Archive by Author | Việt Nam - Hồ Chí Minh

Lời chúc thiếu nhi Liên Xô tại trại Atếch (1) (23-8-1957)

Bác chúc tất cả các cháu vui vẻ, thành công và mạnh khoẻ. Bác chuyển tới các cháu lời chào anh em của các cháu thiếu nhi Việt Nam. Bác hôn tất cả các cháu.

BÁC HỒ

———————————-

Báo Nhân dân, số 1265, ngày 25-8-1957.

(1) Hội nghị Giơnevơ: Hội nghị Bộ trưởng Ngoại giao của một số nước họp từ ngày 26-4 đến ngày 21-7-1954 tại Giơnevơ (Thuỵ Sĩ). Hội nghị này được triệu tập theo chủ trương của Hội nghị Béclin nǎm 1954. Chương trình thảo luận của Hội nghị gồm 2 vấn đề: giải quyết hoà bình vấn đề Triều Tiên và lập lại hoà bình ở Đông Dương.

Do thái độ ngoan cố của Mỹ và các nước chư hầu đã tham gia chiến tranh Triều Tiên, cuộc thảo luận về vấn đề Triều Tiên không thu được kết quả.

Ngày 8-5-1954, đúng một ngày sau chiến thắng Điện Biên Phủ, vấn đề chấm dứt chiến tranh lập lại hoà bình ở Đông Dương chính thức được Hội nghị Giơnevơ thảo luận. Phái đoàn Chính phủ ta do đồng chí Phạm Vǎn Đồng làm Trưởng đoàn tham gia Hội nghị với tư thế đoàn đại biểu của một dân tộc chiến thắng.

Tuyên bố chung của Hội nghị và Hiệp định đình chiến ở Đông Dương được ký kết vào ngày 21-7-1954. Các nước tham gia Hội nghị đã cam kết thừa nhận tôn trọng độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam, Lào và Campuchia; quy định quân Pháp phải rút khỏi Đông Dương và mỗi nước Đông Dương sẽ tuyển cử tự do để thống nhất đất nước.

Bản Tuyên bố chung còn ghi rõ, ở Việt Nam, lấy vĩ tuyến 17 làm ranh giới quân sự và chỉ có tính chất tạm thời, không thể coi đó là biên giới chính trị hoặc lãnh thổ và quy định ở Việt Nam cuộc Tổng tuyển cử tự do để thống nhất đất nước sẽ được tiến hành vào tháng 7-1956. Tr.7.

cpv.org.vn

Trả lời phỏng vấn của phóng viên Đài phát thanh Mátxcơva (30-8-1957)

Hỏi: Xin đồng chí Chủ tịch cho biết cảm tưởng về cuộc đi thăm các nước dân chủ nhân dân?

Trả lời: Chúng tôi rất sung sướng được đến thăm các nước anh em, thấy tận mắt những thành quả xây dựng chủ nghĩa xã hội, trao đổi kinh nghiệm với các đồng chí lãnh đạo.

Hỏi : Nhân dịp Mỹ bắt ép Đại hội đồng Liên hợp quốc thảo luận cái gọi là “vấn đề Hunggari”, yêu cầu đồng chí Chủ tịch cho biết qua về cảm tưởng của đồng chí đối với cuộc đi thăm Hunggari?

Trả lời: Nhân dân Hunggari đang ra sức hàn hắn những vết thương do cuộc phản cách mạng đã gây ra và tiếp tục phấn khởi xây dựng chủ nghĩa xã hội.

Hỏi : Xin đồng chí Chủ tịch cho biết trong các cuộc đàm phán giữa đồng chí với các nhà lãnh đạo các nước mà đồng chí đã tới thăm, tình hình ở Việt Nam đã được các nước chú ý như thế nào?

Trả lời: Các đồng chí lãnh đạo các nước anh em đều chú ý tới tình hình Việt Nam và ủng hộ cuộc đấu tranh hoà bình của nhân dân Việt Nam để thống nhất Tổ quốc.

Hỏi: Xin đồng chí Chủ tịch cho biết cảm tưởng sau những ngày ở thăm Liên Xô?

Trả lời: Tôi rất lấy làm sung sướng trông thấy Liên Xô đang tiến mạnh trên con đường cộng sản chủ nghĩa. Tôi xin chúc nhân dân Liên Xô đạt được nhiều thành tích mới để kỷ niệm 40 năm Cách mạng Tháng Mười vĩ đại.

—————————–

Báo Nhân dân, số 1270, ngày 30-8-1957.
cpv.org.vn

Lời đáp trong lễ trình quốc thư của Đại sứ Mông Cổ (31-8-1957)

Nhân dân Việt Nam rất khâm phục những thành tích to lớn mà nhân dân Mông Cổ anh em, dưới sự lãnh đạo của Đảng Nhân dân cách mạng và của Chính phủ Mông Cổ, đã giành được trong công cuộc xây dựng xã hội chủ nghĩa, nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân. Nhân dân Việt Nam rất chú ý tới những cố gắng của nhân dân Mông Cổ trong việc phát triển mối quan hệ hữu nghị với các nước trên thế giới nhằm góp phần vào sự nghiệp bảo vệ hoà bình.

 

————————-

Nói ngày 31-8-1957.
Báo Nhân dân, số 1272, ngày 1-9-1957.
cpv.org.vn

Từ một câu trả lời nghĩ về một quan điểm lớn trong tư tưởng Hồ Chí Minh

Có người hỏi ông Nguyễn: Ông là người thế nào? Theo chủ nghĩa Cộng sản hay chủ nghĩa Tôn Dật Tiên? Ông Nguyễn trả lời: Học thuyết Khổng Tử có ưu điểm là sự tu dưỡng đạo đức cá nhân. Tôn giáo Giêsu có ưu điểm là lòng bác ái. Chủ nghĩa Mác có ưu điểm là phương pháp làm việc biện chứng. Chủ nghĩa Tôn Dật Tiên có ưu điểm là chính sách của nó phù hợp với điều kiện nước chúng tôi (…). Tôi cố gắng làm người học trò nhỏ của họ. Tôi chính là tôi ngày trước: một người yêu nước”(1). Câu trả lời này của Chủ tịch Hồ Chí Minh đã được nhiều sách, báo trích dẫn, tuy nhiên một sự giải thích cụ thể các lớp ý nghĩa thì chưa thấy có. Trong khi, theo tôi, câu trả lời này của Chủ tịch Hồ Chí Minh như một sự thâu tóm những đặc điểm cốt yếu tư tưởng của Người về văn hóa dân tộc và quan điểm phát triển nền văn hóa.

Câu trả lời của Chủ tịch Hồ Chí Minh được hiểu trên hai bình diện: Bình diện thứ nhất là cách nhìn nhận của bản thân tác giả về các học thuyết, tôn giáo, chủ nghĩa và về bản thân; bình diện thứ hai cách nhìn nhận về văn hóa dân tộc, quan điểm phát triển văn hóa dân tộc. Bình diện thứ nhất là bình diện ngoại diên, cái bên ngoài, tạm gọi là nghĩa trên bề mặt câu chữ; bình diện thứ hai là cái mạch ngầm trong tư tưởng của Người, tạm gọi là nghĩa ẩn đằng sau câu chữ. Ở bình diện thứ nhất, Người sàng lọc những tinh hoa của các học thuyết, tôn giáo, chủ nghĩa, nói được cái cốt yếu, cái hạt nhân của mỗi học thuyết, chủ nghĩa ấy: tu dưỡng đạo đức, lòng bác ái, phương pháp biện chứng, chính sách phát triển. Dĩ nhiên, khi Người đã phát biểu như vậy về các học thuyết, các chủ nghĩa là Người đã nghiên cứu kỹ, và bằng phương pháp loại suy, Người đã chắt lọc những gì tinh hoa nhất để học tập. Mỗi học thuyết, mỗi chủ nghĩa luôn chứa trong nó nhiều đặc điểm, nội dung, không phải chỉ một nội dung thuần túy, dù đó là cái cốt yếu. Vậy nên, khi Chủ tịch Hồ Chí Minh nhận diện những đặc điểm này phải hiểu là Người vừa (đọc rất nhiều) hiểu các học thuyết, chủ nghĩa, vừa đã chọn lọc để tiếp thu làm giàu cho tư tưởng của mình. Đấy là điều chỉ xảy ra đối với những bộ óc siêu việt, mà với trường hợp Hồ Chí Minh, GS. Mai Quốc Liên đã gọi cho cái tên là “một bộ lọc vĩ đại”(2). Tất nhiên ở đây tôi chỉ mới giới hạn về việc tiếp thu cái cốt yếu của 4 học thuyết, tôn giáo, chủ nghĩa mà Chủ tịch Hồ Chí Minh nói ra ở câu trên, chứ trên thực tế, việc tiếp thu và thông qua hành động loại suy của Người còn được thể hiện rất nhiều như: đối với việc tiếp thu Phật giáo (tư tưởng từ bi bác ái, tinh thần bình đẳng, nếp sống giản dị, coi trọng lao động (Phật giáo Thiền tông: “nhất nhật bất tác, nhất nhật bất thực”), triết học và tư tưởng phương Tây (tư tưởng dân chủ và tiến bộ, coi trọng tự do con người: Tuyên ngôn 1776 của nước Mỹ, tư tưởng của Rút xô, Môngtexkiơ) v.v… Từ chỗ nhìn nhận về 4 học thuyết, chủ nghĩa, Người nói về mình: “tôi cố gắng làm người học trò nhỏ của họ”. Đây là lời nói có tính khiêm nhường, nhưng không hoàn toàn, bởi xem xét ở khía cạnh khác, phẩm chất trung thực của Hồ Chí Minh lại nổi lên. Trong khoa học, một thực tế khách quan là, một nhà khoa học lớn suốt đời theo đuổi chân lý, cố nhiên phải phát biểu chân lý ấy bằng nhiều công trình, Người ấy sẽ đào tạo ra các học trò theo trường phái của mình, phát triển tư tưởng của mình lên tầm cao mới. Nhưng, trong khoa học lại không thể có một người nhận mình là học trò của một người vĩ đại trong khi đã không tuân theo tôn chỉ khoa học của người đó. Vậy nên, ở đây khi Chủ tịch Hồ Chí Minh nói là muốn làm người học trò nhỏ thì cũng là rất trung thực (bởi vì mục đích của Người là tìm con đường tư tưởng để cứu nước chứ không phải làm khoa học). Hơn nữa, nếu phân tích kỹ câu nói của Người ta lại thấy Người nhìn nhận rất đúng bản thân: Người một mặt tự nhận là học trò, mặt khác lại không thừa nhận là học trò trung thành của một học thuyết, chủ nghĩa nào, hiểu theo nghĩa thuần túy tiếp thu. Người chọn lọc cái ưu điểm của mỗi học thuyết để phát triển tư tưởng của mình. Ở đây có vấn đề nhạy cảm đó là học thuyết Mác – Lênin, tôi xin giải thích để tránh hiểu nhầm. Người là học trò của Mác, Ăngghen, Lênin, nhưng không phải là học trò thuần túy tiếp thu máy móc tư tưởng của họ. Người nhìn nhận học thuyết Mác xít rồi đối chiếu với thực tiễn cách mạng Việt Nam để tìm ra hướng đi. Riêng luận điểm, “Cách mạng thuộc địa không những không phụ thuộc vào cách mạng vô sản ở chính quốc mà có thể giành thắng lợi trước” đã là một đóng góp vĩ đại cho học thuyết Mác xít thời hiện đại (bởi vì học thuyết Mác xít chỉ nghiên cứu đấu tranh giai cấp, và cho rằng, giải phóng dân tộc chỉ thành công khi giải phóng giai cấp, các dân tộc bị áp bức chỉ giải phóng được mình khi cuộc đấu tranh giải phóng giai cấp ở chính quốc thắng lợi). Như vậy có thể thấy, ở đây một mặt, Người khiêm nhường nhận là học trò (tức tầm tư tưởng, trí tuệ không sánh bằng Khổng Tử, Giêsu, Mác, Ăngghen, Lênin, Tôn Trung Sơn), một mặt Người đã trung thực với bản thân. Nếu nói Hồ Chí Minh là ai khi học tập các học thuyết, chủ nghĩa ấy, thì theo tôi, Hồ Chí Minh là một người khác – khác so với học trò của các vị tiền bối đó và vì… “vô tiền khoáng hậu”.

Bình diện thứ hai, Người nói về văn hóa dân tộc: đó là một nền văn hóa có bề dày lịch sử. Khi Người nói “tôi chính là… một người yêu nước”, thì ẩn đằng sau câu nói ấy, chúng ta phải hiểu là đất nước chúng ta có truyền thống tốt đẹp, có bề dày văn hóa (không phải đất nước nào cũng có bề dày văn hóa, kể cả những đất nước nền kinh tế, khoa học phát triển). Nói tôi là người yêu nước nghĩa là đứng trên lập trường dân tộc, lấy dân tộc làm gốc, trên cơ sở cái dân tộc tiếp thu cái bên ngoài để làm giàu thêm. Tuy nhiên, chúng ta cũng phải liên hệ với phát biểu của Người ở những câu kế trên để thấy tại sao chúng ta cần phải tiếp thu bên ngoài và tại sao Chủ tịch Hồ Chí Minh lại phải ra đi tìm đường cứu nước vào những năm đầu thế kỷ XX?

Có thể nói rằng, trước khi thực dân Pháp vào Việt Nam, đất nước chúng ta vẫn chỉ quen thuộc với tâm tính á Đông, trong đó đất nước có quan hệ mật thiết nhất với chúng ta là Trung Hoa. Vì chúng ta gần gũi với Trung Hoa (ở đây hiểu về khía cạnh tâm tính, thế giới quan), nên dân tộc chúng ta không bị xáo trộn nhiều khi Trung Hoa xâm lược, đặc biệt là về cấu trúc xã hội. Cũng vì thế nên chúng ta đánh thắng các cuộc xâm lược của Trung Hoa trong khi vẫn dùng những tiềm lực cũ (như phương pháp đấu tranh, phương tiện thiết bị quân sự, lực lượng quân đội… ). Nhưng đến khi người Pháp vào nước ta thì nước ta bị xáo trộn nhiều, các chí sĩ nhiệt thành bế tắc trong lựa chọn con đường cứu nước (bởi vì một lí do cơ bản là chúng ta không thể cứu nước theo con đường và cách thức cũ được nữa). Giữa lúc bế tắc đó, Nguyễn ái Quốc đã lựa chọn con đường đến với đất nước kẻ thù để tìm hiểu họ. Đây là một hành động vĩ đại vì Nguyễn Ái Quốc vốn quen với Nho học, lại nhỏ bé trước những bậc cha anh như Phan Bội Châu, Phan Châu Trinh…, tìm một con đường đi, trong khi tương lai thì chưa thể hình dung được. Nhưng cần phải chỉ ra cho rõ ràng rằng, Nguyễn Ái Quốc ra đi đến đất nước kẻ thù không phải chỉ là việc đi để tìm hiểu họ, biết họ phục vụ cho riêng mình, hay nói là “cứu nước” nhưng đang rất mơ hồ, chung chung, chưa xác định được đường hướng (vì lúc này Người mới hai mươi tuổi). Cái vĩ đại của Nguyễn Ái Quốc ở đây là muốn ra đi để đưa cái mới, cái tốt đẹp về cho dân tộc trên cơ sở nền văn hiến và lịch sử văn hóa dân tộc đã hun đúc từ ngàn đời. Nghĩa là phải chọn cái dân tộc làm gốc, tiếp thu những cái tốt đẹp bên ngoài là để làm giàu thêm bản sắc, làm nên những người Việt mới (tâm thức vẫn mãi mãi là tâm thức người Việt) chứ không phải những người Việt khác (khác với truyền thống, quay lưng với truyền thống). Đây là một tư tưởng lớn. Có tìm hiểu được nền văn hóa, văn minh mới, có làm cho người dân nước Việt bấy lâu bị che kín tầm nhìn thấy được khoảng trời khác để tiếp thu, chuyển hóa thành con người mới thì người Việt mới tự giải phóng được cho mình. Dĩ nhiên là nếu tiếp thu mà trở thành con người khác với truyền thống thì chúng ta sẽ gần với kẻ thù, là anh em với kẻ thù, có nghĩa là chúng ta không cần phải giải phóng dân tộc nữa.

Thời điểm Chủ tịch Hồ Chí Minh có câu trả lời trên là sau Cách mạng Tháng Tám năm 1945, lúc chúng ta đã có Đảng Cộng sản lãnh đạo, chúng ta đã có chính quyền, nhưng tại sao Người vẫn không nói mình là người cộng sản? Ngoài việc để giữ hòa khí với Tàu Tưởng, trong khi Tàu Tưởng có khả năng hợp tác với quân Pháp, lại trong bối cảnh quốc tế có nhiều biến động bất lợi cho cách mạng Việt Nam, thì theo tôi, bởi vì hơn hết, Người hiểu được dân tộc (và hiểu được chính bản thân mình, bản thân là một người ái quốc, đứng trên lập trường chủ nghĩa yêu nước, không trở thành một người của trường phái nào), Người tự hào về truyền thống của dân tộc (trong đó nổi bật là truyền thống yêu nước, tinh thần đoàn kết cộng đồng), Người phân biệt được sự khác biệt giữa dân tộc với cái bên ngoài, kể cả với chủ nghĩa Cộng sản. Chủ nghĩa Cộng sản do Mác – Ăngghen sáng lập, Lênin kế thừa và phát huy, dựa trên cơ sở học thuyết thặng dư và lí luận về đấu tranh giai cấp, chỉ áp dụng trước hết cho chính quốc. Mác cũng nói, cách mạng ở các nước thuộc địa chỉ thành công khi đấu tranh giai cấp ở các nước tư bản đã hoàn thành. Chủ tịch Hồ Chí Minh trên cơ sở hiểu dân tộc – hiểu văn hóa, tâm thức dân tộc kết tinh qua hàng nghìn năm lịch sử, khác với phương Tây, nên đã phát biểu một luận điểm hết sức quan trọng đó là các nước bị áp bức, bóc lột cũng có thể tự giải phóng mình khỏi ách thống trị của thực dân và Người đã đưa ra quan điểm: cách mạng ở Việt Nam sẽ tiến hành giải phóng dân tộc kết hợp với giải phóng giai cấp. Phương Tây trên cơ sở coi trọng cá nhân, cá nhân là trung tâm luận, người Việt và Á Đông nói chung lại coi trọng cộng đồng, gia tộc, coi trọng nhân cách. Vì coi trọng nhân cách, trọng cộng đồng nên người Việt coi cách mạng cũng là một bộ phận tạo thành nhân cách (hành đạo), tức xét chính trị trong đạo đức, coi đạo đức có vai trò cải tạo thế giới (Phương Tây lại đặt chính trị ngoài đạo đức, chính trị là một hoạt động tổ chức xã hội). Điều này lí giải tại sao ở Việt Nam lại có những bà mẹ như Mẹ Thứ, hy sinh 10 người con cho cách mạng mà không nghĩ bất cứ điều gì, lại có hàng vạn người tình nguyện ra chiến trường biết là ra đi khó có ngày trở lại, … làm cho kẻ thù phải kinh ngạc mà thốt lên là không thể hiểu được con người Việt Nam. Đây có thể cũng là nguyên nhân cơ bản để Chủ tịch Hồ Chí Minh đưa ra quan điểm: làm chính trị là thực hành đạo đức, “học chủ nghĩa Mác – Lênin để sống với nhau có nghĩa có tình”(3), cho nên ở Việt Nam mới có chuyện là giáo dục bằng tấm gương, một tấm gương sáng còn hơn vạn kinh sách. Đó cũng là một trong những lí do Chủ tịch Hồ Chí Minh âm thầm cắt dán trên một ngàn tấm gương “người tốt, việc tốt” giữa lúc mối quan hệ anh em XHCN không đồng thuận.

Từ quan điểm, văn hóa phải luôn tiếp biến với bên ngoài, phải lấy cái dân tộc làm gốc, ta mới lí giải vì sao hai kẻ thù xa lạ với ta là Pháp và Mỹ lại phải chịu đầu hàng một dân tộc nhỏ bé, nền kinh tế yếu kém, lạc hậu, khoa học – kỹ thuật chưa phát triển. Chúng ta chiến thắng hai kẻ thù đế quốc khi chúng ta có Đảng Cộng sản lãnh đạo. Chỉ có Đảng Cộng sản lãnh đạo chúng ta mới thực hành được cách mạng giải phóng dân tộc. Nhưng, Đảng chỉ là vạch ra đường lối, Đảng chỉ chỉ đường (đấy là cái mà trước đây chúng ta chưa có), cái quyết định thắng lợi là tinh thần dân tộc, là tâm thức trong mỗi người con Việt Nam (Dù có phải đốt cháy cả dãy Trường Sơn cũng phải giành cho được tự do độc lập – “câu chuyện” chỉ có ở Việt Nam). Đó là cái bất diệt. Mỹ không thể hiểu vì sao một cường quốc đứng đầu thế giới, vũ khí tối tân lại thua trận tại Việt Nam trong khi Mỹ rất hiểu về chế độ Cộng sản chủ nghĩa. Điều này có thể giải thích là do Việt Nam không chỉ đánh Mỹ bằng chế độ Cộng sản mà bằng truyền thống lịch sử hàng ngàn năm. Chủ nghĩa Cộng sản chỉ là cái cư trú, cái mới đến, cái hòa vào tâm thức dân tộc suốt hàng ngàn năm ở Việt Nam, làm tốt đẹp thêm con người Việt Nam. Nếu có thể nói về Chủ nghĩa cộng sản ở Việt Nam thì chỉ có thể nói Chủ nghĩa Cộng sản – Việt Nam mà thôi, nghĩa là vẫn là tâm thức người Việt Nam, giống như ngày nay người Việt Nam có sang Âu, sang Mỹ thì cốt tủy vẫn là người Việt Nam: cách đi đứng, kiểu tư duy, kiểu lựa chọn…

Những lí giải trên giúp ta hiểu được vì sao Chủ tịch Hồ Chí Minh lại nhận mình là người yêu nước, và suốt đời Người vẫn là một người yêu nước nhiệt thành. Người yêu nước và hiểu dân tộc đến nỗi Người luôn chuyển hóa kinh sách, lý luận thành cách nói hàng ngày của người Việt(4). Năm 1911, Nguyễn Tất Thành ra đi tìm đường cứu nước chỉ với hành trang là VĂN HÓA, khi trở về lãnh đạo đất nước, người thanh niên năm ấy, với tên gọi Hồ Chí Minh, cũng luôn yêu cầu phải thực hành văn hóa, vì văn hóa. Điều này chứng tỏ một quan điểm quan trọng trong tư tưởng của Người đó là: lấy văn hóa làm gốc, văn hóa là mục đích, là động cơ để thực hành chính trị, chính trị và tổ chức xã hội nói chung là để phục vụ cho văn hóa. Sau này có một người đã hiểu Chủ tịch Hồ Chí Minh và đã viết công trình Văn hóa và đổi mới. Đó là Cố Thủ tướng Phạm Văn Đồng. Công trình xuất bản vào những năm cuối đời, như một di huấn quan trọng. Cố Thủ tướng viết: “Đổi mới phải bắt nguồn và bắt rễ từ mảnh đất văn hóa, truyền thống văn hóa của dân tộc, tinh hoa văn hóa của thời đại… Từ mảnh đất văn hóa đó, sự nghiệp đổi mới, bao quát mọi lĩnh vực từ kinh tế, xã hội đến chính trị và hệ thống chính trị của nước ta, ngày càng mở rộng và phát triển theo chiều cao và bề sâu”(5). Theo tôi đây là những đóng góp, bổ sung quan trọng cho học thuyết Mác xít vì học thuyết Mác xít chưa nhìn nhận thực đúng vai trò của văn hóa. Đấy cũng là lí do khiến triết gia Pháp Jean Paul Sartre không tán thành chủ nghĩa Mác về quan điểm văn hóa mặc dù ông tán thành quan điểm phát triển.

Theo Nguyễn Mạnh Hà
Báo Văn hóa Nghệ An
Thu Hiền (st)

1. “Hồ Chí Minh truyện”, Trương Niệm Thức dịch, Nxb Tam Liên, Thượng Hải, tháng 6-1949, dẫn theo: Nguyễn Đình Chú, Nguyễn ái Quốc – Hồ Chí Minh với Nho giáo, website: http://hoinhavanvietnam.vn. (xin chú thích thêm là, từ sau bản dịch năm 1949, các bản xuất bản sau đó của Những mẩu chuyện về đời hoạt động của Hồ Chủ tịch, không có đoạn Bác Hồ trả lời nhà báo nêu trên).
2. Mai Quốc Liên, Tư duy Hồ Chí Minh, TC Văn hoá Hà Tĩnh, số 132, 2009, tr.02.
3. Ban Tư tưởng – Văn hóa Trung ương, Đẩy mạnh học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2007, tr.34.
4. Xem thêm: Nguyễn Mạnh Hà, Đi xa để tái sinh mãi mãi – một cách nhìn về Chủ tịch Hồ Chí Minh, Tạp chí Văn hóa – Nghệ thuật, số 315, 2010.
5. Phạm Văn Đồng, Văn hóa và Đổi mới, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 1994, tr.103.

bqllang.gov.vn

Diễn vǎn nhân lễ kỷ niệm ngày Quốc khánh của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà (2-9-1957)

Thưa đồng bào yêu quý,

Nhân dịp ngày Quốc khánh lần thứ 12, tôi xin thay mặt Đảng và Chính phủ thân ái chào mừng:

– Đồng bào cả nước và kiều bào nước ngoài,

– Cán bộ và đồng bào miền Nam tập kết ở miền Bắc,

– Bộ đội và công an nhân dân,

– Các chiến sĩ thi đua, toàn thể cán bộ và viên chức,

– Các cụ phụ lão, các cháu thanh niên và nhi đồng.

Ngày kỷ niệm hôm nay là một ngày lịch sử vẻ vang của cả dân tộc ta. Cách đây 12 năm, toàn dân ta từ Nam chí Bắc, đã đoàn kết đứng dậy làm Cách mạng Tháng Tám thành công, lập nên chế độ Dân chủ Cộng hoà.

Từ đó, trải qua tám, chín năm, toàn dân ta đã đoàn kết kháng chiến anh dũng và gian khổ. Kết quả là kháng chiến thắng lợi, thành quả của Cách mạng Tháng Tám được bảo vệ, hoà bình được lập lại trong cả nước, miền Bắc của ta được hoàn toàn giải phóng, Hiệp định Giơnevơ công nhận chủ quyền, độc lập, thống nhất và lãnh thổ toàn vẹn của nước ta. Ngày kỷ niệm hôm nay là một ngày đầy tin tưởng, phấn khởi, đoàn kết, tin tưởng ở sức mạnh đoàn kết của toàn dân, tin tưởng ở thắng lợi cuối cùng của hoà bình, thống nhất, độc lập, dân chủ trong cả nước.

Từ khi hoà bình được lập lại, cuộc đấu tranh cách mạng của nhân dân ta đã bước vào một giai đoạn mới. Đảng và Chính phủ phải đoàn kết và lãnh đạo toàn dân, ra sức củng cố và xây dựng miền Bắc tiến dần lên chủ nghĩa xã hội, đồng thời tiếp tục đấu tranh để thống nhất nước nhà trên cơ sở độc lập và dân chủ bằng phương pháp hoà bình, góp phần bảo vệ công cuộc hoà bình ở Á Đông và trên thế giới.

Trải qua thời gian ba năm, nhân dân ta ở miền Bắc đã ra sức khắc phục khó khăn, lao động sản xuất, thu được những thành tích to lớn trong công cuộc hàn gắn vết thương chiến tranh, khôi phục kinh tế, bước đầu phát triển văn hoá, giảm bớt khó khăn và dần dần cải thiện đời sống cho nhân dân, ở cả miền đồng bằng và miền núi. Cải cách ruộng đất căn bản đã hoàn thành, công việc sửa chữa sai lầm phát huy thắng lợi trong nhiều địa phương đã làm xong và thu được kết quả tốt. Nông nghiệp đã vượt hẳn mức trước chiến tranh. Công nghiệp đã khôi phục các xí nghiệp cũ, xây dựng một số nhà máy mới. An ninh trật tự được giữ vững, quốc phòng được củng cố. Tôi thay mặt Đảng và Chính phủ khen ngợi tinh thần lao động cần cù, đoàn kết cố gắng của nhân dân ta; khen ngợi tinh thần tích cực phục vụ nhân dân, xây dựng đất nước của bộ đội, cán bộ tất cả các ngành, các cấp.

Nhiệm vụ chúng ta trong năm nay là phải tích cực tăng gia sản xuất và tiết kiệm hơn nữa, phấn đấu để hoàn thành kế hoạch Nhà nước, căn bản khôi phục kinh tế của miền Bắc, làm cho đời sống của dân ta được dần dần cải thiện thêm, chuẩn bị điều kiện để sang năm 1958, chúng ta tiến tới xây dựng miền Bắc theo một kế hoạch dài hạn.

Trong khi miền Bắc ngày càng được vững mạnh thêm thì ở miền Nam nước ta, đế quốc Mỹ càng tăng cường can thiệp, tăng thêm binh bị, nắm hết kinh tế, cùng chính quyền miền Nam phá hoại Hiệp định Giơnevơ, phá hoại hoà bình và thống nhất của nước ta. Họ đã dùng mọi thủ đoạn khủng bố, đàn áp, mưu dập tắt tinh thần yêu nước và ý chí thống nhất của đồng bào miền Nam. Nhưng đồng bào miền Nam anh dũng ngày càng đoàn kết rộng rãi hơn, đấu tranh đòi cải thiện đời sống, đòi tự do dân chủ, đòi thống nhất nước nhà bằng phương pháp hoà bình. Gần đây, Chính phủ ta lại đề nghị một lần nữa với chính quyền miền Nam cần có sự tiếp xúc giữa hai miền, lập lại quan hệ bình thường, tiến tới bàn hiệp thương tổng tuyển cử để thống nhất nước nhà. Nhưng chính quyền miền Nam vẫn ngoan cố cự tuyệt, họ đi ngược với nguyện vọng tha thiết của toàn dân ta.

Đồng bào ta ở miền Nam và trong cả nước phải tiếp tục kiên trì đấu tranh, đòi chính quyền miền Nam phải tôn trọng ý chí của nhân dân. Nước Việt Nam ta là một nước thống nhất, Nam Bắc một nhà không một lực lượng phản động nào có thể chia cắt được. Nước Việt Nam ta nhất định phải thống nhất.

Để làm tròn những nhiệm vụ cách mạng to lớn là xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc và đấu tranh thống nhất nước nhà, toàn dân ta phải tăng cường đoàn kết hơn nữa, lao động cần cù, đấu tranh bền bỉ hơn nữa. Luôn luôn nêu cao tinh thần phấn khởi, tin tưởng, kiên quyết tiến lên.

Chúng ta nhất định thắng lợi.

Trong công cuộc xây dựng đất nước, thống nhất Tổ quốc, chúng ta đã được sự giúp đỡ vô tư của các nước anh em, đứng đầu là Liên Xô và Trung Quốc. Chúng ta được sự đồng tình ủng hộ của nhân dân yêu chuộng hoà bình trên thế giới, nhất là nhân dân các nước Á – Phi, Ấn Độ, Nam Dương, Miến Điện, Ai Cập, v.v.. Gần đây, quan hệ hữu nghị giữa nước ta và hai nước bạn láng giềng là Khơme và Lào đã có nhiều tiến bộ. Những cố gắng của Uỷ ban Quốc tế ở nước ta cũng đã góp phần vào công cuộc củng cố hoà bình, trên cơ sở Hiệp định Giơnevơ.

Nhân dịp này, tôi xin thay mặt Chính phủ và nhân dân ta chân thành cảm ơn các nước anh em, các nước bạn. Chúng ta cần thắt chặt hơn nữa tình đoàn kết quốc tế, tình hữu nghị giữa các dân tộc. Và tôi rất lấy làm vui sướng báo cáo với đồng bào rằng cuộc đi thăm vừa rồi của chúng tôi ở các nước anh em đã chứng tỏ rằng tình đoàn kết anh em giữa các nước xã hội chủ nghĩa càng ngày càng bền vững.

*

*     *

Bây giờ, tôi xin báo cáo tóm tắt về cuộc đi thăm các nước anh em. Năm kia, tôi đã cùng phái đoàn Chính phủ ta đi thăm ba nước anh em: từ Trung Quốc, sang Mông Cổ, đến Liên Xô. Lần này, nhận lời mời của Chính phủ chín nước anh em khác, tôi đã cùng các đồng chí Hoàng Văn Hoan, Hoàng Minh Giám, Phạm Ngọc Thạch đi thăm các nước Triều Tiên, Tiệp Khắc, Ba Lan, Cộng hoà Dân chủ Đức, Hunggari, Nam Tư, Anbani, Bungari và Rumani. Trên đường đi và về, chúng tôi có lưu lại ít hôm ở Liên Xô và Trung Quốc.

Kết quả cuộc đi thăm hữu nghị của chúng tôi rất tốt đẹp. Khi đi, chúng tôi đã chuyển lời cảm ơn và tình hữu nghị của đồng bào ta cho nhân dân các nước anh em. Nay về, chúng tôi lại có nhiệm vụ chuyển lời chào thân ái và tình đoàn kết của nhân dân các nước anh em cho đồng bào. Chúng tôi đã thay mặt đồng bào cảm ơn các nước anh em đã ủng hộ ta trong cuộc kháng chiến và đang giúp đỡ ta trong công cuộc hoà bình xây dựng lại nước nhà.

Đảng, Chính phủ và nhân dân các nước anh em đã đón tiếp chúng tôi một cách cực kỳ long trọng, đồng thời cực kỳ thân mật như anh em ruột thịt. Từ những thành phố lớn cho đến những địa phương cách xa các thủ đô hàng trăm cây số, đâu đâu nhân dân các nước anh em cũng hoan nghênh chúng tôi một cách vô cùng nhiệt liệt. Qua nhiệt tình của công nhân, nông dân, trí thức, từ các thanh niên cho đến các cụ già, các cháu bé, chúng tôi cảm thấy rất thấm thía tình đoàn kết và hữu nghị sâu sắc của nhân dân các nước anh em đối với nhân dân Việt Nam chúng ta. Đó không phải là vinh dự riêng của chúng tôi, đó là vinh dự chung của nhân dân ta, của Tổ quốc Việt Nam ta. Đó là biểu hiện của tinh thần quốc tế chủ nghĩa cao cả, cơ sở vững chắc cho mối quan hệ bền vững giữa các nước anh em trong đại gia đình xã hội chủ nghĩa.

Khi đến thăm các nhà máy và các nông trường, anh em công nông đều hỏi thăm kết quả về cuộc thi đua sản xuất và tiết kiệm của ta và đều gửi lời thân ái chào mừng và khuyến khích công nhân và nông dân ta.

Công nhân nhiều nhà máy, như Nhà máy dệt Bình Nhưỡng, Nhà máy dệt Tirana, v.v. tỏ ý muốn thi đua với công nhân ta để cùng nhau tiến bộ. Tôi rất vui lòng thấy anh chị em công nhân Nhà máy sợi Nam Định đã hăng hái nhận lời và đang hăng hái tiến hành cuộc thi đua hữu nghị ấy. Tôi mong rằng công nhân các xí nghiệp khác của ta cũng sẽ nhận thi đua với công nhân các nước anh em.

Nông dân các nước anh em cũng rất quan tâm đến nông dân ta. Thí dụ: Hợp tác xã nông nghiệp Salibi ở Tiệp Khắc hứa sẽ tặng một chiếc máy cày và sẽ giúp đỡ mọi mặt hợp tác xã nông nghiệp mới tổ chức đầu tiên của ta.

Trí thức các nước anh em ân cần gửi lời chào thăm trí thức nước ta.

Thanh niên và học sinh các nước anh em có những kinh nghiệm rất tốt về quan điểm lao động, về việc góp công sức vào sự nghiệp xây dựng nước nhà. Thí dụ sinh viên và học sinh Triều Tiên mỗi năm có một tháng tham gia công tác lao động. Thanh niên và học sinh Bungari thì tổ chức thành những đội lao động để tham gia mọi công tác. Chúng ta đã biết rằng thanh niên Liên Xô đã xung phong vỡ hoang hàng chục triệu mẫu ruộng, thanh niên và học sinh Trung Quốc hiện đang có phong trào sôi nổi tham gia công tác lao động.

Các cháu nhi đồng thì nhiệt liệt nhất. Chúng tôi đi đến đâu, các cháu cứ xoắn xuýt giữ lại, không muốn để chúng tôi về. Các cháu ấy muốn liên lạc với nhi đồng ta. Tôi mong rằng các cháu nhi đồng ta sẽ vui vẻ liên lạc với nhi đồng các nước anh em và liên lạc một cách có tổ chức.

Chúng tôi có gặp học sinh và nhi đồng ta đang học ở các nước anh em. Các cháu được săn sóc rất là chu đáo, đều đoàn kết, mạnh khoẻ, vui vẻ, chăm học. Các cháu gửi lời về thăm gia đình, Đảng, Chính phủ và đồng bào.

Chúng tôi rất vui mừng nhận thấycông cuộc kiến thiết chủ nghĩa xã hội của các nước anh em phát triển rất nhanh chóng. Chúng ta đều đã biết tốc độ phát triển của kinh tế các nước anh em như thế nào. Đi đến nơi mới thấy cả một sự nghiệp lao động sáng tạo hết sức vĩ đại. Điều rõ rệt nhất là nhiều thủ đô và thành thị lớn như Bình Nhưỡng, Vácsava, Béclin, v.v. bị quân địch phá hoại tan tành trong thời kỳ chiến tranh, nay đều xây dựng lại rất nguy nga đồ sộ. ở Liên Xô, những thành phố lớn như Xtalingrát, Ôđétxa, Xêbáttôpôn, Minxcơ, v.v. trong chiến tranh đã bị quân phát xít Đức phá trụi, nay đã xây dựng lại to lớn và đẹp hơn trước.

Công cuộc kiến thiết kinh tế ở các nước anh em thu được nhiều thành tích như vậy, đó là nhờ tinh thần gian khổ phấn đấu, lao động quên mình của nhân dân các nước anh em, nhờ ở kỷ luật lao động rất nghiêm, tổ chức lao động ngày càng cải tiến. Và cũng phải trải qua một thời gian cố gắng khá dài. Tôi nhớ đến đồng chí Vôrôsilốp khi sang thăm nước ta, có nói rằng: Lịch sử Liên Xô mới bốn mươi năm, trong đó mười tám năm nhân dân Liên Xô đã phải thắt lưng buộc bụng, chịu đói chịu khổ, để ra sức xây dựng nước nhà. Các nước anh em khác được Liên Xô giúp đỡ, thời gian khó khăn cực khổ ngắn hơn, nhưng phải trải qua mấy năm mới đi đến kết quả tốt đẹp ngày nay.

Tôi muốn nói thêm để đồng bào biết rằng: trong cuộc đi thăm vừa qua, chúng tôi đã chú trọng đến tình hình đấu tranh thống nhất của nhân dân Triều Tiên và nhân dân Đức. Điều đáng cho ta học tập là nhân dân hai nước anh em đang hết sức tích cực xây dựng miền Bắc Triều Tiên và miền Đông Đức, thu được rất nhiều kết quả và mỗi một kết quả thu được trong công cuộc hoà bình xây dựng nước nhà đều có ảnh hưởng rõ rệt đến cả nước, đến cuộc đấu tranh thống nhất.

Tôi lại rất vui mừng báo cáo với đồng bào rõ rằng: khi chúng tôi đến thăm nước Hunggari anh em thì nhận thấy tinh thần phấn khởi rõ rệt của nhân dân, tình hình sinh hoạt đã trở lại bình thường, các nhà máy, các hầm mỏ, các nông trường lại hăng hái thi đua tăng gia sản xuất như trước. Đó là một thắng lợi lớn của nhân dân Hunggari anh em, đó cũng là một thắng lợi lớn của tất cả chúng ta.

Đến các nước anh em, chúng tôi đã có dịp nói chuyện nhiều với các đồng chí lãnh tụ Đảng và Chính phủ. Những cuộc gặp gỡ và nói chuyện đó đã diễn ra trong bầu không khí thân mật và thành thật; ý kiến đều nhất trí trên các vấn đề quốc tế quan trọng và những vấn đề thuộc quan hệ giữa nước ta và các nước anh em.

Về tình hình thế giới, chúng tôi đều hoàn toàn nhất trí về sự cần thiết phải đấu tranh để giữ gìn hoà bình lâu dài, mọi vấn đề quốc tế cần dùng cách thương lượng hoà bình mà giải quyết. Cần phải đấu tranh để thực hiện những nguyên tắc chung sống hoà bình để giảm bớt quân bị, thực hiện chính sách tập thể an toàn ở châu Âu và châu Á, cấm dùng bom nguyên tử và bom khinh khí. Khi về qua Mốtcu (1) , chúng tôi được tin Liên Xô thành công rực rỡ trong việc thí nghiệm đạn bay qua các lục địa. Sự kiện quan trọng đó sẽ có tác dụng đối với công cuộc bảo vệ hoà bình, thúc đẩy cuộc đấu tranh chống việc chạy đua vũ trang, đòi giảm bớt quân bị.

Về quan hệ giữa các nước xã hội chủ nghĩa, chúng tôi đều nhất trí cần tăng cường đoàn kết trên tinh thần quốc tế chủ nghĩa, trên nguyên tắc tương trợ hợp tác, tôn trọng chủ quyền của nhau giữa các nước anh em trong đại gia đình xã hội chủ nghĩa.

Đối với nước Việt Nam ta, thì các nước anh em đều triệt để ủng hộ nhân dân ta trong cuộc đấu tranh đòi thi hành Hiệp định Giơnevơ, đòi thống nhất nước nhà bằng phương pháp hoà bình. Các đồng chí lãnh tụ đều hứa phát triển hơn nữa sự hợp tác về kinh tế và văn hoá giữa các nước anh em với nước ta.

Nói tóm lại, giữa các nước anh em với chúng ta, mọi việc đều ý hợp tâm đầu, vì chúng ta ở trong đại gia đình xã hội chủ nghĩa, cùng phấn đấu dưới ngọn cờ vẻ vang của chủ nghĩa Mác – Lênin, cùng phấn đấu cho một lý tưởng cao quý là chủ nghĩa xã hội. Vì sức đoàn kết nhất trí của chúng ta ngày càng bền vững, quyết không gì lay chuyển được, cho nên chúng ta nhất định thắng lợi. Có thể nói rằng cuộc đi thăm của chúng tôi đã thành công, đã góp phần thắt chặt thêm nữa tình đoàn kết giữa các nước anh em, nâng cao thêm nữa địa vị quốc tế của nước Việt Nam ta.

Nhân dịp này chúng tôi trân trọng cảm ơn các nước anh em một lần nữa.

Thưa đồng bào yêu quý,

Trong thời gian qua, chúng ta đã sung sướng đón tiếp các vị lãnh tụ của các nước anh em và các nước bạn. Đó là các đồng chí Vôrôsilốp, Micaian, Chu Ân Lai, Xirôki, Xirăngkiêvích, các vị Thủ tướng Nêru, U Nu, Phuma, vị Chủ tịch Quốc hội Xáctônô. Hiện nay, đang vui mừng ngày Quốc khánh với chúng ta, có đồng chí Vúcmanôvích, Phó Chủ tịch Chính phủ Nam Tư anh em.

Tôi vui mừng báo tin để đồng bào rõ rằng: còn các đồng chí lãnh tụ tối cao khác của các nước anh em thì đã hứa với tôi sẽ đến thăm nước ta, để chuyển tình hữu nghị thắm thiết của nhân dân các nước anh em cho nhân dân ta. Tôi chắc rằng toàn thể đồng bào ta đều nhiệt liệt hoan nghênh những tin mừng ấy.

Cuộc đi thăm các nước anh em vừa rồi, tính thời giờ là 55 ngày, tính đường đất thì cả đi lẫn về là gần bốn vạn cây số, nghĩa là gần đường dài vòng quanh quả đất. Thế mà đến đâu, chúng tôi cũng không thấy xa lạ, đến đâu cũng là đồng chí đồng tâm, vì 900 triệu người trong gia đình các nước xã hội chủ nghĩa đều đoàn kết như anh em một nhà. Thế mới biết đại gia đình xã hội chủ nghĩa chúng ta thật là to lớn, hùng mạnh, vĩ đại. Việt Nam ta có quyền tự hào là một bộ phận trong đại gia đình vẻ vang ấy.

Với sự lãnh đạo đúng đắn của Đảng và Chính phủ, với sự đoàn kết nhất trí, lòng tin tưởng vững chắc và tinh thần tự lực cánh sinh của mình, với sự giúp đỡ vô tư của các nước anh em, với sự ủng hộ của nhân dân yêu chuộng hoà bình trên thế giới, nhất là nhân dân các nước Á – Phi, nhân dân ta nhất định khắc phục được mọi khó khăn, làm tròn được nhiệm vụ vẻ vang mà Đảng và Chính phủ đã đề ra.

– Việt Nam hoà bình, thống nhất, độc lập, dân chủ, giàu mạnh muôn năm!

– Tình đoàn kết của đại gia đình các nước xã hội chủ nghĩa đứng đầu là Liên Xô và Trung Quốc muôn năm!

– Tình hữu nghị giữa nhân dân các nước yêu chuộng hoà bình trên thế giới muôn năm!

– Hoà bình thế giới muôn năm!

———————————-

Đọc ngày 2-9-1957.
Báo Nhân dân, số 1274, ngày 4-9-1957.

(1) Hội nghị Giơnevơ: Hội nghị Bộ trưởng Ngoại giao của một số nước họp từ ngày 26-4 đến ngày 21-7-1954 tại Giơnevơ (Thuỵ Sĩ). Hội nghị này được triệu tập theo chủ trương của Hội nghị Béclin nǎm 1954. Chương trình thảo luận của Hội nghị gồm 2 vấn đề: giải quyết hoà bình vấn đề Triều Tiên và lập lại hoà bình ở Đông Dương.

Do thái độ ngoan cố của Mỹ và các nước chư hầu đã tham gia chiến tranh Triều Tiên, cuộc thảo luận về vấn đề Triều Tiên không thu được kết quả.

Ngày 8-5-1954, đúng một ngày sau chiến thắng Điện Biên Phủ, vấn đề chấm dứt chiến tranh lập lại hoà bình ở Đông Dương chính thức được Hội nghị Giơnevơ thảo luận. Phái đoàn Chính phủ ta do đồng chí Phạm Vǎn Đồng làm Trưởng đoàn tham gia Hội nghị với tư thế đoàn đại biểu của một dân tộc chiến thắng.

Tuyên bố chung của Hội nghị và Hiệp định đình chiến ở Đông Dương được ký kết vào ngày 21-7-1954. Các nước tham gia Hội nghị đã cam kết thừa nhận tôn trọng độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam, Lào và Campuchia; quy định quân Pháp phải rút khỏi Đông Dương và mỗi nước Đông Dương sẽ tuyển cử tự do để thống nhất đất nước.

Bản Tuyên bố chung còn ghi rõ, ở Việt Nam, lấy vĩ tuyến 17 làm ranh giới quân sự và chỉ có tính chất tạm thời, không thể coi đó là biên giới chính trị hoặc lãnh thổ và quy định ở Việt Nam cuộc Tổng tuyển cử tự do để thống nhất đất nước sẽ được tiến hành vào tháng 7-1956. Tr.7.

cpv.org.vn

Điện mừng sinh nhật Phó Tổng thống Ấn Độ (5-9-1957)

Kính gửi ông Rađacrixnan,
Phó Tổng thống nước Cộng hoà Ấn Độ,

Nhân dịp kỷ niệm sinh nhật lần thứ 69 của Ngài, tôi rất sung sướng kính chúc Ngài mạnh khoẻ sống lâu và thu được nhiều thành công trong công cuộc xây dựng nước ấn Độ giàu mạnh và đấu tranh bảo vệ hoà bình ở Đông – Nam Á và thế giới.

Chủ tịch nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà
HỒ CHÍ MINH

————————

Báo Nhân dân, số 1275, ngày 5-9-1957.
cpv.org.vn

Diễn vǎn khai mạc lớp học lý luận khoá I Trường Nguyễn Ái Quốc (7-9-1957)

Các đồng chí,

Hôm nay trường lý luận của Đảng ta khai mạc, thay mặt Trung ương, tôi chúc các đồng chí cố gắng, chúc nhà trường thành công.

Nhân dịp này, tôi nêu mấy ý kiến về học tập lý luận.

Vì sao phải học lý luận?

Trước hết, Đảng ta tổ chức trường học lý luận cho cán bộ là để nâng cao trình độ lý luận của Đảng ta đặng giải quyết sự đòi hỏi của nhiệm vụ cách mạng và tình hình thực tế của Đảng ta, để Đảng ta có thể làm tốt hơn công tác của mình, hoàn thành tốt hơn nhiệm vụ cách mạng vĩ đại của mình.

Đảng ta là một Đảng Mác – Lênin, đã được rèn luyện, thử thách lâu dài trong đấu tranh gian khổ, vì thế Đảng ta có rất nhiều ưu điểm, ví dụ như: trung thành với chủ nghĩa Mác – Lênin, với tinh thần quốc tế vô sản, chiến đấu kiên quyết, nhiệt tình cách mạng dồi dào, có truyền thống đoàn kết nhất trí. Tuy vậy, Đảng ta còn có nhiều nhược điểm mà một trong những nhược điểm lớn là trình độ lý luận còn thấp kém.

Vì Đảng ta có nhiều ưu điểm, cho nên đã lãnh đạo cách mạng thu được những thắng lợi to lớn và căn bản. Nhưng mặt khác, vì trình độ lý luận thấp kém cho nên đứng trước nhiệm vụ cách mạng ngày càng mới và phức tạp, trong việc lãnh đạo, Đảng ta không khỏi lúng túng, không tránh khỏi sai lầm, khuyết điểm, ví dụ như chúng ta đã phạm những sai lầm trong cải cách ruộng đất và chỉnh đốn tổ chức, hoặc những khuyết điểm trong việc lãnh đạo kinh tế.

Hiện nay, nhiệm vụ cách mạng của Đảng ta là gì? Đứng trong cả nước mà nói, thì ta chưa hoàn thành nhiệm vụ cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân; nhưng đứng về miền Bắc mà nói thì từ khi hoà bình được lập lại, miền Bắc hoàn toàn giải phóng, ta đã bước vào thời kỳ quá độ tiến dần lên chủ nghĩa xã hội. Chúng ta tiếp tục nhiệm vụ cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân ở miền Nam và đấu tranh thống nhất nước nhà trong những điều kiện thuận lợi: chủ nghĩa xã hội đã thành hệ thống thế giới hùng mạnh; phong trào hoà bình dân chủ và dân tộc giải phóng lên cao; miền Bắc đã được giải phóng, đang được xây dựng và ngày càng củng cố; nhân dân ta ở miền Nam đã được rèn luyện thử thách qua cuộc kháng chiến trường kỳ và ba năm đấu tranh hoà bình. Tuy vậy, những nhiệm vụ đó cũng có nhiều mặt rất khó khăn và phức tạp; ví dụ như: tình hình thế giới và trong nước đã biến đổi đòi hỏi chúng ta phải có những đường lối, phương châm, phương pháp đấu tranh cho thích hợp; kẻ thù của chúng ta rất xảo quyệt, cán bộ và nhân dân còn có nhiều điểm chưa thật thông suốt đối với đường lối đấu tranh thống nhất là con đường đấu tranh lâu dài gian khổ. Điều đó đòi hỏi Đảng ta phải tự nâng cao mình lên nữa, mà muốn tự nâng cao mình thì phải tổ chức học tập lý luận trong toàn Đảng, trước hết là trong cán bộ cốt cán của Đảng.

ở miền Bắc, chúng ta đang ở trong giai đoạn quá độ lên chủ nghĩa xã hội. Cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa là một cuộc biến đổi khó khăn nhất và sâu sắc nhất. Chúng ta phải xây dựng một xã hội hoàn toàn mới xưa nay chưa từng có trong lịch sử dân tộc ta. Chúng ta phải thay đổi triệt để những nếp sống, thói quen, ý nghĩ và thành kiến có gốc rễ sâu xa hàng ngàn năm. Chúng ta phải thay đổi quan hệ sản xuất cũ, xoá bỏ giai cấp bóc lột, xây dựng quan hệ sản xuất mới không có bóc lột áp bức. Muốn thế chúng ta phải dần dần biến nước ta từ một nước nông nghiệp lạc hậu thành một nước công nghiệp. Chúng ta phải dần dần tập thể hoá nông nghiệp. Chúng ta phải tiến hành cải tạo xã hội chủ nghĩa đối với công thương nghiệp tư nhân, đối với thủ công nghiệp. Chúng ta phải biến một nước dốt nát, cực khổ thành một nước văn hoá cao và đời sống tươi vui hạnh phúc. Chúng ta lại phải tiến hành những nhiệm vụ đó trong những điều kiện đặc biệt của nước ta, nghĩa là trên cơ sở của một xã hội vừa mới thoát khỏi ách thực dân, phong kiến, hết sức lạc hậu và trong hoàn cảnh nước ta đang bị chia cắt làm hai miền.

Trong những điều kiện như thế, chúng ta phải dùng những phương pháp gì, hình thức gì, đi theo tốc độ nào để tiến dần lên chủ nghĩa xã hội? Đó là những vấn đề đặt ra trước mắt Đảng ta hiện nay. Muốn giải quyết tốt những vấn đề đó, muốn đỡ bớt mò mẫm, muốn đỡ phạm sai lầm, thì chúng ta phải học tập kinh nghiệm các nước anh em và áp dụng những kinh nghiệm ấy một cách sáng tạo. Chúng ta phải nâng cao sự tu dưỡng về chủ nghĩa Mác – Lênin để dùng lập trường, quan điểm, phương pháp chủ nghĩa Mác – Lênin mà tổng kết những kinh nghiệm của Đảng ta, phân tích một cách đúng đắn những đặc điểm của nước ta. Có như thế, chúng ta mới có thể dần dần hiểu được quy luật phát triển của cách mạng Việt Nam, định ra được những đường lối, phương châm, bước đi cụ thể của cách mạng xã hội chủ nghĩa thích hợp với tình hình nước ta. Như thế là phải học tập lý luận, phải nâng cao trình độ lý luận chung của Đảng, trước hết là của cán bộ cốt cán của Đảng.

Mặt khác, trong thời kỳ cách mạng xã hội chủ nghĩa, Đảng cần phải mạnh hơn bao giờ hết. Muốn cải tạo xã hội mà đảng viên không tự cải tạo mình, không tự nâng cao mình thì không thể được. Cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa đòi hỏi đảng viên và cán bộ phải có lập trường giai cấp vô sản thật vững chắc, giác ngộ về chủ nghĩa xã hội cao; đòi hỏi cán bộ và đảng viên phải rửa sạch ảnh hưởng của những tư tưởng của giai cấp bóc lột, rửa sạch chủ nghĩa cá nhân, rèn luyện chủ nghĩa tập thể. Nó đòi hỏi cán bộ và đảng viên phải khắc phục các bệnh quan liêu và cô độc hẹp hòi để liên hệ chặt chẽ với quần chúng, do đó mà phát huy được đầy đủ tính sáng tạo của hàng triệu quần chúng nhân dân xây dựng chủ nghĩa xã hội, vì chủ nghĩa xã hội chỉ có thể xây dựng được với sự giác ngộ đầy đủ và lao động sáng tạo của hàng chục triệu người. Muốn thế phải nâng cao trình độ lý luận chung của Đảng, phải tổ chức học tập lý luận trong Đảng, trước hết là trong những cán bộ cốt cán của Đảng.

Xem thế, chúng ta thấy học tập lý luận là một sự bức thiết đối với Đảng ta như thế nào.

Lý luận quan trọng đối với Đảng như thế nào? Lênin, người thầy vĩ đại của chúng ta đã tóm tắt sự quan trọng của lý luận trong mấy câu như sau: “Không có lý luận cách mạng thì không có phong trào cách mạng” và “chỉ có một đảng có lý luận tiền phong hướng dẫn thì mới có thể làm tròn được vai trò chiến sĩ tiên phong”. Đảng Cộng sản Liên Xô là đảng đầu tiên đã mở cho loài người con đường giải phóng, luôn luôn chú trọng đến lý luận. Vì Đảng nhận rằng lý luận vạch cho Đảng con đường đúng đắn tiến lên chủ nghĩa cộng sản.

Xem kinh nghiệm của các đảng anh em, thì chúng ta càng thấy sự bức thiết, sự quan trọng của việc tổ chức học tập lý luận cho Đảng, trước hết là cho các cán bộ cốt cán của Đảng.

*
* *

Còn tinh thần học tập lý luận trong cán bộ chúng ta như thế nào?

Có thể nói từ trước đến nay, Đảng ta chưa bao giờ đứng trước nhiều vấn đề phức tạp, to lớn và khó khăn như bây giờ. Trong tình hình đó, nói chung cán bộ ta đều cảm thấy nhược điểm của mình là thiếu lý luận, cho nên đều cảm thấy sự cần thiết phải học tập lý luận và yêu cầu Đảng phải tổ chức học tập lý luận cho cán bộ. Đó là một hiện tượng rất tốt. Chúng ta phải phát huy tinh thần cầu học, cầu tiến bộ đó để đẩy mạnh phong trào học tập lý luận trong Đảng ta. Nhưng không phải cán bộ ta ai cũng hiểu như vậy. Ví dụ, trong Đảng ta hiện nay còn có nhiều người chỉ biết vùi đầu suốt ngày vào công tác sự vụ, không nhận thấy sự quan trọng của lý luận, cho nên còn có hiện tượng xem thường học tập hoặc là không kiên quyết tìm biện pháp để điều hoà công tác và học tập. Hoặc là sau một thời kỳ học tập tại chức có cán bộ phàn nàn trước những khó khăn của việc đọc tài liệu, khó khăn đào sâu suy nghĩ, nhất là đối với những người trình độ văn hoá còn kém, ít quen đọc sách và suy nghĩ. Hoặc vì chúng ta đã áp dụng một số kinh nghiệm một cách thiếu sáng tạo, không có kết quả, cho nên thiếu tin tưởng đối với sự cần thiết phải học tập lý luận, học tập kinh nghiệm của các nước anh em, v.v.. Đó là những hiện tượng của chủ nghĩa kinh nghiệm cần phải khắc phục. Đó cũng là một số hiện tượng có tính chất chủ nghĩa xét lại, cần phải đề phòng, để đẩy mạnh phong trào học tập lý luận hiện nay.

*

*     *

Trên đây là nói sự quan trọng của việc học tập lý luận. Bây giờ nói đến vấn đề lý luận liên hệ với thực tế. Lý luận rất cần thiết, nhưng nếu cách học tập không đúng thì sẽ không có kết quả. Do đó, trong lúc học tập lý luận, chúng ta cần nhấn mạnh: lý luận phải liên hệ với thực tế.

Thống nhất giữa lý luận và thực tiễn là một nguyên tắc căn bản của chủ nghĩa Mác – Lênin. Thực tiễn không có lý luận hướng dẫn thì thành thực tiễn mù quáng. Lý luận mà không liên hệ với thực tiễn là lý luận suông. Vì vậy cho nên trong khi nhấn mạnh sự quan trọng của lý luận, đã nhiều lần đồng chí Lênin nhắc đi nhắc lại rằng lý luận cách mạng không phải là giáo điều, nó là kim chỉ nam cho hành động cách mạng; và lý luận không phải là một cái gì cứng nhắc, nó đầy tính chất sáng tạo; lý luận luôn luôn cần được bổ sung bằng những kết luận mới rút ra từ trong thực tiễn sinh động. Những người cộng sản các nước phải cụ thể hoá chủ nghĩa Mác – Lênin cho thích hợp với điều kiện hoàn cảnh từng lúc và từng nơi.

Trường Đảng là một trường học để đào tạo những chiến sĩ tiên tiến phấn đấu cho sự nghiệp của giai cấp vô sản. Các đồng chí đều là những cán bộ cốt cán của Đảng. Việc học tập lý luận của các đồng chí không phải nhằm biến các đồng chí thành những người lý luận suông, mà nhằm làm thế nào cho công tác của các đồng chí tốt hơn, nghĩa là các đồng chí phải học tập tinh thần của chủ nghĩa Mác – Lênin; học tập lập trường, quan điểm và phương pháp của chủ nghĩa Mác – Lênin để áp dụng lập trường, quan điểm và phương pháp ấy mà giải quyết cho tốt những vấn đề thực tế trong công tác cách mạng của chúng ta. Như thế chúng ta học tập lý luận là cốt để áp dụng vào thực tế. Vậy thế nào là lý luận liên hệ với thực tế?

– Khi học tập lý luận thì nhằm mục đích học để vận dụng chứ không phải học lý luận vì lý luận, hoặc vì tạo cho mình một cái vốn lý luận để sau này đưa ra mặc cả với Đảng. Tất cả những động cơ học tập không đúng đắn đều phải tẩy trừ cho sạch.

– Không phải học để thuộc lòng từng câu từng chữ, đem kinh nghiệm của các nước anh em áp dụng một cách máy móc. Nhưng chúng ta phải học chủ nghĩa Mác – Lênin để phân tích và giải quyết các vấn đề cụ thể của cách mạng nước ta, cho hợp với điều kiện đặc biệt của nước ta.

Khi vận dụng thì bổ sung, làm phong phú thêm lý luận bằng những kết luận mới rút ra từ trong thực tiễn cách mạng của ta.

Lý luận là sự tổng kết những kinh nghiệm của loài người, là tổng hợp những tri thức về tự nhiên và xã hội tích trữ lại trong quá trình lịch sử. Lý luận của chủ nghĩa Mác – Lênin là sự tổng kết kinh nghiệm của phong trào công nhân từ trước đến nay của tất cả các nước. Nó là: “Khoa học về các quy luật phát triển của tự nhiên và xã hội; khoa học về cách mạng của quần chúng bị áp bức và bị bóc lột; khoa học về thắng lợi của chủ nghĩa xã hội ở tất cả các nước; khoa học về xây dựng chủ nghĩa cộng sản” (Xtalin).

Thực tế là các vấn đề mình phải giải quyết, là mâu thuẫn của sự vật. Chúng ta là những người cán bộ cách mạng, thực tế của chúng ta là những vấn đề mà cách mạng đề ra cho ta phải giải quyết. Thực tế bao gồm rất rộng. Nó bao gồm kinh nghiệm công tác và tư tưởng của cá nhân, chính sách và đường lối của Đảng, kinh nghiệm lịch sử của Đảng cho đến các vấn đề trong nước và trên thế giới. Trong khi học tập, đó là những thực tế mà chúng ta cần liên hệ. Tuy vậy, ở nhà trường, trước hết chúng ta cần liên hệ với tư tưởng và công tác của mình, nghĩa là dùng lý luận đã học được để phân tích những thắng lợi và thất bại trong công tác, những mặt đúng mặt sai trong tư tưởng, phân tích một cách toàn diện và tìm nguồn gốc đúng sai về lập trường, quan điểm và phương pháp của mình. Làm như thế là tổng kết để làm cho nhận thức của chúng ta đối với các vấn đề đó được nâng cao hơn và công tác có kết quả hơn. Chúng ta làm cách mạng nhằm mục đích cải tạo thế giới, cải tạo xã hội. Muốn cải tạo thế giới và cải tạo xã hội thì trước hết phải tự cải tạo bản thân chúng ta. Do đó, cho nên trước hết là phải liên hệ lý luận với thực tế công tác và tư tưởng của mình, để tự cải tạo mình, nâng cao sự tu dưỡng của mình về lập trường, quan điểm và phương pháp của chủ nghĩa Mác – Lênin.

Khi học tập, chúng ta cũng cần liên hệ với những vấn đề thực tế ở trong nước và trên thế giới, những vấn đề và nhiệm vụ cách mạng hiện nay đề ra cho Đảng ta, đem lý luận học được tìm xem đường lối và phương pháp giải quyết các vấn đề đó như thế nào cho đúng; hoặc phân tích các kinh nghiệm công tác đã qua của Đảng và tìm nguyên nhân của những thành công và thất bại của Đảng. Như thế sẽ giúp cho việc củng cố lập trường, nâng cao quan điểm và phương pháp của mình.

Tuy vậy cũng cần tránh sự lệch lạc đòi hỏi trong lúc học tập phải giải quyết tất cả mọi vấn đề thực tế. Thực tế của cách mạng rất rộng, giải quyết các vấn đề thực tế ấy là cả một quá trình lâu dài của toàn Đảng. ở nhà trường chỉ có thể đặt cơ sở cho việc liên hệ với thực tế mà thôi…

Đảng ta nhờ kết hợp được chủ nghĩa Mác – Lênin với tình hình thực tế của nước ta, cho nên đã thu được nhiều thắng lợi trong công tác. Tuy vậy, việc kết hợp chân lý của chủ nghĩa Mác – Lênin và thực tiễn của cách mạng Việt Nam chưa được hoàn toàn. Có nhiều sai lầm là do sự thiếu kết hợp đó. Ví dụ những sai lầm trong cải cách ruộng đất, chỉnh đốn tổ chức, xây dựng kinh tế. Hiện nay đứng về mặt xây dựng chủ nghĩa xã hội, tuy chúng ta đã có những kinh nghiệm dồi dào của các nước anh em, nhưng chúng ta cũng không thể áp dụng những kinh nghiệm ấy một cách máy móc, bởi vì nước ta có những đặc điểm riêng của ta.

Không chú trọng đến đặc điểm của dân tộc mình trong khi học tập kinh nghiệm của các nước anh em, là sai lầm nghiêm trọng, là phạm chủ nghĩa giáo điều. Nhưng nếu quá nhấn mạnh đặc điểm dân tộc để phủ nhận giá trị phổ biến của những kinh nghiệm lớn, cơ bản của các nước anh em, thì sẽ mắc sai lầm nghiêm trọng của chủ nghĩa xét lại. Vì vậy, song song với việc nhấn mạnh sự quan trọng của học tập lý luận, chúng ta phải luôn luôn nhấn mạnh nguyên tắc lý luận liên hệ với thực tế. Chúng ta phải khắc phục bệnh giáo điều đồng thời phải đề phòng chủ nghĩa xét lại. Tóm lại, các đồng chí cần nhận thức sự quan trọng của học tập lý luận để hăng hái học tập, đồng thời trong khi học tập phải đem những điều học được để phân tích và giải quyết các vấn đề thực tế trong công tác, trong tư tưởng của bản thân mình và của Đảng, có như thế thì việc học tập của các đồng chí mới thu được kết quả tốt.

Muốn thực hiện nguyên tắc lý luận liên hệ thực tế, muốn cho việc học tập đạt được mục đích đề cao lý luận, cải tạo tư tưởng, tăng cường đảng tính, thì cần phải có thái độ học tập cho đúng.

– Phải khiêm tốn, thật thà. Trong Đảng ta trình độ lý luận còn thấp kém, không ai có thể tự xưng mình là giỏi lý luận. Do đó phải nêu cao tinh thần khiêm tốn, thật thà. Đào sâu suy nghĩ khi nghiên cứu các tác phẩm của Mác – Lênin, các bài giảng của các đồng chí giáo sư bạn, khiêm tốn học tập các đồng chí giáo sư bạn, cái gì biết thì nói biết, không biết thì nói không biết. Kiêu ngạo, tự phụ, tự mãn là kẻ thù số một của học tập.

– Phải tự nguyện, tự giác, xem công tác học tập cũng là một nhiệm vụ mà người cán bộ cách mạng phải hoàn thành cho được, do đó mà tích cực, tự động hoàn thành kế hoạch học tập, nêu cao tinh thần chịu khó, cố gắng, không lùi bước trước bất kỳ khó khăn nào trong việc học tập.

– Phải nêu cao tác phong độc lập suy nghĩ và tự do tư tưởng. Đọc tài liệu thì phải đào sâu hiểu kỹ, không tin một cách mù quáng từng câu một trong sách, có vấn đề chưa thông suốt thì mạnh dạn đề ra và thảo luận cho vỡ lẽ. Đối với bất cứ vấn đề gì đều phải đặt câu hỏi “vì sao?”, đều phải suy nghĩ kỹ càng xem nó có hợp với thực tế không, có thật là đúng lý không, tuyệt đối không nên nhắm mắt tuân theo sách vở một cách xuôi chiều. Phải suy nghĩ chín chắn.

– Phải bảo vệ chân lý, phải có nguyên tắc tính, không được ba phải, điều hoà.

– Phải đoàn kết giúp đỡ lẫn nhau học tập, mạnh dạn phê bình và thật thà tự phê bình và khi phê bình, tự phê bình thì phải xuất phát từ ý muốn đoàn kết, để đạt đến đoàn kết mới trên cơ sở mới.

Các đồng chí phải dần dần xây dựng thái độ học tập đó thành một tác phong thường xuyên trong quá trình học tập. Có như thế thì mới đúng nguyên tắc lý luận liên hệ với thực tế, làm cho việc học tập của chúng ta đạt được mục đích đào tạo những cán bộ biết vận dụng lập trường, quan điểm và phương pháp của chủ nghĩa Mác- Lênin để giải quyết những vấn đề cách mạng cụ thể.

Tôi phát biểu mấy ý kiến đó để giúp các đồng chí nghiên cứu. Một lần nữa, chúc nhà trường thành công.

————————-

Đọc ngày 7-9-1957.
Sách Hồ Chí Minh: Tuyển tập, Nxb. Sự thật, Hà Nội, 1980, t.II, tr.67-78.
cpv.org.vn

Thư gửi các cháu nhi đồng nhân dịp Tết Trung thu (8-9-1957)

Nhân dịp Tết Trung thu, Bác chúc các cháu đoàn kết, ngoan ngoãn, vui vẻ, mạnh khoẻ; ǎn Tết rồi thì các cháu càng phải chǎm học, siêng làm.

Nhân dịp này, Bác chuyển lại cho các cháu lời chào mừng thân thiết của các cháu nhi đồng các nước anh em.

Bác gửi các cháu nhiều cái hôn
BÁC HỒ

———————

Báo Nhân dân, số 1278, ngày 8-9-1957.
cpv.org.vn

Báo cáo tại Quốc hội nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà khoá I, Kỳ họp thứ bảy (36) (10-9-1957)

Thưa các đại biểu,

Trước hết tôi xin thay mặt Đảng và Chính phủ nhiệt liệt hoan nghênh các vị.

Nhân dịp này tôi xin báo cáo tóm tắt về kết quả cuộc chúng tôi đi thăm các nước anh em.

Năm 1955, tôi đã cùng Phái đoàn Chính phủ, chính thức đi thăm ba nước anh em là Trung Quốc, Liên Xô và Mông Cổ. Lần này chúng tôi chính thức đi thăm chín nước anh em khác là: Triều Tiên, Tiệp Khắc, Dân chủ Đức, Ba Lan, Hunggari, Nam Tư, Anbani, Bungari, Rumani.

Khi đi và khi về chúng tôi có ở lại Liên Xô và Trung Quốc mấy hôm.

Thời gian thì cả đi và về là 55 ngày và đường đất là 37.500 cây số.

Đi đến nước nào chúng tôi cũng được Quốc hội, Đảng, Chính phủ, Mặt trận và nhân dân hoan nghênh nhiệt liệt và tỏ tình thắm thiết đối với nhân dân Việt Nam ta.

Đi đến nước nào chúng tôi cũng đã cùng các vị lãnh tụ của Đảng và Chính phủ nói chuyện một cách thân mật, trao đổi ý kiến về tình hình của nước ta và của các nước anh em, về những vấn đề trọng yếu có quan hệ đến nước ta, đến các nước anh em, đến tình hình quốc tế.

Đối với những vấn đề ấy, ý kiến của ta và các nước anh em đều hoàn toàn nhất trí.

Về vấn đề quốc tế, chúng tôi đều đồng ý:

– Cần phải ra sức đấu tranh để giữ gìn hoà bình thế giới, để làm cho tình hình quốc tế bớt căng thẳng.

– Cần phải tiếp tục đấu tranh bảo vệ độc lập dân tộc và chống chủ nghĩa thực dân.

– Cần phải đình chỉ việc thử bom nguyên tử và bom khinh khí.

– Cần phải chống chạy đua vũ trang.

– Cần phải đấu tranh để thực hiện chính sách an toàn chung ở châu á và châu Âu do Liên Xô đề ra.

Về vấn đề quan hệ giữa nước ta và các nước anh em, chúng tôi đều nhất trí:

– Cần ra sức thắt chặt tình đoàn kết giữa các nước trong phe xã hội chủ nghĩa đứng đầu là Liên Xô và Trung Quốc.

– Đều nhận rõ những khó khăn, những cố gắng và những thành tích to lớn trong công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội của các nước anh em chúng ta.

– Ta thì nhiệt liệt ủng hộ sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội của các nước anh em.

– Các nước anh em thì đều hết sức ủng hộ ta trong công cuộc củng cố miền Bắc tiến dần lên chủ nghĩa xã hội và đấu tranh thực hiện thống nhất nước nhà bằng phương pháp hoà bình trên cơ sở Hiệp định Giơnevơ.

*
* *

Do sự đồng tâm nhất trí giữa ta và các nước anh em, cho nên cuộc đi thăm đã thu được kết quả rất tốt đẹp là:

– Phát triển và củng cố thêm tình hữu nghị giữa ta và các nước anh em.

– Làm cho nhân dân ta cũng như nhân dân các nước anh em thêm phấn khởi.

– Nâng cao thêm nữa địa vị quốc tế của nước ta.

– Tăng cường sự hiểu biết giữa nước ta và các nước anh em.

– Góp phần thắt chặt thêm tình đoàn kết giữa các nước trong đại gia đình xã hội chủ nghĩa.

– Tăng cường sự hợp tác kinh tế và văn hoá giữa nhân dân ta và nhân dân các nước anh em.

*

*     *

Thưa các đại biểu,

Câu tục ngữ nói: “Trăm nghe không bằng một thấy”, thật là đúng. Do cuộc đi thăm này mà chúng tôi càng nhận thấy rằng: Sự đi lại thăm nhau giữa các đại biểu của nhân dân các nước rất có ích lợi, vì nó làm cho cảm tình giữa nhân dân các nước càng thêm gắn bó nồng nàn. Vì vậy chúng tôi đã thay mặt nhân dân ta mời các lãnh tụ các nước anh em và các vị ấy đã vui vẻ nhận lời mời và sẽ đến thăm nước ta.

*

*     *

Trong lúc đi thăm, chúng tôi thấy rõ rằng nhân dân các nước anh em đều chán ghét chiến tranh, chán ghét chủ nghĩa phát xít độc ác, chán ghét chủ nghĩa thực dân. Chúng tôi trông thấy ai cũng kiên quyết giữ gìn hoà bình, kiên quyết bảo vệ thành quả của cách mạng, ai cũng ra sức góp phần vào sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội. Vì thế, mà về mặt kinh tế và văn hoá các nước anh em đều có những thành tích rất vĩ đại và vẻ vang. Nói như thế, không phải là các nước anh em hoàn toàn không gặp khó khăn gì nữa. Nhưng đó là những khó khăn trong lúc trưởng thành, những khó khăn tạm thời và cục bộ, nhất định khắc phục được. Mà thành tích là căn bản, vĩ đại, lâu dài.

Chúng tôi cũng thấy rõ sự giúp đỡ vô tư của Liên Xô đối với nhân dân các nước anh em. Liên Xô đã cố gắng nhiều và hy sinh nhiều trong việc giúp đỡ các nước anh em giải phóng khỏi xiềng xích đế quốc và phong kiến, để trở thành những nước dân chủ tự do; để tự lực cánh sinh và xây dựng chủ nghĩa xã hội; để bảo vệ thành quả của cách mạng; để đánh lui bọn phản động trong nước và bọn đồng minh của chúng bên ngoài.

Các nước anh em rất cảm phục và nhiệt liệt hoan nghênh Trung Quốc về những thắng lợi trong công cuộc xây dựng xã hội chủ nghĩa và trong việc áp dụng có sáng tạo chủ nghĩa Mác – Lênin.

*

*     *

Tình đồng tâm nhất trí và sự giúp đỡ vô tư của các nước anh em đối với nhân dân ta khiến cho chúng ta càng thêm hăng hái. Chúng ta càng tin chắc trong việc tự lực cánh sinh để củng cố miền Bắc tiến dần lên chủ nghĩa xã hội, tin chắc về thắng lợi cuối cùng của ta trong cuộc đấu tranh lâu dài và gian khổ để thống nhất nước nhà.

Sự đoàn kết chặt chẽ giữa nhân dân ta và 900 triệu nhân dân các nước anh em là một lực lượng vô cùng to lớn. Với lực lượng ấy, với sự đồng tình ủng hộ của nhân dân các nước yêu chuộng hoà bình trên thế giới, chúng ta nhất định khắc phục được mọi khó khăn, nhất định hoàn thành được nhiệm vụ vẻ vang của chúng ta là thống nhất nước nhà và tiến dần lên chủ nghĩa xã hội.

Cuộc đi thăm này càng làm cho chúng ta thấy rõ: chủ nghĩa Mác- Lênin thật là vĩ đại, tinh thần quốc tế vô sản thật là cao quý; phe xã hội chủ nghĩa thật là hùng mạnh và không có lực lượng gì ngăn trở được chủ nghĩa xã hội ngày càng phát triển mạnh, phát triển mãi, phát triển khắp thế giới.

Nói về kết quả cuộc đi thăm hữu nghị của chúng tôi, trong bức điện mừng Quốc khánh ta, các vị đại diện của Đảng và Chính phủ Liên Xô có viết:

“Cuộc đi thăm các nước châu Âu vừa qua của Chủ tịch Hồ CHí MINH đã làm tăng thêm uy tín của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà trên trường quốc tế, mở rộng và củng cố thêm những mối quan hệ quốc tế của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà. Quan hệ hữu nghị và gắn bó với nhau giữa nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà và các nước trong phe xã hội chủ nghĩa nhất định ngày càng được tăng cường. Mối quan hệ hữu nghị anh em, sự tương trợ và hợp tác trên cơ sở những nguyên tắc quốc tế vô sản của chủ nghĩa Lênin, giữa nhân dân Việt Nam, nhân dân Liên Xô, nhân dân Trung Quốc và các nước xã hội chủ nghĩa khác là một cống hiến quý giá vào sự nghiệp to lớn củng cố mặt trận hoà bình và chủ nghĩa xã hội”.

Các vị đại diện của Đảng và Chính phủ Trung Quốc có viết:

“Những cống hiến của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà trong việc củng cố hơn nữa sự đoàn kết trong phe xã hội chủ nghĩa, nhất là cuộc đi thăm hữu nghị các nước xã hội chủ nghĩa của Chủ tịch Hồ CHí MINH gần đây và những thành quả mới của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà trong việc phát triển mối quan hệ hữu nghị với các nước láng giềng và các nước yêu chuộng hoà bình khác ở châu á, nhất định sẽ có lợi cho việc giữ gìn hoà bình châu á và thế giới”.

Thưa các đại biểu,

Trên đây là tóm tắt kết quả tốt đẹp của cuộc đi thăm các nước anh em. Chúng ta cần phải tiếp tục phát huy kết quả ấy. Một lần nữa tôi xin chúc các đại biểu vui vẻ, mạnh khoẻ và chúc khoá họp thứ bảy của Quốc hội ta thành công.

——————————

Đọc ngày 10-9-1957.
Báo Nhân dân, số 1281, ngày 11-9-1957.

36. Quốc hội khoá I, Kỳ họp thứ 7: Họp từ ngày 10 đến ngày 19-9-1957, tại Hà Nội.

Tại Kỳ họp này, Quốc hội kiểm điểm việc thực hiện các nghị quyết của Kỳ họp thứ 6 và thông qua kế hoạch nhà nước nǎm 1957, nhằm hoàn thành thời kỳ hàn gắn vết thương chiến tranh và khôi phục kinh tế, tiến dần lên chủ nghĩa xã hội, làm cơ sở vững chắc cho cuộc đấu tranh thống nhất nước nhà.

Thông qua Luật công đoàn, xác nhận giai cấp công nhân lãnh đạo sự nghiệp cách mạng Việt Nam và vai trò tham gia quản lý kinh tế của tổ chức công đoàn.
Thông qua 4 sắc luật:

– Cấm mọi hành động đầu cơ tích trữ.

– Quy định những trường hợp phạm pháp quả tang và những trường hợp khẩn cấp, bổ sung về việc khám người phạm pháp quả tang.

– Quy định chế độ xuất bản.

– Quy định thể lệ bầu cử Hội đồng nhân dân và Uỷ ban hành chính các cấp.
Tại Kỳ họp này, ngày 10-9, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã báo cáo tóm tắt về kết quả cuộc đi thǎm của Đoàn đại biểu Đảng và Chính phủ ta tới chín nước: Triều Tiên, Tiệp Khắc, Cộng hoà dân chủ Đức, Ba Lan, Hunggari, Nam Tư, Anbani, Bungari, Rumani. Tr.502.

cpv.org.vn

Nhận rõ để sửa chữa khuyết điểm

Trước khi ra đi, Bác đã để lại cho toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta và bạn bè quốc tế bản Di chúc vô cùng quý báu… Là người sáng lập, lãnh đạo và rèn luyện Đảng ta, Chủ tịch Hồ Chí Minh rất quan tâm đến công tác xây dựng Đảng. Và trước khi “lên đường để đi gặp các cụ Các Mác, Lê-nin”, Người đã để lại cho toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta và bạn bè quốc tế bản Di chúc vô cùng quý báu. Trong đó, những lời căn dặn đầu tiên Người dành để nói về Đảng.

Chủ tịch Hồ Chí Minh thăm Hội nghị phổ biến Nghị quyết của Bộ Chính trị về cuộc vận động: Nâng cao ý thức trách nhiệm, tăng cường quản lý kinh tế tài chính, cải tiến kỹ động: Nâng cao ý thức trách nhiệm, tăng cường quản lý kinh tế tài chính, cải tiến kỹ

Trước hết, Người nhắc về mối quan hệ gắn bó mật thiết giữa Đảng và nhân dân. Đảng Cộng sản Việt Nam là đội quân tiên phong của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và toàn dân tộc. Vì vậy, sự lãnh đạo của Đảng là nhằm “lấy tài dân, sức dân để làm những công việc có lợi cho dân”. Nói cách khác, mục đích của Đảng là xây dựng một nước Việt Nam độc lập, giàu mạnh, xã hội dân chủ, công bằng, văn minh, không còn người bóc lột người, thực hiện thành công chủ nghĩa xã hội và cuối cùng là chủ nghĩa cộng sản. Muốn đạt được mục đích đó, Đảng phải có trách nhiệm “vận động và tổ chức dân chúng”. Vai trò, sứ mạng của Đảng như là “người cầm lái”, người dẫn đường, đứng mũi chịu sào trong mọi hành động. Đảng có trách nhiệm hoạch định đường lối đúng đắn và đưa đường lối đó “vào nhân gian”, để giác ngộ, tập hợp, tổ chức nhân dân đứng lên đấu tranh thực hiện công cuộc giải phóng dân tộc và xây dựng xã hội mới. Là Đảng cầm quyền nên Đảng càng phải ý thức đầy đủ, sâu sắc chức trách xã hội của mình. Theo Người, nếu không gắn bó mật thiết với nhân dân, không tôn trọng và phát huy quyền làm chủ của nhân dân, thì Đảng sẽ rơi vào tình trạng quan liêu, từ đó sẽ mất đi sức sống vốn có của Đảng. Dựa vào dân, gắn bó mật thiết với nhân dân là điều kiện tồn tại và phát triển của Đảng. Chỉ có qua thực tế hoạt động, Đảng mới tổng kết, đúc rút ý kiến của nhân dân để từ đó thành chủ trương, đường lối của người lãnh đạo rồi quay trở lại lãnh đạo, phục vụ quần chúng. Người căn dặn lãnh đạo phải biết lắng nghe ý kiến của nhân dân nhưng tuyệt đối không theo đuôi quần chúng.

Mặt khác, Người đặc biệt nhấn mạnh vai trò đoàn kết trong Đảng. Người dặn phải “Giữ gìn sự đoàn kết của Đảng như giữ gìn con ngươi của mắt mình”. Sự đoàn kết, thống nhất trong Đảng là cơ sở để xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân. Chỉ khi Đảng đoàn kết, thống nhất thì mới phát huy được sức mạnh của tổ chức, của đội ngũ cán bộ, đảng viên và mới tập hợp, lãnh đạo nhân dân thực hiện thành công mục tiêu, lý tưởng của Đảng. Sự đoàn kết, thống nhất giúp cho Đảng vượt qua mọi khó khăn, vững vàng trong mọi thử thách. Cơ sở để xây dựng khối đoàn kết trong Đảng cả về tư tưởng, tổ chức, hành động chính là đường lối, quan điểm và Điều lệ Đảng. Người căn dặn để thực hiện sự đoàn kết, thống nhất trong Đảng thì phải “thường xuyên và nghiêm chỉnh tự phê bình và phê bình là cách tốt nhất”. Mỗi đảng viên phải phát huy ưu điểm, khắc phục khuyết điểm. Có tự phê bình tốt thì mới phê bình người khác tốt được. Đây là biện pháp để rèn luyện đảng viên, nhằm tăng cường sự đoàn kết nội bộ. Người chỉ rõ “một Đảng mà giấu giếm khuyết điểm của mình là một Đảng hỏng. Một Đảng có gan thừa nhận khuyết điểm của mình, vạch rõ những cái đó, vì đâu mà có khuyết điểm đó, rồi tìm kiếm mọi cách để sửa chữa khuyết điểm đó. Như thế là một Đảng tiến bộ, mạnh dạn, chắc chắn, chân chính”. Để thực hiện có hiệu quả việc phê bình và tự phê bình, đòi hỏi mỗi người phải trung thực, chân thành với bản thân cũng như với người khác, phải có tình đồng chí thương yêu lẫn nhau. Đặc biệt “mỗi đảng viên và cán bộ phải thực sự thấm nhuần đạo đức cách mạng, thật sự cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư. Phải giữ gìn Đảng ta thật trong sạch, phải xứng đáng là người lãnh đạo, là người đầy tớ thật trung thành của nhân dân”. Theo quan niệm của Người, đạo đức cách mạng được thể hiện tập trung ở nhân, nghĩa, trí, dũng, liêm. Người cán bộ của Đảng phải là người có đạo đức và phấn đấu vì lợi ích chung của Đảng, của dân tộc.

Hiện nay, toàn Đảng, toàn dân ta đang tiến hành công cuộc đổi mới đất nước theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá. Đồng thời, Việt Nam đã gia nhập Tổ chức Thương mại thế giới (WTO), hội nhập ngày càng sâu, rộng với bên ngoài. Vì vậy, bên cạnh những thuận lợi, chúng ta cũng phải đối mặt với những khó khăn, thách thức trước những diễn biến phức tạp của tình hình khu vực và thế giới. Sự tấn công thâm độc, xảo quyệt của các thế lực thù địch, những mặt trái của cơ chế thị trường, của quá trình hội nhập quốc tế… đã và đang tác động nhiều chiều đến đời sống của nhân dân và mỗi cán bộ, đảng viên. Trong hoàn cảnh này, để hoàn thành sứ mạng lịch sử của mình, Đảng phải thường xuyên chăm lo xây dựng chỉnh đốn thật vững vàng cả về chính trị, tư tưởng và tổ chức. Trong đó, việc nghiên cứu và học tập tấm gương đạo đức của Chủ tịch Hồ Chí Minh nói chung và thực hiện Di chúc thiêng liêng của Người nói riêng là trách nhiệm, nghĩa vụ của mỗi tổ chức Đảng và mỗi cán bộ, đảng viên./.

Theo TRẦN VĂN LỢI
Báo Hải Dương online
Huyền Trang (st)
bqllang.gov.vn

Lời chúc mừng trong buổi chiêu đãi Phó Tổng thống Ấn Độ (12-9-1957)

Thưa Phó Tổng thống,

Thưa các bạn,

Tôi rất vui mừng thay mặt nhân dân Việt Nam và Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà hoan nghênh Phó Tổng thống Rađacrixnan, một vị lãnh tụ kính mến của nhân dân Ấn Độ anh em, một người bạn tốt của nhân dân Việt Nam và của hoà bình thế giới.

Tôi đề nghị chúng ta nâng cốc:

– Chúc sức khoẻ Phó Tổng thống,

– Chúc sức khoẻ Tổng thống Ragiǎngđra Praxát và Thủ tướng Nêru,

– Chúc tình hữu nghị giữa nước Cộng hoà Ấn Độ và nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà ngày càng được thắt chặt và phát triển.

– Chúc nền hoà bình ở Á châu và trên thế giới được củng cố.

– Chúc tình hữu nghị giữa các nước Á – Phi ngày càng phát triển.

——————————

Đọc ngày 12-9-1957.
Báo Nhân dân, số 1286, ngày 16-9-1957.
cpv.org.vn

Bài nói chuyện nhân dịp về thǎm khu mỏ (4-10-1957)

Thưa các cụ, các vị và toàn thể đồng bào,

Hôm nay tôi rất vui sướng thấy có mặt ở đây các đại biểu của anh chị em công nhân, của đồng bào nông dân, của đồng bào đánh cá, đại biểu của bộ đội, của cán bộ các ngành, của đồng bào thành phố, của đồng bào thiểu số, có các chiến sĩ thi đua, có những đồng bào đã tham gia kháng chiến, có đại biểu các tôn giáo, các cụ phụ lão, các chị em phụ nữ, các cháu thanh niên và nhi đồng và các bạn Hoa kiều.

Đây là tỏ rằng đồng bào Hồng Quảng, các tầng lớp đoàn kết chặt chẽ, như thế là rất tốt. Tôi thay mặt Chính phủ và Trung ương Đảng gửi tới đồng bào lời chào thân ái. Đồng thời tôi gửi đồng bào có mặt ở đây chuyển tới đồng bào không có mặt ở đây lời chào của Trung ương Đảng, của Chính phủ và của tôi. Tôi thay mặt Chính phủ, Đảng và nhân dân ta cảm ơn các đồng chí chuyên gia các nước anh em đến giúp đỡ ta khôi phục và phát triển kinh tế, đó là tinh thần quốc tế cao cả mà chúng ta phải học.

Hôm nay vì thì giờ ít, tôi không thể nói chuyện được nhiều với đồng bào về kỷ niệm 40 năm Cách mạng Tháng Mười thành công của Liên Xô, vì Cách mạng Tháng Mười trong báo Nhân dân đã có bài, tôi chỉ nhắc cán bộ nghiên cứu giải thích cho đồng bào nghe. ở đây tôi chỉ nói một điều là: Liên Xô cách mạng thành công đã 40 năm, Liên Xô hiện giờ đây công nhân, nông dân, cán bộ, trí thức Liên Xô rất sung sướng. Nhưng trong 40 năm Liên Xô đã phải phấn đấu chịu cực khổ, nhịn ăn, nhịn mặc để xây dựng kinh tế suốt 18 năm, nhờ đó mới có đời sống sung sướng ngày nay.

Liên Xô trước chỉ có một mình cho nên mới phải phấn đấu gian khổ 18 năm. Nước ta ngày nay nhờ có Liên Xô và các nước anh em giúp đỡ cho nên không phải gian khổ đến 18 năm, nhưng ít nhất mình cũng phải tự lực cánh sinh phấn đấu gian khổ một nửa. Nước ta hoà bình đã ba năm, bây giờ ta chưa có thể ăn ngon mặc tốt như nhân dân Liên Xô được, cho nên muốn cải thiện sinh hoạt thì phải tăng gia sản xuất, thực hiện tiết kiệm như Liên Xô.

Một điều nữa tôi muốn nói, nhưng không nói được nhiều là việc đi thăm chín nước anh em. Thông cáo chính thức là đi thăm chín nước, nhưng thực ra là đi thăm 11 nước, bất kỳ chúng tôi đi đến đâu, nhân dân các nước anh em cũng đều tỏ ra rất nồng nàn với nhân dân Việt Nam.

Chúng tôi đi vòng quanh các nước anh em mất 55 ngày, đường dài 37.900 cây số mà đi đến đâu cũng gặp bà con bè bạn các nước anh em, thế mới biết gia đình xã hội chủ nghĩa chúng ta rất rộng lớn và rất mạnh. Đấy là nói về kỷ niệm 40 năm Cách mạng Tháng Mười và cuộc đi thăm các nước anh em.

*

*     *

Bây giờ tôi muốn dành thì giờ nói thiết thực về các vấn đề của đồng bào ta ở đây.

Đồng bào ta ở đây có nhiều ưu điểm, trong thời kỳ kháng chiến đồng bào các giới ở Hồng Quảng cũng như cả nước đều tỏ ra rất trung thành với Tổ quốc, đó là một truyền thống rất vẻ vang mà chúng ta phải luôn luôn phát triển. Từ ngày hoà bình lập lại, đồng bào ta đã ra sức cần cù dốc sức vào việc khôi phục và phát triển kinh tế, đó cũng là một điều rất tốt mà chúng ta cần phát triển. Ngoài ra đồng bào công nhân cũng như nông dân và các tầng lớp khác đã rất cố gắng khắc phục khó khăn khôi phục đời sống, khôi phục và phát triển kinh tế. Còn có những ưu điểm khác thì đồng bào cũng đã biết, tôi chỉ nói mấy điểm chính thế thôi.

Bây giờ đồng bào có sẵn sàng nghe khuyết điểm của mình không? Bởi vì có sửa chữa được khuyết điểm mới khắc phục được khó khăn, mới tiến bộ.

Nói đến Hồng Quảng chủ yếu là nói đến xí nghiệp, là mỏ than, là giai cấp công nhân, cho nên trước hết tôi nói với anh chị em công nhân.

Trước ngày giải phóng miền Bắc anh chị em công nhân ta là những người nô lệ, mình làm cực khổ nhưng bọn đế quốc và tư bản hưởng lợi, bây giờ công nhân làm chủ nước nhà, làm chủ xí nghiệp của mình, nhưng mà chưa chắc tất cả đã hiểu như thế.

Muốn làm người chủ xứng đáng, phải có tinh thần phụ trách tốt. Tôi xem báo thấy nói ngày 27, 28, 29-9 ở Cẩm Phả cũng như ở Hà Lầm sản xuất rất hăng, đó là tượng trưng mình làm chủ, nhưng không phải tất cả như thế, còn nhiều anh em vì chưa hiểu mình là chủ nên chưa biết tiếc của mình, không biết tôn trọng của Nhà nước tức là của mình. Tôi chỉ nêu một vài ví dụ: ngay số xe do công nhân các nước anh em hy sinh phấn đấu làm ra để cho chúng ta dùng. Đảng, Chính phủ và nhân dân ta hết sức coi trọng sự giúp đỡ của các nước anh em, nhưng giao cho các ông chủ, bà chủ quản lý các xe đó thì hỏng đến 80, 90%. Giá một chiếc xe là hơn 150 triệu đồng, công nhân các nước anh em dùng hơn 2 vạn cây số mới phải sửa lại mà đưa về mình có chiếc xe chỉ dùng được 1.500 đến 2.500 cây số là hỏng, 11 chiếc xe to hỏng 9; 45 chiếc xe vừa hỏng 36; 82 chiếc xe Tiệp thì hỏng 30. Các cô, các chú có đau lòng không? Còn các lãng phí khác như than vương vãi và đất đá lẫn nhiều, v.v..

Các cô, các chú muốn tiến lên chủ nghĩa xã hội phải khắc phục khuyết điểm, tức là phải tăng gia sản xuất, tiết kiệm, chống lãng phí, bảo vệ của công.

Về kỷ luật lao động thì lỏng lẻo, không có một nước nào mà 15% công nhân vắng mặt trong buổi làm, như thế trước hết là ảnh hưởng đến anh chị em công nhân, ảnh hưởng ngân quỹ, ảnh hưởng tăng gia sản xuất, ảnh hưởng đến giá sinh hoạt, ảnh hưởng không tốt đến việc kiến thiết chủ nghĩa xã hội. Hay có người đương làm thì bỏ đi ngủ, thái độ như thế không phải là người chủ, cán bộ và công nhân ta phải biết đấu tranh chống thói xấu ấy.

Trong mấy tháng đầu năm nay có tới 450 người bị tai nạn lao động hoặc nặng hoặc nhẹ, tai nạn đó chẳng những hại đến anh em bị nạn mà còn ảnh hưởng đến sản xuất của xí nghiệp. Vì cách tổ chức bảo vệ lao động còn kém, đó là một khuyết điểm của công nhân, nhưng quan trọng nhất là khuyết điểm của cán bộ. Vì vậy anh chị em công nhân cần phải chống, mà cán bộ cũng phải khắc phục sửa chữa.

Có một số người hết sức tăng gia sản xuất, tiết kiệm, nhưng lại có một số kém thành ra mức sản xuất đổ đồng kém hơn thời nô lệ. Một người công nhân trong thời Pháp thuộc một năm sản xuất 128 tấn, giờ đây có nhiều anh chị em công nhân sản xuất rất hăng hái, nhưng đổ đồng một người sản xuất trong một năm chỉ được 120 tấn, có người sản xuất 150 tấn, nhưng vì có những người kém thành ra mức chung kém là như thế. Khuyết điểm ấy trước hết là ảnh hưởng đến đời sống anh em công nhân, cho nên công nhân, cán bộ phải đoàn kết chặt chẽ khắc phục khuyết điểm đó.

Anh em công nhân đã biết Quốc hội vừa rồi thông qua Luật công đoàn chưa? Cán bộ đã giải thích chưa? Đó là điều rất quan trọng. Quốc hội là đại biểu của nhân dân đã thừa nhận vai trò chủ nhân của giai cấp công nhân, đó là vai trò rất vẻ vang. Nhưng đồng thời muốn làm tròn bổn phận người chủ nhân thì người công nhân cũng phải luôn luôn làm tròn nhiệm vụ của mình. Đấy là ý nghĩa Luật công đoàn, anh chị em chưa được phổ biến, thế là khuyết điểm của cán bộ Đảng, công đoàn và đoàn thanh niên.

Tóm lại, công nhân là giai cấp lãnh đạo, các cô, các chú đã hiểu như thế và đồng bào cũng hiểu như thế, nhưng muốn lãnh đạo thì phải gương mẫu. Vì vậy cần phải khắc phục khuyết điểm, phát triển ưu điểm sẵn có, hoàn thành nhiệm vụ Đảng và Chính phủ giao cho để xứng đáng là ông chủ, bà chủ, xứng đáng là vai trò của giai cấp công nhân Việt Nam, xứng đáng là một bộ phận trong gia đình xã hội chủ nghĩa.

Bây giờ nói đến đồng bào nông dân. Đồng bào nông dân rất cố gắng chống hạn, chống bão, gìn giữ đê điều, rửa chua, cạo mặn, v.v.. Nói tóm lại đồng bào nông dân cần cù, cho nên đã thu được ba vụ tốt. Nhưng mà đồng bào nông dân cũng có khuyết điểm là được ba mùa rồi thì chủ quan, coi nhẹ chăm bón lúa mùa, hoa màu kém hơn năm ngoái. Đồng bào nông dân ta cần hiểu rằng ruộng đất rất tốt, nhưng phải có sự chăm chỉ, cần cù thì mới đem lại hoa màu, thóc lúa, nghĩa là “muốn có ăn thì phải lăn vào ruộng”.

Một điểm nữa, đồng bào nông dân có khuyết điểm là không bảo vệ rừng, không giữ rừng được tốt, làm rừng bừa bãi. Rừng là của Nhà nước. Nhà nước giao cho nông dân quản lý. Cố nhiên đồng bào nông dân có khuyết điểm, nhưng một phần cán bộ chưa tuyên truyền giải thích kỹ, đồng bào nông dân nếu biết rõ thì quyết tâm làm đúng. Chúng ta bảo vệ được rừng tốt, là bảo vệ quyền lợi cho đồng bào nông dân, nói chung là bảo vệ quyền lợi cho cả nước.

Đồng bào nông dân muốn làm ăn tốt hơn trước, phải có tổ chức, phải đoàn kết. Đồng bào nông dân có biết vì sao nông dân Liên Xô được sung sướng không? Vì nông dân Liên Xô tổ chức nông trường hàng vạn mẫu, họ làm chung hưởng chung. Nông dân Trung Quốc hay nông dân Triều Tiên chưa được như nông dân Liên Xô nhưng cũng hơn ta vì họ có tổ chức hợp tác xã. Bây giờ đồng bào ta chưa làm được như thế, nhưng muốn làm ăn tiến bộ thì phải tổ chức tổ đổi công cho tốt.

Qua báo cáo thì huyện Hoành Bồ đã tổ chức tổ đổi công khá, đấy là gương mẫu, các nơi khác cần học tập để làm cho tốt. Các cụ ta xưa có câu:

Một cây làm chẳng nên non,
Nhiều cây chụm lại thành hòn núi cao.

Đồng bào muốn làm hòn núi cao thì phải tổ chức tổ đổi công.

Ở đây còn có đồng bào đánh cá rất cần cù, rất khó nhọc, rất tiết kiệm, thế là tốt. Nhưng có một điều là cần phải cố gắng hơn nữa trong việc tổ chức đoàn kết giúp đỡ lẫn nhau.

Còn đồng bào công thương cũng cố gắng, có ưu điểm, nhưng cũng có khuyết điểm. Khuyết điểm chính là chưa biết giúp đỡ nhân dân và chính quyền chống đầu cơ tích trữ và ổn định vật giá. Vì đầu cơ tích trữ chẳng những hại cho nhân dân mà trước hết cho bà con buôn bán thực thà.

Thuế là một nhiệm vụ mọi người góp phần vào để xây dựng nước nhà, bà con ai chẳng muốn có trường học, có nhà thương; muốn thế thì phải có tiền, phải có sự đóng góp của nhân dân. Nhưng cũng còn một số người chưa đóng sòng phẳng, những người đó không thể đánh lừa Chính phủ được mãi.

Nếu đồng bào công thương biết phát triển ưu điểm và khắc phục khuyết điểm của mình thì sẽ góp phần đóng góp khá quan trọng vào việc xây dựng đất nước và xây dựng kinh tế.

Còn bộ đội, đi ra các nước anh em chỗ nào cũng nói Việt Nam anh dũng, chỗ nào cũng nói Điện Biên Phủ, vì quân đội ta là quân đội nhân dân, con đẻ của nhân dân, bảo vệ nhân dân, đó là nhiệm vụ rất vẻ vang. Quân đội ta cũng có những khó khăn, những khó khăn bây giờ so với trong kháng chiến, so với Điện Biên Phủ chưa thấm vào đâu, vì vậy bộ đội ta đã có truyền thống vẻ vang về chịu đựng gian khổ, khắc phục khó khăn và nay phải phát huy truyền thống đó mà ra sức học tập tiến bộ, ra sức giúp đỡ nhân dân, đoàn kết nhân dân, làm tròn nhiệm vụ vẻ vang mà Đảng và Chính phủ đã giao cho quân đội ta.

Cán bộ Đảng, cán bộ chính quyền không phải làm quan cách mạng, ăn trên ngồi trốc. Cán bộ Đảng cũng như cán bộ chính quyền, ngay cả Bác là cán bộ cao nhất đều là đày tớ của nhân dân, phải hết lòng hết sức phục vụ nhân dân, phải cần, kiệm, liêm, chính. Muốn thế phải gần gũi nhân dân, khuyến khích nhân dân, lãnh đạo nhân dân.

Có một số cán bộ vì không hiểu mình là đày tớ của nhân dân, chỉ muốn ở thành phố để được gần hàng phở, gần người yêu… Nếu như thế thì không làm được nhiệm vụ mình là đày tớ của nhân dân, phục vụ nhân dân. Nhân dịp kỷ niệm 40 năm Cách mạng Liên Xô, tôi nêu một ví dụ: ở Liên Xô, cán bộ Đảng bảo đi đâu thì đi đấy, cả những vùng xa xôi hẻo lánh nhất, thế cho nên có những dân tộc thiểu số trước đây rất lạc hậu, nay tiến bộ rất nhanh. Không trách các cô, các chú ăn phở, gần người yêu, nhưng mà trước hết phải làm tròn nhiệm vụ phục vụ nhân dân.

Giờ nói đến các bà con Hoa kiều. Các bà con Hoa kiều ở đây làm mỏ cũng có, làm ruộng cũng có, buôn bán cũng có, đánh cá cũng có. Trước khi chúng ta được giải phóng, thì Trung Quốc cũng như Việt Nam đều bị đế quốc phong kiến thống trị, đế quốc, phong kiến nó chia rẽ Trung Quốc với Việt Nam làm cho Trung Quốc và Việt Nam ghét lẫn nhau, nó làm cho người Việt Nam, Hoa kiều ghét lẫn nhau. Bây giờ Trung Quốc đã được giải phóng, nửa nước Việt Nam cũng đã được giải phóng, Trung Quốc và Việt Nam cùng tiến lên chủ nghĩa xã hội. Vì vậy, Trung Quốc và Việt Nam không phải chỉ là hai nước láng giềng thôi, mà còn là hai nước anh em. Các cô, các chú đã thấy các đồng chí chuyên gia và công nhân Trung Quốc sang giúp Việt Nam rất nhiều. Vì vậy, bà con Hoa kiều phải đoàn kết với bà con Việt Nam cùng tăng gia sản xuất, thực hành tiết kiệm để cùng phát triển kinh tế, cùng nhau hưởng hạnh phúc.

Thế là tôi vừa nói qua một số sai lầm của anh chị em cán bộ và đồng bào. Vì không có thì giờ nên không thể nói nhiều hơn nữa.

*

*     *

Bây giờ tôi nói sang vấn đề tổ chức công đoàn, thanh niên và Đảng.

Công đoàn là tổ chức công nhân, phải đoàn kết công nhân, giáo dục công nhân, làm cho công nhân hiểu rằng lao động là vẻ vang, hiểu rõ giai cấp công nhân là giai cấp lãnh đạo, chủ nhân nước nhà. Vì vậy, công đoàn cần phải nhắc nhở, giúp đỡ, khuyến khích anh chị em công nhân tăng gia sản xuất, thực hành tiết kiệm và phải xem xét đến đời sống vật chất, đời sống văn hoá của anh chị em công nhân. Đó là nhiệm vụ của công đoàn, cho nên công đoàn là một trường học để thực hiện cải tiến dần dần lên chủ nghĩa xã hội.

Bây giờ thử hỏi công đoàn ta ở đây sinh hoạt có thường xuyên hay không, có thiết thực hay không, có vui vẻ hay không? Tôi chắc cán bộ công đoàn khó trả lời, vì một chứng cớ rõ ràng là Quốc hội đã thông qua Luật công đoàn mà anh chị em đoàn viên chưa biết, đấy là tỏ ra sinh hoạt của đoàn viên không thường xuyên, không hoạt bát, không vui vẻ.

Nói về đoàn thanh niên cũng gần như công đoàn. Vì vậy muốn làm tròn nhiệm vụ của công đoàn, của đoàn thanh niên thì cán bộ công đoàn và đoàn thanh niên phải đoàn kết chặt chẽ, phải gương mẫu trong việc học tập, trong sản xuất, tiết kiệm, trong kỷ luật lao động, luôn luôn gần gũi công nhân, gần gũi thanh niên.

Thanh niên có một điểm đáng khen, nhưng không phải được khen mà tự kiêu, tự đại. Ví dụ như vận động phong trào làm đúng giờ, vận động học nghề, vận động tiết kiệm, thanh niên đã làm được một phần trong ba vấn đề đó, nhưng mới là bước đầu, còn phải cố gắng tiếp tục hơn nữa.

Cán bộ công đoàn và thanh niên phải gần gũi, gương mẫu, nhưng mà cán bộ công đoàn và thanh niên trực tiếp tham gia sản xuất còn ít, chỉ ngồi viết chỉ thị, không trực tiếp sản xuất thì làm sao gần gũi được công nhân, làm sao biết được công nhân muốn gì, lo gì, nghĩ gì? Thế là quan liêu.

Hiện nay 75% nam nữ công nhân là đoàn viên công đoàn và cứ bốn thanh niên có một đoàn viên. Đó là một lực lượng rất tốt, rất mạnh, nếu tổ chức cho khéo, giáo dục cho khéo thì nhất định thực hiện được kế hoạch mà còn vượt mức. Nhưng tổ chức chưa khéo, chưa chặt chẽ, cán bộ còn quan liêu và vì có khuyết điểm cho nên lực lượng to lớn như thế mà nhiệm vụ chưa làm tròn.

Nói đến các cháu nhi đồng, thì bất cứ nước nào, nơi nào cũng rất ngoan, vì các cháu còn non trẻ, thật thà, ngay thẳng, rất tốt, nhưng chính vì cái tốt của các cháu, cho nên “gần mực thì đen, gần đèn thì sáng”. Nghe nói các cháu ở đây có nhiều cháu thường hay bắt chước cái xấu hơn là cái tốt, ra đường thì huênh hoang làm bậy, không nghe lời cha mẹ, không có kỷ luật phép tắc, như thế là không tốt, không xứng đáng là cháu Bác Hồ. Đó là khuyết điểm của các cháu một phần, có thể nói là một phần nhỏ, nhưng khuyết điểm ở các cô các chú, tất cả của người lớn, của xã hội là chính, nhất là của thanh niên, phụ nữ, bởi vì tổ chức của nhi đồng Đảng đã giao cho thanh niên, phụ nữ mà thanh niên, phụ nữ không làm tròn nhiệm vụ của mình, rồi đến khuyết điểm của thầy giáo, trường học và khuyết điểm của bố mẹ không biết làm gương mẫu giáo dục các cháu. Không biết rằng các cháu là người chủ tương lai của xã hội, bây giờ các cháu tốt thì sau này nó cũng tốt, bây giờ xấu thì sau này cũng xấu.

Muốn cho các cháu tốt thì phải giáo dục, tổ chức các cháu. Muốn làm được như thế thì thanh niên, phụ nữ, thầy giáo, gia đình phải liên lạc chặt chẽ với nhau, tìm cách giáo dục sửa chữa cho các cháu thì nhất định các cháu tốt. Đây là một điểm các cô, các chú cần phải chú ý.

Bây giờ tôi nói đến vấn đề Đảng. Đảng là tổ chức tiền phong của nhân dân lao động, mà trước hết là giai cấp công nhân. Đảng lãnh đạo nhân dân làm cách mạng đã thắng lợi. Đảng lãnh đạo nhân dân kháng chiến cũng thắng lợi. Bây giờ chúng ta đang làm nhiệm vụ khôi phục và phát triển kinh tế, củng cố miền Bắc tiến dần lên chủ nghĩa xã hội, tranh thủ miền Nam, đấu tranh giành thống nhất nước nhà. Đảng phải lãnh đạo nhân dân làm việc đó, như thế Đảng ta phải rất mạnh, phải phát triển không ngừng, nhưng phải nhiều về số lượng đồng thời phải có chất lượng tốt mới làm tròn được nhiệm vụ lãnh đạo.

Nhưng trong thực tế ở Hồng Gai hơn một vạn công nhân nam nữ mà chỉ có 78 đảng viên trực tiếp sản xuất, như thế là ít lắm và trong 78 người thì số đồng chí ở ngay địa phương này chỉ có 12 người. Hơn một vạn công nhân sao lại không có mấy trăm người đủ tư cách làm đảng viên. Vì sao có ít thế ? Có phải là việc vào Đảng khó khăn như việc đi lên thiên đường, hay anh em quan niệm đảng viên là thần thánh không? Đấy là vì các cấp uỷ đảng, các cán bộ, đảng viên, các cơ quan chuyên trách của Đảng nhận không rõ nhiệm vụ, làm không tròn nhiệm vụ. Cố nhiên việc lựa chọn người vào Đảng phải rất thận trọng, không để bọn đầu cơ vào để làm quan ăn trên ngồi trốc, cho nên phải chọn lọc rất cẩn thận không được bừa bãi. Nhưng một mặt các cơ quan phụ trách của Đảng phải quan tâm ra sức gần gũi chọn lọc người xứng đáng vào Đảng, một mặt khác phải dựa vào quần chúng để biết được người tốt để mà phát triển Đảng. Cán bộ phải hết sức cố gắng, mà anh chị em công nhân, nông dân, bộ đội cũng phải giúp đỡ Đảng phát triển, vì Đảng mạnh tức là dân mạnh, dân mạnh thì Đảng mạnh, dân, Đảng mạnh thì chúng ta nhất định thắng lợi.

Hồng Quảng là nơi rừng vàng bể bạc rất là phong phú, Hồng Quảng có nhân dân rất là cần cù, có rất nhiều thuận lợi, nếu mà Đảng, chính quyền, công đoàn, thanh niên, mặt trận công tác tốt, nhân dân đoàn kết tốt thì Hồng Quảng nhất định có thể thành một địa phương kiểu mẫu và như thế thì đồng bào Hồng Quảng sẽ góp phần xứng đáng vào công cuộc củng cố miền Bắc, tiến dần lên chủ nghĩa xã hội, tranh thủ miền Nam, xây dựng một nước Việt Nam hoà bình, thống nhất, độc lập, dân chủ và giàu mạnh.

——————————

Nói ngày 4-10-1957.
Sách Bác Hồ với công nhân và nhân dân các dân tộc Quảng Ninh, Ban nghiên cứu lịch sử Đảng Quảng Ninh, 1977, tr.35-46.
cpv.org.vn