch Hồ Chí Minh dẫn lời của một người Pháp rằng : Khi đặt chân đến đây tất cả những người Pháp đều nghĩ rằng người Việt Nam là hạng người thấp kém và phải làm nô lệ cho họ. Họ coi người Việt Nam như những súc vật phải điều khiển bằng roi vọt. Tất cả đều tự coi mình thuộc đẳng cấp quý tộc mới có đặc quyền, đặc lợi. Và Người kết luận : Thế mà 80 năm nay bọn thực dân Pháp lợi dụng lá cờ tự do, bình đẳng, bác ái đến cướp đất nước ta, áp bức đồng bào ta, hành động của chúng trái với nhân đạo và chính nghĩa.

Là một dân tộc đã từng bị chủ nghĩa thực dân cũ và mới xâm lược, áp bức, bóc lột, đã tự mình vươn lên đấu tranh giành lại chủ quyền dân tộc, quyền con người, hơn ai hết, chúng ta hiểu sâu sắc rằng, quyền con người là thành quả đấu tranh lâu dài của nhân dân lao động và các dân tộc bị áp bức trên thế giới. Và chỉ khi nào giành được độc lập dân tộc, dân chủ, tự do, quyền dân tộc tự quyết được tôn trọng, thì dân tộc mới được hưởng những quyền cơ bản của con người.

Nước ta là nước độc lập, thống nhất có chủ quyền, Nhà nước ta đã luôn chú trọng việc chăm lo hạnh phúc con người và quyền cơ bản của con người, tạo điều kiện cho mọi người vươn lên làm chủ vận mệnh của mình, làm chủ công việc của mình và tham gia các công việc của xã hội. Hiến pháp và nhiều đạo luật đã ghi nhận và thể chế hóa các quyền con người về chính trị, dân sự, kinh tế, văn hóa – xã hội. Hiến pháp năm 1992 đã quy định rõ các quyền và nghĩa vụ công dân, mở rộng quyền công dân và quyền con người, như quyền sở hữu, quyền sử dụng tư liệu sản xuất, quyền tự do kinh doanh hợp pháp, quyền tự do thảo luận, tranh luận phát biểu ý kiến nhằm xây dựng đất nước… Mọi công dân có quyền tham gia ứng cử, bầu cử theo luật định, tham gia giám sát và kiểm tra các hoạt động của cơ quan nhà nước, v.v..

Tất cả những quyền đó đã được thực hiện trên thực tế và được bảo vệ bằng những chính sách, pháp luật của Nhà nước. Chúng ta không ảo tưởng sớm có ngay một xã hội hoàn toàn tốt đẹp, mọi người đều được chăm lo đầy đủ về mọi mặt và quyền con người, trong khi kinh tế, văn hóa – xã hội phát triển chưa mạnh, mặt bằng dân trí còn nhiều hạn chế, trình độ khoa học – kỹ thuật và công nghệ chưa cao, năng suất lao động thấp. Bởi lẽ, chúng ta quan niệm quyền con người là khách quan vốn có của mỗi người, thế nhưng nó luôn gắn liền với lịch sử truyền thống và phụ thuộc vào trình độ phát triển kinh tế, chính trị, văn hóa – xã hội của một quốc gia, dân tộc nhất định.

Chế độ chính trị, trình độ phát triển kinh tế, văn hóa – xã hội của một quốc gia, dân tộc là phương thức tồn tại, phát triển của con người hiện thực, quyền con người hiện thực. Tuy nhiên, điều đó không có nghĩa là phải chờ đến khi kinh tế, văn hóa – xã hội phát triển mới chăm lo đến hạnh phúc con người, quyền con người. Công cuộc đổi mới đất nước do Đảng ta khởi xướng và lãnh đạo là một quá trình kết hợp chặt chẽ giữa tăng trưởng kinh tế với tiến bộ và công bằng xã hội, chăm lo đời sống vật chất, văn hóa, tinh thần của nhân dân…

Trước hết chú trọng giải quyết vấn đề nền tảng kinh tế – xã hội, chăm lo y tế, giáo dục – đào tạo, nâng cao trình độ dân trí ; làm cho mọi người đều hiểu rõ quyền mưu cầu hạnh phúc của mình, đồng thời mưu cầu hạnh phúc cho mọi người. Những nhu cầu thiết yếu của nhân dân về ăn, ở, mặc, chăm sóc sức khỏe, nước sạch, điện sinh hoạt, học tập, đi lại, giải trí… được đáp ứng tốt hơn. Ở nước ta, mỗi năm có 1,2 triệu lao động có việc làm mới. Công tác xóa đói, giảm nghèo trên phạm vi cả nước đạt kết quả nổi bật, được dư luận thế giới đánh giá cao.

Các phong trào “uống nước nhớ nguồn”, “đền ơn đáp nghĩa”, chăm sóc các lão thành cách mạng, người có công với nước đã thu hút sự tham gia của các tầng lớp nhân dân, các cơ quan, đoàn thể và các doanh nghiệp. Toàn dân đã tích cực đóng góp tiền của, công sức cứu trợ đồng bào các vùng bị thiên tai ; tham gia nhiều hoạt động nhân đạo – từ thiện giúp đỡ những người bị ảnh hưởng chất độc màu da cam, người tàn tật, người già không nơi nương tựa và trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn.

Các quyền cơ bản của công dân, trong đó có quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, tự do hội họp, biểu tình, lập hội, tự do tín ngưỡng tôn giáo và không tín ngưỡng tôn giáo được Hiến pháp, pháp luật của Nhà nước ta bảo đảm, tôn trọng và thực hiện trên thực tế. Nhà nước ta bảo hộ nơi thờ tự của các tôn giáo. Chùa chiền, nhà thờ bị chiến tranh hoặc thiên tai tàn phá được sửa chữa hoặc xây dựng mới. Mọi công dân Việt Nam đều bình đẳng về quyền và nghĩa vụ trước Hiến pháp và pháp luật.

Thế nhưng, vừa qua một số thế lực trong Hạ Nghị viện Hoa Kỳ thiếu thiện chí với Việt Nam, mà đại diện là ông C. Xmít và những người đồng tác giả với ông, đưa ra cái gọi là “Dự luật Nhân quyền Việt Nam 2003” để Hạ Nghị viện Hoa Kỳ xem xét và phê chuẩn.

Trong cuộc họp báo công bố ý đồ trên, ông C.Xmít đã xuyên tạc trắng trợn tình hình nhân quyền ở Việt Nam, nào là “Việt Nam là đất nước thực thi chính sách đàn áp, phân biệt đối xử, đe dọa bỏ tù những người bất đồng chính kiến”; nào là “Chính phủ Việt Nam chẳng những đàn áp những người công khai phản đối chính sách tự do tôn giáo mà cả gia đình họ”… Ông C. Xmít và những người đồng tác giả với ông muốn thứ nhân quyền kiểu gì mà đưa ra yêu cầu đòi “tự do chống đối”, “tự do thay đổi chính phủ, thay đổi chế độ” ?… Rõ ràng, đây là một dự luật nhân quyền phi nhân quyền, bởi lẽ nó dựa trên những tư liệu sai lệch, xuyên tạc, bóp méo sự thật ở Việt Nam với những dụng ý xấu.

Xin trích lời của nhà bình luận B. Ra-đô Lê-ry đăng trên báo “Nước Mỹ ngày nay”, ngày 10-4 : “Tôi đã đọc bản báo cáo nhân quyền của Bộ Ngoại giao và tôi phải nói rằng những nghị sĩ ủng hộ bản báo cáo này không biết một chút gì về những tiến bộ đang diễn ra ở Việt Nam. Quốc hội Việt Nam đang đóng một vai trò ngày càng độc lập như là một diễn đàn để thể hiện các mối lo ngại của các cấp chính quyền địa phương và cũng là phê bình tình trạng tham nhũng và tính không hiệu quả tại các địa phương và trên toàn quốc.

Hằng năm, Nhà nước Việt Nam đã ra lệnh ân xá cho hàng nghìn tù nhân. Chính phủ đã phối hợp với tổ chức lao động thế giới để cải thiện việc thực hiện Bộ luật Lao động hiện hành… Chính phủ cũng cho phép dân chúng được tiếp cận với mạng In-tơ-nét và đã cho phép 4 000 quán cà-phê được bắt đầu kinh doanh độc lập. Chính phủ cũng cho phép mọi người dân được tự do thờ cúng theo những tôn giáo mà họ lựa chọn, việc tham gia các hoạt động tôn giáo trên toàn quốc đang tiếp tục tăng lên đáng kể. Chính phủ đã chính thức công nhận đạo Phật, đạo Thiên Chúa, Tin Lành, Hòa Hảo, Cao Đài…

Đề cập đến cái gọi là “sự đàn áp tôn giáo”, tôi là một người theo đạo Thiên Chúa và mỗi lần tôi đến Thành phố Hồ Chí Minh đều đến nhà thờ Đức Bà để làm lễ. Do có quá nhiều người đi lễ nhà thờ như tôi, vì vậy tôi phải đến nhà thờ từ sớm mới có chỗ… Số người theo tôn giáo đang ngày càng tăng lên ở Việt Nam. Trên thực tế ở Việt Nam tôi hiếm khi gặp một người nói rằng họ không theo đạo, rằng không có bàn thờ tại nhà để thờ cúng Tổ tiên hoặc thờ Phật…”.

Đó là thực tế tình hình ở Việt Nam mà ông B. Ra-đô Lê-ry đã mắt thấy, tai nghe và ghi lại. Vậy tại sao ông C. Xmít và những người đồng tác giả với ông lại cố tình nhắm mắt bịt tai, tuỳ tiện đưa ra những điều phi lý trong cái gọi là “Dự luật Nhân quyền Việt Nam 2003”.

Đây phải chăng là những mưu toan của các thế lực thù địch và những người thiếu thiện chí với Việt Nam ở Mỹ, hòng tạo ra cơ sở, chỗ dựa cho những kẻ mà ông C. Xmít phong cho là “Chiến sĩ đấu tranh cho nhân quyền Việt Nam” nuôi dưỡng tư tưởng và lực lượng chống đối từ bên trong, kết hợp với áp lực của Mỹ dựa trên cái gọi là “Dự luật Nhân quyền Việt Nam”.

Việc làm này thật sự là một hành động can thiệp thô bạo vào công việc nội bộ của Việt Nam, cố tình xuyên tạc sự thật, đi ngược lại tiến trình cải thiện quan hệ giữa hai nước. Hơn nữa, đây cũng lại là điều hoàn toàn không phù hợp với đạo lý khi nước Mỹ vốn đã từng vi phạm thô bạo nhất những quyền cơ bản của nhân dân Việt Nam trước đây, nay lại phán xét, rao giảng nhân quyền Việt Nam, trong khi đó thì ngay trên nước Mỹ nhân quyền đang bị vi phạm nghiêm trọng.

Minh chứng rõ nhất là, ngày 3-4-2003 vừa qua, Văn phòng Báo chí Quốc Vụ viện Trung Quốc đã công bố báo cáo “Những kỷ lục nhân quyền của Mỹ năm 2002”. Báo cáo gồm tám phần : “Cuộc sống và thân thể người dân thiếu bảo đảm an toàn” , “Quyền con người bị xâm phạm nghiêm trọng”, “Nền dân chủ dưới sự thao túng của đồng tiền”, “Những người nghèo khổ không nhà cửa ở Mỹ”, “Tình trạng phụ nữ, trẻ em khiến mọi người lo ngại”, “Kỳ thị chủng tộc ăn sâu bám rễ trong xã hội Mỹ”, “Xâm phạm thô bạo nhân quyền của nước khác”, “áp dụng tiêu chuẩn hai mặt trên lĩnh vực nhân quyền quốc tế”. Từng phần đều có dẫn chứng cụ thể chứng minh sự vi phạm nhân quyền trên đất Mỹ. Hiện nay, với luận điểm “quyền con người cao hơn chủ quyền”, “quyền con người không biên giới”, Mỹ và một số nước phương Tây tự cho mình cái quyền can thiệp vào nội bộ các nước, dưới chiêu bài cái gọi là “can thiệp nhân đạo”, vì sự “phát triển dân chủ” (!).

Thế nhưng, thử hỏi liệu có sự can thiệp nhân đạo nào cần phải dùng đến một khối lượng bom đạn lớn và hiện đại nhất hiện nay tiến công vào một nước độc lập có chủ quyền, giết hại những người dân vô tội và hủy diệt môi trường sống của họ ? Có lẽ thế giới này ngoài những thế lực hiếu chiến núp dưới cái gọi là “can thiệp nhân đạo” và “phát triển dân chủ” nhằm đạt được ý đồ chính trị của họ, thì chẳng ai muốn cái thứ “nhân đạo” phi nhân đạo, “dân chủ” phi dân chủ đó. Đến nay, nhân loại tiến bộ trên thế giới càng thấy rõ tâm địa ấy.

Họ luôn lấy con người và quyền con người trừu tượng để phục vụ cho ý đồ chính trị của mình. Kỳ thực họ muốn khuyếch trương nhân quyền cá nhân và quyền chính trị công dân để tuyệt đối hóa tự do cá nhân, từ đó phủ định quyền độc lập, quyền sinh tồn và quyền phát triển thuộc phạm trù nhân quyền của cả một quốc gia, dân tộc. Trong quan hệ quốc tế ngày nay, đối thoại giữa các quốc gia hai bên hay nhiều bên về những vấn đề chung của thế giới nhằm thu hẹp bất đồng và tăng cường hiểu biết lẫn nhau là một xu thế ngày càng phát triển.

Bảo đảm quyền con người trong phạm vi mỗi nước là quyền hạn và trách nhiệm của từng quốc gia, nhưng vấn đề quyền con người cũng là mối quan tâm chung của cộng đồng quốc tế. Chính vì vậy, những nguyên tắc cơ bản nhất của quyền con người được khẳng định trong Hiến chương Liên hợp quốc và được thể hiện một lần nữa tại bản Tuyên ngôn nhân quyền cùng các công ước quốc tế về quyền con người, đồng thời được bày tỏ tại tổ chức các hội nghị quốc tế về vấn đề này. Nhà nước ta luôn luôn chủ trương đối thoại với các nước về quyền con người nhằm tăng cường sự hiểu biết tường tận, đúng đắn về dân tộc ta – một dân tộc đã chịu bao đau thương mất mát vì quyền thiêng liêng cơ bản của con người và hiện nay đang phấn đấu trên tất cả các mặt chính trị, kinh tế, văn hóa – xã hội để thực hiện ngày càng tốt hơn quyền con người.

Chúng ta luôn muốn họ có chung nhận thức đúng đắn về nguyên tắc cơ bản của Bộ luật quốc tế về quyền con người : tôn trọng độc lập dân tộc và chủ quyền quốc gia ; tôn trọng quyền dân tộc tự quyết. Đặc biệt là quyền các dân tộc lựa chọn con đường phát triển của mình, tôn trọng quyền của dân tộc, của cộng đồng và của cá nhân ; tôn trọng quyền chính trị – dân sự và quyền kinh tế – xã hội của công dân ; tôn trọng quyền phát triển của các dân tộc. Những ai đi ngược lại điều đó chính là đã vi phạm nguyên tắc cơ bản của Bộ luật quốc tế về quyền con người, vi phạm trắng trợn nhân quyền nước khác.

(Nguồn: Tạp chí Cộng sản)
dangcongsan.vn

Một thị trấn của Anh vinh danh Chủ tịch Hồ Chí Minh

Hội đồng thị trấn Newhaven ở vùng Sussex, miền Nam nước Anh, mới đây đã quyết định vinh danh Chủ tịch Hồ Chí Minh, khẳng định sự có mặt của người thanh niên Nguyễn Tất Thành trong hành trình tìm đường cứu nước tại địa phương này.

Với những tấm biển “Những điều bạn chưa biết về Newhaven”, chính quyền thị trấn này muốn cho người dân trong vùng và nhiều nơi trên nước Anh biết đến người thanh niên Nguyễn Tất Thành, vị lãnh tụ, người anh hùng của dân tộc Việt Nam sau này, từng đến đây khi Người làm việc trên tuyến phà quốc tế nối giữa Newhaven với thị trấn Dieppe của Pháp qua Eo biển Anh vào khoảng thời gian sau Chiến tranh Thế giới lần thứ nhất. Đây cũng sẽ là một trong những điểm nhấn quan trọng góp phần làm giàu hơn nữa kho tư liệu lịch sử về hành trình tìm đường cứu nước của Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Ông Graham Amy, Thị trưởng Newhaven cho biết, việc Chủ tịch Hồ Chí Minh – một nhà lãnh đạo vĩ đại của thế giới từng đến thị trấn này là niềm vinh dự, tự hào lớn lao đối với người dân nơi đây. Đó cũng là một phần lịch sử không thể thiếu được của Newhaven mà chính quyền thị trấn muốn nhắc nhở cho con cháu mình. Ông Graham Amy và giới chức thị trấn vui mừng biết được Việt Nam đang tổ chức kỷ niệm 100 năm ngày Chủ tịch Hồ Chí Minh đặt chân đến Anh trong hành trình tìm đường cứu nước. Trong bối cảnh đó, quyết định vinh danh Chủ tịch Hồ Chí Minh cùng với các danh nhân khác từng sống và làm việc ở Newhaven càng có ý nghĩa hơn.

Theo ông Graham Amy, trong quá khứ, Newhaven – Dieppe và Việt Nam từng có mối liên hệ với nhau và Chủ tịch Hồ Chí Minh chính là người giúp tạo ra mối gắn kết đó. Ông Graham Amy mong muốn nhiều người Việt Nam tới thăm hải cảng và bến phà ở Newhaven để nhớ về một phần lịch sử của thị trấn này rằng, “chúng tôi từng đón một vị lãnh đạo vĩ đại đến đây”.

Bến phà quốc tế Newhaven nằm trong hải cảng sầm uất bên cửa sông Ouse đổ ra Eo biển Anh. Năm 1863, hãng đường sắt LB&SCR phối hợp với công ty Chemin de Fer de l‘Ouest (Pháp) đã đưa tuyến phà Newhaven – Dieppe vào hoạt động. Đến nay, dù các phương tiện hiện đại khác đã trở nên phổ biến, nhưng tuyến phà quốc tế này vẫn được duy trì với tần suất 2 chuyến/ngày. Chính quyền Newhaven dự kiến sẽ treo những tấm biển vinh danh Chủ tịch Hồ Chí Minh cùng các danh nhân khác từng đến thị trấn này dọc con đường đẹp nhất bên bờ sông Ouse, nơi thường diễn ra lễ hội, những sự kiện trọng đại của thị trấn.

Theo TTXVN
qdnd.vn

Chung kết cuộc thi “Tư tưởng Hồ Chí Minh về đạo đức công vụ”

(VOV) – Thí sinh của Đảng bộ Cơ quan Bộ LĐ- TB-XH đã giành giải nhất chung cuộc.

Sáng nay (8/5), tại Hà Nội, Đảng ủy Khối các cơ quan Trung ương tổ chức chung kết cuộc thi “Thuyết trình Tư tưởng Hồ Chí Minh về đạo đức công vụ”. Đây là đợt sinh hoạt chính trị quan trọng của Đảng bộ Khối trong kế hoạch triển khai thực hiện Chỉ thị số 03-CT/TW của Bộ Chính trị về tiếp tục đẩy mạnh việc học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh, là hoạt động thiết thực hướng tới kỷ niệm 123 năm ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh (19/5/1890 – 19/5/2013).

Tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh về đạo đức công vụ là một bộ phận cấu thành quan trọng trong toàn bộ di sản tư tưởng của Người, đã thực sự đặt nền móng cho việc xây dựng, hoàn thiện và phát triển một nền công vụ dân chủ, hiện đại, văn minh ở Việt Nam.

Thí sinh của Đảng bộ Cơ quan Bộ LĐ- TB-XH đã giành giải nhất chung cuộc.

Tư tưởng đó đã định hướng cho tiến trình xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức và nền hành chính trong sạch, vững mạnh hướng tới xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ của đất nước thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế.

Trải qua nhiều vòng thi, với 60 bài dự thi của các đảng bộ trực thuộc được tổ chức trong suốt nửa năm qua, ban tổ chức đã chọn được 9 thí sinh có bài thuyết trình xuất sắc nhất để tham gia vòng thi chung kết.

9 bài thuyết trình của các thí sinh tham dự hội thi đã đi sâu phân tích, làm rõ nội dung tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh về đạo đức công vụ, nhất là đạo đức, lối sống “Cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư” và việc vận dụng những tư tưởng đó vào quá trình rèn luyện, tu dưỡng của bản thân cũng như việc thực hiện chức trách, nhiệm vụ được giao.

Phát biểu tại buổi lễ, ông Trần Hồng Hà, Phó Bí thư Đảng ủy Khối nhấn mạnh: “Hội thi thuyết trình tư tưởng Hồ Chí Minh về đạo đức công vụ là dịp để mỗi cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức, quần chúng trong Đảng bộ Khối các cơ quan Trung ương được nghe và hiểu sâu sắc hơn tư tưởng Hồ Chí Minh về đạo đức công vụ, cũng như việc vận dụng những tư tưởng đó trong thực hiện chức trách, nhiệm vụ được giao và trong quá trình rèn luyện, tu dưỡng đạo đức của bản thân”.

Kết thúc hội thi, thí sinh đến từ Đảng bộ Cơ quan Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội đã giành giải nhất chung cuộc với phần thuyết trình xuất sắc. Ngoài ra ban tổ chức trao 2 giải nhì, 3 giải ba và các giải khuyến khích cho các thí sinh tham dự./.

CTV Kim Anh/VOV online
vov.vn

Các Mác với con đường cách mạng của dân tộc ta

Kỷ niệm lần thứ 195 Ngày sinh C. Mác (5/5/1818 – 5/5/2013)

TS. Cao Đức Thái
Các Mác là nhà tư tưởng vĩ đại, có ảnh hưởng sâu sắc nhất đến tiến trình lịch sử nhân loại trong suốt thế kỷ XX cho đến nay. Thế giới quan – Chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử; Chính trị – kinh tế học; Chủ nghĩa Cộng sản khoa học mà ông và người đồng chí thân thiết, Ph.Ăngghen dày công nghiên cứu, xây dựng đã trở thành cơ sở phương pháp luận cho các ngành khoa học xã hội và nhân văn, cho đường lối, chiến lược cách mạng của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và các dân tộc bị áp bức trên toàn thế giới.

C. Mác mất ngày 14-3-1883, thọ 65 tuổi. Trong điếu văn đọc tại nghĩa trang Hai-Ghết (Luân Đôn), Ph. Ăngghen nói: “Đối với giai cấp vô sản đang đấu tranh ở châu Âu và châu Mỹ, đối với khoa học lịch sử, cái chết của con người đó là một tổn thất không sao lường hết được. Sau đây, người ta sẽ cảm thấy nỗi trống trải do cái chết của con người khổng lồ ấy gây  ra”(2).

Nhận xét về nhân cách người Cộng sản vĩ đại đó, Ph. Ăngghen nói: “Mác là người bị căm ghét nhiều nhất và bị vu khống nhiều nhất trong thời đại ông. Các chính phủ, cả chuyên chế lẫn cộng hoà, đều trục xuất ông… Và, ông đã mất đi, được hàng triệu người cộng sự cách mạng với ông ở khắp châu Âu và châu Mỹ, từ những hầm mỏ Xi-bia cho đến Ca-li-pho-ni-a tôn kính, yêu mến và khóc thương, và tôi có thể mạnh dạn nói rằng: ông có thể có nhiều kẻ thù, nhưng chưa chắc đã có một kẻ thù riêng nào cả”(3).

Vào năm 1999, năm cuối cùng của thế kỷ XX, trong cuộc thăm dò bình chọn nhà tư tưởng lớn nhất thế kỷ (XX) do Đại học Cambridge(Anh) tổ chức, kết quả là C. Mác đứng đầu, người phát minh Học thuyết tương đối Anh-Xtanh đứng thứ hai.

Đối với dân tộc ta, Nguyễn Ái Quốc, Chủ tịch Hồ Chí Minh, với thiên tài trí tuệ và sự kế thừa truyền thống yêu nước của dân tộc đã sớm tiếp thu, vận dụng và phát triển sáng tạo Chủ nghĩa Mác – Lênin vào điều kiện cụ thể của nước ta. Người cùng với Đảng ta đã xây dựng đường lối cách mạng, lãnh đạo dân tộc ta đi từ cách mạng giải phóng dân tộc, chống đế quốc xâm lược, thống nhất đất nước, tiến lên xây dựng đất nước theo con đường xã hội chủ nghĩa.

Cho đến nay, Chủ nghĩa Mác-Lênin cùng với Tư tưởng Hồ Chí Minh vẫn đang soi sáng sự nghiệp cách mạng của nhân dân ta. Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, thông qua Đại hội XI viết: “Đảng lấy Chủ nghĩa Mác-Lênin và Tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho hành động…”(4).

Lênin đã từng nói: Cách tốt nhất để kỷ niệm một cuộc cách mạng là tập trung sự chú ý vào những nhiệm vụ mà cuộc cách mạng đó chưa hoàn thành. Tương tự như vậy, kỷ niệm  lần thứ 195 ngày sinh của C.Mác đối với chúng ta ngày nay đó là thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội XI, đặc biệt là Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XI) – “Một số vấn đề cấp bách về xây dựng Đảng hiện nay”, ngăn chặn, đẩy lùi tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống của một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên, củng cố sự kiên định về mục tiêu, lý tưởng cách mạng…, coi đây là vấn đề sống còn của Đảng và chế độ ta.

(1) Giảng viên cao cấp, nguyên Viện trưởng Viện Nghiên  cứu  quyền con người, Học viện Chính trị – Hành chính Quốc gia Hồ Chí Minh.

(2) (3) Mác, Ăngghen, Tuyển tập, tập V, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1983, tr.661.

(4) Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội XI, NXB CTQG, HN, 2011, tr 88

C.Đ.T.
cand.com.vn