Archive by Author | Việt Nam - Hồ Chí Minh

Vĩ nhân đời thường

(Chinhphu.vn) – Tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh là tấm gương đạo đức của một lãnh tụ cách mạng vĩ đại, một người cộng sản vĩ đại đồng thời cũng là tấm gương đạo đức của một người bình thường, ai cũng có thể học theo để làm một người cách mạng, một người công dân tốt hơn.

Yêu thương con người là phải tôn trọng, quý trọng con người

Chủ tịch Hồ Chí Minh kéo lưới cùng ngư dân Sầm Sơn, Thanh Hoá (1960)

Trải qua quá trình 10 năm tìm tòi, khảo nghiệm, năm 1920 khi bắt gặp chủ nghĩa Mác – Lê-nin, Nguyễn Ái Quốc đã tìm thấy ở đây con đường giải phóng dân tộc, tìm thấy cái cẩm nang để giải phóng triệt để con người. Đó là độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội. Bởi theo Người, tình yêu thương con người không thể chung chung, trừu tượng, mà thiết thực, cụ thể, trước hết dành cho người mất nước, người cùng khổ. Chính vì vậy, Người đã nguyện dành cả cuộc đời mình để lo giải phóng cho dân tộc, đấu tranh cho con người thoát khỏi áp bức, bất công

Ngay từ ngày đầu Cách mạng Tháng Tám thành công, tại cuộc họp đầu tiên của Ủy ban nghiên cứu kế hoạch kiến quốc, Người đã nêu rõ mục tiêu của Nhà nước là: Làm cho dân có ăn, làm cho dân có mặc, làm cho dân có chỗ ở, làm cho dân có học hành. Để làm được điều đó, Người đã đề ra nhiệm vụ cấp bách là diệt giặc đói và giặc dốt. Người nhắc nhở nhiệm vụ thường xuyên là xóa đói nghèo, làm cho kinh tế phát triển; người nghèo thì đủ ăn, người đủ ăn thì khá giàu và người khá giàu thì giàu thêm. Kinh tế có phát triển, đời sống đồng bào có ấm no thì đất nước mới cường thịnh.

Đặc biệt, đối với Đảng Cộng sản Việt Nam, một Đảng ra đời từ phong trào cách mạng của nhân dân, có thiên chức lãnh đạo cách mạng vì mục đích phục vụ nhân dân, lấy lợi ích của nhân dân làm lợi ích cao nhất của mình, thì Hồ Chí Minh chỉ rõ rằng: “Tất cả đường lối, phương châm, chính sách… của Đảng đều chỉ nhằm nâng cao đời sống của nhân dân nói chung”([1]).

Người căn dặn cán bộ, đảng viên phải có thái độ yêu kính nhân dân, tôn trọng quyền làm chủ của nhân dân, học hỏi quần chúng, thật thà, ngay thẳng, không giấu dốt, giấu khuyết điểm, giấu sai lầm; khiêm tốn, gần gũi quần chúng; không được kiêu ngạo, phải thực sự cầu thị, không được chủ quan; kiên quyết dựa vào quần chúng, giáo dục và phát động quần chúng tiến hành thắng lợi mọi chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước. Bản thân Chủ tịch Hồ Chí Minh, mặc dù uy tín rất cao, có khả năng thu hút, tập hợp quần chúng rất lớn, được toàn dân suy tôn là “Cha già của dân tộc” nhưng không bao giờ Người xem mình đứng cao hơn nhân dân. Nhận được thư, quà chúc mừng của nhân dân, dù bận trăm công nghìn việc, Người vẫn tự tay viết thư trả lời, cảm ơn một cách thân tình, chu đáo, nêu một tấm gương ứng xử rất văn hóa, đầy khiêm nhường và kính trọng đối với nhân dân.

Biết bao câu chuyện thường ngày đã nói lên tình thương yêu con người, sự quan tâm rất cặn kẽ, tỉ mỉ của Người đối với đồng bào, đồng chí và chiến sĩ. Làm phụ bếp bên nước Anh, khi rửa bát đĩa, Bác để riêng những thức ǎn thừa còn lại, gói vào một gói, khi về mang ra cho những người nghèo khổ ǎn xin ngoài đường. Dự tiệc chiêu đãi ở Paris, ra về Bác dành quả táo cho em nhỏ. Giữa cánh đồng khô nóng Ấn Độ, những giọt nước mắt cảm thông của Người đã rơi trên vai ông lão nông dân áo quần rách nát. Mùa hè đến, mồ hôi thấm áo, Người nghĩ đến những chiến sỹ phòng không trên trận địa nóng bỏng. Đi công tác ở nước ngoài được biết có loại cây lá xanh quanh nǎm không rụng lá, Người nghĩ tới chị lao công đêm đêm vất vả quét lá nên tìm cách đưa loại cây ấy về nước. Đưa anh hùng Trần Thị Lý đi thăm vườn Phủ Chủ tịch, Bác không đưa chị đi trên những con đường sỏi vì Bác biết chân chị dẫm trên sỏi thì ảnh hưởng vết thương trên đầu.

Trái tim Bác là vậy, trải đều tình thương yêu cho đồng bào, đồng chí. Bởi vì Bác quan niệm rằng: Yêu thương con người là phải tôn trọng, quý trọng con người. Bác tôn trọng từ các nhà khoa học, các bậc hiền tài cho tới những người lao công quét rác. Đối với Bác, từ Chủ tịch nước tới người lao động bình thường, nếu hoàn thành tốt nhiệm vụ, đều được coi trọng, đều vẻ vang như nhau.

Tư tưởng yêu thương con người được Hồ Chí Minh nêu lên và vận động mọi người cùng thực hiện suốt cả cuộc đời. Khi nằm trên giường bệnh trong những ngày Người đau nặng, Chủ tịch Hồ Chí Minh không đề cập một lời nào về diễn biến sức khỏe của mình. Những giây phút cuối cùng đó, Bác còn nghĩ đến miền Nam, đến hạnh phúc và niềm vui của đồng bào miền Bắc. Người hỏi: “Trong Nam, mấy hôm nay đánh thế nào?”, Người hỏi “Quốc khánh năm nay, có đốt pháo hoa cho đồng bào vui không?”. Và trong bản Di chúc, khi để lại “muôn vàn tình thương yêu cho toàn dân, toàn Đảng, cho toàn thể bộ đội, cho các cháu thanh thiếu niên và nhi đồng”, và “gửi lời chào thân ái đến các đồng chí, các bầu bạn và các cháu thanh niên, nhi đồng quốc tế”, Người vẫn ân cần nhắc nhở toàn Đảng phải tiếp tục chăm lo cho con người. Trước hết là những người đã hy sinh một phần xương máu cho công cuộc kháng chiến, là cha mẹ, vợ con thương binh, liệt sĩ, là bà con nông dân, là thanh niên, phụ nữ… lo cho hiện tại, lo đào tạo cho tương lai…

Rạng ngời cốt cách vĩ nhân trong đời thường

Với thế giới, cuộc đời cách mạng của Chủ tịch Hồ Chí Minh rất sôi nổi, Người là một trong những nhân vật làm nên thế kỷ XX, với đất nước, Người là vị lãnh tụ tối cao được kính mến nhưng đời sống của Người rất bình thường, vô cùng giản dị, khiêm tốn. Cuộc đời của Người, từ lúc làm một thợ ảnh bình thường ở ngõ hẻm Công-poanh, nước Pháp, đến khi làm Chủ tịch nước sống giữa Thủ đô Hà Nội, vẫn là một cuộc đời thanh bạch, giản dị, tao nhã từ câu nói, tác phong đến vật dùng tư trang hàng ngày, từ ǎn uống đến sở thích sống hoà mình với nhân dân.

Ở nơi đâu Bác cũng tạo nên một không khí bình thản, tự tại, một cuộc sống đầm ấm mang nặng tình đồng chí để vượt qua thử thách, gian nan thiếu thốn của cuộc kháng chiến. Bác yêu cầu chỗ ở cho Bác phải là nơi yên tĩnh, bí mật, nơi có bóng cây thoáng mát và có đất để tǎng gia, gần nguồn nước, phía sau có núi để dễ làm hầm trú ẩn, thuận lợi cho liên lạc dễ dàng di chuyển.

Cách chọn địa điểm dựng lán trại của Bác được anh em ghi thành bài văn vần như sau: “Trên có núi, dưới có sông – Có đất ta trồng – Có bãi ta vui – Tiện đường sang Bộ Tổng – Thuận lối tới Trung ương – Nhà thoáng gió, kín mái – Gần dân không gần đường”.

Kháng chiến thắng lợi, trở về Thủ đô Hà Nội, nhưng Bác không về ở trong ngôi nhà Toàn quyền cũ vì Bác bảo, Bác chứ không phải vua, Chủ tịch một nước còn nghèo, chưa có quyền hưởng thụ quá mức trung bình của người dân. Bác quyết định chọn cho mình ngôi nhà của người thợ điện ngày trước, nơi mà mùa nóng thì nhiệt độ cao hơn hẳn xung quanh, ngày thiếu ánh sáng phải thắp đèn.

Nǎm 1958, Trung ương quyết định xây nhà cho Bác, nhưng Bác đề nghị chỉ nên làm một căn nhà nho nhỏ theo kiểu nhà đồng bào dân tộc ở Việt Bắc, giống như ngôi nhà Bác đã từng ở trong những năm kháng chiến chống thực dân Pháp. Ngôi nhà sàn của Bác được xây dựng bằng gỗ bình thường, được thiết kế theo kiểu nhà sàn của đồng bào dân tộc ở Việt Bắc: nhà hai tầng, xung quanh có mành che, tầng dưới để thoáng. Nét kiến trúc thanh nhã, trang trí không cầu kỳ này khiến công trình trở thành một kiến trúc độc đáo, mang sắc thái riêng nhưng rất hài hoà với thiên nhiên và các công trình kiến trúc xung quanh.

Trong nhà chỉ có những đồ dùng rất gần gũi với Bác: Một chiếc giường đơn trải chiếu cói, cái tủ nhỏ, bộ bàn ghế, trên bàn để đèn, lọ hoa, chiếc máy thu thanh, cái quạt nan, mấy quyển sách cần thiết hàng ngày. Trước nhà là một vườn hoa nhỏ, trồng nhiều loại hoa thơm. Phía ngoài là hàng rào dâm bụt gợi nhớ hình ảnh quê hương Nghệ An, nơi Bác sinh ra và lớn lên. Trong hồ nước rộng hơn 3.000m2 trước nhà sàn, Bác nuôi cá vì theo Người nuôi cá ở đây vừa cải tạo môi trường sống trong lành, cải thiện bữa ăn hàng ngày, vừa là một cách thư giãn thú vị sau giờ làm việc khi Người cho cá ăn. Nhà sàn của Bác hoà hợp với thiên nhiên là thế đấy! Nó tạo ra nét bình dị gần gũi với mọi người dân Việt Nam ở khắp mọi miền Tổ quốc.

Khi đi thǎm các địa phương xa, phải ở lại qua đêm, các đồng chí địa phương thường bố trí cho Bác nơi ở tốt nhất, nhưng Bác cũng không đồng ý. Bác tự chọn cho mình chỗ ngủ, có khi bố trí gần bãi biển, có lúc cạnh trận địa pháo. Chủ tịch Hồ Chí Minh là vậy, với tư tưởng tác phong luôn gần dân, luôn luôn giữ mức sống như của người dân bình thường, hoà cùng nhịp sống, nỗi niềm của người dân.

Không chỉ nơi ở đơn sơ, đồ dùng của Bác cũng thật giản dị. Đôi dép cao su làm từ lốp cũ xe ôtô, Bác dùng đến mòn vẹt phải đóng đinh bao lần. Đôi dép đã theo Bác trên những nẻo đường Pắc Bó, Điện Biên trong kháng chiến, trở về thủ đô Hà Nội khi hòa bình lập lại, sang cả Ấn Độ khi Người đi thăm các nước anh em. Đôi dép đã góp phần tạo nên huyền thoại về một vị Chủ tịch nước dân chủ nhất thế giới như lời báo chí Ấn Độ đã từng ca ngợi. Rồi bộ bà ba nâu, bộ quần áo kaki, đôi tất vá đến hai, ba lần. Chỉ khi đi ra nước ngoài Bác mới mặc áo sơ mi và mới đồng ý may bộ quần áo dạ đen.

Bác thích món cá kho, bát canh và quả cà xứ Nghệ. Bác thích ăn những con cá tự nuôi, những ngọn rau tự trồng và còn chia những thứ đó cho các đồng chí sống gần Bác. Bác ngồi xếp bằng bên cửa sổ nhà sàn ngắm trăng, Bác xắn gọn quần và rảo bước nhanh qua suối hay đi bên bờ ruộng như một cụ già nông thôn thực thụ. Bác còn bế em nhỏ hoặc ngồi bón cơm cho trẻ như bất kỳ một người bình thường nào ta gặp. Bác còn nắm chắc tay gàu sòng tưới nước mà không ngỡ ngàng, lúng túng.

Là Chủ tịch nước nhưng trong nếp sinh hoạt thường ngày những việc nào làm được, Bác tự làm, việc nào không làm được Bác mới nhờ đến những anh em phục vụ. Tất cả những chi tiết đó, hình ảnh đó tự nói lên nhiều điều: một tư thế giản dị, ung dung, tự tại, luôn phù hợp với điều kiện và hoàn cảnh của một lãnh tụ mẫu mực.

Bác là tấm gương tiêu biểu tiết kiệm của công, thái độ giữ gìn tài sản chung của nhân dân được Bác luôn luôn chú ý. Đi đâu Bác chỉ dùng một chiếc xe Pôbêđa do nhân dân Liên Xô gửi tặng. Xe dùng đã lâu ngày nên cũ và hay hỏng vặt, vǎn phòng đề nghị Bác cho đổi xe khác tốt hơn, Bác không đồng ý Bác bảo: “Ai thích đi nhanh, thích êm thì đổi. Còn Bác thì không”.

Câu chuyện cành san hô

Bác rất nghiêm khắc trong việc tự phê bình, Bác căn dặn cán bộ phải “tự phê bình cái sai của mình trong mỗi việc làm, mỗi trận đánh giống như rửa mặt hàng ngày cho sạch vết nhơ”([2]). Đồng chí giúp việc của Bác kể rằng, có lần Tỉnh ủy Quảng Ninh biếu Bác một cành san hô to, đẹp lắm, màu sắc trắng hồng như ngọc. Bác thích lắm dùng làm quà biếu người lãnh đạo một Đảng anh em. Mọi việc thu xếp xong. Cành san hô để ở nhà khách Phủ Chủ tịch, chờ Bác ra xem lần chót rồi bỏ vào hòm, ô tô đợi sẵn, chở ra sân bay, gửi đi.

Lúc để ở nhà khách, anh em xúm lại xem. Thấy nó đẹp quá ai cũng trầm trồ. Ai cũng muốn nhìn và ai cũng muốn sờ một chút. Xô đẩy thế nào đó, một anh lỡ tay đánh rơi, vỡ làm đôi. Mọi người sợ quá, đến mức không dám đứng đấy mà nhận lỗi của mình nữa. Bác cũng bị bất ngờ, tưởng xong đâu đấy hết, thì đã vỡ rồi. Bị bất ngờ như thế nhưng một nét nhíu lông mày Bác cũng không có, một lời nói nặng càng không có nữa. Bác làm vui trước cho anh em. Bác biết là anh em sợ lắm, làm thế nào trấn tĩnh được tinh thần anh em: “Thôi, phận san hô nó mỏng manh, con san hô về đất rồi. Anh em đi đâu, gọi các chú ấy ra đây. Bây giờ Bác, cháu ta tính thế nào nhỉ, lại đây cùng nhau bàn xem gỡ cái chuyện này thế nào”.

Cuối cùng phải lấy một bức ảnh to của Bác, Bác đề tặng và ký vào gửi biếu. Người lỡ tay đánh vỡ con san hô thấy Bác độ lượng như vậy, cảm động, giàn giụa nước mắt. Nhưng mà câu chuyện chưa hết. Đến buổi tối hôm đó, làm việc với đồng chí phụ trách văn phòng xong, Bác bảo: “Hôm nay còn thừa thì giờ, bây giờ chú kể cho Bác nghe cành san hô ấy bị vỡ thế nào?”. Đồng chí này kể lại từ đầu. Bác phát hiện chi tiết này: người đánh vỡ là đồng chí lái xe. Bác bảo: “Thế này nguyên nhân không phải là lỡ tay, giá như là chú, phụ trách văn phòng, hay một chú nào khác có nhiệm vụ cầm cành san hô đặt vào hòm mà đánh vỡ thì đúng là lỡ tay. Đây không phải. Chú lái xe thì có nhiệm vụ gì sờ vào cành san hô. San hô đẹp thì để anh em nhìn ngắm, được rồi, muốn sờ tay vào nó cũng được, nhưng cứ từng người, việc gì phải xúm vào, rồi người xô đằng này, người đẩy đằng kia. Và không có tổ chức, không có nền nếp, xúm vào như thế cho nên mới đi đến chỗ có người lỡ tay ẩy nó rơi vỡ. Nguyên nhân ở trong tổ chức và nếp làm việc, không phải ở chỗ lỡ tay. Nói lỡ tay là nói qua loa cho xong. Nếu chú thấy đúng như thế, lần nào họp, anh em bàn lại chuyện này rút kinh nghiệm, sửa đổi đi. Bảo là lỡ tay, đến lần sau, có cái tặng phẩm đẹp lại xúm vào xem, lại xô, lại đẩy, lại rơi vỡ lần nữa, lại lỡ tay lần nữa”([3]). Bác là như thế. Một sai sót nhỏ cũng không bỏ qua, rút kinh nghiệm để sửa chữa, nhưng vẫn không nói nặng một lời nào.

Rất bình thường và cũng rất sâu sắc, phong cách sinh hoạt của Bác là tấm gương, là cách Bác dạy bảo cán bộ được làm việc gần Bác một cách thiết thực nhất.

Năm 1946, Bác sang Pháp với tư cách khách mời của Chính phủ Pháp, ở khách sạn, Bác không ngủ trên giường mà ngủ trên sàn, ăn sáng vào lúc sáu giờ, và tự giặt lấy quần áo lót… Các đồng chí cùng đi cảm thấy kỳ lạ vì giữa một thủ đô hoa lệ, thành phố ánh sáng như Paris mà Bác cứ khăng khăng giữ những thói quen ở trong nước. Nhưng sau đó thì ai cũng hiểu rằng, Bác muốn cho tất cả cùng theo gương Bác để tự kiềm mình trước mọi cám dỗ của cuộc sống ở đây. Đồng thời, Bác cũng nhắc nhở mọi người rằng nước mình còn nghèo, mà cái nghèo thì không phải dễ dàng nhanh chóng khắc phục, còn phải chịu đựng nó lâu dài, vậy thì thói quen sống giản dị, khiêm tốn là thói quen tốt, cần rèn luyện để giữ nó.

Một nhà báo Australia viết rằng: Người ta không thể trở thành một Cụ Hồ Chí Minh, nhưng ở Cụ Hồ, mỗi người có thể học một số điều làm cho mình trở thành tốt hơn. Cả cuộc đời Bác là tấm gương sáng về sự tận tụy, đức hy sinh vì nước, vì dân, không một chút riêng tư. Bác đã xa chúng ta, nhưng nhân dân ta vẫn còn tìm thấy Bác, vẫn được gặp Bác trong từng hành động cách mạng, trong tình thương yêu với già trẻ, gái trai, trong nét sinh hoạt đời thường rất giản dị, chan hòa, chừng mực, điều độ, ngăn nắp, yêu lao động, rất quý trọng thời gian, chẳng có ham muốn danh lợi riêng cho mình.

Hơn 40 năm đã trôi qua, mỗi một câu chuyện về Bác đều trở thành một bài học vô giá về nhân cách, về đạo đức cho mỗi chúng ta học tập và làm theo trong cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh” mà Đảng và Nhà nước ta phát động. Việc làm theo tấm gương đạo đức của Bác đã và đang trở thành hành động tự giác, tích cực của nhiều cán bộ, đảng viên, quần chúng trên mọi miền đất nước. Tư tưởng của Bác, tấm gương đạo đức của Bác vẫn đang bay cao, tỏa sáng, để tạo dựng nên lớp lớp những chiến sĩ, những cán bộ, những con người của thế hệ Hồ Chí Minh mới trọn đời vì nước, vì dân, vì hòa bình, độc lập và sự tiến bộ trên thế giới. Đúng như lời thủ tướng Ấn Độ I.Gandi đã từng ca ngợi: “Tên tuổi của Người sẽ trường tồn như nhân dân của Người. Đức độ lượng, tính giản dị, tình yêu nhân loại, sự tận tụy hy sinh và lòng dũng cảm của Người sẽ cổ vũ các thế hệ mai sau”([4]).

Bùi Kim Hồng
Giám đốc Khu di tích Hồ Chí Minh tại Phủ Chủ tịch


[1Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.10, tr.380

[2Bác Hồ sống mãi với chúng ta, Nxb Chính trị quốc gia, t.2, tr.205

[3Bác Hồ sống mãi với chúng ta, Sđd, t.2, tr.595

[4Thế giới ca ngợi và thương tiếc Hồ Chủ tịch, Nxb Sự thật, 1970, t.1, tr.160

baodientu.chinhphu.vn

Hồ Chí Minh – Hình ảnh của Người

Người là một người Cộng sản Việt Nam, nhưng khi qua đời cả nhân loại khóc thương Người. Một nhà thơ ở Châu Phi xa xôi đã viết những dòng sau để vĩnh biệt Người:

“Trong cái thế kỷ bạo tàn này, hình ảnh của Người đã đem lại cho chúng ta những kẻ bị tước đoạt quyền làm người và quyền sống, niềm hi vọng và sức mạnh để chiến đấu cho nhân phẩm tự do.

Hồ Chí Minh!

Người là Lãnh tụ của phong trào giải phóng dân tộc và là một danh nhân văn hóa. Nhưng trước hết, trước mắt chúng ta, Người là hình ảnh của một con người”

qdnd.vn

Những ngày 19 tháng 5 với Bác Hồ kính yêu

Mỗi người dân Việt Nam ai cũng biết ngày 19 tháng 5 là một ngày vô cùng ý nghĩa – Ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh kính yêu. Bác Hồ là người sáng lập và lãnh đạo Đảng ta và chính Người cùng Đảng ta lãnh đạo nhân dân làm nên thắng lợi của cuộc Cách mạng Tháng Tám năm 1945, khai sinh nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Thế nhưng, mãi đến ngày 19 tháng 5 năm 1946, năm đó Bác Hồ 56 tuổi, lần đầu tiên nhân dân ta mới có dịp kỷ niệm ngày sinh của Người. Khi đó, tại Bắc Bộ Phủ, Bác Hồ tổ chức tiếp đại biểu các cháu thiếu nhi Thủ đô Hà Nội, các chiến sĩ tự vệ, các hướng đạo sinh và các đại biểu Nam Bộ đến chúc thọ Bác. Bác Hồ đã chụp ảnh chung với các cháu thiếu nhi và nói chuyện với các đại biểu Nam bộ. Tại buổi gặp mặt này, Bác thổ lộ: “Thật ra, các báo ở đây làm to sinh nhật tôi, chứ tuổi 56 chưa có gì đáng chúc thọ, cũng hãy còn như thanh niên cả mà trước các anh các chị trước cảnh êm vui ở Bắc đây, tôi thật thấy làm xấu hổ rằng trong Nam chưa được thái bình”.

Từ đó, ngày 19 tháng 5 hằng năm là ngày sinh của một lãnh tụ, của “cha già dân tộc” ai ai cũng hướng tới. Tuy nhiên, đối với Bác, Người không tỏ ra quan tâm tới sinh nhật của mình, không muốn có sự khác biệt giữa Người với nhân dân. Vì vậy, cứ vào dịp đó, Bác Hồ thường căn dặn các địa phương, các cơ quan, đoàn thể là không nên tổ chức chúc thọ linh đình làm tốn thời giờ, tiền của của nhân dân, trong khi cuộc kháng chiến còn kéo dài, đời sống người dân còn nhiều gian khó. Có lần Bác Hồ đã nói: “Bác cảm ơn các chú đã có lòng, nhưng trong lúc toàn dân ta đang kháng chiến gian khổ, mọi công việc hết sức khẩn trương mà lại còn tổ chức chúc thọ một cá nhân là không nên”. Hoặc có lần Bác nói: “Hôm nay, đồng bào cho tôi nhiều hoa bánh. Những thứ đó đáng giá cả. Xin đồng bào nghĩ đến các đồng bào nghèo khó, hơn là hao phí cho tôi”.

Vào dịp 19 tháng 5 các năm 1960, 1961, 1962, 1965, 1966, Bác Hồ thường ra nước ngoài, trong đó có Trung Quốc. Một dịp, Bác Hồ nói rõ ý của mình với Nguyên soái Diệp Kiếm Anh: “Tôi sang đây vào dịp này là để tránh việc chúc thọ ở trong nước. Vì vậy, tôi yêu cầu các đồng chí cũng không tổ chức chúc thọ”. Một lần khác, Bác Hồ viết thư gửi Đặng Dĩnh Siêu – một cán bộ cao cấp của Đảng Cộng sản Trung Quốc: “Tôi đi Trung Quốc lần này có mục đích và yêu cầu thật đơn gián, đó là đi du lịch, đi để tránh “chúc thọ”, “tránh tặng quà”.

Với mục đích đó, trong tất cả các dịp sinh nhật của mình, nếu không ra nước ngoài thì Bác Hồ thường tránh những cuộc chúc thọ, tặng quà bằng cách xuống cơ sở, đến với đồng bào hoặc nếu vì tình huống bất đắc dĩ, Người thường cố gắng “hoãn binh” bằng những bài thơ rất ý nhị. Trong nhiều dịp 19 tháng 5 Bác Hồ đã để lại cho chúng ta những vần thơ bất hủ về niềm lạc quan, yêu đời, sự say mê quên cả tuổi tác, chỉ mong sao cống hiến nhiều hơn cho sự nghiệp cách mạng, tự do, hạnh phúc cho nhân dân. Vào dịp ngày 19 tháng 5 năm 1949, Bác Hồ làm bài thơ “Không đề”, nói lên tâm trạng của mình:

“Vì nước chưa nên nghĩ đến nhà,
Năm mươi chín tuổi vẫn chưa già.
Chờ cho kháng chiến thành công đã,
Bạn sẽ ăn mừng sinh nhật ta”.

Trước ngày 19 tháng 5 năm 1951, trong một cuộc họp cán bộ các cơ quan Trung ương ở Tuyên Quang, để cảm ơn và đáp lại những lời chúc thọ của mọi người, Bác Hồ đã làm bài thơ mà cho đến nay rất nhiều người trong chúng ta đều thuộc và coi đó như là tấm gương sáng để noi theo:

“Sáu mươi tuổi vẫn còn xuân chán
So với ông Bành vẫn thiếu niên.
Ăn khỏe, ngủ ngon, làm việc khỏe
Trần mà như thế kém gì tiên”.

Trước ngày 19 tháng 5 năm 1953, Bác Hồ làm một bài thơ chữ Hán (Sáu mươi ba tuổi) với niềm lạc quan, yêu đời, phong thái ung dung, tự tại. Bài thơ được dịch là:

“Chưa năm mươi tuổi đã kêu già
Sáu ba mình vẫn nghĩ là đương trai.
Sống quen thanh đạm nhẹ người,
Việc làm tháng rộng ngày dài ung dung”.

Dịp sinh nhật lần thứ 74, tháng 5 năm 1965, Bác lại làm thơ thể hiện mong ước, đau đáu chờ đợi một ngày Bắc – Nam xum họp một nhà:

“Bảy mươi tư tuổi vẫn chưa già
Cố gắng làm tròn nhiệm vụ ta.
Bao giờ Nam – Bắc một nhà,
Dân giàu, nước mạnh thì ta vui lòng”.

Vào ngày 19 tháng 5 năm 1965, Bác Hồ thăm Trung Quốc, tới quê hương của Khổng Tử, thăm khu di tích Khổng phủ, Khổng miếu, Khổng lâm, trên đường về Tế Nam, thủ phủ của tỉnh Sơn Đông, Người đã làm bài thơ chư Hán phỏng Khúc Phụ:

“Mười chín tháng năm thăm Khúc Phụ,
Miếu xưa vẫn dưới bóng tùng xưa.
Uy quyền họ Khổng giờ đâu nhỉ?
Lấp loáng bia xưa chút ánh tà”.

Vào dịp sinh nhật lần thứ 77 của mình, tháng 5 năm 1967, Bác Hồ sang Trung Quốc. Từ Quảng Châu, Người đã viết bài thơ gửi Bộ Chính trị:

“Thời gian đã chóng tựa con thoi,
Thấm thoắt xa nhà một tháng rồi.
Nghìn dặm vui nghe tin thắng trận,
Một mình nằm tính việc xa xôi”.

Vào ngày 20 tháng 5 năm 1968, tại Lễ khai mạc Kỳ họp thứ 4, Quốc hội khóa III, sau khi nghe Báo cáo và lời chúc thọ của các đại biểu dự họp, Bác Hồ có nói: “… lần trước tôi có nói là những thắng lợi của chiến sĩ và đồng bào hai miền làm tôi thấy mình như trẻ lại 20 tuổi. Nhưng nay nghe nói 78 tuổi, thì tôi thấy già đi. Vì vậy, tôi có bài thơ thế này:

Bảy mươi tám tuổi chưa già lắm,
Vẫn vững hai vai việc nước nhà.
Kháng chiến dân ta đang thắng lớn,
Tiến bước, ta cùng con em ta”.

Đồng thời với việc đi cơ sở, gặp gỡ đồng chí, đồng bào, bắt đầu từ năm 1965, vào dịp sinh nhật của mình, Bác Hồ bắt đầu viết “mấy lời” để lại cho mai sau. Bản Di chúc đầu tiên Bác đề “Nhân dịp mừng 75 tuổi”. Cuối bản Di chúc, Bác ghi: “Hà Nội, ngày 15 tháng 5 năm 1965”. Cùng với chữ ký của Người là chữ ký “chứng kiến” của Bí thư Thứ nhất Ban chấp hành Trung ương Đảng Lê Duẩn. Từ đó, mỗi dịp sinh nhật, Bác đem ra xem lại và bổ sung, chỉnh sửa.

Ngày 19 tháng 5 năm 1969, sinh nhật cuối cùng của Người, sau khi tiếp các cháu là con của các đồng chí phục vụ đến chức thọ, Bác xem kỹ lại toàn bộ bản Di chúc mà mình đã viết, bổ sung vào các năm trước. Sau đó, Bác tiếp chị Phạm Thị Quyên (vợ của Anh hùng – Liệt sĩ Nguyễn Văn Trỗi) và chị Nguyễn Thị Châu, Ủy viên Ban Chấp hành Hội Liên hiệp Thanh niên – Sinh viên giải phóng khu Sài Gòn – Chợ Lớn – Gia Định đến chúc thọ. Tiếp đó, Bác viết thư khen các cháu thiếu niên hợp tác xã Măng Non thôn Phú Mẫn, xã Hàm Sơn, huyện Yên Phong, tỉnh Hà Bắc (nay là Bắc Ninh) vì đã có nhiều thành tích trong việc chăm sóc tốt trâu, bò. Đây cũng là bức thư cuối cùng Bác viết gửi cho các cháu thiếu nhi. Cùng ngày, Bác còn tặng ảnh chân dung của mình cho cán bộ và nhân dân tỉnh Nghệ An, Đảng bộ tỉnh Nghệ An, cán bộ, công nhân Nhà máy xi măng Hải Phòng.

Trong suốt 24 năm, kể từ ngày 19 tháng 5 năm 1946, năm đầu tiên nhân dân ta tổ chức kỷ niệm ngày sinh của Bác, đến ngày 19 tháng 5 năm 1969, trước khi từ giã cõi đời này, Chủ tịch Hồ Chí Minh không dành riêng cho mình bất cứ một thứ gì, suốt đời Người dành cho độc lập dân tộc, thống nhất Tổ quốc, tự do, hạnh phúc cho nhân dân. Những ngày 19 tháng 5 là những ngày mà Bác Hồ kính yêu của chúng ta “Nâng niu tất cả chỉ quên mình”.

Vũ Bình Minh
xaydungdang.org.vn

Bài nói với các anh hùng mới được tuyên dương (31-8-1955)

Theo quyết định của Chính phủ, hôm nay, Bộ Quốc phòng Tổng tư lệnh làm lễ long trọng tuyên dương danh hiệu “Anh hùng quân đội” cho 26 chiến sĩ thi đua xuất sắc nhất của quân đội ta. Trong kháng chiến, quân đội ta đã ra sức thi đua giết giặc lập công, đã phát huy truyền thống vẻ vang của quân đội nhân dân và chủ nghĩa anh hùng cách mạng, đã vượt mọi khó khǎn, gian khổ, chiến đấu dũng cảm, đã lập được nhiều chiến công oanh liệt và thành tích vẻ vang, đã đào tạo được nhiều anh hùng và chiến sĩ thi đua xứng đáng là những người con yêu của Tổ quốc.

Hiện nay, quân đội ta đang ra sức củng cố quốc phòng để bảo vệ hoà bình, bảo vệ Tổ quốc, Bác thay mặt Đảng, Chính phủ và nhân dân khen ngợi toàn thể bộ đội và chào mừng các anh hùng được tuyên dương trong dịp này và các chiến sĩ thi đua trong toàn quân.

Nǎm 1952, ở Đại hội thi đua toàn quốc, quân đội ta mới có 4 anh hùng. Nǎm nay, kỷ niệm 10 nǎm xây dựng nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà, chúng ta đã có thêm 26 anh hùng quân đội nữa. Đó là một bước tiến lớn của quân đội và của nhân dân ta trong chiến đấu và trong xây dựng.

Lần này, có đủ anh hùng của tất cả các chiến trường Bắc Trung Nam; của chủ lực, bộ đội địa phương và dân quân du kích; của các đơn vị chiến đấu và đơn vị chuyên môn; của các dân tộc anh em ở toàn quốc; có chiến sĩ đảng viên và chiến sĩ ngoài Đảng.

Các anh hùng đều đã có thành tích xuất sắc, đạo đức cách mạng tốt đẹp. Điều đó chứng tỏ quân đội ta đã trưởng thành về mọi mặt. Nhưng các chú chớ nên lấy như thế là đủ, chớ tự mãn, tự kiêu. Các chú phải cố gắng mãi để tiến bộ mãi.

Nhân dịp này, Bác có mấy điều dặn các chú:

1. Trong 10 nǎm qua, do quyết tâm thi đua mà chúng ta đã thắng lợi lớn: ta đã bảo vệ và phát triển được kết quả của Cách mạng Tháng Tám; đã giải phóng được hoàn toàn miền Bắc, đã đặt được cơ sở vững chắc để đấu tranh thực hiện thống nhất nước nhà và hoàn thành độc lập, dân chủ trong cả nước.

Hiện nay, cũng do quyết tâm thi đua mà ta đã thu được một số thắng lợi trong đấu tranh chính trị, trong việc củng cố miền Bắc và xây dựng quân đội trong hoà bình.

Trong những nǎm kháng chiến, quân đội ta đã đi đầu trong phong trào thi đua, thì ngày nay các chú càng phải ra sức giữ vững lá cờ thi đua.

Trước kia, các chú đã thi đua giết giặc lập công; ngày nay, các chú phải thi đua xây dựng quân đội nhân dân hùng mạnh, làm hậu thuẫn mạnh mẽ cho cuộc đấu tranh củng cố hoà bình, thực hiện thống nhất, độc lập, dân chủ trong cả nước. Tức là phải ra sức luyện tập quân sự, học tập chính trị, nghiêm túc chấp hành mệnh lệnh, triệt để thực hiện chính sách, làm trọn mọi nhiệm vụ mà Đảng và Chính phủ đã giao cho.

2. Cuộc đấu tranh hiện nay để củng cố hoà bình, thực hiện thống nhất, hoàn thành độc lập và dân chủ trong cả nước, là một cuộc đấu tranh gay go, gian khổ. Cho nên các chú phải bền gan vững chí đấu tranh, phải thi đua dẻo dai, bền bỉ, phải quyết tâm giành thắng lợi.

3. Cách mạng có nhiều công việc, việc nào cũng là phục vụ nhân dân, việc nào cũng là quan trọng. Có tinh thần cách mạng làm trọn nhiệm vụ thì làm gì cũng có thể trở thành anh hùng được.

Vì vậy, các chú phải đẩy mạnh thi đua cho rông khắp hơn nữa, làm cho ai nấy, bất kỳ làm việc gì, đều thi đua lập được thành tích lớn hơn nữa, ngành nào cũng thi đua tiến bộ mạnh hơn nữa, học tập và đào tạo được nhiều anh hùng, chiến sĩ hơn nữa.

4. Các chú anh hùng thì cần nhận rõ: Vinh dự của các chú rất lớn, mà nhiệm vụ của các chú cũng rất to, các chú phải luôn luôn cố gắng, tiến bộ mãi. Phải khiêm tốn và gần gũi anh em, làm gương mẫu về mọi mặt. Phải ra sức học tập chính trị, quân sự, chuyên môn và vǎn hoá. Phải trau dồi đạo đức cách mạng, phải thường xuyên phê bình và tự phê bình. Tuyệt đối chớ tự cao tự đại, cho mình là giỏi rồi. Phải luôn luôn nhớ rằng: Thành tích là thành tích tập thể, anh hùng là anh hùng tập thể, chứ không phải là thành tích và anh hùng cá nhân. Đó là vinh dự chung của toàn quân, chứ không phải riêng của cá nhân.

Nói tóm lại, vì dân tộc ta là một dân tộc anh hùng, Quân đội ta là một quân đội anh hùng, cho nên có anh hùng thi đua của quân đội, của dân tộc.

Với sự lãnh đạo và giáo dục của Đảng và Chính phủ, với sự giúp đỡ của tập thể, các chú cố gắng thì nhất định các chú sẽ tiến mạnh. Các chú tiến mạnh, tức là quân đội ta tiến mạnh.

Bác chúc các chú khoẻ mạnh và tiến bộ không ngừng! Chúc quân đội ta thi đua thắng lợi hơn nữa, thêm nhiều anh hùng, chiến sĩ mới nữa!

———————————

Nói ngày 31-8-1955.
Báo Nhân dân, số 547, ngày 1-9-1955.
cpv.org.vn

Lời kêu gọi trong buổi lễ mừng Quốc khánh 2-9-1955

Thưa đồng bào toàn quốc, kiều bào ở nước ngoài,

Thưa toàn thể chiến sĩ và cán bộ,

Thưa các cụ phụ lão, các cháu thanh niên và nhi đồng,

Thưa các đồng chí và các bạn thân mến,

Cách đây 10 năm, cũng ngày hôm nay và ở chỗ này, nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà đã tuyên bố thành lập.

Sau những năm thử thách oanh liệt, nhân dân ta lại vui vẻ chúc mừng 10 năm thành lập nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà.

Ngày hôm nay là một ngày vẻ vang của nhân dân Việt Nam ta, mà cũng là một ngày vui mừng chung của các dân tộc bị áp bức và của nhân dân thế giới yêu chuộng hoà bình.

So với thời gian lịch sử thì 10 năm không phải là dài. Nhưng nhìn lại 10 năm qua, trên thế giới và trong nước ta đã có những biến đổi, những tiến bộ rất to lớn.

– Liên Xô vĩ đại không những đã hàn gắn xong từ lâu những vết thương chiến tranh, mà còn xây dựng thắng lợi chủ nghĩa cộng sản.

– 600 triệu nhân dân Trung Quốc đã làm cách mạng thành công và đang xây dựng chủ nghĩa xã hội.

– Nước Cộng hoà Dân chủ Nhân dânTriều Tiên đã thắng lợi đánh lui cuộc tấn công của quân đội 16 nước xâm lược.

– Các nước dân chủ nhân dân khác đều tiến nhanh trên con đường xây dựng chủ nghĩa xã hội.

– Các nước ấn Độ, Nam Dương, Miến Điện đã thoát khỏi xiềng xích thuộc địa và đã trở nên những nước độc lập, tự do.

– Phong trào dân tộc giải phóng lên mạnh khắp nơi. Nhiều nước tán thành 5 nguyên tắc chung sống hoà bình. Nói tóm lại: trong 10 năm qua, lực lượng hoà bình và dân chủ thế giới phát triển rất mạnh và đã chiếm ưu thế. Chủ nghĩa đế quốc suy yếu rõ rệt. Vừa rồi hội nghị bốn nước lớn ở Giơnevơ lại làm tình hình thế giới dịu bớt, đó là một thắng lợi mới của lực lượng hoà bình.

*

*     *

Trong 10 năm qua, đi đôi với những cuộc biến đổi trên thế giới, nước ta cũng có những biến đổi rất to:

Cuộc kháng chiến chính nghĩa của nhân dân ta đã thắng lợi.

Hội nghị Giơnevơ năm ngoái đã đưa lại hoà bình ở Đông Dương, trên cơ sở các nước công nhận độc lập, chủ quyền, thống nhất và lãnh thổ toàn vẹn của Việt Nam ta và của hai nước láng giềng Miên, Lào.

Miền Bắc nước ta đã hoàn toàn giải phóng.

Nước ta thành một bộ phận khăng khít trong đại gia đình xã hội chủ nghĩa và dân chủ nhân dân gồm có 900 triệu anh em. Đó là những thắng lợi to lớn của nhân dân ta.

*

*     *

Bên những thắng lợi to lớn ấy, hiện nay chúng ta có những khó khăn lớn cần phải khắc phục:

Hoà bình chưa được củng cố. Nước ta tạm thời chia làm hai miền.

ở miền Nam, với sự xui giục và giúp đỡ của đế quốc Mỹ, chính quyền Ngô Đình Diệm ra sức tăng cường quân đội, gây những cuộc xung đột nồi da nấu thịt ở Nam Bộ, khủng bố nhân dân, bóp nghẹt quyền tự do dân chủ, tìm cách trốn tránh hiệp thương với Chính phủ ta nhằm trốn tránh tổng tuyển cử tự do trong toàn quốc và phá hoại thống nhất nước nhà. Nói tóm lại, đế quốc Mỹ và chính quyền Ngô Đình Diệm đang tìm mọi cách để hòng phá hoại Hiệp định Giơnevơ.

Nhưng, mặc dù những âm mưu thâm độc của đế quốc Mỹ và bè lũ tay sai của chúng, nước Việt Nam nhất định sẽ thống nhất, vì nước ta là một khối, không ai chia cắt được. Tổng tuyển cử tự do sẽ phải được thực hiện, vì đó là nguyện vọng thiết tha của toàn thể nhân dân ta từ Bắc đến Nam, mà cũng là sự mong muốn chung của nhân dân yêu chuộng hoà bình thế giới.

Nhân dân và Chính phủ ta kiên quyết thi hành triệt để Hiệp định Giơnevơ.

Chúng ta đòi những nhà đương cục ở miền Nam phải thi hành đúng Hiệp định. Nước Pháp là người đã ký kết Hiệp định, phải tôn trọng chữ ký của mình và làm trọn nhiệm vụ của mình.

Chúng ta mong các nước yêu chuộng hoà bình, nhất là các nước đã dự Hội nghị Giơnevơ cùng các nước có nhiệm vụ giám sát và kiểm soát, ra sức góp phần vào việc thi hành đúng đắn Hiệp định Giơnevơ.

*

*     *

Nhiệm vụ của nhân dân và Chính phủ ta hiện nay là: tiếp tục đấu tranh để Hiệp định Giơnevơ được triệt để thi hành, tức là đấu tranh để củng cố hoà bình, thực hiện thống nhất.

Chúng ta phải ra sức mở rộng và củng cố Mặt trận dân tộc thống nhất.

Chúng ta phải ra sức củng cố miền Bắc về mọi mặt:

– Hoàn thành tốt cải cách ruộng đất;

– Khôi phục kinh tế, đặc biệt chú trọng nông nghiệp;

– Củng cố quốc phòng, củng cố an ninh trật tự;

– Kiên quyết nâng cao dần mức sống của nhân dân, trước hết là của công nhân, bộ đội và công chức, đồng thời giảm nhẹ dần sự đóng góp của nông dân.

Để làm những công việc trên, mọi người và mọi ngành đều phải hăng hái thi đua yêu nước, tăng gia sản xuất và tiết kiệm, tôn trọng và bảo vệ của công, tẩy trừ nạn tham ô, lãng phí.

Chúng ta có thể làm đầy đủ những việc ấy không ? Chúng ta phải làm cho kỳ được và chúng ta nhất định làm được. Vì đồng bào ta rất yêu nước và rất hăng hái, cần cù. Vì chính sách của Đảng và Chính phủ ta đúng đắn, hợp với nguyện vọng của nhân dân. Vì cán bộ ta tận tuỵ. Vì các nước bạn ta, trước hết là Liên Xô và Trung Quốc ra sức giúp đỡ ta một cách vô tư, khảng khái, để chúng ta có thêm điều kiện tự lực cánh sinh.

Nhân dịp này, tôi xin thay mặt Chính phủ và nhân dân ta một lần nữa cảm ơn các nước bạn.

*

*     *

Củng cố miền Bắc tức là giúp đỡ một cách thiết thực đồng bào miền Nam đấu tranh đòi hoà bình và thống nhất.

Đồng bào miền Nam đã góp phần quan trọng vào Cách mạng Tháng Tám, đã kháng chiến anh dũng suốt 9 năm trường. Hiện nay dù đang sống trong cảnh khủng bố, loạn lạc, nhưng chí khí phấn đấu của đồng bào luôn luôn vững bền, đồng bào luôn luôn trung thành với Tổ quốc, luôn luôn hăng hái đấu tranh.

Chính phủ, Đảng và tôi luôn luôn nhớ đến đồng bào. Nhân dịp này, tôi thay mặt Đảng và Chính phủ thân ái gửi lời chào hỏi và khuyên gắng đồng bào miền Nam đang anh dũng phấn đấu cho hoà bình và thống nhất.

*

*     *

Trong 10 năm qua, chúng ta đã khắc phục mọi khó khăn và thu được nhiều thắng lợi. Đó là vì nhân dân ta đoàn kết nhất trí, bộ đội ta rất anh dũng, Đảng và Chính phủ ta lãnh đạo đúng đắn và kiên quyết. Vì bên trong thì chúng ta có Mặt trận dân tộc thống nhất mạnh mẽ, bên ngoài thì chúng ta được sự ủng hộ của nhân dân thế giới yêu chuộng hoà bình.

Từ nay về sau, chúng ta càng phải củng cố và phát triển lực lượng ấy.

Về Mặt trận dân tộc thống nhất, chúng ta cần phải mở rộng và củng cố hơn nữa. Từ Nam đến Bắc, ai là người tán thành hoà bình, thống nhất, độc lập, dân chủ, thì chúng ta sẵn sàng đoàn kết với họ, thật thà hợp tác với họ, dù từ trước đến nay họ đã theo phe phái nào.

Đoàn kết là một lực lượng vô địch.

Lực lượng đoàn kết đã giúp Cách mạng Tháng Tám thành công.

Lực lượng đoàn kết đã giúp kháng chiến thắng lợi.

Lực lượng đoàn kết sẽ động viên nhân dân từ Bắc đến Nam đấu tranh để thực hiện hoà bình, thống nhất, độc lập, dân chủ trong cả nước.

*

*     *

Trước mắt chúng ta, khó khăn còn nhiều. Chúng ta không chủ quan xem nhẹ những khó khăn ấy. Nhưng chúng ta không sợ khó khăn, chúng ta có quyết tâm khắc phục mọi khó khăn và chúng ta nhất định khắc phục được.

Chúng ta mạnh dạn tiến lên với lực lượng đoàn kết nhất trí của toàn dân, với lòng tin tưởng chắc chắn vào tương lai vẻ vang của Tổ quốc, với tinh thần tất thắng của một dân tộc anh hùng. Trong cuộc kháng chiến anh dũng 8, 9 năm qua, chúng ta đã thắng lợi, trong cuộc đấu tranh chính trị ngày nay, chúng ta cũng nhất định thắng lợi.

Nhân dân Việt Nam đại đoàn kết muôn năm!

Nhân dân yêu chuộng hoà bình thế giới đại đoàn kết muôn năm!

Việt Nam hoà bình, thống nhất, độc lập, dân chủ và giàu mạnh muôn năm!

Việt Nam Dân chủ Cộng hoà muôn năm!

————————

Báo Nhân dân, số 548, ngày 2-9-1955.
cpv.org.vn

Quốc khánh lần thứ mười của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà (2-9-1955)

Ngày 2 tháng 9, nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà được mười tuổi và nhân dân Việt Nam từ nay được tự do trên phần lớn lãnh thổ của mình, kỷ niệm ngày Quốc khánh vinh quang này với một niềm phấn khởi và vui mừng không tả xiết.

Ngay từ khi bọn thực dân mới bắt đầu xâm lược và trong gần một thế kỷ, nhân dân Việt Nam đã không ngừng đấu tranh chống bọn xâm lược, tỏ rõ tinh thần dũng cảm và chí khí anh hùng đặc biệt. Những cuộc chiến đấu du kích của Trương Công Định (1) và Trương Quyền ở Nam Bộ (1867)(2), các phong trào kháng chiến năm 1874 và nhất là năm 1884, cuộc đấu tranh trong mười hai năm do Phan Đình Phùng lãnh đạo (1884-1896)(2)và sau đó là cuộc đấu tranh do Hoàng Hoa Thám lãnh đạo(3) cho tới lúc Chiến tranh thế giới thứ nhất sắp bùng nổ, phong trào ở Trung Bộ (1907)(4), cuộc khởi nghĩa Biên Hoà (1914-1915) (5) , cuộc khởi nghĩa ở Huế (1916)(6), cuộc khởi nghĩa Thái Nguyên (1917)(7) , v.v. tất cả những phong trào đó đã chứng tỏ cuộc đấu tranh quyết liệt của nhân dân Việt Nam giành tự do và độc lập dân tộc. Nhưng ở thời đại đó, bọn vua chúa và bọn phong kiến còn chịu trách nhiệm trước lợi ích dân tộc, chúng đã thi hành chính sách đầy tội lỗi là luôn luôn phản bội những nguyện vọng của nhân dân, nên những nguyện vọng này không thể nào thực hiện được.

Cách mạng Tháng Mười vĩ đại đã đem lại một đà thúc đẩy mới cho cuộc đấu tranh của các dân tộc bị áp bức. Việc chính quyền Xôviết trẻ tuổi giải quyết mau chóng vấn đề các thuộc địa cũ của Nga hoàng, trả lại tự do cho các dân tộc, đã có một tiếng vang mạnh mẽ trong tất cả các nước thuộc địa hoặc nửa thuộc địa ở châu á. Chủ nghĩa Mác – Lênin chiến thắng đã chỉ cho tất cả các dân tộc đó con đường tự giải phóng.

Đảng theo chủ nghĩa Mác – Lênin ra đời ở Việt Nam vào tháng 1-1930(8). Trong khi cuộc khởi nghĩa Yên Bái (2-1930)(9) giai cấp tư sản mất hết ảnh hưởng đối với phong trào giải phóng dân tộc thì giai cấp công nhân và quần chúng lao động trong giai cấp nông dân đã tự tổ chức lại chính đảng của mình, chính đảng này đã trở thành người lãnh đạo duy nhất cuộc cách mạng phản đế. Tháng 9-1930, chính quyền nhân dân đầu tiên đã được thành lập ở ba huyện miền Bắc Trung Bộ. Chủ nghĩa đế quốc đã đàn áp phong trào một cách dã man chưa từng thấy…

Nhưng ngay từ năm 1940, nhiều cuộc khởi nghĩa vũ trang lại được tổ chức ở miền Bắc, miền Trung và miền Nam Việt Nam nhằm chống bọn thực dân Pháp và bọn đế quốc Nhật(10). Tuy bị đàn áp, những phong trào khởi nghĩa đó là những tia lửa, những đốm lửa để 5 năm sau bùng nổ thành một cuộc cách mạng đập tan nền thống trị của nước ngoài ở Việt Nam.

Tháng 5-1941, Mặt trận dân tộc thống nhất Việt Minh(11) được thành lập, đó là khối đoàn kết rộng rãi nhất chưa từng có trong phong trào giải phóng dân tộc ở nước chúng tôi. Mặt trận dân tộc, trong đó Đảng là lực lượng chủ yếu, đã động viên và tổ chức các nhóm du kích chiến đấu suốt trong thời gian Chiến tranh thế giới thứ hai, bên cạnh các nước Đồng minh, chống bọn phát xít xâm lược.

Những chiến thắng của quân đội xôviết anh dũng đè bẹp nước Đức của Hítle và sau đó đè bẹp chủ nghĩa đế quốc Nhật đã góp phần mạnh mẽ làm cho Tổng khởi nghĩa 19 tháng 8 năm 1945 thắng lợi và, ngày 2 tháng 9, nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà tuyên bố thành lập.

Như vậy, do chủ nghĩa phát xít thất bại, tình hình thế giới trở nên thuận lợi và Cách mạng Tháng Tám(12)đã thành công vì có được ba điều kiện không thể thiếu được đối với bất cứ một cuộc cách mạng phản đế nào ở một nước thuộc địa; đó là sự lãnh đạo của giai cấp công nhân, sự thành lập một mặt trận dân tộc phản đế rộng rãi, khởi nghĩa vũ trang.

Từ đó, lịch sử nước chúng tôi đã mở ra một chương xán lạn. Nhân dân Việt Nam đã được tự do. Cách mạng Tháng Tám đã giải phóng nhân dân Việt Nam khỏi ách thống trị của bọn thực dân, khỏi mọi sự nô dịch khác của chủ nghĩa đế quốc và khỏi sự bóc lột ghê tởm của bọn phong kiến và bọn quan lại.

Lần đầu tiên nhân dân lao động trở thành người chủ của bản thân mình và của vận mệnh đất nước. Họ bắt tay lao động để trừ bỏ bóng ma khủng khiếp của nạn đói đã giết chết hai triệu người trong những tháng cuối cùng của nền thống trị đế quốc chủ nghĩa (cuối năm 1944 đến năm 1945). Họ cố gắng hàn gắn những vết thương tàn phá do chế độ nô lệ tồi tàn để lại, là chế độ đã kéo dài mãi đến giữa cái thế kỷ đầy các cuộc cách mạng thắng lợi này. Nhân dân lao động đã bầu ra Quốc hội, bắt đầu xây dựng chính quyền nhân dân và thi hành nhiều biện pháp để xoá bỏ mau chóng nạn mù chữ và sự dốt nát do nền thống trị thực dân để lại.

Nhưng bọn thực dân Pháp vẫn mơ tưởng có thể lập lại chế độ áp bức của chúng ở nước chúng tôi. Chúng coi thái độ hoà bình của chúng tôi là một sự yếu đuối. Được các lực lượng phản động Anh – Mỹ khuyến khích, ủng hộ và thông đồng với bè lũ Tưởng Giới Thạch, ngày 23-9-1945(13)chúng đã tấn công vào nhân dân Việt Nam ở Sài Gòn, rồi chúng tìm cách xâm nhập miền Bắc. Tiếp đó, bọn thực dân giày xéo lên những điều mà chúng đã cam kết trong các bản Hiệp định sơ bộ ngày 6-3(14) và Tạm ước ngày 14-9-1946(15), chúng đã gây ra vụ tàn sát ở Hải Phòng, chiếm đóng Lạng Sơn và liên tiếp khiêu khích cho đến ngày 19-12 là ngày bắt đầu cuộc kháng chiến của toàn thể dân tộc chúng tôi chống bọn xâm lược.

Hưởng ứng lời kêu gọi của Đảng và Chính phủ dân chủ, toàn dân đã đứng dậy muôn người như một để bảo vệ Tổ quốc, bảo vệ những thành quả của Cách mạng Tháng Tám.

Cuộc chiến tranh cứu nước bắt đầu trong những điều kiện vật chất bất lợi cho nhân dân Việt Nam: nạn đói còn hoành hành, bọn tay sai của chủ nghĩa thực dân Pháp và của chủ nghĩa đế quốc Nhật còn đầy dẫy, quân đội nhân dân thì mãi đến những cuộc chiến đấu sau này mới thành lập được. Như vậy, trong tình hình trước mắt, quân đội viễn chinh Pháp dường như nắm được ưu thế về quân sự và quân thù đã lợi dụng tất cả những khó khăn của chúng tôi, chúng tưởng rằng những khó khăn đó sẽ giúp chúng mau chóng chiến thắng quân đội trẻ tuổi của chúng tôi và tiêu diệt được Chính phủ dân chủ của chúng tôi. Nhưng tình hình đã xảy ra ngược hẳn lại và chứng tỏ rằng chúng đã lầm to.

Được sự ủng hộ của các giới phản động Mỹ, quân thù đã lập tức tiến hành một cuộc chiến tranh toàn diện chống lại nhân dân Việt Nam. Nhưng dưới sự lãnh đạo của Đảng và Chính phủ, nhân dân Việt Nam đã tập trung cố gắng và không ngừng chiến đấu chống quân thù. Nhân dân Việt Nam đã hết sức đẩy mạnh và phát triển chiến tranh du kích tận các vùng bị địch kiểm soát. Nhân dân Việt Nam đã củng cố được hậu phương và phấn khởi xây dựng quân đội nhân dân của mình. Phối hợp với các chiến sĩ du kích, quân đội nhân dân đã chiến đấu dũng cảm và tiêu diệt quân thù trong nhiều chiến dịch: ở Việt Bắc hồi Thu – Đông năm 1947(16) , trên biên giới Việt- Trung(17)trong những tháng cuối năm 1950, ở vùng trung du và đồng bằng sông Hồng, ở Hoà Bình(18), ở Ba Vì và trên sông Đà năm 1951, ở miền Nam Việt Nam năm 1952, ở Lai Châu năm 1953 và cuối cùng, ngày 7-5-1954 quân đội nhân dân đã giành được thắng lợi quyết định ở Điện Biên Phủ. Chiến thắng Điện Biên Phủ ngay trước hôm Hội nghị Giơnevơ khai mạc đã có ảnh hưởng lớn đến các công việc của Hội nghị và góp phần vào việc ký kết các Hiệp định Giơnevơ đảm bảo lập lại hoà bình ở Đông Dương trên cơ sở thừa nhận các quyền dân tộc của nhân dân Việt Nam, Miên và Lào.

Đồng thời, những âm mưu chính trị của bọn thực dân và đế quốc như “lấy chiến tranh nuôi chiến tranh, dùng người Việt đánh người Việt”, trò hề “độc lập” và “dân chủ” nhằm đánh lạc hướng nhân dân chúng tôi, trò hề “cải cách điền địa” theo kiểu đế quốc…, đều bị phá sản.

Sau hết, trong suốt thời kỳ đó, Đảng và Chính phủ cũng đã quan tâm đến việc xây dựng và phát triển kinh tế, tài chính và văn hoá của nước Cộng hoà dân chủ. Trước hết, cuộc cải cách ruộng đất theo nguyên tắc “người cày có ruộng” bắt đầu được tiến hành. Nhờ cố gắng duy trì và phát triển các ngành thiết yếu của tiểu công nghiệp và thủ công nghiệp, nhân dân và quân đội đã có thêm nhiều hàng tiêu dùng. Việc trồng lúa và hoa màu cũng như các công trình nhằm cải tiến việc tưới nước và chống lụt đều được khuyến khích. Ngành vận tải và giao thông được đảm bảo phát triển trong mức độ cần thiết. Khu vực quốc doanh trong nền kinh tế quốc dân – Ngân hàng quốc gia, và các xí nghiệp thương nghiệp – đã ra đời và không ngừng tiến triển. Nền giáo dục quốc dân, việc giáo dục cho nông dân và binh sĩ, cuộc đấu tranh chống nạn mù chữ, tuy có những điều kiện khó khăn, nhưng đã đạt được những kết quả phi thường.

Như vậy, trong tất cả các lĩnh vực quân sự, chính trị và kinh tế trên đây, nước Cộng hoà dân chủ trẻ tuổi của chúng tôi đã vượt qua một cách vẻ vang sự thử thách của chiến tranh, trong đó theo Lênin mọi đức tính của một dân tộc phải được biểu lộ đầy đủ.

Lòng yêu nước nồng nàn, sự thống nhất về tinh thần và chính trị của nhân dân và quân đội xung quanh Đảng và Chính phủ đã giúp chúng tôi vượt qua những thử thách khó khăn không tưởng tượng được và tạo những điều kiện về chính trị, kinh tế và quân sự để chiến thắng.

Lòng tin tưởng không gì lay chuyển nổi vào thắng lợi của sự nghiệp chính nghĩa của mình đã cổ vũ nhân dân chúng tôi và đã kích thích tinh thần dũng cảm của họ. Những đức tính về đạo đức và tinh thần chiến đấu mà các binh sĩ, các chiến sĩ du kích và các cán bộ của chúng tôi đã học tập được trong lịch sử đặc biệt phong phú của phong trào giải phóng dân tộc, đã giúp quân đội trẻ tuổi của chúng tôi lập được những chiến công lịch sử, tô lên ngọn cờ của mình một niềm vinh quang bất diệt.

Gương sáng của các chiến sĩ và các dân tộc Liên Xô và Trung Quốc đã không ngừng cổ vũ nhân dân, binh sĩ của chúng tôi và góp phần rèn luyện những anh hùng của chúng tôi.

Nhân dân Pháp và tất cả các dân tộc yêu chuộng hoà bình trên thế giới đã có sự ủng hộ rất quý báu đối với chúng tôi. Họ đứng về phía chúng tôi trong những lúc gay go nhất của cuộc kháng chiến và chia sẻ nỗi vui mừng với chúng tôi khi hoà bình được lập lại.

Nước Cộng hoà dân chủ đã giành được một thắng lợi tất nhiên vì đó là thắng lợi của những người bị áp bức đối với kẻ áp bức, thắng lợi của tự do đối với nô lệ. Nhân dân chúng tôi đã thoát khỏi một lần nữa sự nô dịch, những thành quả của Cách mạng Tháng Tám: hoà bình, thống nhất, độc lập và dân chủ đã được bảo vệ và củng cố.

*

*     *

Hoà bình đã được lập lại ở Đông Dương trên cơ sở thừa nhận độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của ba nước: Việt Nam, Lào và Miên.

Hội nghị Giơnevơ năm 1954 đã đem lại hoà bình cho chúng tôi, nhưng chừng nào nước chúng tôi còn bị giới tuyến tạm thời ở vĩ tuyến 17 chia cắt thì hoà bình còn chưa được củng cố. Hơn nữa, thái độ của các nhà cầm quyền miền Nam và những kẻ đỡ đầu họ đang đe doạ nghiêm trọng nền hoà bình vừa mới được lập lại từ hai năm nay.

Quả vậy, nếu bước thứ nhất tức là giai đoạn quân sự ghi trong các Hiệp định Giơnevơ nói chung đã kết thúc một cách mỹ mãn vì toàn bộ lãnh thổ miền Bắc Việt Nam đã được giải phóng, thì ngược lại bước thứ hai, tức là giai đoạn đưa đến thống nhất nước Việt Nam bằng tổng tuyển cử năm 1956, chưa bắt đầu thực hiện được chút nào vì chính quyền Diệm cố tình ngăn trở.

Các nhà cầm quyền miền Nam tàn sát dã man đồng bào chúng tôi và tất cả các lực lượng yêu nước và hoà bình sống ở miền Nam: trong vòng một năm, họ đã gây ra trên ba nghìn vụ tội ác và vi phạm các Hiệp định Giơnevơ. Ít nhất đã có bốn nghìn người yêu nước bị giết hoặc bị thương và trên mười chín nghìn người bị bắt. Ngoài những hành động khủng bố đó, chính quyền Diệm còn ráo riết thi hành đường lối chính trị của Mỹ nhằm biến miền Nam Việt Nam thành một thuộc địa và một căn cứ quân sự của Mỹ, căn cứ này sẽ sáp nhập lâu dài vào phạm vi hoạt động của tổ chức xâm lược Đông – Nam Á (19). Tuy có những hành động như vậy, nhưng Ngô Đình Diệm vẫn tự xưng một cách vô liêm sỉ là “chiến sĩ” của hoà bình, dân chủ và độc lập của Việt Nam.

Tình hình đó quyết định những nhiệm vụ của Chính phủ nước Cộng hoà dân chủ. Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà tự định ra cho mình mục tiêu đầu tiên là thi hành triệt để và đầy đủ Hiệp định Giơnevơ, nghĩa là triệu tập ngay tức khắc hội nghị hiệp thương giữa hai miền Nam và Bắc, đó là bước đầu tiên tiến tới chuẩn bị cuộc tổng tuyển cử tự do để thống nhất đất nước. Như vậy, hoà bình và thống nhất đất nước là những đòi hỏi chủ yếu của chúng tôi trong thời kỳ hiện nay.

Ngoài ra, chúng tôi phải hàn gắn lại những vết thương chiến tranh, nâng cao dần mức sống của nhân dân và xây dựng ở nước chúng tôi một cuộc đời mới thật sự tự do và dân chủ. Để làm được việc đó, một mặt chúng tôi phải khôi phục kinh tế quốc dân: nông nghiệp, thủ công nghiệp, vận tải và công nghiệp. Từ khi được hưởng hoà bình, nhân dân chúng tôi càng hăng hái bước vào con đường đó. Nhưng chúng tôi còn phải phấn đấu rất nhiều để khôi phục lại những ruộng đất bị bỏ hoang, sửa lại đê điều để chống lụt và xây dựng một hệ thống nông giang để đất nước chúng tôi không còn bị hạn hán và đói kém nữa, vì đói kém và hạn hán là hai thứ đi liền nhau như bóng với hình. Mặt khác, trên cơ sở nâng cao năng suất lao động, chúng tôi phải nâng cao dần phúc lợi của nhân dân lao động Việt Nam.

Do chiến tranh, chủ nghĩa thực dân và chế độ phong kiến để lại tình trạng như vậy nên những nhiệm vụ nói trên thật là nặng nề và phức tạp. Nhưng nhờ sự giúp đỡ của các nước anh em, chúng tôi ngày càng có nhiều khả năng và có thể tin tưởng vào một tương lai đầy thắng lợi. Thực vậy, sau các cuộc hội đàm giữa đoàn đại biểu Chính phủ Việt Nam với các nhà lãnh đạo Liên Xô và nước Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa hồi tháng 7, Liên Xô và nước Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa đã quyết định giúp đỡ nước chúng tôi tổng cộng là 1.530 tỷ đồng Việt Nam trong những năm sắp tới. Các nước dân chủ khác cũng có sự giúp đỡ quý báu đối với công cuộc khôi phục của chúng tôi. Sự giúp đỡ đó được tiến hành dưới hình thức trao cho chúng tôi dụng cụ, máy móc và nhân viên kỹ thuật; nhiều khu vực kinh tế và văn hoá Việt Nam được hưởng sự giúp đỡ đó.

Sự giúp đỡ đó là vô tư, vô điều kiện và có ích cho nhân dân, khác hẳn sự “viện trợ” theo quan niệm của bọn đế quốc. Thông qua “viện trợ” của chúng, bọn đế quốc luôn luôn theo đuổi những mục đích bóc lột và nô dịch, điều này đã được kế hoạch Mácsan (20) kế hoạch làm mất dần chủ quyền của các nước được “viện trợ” – chứng minh một cách hùng hồn.

Trong quan hệ đối với các nước khác, chính sách của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà là rõ ràng và trong sáng: đó là một chính sách hoà bình và quan hệ tốt. Chính sách đó dựa trên năm nguyên tắc vĩ đại nêu trong các bản tuyên bố chung Trung – ấn và Trung- Miến, tức là: tôn trọng toàn vẹn lãnh thổ và chủ quyền của nhau, không xâm phạm, không can thiệp vào các công việc nội bộ, bình đẳng và hai bên cùng có lợi, chung sống hoà bình. Đặc biệt Hội nghị Băngđung(21) tỏ rõ rằng những nguyên tắc đó được các giới rộng rãi trong dư luận Á – Phi tán thành.

Chúng tôi đặc biệt mong muốn duy trì những quan hệ hoà bình với các nước láng giềng như Miên và Lào. Đối với nước Pháp, chúng tôi tiếp tục chủ trương rằng trong những điều kiện bình đẳng tuyệt đối và cùng có lợi, trước hết là tin cậy lẫn nhau và hợp tác thẳng thắn, chúng tôi có thể thiết lập những quan hệ đặc biệt về kinh tế và văn hoá với nước Pháp.

Trong ngày Quốc khánh lần thứ mười này, nhìn lại quá khứ, nhân dân chúng tôi có thể tự hào chính đáng về con đường đã qua. Nhưng nhân dân chúng tôi cũng và nhất là hướng về tương lai và thấy được những việc còn phải làm. Chúng tôi còn phải tiến hành một cuộc đấu tranh chính trị khó khăn, lâu dài và phức tạp. Nhưng nếu chúng tôi kiên trì, quyết tâm và nêu cao cảnh giác, nếu Đảng chúng tôi và Mặt trận dân tộc tiếp tục áp dụng những nguyên tắc phê bình và tự phê bình đã được khảo nghiệm – và chúng tôi có đủ mọi lý do để tin tưởng rằng Đảng chúng tôi và Mặt trận dân tộc nhất định sẽ tiếp tục áp dụng những nguyên tắc đó – thì chúng tôi chắc chắn sẽ giành được thắng lợi hoàn toàn.

*

*     *

Trong mười năm vừa qua, phe hoà bình và dân chủ đã đạt được những tiến bộ to lớn, Liên Xô đã chiến thắng bọn xâm lược phát xít và từ đó tới nay đã giành được nhiều thành tựu quan trọng trong công cuộc xây dựng chủ nghĩa cộng sản cũng như trong chính sách đấu tranh cho hoà bình và làm dịu tình hình căng thẳng trên thế giới; các nước dân chủ nhân dân đã được củng cố về mặt chính trị và kinh tế; cách mạng Trung Quốc thắng lợi đã giải phóng cho 600 triệu người đang nhịp bước tiến tới hạnh phúc; được sự ủng hộ anh em của quân chí nguyện Trung Quốc, nhân dân Triều Tiên đã đánh lùi được bè lũ Lý Thừa Vãn và những quân đội nấp dưới lá cờ Liên hợp quốc; nhân dân Việt Nam đã giành được thắng lợi trong cuộc chiến tranh do bọn thực dân Pháp gây ra và đã giành được hoà bình ở Hội nghị Giơnevơ. Lực lượng hoà bình ngày càng lớn mạnh và củng cố được vị trí của mình. Tất cả những thành tựu to lớn đó đã đem lại cho nhân dân chúng tôi một niềm tin tưởng vô hạn vào tương lai huy hoàng của Tổ quốc và vào sự tất thắng của sự nghiệp của chúng tôi.

Mặc dù còn gặp khó khăn và trở ngại, chúng tôi tiến lên phía trước với lòng tin tưởng và tâm hồn của người chiến thắng!

——————————————-

Tuần báo Vì một nền hoà bình lâu dài, vì một nền dân chủ nhân dân, bản tiếng Pháp, số 356, ngày 2-9-1955.

(1) Hội nghị Giơnevơ: Hội nghị Bộ trưởng Ngoại giao của một số nước họp từ ngày 26-4 đến ngày 21-7-1954 tại Giơnevơ (Thuỵ Sĩ). Hội nghị này được triệu tập theo chủ trương của Hội nghị Béclin năm 1954. Chương trình thảo luận của Hội nghị gồm 2 vấn đề: giải quyết hoà bình vấn đề Triều Tiên và lập lại hoà bình ở Đông Dương.

Do thái độ ngoan cố của Mỹ và các nước chư hầu đã tham gia chiến tranh Triều Tiên, cuộc thảo luận về vấn đề Triều Tiên không thu được kết quả.

Ngày 8-5-1954, đúng một ngày sau chiến thắng Điện Biên Phủ, vấn đề chấm dứt chiến tranh lập lại hoà bình ở Đông Dương chính thức được Hội nghị Giơnevơ thảo luận. Phái đoàn Chính phủ ta do đồng chí Phạm Văn Đồng làm Trưởng đoàn tham gia Hội nghị với tư thế đoàn đại biểu của một dân tộc chiến thắng.

Tuyên bố chung của Hội nghị và Hiệp định đình chiến ở Đông Dương được ký kết vào ngày 21-7-1954. Các nước tham gia Hội nghị đã cam kết thừa nhận tôn trọng độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam, Lào và Campuchia; quy định quân Pháp phải rút khỏi Đông Dương và mỗi nước Đông Dương sẽ tuyển cử tự do để thống nhất đất nước.

Bản Tuyên bố chung còn ghi rõ, ở Việt Nam, lấy vĩ tuyến 17 làm ranh giới quân sự và chỉ có tính chất tạm thời, không thể coi đó là biên giới chính trị hoặc lãnh thổ và quy định ở Việt Nam cuộc Tổng tuyển cử tự do để thống nhất đất nước sẽ được tiến hành vào tháng 7-1956. Tr.7.

(2) Cuộc khởi nghĩa Phan Đình Phùng: Cuộc khởi nghĩa chống Pháp nổ ra từ năm 1885 ở vùng Hương Khê, tỉnh Hà Tĩnh và sau đó lan rộng trong 4 tỉnh: Hà Tĩnh, Nghệ An, Quảng Bình, Thanh Hoá. Cuộc khởi nghĩa này do Phan Đình Phùng lãnh đạo. Là một sĩ phu yêu nước, theo tiếng gọi của phong trào Cần Vương, Phan Đình Phùng đã chỉ huy nghĩa quân kiên trì chiến đấu, cho mãi tới khi ông lâm bệnh mất năm 1895, kẻ địch mới đàn áp được cuộc khởi nghĩa. Tr.51.

(3) Cuộc đấu tranh của Hoàng Hoa Thám: Cuộc khởi nghĩa chống Pháp của nông dân Yên Thế (Hà Bắc), nổ ra từ năm 1885. Năm 1888 ông Hoàng Hoa Thám tham gia nghĩa quân. Dũng cảm, có tài quân sự, biết thu phục lòng người nên ông dần dần trở thành lãnh tụ và linh hồn của cuộc khởi nghĩa. Dưới sự lãnh đạo của ông, nghĩa quân hoạt động du kích rất linh hoạt trong các vùng ở Lạng Sơn, Thái Nguyên, Vĩnh Yên, Phúc Yên, Bắc Giang, Bắc Ninh, v.v.. Năm 1913, Hoàng Hoa Thám bị bọn phản động sát hại, cuộc khởi nghĩa bị dập tắt. Tr.51.

(4) Phong trào đấu tranh ở Trung Kỳ năm 1907: Đây là Chủ tịch Hồ Chí Minh nói về phong trào chống đi phu, chống sưu thuế năm 1908. Phong trào lúc đầu bùng nổ ở Quảng Nam, sau lan rộng ra Phú Yên, Thừa Thiên, Hà Tĩnh, Nghệ An, Thanh Hoá. Mục tiêu trước mắt của cuộc đấu tranh là chống sưu thuế, chống chế độ bắt phu (đương thời gọi là đi “xâu”).

Lúc đó, học ở trường Quốc học Huế với tên Nguyễn Tất Thành, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã tham gia phong trào này. Tr.51.

(5) Cuộc khởi nghĩa Biên Hoà: Tháng 1-1916, nhiều cuộc đấu tranh của nhân dân ta nổi lên ở Biên Hoà, Trà Vinh, chống lại việc thực dân pháp bắt lính đi làm bia đỡ đạn cho chúng ở chiến trường châu Âu. Những người bị Pháp bắt giam ở nhà lao Biên Hoà đã nổi dậy cướp súng của lính bắn vào các cơ quan chính quyền Pháp. Đỉnh cao của phong trào chống bắt lính là cuộc đánh phá khám lớn Sài Gòn ngày 15-2-1916. Tr.51.

(6) Cuộc khởi nghĩa ở Huế: Tháng 5-1916, tại Huế và Quảng Nam, Quảng Ngãi đã bùng nổ cuộc khởi nghĩa của nhân dân và binh lính người Việt bị thực dân Pháp tập trung chờ ngày đưa xuống tàu sang chết thay cho chúng trên chiến trường châu Âu. Nhiều tác phẩm của Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nhắc tới phong trào này. Tr.51.

7. Cuộc khởi nghĩa ở Thái Nguyên: Cuộc khởi nghĩa của binh lính Việt Nam trong quân đội Pháp ở Thái Nguyên tháng 8-1917, do Trịnh Văn Cấn và Lương Ngọc Quyến lãnh đạo. Thực dân Pháp phải đưa quân từ Hà Nội lên đàn áp. Sau 6 ngày chiến đấu quyết liệt, Lương Ngọc Quyến hy sinh, nghĩa quân rút về hoạt động ở vùng rừng núi Thái Nguyên, Vĩnh Yên, Phúc Yên và Hoà Bình, Sơn Tây (Hà Tây). Tr.51.

(8) Đảng theo chủ nghĩa Mác – Lênin ra đời ở Việt Nam: Vào những năm 1928-1929, phong trào đấu tranh cách mạng của nhân dân ta tiếp tục dâng lên khắp đất nước. Chủ nghĩa Mác-Lênin đã được truyền bá mạnh mẽ trong phong trào công nhân và phong trào yêu nước. Một trào lưu cách mạng mới xuất hiện, đòi hỏi phải có sự lãnh đạo của một chính đảng thực sự của giai cấp công nhân.

Những phần tử tiên tiến trong phong trào cách mạng đã nhận thức được tình hình đó và đã đứng ra thành lập những tổ chức cộng sản đầu tiên.

Ngày 17-6-1929, Đông Dương Cộng sản Đảng được thành lập ở Hà Nội. Đông Dương Cộng sản Đảng ra Chánh cương, Tuyên ngôn, nêu rõ đường lối của Đảng là làm cách mạng dân chủ tư sản do giai cấp vô sản lãnh đạo, tiến lên cách mạng xã hội chủ nghĩa, thực hành công nông liên hiệp. Sự ra đời của Đông Dương Cộng sản Đảng đã thúc đẩy phong trào cộng sản ở trong nước tiến mạnh. Tháng 7-1929, An Nam Cộng sản Đảng cũng được thành lập. Tháng 9-1929, những đảng viên ưu tú của Đảng Tân Việt ra tuyên bố thành lập Đông Dương Cộng sản Liên đoàn.

Trong vòng 4 tháng, ba tổ chức cộng sản liên tiếp ra đời. Sự kiện đó chứng tỏ việc thành lập Đảng Cộng sản là yêu cầu phát triển của phong trào công nhân và phong trào yêu nước ở Việt Nam năm 1929. Nhưng lợi ích của giai cấp công nhân và nhân dân lao động, cũng như nguyên tắc tổ chức của chính đảng Mác – Lênin không cho phép tồn tại tình hình là trong một nước mà có ba tổ chức cộng sản. Vì vậy tổ chức một đảng duy nhất của giai cấp công nhân là yêu cầu bức thiết của phong trào cách mạng ở Việt Nam lúc đó.

Nhận được tin có các tổ chức cộng sản ở Việt Nam, Quốc tế Cộng sản đã gửi thư kêu gọi các tổ chức cộng sản này thống nhất lại.

Sau khi nắm được tình hình trên, Nguyễn ái Quốc, với tư cách là đại diện của Quốc tế Cộng sản, đã triệu tập Hội nghị hợp nhất các tổ chức cộng sản ở Việt Nam. Đông Dương Cộng sản Đảng, An Nam Cộng sản Đảng đã cử đại biểu đến dự Hội nghị. Riêng Đông Dương Cộng sản Liên đoàn, không kịp cử đại biểu đến dự được, sau Hội nghị này, đã xin gia nhập vào Đảng Cộng sản Việt Nam.

Hội nghị hợp nhất mang tầm vóc lịch sử của một Đại hội thành lập Đảng. Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời đánh dấu một bước ngoặt lịch sử vĩ đại của cách mạng Việt Nam. Tr.52.

(9) Cuộc bạo động Yên Bái: Cuộc khởi nghĩa do Việt Nam Quốc dân đảng tổ chức và thực hiện. Việt Nam Quốc dân đảng là một tổ chức cách mạng theo xu hướng quốc gia tư sản, thành lập ngày 25-12-1927.

Do đường lối tổ chức không chặt chẽ, lại kết nạp đảng viên dễ dãi, để bọn mật thám chui vào nên đầu năm 1930, cơ sở của đảng bị vỡ ở nhiều nơi, nhiều cán bộ, đảng viên bị bắt. Trước tình hình đó, các lãnh tụ của Đảng là Nguyễn Thái Học và Nguyễn Khắc Nhu quyết định khởi nghĩa, vì cho rằng: đằng nào đảng cũng bị khủng bố và bị tiêu diệt, cho nên cứ bạo động, “không thành công cũng thành nhân”.

Ngày 11-2-1930, 10 giờ tối, bạo động đã nổ ra. Nghĩa quân chiếm các đồn Pháp ở Yên Bái. Một bộ phận binh lính Việt Nam trong quân đội Pháp phản chiến tham gia vào quân khởi nghĩa. Nghĩa quân chiếm được nhà dây thép, nhà ga, phát truyền đơn, hô hào quần chúng và binh lính hưởng ứng. Ngay sáng hôm sau, thực dân Pháp đã phản công, cuộc bạo động bị thất bại. Trong vòng một tuần, phong trào khởi nghĩa bị dập tắt ở các nơi. Nguyễn Thái Học và các lãnh tụ khác bị bắt và bị xử tử. Việt Nam Quốc dân đảng cũng bị tan rã.

Trong lúc Việt Nam Quốc dân đảng chuẩn bị khởi nghĩa, Nguyễn ái Quốc đang ở Xiêm (Thái Lan). Nghe tin đó, Nguyễn ái Quốc đã nhận xét: “Cuộc bạo động nổ ra lúc này là quá sớm, và khó thành công”. Người muốn gặp các lãnh tụ của Việt Nam Quốc dân đảng để “bàn lại kế hoạch” nhưng không thực hiện được. Trong lúc Nguyễn ái Quốc vượt biên giới Thái Lan đến Trung Quốc, cuộc bạo động đã được chuẩn bị và vẫn nổ ra như trên. Tr.52.

(10) Các cuộc khởi nghĩa vũ trang trong năm 1940 và đầu năm 1941.

– Khởi nghĩa Bắc Sơn: Nổ ra đêm 27-9-1940 ở Bắc Sơn (thuộc tỉnh Lạng Sơn). Lúc bấy giờ bọn thực dân Pháp đã đầu hàng phát xít Đức ở chính quốc, bọn thực dân Pháp ở Đông Dương rất hoang mang dao động. Khi quân Nhật tiến vào Lạng Sơn, chính quyền tay sai Pháp ở đây đã tan rã nhanh chóng. Chớp thời cơ đó, đảng bộ địa phương đã phát động khởi nghĩa.

Khoảng 600 quân khởi nghĩa có vũ trang đã nổi dậy chiếm đồn Mỏ Nhài, viên tri châu chạy trốn, nguỵ quyền tan rã, nhân dân hoàn toàn làm chủ châu lỵ và các vùng trong châu. Đội du kích địa phương được thành lập.

Nhưng sau đó, Nhật – Pháp lại thoả hiệp với nhau để đàn áp cuộc khởi nghĩa. Hội nghị Trung ương Đảng tháng 11-1940 đã quyết định duy trì đội du kích Bắc Sơn làm nòng cốt xây dựng lực lượng vũ trang và thành lập căn cứ địa Bắc Sơn – Vũ Nhai do Trung ương trực tiếp chỉ đạo.

– Khởi nghĩa Nam Kỳ: Nổ ra ngày 23-11-1940 ở hầu hết các tỉnh miền Nam, nhất là ở Mỹ Tho. Quần chúng nổi dậy rất dũng cảm, nhiều đồn bốt bị hạ, nhiều đường giao thông bị phá… Chính quyền địch ở một số nơi tan rã. ở những nơi đó, chính quyền cách mạng được thành lập và thực hiện những cải cách dân chủ. Cờ đỏ sao vàng lần đầu tiên xuất hiện.

Cuộc khởi nghĩa này nổ ra khi chưa có chỉ thị của Trung ương Đảng, điều kiện khách quan và chủ quan chưa chín muồi, bọn phản động lại lọt vào hàng ngũ cách mạng và nắm được kế hoạch của cuộc khởi nghĩa, cho nên thực dân Pháp đã đàn áp đẫm máu cuộc khởi nghĩa này và cuối cùng cuộc khởi nghĩa bị thất bại.

Cuộc khởi nghĩa Nam Kỳ vừa nổ ra thì ngay ngày hôm sau, Trung ương Đảng ta đã ra thông báo khẩn cấp gửi các cấp bộ Đảng, kêu gọi ủng hộ cuộc khởi nghĩa Nam Kỳ.

– Khởi nghĩa Đô Lương: Cuộc bạo động của binh lính Việt Nam trong quân đội tay sai của thực dân Pháp, do Nguyễn Văn Cung (còn gọi là Đội Cung) lãnh đạo, nổ ra ngày 13-1-1941. Binh lính yêu nước đã nổi dậy đánh chiếm đồn Chợ Rạng (Đô Lương, Nghệ An) và sau đó tiến về đánh chiếm Vinh. Nhưng kế hoạch bị lộ, những người tham gia bạo động bị bắt, cuộc khởi nghĩa bị thất bại. Tr.52.

(11) Mặt trận Việt Minh (hoặc Việt Minh): Là tên gọi tắt của Hội Việt Nam độc lập đồng minh, được thành lập tại Pác Bó (Cao Bằng), ngày 19-5-1941, theo sáng kiến của Chủ tịch Hồ Chí Minh trước đó và theo Nghị quyết Hội nghị lần thứ tám của Ban Chấp hành Trung ương Đảng (tháng 5-1941), nhằm mở rộng Mặt trận dân tộc thống nhất chống thực dân Pháp và phát xít Nhật. Hội gồm các thành viên là Đảng Cộng sản Đông Dương và các Hội cứu quốc như Hội Công nhân cứu quốc, Hội Nông dân cứu quốc, Hội Thanh niên cứu quốc, Hội Phụ nữ cứu quốc, Hội Quân nhân cứu quốc, Hội Phụ lão cứu quốc, Hội Phật giáo cứu quốc, Hội Nhi đồng cứu quốc, v.v.. Đây là một mặt trận dân tộc thống nhất rộng rãi, tập hợp đông đảo các tầng lớp nhân dân, các đảng phái chính trị và tôn giáo yêu nước, thành một lực lượng cách mạng hùng mạnh để chống kẻ thù chính của dân tộc Việt Nam lúc ấy là thực dân Pháp và phát xít Nhật.

Sau khi Cách mạng Tháng Tám thành công, theo chủ trương của Đảng nhằm mở rộng mặt trận dân tộc thống nhất để kháng chiến và kiến quốc, Hội liên hiệp quốc dân Việt Nam ra đời (gọi tắt là Liên Việt). Việt Minh đã gia nhập Liên Việt cùng nhau vận động nhân dân tham gia cuộc đấu tranh chống thực dân Pháp. Ngày 5-3-1951, tại Đại hội Mặt trận thống nhất dân tộc toàn quốc, đã thống nhất hai tổ chức Việt Minh và Liên Việt thành Mặt trận Liên – Việt. Khi cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp kết thúc thắng lợi, để đáp ứng tình hình và nhiệm vụ mới, tháng 9-1955, Mặt trận Liên – Việt được tổ chức lại thành Mặt trận Tổ quốc Việt Nam. Tr.52.

(12) Cách mạng Tháng Tám: Cuộc cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân ở Việt Nam diễn ra và thắng lợi vào tháng 8-1945.

Ngày 9-3-1945, phát xít Nhật đảo chính thực dân Pháp ở Đông Dương, Đảng ta đã kịp thời phát động phong trào chống Nhật cứu nước, chuẩn bị tổng khởi nghĩa giành chính quyền. Ngày 13-8-1945, được tin phát xít Nhật sắp đầu hàng Đồng minh, quân Nhật ở Đông Dương và bè lũ tay sai hoang mang cực độ, Đảng ta đã chớp lấy thời cơ ấy, quyết định tổng khởi nghĩa.

Từ ngày 14 đến 28-8-1945, nhân dân ta dưới sự lãnh đạo của Đảng đã nhất tề vùng lên tổng khởi nghĩa giành chính quyền trong cả nước. Ngày 2-9-1945, tại cuộc mít tinh lớn ở vườn hoa Ba Đình, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã long trọng tuyên bố trước nhân dân Việt Nam và thế giới: Nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà ra đời. Tr. 53.

(13) Ngày 23-9-1945: Thực dân Pháp, được thực dân Anh ủng hộ, đã nổ súng đánh chiếm Sài Gòn, thực hiện âm mưu nhanh chóng chiếm lại nước ta. Xứ uỷ Nam Bộ quyết định phát động nhân dân kiên quyết kháng chiến chống xâm lược. Chiều ngày 23-9, đồng bào Sài Gòn – Chợ Lớn triệt để tổng đình công, không hợp tác với giặc. Chợ ngừng họp, xe cộ ngừng chạy, các hiệu buôn, nhà máy đóng cửa… Các chiến sĩ tự vệ công nhân, tự vệ thanh niên, các đội xung phong công đoàn, cảnh sát chiến đấu, công an xung phong cùng toàn thể đồng bào, với mọi thứ vũ khí có trong tay, dũng cảm đánh trả bọn xâm lược. Một loạt kho tàng của địch bị đánh phá, điện, nước bị cắt. Các đội vũ trang đột nhập sân bay Tân Sơn Nhất, đột nhập bến cảng đốt cháy tàu giặc vừa cập bến. Quân Pháp nhiều lần tiến ra phía cầu Bông, cầu Kiệu, cầu Thị Nghè đều bị chặn lại…

Dưới sự lãnh đạo của Xứ uỷ, nhân dân Sài Gòn – Chợ Lớn đã kiên quyết kháng chiến, mở đầu cuộc kháng chiến anh dũng của đồng bào Nam bộ. Tr. 53.

(14) Hiệp định sơ bộ 6-3: Cuối tháng 2-1946, được sự đồng tình của đế quốc Mỹ, Pháp đã ký với Chính phủ Tưởng Giới Thạch ở Trùng Khánh một bản Hiệp ước cho quân Pháp vào thay thế quân Tưởng ở miền Bắc Đông Dương. Mặc dù vậy, bọn quân phiệt Tưởng vẫn trì hoãn việc rút quân về nước, kéo dài sự có mặt của chúng ở Việt Nam để cướp bóc nhân dân ta và phá hoại cách mạng nước ta.

Để loại trừ bớt một kẻ thù nguy hiểm của cách mạng và cũng để tranh thủ thời gian củng cố lực lượng kháng chiến ở Nam Bộ, chuẩn bị lực lượng ở miền Bắc để đối phó với nguy cơ chiến tranh trong phạm vi cả nước, ngày 3-3-1946 Ban Thường vụ Trung ương Đảng đã ra Chỉ thị Tình hình và chủ trương phân tích sâu sắc tình hình, âm mưu và thủ đoạn xảo quyệt của bọn đế quốc và tay sai và nêu lên chủ trương tạm thời hoà hoãn với Pháp. Chỉ thị cũng vạch ra những nguyên tắc cơ bản cho việc đàm phán giữa ta và Pháp. Ngày 5-3-1946, Hội nghị mở rộng của Ban Chấp hành Trung ương Đảng đã tán thành chủ trương trên của Ban Thường vụ Trung ương Đảng.

Thực hiện chủ trương đó, ngày 6-3-1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ký với đại diện Chính phủ Pháp Hiệp định sơ bộ tại số nhà 36 Lý Thái Tổ, Hà Nội.

Nội dung cơ bản của bản Hiệp định sơ bộ là: Chính phủ Pháp công nhận nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà là một quốc gia tự do nằm trong khối Liên hiệp Pháp. Nước Việt Nam có Chính phủ, Nghị viện, quân đội và tài chính riêng. Sự thống nhất đất nước sẽ do trưng cầu ý dân quyết định. Chính phủ Việt Nam đồng ý cho 15.000 quân Pháp được vào thay thế quân Tưởng rút về nước. Số quân đó phải đóng ở những nơi được quy định và phải rút khỏi Việt Nam trong vòng 5 năm, mỗi năm rút một phần năm. Quân đội hai bên ngừng bắn và ở nguyên vị trí đóng quân.

Trong hoàn cảnh lịch sử đó, việc ký Hiệp định sơ bộ là một trong những sách lược cách mạng đúng đắn, sáng suốt. Nó đã tạo điều kiện để chúng ta tổ chức lại cuộc kháng chiến ở Nam Bộ; đuổi nhanh quân Tưởng về nước, diệt bọn Việt gian tay sai của Tưởng, giành thêm thời gian hoà bình để xây dựng và củng cố lực lượng của ta chuẩn bị cuộc kháng chiến lâu dài chống thực dân Pháp xâm lược. Tr.53.

(15) Tạm ước 14-9: Bản Tạm ước do Chủ tịch Hồ Chí Minh ký với Chính phủ Pháp, tại Pari ngày 14-9-1946.

Do thái đội ngoan cố và hiếu chiến của thực dân Pháp, cuộc đàm phán giữa Chính phủ ta và Chính phủ Pháp tại Phôngtennơblô không đi đến kết quả. Chủ tịch Hồ Chí Minh thấy rõ nguy cơ của một cuộc chiến tranh ác liệt có quy mô cả nước mà Người dự đoán từ trước, đã đến gần. Để có thêm thời gian chuẩn bị cho cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và để tỏ thiện chí của Chính phủ ta, Chủ tịch Hồ Chí Minh lúc đó đang ở Pari với tư cách là thượng khách của Chính phủ Pháp, đã tranh thủ dàn xếp, ký với Chính phủ Pháp bản Tạm ước này.

Nội dung cơ bản của bản Tạm ước là sự thoả thuận tạm thời giữa ta và Pháp về một số vấn đề bức thiết có tính chất bộ phận. Chính phủ Pháp phải thi hành các quyền tự do, dân chủ và phải ngừng bắn ở Nam Bộ; Chính phủ ta tạm thời nhân nhượng thêm cho Pháp một số quyền lợi về kinh tế và văn hoá ở Việt Nam; quy định thời gian tiếp tục cuộc đàm phán Việt – Pháp vào tháng 1-1947.

Tạm ước 14-9 là một sách lược ngoại giao tài tình của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Tạm ước đã tạo điều kiện để nhân dân ta có thêm thời gian hoà bình, chuẩn bị lực lượng về mọi mặt để tiến hành cuộc kháng chiến lâu dài chống thực dân Pháp xâm lược. Tr. 53.

(16) Chiến dịch Việt Bắc Thu – Đông năm 1947: Để thực hiện ý đồ tiêu diệt cơ quan đầu não của cuộc kháng chiến và bộ đội chủ lực của ta, giành thắng lợi quyết định về quân sự và nhanh chóng kết thúc cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam, ngày 7-10-1947, thực dân Pháp đã huy động 20.000 quân tinh nhuệ được trang bị đầy đủ vũ khí, phương tiện hiện đại, mở cuộc hành quân tấn công lên Việt Bắc.

Thi hành Chỉ thị của Đảng ta “Phải phá tan cuộc tấn công mùa Đông của giặc Pháp”, bảo vệ cơ quan đầu não của kháng chiến, quân và dân ta đã anh dũng chiến đấu đánh địch ở khắp các mặt trận và lập những chiến công vang dội tại Đoan Hùng, Khe Lau, Sông Lô, Bông Lau, Phủ Thông, Đèo Ràng, v.v..

Sau gần 3 tháng chiến đấu (từ 7-10 đến 22-12-1946), quân và dân ta đã đánh hơn 200 trận, loại khỏi vòng chiến đấu hơn 7000 tên địch; bắn rơi 18 máy bay; bắn chìm và bắn cháy 54 ca nô, tàu chiến; phá huỷ 255 xe cơ giới; thu hàng nghìn súng các loại và nhiều đồ dùng quân sự khác. Âm mưu thâm độc của thực dân Pháp hòng nhanh chóng kết thúc cuộc chiến tranh xâm lược nước ta đã bị thất bại. Tr.54.

(17) Chiến dịch Cao – Bắc – Lạng (Cao Bằng, Bắc Cạn, Lạng Sơn): Tức là chiến dịch Biên giới thu đông năm 1950, còn gọi là chiến dịch Lê Hồng Phong II được tiến hành theo quyết định hồi tháng 6-1950 của Ban Thường vụ Trung ương Đảng và của Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Mục đích của chiến dịch là tiêu diệt một bộ phận quan trọng sinh lực địch, mở rộng và củng cố căn cứ địa Việt Bắc, phá tan vòng vây của chủ nghĩa đế quốc với ta.

Đầu tháng 9-1950, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã lên đường ra mặt trận.

Sáng ngày 16-9-1950, chiến dịch bắt đầu. Bộ đội ta đánh chiếm Đông Khê, một căn cứ quan trọng của địch trên tuyến phòng ngự đường số 4, nằm giữa Lạng Sơn và Cao Bằng. Bị mất Đông Khê, quân đội Pháp quyết định rút khỏi Cao Bằng theo kế hoạch: Một mặt dùng gần hết lực lượng dự bị còn lại ở Bắc Bộ để mở cuộc hành binh Phốccơ (Phoque) lên chiếm thị xã Thái Nguyên, mặt khác, dùng binh đoàn Lơ Pagiơ mở cuộc hành binh Têredơ (Therèse) từ Lạng Sơn theo đường số 4 rút về.

Sáng ngày 7-10-1950, quân ta tiêu diệt toàn bộ binh đoàn Lơ Pagiơ tại Cốc Xá cách Đông Khê 7 kilômét. Chiều ngày 7-10-1950, quân ta lại tiêu diệt gọn binh đoàn Sáctông tại điểm cao 477 ở gần Cốc Xá về phía Tây. Binh đoàn từ Thất Khê lên ứng cứu cũng bỏ chạy. Tại Thái Nguyên, quân địch bị quân ta chặn đánh dữ dội, đã phải tháo chạy.

Trong 13 ngày (từ 10 đến 23-10-1950), địch liên tiếp bỏ các vị trí Thất Khê, Na Sầm, Đồng Đăng, Lạng Sơn, Đình Lập, An Châu rút về Tiên Yên ở khu vực duyên hải. Hệ thống phòng tuyến đường số 4 của địch bị phá vỡ.

Trong chiến dịch Biên giới, quân ta đã tiêu diệt và bắt sống 8.000 tên địch (trong đó bắt sống 3.500 tên), tiêu diệt gọn một nửa lực lượng cơ động chiến lược của địch ở Bắc Đông Dương, thu nhiều vũ khí; giải phóng 5 thị xã, 13 thị trấn, nhiều vùng đất đai quan trọng, cả một dải biên giới dài 750 kilômét, bao gồm 35 vạn dân. Căn cứ địa Việt Bắc được mở rộng và củng cố. Cách mạng nước ta lần đầu tiên đã phá tan vòng vây của chủ nghĩa đế quốc.

Chiến dịch Biên giới là chiến dịch tiến công quy mô lớn đầu tiên của quân và dân ta, một chiến dịch đánh vận động, đánh tiêu diệt xuất sắc, đạt hiệu suất chiến đấu cao, đánh dấu bước phát triển mới về quyền chủ động của quân đội ta trên chiến trường chính. Tr.54.

(18) Chiến dịch Hoà Bình: Bắt đầu từ ngày 25-11-1951. Trung tuần tháng 11-1951, thực hiện kế hoạch của Đờlát Đờ Tátxinhi, thực dân Pháp đã mở cuộc càn quét lên vùng Hoà Bình, âm mưu lập lại hành lang Đông – Tây, chặn đường tiếp tế của ta, lập “xứ Mường tự trị” hòng chia rẽ các dân tộc thiểu số, tiêu diệt bộ đội chủ lực của ta và giành lại thế chủ động trên chiến trường Bắc Bộ. Lực lượng được chúng huy động cho cuộc hành quân này gồm 20 tiểu đoàn tinh nhuệ, lúc cao nhất lên tới 29 tiểu đoàn, có không quân, pháo binh và cơ giới yểm trợ.

Nắm chắc chủ trương và lực lượng của địch, ngày 24-11-1951, Trung ương Đảng ra Chỉ thị: Nhiệm vụ phá cuộc tiến công lên Hoà Bình của địch. Chỉ thị vạch rõ, nhiệm vụ của ta trong chiến dịch này là tiêu diệt địch ở mặt trận chính diện, đẩy mạnh chiến tranh du kích ở vùng sau lưng địch, mở rộng các khu căn cứ du kích.

Thực hiện Chỉ thị của Trung ương Đảng, các lực lượng vũ trang và nhân dân ta đã chiến đấu dũng cảm trên các mặt trận. ở mặt trận chính diện, quân ta đánh địch trên cả 3 phân khu: Chợ Bến, sông Đà và Hoà Bình, với các chiến thắng vang dội ở Tu Vũ, đường số 6, sông Đà, v.v.. ở mặt trận sau lưng địch, chiến tranh du kích phát triển rất mạnh ở Vĩnh Yên, Bắc Ninh, Ninh Bình, v.v.. Trước sự tiến công của ta ở cả hai mặt trận, ngày 23-2-1952, quân địch phải rút chạy khỏi Hoà Bình. Tổng kết chiến dịch, quân ta đã loại khỏi vòng chiến đấu 22.000 tên địch, (riêng ở mặt trận Hoà Bình, số địch bị tiêu diệt là hơn 6.000 tên), bắn rơi 13 máy bay, bắn cháy 23 tàu chiến và canô, phá huỷ 17 xe tăng, thu nhiều đồ dùng quân sự. Hơn 2 triệu dân và một vùng đất đai rộng lớn được giải phóng. Tr.54.

(19) Hiệp ước Manila: Được ký kết giữa các nước Mỹ, Anh, Pháp, Ôxtrâylia, Niu Dilơn, Pakixtan, Thái Lan, Philíppin tại Manila (Philíppin) vào ngày 8-9-1954. Nội dung căn bản của bản Hiệp ước này là việc thành lập “Tổ chức Hiệp ước phòng thủ Đông – Nam Á (SEATO)”. Khối quân sự- chính trị nhằm chống lại phong trào giải phóng dân tộc và các lực lượng tiến bộ ở khu vực Đông – Nam Á. Theo điều khoản của Hiệp ước, các thành viên của khối SEATO có trách nhiệm giúp đỡ lẫn nhau trong trường hợp một nước bị tấn công hay có “nguy cơ bị tấn công”. Không những thế, bản Hiệp ước còn cho phép các nước này tiến hành các hoạt động quân sự ngoài khu vực của các nước thành viên. Các nước tham gia Hiệp ước còn ký một văn kiện bổ sung cho phép thực hiện các điều khoản của Hiệp ước ở miền Nam Việt Nam, Lào và Campuchia, vi phạm trắng trợn các nghị quyết của Hội nghị Giơnevơ năm 1954. SEATO đã tổ chức nhiều cuộc tập trận, tích cực ủng hộ và can thiệp trực tiếp vào cuộc chiến tranh của Mỹ ở Đông Dương. Do những mâu thuẫn trong nội bộ các nước thành viên, năm 1976, khối SEATO tự tuyên bố giải tán. Tr. 57.

(20) Kế hoạch Mácsan: Kế hoạch viện trợ kinh tế của Mỹ cho các nước tư bản châu Âu sau Chiến tranh thế giới thứ hai, do Mácsan, Quốc vụ khanh Chính phủ Mỹ, đề ra ngày 5-6-1947.

Thực chất của kế hoạch Mácsan là nhằm thực hiện mưu đồ của đế quốc Mỹ khống chế kinh tế, quân sự và can thiệp vào công việc nội bộ của các nước khác. Các nước tiếp nhận kế hoạch Mácsan phải dành cho Mỹ những đặc quyền có tính chất một chiều; phải ngừng buôn bán với Liên Xô và các nước dân chủ nhân dân. Phần lớn số tiền mà các nước nhận được từ kế hoạch Mácsan, do sức ép của Mỹ đều chi vào mục đích quân sự. Ngoài ra đế quốc Mỹ còn được phép xây dựng nhiều căn cứ quân sự tại những nước này. Tr.58.

(21) Hội nghị Băngđung: Họp từ ngày 18 đến 24-4-1955, tại Băngđung (Inđônêxia). Do sáng kiến của 5 nước khởi xướng là Inđônêxia, Mianma, Xri Lanca, Pakixtan, ấn Độ. Lần đầu tiên trong lịch sử loài người, đại biểu 29 nước ở châu á, châu Phi, bao gồm hơn nửa nhân loại, đã họp nhau lại để giải quyết những vấn đề chung của các nước đó. Mặc dù chế độ kinh tế, xã hội khác nhau, những nước đó đoàn kết lại vì nguyện vọng chung là hoà bình và độc lập dân tộc. Đoàn đại biểu Việt Nam do Phó Thủ tướng Phạm Văn Đồng làm trưởng đoàn đã có đóng góp tích cực vào Hội nghị. Thông cáo chung của Hội nghị nêu rõ: chủ nghĩa thực dân, dưới mọi biểu hiện của nó, là một tai hoạ cần phải nhanh chóng tiêu diệt. Các nước á-Phi hoàn toàn ủng hộ quyền bình đẳng và tự quyết dân tộc, lên án chính sách phân biệt chủng tộc và Thông cáo chung kêu gọi các nước hãy tiến hành ngay việc giải trừ quân bị, ngăn cấm việc sản xuất vũ khí hạt nhân; thực hiện hoà bình, hợp tác thân thiện và giải quyết những vấn đề tranh chấp bằng thương lượng. Tr.58.

cpv.org.vn

Chúc mừng Đại hội Mặt trận (5-9-1955)

Nhân dân ta vừa vui mừng kỷ niệm 10 năm thành lập Nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà. Hôm nay, nhân dân ta lại vui mừng chúc Đại hội Mặt trận (22) khai mạc. Hai ngày lịch sử ấy quan hệ mật thiết với nhau:

Sau 80 năm dưới ách nô lệ Pháp và những năm dưới ách nô lệ Nhật, nhân dân ta đoàn kết chặt chẽ trong Mặt trận Việt Minh, đã đập tan xiềng xích thực dân và phong kiến. Cách mạng Tháng Tám đã thành công vẻ vang.

Trước hoạ chiến tranh xâm lược do thực dân Pháp cùng đế quốc Mỹ gây ra, nhân dân ta đoàn kết chặt chẽ trong Mặt trận thống nhất Việt Minh – Liên Việt đã đánh thắng giặc ngoại xâm. Kháng chiến đã thắng lợi rực rỡ.

Ngày nay, hoà bình đã lập lại nhưng chưa củng cố, nước ta tạm chia làm hai miền và đồng bào miền Nam đang sống trong cảnh lửa nóng nước sâu. Mặt trận dân tộc thống nhất cần mở rộng hơn nữa, củng cố hơn nữa, đoàn kết tất cả những người thật sự yêu Tổ quốc, yêu hoà bình, không phân biệt họ thuộc đảng phái nào, tôn giáo nào, từng lớp nào và quá khứ họ đã hợp tác với phe nào.

Trên nền tảng vững mạnh là lực lượng vô địch của tối đại đa số nhân dân ta (tức là giai cấp công, nông), với một cương lĩnh rộng rãi và một chính sách đúng đắn, với sự đoàn kết nhất trí của tất cả những người xứng đáng là con Lạc cháu Hồng – Mặt trận nhất định sẽ thành công trong việc đánh tan âm mưu Mỹ và bè lũ tay sai của chúng và thực hiện hoà bình, thống nhất, độc lập, dân chủ trong cả nước Việt Nam yêu quý của chúng ta.

Cuộc đấu tranh sẽ rất gay go và gian khổ. Nhưng với quyết tâm và cố gắng của mọi người, thắng lợi nhất định về tay chúng ta.

Kính chúc các đại biểu cố gắng!

Kính chúc Đại hội thành công.

C.B.

————————–

Báo Nhân dân, số 551, ngày 5-9-1955.

(22) Đại hội thành lập Mặt trận Tổ quốc Việt Nam: Thực hiện Nghị quyết của Hội nghị lần thứ tám Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá II, Đại hội Mặt trận dân tộc thống nhất toàn quốc họp tại Hà Nội, từ ngày 5 đến ngày 10-9-1955, đã quyết định mở rộng và củng cố khối đại đoàn kết toàn dân, thành lập Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, thay Mặt trận Liên – Việt.

Chủ tịch Hồ Chí Minh cùng nhiều đồng chí lãnh đạo của Đảng, Quốc hội, Chính phủ và 360 đại biểu thay mặt các tầng lớp nhân dân, các chính đảng, các dân tộc, các tôn giáo… và kiều bào ở nước ngoài đã về dự Đại hội.

Đại hội đã thảo luận, thông qua Báo cáo dự thảo cương lĩnh và Điều lệ mới.
Đại hội nêu rõ một bài học quý báu của dân tộc ta trong bốn nghìn nǎm lịch sử đấu tranh dựng nước và giữ nước là toàn dân đoàn kết.

Đại hội đã bầu Chủ tịch Hồ Chí Minh làm Chủ tịch danh dự, đồng chí Tôn Đức Thắng làm Chủ tịch và 64 vị vào ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam. Tr.61.

cpv.org.vn

Điện cảm ơn Chính phủ Liên Xô đã gửi điện mừng Quốc khánh lần thứ mười nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà (5-9-1955)

Thay mặt nhân dân và Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà, chúng tôi xin thành thực cảm tạ đồng chí Chủ tịch Đoàn chủ tịch Xôviết tối cao, đồng chí Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng, đồng chí Bộ trưởng Bộ Ngoại giao và nhân dân Liên Xô đã gửi điện mừng chúng tôi nhân dịp kỷ niệm lần thứ mười ngày Quốc khánh nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà.

Nhân dân Việt Nam vô cùng biết ơn nhân dân Liên Xô đã ủng hộ nhân dân Việt Nam trong công cuộc kháng chiến giành độc lập. Ngày nay lại hết lòng giúp đỡ nhân dân Việt Nam khôi phục và phát triển kinh tế và vǎn hoá của mình, sau những nǎm bị chiến tranh tàn phá. Sự giúp đỡ vô tư và hào hiệp đó càng khuyến khích nhân dân Việt Nam đấu tranh để triệt để thi hành Hiệp định Giơnevơ củng cố hoà bình, thực hiện thống nhất, hoàn thành độc lập và dân chủ trong cả nước.

Chúng tôi thành khẩn chúc nhân dân Liên Xô, dưới sự lãnh đạo sáng suốt của Đảng Cộng sản và Chính phủ Liên Xô, sẽ thu được nhiều thắng lợi vĩ đại trong sự nghiệp xây dựng cộng sản chủ nghĩa và bảo vệ hoà bình thế giới.

Kính chúc các đồng chí mạnh khoẻ.

Ngày 5 tháng 9 nǎm 1955
HỒ CHÍ MINH

—————————-

Tài liệu lưu tại Bảo tàng Hồ Chí Minh.
cpv.org.vn

Cuộc gặp gỡ tháng 5

(ĐCSVN)– Sáng nay 19-5, Kỷ niệm 116 năm ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh, tại Khu di tích Phủ chủ tịch, gần 40 cán bộ, nhân viên – những người đã từng sống, làm việc và phục vụ Bác Hồ kính yêu, đã có buổi gặp mặt thân mật, đầy xúc động…

Theo sáng kiến của hai bác Phùng Thế Tài và Tạ Quang Chiến – hai người từng trực tiếp bảo vệ Bác Hồ, hàng năm, cứ vào ngày này, không cần thông báo cũng không cần giấy mời, bất cứ ai đã từng có thời gian làm việc và phục vụ bên Bác lại về đây tụ họp cùng ôn lại những kỷ niệm về Người…

Tại buổi gặp, ông Phan Đức Mấn Giám đốc Công ty khách sạn Du lịch Kim Liên – đơn vị từng được Bác về thăm, đã tặng Khu Di tích chiếc máy quay phim. Ông tâm sự: “Với chiếc máy quay này, tôi mong chúng ta sẽ ghi lại được ngày càng nhiều hơn kỷ niệm về Bác Hồ kính yêu và lưu giữ nhiều hình ảnh sống động của các nhân chứng lịch sử về Bác Hồ”. 

Cũng trong buổi gặp mặt đầy xúc động này, ông Nguyễn Sơn – Công ty khách sạn Du lịch Kim Liên đã viết bài thơ nói lên tình cảm của mình – đối với Bác khi vào thắp hương tưởng nhớ người:

“Trước Lăng người
Con dâng một Đài sen
Nhớ Ngày sinh nhật Bác
Trong nhớ thương lòng con khẽ hát
Hồ Chí Minh đẹp nhất tên Người
Hồ Chí Minh con theo Bác trọn đời”

Kim Dung-Việt Hà
cpv.org.vn

Ban Quản lý Lăng phục vụ Lễ viếng Chủ tịch Hồ Chí Minh tận tình, chu đáo, văn minh, lịch sự

phan-lan-duong

Hàng năm, vào dịp kỷ niệm Ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh, đồng bào trong nước và khách quốc tế đến Việt Nam đều hướng về Thủ đô Hà Nội, về Ba Đình lịch sử, nơi Bác Hồ yên giấc ngàn thu. Do vậy, số lượng khách đến viếng Bác trong dịp này thường tăng từ 1,5 đến 2 lần so với các thời gian khác, có buổi lên đến trên 3 vạn người.

Đồng chí Thiếu tướng Đào Hữu Nghĩa- Trưởng ban Quản lý Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh cho biết: Dịp kỷ niệm 117 năm Ngày sinh của Bác năm nay gắn với bước đầu toàn Đảng, toàn dân ta triển khai Cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh” và bầu cử Quốc hội khoá XII nên lượng khách đến viếng Bác sẽ rất đông. Các lực lượng trong Ban Quản lý Lăng đã làm tốt mọi công tác chuẩn bị, sẵn sàng tổ chức thêm giờ Lễ viếng, phục vụ đồng bào và khách quốc tế đến viếng Bác: Tận tình, chu đáo, văn minh, lịch sự.

Để nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác đón tiếp, tuyên truyền, Bộ Tư lệnh bảo vệ Lăng và Trung đoàn 375- Bộ Tư lệnh cảnh vệ đã chủ động bồi dưỡng cho cán bộ, công nhân viên, chiến sĩ về Quy định đón tiếp khách; phương pháp tổ chức sinh hoạt chính trị, văn hoá; nội dung tuyên truyền, giới thiệu về sự nghiệp giữ gìn tuyệt đối an toàn lâu dài thi hài Bác và công trình Lăng của Người; tổ chức bồi dưỡng ngoại ngữ và dịch phim tài liệu “Những giờ phút cuối đời của Bác” ra các tiếng Anh, tiếng Trung Quốc, tiếng Nga để phục vụ khách nước ngoài. Đảm bảo mỗi cán bộ, công nhân viên, chiến sĩ vừa tinh thông nghiệp vụ chuyên môn, vừa tận tình, chu đáo đón tiếp, tuyên truyền phục vụ khách.

Đặc biệt trong dịp này, Ban Quản lý Lăng đã khai trương Trang tin điện tử trên hệ thống internet để giới thiệu rộng rãi cả trong nước và quốc tế về hoạt động đón tiếp, tuyên truyền tại Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh. Đồng thời chủ động phối hợp với các cơ quan chức năng của quận Ba Đình và Thành phố Hà Nội tạo điều kiện thuận lợi cho các phương tiện được vào nội Thành để đưa, đón khách gần xa đến viếng Bác.

Bình thường, đơn vị tổ chức đón tiếp khách đến viếng Bác tại số 8 đường Hùng Vương và số 17 phố Ngọc Hà. Những buổi khách đông sẽ tổ chức đón tiếp, hướng dẫn khách xếp hàng vào Lăng từ công viên Bách Thảo để tránh ùn tắc quanh khu vực quanh Lăng. Các mặt bảo đảm như: hệ thống mái cơ động che nắng, che mưa; công tác an ninh, y tế chăm sóc sức khoẻ; nước uống; nơi vệ sinh, nơi nhận trả đồ dùng, máy ảnh, điện thoại phục vụ khách đều được chuẩn bị chu đáo. Các đồng chí thương binh nặng, người khuyết tật đến viếng Bác sẽ được phục vụ xe đẩy rất thuận lợi.

Quảng trường Ba Đình và quanh Lăng Bác trong những ngày này lộng lẫy cờ hoa. Cờ Đảng, cờ Tổ quốc tung bay trước Lăng Bác và 2 bên Lễ đài Lăng như gắn kết hình ảnh của Đảng, của dân tộc và lãnh tụ kính yêu. Cán bộ, công nhân viên Ban Quản lý Quảng trường Ba Đình đã cẩn thận chăm sóc từng nhành hoa, khóm cỏ; lựa chọn hàng trăm cây cảnh quý, nâng niu hàng trăm chậu hoa đẹp từ các nơi về ươm trồng, tạo nên cảnh quan, môi trường quanh Lăng Bác luôn xanh, sạch đẹp trong những ngày tháng Năm này.

Càng đến gần Ngày sinh của Bác, đồng bào từ mọi miền của Tổ quốc và khách quốc tế đến viếng Bác càng đông, mỗi buổi hàng chục ngàn người, riêng ngày Quốc tế Lao động 1/5 số khách viếng Bác hơn 16 ngàn người, nhưng tất cả đều được hướng dẫn, được đón tiếp, phục vụ tận tình, chu đáo, dòng người nối tiếp thứ tự, thành kính đến bên Người. Đó cũng là tình cảm thiêng liêng, là tấm lòng của cán bộ, công nhân viên, chiến sĩ bên Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh dâng lên Bác kính yêu nhân dịp kỷ niệm 117 năm Ngày sinh của Người.

bqllang.gov.vn

Cảm nhận sáng 19 tháng 5 tại Lăng Bác

Đồng chí Nguyễn Văn Khôi, Phó Chủ tịch UBND thành phố Hà Nội tham dự khai trương tuyến phố đi bộ tại phía Nam đường Hùng Vương

Hôm nay, trên Quảng trường Ba Đình nhộn nhịp, cán bộ, công nhân viên, chiến sỹ các lực lượng trong Ban Quản lý Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh đang khẩn trương chuẩn bị thực hiện nghi lễ chào cờ hàng ngày trước Lăng Bác; chuẩn bị khai trương tuyến phố đi bộ khu vực Lăng; lắp đặt mái che và chuẩn bị địa điểm nơi tập kết để phục vụ đồng bào trong nước và khách quốc tế về viếng Người.

Đúng 6 giờ sáng, Quốc ca trên Quảng trường Ba Đình vang lên, mọi ánh mắt đều đổ dồn về lá cờ Tổ quốc đang tung bay trước Lăng Bác. Biểu tượng của Tổ quốc và hình ảnh lãnh tụ Hồ Chí Minh luôn hoà quyện nơi Ba Đình lịch sử. Nơi đó, những chiến sỹ tiêu binh danh dự ngày đêm thành kính và trang nghiêm thực hiện nghi lễ chào cờ.

Toàn cảnh đồng bào và khách quốc tế về Lăng viếng Bác.

Đông đảo đồng bào và khách quốc tế đã về Lăng viếng Bác nhân dịp kỷ niệm 122 năm Ngày sinh của Người

Lễ chào cờ vừa kết thúc, cũng là thời điểm bắt đầu khai trương tuyến phố đi bộ tại khu vực Lăng. Dự Lễ khai trương có đồng chí Nguyễn Văn Khôi, Phó Chủ tịch UBND thành phố Hà Nội; Thiếu tướng Nguyễn Văn Cương, Trưởng ban Ban Quản lý Lăng kiêm Tư lệnh Bộ Tư lệnh Bảo vệ Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh, cùng lãnh đạo, chỉ huy các ban, ngành, cơ quan, đơn vị thuộc thành phố Hà Nội và Ban Quản lý Lăng.

Đoàn trường Phổ thông dân tộc Nội trú Sông Mã, Sơn La vào Lăng viếng Bác

Được biết, hôm nay Lăng Bác sẽ mở cửa đón khách từ 7 giờ 15 phút, sớm hơn so với mọi ngày 15 phút. Nhưng từ 6 giờ sáng, trước cổng số 17 phố Ngọc Hà đã rất đông đồng bào và khách quốc tế xếp hàng chuẩn bị vào Lăng viếng Bác. Cụ Phùng Thanh Huân, 78 tuổi ở Đông Quang, Ba Vì, Hà Nội cho biết: “Tôi về từ chiều hôm qua. Biết hôm nay khách đến viếng Bác rất đông, nên từ 5 giờ sáng, tôi giục cháu đưa đến đây sớm. Đã 3 lần đi viếng Bác, nhưng lần này có cảm giác đặc biệt. Bởi tôi sẽ là người khách đầu tiên được nhìn thấy Bác trong Ngày sinh của Người”. Cùng trong dòng người đầu tiên viếng Bác, bà Trương Thị Cúc, 66 tuổi ở Trấn Hưng, Gia Trung, Gia Viễn, Ninh Bình đã bắt đầu đi từ lúc 2 giờ sáng. Bà nói: “Từ năm 2000 đến nay, 12 lần tôi đều chọn đúng ngày 19/5 để về Lăng viếng Bác. Năm nào dòng người viếng Bác đều rất đông, nhưng đối với những người nông dân như chúng tôi có được cuộc sống ấm no, hạnh phúc như ngày hôm nay ơn Đảng, ơn Bác nhiều lắm. Tôi còn làm cả bài thơ “Dâng Bác”, trong đó có đoạn: Các con áo vải màu nâu tím/ Về Lăng viếng Bác nhớ ơn Người/ Trong Lăng Bác như vừa chợp mắt/ Đón ngày ngày con cháu viếng thăm”.

Dòng người từ các ngả đường Điện Biên Phủ, Hoàng Hoa Thám, Đội Cấn, Kim Mã hướng về Lăng Bác mỗi lúc một đông. Bởi lẽ ai cũng muốn đến viếng Bác đúng vào dịp kỷ niệm 122 năm Ngày sinh của Người. Là cán bộ thực hiện nhiệm vụ tại Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh, đồng chí Đinh Văn Khang, Chính trị viên Đội Cảnh vệ Đặc biệt, Đoàn H75, Bộ Tư lệnh Bảo vệ Lăng cho biết: “Đơn vị đã chuẩn bị chu đáo để sẵn sàng phục vụ khách. Ngày thường chiến sỹ gác 30 phút đổi ca một lần. Nhưng hôm nay, anh em sẵn sàng phục vụ thêm ca, thêm giờ, có đồng chí đứng hướng dẫn, phục vụ khách suốt lễ viếng. Tuy thấm mệt nhưng mọi người đều cảm thấy rất vui, được phục vụ nhiều đồng bào và khách quốc tế về Lăng viếng Bác trong ngày lễ trọng thể này”.

Đoàn Phật tử thiền phái Trúc Lâm, Yên Hưng, Yên Tử, Quảng Ninh vào Lăng viếng Bác

Trong dòng người tụ hội về bên Lăng Bác hôm nay, chúng tôi thấy có các tướng lĩnh trong lực lượng vũ trang của tỉnh Hưng Yên tại Hà Nội; Đoàn đại biểu Người Anh hùng và thân nhân Anh hùng liệt sỹ; Đoàn Phật tử thiền phái Trúc Lâm, Yên Hưng, Yên Tử, Quảng Ninh và các thành phần dân tộc, tôn giáo. Các cháu ở Trường Phổ thông dân tộc Nội trú Sông Mã, Sơn La đã mong chờ, hồi hộp cả tháng nay khi biết thông báo sẽ được về Lăng viếng Bác trong dịp 19/5. Cô giáo Bùi Thị Hải, Hiệu trưởng Nhà trường cho biết: “Từ ngày 19/4 đến 19/5/2012, Nhà trường phát động phong trào thi đua “Dành nhiều điểm tốt kính dâng lên Bác”. Thầy thi đua dạy giỏi, trò thi đua học tốt. Trong số 16 thầy cô giáo và 66 học sinh về viếng Bác hôm nay đều rất tiêu biểu. Nổi bật là cháu Sộng Thị Dung, dân tộc Mông ở bản Nà Ham, xã Mường Gai, Sông Mã, gia đình nghèo nhưng vượt khó, học giỏi và cháu Vừa Thị Ca, lớp 8A ở bản Hổi Pản, xã Huổi Một, Sông Mã, bị khuyết tật nhưng 8 năm liền đều là học sinh giỏi”.
Không chỉ đồng bào trong nước, mà rất đông những người khách quốc tế cũng đều thể hiện tình cảm đặc biệt đối với Chủ tịch Hồ Chí Minh. Trong đoàn khách du lịch đến từ Ôx-trây-li-a, các bạn Jana, Javren và David còn rất trẻ cho biết: “Đây là lần đầu tiên đến Việt Nam và điểm tham quan đầu tiên là Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh. Tuy chưa hiểu nhiều về Chủ tịch Hồ Chí Minh, nhưng chứng kiến dòng người xếp hàng dài chờ đợi rất lâu, dưới trời nắng nóng, oi bức để được vào Lăng viếng Người, thì chúng tôi cảm nhận được tình cảm sâu nặng của nhân dân Việt Nam dành cho Chủ tịch Hồ Chí Minh. Chúng tôi rất muốn ở đất nước mình cũng có lãnh tụ vĩ đại được nhân dân kính trọng như Chủ tịch Hồ Chí Minh”. Còn anh Andrea đến từ I-ta-li-a cho biết: “Tôi đã tìm hiểu về đất nước Việt Nam, về Hồ Chí Minh. Biết Người là Anh hùng giải phóng dân tộc, danh nhân văn hóa kiệt xuất của Việt Nam. Ở đất nước các bạn “Việt Nam – Hồ Chí Minh” luôn gắn liền với nhau”. Lần đầu đến Việt Nam, nhưng tôi thật ngỡ ngàng về kiến trúc Công trình Lăng rất đẹp, rất trang trọng trong không gian Quảng trường Ba Đình rộng lớn. Đặc biệt là hình ảnh Chủ tịch Hồ Chí Minh nằm trong Lăng rất thanh thản, bình yên, thể hiện cuộc sống thanh bình của đất nước các bạn”.

Những người khách cuối cùng trong dòng người về viếng Bác hôm nay lặng lẽ rời Công trình Lăng. 11 giờ 15 phút buổi Lễ viếng kết thúc. Trong thời gian 4 giờ tổ chức viếng, tại Lăng Bác đã đón tiếp gần 18 ngàn lượt người, trong đó có hơn 4 ngàn lượt khách quốc tế đến từ khắp mọi miền Tổ quốc và vùng lãnh thổ trên thế giới về viếng Chủ tịch Hồ Chí Minh nhân dịp kỷ niệm 122 năm Ngày sinh của Người./.

Nguyễn Hữu Mạnh
old.bqllang.gov.vn

Yêu Bác lòng ta trong sáng hơn

Yeu bac long ta trong sang hon

Tháng năm về, chúng ta lại rộn ràng, bâng khuâng nhớ Bác, nhớ ngày sinh của vị lãnh tụ vĩ đại, anh hùng giải phóng dân tộc, danh nhân văn hoá kiệt xuất. Suốt cả cuộc đời, Người đã cống hiến, hy sinh cho nền độc lập, tự do của dân tộc, cho ấm no, hạnh phúc, hoà bình của nhân dân. Trong toàn bộ di sản Người để lại, bản Di chúc có giá trị bất tử, thiêng liêng, kết tinh hồn sông núi và trí tuệ, trái tim bao la của Người. Khi biết mình sắp phải đi gặp Cụ Các Mác, Lênin, đivào cuộc trường chinh nhẹ cánh bay, Người đã căn dặn toàn Đảng, toàn quân, toàn dân phải đoàn kết, cố gắng, quyết tâm đánh thắng giặc Mỹ xâm lược để xây dựng đất nước ta đàng hoàng hơn, to đẹp hơn. Và cuối cùng, Người để lại muôn vàn tình thân yêu cho toàn dân, toàn Đảng, cho toàn thể bộ đội, cho các cháu thanh niên và nhi đồng.

Ngày nay, mỗi lần lật mở từng trang Di chúc, chúng ta lại xúc động tự hào vì dân tộc ta có Bác, Người luôn trằn trọc, băn khoăn vì lo nỗi nước nhà, Người đã kinh qua bao thăng trầm sóng gió, bôn ba hải ngoại để tìm hình của nước, với một ham muốn tột bậc “đất nước được độc lập, nhân dân được tự do, đồng bào ai cũng có cơm ăn áo mặc, ai cũng được học hành”. Những tư tưởng vĩ đại ấy toát lên từ chính cuộc đời giản dị, thanh cao. Với bộ quần áo kaki, đôi dép cao su, Người đã đi khắp năm châu bốn bể tìm con đường giải phóng dân tộc, góp phần vào phong trào đấu tranh đòi quyền sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc của nhân loại cần lao. Tuy không được chứng kiến ngày Bắc – Nam sum họp, thống nhất, Tổ quốc bay lên bát ngát mùa xuân, nhưng trong Di chúc, Người đã hình dung rất rõ về tương lai tất thắng của dân tộc “Cuộc chống Mỹ cứu nước của nhân dân ta dù phải kinh qua gian khổ, hy sinh nhiều hơn nữa, song nhất định thắng lợi hoàn toàn. Đó là một điều chắc chắn”. Và lịch sử đã chứng minh chân lí muôn đời: chính nghĩa thắng phi nghĩa. Chúng ta chiến thắng nhờ vào sự đồng tâm nhất trí, tinh thần đoàn kết, truyền thống yêu nước nồng nàn của nhân dân, và đặc biệt là sự lãnh đạo sáng suốt, tài tình của Đảng. Vì vậy trong Di chúc, điều đầu tiên Người căn dặn là vấn đề về Đảng. Người viết:

“Đoàn kết là một truyền thống cực kỳ quý báu của Đảng và của nhân dân ta. Các đồng chí từ Trung ương đến các chi bộ cần phải giữ gìn sự đoàn kết nhất trí của Đảng như giữ gìn con ngươi của mắt mình.

Trong Đảng thực hành dân chủ rộng rãi, thường xuyên và nghiêm chỉnh tự phê bình và phê bình là cách tốt nhất để củng cố và phát triển sự đoàn kết và thống nhất của Đảng. Phải có tình đồng chí thương yêu lẫn nhau.

Đảng ta là một đảng cầm quyền. Mỗi đảng viên và cán bộ phải thật sự thấm nhuần đạo đức cách mạng, thật sự cần kiệm liêm chính, chí công vô tư. Phải giữ gìn Đảng ta thật trong sạch, phải xứng đáng là người lãnh đạo, là người đầy tớ thật trung thành của nhân dân”.(1)

Không chỉ đến Di chúc Người mới đề cập đến vấn đề xây dựng, tổ chức đảng mà trongSửa đổi làm việc (1947) Người cũng đã thẳng thắn chỉ ra những căn bệnh mà đảng viên và các tổ chức Đảng thường mắc phải như: Bệnh chủ quan, thói ba hoa, quan liêu, lãng phí, chuộng hình thức, hư danh…, những thói hư tật xấu ấy sẽ làm băng hoại đạo đức cách mạng. Vì thế, cần phải trau dồi phẩm chất cách mạng, thắt chặt tinh thần đoàn kết, nghiêm khắc tự phê bình và phê bình để Đảng ngày càng trong sạch. Người từng viết: “Đảng cách mạng cần tự phê bình và phê bình như ta cần không khí. Cũng như người có bệnh nếu giấu giếm bệnh tật trong mình, không dám uống thuốc để bệnh lâu ngày nặng thêm, nguy hiểm đến tính mạng. Một Đảng mà giấu giếm khuyết điểm của mình là một Đảng hỏng. Một Đảng có gan thừa nhận khuyết điểm của mình, vạch rõ những cái đó, vì đâu mà có khuyết điểm đó, rồi tìm kiếm mọi cách để sửa chữa khuyết điểm đó. Như thế là một Đảng tiến bộ, mạnh mẽ, chắc chắn, chân chính”(2.) Thực tế đã chứng minh, ở đâu cơ sở Đảng làm tốt nhiệm vụ của mình, gương mẫu đi đầu trong mọi công việc thì luôn được nhân dân tin yêu, kính trọng, yên tâm trao quyền lãnh đạo.

Những lời Người viết trong Di chúc đến nay vẫn mang tính thời sự, bởi Người đã nói trúng, nói đúng vào những vấn đề trọng tâm, cốt yếu, có tính muôn thuở là bài học về đạo đức cách mạng. Nếu không có tinh thần đoàn kết, yêu thương thì không thể tạo ra sức mạnh, thậm chí lại là cơ hội cho chủ nghĩa cá nhân, chia bè kết cánh, tham quyền cố vị nảy sinh. Đó là mầm mống của những hiểm họa khi con người đứng trên tập thể, cộng đồng để sai khiến, chỉ huy.

Để Đảng thật sự trong sạch, đòi hỏi mỗi đảng viên phải ý thức rõ về vai trò, sứ mệnh của mình, thấy được ý nghĩa lớn lao cao cả khi được đứng vào hàng ngũ tiên phong của giai cấp công nhân và nhân dân lao động, được nhân dân tin yêu, ngưỡng mộ. Trong Đảng phải thực hành tiết kiệm, dân chủ, công khai, đấu tranh không khoan nhượng với những biểu hiện sai trái, tiêu cực. Và một trong những phẩm chất quý báu, một yêu cầu tiên quyết của người đảng viên là phải thấm nhuần đạo đức cách mạng. Đạo đức ấy là lòng yêu Tổ quốc, gắn bó máu thịt với nhân dân, chia sẻ vui buồn với quần chúng, sống chan hoà, gương mẫu, có lòng vị tha, nhân ái… Đạo đức cách mạng của mỗi người là tấm gương để cá nhân khác soi vào, tự răn mình phải sống tốt hơn, sống có ý nghĩa, có lí có tình, phù hợp với thuần phong mĩ tục, với đạo lí, truyền thống tốt đẹp của cha ông. Từng lời, từng chữ trong Di chúc đều thấm đượm tư tưởng, tình cảm của Người. Đó là mong ước, khát khao mà trọn đời Người cố gắng ươm mầm, vun trồng, gây dựng, hình thành các tổ chức, cơ sở Đảng, cũng như chăm lo, tạo điều kiện phát triển đội ngũ kế cận cho Đảng làm nên sự lớn mạnh, cường thịnh, phồn vinh của đất nước. Những lời ấy thật giản dị, gần gũi nhưng rất đỗi thiêng liêng như những châm ngôn để mỗi cán bộ, đảng viên phải tự răn mình: “Phải giữ gìn sự đoàn kết nhất trí của Đảng như giữ gìn con ngươi của mắt mình… Phải giữ gìn Đảng ta thật trong sạch, phải xứng đáng là người lãnh đạo, là người đầy tớ thật trung thành của nhân dân”. Đúng như lời răn dạy của cổ nhân và những bậc hiền triết thuở xưa “Tiên thiên hạ nhi ưu chi ưu / Hậu thiên hạ nhi lạc chi lạc” (Phàm người làm quan phải biết lo cái lo trước thiên hạ và vui cái vui sau thiên hạ), phải tu nhân tích đức, sống hợp qui luật thì sẽ đắc nhân tâm.

Ngày nay, sau hơn 40 năm thực hiện Di chúc, toàn Đảng, toàn quân, toàn dân đã ra sức hăng hái thi đua lao động sản xuất, kiến thiết nước nhà, tiến tới xây dựng thành công CNXH như mong ước của Người. Những điều Người căn dặn trong Di chúc như sợi chỉ đỏ xuyên suốt sự nghiệp cách mạng, là kim chỉ nam hành động thôi thúc, cổ vũ, động viên nhân dân tiến lên, quét sạch chủ nghĩa cá nhân, xây dựng cuộc sống mới.

Tuy nhiên trong bối cảnh nền kinh tế thị trường, mở cửa, hội nhập, hợp tác, bên cạnh những yếu tố tích cực thì vẫn còn đó bao vấn đề nhức nhối đang đặt ra với bao mặt trái của của giao lưu văn hoá toàn cầu đem lại. Lối tư duy cũ, tâm lí ăn xổi ở thì, lối sống thực dụng cá nhân, chạy chọt, luồn cúi vì danh vọng tiền tài, vì lợi ích riêng của bản thân, gia đình mà nhiều cán bộ, đảng viên bất chấp pháp luật và đạo đức xã hội chà đạp lên những lí tưởng đẹp đẽ mà cha anh và các thế hệ đi trước đã hy sinh xương máu gây dựng nên.

Trước tình trạng tha hoá về đạo đức cách mạng của một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên, Nghị quyết số 12-NQ/TƯ của Hội nghị lần thứ 4, Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá XI đã kịp thời ra đời đề cập đến những vấn đề cấp bách trong xây dựng Đảng hiện nay. Nghị quyết nêu rõ:

“Một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên, trong đó có những đảng viên giữ vị trí lãnh đạo, quản lí, kể cả một số cán bộ cao cấp, suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống với những biểu hiện khác nhau về sự phai nhạt lí tưởng, sa vào chủ nghĩa cá nhân ích kỷ, cơ hội, thực dụng, chạy theo danh lợi, tiền tài, kèn cựa địa vị, cục bộ, tham nhũng, lãng phí, tuỳ tiện, vô nguyên tắc…”.(3)

Nguyên nhân dẫn tới tình trạng trên có nhiều, song chủ yếu là do cán bộ, đảng viên thiếu tu dưỡng, rèn luyện, giảm sút ý chí chiến đấu, quên đi trách nhiệm, bổn phận trước Đảng, trước nhân dân. Có thể nói Hội nghị lần thứ 4, Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá XI đã thẳng thắn chỉ ra những căn bệnh trầm kha khó chữa, mang tính dây chuyền, ăn sâu trong nếp nghĩ của một bộ phận cán bộ lãnh đạo, quản lí, làm suy giảm niềm tin của nhân dân.

Những kết luận của Hội nghị Trung ương 4 khoá XI vừa có tính tổng kết, vừa mở ra bao vấn đề cấp bách, đòi hỏi mỗi cán bộ, đảng viên đến các chi bộ Đảng phải phát huy hơn nữa truyền thống cách mạng, đẩy lùi tham ô, lãng phí, sống gần dân, hiểu dân, coi dân và yêu dân như yêu chính người thân máu mủ ruột thịt. Từ Trung ương đến địa phương phải làm mạnh mẽ, quyết liệt tạo sự chuyển biến tích cực trong Đảng, giữ gìn sự trong sạch của Đảng, xứng đáng với niềm tin tưởng, kì vọng của Bác: Đảng ta là đạo đức, là văn minh.

Tư tưởng xuyên suốt Nghị quyết Trung ương 4 khoá XI là sự tiếp nối, phát huy những tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh về công tác xây dựng Đảng trong tình hình hiện nay. Tuy có nhiều điểm mới nhưng nội dung cốt yếu vẫn là vấn đề tu dưỡng tính Đảng và đạo đức cách mạng của người cán bộ, đảng viên. Hơn lúc nào hết, mỗi cán bộ, đảng viên phải nêu cao tinh thần cách mạng, học tập tấm gương đạo đức Bác Hồ vĩ đại: Cả cuộc đời vì nước vì dân.

Cuộc vận động Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Bác Hồ được phát động trong toàn Đảng toàn dân đã tạo ra đợt sinh hoạt chính trị, tư tưởng rộng khắp, có tác động sâu sắc tới nhận thức, tư tưởng, tình cảm của cán bộ, đảng viên và nhân dân. Nhưng bên cạnh đó vẫn còn một số cán bộ, đảng viên chưa thấm nhuần tư tưởng của Người.

Chúng ta cần phải nghiêm khắc tự phê bình và phê bình, kiên quyết xử lí những trường hợp vi phạm, truy tố trước pháp luật những hành vi gây tổn thất, lãng phí tiền của Nhà nước, xâm hại đến lợi ích, đời sống nhân dân. Bên cạnh đó phải tuyên truyền, giáo dục, nâng cao nhận thức về trách nhiệm của người đứng đầu trước vận mệnh, số phận quốc gia, dân tộc, tạo ra một xã hội thực sự dân chủ, công bằng, văn minh. Tư tưởng, đạo đức cách mạng của Chủ tịch Hồ Chí Minh không ở đâu xa mà thật gần gũi, giản dị.

Tuy Bác đã đi xa nhưng những tư tưởng nhân văn – tư tưởng vì con người của Bác vẫn toả sáng đến mãi mai sau.

Tháng Năm về mang theo bao tia nắng chói chang của mặt trời chân lí cách mạng, mang màu xanh của cây lá hoà bình, mang hương thơm ngọt lành, dịu mát của hoa sen, và mang cả nỗi nhớ đong đầy, thiết tha, sâu nặng của người dân Việt Nam nhớ Bác với lòng biết ơn vô hạn. Để rồi “Mỗi khi lòng xao xuyến rung rinh / Môi ta thầm kêu: Bác Hồ Chí Minh”. Nhớ Bác, yêu Bác, lòng ta trong sáng hơn./.

Theo Nguyễn Huy Phòng/ Tạp chí Tuyên giáo
Thu Hiền (st)

bqllang.gov.vn

_________

(1) Di chúc, Nxb.CTQG, H.1999, tr.38

(2) Hồ Chí Minh: toàn tập, Nxb.CTQG, H.1995, t.5, tr.261

(3) Nghị quyết số 12-NQ/TƯ, Hội nghị lần thứ 4, Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá XI, năm 2012