Archive by Author | Việt Nam - Hồ Chí Minh

Hồ Chí Minh – Biên niên tiểu sử – Tập 1 (Từ năm 1890 đến năm 1903)

NĂM 1890

Tháng 5, ngày 19

Ngày sinh của Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Chủ tịch Hồ Chí Minh, thời niên thiếu tên là Nguyễn Sinh Cung, ra đời tại quê mẹ là làng Hoàng Trù (thường gọi là làng Trùa), xã Chung Cự1), tổng Lâm Thịnh, huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An (nay thuộc xã Kim Liên, huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An).

Nguyễn Sinh Cung chào đời vào lúc thực dân Pháp đã đặt ách cai trị lên toàn cõi Việt Nam. Phong trào khởi nghĩa chống Pháp theo hịch Cần Vương của vua Hàm Nghi tuy bị đàn áp nhưng thực dân Pháp vẫn không dập tắt được tiếng súng kháng chiến của nghĩa quân Phan Đình Phùng ở Nghệ – Tĩnh và Hoàng Hoa Thám ở Yên Thế… Ngay ở vùng Nghệ – Tĩnh, nhiều sĩ phu yêu nước vẫn đang ngày đêm lo nghĩ về con đường cứu dân cứu nước thoát khỏi vòng nô lệ.

Thân phụ của Người là Nguyễn Sinh Sắc, sinh năm 1862 2) quê ở làng Kim Liên (thường gọi là làng Sen) cùng thuộc xã Chung Cự, cách Hoàng Trù 2km (nay thuộc xã Kim Liên, huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An).

Ông Sắc vốn xuất thân từ gia đình nông dân, mồ côi cha mẹ sớm, từ nhỏ đã chịu khó làm lụng và ham học. Vì vậy ông được cụ Hoàng Đường ở làng Hoàng Trù xin họ Nguyễn Sinh đem về nuôi. Ông vừa lao động vừa tiếp tục học tập. Khi trưởng thành, ông thành hôn với người con gái đầu của cụ. Cho đến năm 1890, ông Sắc chưa thi cử và đỗ đạt gì.

Thân mẫu của Người là Hoàng Thị Loan, sinh năm 1868. Bà là một phụ nữ cần mẫn, đảm đang, đôn hậu, sống bằng nghề làm ruộng và dệt vải, hết lòng thương yêu và chăm lo cho chồng con ăn học.

Lúc này ông Sắc, bà Loan đã có ba người con.

Nguyễn Sinh Cung là con thứ ba trong gia đình.

Chị của Người là Nguyễn Thị Thanh, còn có tên là Nguyễn Thị Bạch Liên, sinh năm 1884 3).

Anh của Người là Nguyễn Sinh Khiêm, còn có tên là Nguyễn Tất Đạt, sinh năm 1888 4).

Gia đình Nguyễn Sinh Cung sống trong một căn nhà nhỏ ba gian lợp tranh, trên đất vườn của ông bà ngoại tại làng Hoàng Trù.

             – Gia phả họ Nguyễn Sinh ở làng Kim Liên. Tài liệu lưu tại Khu di tích Kim Liên – Nghệ An.

            – Trần Dân Tiên: Những mẩu chuyện về đời hoạt động của Hồ Chủ tịch, Nxb. Sự thật, Hà Nội, 1975, tr.10.

                – Biên bản Hội thảo về thời niên thiếu của Bác Hồ tại Nghệ An năm 1970. Tài liệu lưu tại Bảo tàng Hồ Chí Minh.

            – Bài viết Xã Nam Liên và làng Kim Liên, quê hương của Hồ Chủ tịch. Tạp chí Nghiên cứu lịch sử, số tháng 5-1965, tr.7 – 8.

 TỪ NĂM 1890 ĐẾN NĂM 1895

Nguyễn Sinh Cung sống ở làng Hoàng Trù trong tình thương yêu và chăm sóc của bố mẹ và ông bà ngoại.

Ông ngoại là Hoàng Đường, thuộc dòng dõi Nho học, mở trường dạy chữ Hán ngay tại nhà cho một số trẻ em trong làng.

Bà  ngoại  là  Nguyễn  Thị  Kép, cũng  là  con một gia đình có truyền thống Nho học, làm ruộng để nuôi gia đình.

Nguyễn Sinh Cung nhỏ tuổi nhất trong nhà nên được mọi người trong gia đình yêu thương và chăm sóc nhiều hơn.

Là một thiếu nhi thông minh, Nguyễn Sinh Cung thích nghe chuyện và hay hỏi những điều mới lạ. Điều gì đã biết thì Nguyễn Sinh Cung nhớ rất lâu, đặc biệt là những chuyện cổ tích, những câu hát phường vải mà bà ngoại và mẹ thường kể.

            – Biên bản Hội thảo về thời niên thiếu của Bác Hồ tại Nghệ An, năm 1970. Tài liệu lưu tại Bảo tàng Hồ Chí Minh.

            – Ban Nghiên cứu Lịch sử Đảng Tỉnh uỷ Nghệ – Tĩnh: Những mẩu chuyện về thời niên thiếu của Bác Hồ, Nxb. Sự thật, Hà Nội, 1985, tr.15-16.

Tháng 5, ngày 22, năm 1893

Nguyễn Sinh Cung chịu tang ông ngoại, mất ngày 7 tháng 4 năm Quý Tỵ (22-5-1893).

            – Ban Nghiên cứu Lịch sử Đảng Tỉnh uỷ Nghệ – Tĩnh: Những mẩu chuyện về thời niên thiếu của Bác Hồ, Nxb. Sự thật, Hà Nội, 1985, tr.15.

Khoảng tháng 6, năm 1894

Nguyễn Sinh Cung đón nhận tin vui: cha đậu cử nhân, khoa thi Giáp Ngọ năm Thành Thái thứ 6 tại trường thi Nghệ An 5).

            – Quốc triều Hương khoa lục, Long cương tàng bản, xuất bản năm Thành Thái thứ 11 – Kỷ Dậu (1899).

            – Tư liệu của Khu di tích Kim Liên – Nghệ An.

Khoảng gần cuối năm 1895

Sau khi đậu cử nhân (1894), ông Nguyễn Sinh Sắc vào kinh đô Huế dự thi Hội, nhưng không đỗ.

Ông xin vào học trường Quốc Tử Giám để chuẩn bị thi Hội kỳ sau. Được tiếp nhận, ông về quê đưa vợ và hai con trai cùng vào Huế; gửi con gái là Nguyễn Thị Thanh ở lại nhờ mẹ vợ nuôi.

Nguyễn Sinh Cung cùng anh theo cha mẹ vào Huế. Thời kỳ này từ Nghệ An vào Huế chưa có đường xe lửa và ôtô. Mọi người đều đi bộ, trẻ con thường được ngồi trong quang gánh, vất vả nhiều ngày dọc đường mới tới được kinh đô Huế.

Tới Huế, lúc đầu gia đình Nguyễn Sinh Cung phải ở nhờ những người quen, sau ở tạm trong một gian của trại lính gần Viện đô sát.

             – Ban Nghiên cứu Lịch sử Đảng Tỉnh uỷ Nghệ – Tĩnh: Những mẩu chuyện về thời niên thiếu của Bác Hồ, Nxb. Sự thật, Hà Nội, 1985, tr.19-20.

             – Tư liệu của Chi nhánh Bảo tàng Hồ Chí Minh Thừa Thiên – Huế.

NĂM 1898

Gần cuối năm

Nguyễn Sinh Cung cùng anh theo cha về làng Dương Nỗ, xã Phú Dương, huyện Phú Vang, tỉnh Thừa Thiên, cách thành phố Huế khoảng 7km. Theo lời mời của ông Nguyễn Sĩ Độ, ông Nguyễn Sinh Sắc về đây dạy chữ Hán cho một số học sinh trong làng.

Ông Nguyễn Sinh Sắc và hai con ở trong nhà người em ông Nguyễn Sĩ Độ là Nguyễn Sĩ Khuyến (lúc này ông Khuyến chưa lập gia đình, nhà bỏ không. Ngôi nhà này hiện nay đã được công nhận là di tích).

Nguyễn Sinh Cung bắt đầu học chữ Hán từ đây. Với trí nhớ tốt, các bài học Nguyễn Sinh Cung chỉ đọc ba, bốn lần là thuộc 6).

            – Tư liệu của Khu di tích Kim Liên – Nghệ An.

            – Tư liệu của Chi nhánh Bảo tàng Hồ Chí Minh Thừa Thiên – Huế.

            – Hồi ức của ông Nguyễn Sĩ Tích (cháu ông Nguyễn Sĩ Độ).

            – Tư liệu của Đoàn Khảo sát di tích Hồ Chí Minh năm 1975.

NĂM 1900

Gần cuối năm

Nguyễn Sinh Cung vẫn ở Huế với mẹ trong thời gian ông Nguyễn Sinh Sắc đi làm giám thị kỳ thi Hương tại Thanh Hoá, đưa Nguyễn Sinh Khiêm đi cùng.

Cuối năm bà Hoàng Thị Loan sinh người con thứ tư, vì ông Sắc đi vắng, bà lại thiếu sữa phải cho con đi bú nhờ nên bà con gọi đùa là Xin, nhưng Xin quá yếu, đã mất sau một thời gian rất ngắn.

            – Tư liệu của Chi nhánh Bảo tàng Hồ Chí Minh Thừa Thiên – Huế.

 NĂM 1901

Tháng 2, ngày 10

Nguyễn Sinh Cung chịu tang lớn trong tuổi thiếu niên: bà Hoàng Thị Loan, thân mẫu lâm bệnh qua đời tại Huế (theo âm lịch là ngày 22 tháng 12 năm Canh Tý) 7). Bà đã được những người láng giềng thân thiết lo việc mai táng, vì lúc này ông Nguyễn Sinh Sắc sau khi coi thi ở Thanh Hoá đã trở về Kim Liên và đang ở quê nhà.

            – Ban Nghiên cứu Lịch sử Đảng Tỉnh uỷ Nghệ – Tĩnh: Những mẩu chuyện về thời niên thiếu của Bác Hồ, Nxb. Sự thật, Hà Nội, 1985, tr.24.

                – Công văn mật số 711 của Chánh sở điều tra trung ương và Tổng mật vụ. Tài liệu lưu tại Bảo tàng Hồ Chí Minh.

Sau tháng 2

Sau khi mẹ mất, Nguyễn Sinh Cung được cha đưa về Nghệ An, gửi bà ngoại chăm sóc.

Tại quê, Nguyễn Sinh Cung học chữ Hán với thầy Hoàng Phan Quỳnh, lớp học mở tại xóm Vang, làng Hữu Biệt, cách Hoàng Trù 3km (nay thuộc xã Nam Giang, huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An).

            – Ban Nghiên cứu Lịch sử Đảng Tỉnh uỷ Nghệ – Tĩnh: Những mẩu chuyện về thời niên thiếu của Bác Hồ, Nxb. Sự thật, Hà Nội, 1985, tr.25.

            – Theo Hồi ức của cụ Trần Thị Huy, năm 1963. Tư liệu của Bảo tàng Hồ Chí Minh.

            – Hồi ký của đồng chí Võ Thúc Đồng – nguyên Bí thư Tỉnh uỷ Nghệ – Tĩnh.

Tháng 5

Nguyễn Sinh Cung đón nhận tin vui: thân phụ đậu Phó bảng khoa thi Hội Tân Sửu, năm Thành Thái thứ 13 8).

            – Quốc triều khoa bảng lục, Long cương tàng bản, xuất bản năm Thành Thái thứ 18 – Bính Ngọ (1906).

            – Trần Dân Tiên: Những mẩu chuyện về đời hoạt động của Hồ Chủ tịch, Nxb. Sự thật, Hà Nội, 1975, tr.10.

Khoảng tháng 9

Nguyễn Sinh Cung cùng gia đình chuyển về sống ở quê nội là làng Kim Liên (làng Sen).

Theo tục lệ hồi ấy, ông Nguyễn Sinh Sắc được làng Kim Liên đón về và được làng cấp đất công, xuất quỹ công làm một ngôi nhà để mừng ông (ngôi nhà và mảnh vườn đó từ năm 1957 được phục chế và trở thành Khu di tích Kim Liên).

Về nhà mới, ông Sắc thường răn dạy các con ông: “Vật dĩ quan gia vi ngô phong dạng” (nghĩa là đừng lấy phong cách nhà quan làm phong cách nhà mình) 9).

Tuy đã đỗ đạt nhưng ông Nguyễn Sinh Sắc và gia đình vẫn sống thanh bạch, đạm bạc.

Cũng nhân chuyện về sống ở quê nội, ông Nguyễn Sinh Sắc làm lễ “vào làng” cho hai con trai, với tên mới là Nguyễn Tất Đạt (Sinh Khiêm) và Nguyễn Tất Thành (Sinh Cung).

– Tư liệu của Khu di tích Kim Liên – Nghệ An.

– Lời khai của bà Nguyễn Thị Thanh với mật thám Pháp ngày 7-5-1920. Tài liệu lưu tại Bảo tàng Hồ Chí Minh.

 Sau tháng 9

Nguyễn Tất Thành được phụ thân gửi học chữ Hán với thầy Vương Thúc Quý ở trong làng Kim Liên. Thầy Vương Thúc Quý là người con độc nhất của tú tài Vương Thúc Mậu, lãnh tụ Cần Vương của huyện Nam Đàn, người đã hy sinh trong cuộc càn quét của giặc Pháp tại Kim Liên. Mang nặng nợ nước thù nhà, thầy Quý tuy đỗ cử nhân nhưng không ra làm quan mà ở nhà mở trường dạy học và cùng các sĩ phu yêu nước trong vùng âm mưu chống Pháp. Nhà thầy Quý là nơi các sĩ phu yêu nước thường lui tới, trong đó có các ông Phan Bội Châu, Đặng Thái Thân… Những hôm nhà có khách, Nguyễn Tất Thành thường được thầy Quý lưu lại giúp đun nước, pha trà… Nhờ đó Nguyễn Tất Thành được nghe nhiều chuyện qua các buổi luận bàn thời cuộc của các sĩ phu yêu nước.

            – Tư liệu hồi ký. Tài liệu lưu tại Ban Nghiên cứu Lịch sử Đảng Tỉnh uỷ Nghệ An.

 KHOẢNG NĂM 1901 – 1902

Nguyễn Tất Thành bước đầu tiếp thu tư tưởng yêu nước của các bậc cha chú thông qua mối quan hệ giữa cha với các sĩ phu trong vùng. Trong tác phẩm Phan Bội Châu niên biểu, Phan Bội Châu kể lại rằng: Nguyễn Tất Thành thường nghe Cụ ngâm hai câu thơ và sau này anh vẫn nhắc lại:

                          “Mỗi phạn bất vong duy trúc bạch

                           Lập thân tối hạ thị văn chương”.

Nghĩa là:

                            “Mỗi bữa (ăn) không quên ghi sử sách

                            Lập thân hèn nhất ấy (là) văn chương”.

Nguyễn Tất Thành còn tìm đọc những cuốn sách mà các bậc cha chú thường nhắc tới và được phụ thân dẫn đi thăm các di tích lịch sử và các danh lam thắng cảnh trong vùng. Ngoài việc học tập, Nguyễn Tất Thành thường cùng bạn bè chơi các trò chơi của tuổi thiếu niên như đánh khăng, đánh trận giả, câu cá, bẫy chim, đánh vật… hoặc rủ nhau thăm các thắng cảnh, các di tích văn hoá lịch sử trong vùng như Núi Chung, Đền Thánh Cả, Chùa Đạt, Đền Độc Lôi… Nơi Nguyễn Tất Thành thường lui tới nhiều nhất là lò rèn ông Điền và giếng Cốc ở gần nhà.

Có lần Nguyễn Tất Thành làm chung cùng các bạn trong làng một cái diều sáo. Làm xong đem thả, diều không lên. Sửa mấy cũng không được, các bạn nản chí bàn phá đi làm lại cái khác. Nguyễn Tất Thành không nghe theo các bạn và tiếp tục sửa chữa. Đến khi diều tung gió bay cao, các bạn hỏi về cách sửa chữa, Nguyễn Tất Thành chỉ vẽ cho các bạn và bảo: “Cứ kiên trì chịu khó là được”.

Một lần khác, cùng các bạn câu cá ở cái ao gần nhà bà ngoại ở làng Trùa. Khi một bạn giật mạnh cần câu, lưỡi câu sắc nhọn, mắc vào tai Nguyễn Tất Thành, máu ra nhiều các bạn rất lo sợ. Nhưng Nguyễn Tất Thành nén chịu đau, bình tĩnh rút lưỡi câu ra, nhờ các bạn lấy “lá niệt” rửa sạch, đặt vào chỗ vết thương để cầm máu, và dặn các bạn đừng nói cho bà ngoại biết kẻo bà lo. Vết thương này sau thành sẹo, để dấu ấn ở tai Nguyễn Tất Thành.

            – Phan Bội Châu niên biểu, Nxb. Văn – Sử – Địa, Hà Nội, 1955, tr.30.

            – Trần Dân Tiên: Những mẩu chuyện về đời hoạt động của Hồ Chủ tịch, Nxb. Sự thật, Hà Nội, 1975, tr.10.

            – Ban Nghiên cứu Lịch sử Đảng Tỉnh uỷ Nghệ -Tĩnh: Những mẩu chuyện về thời niên thiếu của Bác Hồ, Nxb. Sự thật, Hà Nội, 1985, tr.26, 30.

            – Tư liệu của Khu di tích Kim Liên – Nghệ An.

NĂM 1903

Mùa xuân

Nguyễn Tất Thành theo cha đến ở xã Võ Liệt, huyện Thanh Chương, tỉnh Nghệ An và tiếp tục học chữ Hán. Thời gian này, ông Nguyễn Sinh Sắc dạy chữ Hán tại nhà ông Nguyễn Thế Văn.

Xã Võ Liệt là một xã có truyền thống yêu nước. Đó là quê hương của Phan Đà, người thanh niên mới 17 tuổi đã đứng ra chiêu tập nghĩa binh, tham gia cuộc khởi nghĩa Lam Sơn của Lê Lợi. Đó cũng là quê hương của Trần Tấn, người khởi xướng cuộc khởi nghĩa năm Giáp Tuất (1874) của văn thân Nghệ – Tĩnh.

Trong thời gian theo cha đến học ở Võ Liệt, Nguyễn Tất Thành lại có dịp nghe chuyện thời cuộc của các sĩ phu đến đàm đạo với cha mình.

            – Tư liệu của Khu di tích Kim Liên – Nghệ An.

            – Ban Nghiên cứu Lịch sử Đảng Tỉnh uỷ Nghệ -Tĩnh: Những mẩu chuyện về thời niên thiếu của Bác Hồ, Nxb. Sự thật, Hà Nội, 1985, tr.41 – 42.

________________________________

1) Xã Chung Cự vốn có truyền thống nho học từ lâu đời. Theo Đăng khoa lục, từ đời Lê Dương Hoà (1635) đến năm 1919 là khoá thi Hương, thi Hội cuối cùng, qua 96 khoa thi, toàn xã Chung Cự đã có 193 người đậu, tính từ hiệu sinh và tú tài trở lên. Là vùng đất có truyền thống yêu nước. Khi vua Hàm Nghi chạy ra Sơn Phòng Quảng Trị hạ chiếu Cần Vương, ở Chung Cự có ông Vương Thúc Mậu lập đội nghĩa binh đóng ở núi Chung (gọi là Chung Nghĩa Binh) để chống Pháp. Dân Chung Cự và các xã lân cận theo ông rất đông. Đội Chung Nghĩa Binh đã nhiều phen làm cho giặc Pháp và quan lại Nam Triều phải lao đao.

2) Về năm sinh của ông Nguyễn Sinh Sắc, trước đây có sách ghi là năm 1863 nhưng các văn bản của triều Nguyễn bổ nhiệm ông, cũng như danh sách trúng tuyển kỳ thi Hội năm Thành Thái thứ 13 đều ghi ông sinh năm Nhâm Tuất (1862).

Qua nhiều nguồn hồi ký cho biết: ông Nguyễn Sinh Sắc lên 3 tuổi (tuổi âm lịch) thì bố là Nguyễn Sinh Vượng mất (7-1864). Từ đó chúng tôi cho rằng ông Sắc sinh năm 1862.

3) Chị và anh của Nguyễn Sinh Cung đều là những người yêu nước và có tham gia phong trào yêu nước. Bà Nguyễn Thị Thanh đã từng nuôi giấu các thủ lĩnh nghĩa quân chống Pháp, bí mật vận động tiếp tế lương thực cho nghĩa quân và tham gia Duy Tân hội. Năm 1918 bị thực dân Pháp bắt, đày đi Quảng Ngãi, sau đó đưa về quản thúc ở Huế.

4)Ông Nguyễn Sinh Khiêm đã từng tham gia biểu tình chống thuế ở Thừa Thiên, sau về quê tham gia phong trào Duy Tân. Năm 1914, Nguyễn Sinh Khiêm bị thực dân Pháp bắt, đày đi Nha Trang, rồi đưa về quản thúc ở thôn Phú Lễ, huyện Quảng Điền, tỉnh Thừa Thiên.

5) Trong danh sách khoa thi Hương Giáp Ngọ, năm Thành Thái thứ 6 có ghi Nguyễn Sinh Sắc.

6) Theo lời kể của người nhà ông Nguyễn Sĩ Khuyến, có một hôm ông Nguyễn Sinh Sắc đi vắng, Nguyễn Sinh Cung cất sách đi chơi. Bạn bè khuyên Cung vào học bài thì Nguyễn Sinh Cung đã đọc thuộc lòng một mạch bảy trang sách cho các bạn nghe.

7) Theo lời khai của bà Nguyễn Thị Thanh (5-1920) với Sở mật thám thì bà Hoàng Thị Loan mất ở Huế ngày 19 tháng Chạp năm Thành Thái thứ 12 (2-1901).

8) Sách Quốc triều khoa bảng lục viết về kỳ thi này có những điều đáng chú ý như sau:

Có 4 bài đạt 6 điểm ở môn thi thứ ba (tam trường) của các ông Lê Ngải, Nguyễn Đình Hiến, Hoàng Đại Bỉnh và Nguyễn Sinh Huy. Ông Nguyễn Sinh Huy được Hội đồng Bộ phúc tra “quảng thủ” (lấy nới rộng).

Kỳ thi này có 9 người trúng “đệ tam giáp đồng tiến sĩ xuất thân” và 13 người trúng “phó bảng”.

Ông Nguyễn Sinh Huy xếp thứ 11 trong số 13 vị phó bảng và được ghi như sau: “Nguyễn Sinh Huy, trước mang tên Sắc, Nghệ An – Nam Đàn – Kim Liên. Sinh năm Nhâm Tuất, tuổi 40. Đậu cử nhân năm Giáp Ngọ. Được đỗ “lấy rộng thêm”. Tài liệu này nói rõ ông sinh năm 1862.

9) Qua hồi ký của nhiều người, ông Nguyễn Sinh Sắc đã lấy vôi viết các chữ Hán đó lên xà nhà.

Theo dangcongsan.vn
Vkyno (st)

Hồ Chí Minh – Biên niên tiểu sử – Tập 1 (Lời giới thiệu)

HỒ CHÍ MINH – BIÊN NIÊN TIỂU SỬ

1

1890 – 1929

(Xuất bản lần thứ hai, có sửa chữa bổ sung)

————————————————

NHÀ XUẤT BẢN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA

HÀ NỘI – 2005

————————————————

TỔNG CHỦ BIÊN

GS. ĐẶNG XUÂN KỲ

————————————————

PHÓ TỔNG CHỦ BIÊN

GS. SONG THÀNH

————————————————

NHÓM BIÊN SOẠN

NGUYỄN HUY HOAN (Chủ biên)

PGS, TS. CHƯƠNG THÂU

NGÔ VĂN TUYỂN

NGUYỄN TRỌNG THỤ


LỜI GIỚI THIỆU

Từ lâu, nhân dân ta, bạn bè, đồng chí và kiều bào ta ở nước ngoài vẫn mong muốn có một bộ sách lớn, công bố đầy đủ những tư liệu chính xác, đã qua xác minh khoa học, về cuộc đời và sự nghiệp cách mạng “vô cùng oanh liệt và phong phú, vô cùng trong sáng và đẹp đẽ” của Chủ tịch Hồ Chí Minh kính yêu, giúp cho cán bộ và nhân dân ta có điều kiện nghiên cứu, tìm hiểu, học tập sâu sắc về tiểu sử, sự nghiệp, tư tưởng, đạo đức và phong cách của Người.

Các nhà nghiên cứu khoa học về kinh tế, chính trị, quân sự, ngoại giao, văn hoá, giáo dục, lịch sử Đảng và phong trào công nhân, lịch sử các đoàn thể quần chúng và cách mạng nước ta mong muốn có một bộ sách sưu tập tương đối đầy đủ và hệ thống những tư liệu về Chủ tịch Hồ Chí Minh, người sáng lập Đảng, Mặt trận dân tộc thống nhất, Nhà nước và Quân đội nhân dân, người mở đầu và đặt nền móng cho các khoa học xã hội và nhân văn ở nước ta theo quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lênin. Một bộ sách như vậy có tác dụng tra cứu và tham khảo rất bổ ích đối với các nhà nghiên cứu khoa học xã hội ở trong và ngoài nước.

Các nhà văn nghệ, sáng tác tiểu thuyết, sân khấu, điện ảnh, hội hoạ… mong muốn khai thác từ biên niên tiểu sử của Chủ tịch Hồ Chí Minh những sự kiện chân thực, sinh động, cụ  thể trong cuộc đời của Người từ thời niên thiếu cho đến khi qua đời, để sáng tạo nên những công trình nghệ thuật tương xứng với tầm vóc vĩ đại của Người, góp phần vào sự nghiệp bồi dưỡng thế hệ cách mạng cho đời sau, mãi mãi “Sống, chiến đấu, lao động, học tập, theo gương Bác Hồ vĩ đại”.

Năm 1992, trong dịp kỷ niệm lần thứ 102 năm ngày sinh của Chủ tịch Hồ Chí Minh, Viện Hồ Chí Minh thuộc Viện Nghiên cứu chủ nghĩa Mác – Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh, nay là Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, sau nhiều năm chuẩn bị và biên soạn, đã cho ra mắt bạn đọc tập đầu tiên của công trình nhiều tập Hồ Chí Minh – Biên niên tiểu sử.

Sau hơn 10 năm bộ sách ra mắt bạn đọc, chúng tôi đã nhận được nhiều ý kiến góp ý cũng như nhận được nhiều tư liệu quý liên quan đến Chủ tịch Hồ Chí Minh. Đến nay, theo yêu cầu của bạn đọc, chúng tôi phối hợp với Nhà xuất bản Chính trị quốc gia xuất bản lần thứ hai bộ sách này.

Biên soạn công trình này, chúng tôi hy vọng giúp bạn đọc có điều kiện nhận thức đầy đủ và sâu sắc hơn công lao to lớn, sự nghiệp vĩ đại của Chủ tịch Hồ Chí Minh đối với cách mạng Việt Nam, với phong trào cộng sản và công nhân quốc tế, với phong trào giải phóng dân tộc trên thế giới, thấy rõ thiên tài trí tuệ và phẩm chất đạo đức trong sáng, cao đẹp của một vị lãnh tụ cách mạng vĩ đại, đồng thời là một con người giản dị, khiêm tốn, gần gũi, thân thiết với tất cả mọi người.

Qua tấm gương cao đẹp, trọn vẹn về cuộc đời, sự nghiệp, tư tưởng, đạo đức và phong cách của Bác Hồ kính yêu, công trình sẽ giúp bạn đọc rút ra được những bài học bổ ích về lòng yêu nước, yêu chủ nghĩa xã hội, tinh thần quốc tế vô sản, đạo đức – phẩm chất của con người mới xã hội chủ nghĩa, niềm tự hào vô hạn về lãnh tụ vĩ đại, niềm tin tưởng tuyệt đối vào sự lãnh đạo của Đảng do Bác Hồ sáng lập, mãi mãi đi theo con đường của Chủ tịch Hồ Chí Minh đã lựa chọn, thực hiện bằng được mong muốn cuối cùng của Người là: “Toàn Đảng toàn dân ta đoàn kết phấn đấu, xây dựng một nước Việt Nam hoà bình, thống nhất, độc lập, dân chủ và giàu mạnh, và góp phần xứng đáng vào sự nghiệp cách mạng thế giới”.

Xưa nay, tiểu sử vĩ nhân có thể được trình bày dưới nhiều thể loại: niên phổ, niên biểu, biên niên sự kiện, biên niên tiểu sử, tiểu sử khoa học, truyện danh nhân, v.v..

Hồ Chí Minh – Biên niên tiểu sử là một công trình lịch sử được trình bày dưới hình thức biên niên. Nhưng khác với niên biểu hay biên niên sự kiện trong đó chỉ liệt kê tóm tắt năm tháng xảy ra các sự kiện chính, đánh dấu bước chuyển biến trong cuộc đời và tư tưởng của vĩ nhân, mà không lược thuật nội dung các sự kiện, còn biên niên tiểu sử là một cuốn sử với đầy đủ các yếu tố niên đại, nhân vật, sự kiện, hoàn cảnh… được ghi chép lại theo trình tự thời gian diễn ra các sự việc, lời nói, bài viết, hành động, sinh hoạt, giao tiếp, v.v. của vĩ nhân đối với thời đại, đất nước, dân tộc, giai cấp, gia đình, họ hàng, bạn hữu, kẻ thù…; từ chuyện lớn đến chuyện nhỏ, trong đời sống chung và đời sống riêng, thể hiện lãnh tụ vừa như một vĩ nhân, vừa như một người bình thường.

Biên niên tiểu sử được kết cấu theo đơn vị thời gian: năm, tháng, ngày, có khi đến từng giờ. Với một phương pháp ghi chép có vẻ tản mạn, ngẫu nhiên, có biến cố gì ghi nấy, song toàn bộ nội dung của nó bao giờ cũng được nhận thức, phản ánh, diễn đạt theo quan điểm chính trị, tư tưởng, đạo đức của một giai cấp nhất định. Trong biên niên tiểu sử, người đọc được tiếp xúc với một khối lượng tư liệu phong phú, nhiều sự kiện cụ thể, tuy được thể hiện bằng văn lịch sử; nhưng lại sinh động, đáp ứng được yêu cầu của nhà nghiên cứu lẫn người đọc thông thường.

Quan niệm về tính chất và đặc điểm của thể loại biên niên tiểu sử như trên đã định hướng cho các soạn giả trong việc giải quyết những vấn đề cụ thể về nội dung và phương pháp biên soạn biên niên tiểu sử của Bác Hồ.

Trước hết là việc lựa chọn sự kiện đưa vào biên niên. Nói chung, toàn bộ những sự kiện có ý nghĩa trong cuộc đời và sự nghiệp cách mạng của Chủ tịch Hồ Chí Minh (với tư cách là chủ thể hành động) đã sưu tầm được, qua chọn lọc, xác minh, đều có thể đưa vào biên niên. Những sự kiện này bao quát các lĩnh vực:

– Trước tác: Bao gồm các tác phẩm lý luận chính trị, văn hoá, văn nghệ, thư từ – điện văn, bài báo, tài liệu dịch, bài phát biểu, lời kêu gọi… đã công bố ở trong và ngoài nước.

– Các văn kiện của Đảng và Nhà nước: Bao gồm các hiệp định, tạm ước, tuyên ngôn, tuyên bố, sắc lệnh, chỉ thị, nghị quyết hoặc các tài liệu tương tự do Bác Hồ trực tiếp thảo hay ký công bố trên danh nghĩa Chủ tịch Đảng, Chủ tịch nước, Chủ tịch Hội đồng Quốc phòng…

– Hoạt động: Bao gồm các cuộc tham dự Đại hội Quốc tế Cộng sản, Hội nghị các Đảng anh em, các Đại hội Đảng, Quốc hội, Hội đồng Chính phủ, Mặt trận, Thanh niên, Phụ nữ, Công đoàn; các cuộc họp với Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, với các tổ chức kinh tế – xã hội, tham dự các cuộc mít tinh, bầu cử, đại hội liên hoan, các cuộc tiếp khách trong nước và ngoài nước; các cuộc đi thăm các nước, các ngành, các địa phương, các đơn vị tiên tiến, thăm gia đình các giới trong dịp Tết cổ truyền, v.v..

– Những sự kiện có ý nghĩa trong đời sống riêng: Ví dụ bữa cơm với bà Thanh, thư gửi họ Nguyễn Sinh về việc ông Khiêm tạ thế, sự kiện về thăm quê, những lần đi chữa bệnh, đi thăm danh lam, thắng cảnh, v.v..

Tóm lại, đối với cuộc đời của một vị lãnh tụ vĩ đại như Bác Hồ, chúng tôi không đặt vấn đề phân biệt sự kiện lịch sử và sự kiện bình thường. Có những sự kiện nhỏ nhưng ý nghĩa lớn, đem lại cho người đọc một nhận thức đầy đủ về lãnh tụ, vừa như một vĩ nhân, vừa như một người bình thường. Các soạn giả sẽ không đưa vào biên niên những sự kiện được coi là gián tiếp (như việc nước ngoài tặng huân chương, việc lấy tên Người đặt cho các giải thưởng, các quảng trường, đường phố, con tàu,…) và những sự kiện chưa được các nguồn tài liệu chính xác khẳng định.

Trong các nguồn tài liệu, sau khối tác phẩm và văn kiện, khối hồi ký cách mạng và các sách chuyên khảo có liên quan đến tiểu sử Bác Hồ là một nguồn tham khảo quan trọng. Trong việc sử dụng hồi ký, chúng tôi đặc biệt coi trọng hồi ký của các đồng chí lãnh đạo là học trò, người cộng sự gần gũi của Bác Hồ, nhất là những hồi ký được xuất bản khi Người còn sống. Giá trị các hồi ký vốn khác nhau và giữa các hồi ký còn có chỗ chưa khớp với nhau do các tác giả nhầm lẫn hoặc có thêm thắt một số chi tiết nào đó. Chúng tôi cố gắng tránh dựa hẳn vào một hồi ký riêng biệt mà phải qua đối chiếu, so sánh nhiều hồi ký với nhau để khôi phục lại những chi tiết, sự kiện còn thiếu trong biên niên tiểu sử của Bác Hồ.

Các sách chuyên khảo có giá trị khoa học của các nhà nghiên cứu trong và ngoài nước, trong đó các tác giả đã chỉ ra được các nguồn xuất xứ ở các kho lưu trữ nước ngoài mà chúng tôi chưa có điều kiện tiếp xúc, chúng tôi cũng khai thác và sử dụng ở mức độ cần thiết, có chú thích để chờ tra cứu thêm.

Đối với tài liệu, báo cáo của mật thám – chỉ điểm về hoạt động cách mạng của Nguyễn Ái Quốc ở trong nước và nước ngoài, sau khi phê phán và tước bỏ sự xuyên tạc ý nghĩa của sự kiện được nhìn nhận theo quan điểm của chúng, chúng tôi cũng khai thác và sử dụng có cân nhắc những chi tiết khách quan được ghi lại trong đó như thời gian, địa điểm diễn ra hành động, những con người và những sự việc có liên quan tới sự kiện được nói đến trong những báo cáo ấy.

Dựng lại được nội dung xác thực, khách quan của các sự kiện lịch sử là một quá trình. Nhưng đưa hay không đưa sự kiện nào vào biên niên tiểu sử, ngoài tính khách quan, tính lịch sử, còn phải tuân theo nguyên tắc tính đảng của sử học mácxít, nghĩa là còn phải tính đến những nhiệm vụ hiện nay của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ chủ nghĩa xã hội của nước ta, của phong trào cộng sản và công nhân quốc tế, phong trào giải phóng dân tộc… Mỗi sự kiện có nhiều tầng ý nghĩa, ngoài mối quan tâm về lịch sử còn phải quan tâm đến ý nghĩa của nó đối với thời đại hiện nay. Do đó, bạn đọc có thể hiểu vì sao còn có những sự kiện chưa được đưa vào biên niên trong lần xuất bản này.

Về phương pháp trình bày, thể hiện, biên niên tiểu sử có những quy tắc riêng buộc phải tuân theo để đảm bảo tính nhất quán của thể loại. Trên nét lớn, mỗi sự kiện có thể được trình bày theo các công đoạn sau đây:

– Thời gian: năm, tháng, ngày, có thể đến giờ, nếu không biết giờ thì ghi: buổi sáng, trưa, chiều, tối, đêm. Có sự kiện diễn ra một ngày, một buổi, một giờ. Có sự kiện lớn diễn ra nhiều ngày (Đại hội Đảng, các Hội nghị Trung ương, v.v.) thì ghi ngày mở đầu và ngày kết thúc. Trong một đại hội nhiều ngày, Bác Hồ có nhiều lần phát biểu, lần nào vào ngày nào, giờ nào đều được trình bày riêng.

– Địa điểm: được ghi theo địa danh lúc xảy ra sự kiện.

– Nội dung sự kiện: thông tin ngắn gọn, chính xác, đầy đủ về nội dung sự kiện, việc làm, cách làm, nhân vật, đối tượng tiếp xúc, câu nói tiêu biểu phản ánh quan điểm, tư tưởng, đạo đức, phong cách… của Bác Hồ. Trong một số trường hợp, chúng tôi đã dẫn lại những câu, những chữ hay nhất của lãnh tụ để người đọc được tiếp xúc trực tiếp với tư tưởng của Người, cá biệt cũng có khi thêm cả nhận xét, đánh giá của người đương thời đã tham gia, chứng kiến sự kiện (là bạn hữu hay đối phương) hoặc nêu lên ý kiến của chính Bác Hồ khi còn sống có dịp nhắc lại sự kiện ấy.

– Các nguồn xuất xứ của sự kiện: chỉ rõ lấy từ đâu, văn kiện, tác phẩm, báo chí, tác giả, nhà xuất bản, nơi xuất bản, năm xuất bản, trang bao nhiêu, để giúp bạn đọc có thể trực tiếp tra cứu khi cần thiết.

Về cách thể hiện các danh từ riêng (tên người, tên đất, tên các tổ chức văn hoá – xã hội…) ở Việt Nam và Trung Quốc, chúng tôi dựa theo các quy ước thông dụng trên sách báo hiện nay. Về tên riêng nước ngoài thuộc các ngữ hệ Ấn – Âu, chúng tôi phiên âm theo gốc của nước đó và để nguyên tự dạng trong ngoặc (ví dụ: hãng Sácgiơ Rêuyni (Chargeurs Réunis), thành phố Brúclin (Brooklyn)) và chỉ ghi một lần nếu tên đó còn xuất hiện trong các sự kiện sau. Đối với các cơ quan ngôn luận, thông tấn, báo chí, theo xu hướng chung của thế giới hiện nay, chúng tôi để nguyên văn, in nghiêng, không dịch, ví dụ: Báo L’Humanité, Inprekorr. Đối với các danh từ riêng gốc Nga thì chuyển từ chữ cái Nga sang chữ cái Latinh, ví dụ: Hãng thông tấn ROXTA, Tạp chí Ogoniok, v.v..

Hồ Chí Minh – Biên niên tiểu sử là một công trình lớn, nhiều tập, tổng số tập phụ thuộc vào số lượng tư liệu, sự kiện đã được sưu tầm và xác minh. Khác với tiểu sử khoa học được phân chia theo giai đoạn, biên niên tiểu sử – như tên gọi của nó – ghi chép sự việc theo năm tháng, nên chia tập, có chiếu cố đến các mốc lịch sử lớn, nhưng chủ yếu chia theo số lượng các sự kiện, nhằm đảm bảo cho độ dày của mỗi tập không quá chênh lệch nhau.

Mấy năm qua, Viện Hồ Chí Minh đã sưu tầm và xác minh được khoảng một vạn sự kiện về cuộc đời và sự nghiệp cách mạng của Chủ tịch Hồ Chí Minh từ thời niên thiếu đến lúc qua đời. Trong công việc này chúng tôi đã nhận được sự cộng tác và giúp đỡ của Cục Lưu trữ Trung ương Đảng, Cục Lưu trữ Nhà nước (cơ sở I và II), Cục Lưu trữ Bộ Quốc phòng, Bảo tàng Hồ Chí Minh, Viện Lịch sử Đảng, Bảo tàng Cách mạng; của nhiều cơ quan, thư viện, học viện, bảo tàng; của các vị nhân sĩ, trí thức, cán bộ lão thành cách mạng, kiều bào nước ta ở nước ngoài; của Cục Lưu trữ Viện Mác – Lênin trực thuộc Trung ương Đảng Cộng sản Liên Xô trước đây và nhiều cơ quan hữu quan khác ở Hà Nội và các địa phương.

Nhân dịp bộ sách lần lượt được ra mắt bạn đọc, chúng tôi xin bày tỏ lòng biết ơn đối với mọi sự giúp đỡ to lớn nói trên. Chúng tôi cũng xin gửi lời cảm ơn chân thành đến các vị học giả, giáo sư, cán bộ khoa học, đã nhiệt tình cộng tác với chúng tôi từ bước đầu xây dựng đề cương công trình, hội thảo phương pháp biên soạn, đến đọc, góp ý kiến hoàn chỉnh bản thảo.

Mặc dù đã có nhiều cố gắng tiến hành biên soạn theo những bước đi thận trọng, nhưng việc viết biên niên của lãnh tụ vô sản theo quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lênin ở nước ta còn là vấn đề mới và khó, do trình độ có hạn, nhất là chưa có điều kiện khảo sát tận nơi những sự kiện, những tư liệu gốc còn lưu trữ ở các nước mà Chủ tịch Hồ Chí Minh đã sống và làm việc, chưa được tiếp xúc với các sổ tay, bản thảo, biên bản các cuộc họp Trung ương và Bộ Chính trị… mà Bác Hồ có tham dự và phát biểu, v.v.. Vì vậy, chắc chắn công trình không tránh khỏi còn những khiếm khuyết chưa khắc phục ngay được.

Chúng tôi thành thật mong mỏi bạn đọc xa gần chỉ bảo cho những điều bổ ích sau lần xuất bản thứ hai này.

Hà Nội, ngày 6 tháng 1 năm 2006
VIỆN HỒ CHÍ MINH

Theo dangcongsan.vn
Vkyno (st)

Sáu điều dạy của Bác Hồ đối với Công an nhân dân vẫn giữ nguyên giá trị thời sự trong thời kỳ đất nước phát triển, hội nhập

Kỷ niệm 65 năm CAND học tập, thực hiện sáu điều Bác Hồ dạy:

GS. TS. Nguyễn Hồng Vinh
Cách đây 65 năm, ngày 11/3/1948, Bác Hồ đã viết thư gửi đồng chí Hoàng Mai, Giám đốc Công an khu XII về “Tư cách người công an cách mệnh”.

Lời dạy của Bác Hồ đã trở thành lời huấn thị chung cho toàn lực lượng CAND, trở thành di sản tinh thần thiêng liêng, vô giá; là kim chỉ nam cho mọi hoạt động của lực lượng CAND, góp phần quan trọng làm nên nhiều chiến công vẻ vang của lực lượng CAND từ đó đến nay.

Sáu lời dạy của Bác tuy ngắn gọn, dễ hiểu, nhưng có ý nghĩa toàn diện, cơ bản trong quá trình tu dưỡng, rèn luyện đối với mỗi CBCS công an, chẳng những phù hợp trình độ văn hóa và hoàn cảnh chiến tranh trong những ngày đầu kháng chiến chống thực dân Pháp, mà còn có giá trị nhân văn lâu dài trong giai đoạn lịch sử chống Mỹ, cứu nước, xây dựng CNXH, đổi mới và hội nhập quốc tế hôm nay của đất nước ta.

Đã có nhiều bài viết, công trình nghiên cứu công phu về ý nghĩa 6 lời dạy của Bác Hồ đối với CAND. Ở bài viết này, chúng tôi muốn nhấn mạnh 2 vấn đề căn cốt trong 6 điều dạy của Bác, đó là tư cách của người công an cách mệnh trong quan hệ đối với Chính phủ và nhân dân.

Có ý kiến cho rằng, tại sao trong lời dạy đó, Bác chỉ nói: “Đối với Chính phủ…”, mà không đề cập tình cảm của người cán bộ công an đối với Đảng? Tại sao Người không dạy “Đối với Đảng, phải tuyệt đối trung thành”?

Cần nhớ lại thời điểm lịch sử năm 1948, đó là thời kỳ cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp của chúng ta đang ở giai đoạn cầm cự, gặp vô vàn khó khăn.

Để tập hợp, đoàn kết tất cả các lực lượng trong nước, tranh thủ sự giúp đỡ quốc tế, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã tuyên bố “giải tán Đảng Cộng sản”, thực chất là chỉ đạo Đảng ta rút vào hoạt động bí mật dưới danh nghĩa “Hội nghiên cứu Chủ nghĩa Mác” để tiếp tục lãnh đạo cuộc kháng chiến kiến quốc. Chính vì đặc điểm lịch sử đó, trong thư, Bác chỉ nói “Đối với Chính phủ…”.

Trong bối cảnh như vậy, lực lượng công an triển khai học tập, thực hiện lời dạy của Người, đều hiểu rõ sự trung thành với Chính phủ cũng có nghĩa là trung thành với Đảng, với Tổ quốc. Nội hàm Đảng – Chính phủ – Tổ quốc ở đây thống nhất làm một.

Đây là điều cốt tử để sau này lực lượng CAND xây dựng thành nội dung 5 lời thề danh dự CAND Việt Nam và trở thành nguyên tắc sống còn trong cơ cấu, tổ chức lực lượng cũng như phương thức công tác, chiến đấu của lực lượng công an Việt Nam.

Bác từng nhiều lần căn dặn cán bộ phải là “công bộc” của dân, là “đầy tớ” của dân. Với công an, Bác Hồ dạy “Đối với nhân dân, phải kính trọng, lễ phép”, đó là nội dung cụ thể và rất dễ hiểu để thực hiện.

Trong suốt quá trình giáo dục, rèn luyện lực lượng CAND, Bác Hồ đã dành sự lưu tâm đặc biệt căn dặn cán bộ công an coi trọng việc xây dựng mối liên hệ mật thiết với nhân dân.

Năm 1951, với tinh thần Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ II, toàn Đảng, toàn quân, toàn dân ta bước vào thời kỳ gấp rút chuẩn bị mọi mặt cho giai đoạn chuyển mạnh sang tổng phản công chống thực dân Pháp, lực lượng Công an tiến hành đào tạo những lớp học viên công an có trình độ trung cấp nhằm cung cấp nguồn nhân lực, đáp ứng kịp thời những đòi hỏi mới của cuộc kháng chiến.

Trước yêu cầu đó, tại châu Sơn Dương, Tuyên Quang (Việt Bắc), Trường Công an Trung cấp được vinh dự đón Bác đến thăm. Bác căn dặn CBCS công an phải nhận thức đầy đủ vị trí, nhiệm vụ của mình trong việc bảo vệ nền chuyên chính dân chủ nhân dân – đó là điểm khác biệt về bản chất giữa công an đế quốc với CAND Việt Nam.

Bác nhấn mạnh, người CAND trong chế độ mới cần nâng cao nhận thức tư tưởng chính trị, gắn liền với ý chí khắc phục khó khăn, ra sức thi đua sáng tạo để đáp ứng kịp thời những đòi hỏi mới của cuộc kháng chiến, kiến quốc. Bác dạy trong quan hệ với dân, lực lượng công an phải ghi nhớ: “Khi nhân dân giúp đỡ ta nhiều thì thành công nhiều, giúp đỡ ta ít thì thành công ít, giúp đỡ ta hoàn toàn thì thắng lợi hoàn toàn”.

Đó là những lời dạy giản dị, sâu sắc, dễ thấm sâu vào tâm tư, tình cảm mỗi người, ai cũng có thể hiểu để vận dụng trong thực tiễn công tác.

Cũng như vậy, ngày 16/5/1959, nói chuyện với CBCS và học viên khóa II lớp chỉnh huấn tại Trường Công an Trung ương, Bác lại nhắc: “Làm công an thì phải làm cho dân tin, dân yêu, dân ủng hộ. Có dựa vào nhân dân thì công an mới hoàn thành tốt nhiệm vụ của mình. Nhân dân có hàng triệu tai mắt thì kẻ địch khó mà che giấu được. Nếu trong công tác công an, các cô, các chú được dân ủng hộ, làm cho dân tin, dân phục, dân yêu thì nhất định các cô, các chú thành công. Muốn được như vậy cũng phải trau dồi đạo đức cách mạng, cũng phải chống chủ nghĩa cá nhân”.

Trong suốt 65 năm qua, khi có chiến tranh cũng như trong điều kiện đất nước hòa bình, phong trào học tập, thực hiện 6 điều Bác Hồ dạy luôn luôn được duy trì, phát triển sâu rộng và là một phong trào thi đua lớn nhất của lực lượng CAND.

Qua phong trào thi đua học tập và thực hiện 6 điều Bác dạy, đã xuất hiện ngày càng nhiều những tấm gương CBCS công an không ngại gian khổ, không sợ hy sinh, tận tụy công tác, dũng cảm chiến đấu, lập nhiều thành tích và chiến công xuất sắc, góp phần tô thắm truyền thống vẻ vang của lực lượng CAND anh hùng.

Nhiều CBCS đã hy sinh anh dũng trong phòng, chống tội phạm, bảo vệ tính mạng và tài sản vì cuộc sống bình yên của nhân dân, như: Anh hùng, liệt sỹ Lâm Văn Thạnh (Công an tỉnh Lâm Đồng); Lưu Thế Hà (Cục Cảnh sát bảo vệ và Hỗ trợ tư pháp); Lê Thanh Á (Công an TP Hải Phòng); Nguyễn Văn Ngữ (Công an TP Hà Nội); Phạm Văn Cường (Công an tỉnh Lai Châu)… Đó là những minh chứng sống động về kết quả to lớn của phong trào “CAND học tập, thực hiện 6 điều Bác Hồ dạy”.

Và còn có hàng nghìn, hàng vạn CBCS công an không tiếc máu xương, chiến đấu kiên cường, dũng cảm trong quá trình bảo vệ ANTT của Tổ quốc, bảo vệ tính mạng và tài sản của nhân dân. Đó là những bằng chứng sinh động về kết quả to lớn của phong trào “CAND học tập, thực hiện 6 điều Bác Hồ dạy” trong 65 năm qua.

Thời gian tới, tình hình thế giới và khu vực tiếp tục diễn biến phức tạp, khó lường, tác động mạnh mẽ đến mọi mặt của nước ta, trong đó có lĩnh vực bảo vệ ANTT.

Ở trong nước, bên cạnh những thời cơ thuận lợi, đất nước ta đang phải đối mặt với những nguy cơ, thách thức không nhỏ. Các thế lực thù địch tiếp tục đẩy mạnh chiến lược “Diễn biến hòa bình”; triệt để lợi dụng vấn đề dân tộc, tôn giáo, dân chủ, nhân quyền hòng gây mất ổn định chính trị. Đặc biệt, quá trình “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ đã và đang xuất hiện những biểu hiện mới, phức tạp, tinh vi. Vấn đề an ninh truyền thống và an ninh phi truyền thống đang đặt ra nhiều thách thức…

Nghị quyết Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng đã chỉ rõ những nhiệm vụ hết sức nặng nề của sự nghiệp bảo vệ và xây dựng Tổ quốc, đó là “Tăng cường tiềm lực quốc phòng, an ninh; giữ vững ổn định chính trị – xã hội, độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ, TTATXH; ngăn chặn, làm thất bại mọi âm mưu, thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch…”, trong đó giữ vững ANQG, TTATXH là nhiệm vụ trọng yếu thường xuyên của Đảng, Nhà nước và của toàn dân, mà lực lượng CAND là lực lượng nòng cốt.

Hiến pháp 1992 sửa đổi cũng quy định (Điều 73 dự thảo): “CAND Việt Nam được xây dựng chính quy, tinh nhuệ và từng bước hiện đại, làm nòng cốt trong sự nghiệp bảo vệ ANQG và bảo đảm TTATXH, đấu tranh phòng chống tội phạm”.

Để thực hiện thắng lợi mục tiêu, nhiệm vụ đó, hơn lúc nào hết, lực lượng CAND cần tiếp tục đẩy mạnh phong trào “CAND học tập, thực hiện 6 điều Bác Hồ dạy”, đưa phong trào phát triển lên tầm cao mới.

Trong thời đại và hoàn cảnh lịch sử ngày nay, theo chúng tôi, cần phải tổ chức nghiên cứu sâu sắc hơn nữa giá trị bền vững và ý nghĩa thời sự của 6 điều Bác Hồ dạy CAND, tiếp tục tuyên truyền và phổ biến ý nghĩa cách mạng, khoa học, nhân văn và giá trị thực tiễn to lớn của 6 điều Bác Hồ dạy.

Mỗi CBCS cần nhận thức rằng, việc duy trì và phát triển phong trào thi đua “CAND học tập, thực hiện 6 điều Bác Hồ dạy” là nhiệm vụ thường xuyên và là định hướng cơ bản để tạo ra tiền đề quan trọng nhằm thực hiện có hiệu quả mục tiêu xây dựng lực lượng CAND cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại

N.H.V.

Theo cand.com.vn
Vkyno (st)

Quán triệt và vận dụng 6 điều Bác Hồ dạy Công an nhân dân trong công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm

Trung Tướng Phan Văn Vĩnh (Tổng Cục Trưởng Tổng Cục Cảnh Sát Phòng, Chống Tội Phạm)
Là một bộ phận của lực lượng Công an nhân dân (CAND), ra đời từ cách mạng tháng Tám 1945, trong suốt chặng đường vẻ vang của dân tộc, dưới sự lãnh đạo trực tiếp của Đảng, của Bác Hồ, được sự giúp đỡ của nhân dân, lực lượng Cảnh sát nhân dân (CSND) đã vượt qua khó khăn, thử thách, thể hiện rõ vai trò nòng cốt, xung kích trong sự nghiệp bảo vệ an ninh, trật tự (ANTT) của đất nước.

Quá trình công tác, chiến đấu, trưởng thành của lực lượng CAND nói chung, lực lượng CSND nói riêng, luôn được Chủ tịch Hồ Chí Minh rèn luyện, lãnh đạo sát sao.

Chủ tịch Hồ Chí Minh nêu rõ bản chất nhân dân là cốt lõi của Công an cách mạng, phương thức tốt nhất để lực lượng Công an hoàn thành nhiệm vụ là phải “dựa vào nhân dân mà làm việc”; “làm Công an thì phải làm cho dân tin, dân yêu, dân ủng hộ”. Có dựa vào nhân dân thì Công an mới hoàn thành tốt được nhiệm vụ của mình…”.

Bác chỉ rõ, dựa vào dân không có nghĩa là trông chờ, ỷ lại, dựa dẫm hoàn toàn vào dân mà phải làm sao biết nắm bắt, chủ động khai thác và phối hợp với sức mạnh của nhân dân trong công tác, nhất là trong công tác đấu tranh giữ gìn ANTT.

CBCS công an phải biết nhận phần khó về mình, tạo thuận lợi cho nhân dân, tận tụy phục vụ nhân dân – đó là yếu tố quan trọng để hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ và cũng là nhân tố quyết định để được nhân dân tin yêu, giúp đỡ.

Muốn phát huy được sức mạnh của nhân dân, Chủ tịch Hồ Chí Minh yêu cầu mỗi công an viên phải giữ đúng tư cách, đạo đức; tự rèn luyện “cần, kiệm, liêm, chính” để không “trở nên hủ bại, biến thành sâu mọt của dân”, và cách ứng xử phù hợp trong các mối quan hệ: với đồng sự, với Chính phủ, với nhân dân, với địch.

Trong các mối quan hệ đó, nền cơ bản vẫn là nhân dân mà yêu cầu về tư cách người Công an là phải kính trọng, lễ phép. “Công an với dân phải đoàn kết -nghĩa là phải khuyến khích cho dân phê bình Công an”, phải khéo – “nghĩa là phải thực sự trung thành, tôn kính, thương yêu dân”.

Đối với công việc, Người yêu cầu mỗi CBCS phải “tận tụy”, “phải đặt việc nước lên trên, lên trước việc tư, việc nhà” và “đã phụ trách công việc gì thì quyết làm cho kỳ được, cho đến nơi, đến chốn, không sợ khó nhọc, không sợ nguy hiểm. Bất kỳ việc to, việc nhỏ, phải có sáng kiến, phải có kế hoạch, phải cẩn thận, phải quyết làm cho thành công”.

Mỗi CBCS luôn tuyệt đối tin tưởng vào sự lãnh đạo của Đảng, không hoang mang, dao động, mất lòng tin dù khi cách mạng gặp khó khăn hay trong những tình huống chiến đấu ác liệt, hoặc trước những cám dỗ, ham muốn của đời thường.

Đồng đội phải biết “thân ái, giúp đỡ” nhau “từ cấp trên cho đến nhân viên phải đoàn kết nhất trí”; “Cấp trên phải chú ý đến đời sống vật chất và tinh thần của chiến sĩ… đoàn kết và học tập lẫn nhau, luôn luôn giúp đỡ nhau tiến bộ”.

Đối với kẻ địch phải cương quyết, khôn khéo trong mọi hoàn cảnh, giữ vững bản lĩnh chính trị, ý chí chiến đấu. Những lời chỉ bảo ngắn gọn, súc tích, dễ nhớ đó đã trở thành những nguyên tắc, triết lý, phương châm hành động của mỗi CBCS Công an nói chung, lực lượng CSND nói riêng trong suốt chặng đường lịch sử đấu tranh giữ gìn ANTT, bảo vệ bình yên cho Tổ quốc.

Từ những năm đầu mới thành lập, đặc biệt là trong những ngày bão táp của Cách mạng tháng 8/1945, các tổ chức Cảnh sát đầu tiên của lực lượng CSND đã phối hợp chặt chẽ với lực lượng Liêm phóng trấn áp các đối tượng và tổ chức phản cách mạng, lưu manh côn đồ; làm thất bại âm mưu gây mất ANTT, bạo loạn hòng lật đổ chính quyền cách mạng còn non trẻ; bài trừ tệ nạn xã hội, giữ gìn trật tự trị an ở các thành phố, thị xã, góp phần bảo vệ an toàn các đồng chí lãnh đạo Đảng, Chính phủ, các cơ quan, nhà máy…

Trong hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ xâm lược, lực lượng CSND đã luôn sát cánh cùng với quân và dân cả nước đánh thắng kẻ thù xâm lược, bảo vệ chính quyền cách mạng, bảo vệ tính mạng và tài sản của nhân dân; tích cực phòng ngừa, đấu tranh không khoan nhượng với các loại tội phạm, giữ vững ANTT xây dựng miền Bắc đi lên chủ nghĩa xã hội, làm hậu phương lớn cho miền Nam đánh thắng giặc Mỹ xâm lược, làm nên đại thắng mùa Xuân năm 1975.

Hình ảnh những CBCS CSND dũng cảm chiến đấu dưới mưa bom, bão đạn, xả thân bảo vệ nhân dân, bảo vệ tài sản Nhà nước đã trở thành những kí ức đẹp không phai mờ trong lòng nhân dân.

Bước vào thời kỳ đổi mới, cùng với việc triển khai đồng bộ, có hiệu quả các mặt công tác nghiệp vụ, lực lượng Cảnh sát phòng, chống tội phạm (PCTP) đã tập trung đẩy mạnh việc quán triệt, học tập và vận dụng linh hoạt, sáng tạo 6 điều Bác Hồ dạy trong rèn luyện và thực hiện nhiệm vụ, tạo những chuyển biến tích cực, rõ nét trong công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm.

Gương liêm khiết, người tốt, việc tốt trong công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm xuất hiện ngày càng nhiều.

Quán triệt sâu sắc lời dạy “Đối với nhân dân phải kính trọng, lễ phép”, lực lượng Cảnh sát PCTP đã không ngừng tự rèn luyện, đổi mới các mặt công tác cũng như trong tiếp xúc, giải quyết công việc với nhân dân. Đã xây dựng hàng trăm mô hình, tổ chức quần chúng tham gia phòng, chống tội phạm, bảo vệ ANTT; phòng, chống ma túy, mại dâm… như phong trào: “Tự phòng, tự quản, tự bảo vệ”; “Quản lý giáo dục con em trong gia đình không phạm tội và tệ nạn xã hội”…

Qua tổng kết, có tới 60 – 70% tin tố giác về tội phạm của quần chúng có giá trị giúp cơ quan chức năng phát hiện kịp thời, điều tra, xử lý nhiều vụ phạm tội; vận động hơn 28.560 đối tượng phạm tội ra đầu thú; bắt giữ gần 15.000 đối tượng truy nã, trốn thi hành án…

Kết quả đó khẳng định vai trò quan trọng của phong trào quần chúng trong giữ gìn TTATXH, đồng thời thể hiện sự tin tưởng, đồng lòng của nhân dân với lực lượng Cảnh sát trong thực hiện nhiệm vụ.

Lời dạy “Đối với Chính phủ, phải tuyệt đối trung thành” đã trở thành nguyên tắc hàng đầu trong các mặt công tác Công an nói chung và trong đấu tranh phòng, chống tội phạm nói riêng.

Trong những năm qua, lực lượng Cảnh sát PCTP đã tập trung tham mưu cho Trung ương Đảng, Chính phủ chỉ đạo thực hiện đồng bộ các giải pháp nhằm phát huy sức mạnh tổng hợp của cả hệ thống chính trị và toàn dân trong đấu tranh phòng, chống tội phạm như: Nghị quyết số 09 về “Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với phong trào Toàn dân bảo vệ an ninh Tổ quốc trong tình hình mới”; Chỉ thị số 48 của Bộ Chính trị về “Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác phòng, chống tội phạm trong tình hình mới”; xây dựng chiến lược quốc gia phòng, chống tội phạm đến năm 2020…

Các nghị quyết, chương trình, chỉ thị trên được quán triệt đến toàn thể CBCS, thể hiện rõ quyết tâm đấu tranh chống lại mọi luận điệu, quan điểm sai trái hòng làm giảm vai trò lãnh đạo của Đảng đối với nhiệm vụ giữ gìn TTATXH.

Trước tình hình tội phạm đang diễn biến phức tạp, phương thức, thủ đoạn hoạt động ngày càng tinh vi, có sự móc nối, tổ chức chặt chẽ trong hoạt động phạm tội… lực lượng Cảnh sát PCTP luôn nêu cao bản lĩnh chính trị vững vàng, “cương quyết, khôn khéo” trong đấu tranh với các loại tội phạm và hành vi tiêu cực.

Bên cạnh việc tiếp tục nâng cao chất lượng, hiệu quả các mặt công tác nghiệp vụ cơ bản, lực lượng Cảnh sát PCTP đã tổ chức tốt các đợt cao điểm tấn công, trấn áp tội phạm; điều tra, xử lý nhiều vụ án liên quan đến các hành vi tham nhũng, cố ý làm trái. Chỉ tính riêng năm 2012, toàn lực lượng đã điều tra, khám phá 37.221 vụ phạm pháp hình sự, 19.582 vụ án về ma túy, 15.690 vụ án về kinh tế, tham nhũng… trong đó nhiều vụ có tính chất nghiêm trọng.

Trải qua các giai đoạn cách mạng, lực lượng CAND nói chung, lực lượng CSND nói riêng luôn coi 6 điều Bác Hồ dạy là kim chỉ nam cho mọi hoạt động, định hướng cho mỗi CBCS Công an những nguyên tắc hành động, rèn luyện phẩm chất, năng lực, phương pháp công tác, vượt qua khó khăn, thử thách, hoàn thành thắng lợi nhiệm vụ mà Đảng, Nhà nước và nhân dân giao phó.

Để hoàn thành nhiệm vụ trong giai đoạn mới, lực lượng Cảnh sát PCTP không ngừng xây dựng lực lượng vững mạnh toàn diện, nâng cao chất lượng, hiệu quả các mặt công tác, tiếp tục đẩy mạnh phong trào “Học tập, thực hiện 6 điều Bác Hồ dạy CAND” gắn với triển khai, thực hiện hiệu quả, thiết thực Cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh – CAND vì nước quên thân, vì dân phục vụ”, “CAND chấp hành nghiêm điều lệnh; xây dựng nếp sống văn hóa vì nhân dân phục vụ”, góp phần xứng đáng cùng toàn Đảng, toàn dân bảo vệ vững chắc sự nghiệp cách mạng, giữ vững ANTT của đất nước

P.V.V.

Theo cand.com.vn
Vkyno (st)

Nhà báo Hồ Chí Minh và câu chuyện “Viết cho ai”

Sau này, khi đã có một sự nghiệp viết, trong đó có một sự nghiệp văn chương lớn; đã là nhà thơ lớn của dân tộc với Nhật ký trong tù; đã là tác giả Tuyên ngôn độc lập bất hủ, Bác vẫn chỉ nhận mình là người viết báo, là nhà báo cách mạng. Một sự nghiệp báo chí – đó quả là dấu ấn đậm nét nhất trong sự nghiệp viết của Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh. Những kinh nghiệm làm báo, viết báo, Bác đã nhiều lần nói với giới nghề nghiệp; và bài học làm báo, viết báo được Bác quan tâm trước hết, đó là bài học: Viết cho ai xem?

Chủ tịch Hồ Chí Minh và nhà báo Wilfred-Burchett

Bài nói đầu tiên của Hồ Chí Minh về câu chuyện này là bài Cách viết, tại Trường Chỉnh Đảng Trung ương, ngày 17.8.1952; rồi được trở lại, lần thứ 2, trong Đại hội lần thứ III Hội nhà báo Việt Nam, ngày 18.9.1962.

“Kinh nghiệm của tôi là thế này: mỗi khi viết một bài báo thì tự đặt câu hỏi:

– Viết cho ai xem?

– Viết để làm gì?

– Viết thế nào cho phổ thông, dễ hiểu, ngắn gọn, dễ đọc”

Điều cần lưu ý, tuy chỉ là bài nói với giới báo chí; nhưng rồi do sự cần thiết, chúng ta chủ trương vận dụng ý kiến của Hồ Chí Minh cho mọi dạng viết, mọi binh chủng chữ nghĩa, trong đó có cả văn chương – học thuật.

Và khi đặt lên vị trí số 1 câu chuyện Viết cho ai xem? chúng ta hiểu đấy là sự đánh dấu bước chuyển quan trọng nhất của nền báo chí cách mạng ở Việt Nam thế kỷ XX. Bởi, mối quan tâm đến công chúng, trước hết là công chúng cần lao, những người dân lam lũ, đói khổ, đó là minh chứng cho một bước ngoặt vĩ đại trên con đường dân chủ hóa đời sống con người. Đặt câu hỏi Viết cho ai xem? là nhằm giải quyết nhu cầu của quần chúng đông đảo; nhằm giác ngộ, tuyên truyền đưa quần chúng vào trường cách mạng, vào một cuộc sống đầy ắp các hoạt động biến cải. Và quần chúng, trong một giai đoạn lịch sử nào đó còn là thất học, hoặc còn đang thanh toán nạn mù chữ; họ liên tục là đội quân hùng hậu, đóng vai trò chủ lực trong các cuộc cách mạng và chiến tranh cách mạng.

Một sự nghiệp làm báo, viết báo, có thể nói là vĩ đại, đối với dân tộc Việt Nam ngay trong bóng đêm của chế độ thuộc địa, bắt đầu từ Le Paria (Người cùng khổ) trên địa bàn Paris, với số đầu, ra ngày 1.4.1923. Đó là chặng đường đầu tiên trên hành trình viết của Nguyễn Ái Quốc, nhằm cảnh tỉnh thế giới phương Tây và thức tỉnh thế giới phương Đông, trong đó nổi lên hai nhân vật trung tâm là những tên chủ thực dân và những người nô lệ trên khắp thế giới da màu. Cùng với việc làm tờ Le Paria, Nguyễn còn viết cho nhiều tờ báo khác ở Paris như Nhân đạo, Dân chúng, Đời sống thợ thuyền… và hoàn thành tác phẩm lớn, đầu tay, mang tên Bản án chế độ thực dân Pháp – năm 1925. Viết bằng tiếng Pháp, đối tượng đọc chủ yếu của Nguyễn là người của chính quốc và những nơi là thuộc địa của Pháp. Nhưng một đối tượng đọc khác mà Nguyễn không lúc nào không khao khát hướng tới – đó là những người Việt xa xứ trên đất Pháp – vào thời Nguyễn ở Paris, đã lên đến 10 vạn người; cùng với 25 triệu đồng bào quê hương còn đắm chìm trong tối tăm, đói khổ. Và đó là lý do, để, cùng với tờ Le Paria, hai năm sau, Nguyễn còn mong muốn cho ra mắt tờ Việt Nam hồn bằng tiếng Việt: “… Cũng vì nghĩ thế/ Tôi muốn làm ra/ Một báo tiếng ta/ Cho đồng bào đọc”.

Cũng như trước đó, từ năm 1919, sau khi gửi Hội nghị Versailles bản Yêu sách của nhân dân Việt Nam, gồm 8 điểm, bằng tiếng Pháp, dưới tên ký Nguyễn Ái Quốc, đến năm 1922, Nguyễn còn soạn một bản Việt Nam yêu cầu ca bằng tiếng Việt, dài 56 câu, trong thể lục bát và song thất lục bát quen thuộc, để bí mật phân phát trong các giới công nhân và binh sỹ An Nam ở Marseille.

  Bằng nay gặp hội giao hòa
Muôn dân hèn yếu gần xa vui tình

     …

            Một xin tha kẻ đồng bào
Vì chưng chính trị mắc vào tù giam
Hai xin pháp luật sửa sang
Người Tây người Việt hai phương cùng đồng
Ba xin rộng phép học hành
Mở mang kỹ nghệ, tập tành công thương

    (…)

Ý thức về người đọc, luôn luôn là một niềm canh cánh trong sự nghiệp viết của Nguyễn.

Hành trình tìm đường của Nguyễn Ái Quốc là từ Đông sang Tây, từ dân tộc mà ra nhân loại. Nhưng đích đến cuối cùng của Bác là trở về phương Đông, về với dân tộc. Trong sự nghiệp báo chí và văn chương của Bác, cần chú ý khu vực những bài Bác viết bằng nhiều thứ tiếng nước ngoài. Nhưng cuối cùng, hoặc trên hết, là niềm mong muốn viết bằng tiếng Việt. Có thể nói đó là niềm khao khát lớn của Bác mà bất cứ lúc nào có dịp, có hoàn cảnh, Bác đều nghĩ đến và quyết tâm thực hiện.

Năm 1941, sau khi về nước, ông ké cách mạng – Già Thu, rồi sẽ lấy tên Hồ Chí Minh, đã sáng lập và chủ trì tờ báo Việt Nam độc lập ở căn cứ địa Cao – Bắc – Lạng. Đó là tờ báo có sứ mệnh giáo dục, tuyên truyền quần chúng hướng tới cao trào Tổng khởi nghĩa đang sắp tới gần. Một tờ báo nhằm vào công chúng, đa số là đồng bào các dân tộc thiểu số, thất học, đang khao khát đến với cách mạng – tất nhiên nội dung phải được chuyển tải dưới một hình thức giản dị, phổ cập, dễ hiểu. Và đó là lý do, chỉ trong một thời gian ngắn, Bác đã làm trên ba mươi bài thơ tiếng Việt – những bài với tên gọi rất giản dị như Ca công nhân, Ca dân cày, Ca binh lính, Ca phụ nữ, Ca sợi chỉ… đăng trên Việt Nam độc lập.Những bài như Hòn đá to để nói lên sức mạnh đoàn kết; như Nhóm lửa, để nói phương thức làm cách mạng… trong dạng thức cô đúc và dễ hiểu nhất. Thậm chí đến cả tên báo làViệt Nam độc lập, Bác còn chủ trương rút ngắn, chỉ còn là Việt Lập, để cho quần chúng dễ nhớ, dễ thuộc. Ngay cả tên Mặt trận Việt Nam độc lập đồng minh cũng được Bác cho gọi tắt là Việt Minh.

Điều cần lưu ý: Người viết những bài thơ giản dị như vậy chính là người đã viết các truyện và ký rất sắc sảo, theo phong cách hiện đại bằng tiếng Pháp ở Paris ngót 20 năm về trước; và chỉ vài năm sau, sẽ viết 135 bài thơ bằng chữ Hán với phong cách rất cổ điển và rất hiện đại trong Ngục trung nhật ký.

Như vậy, có thể nói câu chuyện Viết cho ai? là mối quan tâm hàng đầu của nhà cách mạng, nhà báo cách mạng Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh trong suốt cuộc đời hoạt động của mình. Và đó là lý do cơ bản tạo nên mối giao cảm lớn, sự đồng tâm nhất trí giữa dân tộc Việt Nam và lãnh tụ kính yêu của mình, trong suốt thế kỷ XX – thế kỷ đứng trước hai yêu cầu lớn: cách mạng hóa và hiện đại hóa mà Nguyễn Ái Quốc là người có vai trò khởi xướng và kết hợp một cách trọn vẹn nhất.

Cùng với câu hỏi Viết cho ai? còn là câu hỏi: Viết để làm gì? và Viết như thế nào? để làm nên một bộ ba quan trọng cho một sự nghiệp viết có độ dài 50 năm của Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh, tính từ bản Yêu sách… viết năm 1919 đến Di chúc năm 1969. Một sự nghiệp viết rất linh hoạt, đa dạng, gồm nhiều chủng loại, trong đó có một sự nghiệp báo chí vĩ đại, và một sự nghiệp văn chương với những giá trị vĩnh cửu, để tạo nên nền móng và tinh hoa cho nền văn hóa mới Việt Nam thế kỷ XX.

Gs Phong Lê

Theo daibieunhandan.vn
Vkyno (st)

Chủ tịch Hồ Chí Minh và báo chí

ba ho doc bao nd

Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh xem báo chí là vũ khí, là tiền đồn của mặt trận tư tưởng mà những người cách mạng cần phải nắm giữ và sử dụng có hiệu quả trong hoạt động đấu tranh cách mạng.

Trong hoạt động đấu tranh để giải phóng dân tộc, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã dùng báo chí như một công cụ sắc bén chống lại những âm mưu của chủ nghĩa thực dân đối với các dân tộc thuộc địa, lấy báo chí làm điểm gắn kết các dân tộc cần lao lại với nhau nhằm tạo sức mạnh to lớn làm nên thắng lợi, đồng thời với quá trình đó Hồ Chí Minh cũng trở thành một nhà báo xuất sắc của nền báo chí cách mạng Việt Nam nói riêng và báo chí vô sản nói chung. Trong hoạt động sáng tạo báo chí của mình, Hồ Chí Minh cũng đồng thời đã hình thành những quan điểm sâu sắc về vị trí, vai trò, bản chất và đặc trưng của báo chí và đặc biệt là quan điểm về xây dựng đạo đức của đội ngũ nhà báo.

Báo chí Việt Nam ra đời muộn, lại phát triển trong hoàn cảnh đặc biệt khi bị sự áp bức của chế độ thực dân nửa phong kiến. Báo chí giai đoạn này chia làm hai chiến tuyến. Một bên là nền báo chí phản động được sự ủng hộ của thực dân đã dùng ngòi bút phản động để “ru ngủ”, “nhồi sọ” nhân dân và chống phá các tư tưởng cách mạng. Chính phủ Pháp cũng giành luôn lấy “Cái quyền hạn bỉ ổi chỉ cho phép xuất bản những loại nào ca ngợi mình và sau khi đã có kiểm duyệt. Chính phủ lợi dụng cái độc quyền ấy để lập ra những tờ báo tiếng Việt theo ý mình, được hưởng trợ cấp bí mật của Nhà nước và chuyên việc làm quảng cáo tuyên truyền cho chính phủ và thường kỳ viết những bài phỉnh nịnh các quan trên có thế lực ở thuộc địa”[1].

Ở phía bên kia chiến tuyến là những tờ báo cách mạng (mặc dù rất ít) nhưng cũng đã bước đầu khuyến khích được những tư tưởng yêu nước, thương dân, truyền bá những giá trị mới từ bên ngoài vào và tích cực đấu tranh chống lại chủ nghĩa thực dân và phong kiến, những tờ báo này là ngọn cờ đấu tranh với kẻ địch trên lĩnh vực chính trị tư tưởng, thức tỉnh lòng yêu nước và chí khí tự hào của dân tộc. Tuy nhiên phải hoạt động trong điều kiện vô cùng khó khăn, bị cấm đoán, đình bản, đóng cửa và những người làm báo lúc nào cũng có thể đeo vào cổ án tù…

Trong quá trình tìm đường cứu nước, nghiên cứu về những giá trị của phương Tây, Hồ Chí Minh đã nhận thấy sức mạnh to lớn của báo chí trên mặt trận văn hóa tư tưởng. Hồ Chí Minh là một trong những người Việt Nam đầu tiên viết báo trên đất Pháp. Việc viết báo của Người là cả một quá trình rèn luyện, từ chỗ chỉ bắt đầu bằng những mẩu tin năm ba dòng, với những việc rất nhỏ rồi dần dần viết dài ra, đến khi đã viết được dài rồi, người ta lại yêu cầu Bác phải thu ngắn lại, càng cô đọng, càng súc tích càng tốt, dùng được càng nhiều những từ “đắt” nghĩa càng tốt, đó là một việc làm rất khó khăn khi mà trình độ ngoại ngữ của Người lúc đó vẫn còn nhiều hạn chế.

Tài năng viết báo của Hồ Chí Minh đồng hành với quá trình đấu tranh cho cách mạng Việt Nam, Người đã lấy báo chí làm vũ khí lý luận của mình và coi báo chí là một mặt trận vô cùng quan trọng, mặt trận văn hóa tư tưởng trong sự nghiệp giải phóng dân tộc. Trên mặt trận đó, Hồ Chí Minh đã căn dặn: “Cán bộ báo chí cũng là chiến sĩ cách mạng, cây bút trang giấy là vũ khí sắc bén của họ”[2]. Trách nhiệm của nhà báo là định hướng và bảo vệ tư tưởng của đảng trong cán bộ và quần chúng nhân dân. Hồ Chí Minh cho rằng “một tờ báo có ảnh hưởng trong dân chúng rất mạnh, có thể giúp chính phủ rất nhiều”[3].

Trong sự nghiệp chấn hưng dân tộc, báo chí cũng là một mặt trận đấu tranh để “phò chính trừ tà”, tuyên truyền những giá trị tốt đẹp của chế độ mới, giáo dục đạo đức trong quần chúng nhân dân, đồng thời đi đôi với đấu tranh chống lại những tật bệnh trong xã hội như tham ô, tham nhũng, lãng phí, quan liêu mà nguồn gốc sâu xa chính là do chủ nghĩa cá nhân sinh ra. Đi đôi với đấu tranh chống cái xấu, báo chí phải tuyên truyền những tấm gương người tốt, việc tốt trong xã hội để mọi người học hỏi, Hồ Chí Minh cho rằng: “Báo chí phải khuyến khích những người tốt, việc tốt và thẳng thắn phê bình những điều xấu như: Lười biếng, tham ô, lãng phí, quan liêu. Đó là một việc làm rất cần thiết”[4], thắng lợi trên mặt trận này sẽ góp phần to lớn vào sự nghiệp cách mạng chung của cả dân tộc trên con đường đi lên xây dựng chủ nghĩa xã hội.

● Hồ Chí Minh – Người khai sinh nền báo chí cách mạng Việt Nam

Với vai trò là người sáng lập, Hồ Chí Minh đã trực tiếp cho ra đời 9 tờ báo cách mạng, đó là: Người Cùng Khổ (1922); Quốc Tế Nông Dân (1924); Thanh Niên (1925); Công Nông (1925); Lính Kách Mệnh (1927); Việt Nam Tiền Phong (1927); Thân Ái (1928); Đỏ (1929); Việt Nam Độc Lập (1941); Cứu Quốc (1942). Ngoài ra Người còn đóng góp hàng nghìn bài viết trên các tờ báo của Việt Nam cũng như quốc tế. Từ bài báo đầu tiên cho đến những tác phẩm cuối cùng, với vai trò là người sáng lập cũng như quản lý báo chí, Chủ tịch Hồ Chí Minh đều thực hiện đúng như tôn chỉ cầm bút của mình mà Người từng chia sẻ đó là đấu tranh cho độc lập dân tộc, cho tự do, ấm no, hạnh phúc của nhân dân.

Theo thống kê, Chủ tịch Hồ Chí Minh có hơn 170 tên gọi, bút danh và bí danh[5] thì 2/3 những tên gọi trong số đó được người sử dụng trong các tác phẩm báo chí của mình. Từ tác phẩm đầu tay Vấn đề dân bản xứ (đúng với tính cách một bài báo)[6] được đăng trên Báo Nhân Đạo (L’Humanité) ngày 2.8.1919 nhằm đòi những quyền dân tộc cơ bản cho dân tộc Việt Nam và lên án những chính sách cai trị, những thủ đoạn áp bức bóc lột cực kỳ dã man, tàn bạo của thực dân Pháp cho đến tác phẩm cuối cùng Thư trả lời Tổng thống Mỹ Risớt M. Níchxơn được Người đề ngày 25.8.1969 và đăng trên Báo Nhân Dân số 5684, ngày 7.11.1969 thì chúng ta thấy rằng, Hồ Chí Minh đã làm báo cả cuộc đời và đã để lại hơn 2.000 bài báo các loại, gần 300 bài thơ và gần 500 trang truyện và ký.

Hồ Chí Minh – Tấm gương đạo đức báo chí

Chủ tịch Hồ Chí Minh ví đạo đức giống như gốc của cây và ngọn nguồn của sông suối “Cũng như sông thì có nguồn mới có nước, không có nguồn thì sông cạn. Cây phải có gốc, không có gốc thì cây héo. Người cách mạng phải có đạo đức, không có đạo đức thì dù tài giỏi mấy cũng không lãnh đạo được nhân dân”[7]. Đạo đức của người làm báo phải thể hiện trước hết ở bản lĩnh chính trị vững vàng, lập trường tư tưởng kiên định. Theo Người, báo chí phản ánh đời sống nhân dân, phản ánh sự nghiệp cách mạng của dân tộc vì vậy, không lúc nào người làm báo được quên trách nhiệm của mình với Đảng, với dân. Nhà báo chính là những chiến sĩ cách mạng trên mặt trận văn hóa tư tưởng, cho nên phải không ngừng “trau dồi tư tưởng nghiệp vụ và văn hóa; chú trọng học tập chính trị để nắm vững chủ trương chính sách của Đảng và Chính phủ; đi sâu vào thực tế, đi sâu vào quần chúng lao động”[8].

Đạo đức của nhà báo phải được thể hiện thông qua những tác phẩm báo chí của mình. Đó phải là những tác phẩm có hình thức đẹp, nội dung phong phú, giá trị chân thật. Mà để làm được điều đó theo Hồ Chí Minh nhà báo phải trả lời được những câu hỏi: Tác phẩm của của mình viết ra để cho ai xem? Tác phẩm viết để làm gì? Tác phẩm viết cái gì? Tác phẩm viết như thế nào? Câu trả lời theo Hồ Chí Minh đó chính là vì nhân dân, vì sự nghiệp chung của toàn dân tộc Việt Nam, vì độc lập tự do, vì chủ nghĩa xã hội, chỉ khi hướng đến cái đích đó báo chí mới khẳng định được vị thế của mình trong nhân dân, được nhân dân truyền tụng và ca ngợi.

Báo chí cũng phải là tấm gương của tự phê bình và phê bình, bản thân báo chí là cơ quan phản ánh, có trách nhiệm phê bình những những thói hư, tật xấu trong xã hội, Người căn dặn: “Viết để nêu những cái hay, cái tốt của dân ta, của bộ đội ta, của cán bộ ta, của bạn ta. Đồng thời để phê bình những khuyết điểm của chúng ta, của cán bộ, của nhân dân, của bộ đội. Không nên chỉ viết cái tốt mà giấu cái xấu”[9], nhưng muốn làm được điều đó thì trước tiên nhà báo phải tự phê bình bản thân mình đã, mình có hay, có tốt, có đẹp mới đi nói và viết về người khác được, nếu tự bản thân mình đã “hủ hóa, xấu xa” thì còn ai tin vào bài viết, tin vào tác phẩm của mình nữa. Chính vì vậy, Hồ Chí Minh yêu cầu: “Các báo cũng cần khuyến khích quần chúng giúp ý kiến và phê bình báo mình để tiến bộ mãi”[10].

Đối với hoạt động sáng tạo báo chí, Người đặc biệt lưu ý các nhà báo phải có sự chân thật, khách quan đối với từng con người, từng sự việc trong tác phẩm của mình, phải tránh tư tưởng ba hoa, nói không có sách, mách không có chứng, những gì không biết, không được nghe hoặc nhìn thấy cụ thể thì “chớ nói, chớ viết”.

Hiện nay, chúng ta đang thực hiện cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”, báo chí phải thấy rõ trách nhiệm của mình trong cuộc vận động này, đó là phải tuyên truyền những giá trị đạo đức tốt đẹp mà Chủ tịch Hồ Chí Minh đã để lại cho toàn Đảng, toàn dân ta, báo chí phải trở thành kênh thông tin để không những giáo dục cho nhân dân học tập mà còn phải giúp nhân dân làm theo, phải khuyến khích những tấm gương người tốt, việc tốt, những điển hình tiên tiến trong nhân dân. Phải tuyên truyền phê phán, lên án những thói hư, tật xấu, những tật bệnh trong xã hội… cùng với đó tự bản thân các nhà báo và những người hoạt động báo chí hãy trở thành một tấm gương về đạo đức.

Đào Anh Tuấn

[1] Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2011, tập 1, tr. 19
[2]Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2011, tập 13, tr. 466
[3] Trần Đương: Chủ tịch Hồ Chí Minh với báo chí cách mạng Việt Nam, Nxb Thông Tấn, Hà Nội, 2004, tr.114
[4]Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2011, tập 13, tr.391-392
[5] Theo Bảo tàng Hồ Chí Minh: Những tên gọi, bút danh, bí danh của Chủ tịch Hồ Chí Minh, NXB Chính Trị Quốc Gia, Hà Nội, 2007
[6] Trước khi bài vấn đề dân bản xứ được đăng trên báo cũng đã có 1 số tác phẩm khác của Nguyễn Ái Quốc như: Quyền của các dân tộc thuộc địa, Tâm địa thực dân được đăng nhưng với tư cách một bài báo thực sự thì đây có thể coi là tác phẩm đầu tay của Nguyễn Ái Quốc
[7] Hồ Chí Minh: Toàn tập, NXB Chính Trị Quốc Gia, Hà Nội, 2011, tập 5, tr. 292
[8]Hồ Chí Minh: Toàn tập, NXB Chính Trị Quốc Gia, Hà Nội, 2011, tập 13, tr. 466
[9]Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2011, tập 8, tr. 206
[10] Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2011, tập 13, tr. 464

Theo nguoilambao.vn
Vkyno (st)

Đẩy mạnh việc học tập và làm theo tư tưởng, tấm gương đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh trong cán bộ, hội viên Hội Nhà báo Việt Nam trong giai đoạn 2011-2015

Ban Thường vụ Hội Nhà báo Việt Nam ban hành Kế hoạch số 226/KH-HNBVN về việc đẩy mạnh việc học tập và làm theo tư tưởng, tấm gương đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh trong cán bộ, hội viên Hội Nhà báo Việt Nam trong giai đoạn 2011-2015. Sau khi được nghiên cứu, quán triệt, nhiều Hội xây dựng chương trình hành động chung và hội viên cũng đăng ký thực hiện theo chỉ tiêu riêng của từng hội viên.

Ở Trung ương, các Liên chi hội, Chi hội trực thuộc, ngoài việc xây dựng, phổ biến nội dung các văn bản đến cán bộ, hội viên và tổ chức học tập các chuyên đề, còn xây dựng Bộ Quy tắc tác nghiệp nhằm hoàn thiện chuẩn mực đạo đức của những người làm báo trong Đài theo tư tưởng, tấm gương đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh, phù hợp với đặc thù hoạt động của đơn vị, gắn với quy định về đạo đức nghề nghiệp của người làm báo Việt Nam.

Ở địa phương, Hội Nhà báo các tỉnh, thành phố phối hợp với Ban Tuyên giáo và các cơ quan báo chí căn cứ Kế hoạch 03-KH/TW của Ban Bí thư và các văn bản hướng dẫn của các cơ quan Trung ương, các tỉnh, thành ủy và Kế hoạch số 226/KH-HNBVN xây dựng kế hoạch triển khai thực hiện. Nhiều Hội có văn bản hướng dẫn đến Chi hội tổ chức cho cán bộ, hội viên gắn việc học tập, nghiên cứu, quán triệt và thực hiện tại đơn vị với nhiệm vụ chính trị của của Hội và của từng cơ quan báo chí, từng hội viên có ý thức trách nhiệm cao trước công việc, trong đó hội viên là đảng viên phải thể hiện tính tiên phong, luôn đi đầu đảm nhận những công việc khó, ủng hộ cách làm mới, thực hành tiết kiệm, không lãng phí, không quan liêu.

Các cơ quan báo chí trung ương và địa phương đã sáng tạo hàng nghìn tác phẩm về chủ đề học tập và làm theo tư tưởng, tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh, đăng phát trên các phương tiện thông tin đại chúng. Các tác phẩm tập trung ca ngợi, làm nổi bật tư tưởng, đạo đức, tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh, phản ánh sinh động việc tổ chức thực hiện “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh” ở các địa phương, tổ chức đảng, các tổ chức đoàn thể và nhân dân trong cả nước; biểu dương những đơn vị, địa phương làm tốt, phê bình những nơi làm chưa tốt; giới thiệu những kinh nghiệm tổ chức tốt việc học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh. Phát hiện, nêu gương, nhân rộng những nhân tố mới, điển hình tiên tiến trong quá trình thực hiện việc học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh; góp phần thực hiện thắng lợi nhiệm vụ phát triển kinh tế – xã hội, củng cố quốc phòng – an ninh, xây dựng hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh. Các cấp Hội lựa chọn hơn 300 tác phẩm gửi về dự thi Giải thưởng về sáng tạo sáng tạo, quảng bá tác phẩm báo chí viết về chủ đề học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh để Hội Nhà báo Việt Nam thẩm định.

Tuy nhiên, bên cạnh những mặt làm được, vẫn còn nhiều Hội chưa chỉ đạo các Chi hội trực thuộc xây dựng được chương trình, nội dung cụ thể cho hội viên. Việc kiểm tra, theo dõi việc “làm theo” ở một số hội viên, nhà báo chưa được thường xuyên, liên tục và chưa trở thành hành động tự giác, phong trào chưa rộng khắp, một số ít các nhà báo chưa xem việc học tập và làm theo tư tưởng, tấm gương đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh là việc làm hàng ngày của mình. Việc học tập và làm theo tư tưởng, tấm gương đạo đức của Bác trong các Liên chi hội, Chi hội cũng còn một số mặt hạn chế. Việc xác định mục tiêu đối với việc học tập và làm theo Bác ở nhiều đơn vị còn chung chung, trừu tượng, khó có cơ sở để đánh giá, kiểm tra mức độ đạt được ở mức nào.

Theo nguoilambao.vn
Vkyno (st)

Bác Hồ với báo chí cách mạng Việt Nam (Bài 5)

Từ ngày Báo Thanh niên ra số đầu tiên đến tháng 8-1945, trong vòng 20 năm, hoạt động báo chí nước ta luôn gắn liền với cuộc vận động cách mạng của nhân dân. Sau bao năm bôn ba ở nước ngoài, Chủ tịch Hồ Chí Minh trở về nước và sáng lập tờ Việt Nam độc lập, nhằm kêu gọi nhân dân đoàn kết đứng lên đánh đuổi thực dân Pháp.

Hàng loạt tờ báo, tạp chí khác cũng được thành lập như Cứu quốc, Cờ giải phóng, Tạp chí Cộng sản và nhiều tờ báo ở các địa phương đã góp phần tuyên truyền đường lối cứu nước trong cán bộ, nhân dân.

Sau Cách mạng Tháng Tám 1945, báo chí cách mạng được Đảng trao cho sứ mệnh là người tiên phong trong việc tuyên truyền, giáo dục về đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước, phản ánh thực tiễn xây dựng và bảo vệ Tổ quốc với quan điểm xuyên suốt: độc lập dân tộc gắn liền với CNXH. Đây cũng là mục tiêu, là tiêu chí quy định chức năng, nhiệm vụ; đồng thời cũng là môi trường phát triển của nền báo chí nước nhà.

Với Bác Hồ, mặc dù bận rất nhiều công việc của một vị Chủ tịch nước, nhưng Người vẫn luôn quan tâm đến sự phát triển của nền báo chí cách mạng. Nói về mục tiêu của báo chí cách mạng, trong phát biểu tại Đại hội Hội Nhà báo Việt Nam lần thứ II (4-1959), Người chỉ rõ: “Về nội dung viết, mà các cô các chú gọi là đề tài thì tất cả những bài Bác viết chỉ có một đề tài là chống thực dân, đế quốc, chống phong kiến, địa chủ, tuyên truyền độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội. Duyên nợ của Bác đối với báo chí là như vậy đó”.

Trong suốt cuộc đời hoạt động cách mạng, Bác Hồ đã viết khoảng 2000 bài báo, tác phẩm với nhiều thể loại, và được ký bằng 174 tên gọi, bí danh và bút danh khác nhau. Đó là những tác phẩm lý luận quan trọng, là cẩm nang chỉ đường cho Đảng và nhân dân ta trong các giai đoạn cách mạng.

Ảnh tư liệu

Theo Người, giữa cách mạng và báo chí có sự thống nhất hữu cơ, bởi vì “Chế độ ta là chế độ dân chủ, tư tưởng phải được tự do. Đối với một vấn đề, mọi người bày tỏ ý kiến của mình, góp phần tìm ra chân lý. Khi mọi người đã phát biểu ý kiến, đã tìm thấy chân lý, lúc đó, quyền tự do tư tưởng hóa ra quyền tự do phục tùng chân lý. Chân lýlà cái gìcó lợi cho Tổ quốc, cho nhân dân. Cái gì trái với lợi ích của Tổ quốc, của nhân dân tức là không phải chân lý”. Với Chủ tịch Hồ Chí Minh, chân lý là Độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội. Đó cũng là đích phấn đấu của báo chí cách mạng Việt Nam trong suốt 80 năm qua.

Để thực hiện được chân lý đó, Người khẳng định: “Phải có lập trường chính trị vững chắc. Chính trị phải làm chủ. Đường lối chính trị đúng thì những việc khác mới đúng được. Cho nên, các báo chí của ta đều phải có đường lối chính trị đúng”. Tính tư tưởng cao của báo chí suy cho cùng chính là điều này.

Xuất phát từ mục đích hoạt động của nền báo chí cách mạng là vì dân và từ vai trò to lớn của báo chí đối với xã hội, Người nhắc nhở những người làm báo: “Không biết rõ, hiểu rõ, chớ nói, chớ viết. Khi không có gì cần nói, không có gì cần viết, chớ nói, chớ viết càn”. Để báo chí luôn là diễn đàn của nhân dân, Người khẳng định: “Một tờ báo không được đại đa số (dân chúng) ham muốn thì không xứng đáng là một tờ báo”, và “không riêng gì viết sách, viết báo, mà công tác gì muốn làm tốt đều phải coi trọng ý kiến của nhân dân”.

Cũng là để bảo vệ quyền lợi của nhân dân, nên với Hồ Chí Minh, báo chí không chỉ là người tuyên truyền tập thể, cổ động tập thể, tổ chức tập thể; mà còn là vũ khí sắc bén chống lại mọi biểu hiện phản động, tiêu cực đi ngược lại quyền lợi của nhân dân, của đất nước; báo chí là công cụ đấu tranh xã hội, đấu tranhdân tộc và đấu tranh giai cấp. Trong bức điện gửi Hội Nhà báo Á Phi (ngày 24-4-1965), Người viết: “Đối với những người viết báo chúng ta, cái bút là vũ khí sắc bén, bài báo là tờ hịch cách mạng”. Với đội ngũ các nhà báo nước ta Người nhắc nhở: “Cán bộ báo chí cũng là chiến sỹ cách mạng, cây bút, trang giấy là vũ khí sắc bén”, “ngòi bút của các bạn cũng là những vũ khí sắc bén trong sự nghiệp phò chính trừ tà”, “cho nên phải có tính chất quần chúng và tinh thần chiến đấu”.

Trong cách thể hiện, Người cho rằng, để báo chí hoàn thành sứ mệnh là cầu nối giữa Đảng, Nhà nước và quần chúng; là cầu nối giữa các quốc gia,là phương tiện để các cộng đồng hiểu biết nhau hơn, “cho nên, làm báo phải hết sức cẩn thận về hình thức, về nội dung, về cách viết”. Theo tư tưởng đó, Đảng ta khẳng định: báo chí, một mặt phải chủ động, sáng tạo “làm tốt công tác thông tin đối ngoại, giúp cho cộng đồng quốc tế, cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài có thông tin kịp thời, đúng đắn về tình hình đất nước, tranh thủ sự đồng tình của nhân dân ta”. Mặt khác “không ngừng nâng cao chất lượng chính trị, văn hóa, khoa học công nghệ, nghề nghiệp, từng bước hiện đại hóa”.

Có thể nói, với sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, đặc biệt là vai trò của Chủ tịch Hồ Chí Minh, hơn 80 năm qua báo chí cách mạng Việt Nam đã trưởng thành vượt bậc cả về số lượng và chất lượng, nội dung và hình thức; cũng như sự lớn mạnh chưa từng có của đội ngũ những người làm báo. Đặc biệt, trong gần 20 năm đổi mới, báo chí nước ta đã đi đầu trong việc định hướng tư tưởng, góp phần giữ vững ổn định chính trị – xã hội, tích cực đấu tranh chống tham nhũng và các hiện tượng tiêu cực trong xã hội, góp phần củng cố niềm tin của nhân dân vào sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lý của Nhà nước; là một trong những động lực trực tiếp tham gia và thúc đẩy sự nghiệp xây dựng và phát triển đất nước.

Theo Hà Nội Mới
Vkyno (st)


Tin bài liên quan

Bác Hồ với báo chí cách mạng Việt Nam
Bác Hồ với Báo chí cách mạng Việt Nam (Bài 2)
Bác Hồ với báo chí cách mạng Việt Nam (Bài 3)
Bác Hồ với báo chí cách mạng Việt Nam (Bài 4)

Báo chí cách mạng Việt Nam trong tư tưởng Hồ Chí Minh

Báo chí cách mạng Việt Nam ra đời trong hoàn cảnh đất nước bị xâm lược, rơi vào cảnh đen tối, nhân dân phải chịu bao khổ cực lầm than. Lúc bấy giờ báo chí cách mạng nước ta ra đời với mục đích làm công cụ tuyên truyền chủ nghĩa Mác – Lênin, giác ngộ những người yêu nước đấu tranh cách mạng đánh đuổi quân xâm lược, giải phóng dân tộc, giành độc lập cho đất nước. Đồng thời, phục vụ mục đích trong sáng và cao cả của Đảng, của sự nghiệp cách mạng, là công cụ để tuyên truyền khơi dậy tinh thần yêu nước của nhân dân ta, biểu dương những cái tốt, người tốt, việc tốt, ngăn chặn và đẩy lùi cái xấu, cái tiêu cực.

ImageBác Hồ viết báo bằng máy đánh chữ. (Ảnh tư liệu)

Nền báo chí cách mạng Việt Nam ra đời đã 88 năm (21/6/1925 – 21/6/2013), kể từ khi tờ “Báo Thanh Niên” đầu tiên ra đời cho đến nay, những thế hệ nhà báo nước ta đã có nhiều đóng góp quan trọng trong sự nghiệp giải phóng dân tộc, xây dựng đất nước. Và không thể nào quên người đã sáng lập ra nền báo chí cách mạng Việt Nam, cũng là một nhà báo xuất sắc, người thầy vĩ đại của báo chí cách mạng nước ta, đó là Chủ tịch Hồ Chí Minh – Anh hùng giải phóng dân tộc và Nhà văn hóa kiệt xuất của Việt Nam, lãnh tụ vĩ đại vô vàn kính yêu của dân tộc ta. Giờ đây, đã 44 năm Bác đã đi xa (từ 1969 đến nay), song những quan điểm, tư tưởng và tấm gương đạo đức sáng ngời của Bác trên từng lĩnh vực mãi luôn in đậm trong lòng dân tộc ta. Cũng như những quan điểm, tư tưởng và lời dạy của Bác về báo chí đến nay vẫn còn nguyên giá trị từ tính chất, nội dung và những nhiệm vụ trong bất kỳ hoàn cảnh nào của mỗi giai đoạn lịch sử đất nước.

Tìm hiểu về cuộc đời và sự nghiệp cách mạng của Bác ngay từ những ngày đầu ra đi tìm đường cứu nước, Bác rất coi trọng báo chí đối với sự nghiệp cách mạng. Nhìn lại chặng đường hoạt động cách mạng của Bác, lúc bôn ba hải ngoại cũng như khi đặt chân về nước, Bác đã sớm thấy lợi khí cách mạng của báo chí là phương tiện, là vũ khí sắc bén, có ý nghĩa vô cùng quan trọng trong sự nghiệp kháng chiến giải phóng cho dân tộc, giành độc lập cho đất nước. Bác đã để lại cho đội ngũ làm báo những bài học sâu sắc và nhớ lại ngày 21/6/1925 tại Quảng Châu (Trung Quốc), lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc đã sáng lập ra tờ “Báo Thanh niên” – cơ quan của tổ chức Thanh niên Cách mạng Việt Nam. Đây là tờ báo cách mạng Việt Nam đầu tiên do Bác Hồ sáng lập, chỉ đạo và là người biên tập chính. Thời ấy “Báo Thanh Niên” với 88 số, mở ra lớp đào tạo 300 cán bộ đều do Bác Hồ khởi thảo, chủ trì, giảng dạy là sự mở đầu một cuộc cách mạng đấu tranh giải phóng dân tộc và xây dựng chủ nghĩa xã hội. Thời gian đầu báo ra mỗi tuần một kỳ với trên 500 tờ, sau đó do điều kiện khó khăn, báo ra 3 tuần, thậm chí 5 tuần một kỳ. Các tổ chức cách mạng trong nước ta đã dùng tờ báo để tuyên truyền, giác ngộ và giáo dục quần chúng; làm cầu nối truyền thông điệp và truyền ánh sáng tư tưởng cách mạng của Bác về cho dân tộc, góp phần to lớn cho sự nghiệp giải phóng dân tộc, giải phóng đất nước ta.

Bác Hồ là người đã sáng lập ra nền báo cách mạng nước nhà, Bác đặt nền móng, Bác khơi nguồn cho báo chí cách mạng nước nhà phát triển, cũng như Bác tham gia viết báo suốt cả đời làm cách mạng. Những bài báo do Bác viết thật giản dị, dễ hiểu và vô cùng sâu sắc. Bác viết nhiều thể loại: chính luận, tuyên ngôn, tin ngắn, dài, tin bình, trào phúng, ký, hiệu triệu, thơ tự sự, trữ tình… và được ký bằng nhiều tên gọi, bí danh, bút danh khác nhau. Những bài báo Bác viết, được xem đó là những tác phẩm lý luận quan trọng, là cẩm nang chỉ đường cho Đảng và nhân dân ta trong các giai đoạn cách mạng. Bài báo cuối cùng Bác viết: “Nâng cao đạo đức cách mạng, quét sạch chủ nghĩa cá nhân”. Một nhà văn hóa nổi tiếng của Liên Xô đã nhận xét: “Nguyễn Ái Quốc là một nhà văn hóa lớn. Phong cách viết báo của Người thường đi thẳng vào đề, làm rõ tư tưởng trung tâm sự kiện bằng ngôn ngữ giản dị, ngắn gọn, ngôn ngữ thông tin đại chúng”.

ImageBác Hồ đọc báo nhân dân. (Ảnh tư liệu)

Quan tâm đặc biệt đến nền báo chí cách mạng nước nhà, tại Đại hội lần thứ II của Hội Nhà báo Việt Nam (16/4/1959), Bác đã chỉ rõ: “Báo chí ta không phải để cho một số ít người xem, mà để phục vụ nhân dân, để tuyên truyền giải thích đường lối chính sách của Đảng và Chính phủ”. Với Bác, để báo chí luôn là diễn đàn của nhân dân, phục vụ nhân dân, Bác khẳng định: “Một tờ báo không được đại đa số (dân chúng) ham muốn thì không xứng đáng là một tờ báo” và “Không riêng vì viết sách, viết báo, mà công tác gì muốn làm tốt điều phải coi trọng ý kiến nhân dân”. Bác còn nói với các nhà báo: “Nếu các bạn viết báo mà quần chúng hiểu, quần chúng ham đọc, quần chúng khen hay, thế là các bạn tiến bộ. Trái lại, là các bạn chưa thành công”. Đến Đại hội lần thứ III (8/9/1962), Bác lại nói: “Cán bộ báo chí cũng là chiến sĩ cách mạng. Cây bút, trang giấy là vũ khí sắc bén của họ”. Quan điểm, tư tưởng của Bác để báo chí hoàn thành sứ mệnh là cầu nối giữa Đảng, Nhà nước và quần chúng; là cầu nối để cộng đồng hiểu nhau hơn, để làm tròn nhiệm vụ vẻ vang đó, Bác đòi hỏi cán bộ báo chí cách mạng phải không ngừng học tập, nâng cao trình độ hiểu biết chính trị và nhận thức. Chính vì vậy, trong tác phẩm “Sửa đổi lối làm việc”, Bác viết: “Chúng ta muốn tuyên truyền quần chúng, phải học cách nói của quần chúng mới lọt tai quần chúng”. Bác còn căn dặn: “Viết dài mà rỗng thì không tốt, viết ngắn mà rỗng cũng không hay. Chúng ta phải chống tất cả những thói rỗng tuếch”. Bác cũng từng nhắc nhở: “Phải đặt câu hỏi: Viết cho ai? Viết cho đại đa số Công – Nông – Binh. Viết để làm gì? Để giáo dục, giải thích, cổ động, phê bình. Để phục vụ quần chúng”. Từ đó, Bác dạy: “Muốn cho người xem hiểu được, nhớ được, làm được thì phải viết cho đúng trình độ của người xem, viết rõ ràng, gọn gàng, chớ dùng chữ nhiều”. Bác phê phán: “Viết ba hoa, dây cà dây muống là hình như để đếm dòng lấy tiền, có những bài nhạt nhẽo thế nào ấy” và Bác chỉ trích: “Có người muốn làm cái gì để lưu danh thiên cổ. Muốn viết bài cho oai, muốn đăng bài mình lên các báo lớn. Cái đó cũng không đúng, những khuyết điểm đó đều do chủ nghĩa cá nhân đẻ ra”. Bác nhắc nhở đội ngũ nhà báo phải cẩn thận: “Không biết rõ, hiểu rõ, chớ nói, chớ viết, chớ viết càn. Khi viết xong một bài báo, một bản báo cáo, hoặc thảo một bài diễn văn, nhất định phải đọc đi đọc lại vài lần. Mình tự phê bình bài của mình, hỏi ý kiến đồng chí khác. Những câu, những chữ thừa vô ích bỏ đi”; “Viết phải thiết thực”; “Nói có sách, mách có chứng”…

Nhớ đến công ơn, công lao trời biển của Bác, thế hệ những người làm báo nước ta đã tích cực rèn luyện, mài giũa ngòi bút, tự trau dồi và nâng cao cho mình bản lĩnh chính trị, bản lĩnh nghề nghiệp, tác phong, đạo đức của người làm báo cách mạng, để xứng đáng là học trò của Bác và yêu cầu nhiệm vụ mới đang đặt ra. Nhất là trong thời đại ngày nay, thời kỳ của sự hội nhập báo chí nước ta với báo chí quốc tế là một bước ngoặt không thể quên được. Hơn bao giờ hết, đội ngũ nhà báo cả nước nói chung và Bến Tre nói riêng, cần bản lĩnh khẳng định rằng dù đổi mới, hiện đại và hội nhập, báo chí nước ta vẫn là nền báo chí cách mạng do Chủ tịch Hồ Chí Minh – vị lãnh tụ thiên tài kính yêu vô vàng của Việt Nam sáng lập ra và do Đảng ta lãnh đạo cho đến nay. Do đó, hiện tại và mãi mãi về sau, đội ngũ cán bộ làm báo phải luôn lấy tư tưởng, quan điểm của Bác làm kim chỉ nam cho nghề nghiệp của mình; học nhiều điều từ sự nghiệp làm báo, làm cách mạng của Bác; không ngừng trau dồi đạo đức cách mạng, học tập và làm theo tấm gương của Bác, bằng ra sức nghiên cứu đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, đi sát cuộc sống nhân dân, để tuyên truyền, vận động chuyển tải thông tin có ích đến với nhân dân. Đó là cách người làm báo tu dưỡng, rèn luyện nâng cao đạo đức và chuyên môn, tinh thông nghề nghiệp, tận tụy phục vụ nhân dân, góp phần tích cực trong công cuộc đổi mới, trong đấu tranh chống tham nhũng, lãng phí, thực hành tiết kiệm.

ImageĐồng chí Nguyễn Thành Phong – Bí thư Tỉnh ủy họp mặt báo chí tỉnh nhà nhân dịp đầu xuân 2013. (Ảnh: H.C)

Theo dòng lịch sử của đất nước, báo chí cách mạng Bến Tre cũng đã sớm có mặt và liên tục hoạt động dưới sự lãnh đạo của Tỉnh ủy từ những năm 1930 đến nay. Báo chí tỉnh ra đời nhằm phục vụ cho công tác tuyên truyền vận động cách mạng quần chúng, giáo dục đảng viên và đáp ứng yêu cầu lãnh đạo của Đảng. Tờ báo đầu tiên mang tên “Dân Cày” được xuất bản sau khi liên Tỉnh ủy Bến Tre – Mỹ Tho được thành lập vào tháng 6/1930. Khi Đảng bộ Bến Tre tách ra thành một Đảng bộ độc lập, thì tháng 5/1930 Tỉnh ủy cho ra tờ “Búa Liềm”. Đến tháng 8/1933 thì có tờ “Tranh Đấu”, tiếp theo là tờ “Cờ Chiến Đấu” ra đời phục vụ cho việc phát động phong trào Đông Dương đại hội và chỉ đạo các cuộc đấu tranh vì dân sinh, dân chủ liên tục nổ ra trong tỉnh suốt từ năm 1936-1939. Sau cuộc khởi nghĩa Nam Kỳ năm 1940 thất bại, Đảng bộ Bến Tre bị địch đánh khốc liệt, cơ sở Đảng nhiều nơi tan rã. “Ủy ban Sáng Kiến” lúc bấy giờ (như Tỉnh ủy lâm thời) được thành lập và cho phát hành ngay tờ báo “Sự Thật” vào tháng 4/1944. Đây là tờ báo bí mật cuối cùng của Bến Tre trong thời kỳ thực dân Pháp thống trị. Báo “Sự Thật” vẫn tồn tại hoạt động đều đặn; đến năm 1945 bước sang giai đoạn kháng chiến chống Pháp thì được thay tên mới là báo “Hy Sinh”. Ngay từ khi ra đời tờ báo “Hy Sinh” đã có những đóng góp hiệu quả trong việc tuyên truyền, vận động nhân dân tham gia “Tuần lễ vàng”, vận động bầu cử Quốc hội khóa đầu tiên của nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa, cùng các phong trào toàn dân sẵn sàng chiến đấu, thanh niên tòng quân, thành lập các đội cảm tử quân…. Sau này, tờ báo “Hy Sinh” được đổi tên mới là “Đoàn Kết” và tồn tại đến cuối năm 1950 thì nhường chỗ cho tờ “Thông tin Bến Tre” ra đời, được in chì, phát hành đều đặn mỗi tuần 01 kỳ. Sau Hiệp định Genève năm 1954, để hướng dẫn và chỉ đạo cuộc đấu tranh chính trị trong hoàn cảnh mới, Tỉnh ủy cho ra đời tờ “Hòa bình thống nhất” phát hành rộng rãi trong nhân dân và duy trì hoạt động cho đến ngày nổ ra cuộc Đồng Khởi long trời lở đất vào ngày 17/1/1960. Đến tháng 3/1960, tờ “Hòa bình thống nhất” được đổi thành báo “Chiến Thắng”, được in sáp, phát hành từ 700 – 1.000 bản/kỳ. Đến ngày 25/12/1960 nhân dịp chào mừng Mặt trận Dân tộc giải phóng tỉnh Bến Tre ra đời, báo “Chiến Thắng” bắt đầu in chữ chì và giữ vững suốt đến ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng. Đặc biệt, cùng tồn tại hoạt động với báo “Chiến Thắng” suốt thời kỳ kháng chiến chống Mỹ, còn có tờ báo “Văn nghệ Bến Tre” và tờ báo “Cứu nước cứu đạo”. Sau ngày giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước, ngày 11/11/1976, nhân ngày khai mạc Đại hội Đảng bộ, Tỉnh ủy Bến Tre quyết định đổi tên báo “Chiến Thắng” thành báo “Đồng Khởi” cho đến ngày nay. Và sau đó đến ngày 20/12/1976 Tỉnh ủy đã quyết định thành lập Đài Phát thanh Bến Tre, đến ngày 07/3/1995 thành lập Đài Truyền hình Bến Tre; ngày 23/11/1978 Chi hội Nhà báo tỉnh Bến Tre cũng chính thức được thành lập và đến ngày 16/12/2004 là Hội Nhà báo Bến Tre; báo Điện tử của báo Đồng Khởi tiếp tục được ra đời vào ngày 23/10/2007… và còn nhiều chuyên san, tạp chí, thông tin nội bộ, bản tin, báo điện  tử…  của các sở, ngành, đoàn thể tiếp nối ra đời và có mặt hàng tháng, quý… trên địa bàn tỉnh nhà. Có thể nói, báo viết, báo nói, báo hình, báo điện tử ra đời ở tỉnh ta đang trở thành kênh thông tin thống nhất, đáp ứng ngày càng cao nhu cầu sinh hoạt thông tin, đời sống văn hóa tinh thần của nhân dân và ngày càng phát huy hiệu quả tiếng nói của Đảng bộ, của hệ thống chính trị và diễn đàn làm chủ của nhân dân Bến Tre. Điều đó, đã minh chứng nhiều năm qua lãnh đạo tỉnh đã quan tâm đặc biệt đến công tác báo chí, tạo điều kiện thuận lợi để đội ngũ nhà báo trong tỉnh không ngừng phát triển, ngày càng lớn mạnh và nâng cao chất lượng, hiệu quả của các hoạt động báo chí. Thấm nhuần quan điểm, tư tưởng của Bác, đội ngũ nhà báo của tỉnh cũng đã tích cực nâng cao tinh thần trách nhiệm, tạo ra những ấn phẩm báo chí đáp ứng tốt nhu cầu thông tin, định hướng dư luận, động viên khích lệ các tầng lớp nhân dân hăng hái thi đua sản xuất, kinh doanh; phát triển kinh tế  – xã hội; xây dựng đời sống văn hóa; xây dựng nông thôn mới; phát huy tuyên truyền người tốt việc tốt, cổ vũ động viên những con người mới, những nhân tố mới, những tấm gương tiêu biểu trong sự nghiệp đổi mới quê hương; tuyên truyền chủ quyền biển đảo và bảo vệ toàn vẹn chủ quyền Tổ quốc Việt Nam…. Và thực tế báo chí của tỉnh nhà nhiều năm qua đã làm tốt vai trò cầu nối giữa Đảng với nhân dân, chính quyền với nhân dân; là diễn đàn của nhân dân; tiếp thu sự phê bình của nhân dân; góp phần giáo dục toàn dân; đi đầu trong việc định hướng tư tưởng, góp phần giữ vững ổn định chính trị – xã hội; tích cực đấu tranh chống tham nhũng và các hiện tượng tiêu cực trong xã hội, góp phần củng cố niềm tin của nhân dân vào sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lý của Nhà nước.

ImageHọp mặt báo chí tỉnh Bến Tre tại huyện Giồng Trôm nhân kỷ niệm 88 năm Ngày Báo chí cách mạng Việt Nam. (Ảnh tư liệu)

Dưới sự lãnh đạo của Đảng, đặc biệt là những quan điểm, tư tưởng của Bác đã trường tồn gắn liền với nền báo chí cách mạng Việt Nam suốt 88 năm qua, đã góp phần cho đội ngũ báo chí cách mạng Việt Nam trưởng thành vượt bậc cả về số lượng và chất lượng, nội dung và hình thức. Những quan điểm, tư tưởng của Bác để lại cho nền báo chí cách mạng nước nhà là một kho tàng quý báu, đội ngũ nhà báo hôm nay và mai sau của nước ta nói chung, Bến Tre nói riêng cần phải luôn phấn đấu kế thừa và phát triển sự nghiệp báo chí của Bác trong giai đoạn cách mạng hiện nay, cùng với sự tiến bộ của khoa học và công nghệ, lĩnh vực báo chí ngày một đổi mới, hiện đại và chiếm vị trí quan trọng trong đời sống xã hội. Vì vậy, đòi hỏi người làm báo tiếp tục học tư duy, học phong cách và đạo đức làm báo của Bác, để góp phần phát huy tính chiến đấu của báo chí cách mạng Việt Nam trong giai đoạn hội nhập, trước hết đội ngũ nhà báo cần thể hiện trong việc làm sáng tỏ đường lối, chủ trương và các chính sách của Đảng và Nhà nước ta; động viên và cổ vũ lòng hăng hái, tinh thần phấn đấu của nhân dân vì sự nghiệp đổi mới đất nước… Và phát huy tính chiến đấu của báo chí cách mạng Việt Nam còn được thể hiện trong việc đấu tranh bác bỏ các quan điểm sai trái, phê phán các luận điệu xuyên tạc và các hành vi chống phá của các thế lực thù địch đối với Việt Nam ta.

Nhân kỷ niệm 88 năm Ngày Báo chí cách mạng Việt Nam (21/6/1925 – 21/6/2013), những người làm báo hôm nay thật vinh dự, tự hào vì có Bác, nhà báo cách mạng vĩ đại, người thầy lỗi lạc của báo chí cách mạng Việt Nam. Mỗi nhà báo, để trở thành nhà báo cách mạng thật sự chân chính, hãy tiếp tục học tập và làm theo tấm gương đạo đức của Bác; nâng cao trách nhiệm của người làm báo, phải có đạo đức cách mạng, nhất là chí công vô tư, cái tâm trong sáng, có hiểu biết rộng; không ngại khó khăn, hy sinh, vì nhân dân phục vụ; trau dồi tư tưởng, nghiệp vụ và văn hóa; chú trọng học tập chính trị, để nắm vững chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, nâng trình độ về mọi mặt, hiểu biết ngoại ngữ, lăn lộn thực tiễn và gắn bó mật thiết với nhân dân. Đặc biệt, kiên định lập trường tư tưởng, giữ vững quan điểm báo chí cách mạng do Bác sáng lập ra và do Đảng ta lãnh đạo suốt 88 năm qua. Có như thế, đội ngũ nhà báo mới thật sự xứng đáng góp phần nâng cao tính chiến đấu của báo chí cách mạng Việt Nam trong việc tuyên truyền, động viên, cỗ vũ toàn Đảng, toàn quân, toàn dân phấn đấu đẩy mạnh sự nghiệp đổi mới và xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội; xây dựng đất nước theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa và theo mục tiêu “Dân giàu, nước mạnh, xã hội dân chủ, công bằng, văn minh”.

(Tham khảo tư liệu HCM toàn tập và Thông tin nội bộ BTG TU Bến Tre)

Theo bentre.gov.vn
Vkyno (st)

“Đối với đồng sự, phải thân ái giúp đỡ” – lời Bác dạy đậm nghĩa nhân văn sâu sắc về tự phê bình và phê bình

TS. Nguyễn Thị Kim Dung (Phó Viện Trưởng Viện Hồ Chí Minh, Học Viện CT – HCQG Hồ Chí Minh)
Lời dạy “Đối với đồng sự, phải thân ái giúp đỡ” của Chủ tịch Hồ Chí Minh dành cho lực lượng CAND hàm chứa nhiều giá trị tư tưởng sâu xa.

Lúc sinh thời, là người tổ chức, giáo dục, rèn luyện đội ngũ CBCS Công an ngay từ những ngày đầu mới thành lập, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã có nhiều chỉ bảo sâu sắc, ân tình. Trong lời dạy về “Tư cách người Công an cách mệnh” cách đây 65 năm, Người nhắc nhở: “Cần thường xuyên làm cho anh, chị em Công an nhận rõ Công an của ta là CAND, vì nhân dân mà phục vụ và dựa vào nhân dân mà làm việc”.

Để xứng đáng với vinh dự, trách nhiệm vẻ vang ấy, người cán bộ Công an phải rèn luyện về tư cách, đạo đức theo 6 điều dạy của Người; đây là điều kiện tiên quyết đảm bảo xây dựng đội ngũ CAND trong sạch, vững mạnh, làm tròn nhiệm vụ to lớn mà Đảng, Nhà nước và nhân dân giao phó.

Trong thực tiễn hoạt động của lực lượng CAND, do sống, chiến đấu và công tác gắn bó với nhau hằng ngày, cùng vào sinh ra tử, khó khăn gian khổ đều có nhau… nên rất dễ nể nang, bỏ qua, vì sợ mất lòng nhau khi đóng góp ý kiến xây dựng trong kiểm điểm công tác cũng như ứng xử trước khuyết điểm, sai phạm của đồng đội.

Nếu đấu tranh tư tưởng không tốt, không đặt đạo đức cách mạng, lợi ích đại cục lên trên thì sẽ dẫn đến suy nghĩ và hành động không đúng như Chủ tịch Hồ Chí Minh phân tích là: “Nể nang không phê bình, để cho đồng chí mình cứ sa vào lầm lỗi, đến nỗi hỏng việc. Thế thì khác nào thấy đồng chí mình ốm mà không chữa cho họ. Nể nang mình, không dám tự phê bình, để cho khuyết điểm của mình chứa chất lại. Thế thì khác nào tự bỏ thuốc độc cho mình”().

Nhằm tránh những sai lầm đó và nêu cao ý thức tự phê bình và phê bình; với lực lượng CAND, trong điều dạy về tư cách người Công an cách mạng, Người nêu rõ: “Đối với đồng sự, phải thân ái giúp đỡ”. Đây là điều dạy mang ý nghĩa nhân văn sâu sắc về tự phê bình và phê bình.

Người nêu quan điểm phê bình là để cho cán bộ, đảng viên, tổ chức được tốt hơn; do đó, thái độ phê bình phải thân tình, yêu thương, khích lệ tâm đức người có lỗi lầm, không làm cho người có sai phạm bi quan, chán nản, bất mãn, uất ức. Tự phê bình và phê bình chính là giúp đỡ đồng chí, đồng đội, khơi dậy nhiệt tình trong mỗi con người, làm cho cán bộ, đảng viên phấn khởi tin tưởng, phát huy ưu điểm, hăng hái tự vượt qua trở ngại của chính mình để tiến lên.

I. Lý luận của Chủ nghĩa Mác – Lênin và Tư tưởng Hồ Chí Minh xác định quan điểm tự phê bình và phê bình là quy luật phát triển tất yếu của chính đảng vô sản, là vũ khí cần thiết và sắc bén giúp chúng ta sửa sai lầm và phát huy ưu điểm.

Vì thế, “Muốn đoàn kết chặt chẽ là phải tự phê bình, thành khẩn phê bình đồng chí và những người xung quanh, phê bình, tự phê bình để cùng nhau tiến bộ, để đi đến cùng đoàn kết. Đoàn kết phê bình, tự phê bình thật thà để đi đến đoàn kết hơn nữa”().

Chủ tịch Hồ Chí Minh nhắc cán bộ, đảng viên “khéo dùng cái vũ khí sắc bén phê bình và tự phê bình”. “Khéo” có nghĩa là phê bình mình cũng như phê bình người phải “rõ ràng, thiết thực, ngay thẳng, thành thật”, không nể nang, không thêm bớt. Phải chỉ rõ cả ưu điểm và khuyết điểm. Đồng thời, chớ dùng lời mỉa mai, chua cay, đâm thọc.

Phê bình việc chứ không phải phê bình người. “Những người bị phê bình thì phải vui lòng nhận xét để sửa đổi, không nên vì bị phê bình mà nản chí, hoặc oán ghét”. “Cho nên, đảng viên và cán bộ cần phải nâng cao giác ngộ tư tưởng, ngăn ngừa tự đại tự cao, mạnh dạn công khai tự phê bình, vui vẻ tiếp thu lời phê bình của người khác”().

Đây là một thái độ nghiêm túc, một cách nhìn nhận vừa thể hiện tinh thần đấu tranh triệt để nhưng cũng rất giàu lòng nhân ái vì con người, trân trọng nhân cách con người, trân trọng đồng chí, đồng sự.

Do đó, tự phê bình và phê bình còn “Phải có tình đồng chí thương yêu lẫn nhau”, “theo tinh thần nhân ái và lập trường cách mệnh”(). Phải nêu ưu điểm và vạch khuyết điểm một cách rõ ràng, thiết thực, ngay thẳng, thành thật, không tô hồng hoặc bôi đen…

II. Lời dạy “Đối với đồng sự, phải thân ái, giúp đỡ” trong 6 điều Bác Hồ dạy về tư cách, đạo đức người Công an cách mạng là sự đúc kết, kế thừa truyền thống đoàn kết, nhân ái của dân tộc trong Tư tưởng Hồ Chí Minh, là một nội dung có ý nghĩa nhân văn sâu sắc về tự phê bình và phê bình.

Lời dạy của Người “Đối với đồng sự, phải thân ái, giúp đỡ” hàm chứa những nội dung tư tưởng thân ái, biết cách giúp đỡ đồng đội thông qua tự phê bình và phê bình để cùng nhau khắc phục khuyết điểm, trở thành một phương châm hoạt động mang tính cách mạng và khoa học.

“Đồng sự” là đồng đội, đồng chí cùng công tác trong một đơn vị, rộng hơn, đó chính là toàn thể CBCS Công an cùng chiến đấu cho sự nghiệp bảo vệ ANCT và giữ gìn TTATXH. “Đối với đồng sự” – Bác muốn nói đến mối quan hệ của mỗi thành viên trong một tổ chức, nhân tố tạo nên sức mạnh của tổ chức. Bởi vì, tổ chức và cá nhân có mối quan hệ chặt chẽ với nhau.

Tổ chức mạnh sẽ tạo điều kiện cho từng cá nhân phấn đấu tốt và ngược lại, từng cá nhân phấn đấu tốt là điều kiện để xây dựng tổ chức đoàn kết, vững mạnh. Tổ chức là nơi tạo sự liên kết, sự hợp đồng giữa những cá nhân, do vậy yêu cầu phải có những cá nhân tốt thì tổ chức mới mạnh.

Do đó, vì lợi ích chung, vì mục tiêu chung của tập thể mà các cá nhân phải thường xuyên tu dưỡng, rèn luyện mình để gắn bó, giúp đỡ nhau hoàn thành nhiệm vụ. Đoàn kết, thân ái giúp đỡ nhau chính là nhằm xây dựng tổ chức, đơn vị vững mạnh, đảm bảo hoàn thành tốt nhiệm vụ cách mạng, đồng thời qua đó mà nâng cao sức mạnh của từng người.

Lời dạy “Đối với đồng sự, phải thân ái giúp đỡ” của Chủ tịch Hồ Chí Minh dành cho lực lượng CAND hàm chứa nhiều giá trị tư tưởng sâu xa. Phương châm xử thế thấm đậm truyền thống nhân văn và tính khoa học, cách mạng đó, 65 năm qua, đã được các thế hệ CBCS Công an ghi lòng tạc dạ, trở thành một nét đẹp trong truyền thống đạo đức của lực lượng CAND, lực lượng được Đảng và Bác Hồ giao cho trọng trách là “Thanh bảo kiếm bảo vệ Đảng”.

Tuy nhiên, trong thời kỳ cách mạng mới, khi tuyệt đại đa số CBCS Công an một lòng một dạ trung thành với Đảng, với lý tưởng cách mạng, hết lòng phục vụ nhân dân, nêu tấm gương sáng về tình đồng chí, đồng đội, thì ở nơi này, nơi khác, có một bộ phận CBCS đã có biểu hiện xa rời lý tưởng và đồng đội, làm giảm lòng tin của nhân dân.

Chính vì vậy, việc quán triệt nguyên tắc tự phê bình và phê bình trên tinh thần điều dạy “Đối với đồng sự, phải thân ái, giúp đỡ” của Người lúc này có ý nghĩa rất thiết thực.

Tại Hội nghị lần thứ 4 (Khóa XI), Ban Chấp hành Trung ương đã thảo luận và ra Nghị quyết số 12 – NQ/TW “Một số vấn đề cấp bách về xây dựng Đảng hiện nay”.

Nghị quyết nêu rõ: “Để tạo chuyển biến mạnh mẽ về công tác xây dựng Đảng trong thời gian tới, cần tiếp tục thực hiện tốt 8 nhiệm vụ trong công tác xây dựng Đảng mà Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng đã đề ra, coi đó là những nhiệm vụ vừa cơ bản, vừa lâu dài và phải thực hiện thường xuyên, có hiệu quả”.

Nghị quyết cũng xác định rõ: “mỗi cán bộ, đảng viên, trước hết là cán bộ lãnh đạo, quản lý kiểm điểm, liên hệ theo chức trách, nhiệm vụ được giao, tự phê bình và phê bình thẳng thắn, dân chủ, nghiêm túc, chân thành, gắn với thực hiện quy định về những điều đảng viên không được làm theo cương vị công tác”.

Đó là yêu cầu cấp thiết chung của toàn Đảng cũng như đối với lực lượng CAND để tăng cường đoàn kết nội bộ, đề cao kỷ luật, chống chủ nghĩa cá nhân, ngăn ngừa biểu hiện suy thoái tư tưởng chính trị, là một trong những nội dung công tác chính trị quan trọng nhất nhằm xây dựng lực lượng CAND ngày càng trong sạch, vững mạnh, chính quy, tinh nhuệ và từng bước hiện đại, đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc, giữ vững ANQG, TTATXH thời kỳ đổi mới, công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế ngày nay

N.T.K.D.
cand.com.vn

Ban Công tác Phụ nữ Bộ Công an báo công dâng Bác

Nhân dịp kỷ niệm 123 năm Ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh, 65 năm Ngày Bác Hồ ra Lời kêu gọi thi đua ái quốc, 65 năm Ngành Công an thực hiện 6 điều Bác Hồ dạy và tổng kết 5 năm thực hiện phong trào thi đua “Phụ nữ Công an nhân dân học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh; kỷ cương sáng tạo vì an ninh Tổ quốc; xây dựng gia đình hạnh phúc” và triển khai mô hình Ban Chấp hành Hội Phụ nữ trong Công an nhân dân, sáng 6/6/2013, tại Quảng trường Ba Đình, Đoàn đại biểu Ban Công tác Phụ nữ Bộ Công an đã về báo công dâng Bác.

phu-nu-cong-anKhông khí báo công trang nghiêm của Đoàn trên Quảng trường Ba Đình

          Khắc ghi và thực hiện lời dạy của Bác, tiếp nối truyền thống vẻ vang của dân tộc và lực lượng Công an nhân dân, trong 5 năm qua, các cấp Hội Phụ nữ Công an luôn năng động, sáng tạo triển khai các hoạt động Hội và phong trào thi đua “Phụ nữ Công an nhân dân học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh; kỷ cương, sáng tạo vì an ninh Tổ quốc; xây dựng gia đình hạnh phúc”. Phong trào đã thể hiện ý chí quyết tâm, sáng tạo, kết hợp tư tưởng chỉ đạo của Bác, chủ trương, đường lối của Đảng, sự chỉ đạo của Đảng ủy Công an Trung ương, lãnh đạo Bộ Công an và Trung ương Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam một cách đầy đủ, sinh động trong cuộc sống, công tác và chiến đấu. Điều này đã tạo môi trường thuận lợi để cán bộ, hội viên Phụ nữ Công an thi đua rèn luyện, lập thành tích đóng góp vào sự nghiệp bảo vệ an ninh trật tự, xây dựng Đảng, xây dựng lực lượng Công an nhân dân trong sạch, vững mạnh.

Qua 5 năm triển khai thực hiện, công tác Hội ngày càng có nhiều đổi mới, với nhiều nội dung phong phú, hình thức đa dạng. Tổ chức Hội ngày càng vững mạnh, là ngôi nhà chung để tập hợp đoàn kết trong cán bộ, hội viên phụ nữ. Đặc biệt phong trào thi đua của Phụ nữ Công an được triển khai với hàng trăm mô hình, công trình, phần việc và các hoạt động thiết thực, trở thành đợt sinh hoạt chính trị sâu rộng, có sức lan tỏa mạnh mẽ, nhận được sự quan tâm chỉ đạo của cấp ủy, lãnh đạo các cấp, sự đồng tình hưởng ứng của cán bộ, chiến sỹ và hăng hái, thi đua thực hiện trong toàn thể Phụ nữ Công an.

Qua hoạt động công tác Hội và phong trào thi đua, Phụ nữ Công an đã được tôi luyện bản lĩnh chính trị, phẩm chất đạo đức, năng lực công tác để từng bước thấm nhuần và hành động theo lời dạy và tấm gương đạo đức cách mạng của Người.

Trong 5 năm qua, phong trào thi đua của Phụ nữ Công an nhân dân đã đạt nhiều thành tích, được các cấp tặng nhiều phần thưởng cao quý, trong đó, được Nhà nước tặng thưởng Huân chương Quân công hạng Nhất, 3 tập thể được tặng Huân chương Bảo vệ Tổ quốc hạng Ba; hàng nghìn lượt tập thể, cá nhân được các cấp khen thưởng.

Nhân dịp này, Bộ Công an đã tặng Bằng khen cho 69 tập thể và 67 cá nhân tiêu biểu cho phong trào thi đua của phụ nữ Công an nhân dân, trong đó có phụ nữ Công an Hà Nội, đã có 656 lượt hội viên có sáng kiến nổi bật trong công tác chuyên môn; 977 đồng chí trực tiếp tham gia các chuyên án, bóc gỡ, đấu tranh ngăn chặn và xử lý nhiều đối tượng, đường dây tội phạm; 200 lượt đồng chí làm tốt công tác vận động quần chúng, tham gia phong trào toàn dân bảo vệ an ninh Tổ quốc, được các cấp biểu dương khen thưởng; có 7 đề tài cấp nhà nước, 60 đề tài cấp bộ, 363 đề tài cấp cơ sở do phụ nữ làm chủ nhiệm được đánh giá xuất sắc và từng bước ứng dụng vào thực tiễn; 9199 học viên đạt danh hiệu xuất sắc, 143 học viên ưu tú, 8 hội viên được phong tặng danh hiệu Nhà giáo ưu tú, Thầy thuốc ưu tú.

Đặc biệt, thông qua hoạt động Hội đã xuất hiện hàng trăm tấm gương Phụ nữ Công an xuất sắc trong các lĩnh vực công tác. Họ đã không ngại khó khăn, gian khổ ngày đêm tận tuy, sáng tạo, kiên cường lập công trên trận tuyến bảo vệ an ninh, trật tự của Tổ quốc.

Trước anh linh của Người, Phụ nữ Công an nhân dân xin bày tỏ lòng thành kính đối với Người, kính dâng lên Người lòng biết ơn vô hạn, lòng tận trung với Đảng, hiếu với dân; nguyện đoàn kết, vượt qua mọi khó khăn, gian khổ, đem hết sức lực và trí tuệ của mình cùng lực lượng Công an nhân dân thực hiện nghiêm túc di huấn 6 điều Bác dạy; hoàn thành nhiệm vụ mà Đảng, nhân dân giao phó, xứng đáng với niềm tin yêu và những lời dạy sâu sắc của Người.

Lan Hương
bqllang.gov.vn

“Người đi tìm hình của Nước”

Nguoi di tim hinh cua nuoca

Tàu Đô đốc La-tu-sơ Tơ-rê-vin, nơi người thanh niên Nguyễn Tất Thành làm phụ bếp khi rời Tổ quốc đi tìm đường cứu nước (6/1911). Ảnh internet

Chắc hẳn trong mỗi chúng ta đều đã một lần được nghe, được đọc, được suy ngẫm và rưng rưng xúc động về bài thơ “Người đi tìm hình của Nuớc” của nhà thơ Chế Lan Viên. Có thể nói, mỗi vần thơ cất lên như chứa đựng bao nỗi niềm của tình cảm, sự tự hào, hãnh diện, kính trọng và biết ơn công lao trời bể của nhà thơ nói riêng và nhân dân Việt Nam nói chung đối với Chủ tịch Hồ Chí Minh trong hành trình suốt cuộc đời phấn đấu vì một lý tưởng cao đẹp, từ ngày ra đi tìm đường cứu nước (5/6/1911) trở thành nhà hoạt động cách mạng kiên cường và bền bỉ cho đến hơi thở cuối cùng (2/9/1969) đưa đất nước và dân tộc đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác.

Đất nước đẹp vô cùng. Nhưng Bác phải ra đi
Cho tôi làm sóng dưới con tàu đưa tiễn Bác
Khi bờ bãi dần lui làng xóm khuất
Bốn phía nhìn không một bóng hàng tre

Nguoi di tim hinh cua nc 2

Nguyễn Ái Quốc tại Đại hội Đảng Xã hội Pháp tháng 12/1920Ảnh internet

Mỗi lần đọc những dòng thơ trên, trước mắt ta như thấy giây phút thiêng liêng: Đó là hình ảnh của một chàng trai yêu nước tên Ba, tuổi mười tám đôi mươi đã quyết tâm ra đi tìm con đường cứu nước vào ngày 5-6-1911 trên con tàu Đô đốc La-tu-sơ Tơ-rê-vin tại bến cảng Sài Gòn (thành  phố Hồ Chí Minh). Trong chuyến hành trình đầu tiên đó, Bác đã đến Sing-ga-po, Cô-lôm-bô, Po Xa-ít, rồi Đa-răng Mác-xây và ngày 15 tháng 7, Bác đến Lơ Ha-vrơ, cảng chính của miền Bắc nước Pháp.

Với niềm xúc động chân thành, nhà thơ Chế Lan Viên đã cảm nhận sâu sắc nỗi lòng của Người trong những ngày tháng lênh đênh trên đại dương bao la, xa lạ. Bác đã quyết chí ra đi tìm ánh sáng cho dân tộc giữa mùa bão tố tháng sáu với một trái tim vĩ đại mang trọn tình yêu quê hương đất nước. Từ buổi trưa đó, Bác bước vào cuộc đời của một người lao động cực khổ để ra đi và để rồi:

Đêm xa Nước đầu tiên, ai nỡ ngủ
Sóng vỗ dưới thân tàu đâu phải sóng quê hương
Trời từ đây chẳng xanh màu xứ sở
Xa Nước rồi, càng hiểu Nước đau thương

Vần thơ thật sâu lắng, giàu cảm xúc như hồi tưởng lại tâm sự của Bác Hồ trong “đêm xa Nước đầu tiên”, tưởng chừng như có thể thấy mỗi đau mất nước ngày đêm giày vò Người; hình ảnh của Người trằn trọc không ngủ trong những đêm dài lênh đênh nơi xứ lạ. Người ra đi thầm lặng, đơn độc trên con tàu vượt đại dương nhưng trong lòng vẫn luôn khắc khoải, canh cánh, day dứt một nỗi niềm mang tên “tình đất nước”, “vận mệnh dân tộc”. Xúc cảm của người xa xứ pha lẫn nỗi đau thương da diết vì mất Nước thật nghẹn ngào khi đồng bào còn chìm đắm trong bùn đen nô lệ, cam chịu sự thống trị của thực dân, đế quốc. Tàu càng đi xa, tiếng sóng càng trở nên xa lạ, nỗi đau như tăng dần lên “xa Nước rồi, càng hiểu Nước đau thương”.

Từ ngày 5 tháng 6 năm 1911 ấy, Người đã trải qua bao gian nan, cực khổ của các nghề “bồi” ở dưới tàu, “bồi” ở khách sạn, làm nghề rửa ảnh, vẽ sơn mài, làm nghề cào tuyết cho một trường học để sống, để đi, để hiểu và hoạt động cách mạng. Trong chuyến hành trình tìm đường cứu nước, Người đã đi khắp thế giới với nhiều khó khăn, vất vả, hiểm nguy nhưng ý chí, quyết tâm và lòng tin của Người về con đường giải phóng dân tộc luôn trước sau như một, chưa một phút giây thôi nghĩ về vận mệnh của đất nước, đời sống của đồng bào. Ý thơ đã cho ta thấy được tình yêu Tổ quốc luôn luôn cháy bỏng đến thiết tha trong tâm trí của Người:

Đời bồi tàu lênh đênh theo sóng bể
Người đi hỏi khắp bóng cờ châu Mỹ, châu Phi
Những đất tự do, những trời nô lệ
Những con đường cách mạng đang tìm đi
Đêm mơ Nước, ngày thấy hình của Nước
Cây cỏ trong chiêm bao xanh sắc biếc quê nhà
Ăn một miếng ngon cũng đắng lòng vì Tổ quốc
Chẳng yên lòng khi ngắm một nhành hoa

Sống giữa trời Âu phủ đầy tuyết trắng giá lạnh “một viên gạch hồng, Bác chống lại cả một mùa băng giá”, châu Mỹ, châu Phi xa xôi và nhiều lạ lẫm nhưng trong thẳm sâu tâm hồn Bác hình ảnh quê hương hiện lên với màu xanh của cỏ cây tươi tốt như màu xanh của hi vọng, mong ước về màu xanh của hòa bình dân tộc, sự yên bình, ấm no, tự do, hạnh phúc của đồng bào. Đọc câu thơ, ta bắt gặp một sự đối lập về hình ảnh, điều đó đã càng làm rõ hơn sự tinh tế đầy sâu lắng trong tâm hồn của Hồ Chủ tịch, đó là sự trăn trở, day dứt khôn nguôi đối với vận mệnh của đất nước. “Ăn một miếng ngon cũng đắng lòng vì Tổ quốc/Chẳng yên lòng khi ngắm một nhành hoa”. Trái tim giàu lòng yêu nước của Người như đang run lên, như đang nức nở, trong từng bữa ăn, giấc ngủ – Người cùng đau nỗi đau của dân tộc.

Xa Tổ quốc nhưng trái tim của Người luôn đập cùng nhịp đập trái tim của hàng triệu đồng bào. Đó là sức mạnh to lớn nhất giúp Người vượt qua mọi trùng dương, khó khăn để tiếp bước, tìm thấy ánh sáng chân lý soi rọi con đường đi đang đầy bùn đen tăm tối cho cả dân tộc. Khi đọc được Luận cương của Lê-nin, ngồi trong căn nhà số 9 ngõ Compoint, quận 17, ngoại ô Paris, Người đã bật khóc – khóc trong niềm hạnh phúc, khóc trong hi vọng về một ngày mai tươi sáng sẽ đến với dân tộc.

Luận cương đến với Bác Hồ. Và Người đã khóc
Lệ Bác Hồ rơi trên chữ Lênin.
Bốn bức tường im nghe Bác lật từng trang sách gấp
Tưởng bên ngoài, đất nước đợi mong tin

Niềm hạnh phúc như vỡ òa khi Người tiếp nhận Luận cương Lê-nin. Người tiếp nhận chân lý cách mạng ấy bằng tất cả trái tim, sự nhiệt huyết và khối óc của mình. Người tập trung lật giở từng trang sách và dường như cả đất trời cùng nín thở chờ đợi giây phút thiêng liêng, trọng đại này. Giây phút ló rạng ánh sáng của con đường giải phóng dân tộc, thời khắc lịch sử của một dân tộc đang trong cảnh lầm than, nô lệ hi vọng về ngày mai tươi sáng. Chân lý cách mạng của chủ nghĩa Mác-Lênin đã soi sáng tâm hồn Người, đất trời và vạn vật xung quanh như bừng tỉnh, cùng hòa chung niềm hạnh phúc vô bờ:

Bác reo lên một mình như nói cùng dân tộc
“Cơm áo là đây! Hạnh phúc đây rồi!”
Hình của Đảng lồng trong hình của Nước
Phút khóc đầu tiên là phút Bác Hồ cười

Những câu thơ chứa đựng niềm hân hoan trào dâng đầy xúc động. Niềm vui náo nức của cả dân tộc trong giờ phút trọng đại hòa chung cùng tiếng reo mừng sung sướng của Người “Cơm áo là đây! Hạnh phúc đây rồi!”. Con đường đi của cả dân tộc sẽ còn vô vàn những khó khăn, hi sinh, gian khổ nhưng hình ảnh của Đảng lồng trong hình đất nước đã khẳng định niềm tin vô cùng sâu sắc và mãnh liệt đối với Đảng quang vinh, đối với linh hồn của dân tộc. “Phút khóc đầu tiên là phút Bác Hồ cười” – câu thơ giàu hình ảnh ấy đã làm người đọc xúc động xen lẫn vui mừng khi Người đã tìm ra con đường cứu nước, cứu dân. Và hơn cả là niềm hạnh phúc khi gặp những phác họa đầy tươi sáng về tương lai mới của đất nước:

Bác thấy:
Dân ta bưng bát cơm mồ hôi nước mắt
Ruộng theo trâu về lại với người cày
Mỏ thiếc, hầm than, rừng vàng, bể bạc
Không còn người bỏ xác bên đường ray

Giặc Nước đuổi xong rồi. Trời xanh thành tiếng hát
Điện theo trăng vào phòng ngủ công nhân
Những kẻ quê mùa đã thành trí thức
Tăm tối cần lao nay hóa những anh hùng

Nước Việt Nam nghìn năm Đinh Lý Trần Lê
Thành nước Việt nhân dân trong mát suối
Mái rạ nghìn năm hồng thay sắc ngói
Những đời thường cũng có bóng hoa che

Từ ngày 5 tháng 6 năm 1911, Bác rời xa Tổ quốc, quyết chí ra đi tìm đường cứu nước và Người đã tìm ra con đường giải phóng dân tộc. Sau bao năm bôn ba, nay Người trở về với quê hương, trở về với đồng bào. Mang trên vai sứ mệnh cao cả cùng với chân lý sáng ngời của chủ nghĩa Mác-Lênin, Người đã cùng toàn Đảng, toàn dân, toàn quân quyết chí đồng lòng, trải qua nhiều chiến đấu, hi sinh, gian khổ đưa cả dân tộc thoát khỏi đêm dài nô lệ:

Luận cương của Lê-nin theo người về quê Việt
Biên giới còn xa. Nhưng Bác thấy đã đến rồi
Kìa, bóng Bác hôn lên hòn đất
Lắng nghe trong màu hồng, hình Đất nước phôi thai

Ngày Bác ra đi chỉ có hai bàn tay với chí lớn tìm ra con đường cứu nước. Mùa Xuân của 30 năm sau (tháng 2 năm 1941), vượt qua biết bao khó khăn, trở ngại tưởng chừng không thể vượt qua nổi, mong ước được trở về Nước cùng đồng bào đấu tranh của Bác Hồ đã trở thành hiện thực. Bước chân đầu tiên về đất Mẹ, là giây phút thiêng liêng khó diễn đạt bằng lời, Người như lặng đi bên cột mốc 108 biên giới Việt – Trung, mặt hướng về Tổ quốc, ngắm nhìn núi rừng trùng điệp Cao Bằng – mảnh đất địa đầu của Tổ quốc, rồi Người cúi xuống cầm nắm đất Tổ quốc lên hôn mà đôi mắt rưng rưng, tiếng lòng như thẳm sâu lắng đọng, cảm nhận sự sống của “hình Đất nước” đang phôi thai trong lòng mình, hình ảnh của một đất nước Việt Nam mới tươi sáng:

Kìa, bóng Bác hôn lên hòn đất
Lắng nghe trong màu hồng, hình Đất nước phôi thai

Những vần thơ xúc động nhưng giản dị đã cho ta cảm nhận thấy phong cách gần gũi, vĩ đại của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong suốt hành trình 30 năm tìm đường cứu Nước. Có thể nói “Người đi tìm hình của Nước” đã diễn đạt lòng yêu nước vô cùng sâu nặng của Bác Hồ, đồng thời để lại cho các thế hệ Việt Nam một trong những bài thơ hay nhất, thành công nhất viết về Chủ tịch Hồ Chí Minh. Đã 102 năm trôi qua kể từ ngày người thanh niên yêu nước Nguyễn Tất Thành ra đi tìm đường cứu Nước với một quyết tâm cháy bỏng: “Tự do cho đồng bào tôi, độc lập cho Tổ quốc tôi, đấy là tất cả những điều tôi muốn, đấy là tất cả những điều tôi hiểu”nhưng ý nghĩa lịch sử sâu sắc của sự kiện ngày 5/6/1911 vẫn luôn sáng mãi trong tâm thức của hàng triệu trái tim Việt Nam và bạn bè quốc tế. Chủ tịch Hồ Chí Minh với trái tim yêu Nước nồng nàn đã đánh đổi tuổi trẻ, thanh xuân của mình để giành lấy mùa Xuân cho dân tộc, Người đã mở rộng cánh cửa để cách mạng Việt Nam trở thành một bộ phận của cách mạng thế giới, để cuộc đấu tranh của nhân dân Việt Nam là một bộ phận đấu tranh của nhân loại tiến bộ vì hòa bình và những giá trị nhân đạo./.

Huyền Trang
bqllang.gov.vn