Quốc khánh lần thứ mười của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà (2-9-1955)

Ngày 2 tháng 9, nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà được mười tuổi và nhân dân Việt Nam từ nay được tự do trên phần lớn lãnh thổ của mình, kỷ niệm ngày Quốc khánh vinh quang này với một niềm phấn khởi và vui mừng không tả xiết.

Ngay từ khi bọn thực dân mới bắt đầu xâm lược và trong gần một thế kỷ, nhân dân Việt Nam đã không ngừng đấu tranh chống bọn xâm lược, tỏ rõ tinh thần dũng cảm và chí khí anh hùng đặc biệt. Những cuộc chiến đấu du kích của Trương Công Định (1) và Trương Quyền ở Nam Bộ (1867)(2), các phong trào kháng chiến năm 1874 và nhất là năm 1884, cuộc đấu tranh trong mười hai năm do Phan Đình Phùng lãnh đạo (1884-1896)(2)và sau đó là cuộc đấu tranh do Hoàng Hoa Thám lãnh đạo(3) cho tới lúc Chiến tranh thế giới thứ nhất sắp bùng nổ, phong trào ở Trung Bộ (1907)(4), cuộc khởi nghĩa Biên Hoà (1914-1915) (5) , cuộc khởi nghĩa ở Huế (1916)(6), cuộc khởi nghĩa Thái Nguyên (1917)(7) , v.v. tất cả những phong trào đó đã chứng tỏ cuộc đấu tranh quyết liệt của nhân dân Việt Nam giành tự do và độc lập dân tộc. Nhưng ở thời đại đó, bọn vua chúa và bọn phong kiến còn chịu trách nhiệm trước lợi ích dân tộc, chúng đã thi hành chính sách đầy tội lỗi là luôn luôn phản bội những nguyện vọng của nhân dân, nên những nguyện vọng này không thể nào thực hiện được.

Cách mạng Tháng Mười vĩ đại đã đem lại một đà thúc đẩy mới cho cuộc đấu tranh của các dân tộc bị áp bức. Việc chính quyền Xôviết trẻ tuổi giải quyết mau chóng vấn đề các thuộc địa cũ của Nga hoàng, trả lại tự do cho các dân tộc, đã có một tiếng vang mạnh mẽ trong tất cả các nước thuộc địa hoặc nửa thuộc địa ở châu á. Chủ nghĩa Mác – Lênin chiến thắng đã chỉ cho tất cả các dân tộc đó con đường tự giải phóng.

Đảng theo chủ nghĩa Mác – Lênin ra đời ở Việt Nam vào tháng 1-1930(8). Trong khi cuộc khởi nghĩa Yên Bái (2-1930)(9) giai cấp tư sản mất hết ảnh hưởng đối với phong trào giải phóng dân tộc thì giai cấp công nhân và quần chúng lao động trong giai cấp nông dân đã tự tổ chức lại chính đảng của mình, chính đảng này đã trở thành người lãnh đạo duy nhất cuộc cách mạng phản đế. Tháng 9-1930, chính quyền nhân dân đầu tiên đã được thành lập ở ba huyện miền Bắc Trung Bộ. Chủ nghĩa đế quốc đã đàn áp phong trào một cách dã man chưa từng thấy…

Nhưng ngay từ năm 1940, nhiều cuộc khởi nghĩa vũ trang lại được tổ chức ở miền Bắc, miền Trung và miền Nam Việt Nam nhằm chống bọn thực dân Pháp và bọn đế quốc Nhật(10). Tuy bị đàn áp, những phong trào khởi nghĩa đó là những tia lửa, những đốm lửa để 5 năm sau bùng nổ thành một cuộc cách mạng đập tan nền thống trị của nước ngoài ở Việt Nam.

Tháng 5-1941, Mặt trận dân tộc thống nhất Việt Minh(11) được thành lập, đó là khối đoàn kết rộng rãi nhất chưa từng có trong phong trào giải phóng dân tộc ở nước chúng tôi. Mặt trận dân tộc, trong đó Đảng là lực lượng chủ yếu, đã động viên và tổ chức các nhóm du kích chiến đấu suốt trong thời gian Chiến tranh thế giới thứ hai, bên cạnh các nước Đồng minh, chống bọn phát xít xâm lược.

Những chiến thắng của quân đội xôviết anh dũng đè bẹp nước Đức của Hítle và sau đó đè bẹp chủ nghĩa đế quốc Nhật đã góp phần mạnh mẽ làm cho Tổng khởi nghĩa 19 tháng 8 năm 1945 thắng lợi và, ngày 2 tháng 9, nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà tuyên bố thành lập.

Như vậy, do chủ nghĩa phát xít thất bại, tình hình thế giới trở nên thuận lợi và Cách mạng Tháng Tám(12)đã thành công vì có được ba điều kiện không thể thiếu được đối với bất cứ một cuộc cách mạng phản đế nào ở một nước thuộc địa; đó là sự lãnh đạo của giai cấp công nhân, sự thành lập một mặt trận dân tộc phản đế rộng rãi, khởi nghĩa vũ trang.

Từ đó, lịch sử nước chúng tôi đã mở ra một chương xán lạn. Nhân dân Việt Nam đã được tự do. Cách mạng Tháng Tám đã giải phóng nhân dân Việt Nam khỏi ách thống trị của bọn thực dân, khỏi mọi sự nô dịch khác của chủ nghĩa đế quốc và khỏi sự bóc lột ghê tởm của bọn phong kiến và bọn quan lại.

Lần đầu tiên nhân dân lao động trở thành người chủ của bản thân mình và của vận mệnh đất nước. Họ bắt tay lao động để trừ bỏ bóng ma khủng khiếp của nạn đói đã giết chết hai triệu người trong những tháng cuối cùng của nền thống trị đế quốc chủ nghĩa (cuối năm 1944 đến năm 1945). Họ cố gắng hàn gắn những vết thương tàn phá do chế độ nô lệ tồi tàn để lại, là chế độ đã kéo dài mãi đến giữa cái thế kỷ đầy các cuộc cách mạng thắng lợi này. Nhân dân lao động đã bầu ra Quốc hội, bắt đầu xây dựng chính quyền nhân dân và thi hành nhiều biện pháp để xoá bỏ mau chóng nạn mù chữ và sự dốt nát do nền thống trị thực dân để lại.

Nhưng bọn thực dân Pháp vẫn mơ tưởng có thể lập lại chế độ áp bức của chúng ở nước chúng tôi. Chúng coi thái độ hoà bình của chúng tôi là một sự yếu đuối. Được các lực lượng phản động Anh – Mỹ khuyến khích, ủng hộ và thông đồng với bè lũ Tưởng Giới Thạch, ngày 23-9-1945(13)chúng đã tấn công vào nhân dân Việt Nam ở Sài Gòn, rồi chúng tìm cách xâm nhập miền Bắc. Tiếp đó, bọn thực dân giày xéo lên những điều mà chúng đã cam kết trong các bản Hiệp định sơ bộ ngày 6-3(14) và Tạm ước ngày 14-9-1946(15), chúng đã gây ra vụ tàn sát ở Hải Phòng, chiếm đóng Lạng Sơn và liên tiếp khiêu khích cho đến ngày 19-12 là ngày bắt đầu cuộc kháng chiến của toàn thể dân tộc chúng tôi chống bọn xâm lược.

Hưởng ứng lời kêu gọi của Đảng và Chính phủ dân chủ, toàn dân đã đứng dậy muôn người như một để bảo vệ Tổ quốc, bảo vệ những thành quả của Cách mạng Tháng Tám.

Cuộc chiến tranh cứu nước bắt đầu trong những điều kiện vật chất bất lợi cho nhân dân Việt Nam: nạn đói còn hoành hành, bọn tay sai của chủ nghĩa thực dân Pháp và của chủ nghĩa đế quốc Nhật còn đầy dẫy, quân đội nhân dân thì mãi đến những cuộc chiến đấu sau này mới thành lập được. Như vậy, trong tình hình trước mắt, quân đội viễn chinh Pháp dường như nắm được ưu thế về quân sự và quân thù đã lợi dụng tất cả những khó khăn của chúng tôi, chúng tưởng rằng những khó khăn đó sẽ giúp chúng mau chóng chiến thắng quân đội trẻ tuổi của chúng tôi và tiêu diệt được Chính phủ dân chủ của chúng tôi. Nhưng tình hình đã xảy ra ngược hẳn lại và chứng tỏ rằng chúng đã lầm to.

Được sự ủng hộ của các giới phản động Mỹ, quân thù đã lập tức tiến hành một cuộc chiến tranh toàn diện chống lại nhân dân Việt Nam. Nhưng dưới sự lãnh đạo của Đảng và Chính phủ, nhân dân Việt Nam đã tập trung cố gắng và không ngừng chiến đấu chống quân thù. Nhân dân Việt Nam đã hết sức đẩy mạnh và phát triển chiến tranh du kích tận các vùng bị địch kiểm soát. Nhân dân Việt Nam đã củng cố được hậu phương và phấn khởi xây dựng quân đội nhân dân của mình. Phối hợp với các chiến sĩ du kích, quân đội nhân dân đã chiến đấu dũng cảm và tiêu diệt quân thù trong nhiều chiến dịch: ở Việt Bắc hồi Thu – Đông năm 1947(16) , trên biên giới Việt- Trung(17)trong những tháng cuối năm 1950, ở vùng trung du và đồng bằng sông Hồng, ở Hoà Bình(18), ở Ba Vì và trên sông Đà năm 1951, ở miền Nam Việt Nam năm 1952, ở Lai Châu năm 1953 và cuối cùng, ngày 7-5-1954 quân đội nhân dân đã giành được thắng lợi quyết định ở Điện Biên Phủ. Chiến thắng Điện Biên Phủ ngay trước hôm Hội nghị Giơnevơ khai mạc đã có ảnh hưởng lớn đến các công việc của Hội nghị và góp phần vào việc ký kết các Hiệp định Giơnevơ đảm bảo lập lại hoà bình ở Đông Dương trên cơ sở thừa nhận các quyền dân tộc của nhân dân Việt Nam, Miên và Lào.

Đồng thời, những âm mưu chính trị của bọn thực dân và đế quốc như “lấy chiến tranh nuôi chiến tranh, dùng người Việt đánh người Việt”, trò hề “độc lập” và “dân chủ” nhằm đánh lạc hướng nhân dân chúng tôi, trò hề “cải cách điền địa” theo kiểu đế quốc…, đều bị phá sản.

Sau hết, trong suốt thời kỳ đó, Đảng và Chính phủ cũng đã quan tâm đến việc xây dựng và phát triển kinh tế, tài chính và văn hoá của nước Cộng hoà dân chủ. Trước hết, cuộc cải cách ruộng đất theo nguyên tắc “người cày có ruộng” bắt đầu được tiến hành. Nhờ cố gắng duy trì và phát triển các ngành thiết yếu của tiểu công nghiệp và thủ công nghiệp, nhân dân và quân đội đã có thêm nhiều hàng tiêu dùng. Việc trồng lúa và hoa màu cũng như các công trình nhằm cải tiến việc tưới nước và chống lụt đều được khuyến khích. Ngành vận tải và giao thông được đảm bảo phát triển trong mức độ cần thiết. Khu vực quốc doanh trong nền kinh tế quốc dân – Ngân hàng quốc gia, và các xí nghiệp thương nghiệp – đã ra đời và không ngừng tiến triển. Nền giáo dục quốc dân, việc giáo dục cho nông dân và binh sĩ, cuộc đấu tranh chống nạn mù chữ, tuy có những điều kiện khó khăn, nhưng đã đạt được những kết quả phi thường.

Như vậy, trong tất cả các lĩnh vực quân sự, chính trị và kinh tế trên đây, nước Cộng hoà dân chủ trẻ tuổi của chúng tôi đã vượt qua một cách vẻ vang sự thử thách của chiến tranh, trong đó theo Lênin mọi đức tính của một dân tộc phải được biểu lộ đầy đủ.

Lòng yêu nước nồng nàn, sự thống nhất về tinh thần và chính trị của nhân dân và quân đội xung quanh Đảng và Chính phủ đã giúp chúng tôi vượt qua những thử thách khó khăn không tưởng tượng được và tạo những điều kiện về chính trị, kinh tế và quân sự để chiến thắng.

Lòng tin tưởng không gì lay chuyển nổi vào thắng lợi của sự nghiệp chính nghĩa của mình đã cổ vũ nhân dân chúng tôi và đã kích thích tinh thần dũng cảm của họ. Những đức tính về đạo đức và tinh thần chiến đấu mà các binh sĩ, các chiến sĩ du kích và các cán bộ của chúng tôi đã học tập được trong lịch sử đặc biệt phong phú của phong trào giải phóng dân tộc, đã giúp quân đội trẻ tuổi của chúng tôi lập được những chiến công lịch sử, tô lên ngọn cờ của mình một niềm vinh quang bất diệt.

Gương sáng của các chiến sĩ và các dân tộc Liên Xô và Trung Quốc đã không ngừng cổ vũ nhân dân, binh sĩ của chúng tôi và góp phần rèn luyện những anh hùng của chúng tôi.

Nhân dân Pháp và tất cả các dân tộc yêu chuộng hoà bình trên thế giới đã có sự ủng hộ rất quý báu đối với chúng tôi. Họ đứng về phía chúng tôi trong những lúc gay go nhất của cuộc kháng chiến và chia sẻ nỗi vui mừng với chúng tôi khi hoà bình được lập lại.

Nước Cộng hoà dân chủ đã giành được một thắng lợi tất nhiên vì đó là thắng lợi của những người bị áp bức đối với kẻ áp bức, thắng lợi của tự do đối với nô lệ. Nhân dân chúng tôi đã thoát khỏi một lần nữa sự nô dịch, những thành quả của Cách mạng Tháng Tám: hoà bình, thống nhất, độc lập và dân chủ đã được bảo vệ và củng cố.

*

*     *

Hoà bình đã được lập lại ở Đông Dương trên cơ sở thừa nhận độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của ba nước: Việt Nam, Lào và Miên.

Hội nghị Giơnevơ năm 1954 đã đem lại hoà bình cho chúng tôi, nhưng chừng nào nước chúng tôi còn bị giới tuyến tạm thời ở vĩ tuyến 17 chia cắt thì hoà bình còn chưa được củng cố. Hơn nữa, thái độ của các nhà cầm quyền miền Nam và những kẻ đỡ đầu họ đang đe doạ nghiêm trọng nền hoà bình vừa mới được lập lại từ hai năm nay.

Quả vậy, nếu bước thứ nhất tức là giai đoạn quân sự ghi trong các Hiệp định Giơnevơ nói chung đã kết thúc một cách mỹ mãn vì toàn bộ lãnh thổ miền Bắc Việt Nam đã được giải phóng, thì ngược lại bước thứ hai, tức là giai đoạn đưa đến thống nhất nước Việt Nam bằng tổng tuyển cử năm 1956, chưa bắt đầu thực hiện được chút nào vì chính quyền Diệm cố tình ngăn trở.

Các nhà cầm quyền miền Nam tàn sát dã man đồng bào chúng tôi và tất cả các lực lượng yêu nước và hoà bình sống ở miền Nam: trong vòng một năm, họ đã gây ra trên ba nghìn vụ tội ác và vi phạm các Hiệp định Giơnevơ. Ít nhất đã có bốn nghìn người yêu nước bị giết hoặc bị thương và trên mười chín nghìn người bị bắt. Ngoài những hành động khủng bố đó, chính quyền Diệm còn ráo riết thi hành đường lối chính trị của Mỹ nhằm biến miền Nam Việt Nam thành một thuộc địa và một căn cứ quân sự của Mỹ, căn cứ này sẽ sáp nhập lâu dài vào phạm vi hoạt động của tổ chức xâm lược Đông – Nam Á (19). Tuy có những hành động như vậy, nhưng Ngô Đình Diệm vẫn tự xưng một cách vô liêm sỉ là “chiến sĩ” của hoà bình, dân chủ và độc lập của Việt Nam.

Tình hình đó quyết định những nhiệm vụ của Chính phủ nước Cộng hoà dân chủ. Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà tự định ra cho mình mục tiêu đầu tiên là thi hành triệt để và đầy đủ Hiệp định Giơnevơ, nghĩa là triệu tập ngay tức khắc hội nghị hiệp thương giữa hai miền Nam và Bắc, đó là bước đầu tiên tiến tới chuẩn bị cuộc tổng tuyển cử tự do để thống nhất đất nước. Như vậy, hoà bình và thống nhất đất nước là những đòi hỏi chủ yếu của chúng tôi trong thời kỳ hiện nay.

Ngoài ra, chúng tôi phải hàn gắn lại những vết thương chiến tranh, nâng cao dần mức sống của nhân dân và xây dựng ở nước chúng tôi một cuộc đời mới thật sự tự do và dân chủ. Để làm được việc đó, một mặt chúng tôi phải khôi phục kinh tế quốc dân: nông nghiệp, thủ công nghiệp, vận tải và công nghiệp. Từ khi được hưởng hoà bình, nhân dân chúng tôi càng hăng hái bước vào con đường đó. Nhưng chúng tôi còn phải phấn đấu rất nhiều để khôi phục lại những ruộng đất bị bỏ hoang, sửa lại đê điều để chống lụt và xây dựng một hệ thống nông giang để đất nước chúng tôi không còn bị hạn hán và đói kém nữa, vì đói kém và hạn hán là hai thứ đi liền nhau như bóng với hình. Mặt khác, trên cơ sở nâng cao năng suất lao động, chúng tôi phải nâng cao dần phúc lợi của nhân dân lao động Việt Nam.

Do chiến tranh, chủ nghĩa thực dân và chế độ phong kiến để lại tình trạng như vậy nên những nhiệm vụ nói trên thật là nặng nề và phức tạp. Nhưng nhờ sự giúp đỡ của các nước anh em, chúng tôi ngày càng có nhiều khả năng và có thể tin tưởng vào một tương lai đầy thắng lợi. Thực vậy, sau các cuộc hội đàm giữa đoàn đại biểu Chính phủ Việt Nam với các nhà lãnh đạo Liên Xô và nước Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa hồi tháng 7, Liên Xô và nước Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa đã quyết định giúp đỡ nước chúng tôi tổng cộng là 1.530 tỷ đồng Việt Nam trong những năm sắp tới. Các nước dân chủ khác cũng có sự giúp đỡ quý báu đối với công cuộc khôi phục của chúng tôi. Sự giúp đỡ đó được tiến hành dưới hình thức trao cho chúng tôi dụng cụ, máy móc và nhân viên kỹ thuật; nhiều khu vực kinh tế và văn hoá Việt Nam được hưởng sự giúp đỡ đó.

Sự giúp đỡ đó là vô tư, vô điều kiện và có ích cho nhân dân, khác hẳn sự “viện trợ” theo quan niệm của bọn đế quốc. Thông qua “viện trợ” của chúng, bọn đế quốc luôn luôn theo đuổi những mục đích bóc lột và nô dịch, điều này đã được kế hoạch Mácsan (20) kế hoạch làm mất dần chủ quyền của các nước được “viện trợ” – chứng minh một cách hùng hồn.

Trong quan hệ đối với các nước khác, chính sách của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà là rõ ràng và trong sáng: đó là một chính sách hoà bình và quan hệ tốt. Chính sách đó dựa trên năm nguyên tắc vĩ đại nêu trong các bản tuyên bố chung Trung – ấn và Trung- Miến, tức là: tôn trọng toàn vẹn lãnh thổ và chủ quyền của nhau, không xâm phạm, không can thiệp vào các công việc nội bộ, bình đẳng và hai bên cùng có lợi, chung sống hoà bình. Đặc biệt Hội nghị Băngđung(21) tỏ rõ rằng những nguyên tắc đó được các giới rộng rãi trong dư luận Á – Phi tán thành.

Chúng tôi đặc biệt mong muốn duy trì những quan hệ hoà bình với các nước láng giềng như Miên và Lào. Đối với nước Pháp, chúng tôi tiếp tục chủ trương rằng trong những điều kiện bình đẳng tuyệt đối và cùng có lợi, trước hết là tin cậy lẫn nhau và hợp tác thẳng thắn, chúng tôi có thể thiết lập những quan hệ đặc biệt về kinh tế và văn hoá với nước Pháp.

Trong ngày Quốc khánh lần thứ mười này, nhìn lại quá khứ, nhân dân chúng tôi có thể tự hào chính đáng về con đường đã qua. Nhưng nhân dân chúng tôi cũng và nhất là hướng về tương lai và thấy được những việc còn phải làm. Chúng tôi còn phải tiến hành một cuộc đấu tranh chính trị khó khăn, lâu dài và phức tạp. Nhưng nếu chúng tôi kiên trì, quyết tâm và nêu cao cảnh giác, nếu Đảng chúng tôi và Mặt trận dân tộc tiếp tục áp dụng những nguyên tắc phê bình và tự phê bình đã được khảo nghiệm – và chúng tôi có đủ mọi lý do để tin tưởng rằng Đảng chúng tôi và Mặt trận dân tộc nhất định sẽ tiếp tục áp dụng những nguyên tắc đó – thì chúng tôi chắc chắn sẽ giành được thắng lợi hoàn toàn.

*

*     *

Trong mười năm vừa qua, phe hoà bình và dân chủ đã đạt được những tiến bộ to lớn, Liên Xô đã chiến thắng bọn xâm lược phát xít và từ đó tới nay đã giành được nhiều thành tựu quan trọng trong công cuộc xây dựng chủ nghĩa cộng sản cũng như trong chính sách đấu tranh cho hoà bình và làm dịu tình hình căng thẳng trên thế giới; các nước dân chủ nhân dân đã được củng cố về mặt chính trị và kinh tế; cách mạng Trung Quốc thắng lợi đã giải phóng cho 600 triệu người đang nhịp bước tiến tới hạnh phúc; được sự ủng hộ anh em của quân chí nguyện Trung Quốc, nhân dân Triều Tiên đã đánh lùi được bè lũ Lý Thừa Vãn và những quân đội nấp dưới lá cờ Liên hợp quốc; nhân dân Việt Nam đã giành được thắng lợi trong cuộc chiến tranh do bọn thực dân Pháp gây ra và đã giành được hoà bình ở Hội nghị Giơnevơ. Lực lượng hoà bình ngày càng lớn mạnh và củng cố được vị trí của mình. Tất cả những thành tựu to lớn đó đã đem lại cho nhân dân chúng tôi một niềm tin tưởng vô hạn vào tương lai huy hoàng của Tổ quốc và vào sự tất thắng của sự nghiệp của chúng tôi.

Mặc dù còn gặp khó khăn và trở ngại, chúng tôi tiến lên phía trước với lòng tin tưởng và tâm hồn của người chiến thắng!

——————————————-

Tuần báo Vì một nền hoà bình lâu dài, vì một nền dân chủ nhân dân, bản tiếng Pháp, số 356, ngày 2-9-1955.

(1) Hội nghị Giơnevơ: Hội nghị Bộ trưởng Ngoại giao của một số nước họp từ ngày 26-4 đến ngày 21-7-1954 tại Giơnevơ (Thuỵ Sĩ). Hội nghị này được triệu tập theo chủ trương của Hội nghị Béclin năm 1954. Chương trình thảo luận của Hội nghị gồm 2 vấn đề: giải quyết hoà bình vấn đề Triều Tiên và lập lại hoà bình ở Đông Dương.

Do thái độ ngoan cố của Mỹ và các nước chư hầu đã tham gia chiến tranh Triều Tiên, cuộc thảo luận về vấn đề Triều Tiên không thu được kết quả.

Ngày 8-5-1954, đúng một ngày sau chiến thắng Điện Biên Phủ, vấn đề chấm dứt chiến tranh lập lại hoà bình ở Đông Dương chính thức được Hội nghị Giơnevơ thảo luận. Phái đoàn Chính phủ ta do đồng chí Phạm Văn Đồng làm Trưởng đoàn tham gia Hội nghị với tư thế đoàn đại biểu của một dân tộc chiến thắng.

Tuyên bố chung của Hội nghị và Hiệp định đình chiến ở Đông Dương được ký kết vào ngày 21-7-1954. Các nước tham gia Hội nghị đã cam kết thừa nhận tôn trọng độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam, Lào và Campuchia; quy định quân Pháp phải rút khỏi Đông Dương và mỗi nước Đông Dương sẽ tuyển cử tự do để thống nhất đất nước.

Bản Tuyên bố chung còn ghi rõ, ở Việt Nam, lấy vĩ tuyến 17 làm ranh giới quân sự và chỉ có tính chất tạm thời, không thể coi đó là biên giới chính trị hoặc lãnh thổ và quy định ở Việt Nam cuộc Tổng tuyển cử tự do để thống nhất đất nước sẽ được tiến hành vào tháng 7-1956. Tr.7.

(2) Cuộc khởi nghĩa Phan Đình Phùng: Cuộc khởi nghĩa chống Pháp nổ ra từ năm 1885 ở vùng Hương Khê, tỉnh Hà Tĩnh và sau đó lan rộng trong 4 tỉnh: Hà Tĩnh, Nghệ An, Quảng Bình, Thanh Hoá. Cuộc khởi nghĩa này do Phan Đình Phùng lãnh đạo. Là một sĩ phu yêu nước, theo tiếng gọi của phong trào Cần Vương, Phan Đình Phùng đã chỉ huy nghĩa quân kiên trì chiến đấu, cho mãi tới khi ông lâm bệnh mất năm 1895, kẻ địch mới đàn áp được cuộc khởi nghĩa. Tr.51.

(3) Cuộc đấu tranh của Hoàng Hoa Thám: Cuộc khởi nghĩa chống Pháp của nông dân Yên Thế (Hà Bắc), nổ ra từ năm 1885. Năm 1888 ông Hoàng Hoa Thám tham gia nghĩa quân. Dũng cảm, có tài quân sự, biết thu phục lòng người nên ông dần dần trở thành lãnh tụ và linh hồn của cuộc khởi nghĩa. Dưới sự lãnh đạo của ông, nghĩa quân hoạt động du kích rất linh hoạt trong các vùng ở Lạng Sơn, Thái Nguyên, Vĩnh Yên, Phúc Yên, Bắc Giang, Bắc Ninh, v.v.. Năm 1913, Hoàng Hoa Thám bị bọn phản động sát hại, cuộc khởi nghĩa bị dập tắt. Tr.51.

(4) Phong trào đấu tranh ở Trung Kỳ năm 1907: Đây là Chủ tịch Hồ Chí Minh nói về phong trào chống đi phu, chống sưu thuế năm 1908. Phong trào lúc đầu bùng nổ ở Quảng Nam, sau lan rộng ra Phú Yên, Thừa Thiên, Hà Tĩnh, Nghệ An, Thanh Hoá. Mục tiêu trước mắt của cuộc đấu tranh là chống sưu thuế, chống chế độ bắt phu (đương thời gọi là đi “xâu”).

Lúc đó, học ở trường Quốc học Huế với tên Nguyễn Tất Thành, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã tham gia phong trào này. Tr.51.

(5) Cuộc khởi nghĩa Biên Hoà: Tháng 1-1916, nhiều cuộc đấu tranh của nhân dân ta nổi lên ở Biên Hoà, Trà Vinh, chống lại việc thực dân pháp bắt lính đi làm bia đỡ đạn cho chúng ở chiến trường châu Âu. Những người bị Pháp bắt giam ở nhà lao Biên Hoà đã nổi dậy cướp súng của lính bắn vào các cơ quan chính quyền Pháp. Đỉnh cao của phong trào chống bắt lính là cuộc đánh phá khám lớn Sài Gòn ngày 15-2-1916. Tr.51.

(6) Cuộc khởi nghĩa ở Huế: Tháng 5-1916, tại Huế và Quảng Nam, Quảng Ngãi đã bùng nổ cuộc khởi nghĩa của nhân dân và binh lính người Việt bị thực dân Pháp tập trung chờ ngày đưa xuống tàu sang chết thay cho chúng trên chiến trường châu Âu. Nhiều tác phẩm của Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nhắc tới phong trào này. Tr.51.

7. Cuộc khởi nghĩa ở Thái Nguyên: Cuộc khởi nghĩa của binh lính Việt Nam trong quân đội Pháp ở Thái Nguyên tháng 8-1917, do Trịnh Văn Cấn và Lương Ngọc Quyến lãnh đạo. Thực dân Pháp phải đưa quân từ Hà Nội lên đàn áp. Sau 6 ngày chiến đấu quyết liệt, Lương Ngọc Quyến hy sinh, nghĩa quân rút về hoạt động ở vùng rừng núi Thái Nguyên, Vĩnh Yên, Phúc Yên và Hoà Bình, Sơn Tây (Hà Tây). Tr.51.

(8) Đảng theo chủ nghĩa Mác – Lênin ra đời ở Việt Nam: Vào những năm 1928-1929, phong trào đấu tranh cách mạng của nhân dân ta tiếp tục dâng lên khắp đất nước. Chủ nghĩa Mác-Lênin đã được truyền bá mạnh mẽ trong phong trào công nhân và phong trào yêu nước. Một trào lưu cách mạng mới xuất hiện, đòi hỏi phải có sự lãnh đạo của một chính đảng thực sự của giai cấp công nhân.

Những phần tử tiên tiến trong phong trào cách mạng đã nhận thức được tình hình đó và đã đứng ra thành lập những tổ chức cộng sản đầu tiên.

Ngày 17-6-1929, Đông Dương Cộng sản Đảng được thành lập ở Hà Nội. Đông Dương Cộng sản Đảng ra Chánh cương, Tuyên ngôn, nêu rõ đường lối của Đảng là làm cách mạng dân chủ tư sản do giai cấp vô sản lãnh đạo, tiến lên cách mạng xã hội chủ nghĩa, thực hành công nông liên hiệp. Sự ra đời của Đông Dương Cộng sản Đảng đã thúc đẩy phong trào cộng sản ở trong nước tiến mạnh. Tháng 7-1929, An Nam Cộng sản Đảng cũng được thành lập. Tháng 9-1929, những đảng viên ưu tú của Đảng Tân Việt ra tuyên bố thành lập Đông Dương Cộng sản Liên đoàn.

Trong vòng 4 tháng, ba tổ chức cộng sản liên tiếp ra đời. Sự kiện đó chứng tỏ việc thành lập Đảng Cộng sản là yêu cầu phát triển của phong trào công nhân và phong trào yêu nước ở Việt Nam năm 1929. Nhưng lợi ích của giai cấp công nhân và nhân dân lao động, cũng như nguyên tắc tổ chức của chính đảng Mác – Lênin không cho phép tồn tại tình hình là trong một nước mà có ba tổ chức cộng sản. Vì vậy tổ chức một đảng duy nhất của giai cấp công nhân là yêu cầu bức thiết của phong trào cách mạng ở Việt Nam lúc đó.

Nhận được tin có các tổ chức cộng sản ở Việt Nam, Quốc tế Cộng sản đã gửi thư kêu gọi các tổ chức cộng sản này thống nhất lại.

Sau khi nắm được tình hình trên, Nguyễn ái Quốc, với tư cách là đại diện của Quốc tế Cộng sản, đã triệu tập Hội nghị hợp nhất các tổ chức cộng sản ở Việt Nam. Đông Dương Cộng sản Đảng, An Nam Cộng sản Đảng đã cử đại biểu đến dự Hội nghị. Riêng Đông Dương Cộng sản Liên đoàn, không kịp cử đại biểu đến dự được, sau Hội nghị này, đã xin gia nhập vào Đảng Cộng sản Việt Nam.

Hội nghị hợp nhất mang tầm vóc lịch sử của một Đại hội thành lập Đảng. Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời đánh dấu một bước ngoặt lịch sử vĩ đại của cách mạng Việt Nam. Tr.52.

(9) Cuộc bạo động Yên Bái: Cuộc khởi nghĩa do Việt Nam Quốc dân đảng tổ chức và thực hiện. Việt Nam Quốc dân đảng là một tổ chức cách mạng theo xu hướng quốc gia tư sản, thành lập ngày 25-12-1927.

Do đường lối tổ chức không chặt chẽ, lại kết nạp đảng viên dễ dãi, để bọn mật thám chui vào nên đầu năm 1930, cơ sở của đảng bị vỡ ở nhiều nơi, nhiều cán bộ, đảng viên bị bắt. Trước tình hình đó, các lãnh tụ của Đảng là Nguyễn Thái Học và Nguyễn Khắc Nhu quyết định khởi nghĩa, vì cho rằng: đằng nào đảng cũng bị khủng bố và bị tiêu diệt, cho nên cứ bạo động, “không thành công cũng thành nhân”.

Ngày 11-2-1930, 10 giờ tối, bạo động đã nổ ra. Nghĩa quân chiếm các đồn Pháp ở Yên Bái. Một bộ phận binh lính Việt Nam trong quân đội Pháp phản chiến tham gia vào quân khởi nghĩa. Nghĩa quân chiếm được nhà dây thép, nhà ga, phát truyền đơn, hô hào quần chúng và binh lính hưởng ứng. Ngay sáng hôm sau, thực dân Pháp đã phản công, cuộc bạo động bị thất bại. Trong vòng một tuần, phong trào khởi nghĩa bị dập tắt ở các nơi. Nguyễn Thái Học và các lãnh tụ khác bị bắt và bị xử tử. Việt Nam Quốc dân đảng cũng bị tan rã.

Trong lúc Việt Nam Quốc dân đảng chuẩn bị khởi nghĩa, Nguyễn ái Quốc đang ở Xiêm (Thái Lan). Nghe tin đó, Nguyễn ái Quốc đã nhận xét: “Cuộc bạo động nổ ra lúc này là quá sớm, và khó thành công”. Người muốn gặp các lãnh tụ của Việt Nam Quốc dân đảng để “bàn lại kế hoạch” nhưng không thực hiện được. Trong lúc Nguyễn ái Quốc vượt biên giới Thái Lan đến Trung Quốc, cuộc bạo động đã được chuẩn bị và vẫn nổ ra như trên. Tr.52.

(10) Các cuộc khởi nghĩa vũ trang trong năm 1940 và đầu năm 1941.

– Khởi nghĩa Bắc Sơn: Nổ ra đêm 27-9-1940 ở Bắc Sơn (thuộc tỉnh Lạng Sơn). Lúc bấy giờ bọn thực dân Pháp đã đầu hàng phát xít Đức ở chính quốc, bọn thực dân Pháp ở Đông Dương rất hoang mang dao động. Khi quân Nhật tiến vào Lạng Sơn, chính quyền tay sai Pháp ở đây đã tan rã nhanh chóng. Chớp thời cơ đó, đảng bộ địa phương đã phát động khởi nghĩa.

Khoảng 600 quân khởi nghĩa có vũ trang đã nổi dậy chiếm đồn Mỏ Nhài, viên tri châu chạy trốn, nguỵ quyền tan rã, nhân dân hoàn toàn làm chủ châu lỵ và các vùng trong châu. Đội du kích địa phương được thành lập.

Nhưng sau đó, Nhật – Pháp lại thoả hiệp với nhau để đàn áp cuộc khởi nghĩa. Hội nghị Trung ương Đảng tháng 11-1940 đã quyết định duy trì đội du kích Bắc Sơn làm nòng cốt xây dựng lực lượng vũ trang và thành lập căn cứ địa Bắc Sơn – Vũ Nhai do Trung ương trực tiếp chỉ đạo.

– Khởi nghĩa Nam Kỳ: Nổ ra ngày 23-11-1940 ở hầu hết các tỉnh miền Nam, nhất là ở Mỹ Tho. Quần chúng nổi dậy rất dũng cảm, nhiều đồn bốt bị hạ, nhiều đường giao thông bị phá… Chính quyền địch ở một số nơi tan rã. ở những nơi đó, chính quyền cách mạng được thành lập và thực hiện những cải cách dân chủ. Cờ đỏ sao vàng lần đầu tiên xuất hiện.

Cuộc khởi nghĩa này nổ ra khi chưa có chỉ thị của Trung ương Đảng, điều kiện khách quan và chủ quan chưa chín muồi, bọn phản động lại lọt vào hàng ngũ cách mạng và nắm được kế hoạch của cuộc khởi nghĩa, cho nên thực dân Pháp đã đàn áp đẫm máu cuộc khởi nghĩa này và cuối cùng cuộc khởi nghĩa bị thất bại.

Cuộc khởi nghĩa Nam Kỳ vừa nổ ra thì ngay ngày hôm sau, Trung ương Đảng ta đã ra thông báo khẩn cấp gửi các cấp bộ Đảng, kêu gọi ủng hộ cuộc khởi nghĩa Nam Kỳ.

– Khởi nghĩa Đô Lương: Cuộc bạo động của binh lính Việt Nam trong quân đội tay sai của thực dân Pháp, do Nguyễn Văn Cung (còn gọi là Đội Cung) lãnh đạo, nổ ra ngày 13-1-1941. Binh lính yêu nước đã nổi dậy đánh chiếm đồn Chợ Rạng (Đô Lương, Nghệ An) và sau đó tiến về đánh chiếm Vinh. Nhưng kế hoạch bị lộ, những người tham gia bạo động bị bắt, cuộc khởi nghĩa bị thất bại. Tr.52.

(11) Mặt trận Việt Minh (hoặc Việt Minh): Là tên gọi tắt của Hội Việt Nam độc lập đồng minh, được thành lập tại Pác Bó (Cao Bằng), ngày 19-5-1941, theo sáng kiến của Chủ tịch Hồ Chí Minh trước đó và theo Nghị quyết Hội nghị lần thứ tám của Ban Chấp hành Trung ương Đảng (tháng 5-1941), nhằm mở rộng Mặt trận dân tộc thống nhất chống thực dân Pháp và phát xít Nhật. Hội gồm các thành viên là Đảng Cộng sản Đông Dương và các Hội cứu quốc như Hội Công nhân cứu quốc, Hội Nông dân cứu quốc, Hội Thanh niên cứu quốc, Hội Phụ nữ cứu quốc, Hội Quân nhân cứu quốc, Hội Phụ lão cứu quốc, Hội Phật giáo cứu quốc, Hội Nhi đồng cứu quốc, v.v.. Đây là một mặt trận dân tộc thống nhất rộng rãi, tập hợp đông đảo các tầng lớp nhân dân, các đảng phái chính trị và tôn giáo yêu nước, thành một lực lượng cách mạng hùng mạnh để chống kẻ thù chính của dân tộc Việt Nam lúc ấy là thực dân Pháp và phát xít Nhật.

Sau khi Cách mạng Tháng Tám thành công, theo chủ trương của Đảng nhằm mở rộng mặt trận dân tộc thống nhất để kháng chiến và kiến quốc, Hội liên hiệp quốc dân Việt Nam ra đời (gọi tắt là Liên Việt). Việt Minh đã gia nhập Liên Việt cùng nhau vận động nhân dân tham gia cuộc đấu tranh chống thực dân Pháp. Ngày 5-3-1951, tại Đại hội Mặt trận thống nhất dân tộc toàn quốc, đã thống nhất hai tổ chức Việt Minh và Liên Việt thành Mặt trận Liên – Việt. Khi cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp kết thúc thắng lợi, để đáp ứng tình hình và nhiệm vụ mới, tháng 9-1955, Mặt trận Liên – Việt được tổ chức lại thành Mặt trận Tổ quốc Việt Nam. Tr.52.

(12) Cách mạng Tháng Tám: Cuộc cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân ở Việt Nam diễn ra và thắng lợi vào tháng 8-1945.

Ngày 9-3-1945, phát xít Nhật đảo chính thực dân Pháp ở Đông Dương, Đảng ta đã kịp thời phát động phong trào chống Nhật cứu nước, chuẩn bị tổng khởi nghĩa giành chính quyền. Ngày 13-8-1945, được tin phát xít Nhật sắp đầu hàng Đồng minh, quân Nhật ở Đông Dương và bè lũ tay sai hoang mang cực độ, Đảng ta đã chớp lấy thời cơ ấy, quyết định tổng khởi nghĩa.

Từ ngày 14 đến 28-8-1945, nhân dân ta dưới sự lãnh đạo của Đảng đã nhất tề vùng lên tổng khởi nghĩa giành chính quyền trong cả nước. Ngày 2-9-1945, tại cuộc mít tinh lớn ở vườn hoa Ba Đình, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã long trọng tuyên bố trước nhân dân Việt Nam và thế giới: Nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà ra đời. Tr. 53.

(13) Ngày 23-9-1945: Thực dân Pháp, được thực dân Anh ủng hộ, đã nổ súng đánh chiếm Sài Gòn, thực hiện âm mưu nhanh chóng chiếm lại nước ta. Xứ uỷ Nam Bộ quyết định phát động nhân dân kiên quyết kháng chiến chống xâm lược. Chiều ngày 23-9, đồng bào Sài Gòn – Chợ Lớn triệt để tổng đình công, không hợp tác với giặc. Chợ ngừng họp, xe cộ ngừng chạy, các hiệu buôn, nhà máy đóng cửa… Các chiến sĩ tự vệ công nhân, tự vệ thanh niên, các đội xung phong công đoàn, cảnh sát chiến đấu, công an xung phong cùng toàn thể đồng bào, với mọi thứ vũ khí có trong tay, dũng cảm đánh trả bọn xâm lược. Một loạt kho tàng của địch bị đánh phá, điện, nước bị cắt. Các đội vũ trang đột nhập sân bay Tân Sơn Nhất, đột nhập bến cảng đốt cháy tàu giặc vừa cập bến. Quân Pháp nhiều lần tiến ra phía cầu Bông, cầu Kiệu, cầu Thị Nghè đều bị chặn lại…

Dưới sự lãnh đạo của Xứ uỷ, nhân dân Sài Gòn – Chợ Lớn đã kiên quyết kháng chiến, mở đầu cuộc kháng chiến anh dũng của đồng bào Nam bộ. Tr. 53.

(14) Hiệp định sơ bộ 6-3: Cuối tháng 2-1946, được sự đồng tình của đế quốc Mỹ, Pháp đã ký với Chính phủ Tưởng Giới Thạch ở Trùng Khánh một bản Hiệp ước cho quân Pháp vào thay thế quân Tưởng ở miền Bắc Đông Dương. Mặc dù vậy, bọn quân phiệt Tưởng vẫn trì hoãn việc rút quân về nước, kéo dài sự có mặt của chúng ở Việt Nam để cướp bóc nhân dân ta và phá hoại cách mạng nước ta.

Để loại trừ bớt một kẻ thù nguy hiểm của cách mạng và cũng để tranh thủ thời gian củng cố lực lượng kháng chiến ở Nam Bộ, chuẩn bị lực lượng ở miền Bắc để đối phó với nguy cơ chiến tranh trong phạm vi cả nước, ngày 3-3-1946 Ban Thường vụ Trung ương Đảng đã ra Chỉ thị Tình hình và chủ trương phân tích sâu sắc tình hình, âm mưu và thủ đoạn xảo quyệt của bọn đế quốc và tay sai và nêu lên chủ trương tạm thời hoà hoãn với Pháp. Chỉ thị cũng vạch ra những nguyên tắc cơ bản cho việc đàm phán giữa ta và Pháp. Ngày 5-3-1946, Hội nghị mở rộng của Ban Chấp hành Trung ương Đảng đã tán thành chủ trương trên của Ban Thường vụ Trung ương Đảng.

Thực hiện chủ trương đó, ngày 6-3-1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ký với đại diện Chính phủ Pháp Hiệp định sơ bộ tại số nhà 36 Lý Thái Tổ, Hà Nội.

Nội dung cơ bản của bản Hiệp định sơ bộ là: Chính phủ Pháp công nhận nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà là một quốc gia tự do nằm trong khối Liên hiệp Pháp. Nước Việt Nam có Chính phủ, Nghị viện, quân đội và tài chính riêng. Sự thống nhất đất nước sẽ do trưng cầu ý dân quyết định. Chính phủ Việt Nam đồng ý cho 15.000 quân Pháp được vào thay thế quân Tưởng rút về nước. Số quân đó phải đóng ở những nơi được quy định và phải rút khỏi Việt Nam trong vòng 5 năm, mỗi năm rút một phần năm. Quân đội hai bên ngừng bắn và ở nguyên vị trí đóng quân.

Trong hoàn cảnh lịch sử đó, việc ký Hiệp định sơ bộ là một trong những sách lược cách mạng đúng đắn, sáng suốt. Nó đã tạo điều kiện để chúng ta tổ chức lại cuộc kháng chiến ở Nam Bộ; đuổi nhanh quân Tưởng về nước, diệt bọn Việt gian tay sai của Tưởng, giành thêm thời gian hoà bình để xây dựng và củng cố lực lượng của ta chuẩn bị cuộc kháng chiến lâu dài chống thực dân Pháp xâm lược. Tr.53.

(15) Tạm ước 14-9: Bản Tạm ước do Chủ tịch Hồ Chí Minh ký với Chính phủ Pháp, tại Pari ngày 14-9-1946.

Do thái đội ngoan cố và hiếu chiến của thực dân Pháp, cuộc đàm phán giữa Chính phủ ta và Chính phủ Pháp tại Phôngtennơblô không đi đến kết quả. Chủ tịch Hồ Chí Minh thấy rõ nguy cơ của một cuộc chiến tranh ác liệt có quy mô cả nước mà Người dự đoán từ trước, đã đến gần. Để có thêm thời gian chuẩn bị cho cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và để tỏ thiện chí của Chính phủ ta, Chủ tịch Hồ Chí Minh lúc đó đang ở Pari với tư cách là thượng khách của Chính phủ Pháp, đã tranh thủ dàn xếp, ký với Chính phủ Pháp bản Tạm ước này.

Nội dung cơ bản của bản Tạm ước là sự thoả thuận tạm thời giữa ta và Pháp về một số vấn đề bức thiết có tính chất bộ phận. Chính phủ Pháp phải thi hành các quyền tự do, dân chủ và phải ngừng bắn ở Nam Bộ; Chính phủ ta tạm thời nhân nhượng thêm cho Pháp một số quyền lợi về kinh tế và văn hoá ở Việt Nam; quy định thời gian tiếp tục cuộc đàm phán Việt – Pháp vào tháng 1-1947.

Tạm ước 14-9 là một sách lược ngoại giao tài tình của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Tạm ước đã tạo điều kiện để nhân dân ta có thêm thời gian hoà bình, chuẩn bị lực lượng về mọi mặt để tiến hành cuộc kháng chiến lâu dài chống thực dân Pháp xâm lược. Tr. 53.

(16) Chiến dịch Việt Bắc Thu – Đông năm 1947: Để thực hiện ý đồ tiêu diệt cơ quan đầu não của cuộc kháng chiến và bộ đội chủ lực của ta, giành thắng lợi quyết định về quân sự và nhanh chóng kết thúc cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam, ngày 7-10-1947, thực dân Pháp đã huy động 20.000 quân tinh nhuệ được trang bị đầy đủ vũ khí, phương tiện hiện đại, mở cuộc hành quân tấn công lên Việt Bắc.

Thi hành Chỉ thị của Đảng ta “Phải phá tan cuộc tấn công mùa Đông của giặc Pháp”, bảo vệ cơ quan đầu não của kháng chiến, quân và dân ta đã anh dũng chiến đấu đánh địch ở khắp các mặt trận và lập những chiến công vang dội tại Đoan Hùng, Khe Lau, Sông Lô, Bông Lau, Phủ Thông, Đèo Ràng, v.v..

Sau gần 3 tháng chiến đấu (từ 7-10 đến 22-12-1946), quân và dân ta đã đánh hơn 200 trận, loại khỏi vòng chiến đấu hơn 7000 tên địch; bắn rơi 18 máy bay; bắn chìm và bắn cháy 54 ca nô, tàu chiến; phá huỷ 255 xe cơ giới; thu hàng nghìn súng các loại và nhiều đồ dùng quân sự khác. Âm mưu thâm độc của thực dân Pháp hòng nhanh chóng kết thúc cuộc chiến tranh xâm lược nước ta đã bị thất bại. Tr.54.

(17) Chiến dịch Cao – Bắc – Lạng (Cao Bằng, Bắc Cạn, Lạng Sơn): Tức là chiến dịch Biên giới thu đông năm 1950, còn gọi là chiến dịch Lê Hồng Phong II được tiến hành theo quyết định hồi tháng 6-1950 của Ban Thường vụ Trung ương Đảng và của Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Mục đích của chiến dịch là tiêu diệt một bộ phận quan trọng sinh lực địch, mở rộng và củng cố căn cứ địa Việt Bắc, phá tan vòng vây của chủ nghĩa đế quốc với ta.

Đầu tháng 9-1950, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã lên đường ra mặt trận.

Sáng ngày 16-9-1950, chiến dịch bắt đầu. Bộ đội ta đánh chiếm Đông Khê, một căn cứ quan trọng của địch trên tuyến phòng ngự đường số 4, nằm giữa Lạng Sơn và Cao Bằng. Bị mất Đông Khê, quân đội Pháp quyết định rút khỏi Cao Bằng theo kế hoạch: Một mặt dùng gần hết lực lượng dự bị còn lại ở Bắc Bộ để mở cuộc hành binh Phốccơ (Phoque) lên chiếm thị xã Thái Nguyên, mặt khác, dùng binh đoàn Lơ Pagiơ mở cuộc hành binh Têredơ (Therèse) từ Lạng Sơn theo đường số 4 rút về.

Sáng ngày 7-10-1950, quân ta tiêu diệt toàn bộ binh đoàn Lơ Pagiơ tại Cốc Xá cách Đông Khê 7 kilômét. Chiều ngày 7-10-1950, quân ta lại tiêu diệt gọn binh đoàn Sáctông tại điểm cao 477 ở gần Cốc Xá về phía Tây. Binh đoàn từ Thất Khê lên ứng cứu cũng bỏ chạy. Tại Thái Nguyên, quân địch bị quân ta chặn đánh dữ dội, đã phải tháo chạy.

Trong 13 ngày (từ 10 đến 23-10-1950), địch liên tiếp bỏ các vị trí Thất Khê, Na Sầm, Đồng Đăng, Lạng Sơn, Đình Lập, An Châu rút về Tiên Yên ở khu vực duyên hải. Hệ thống phòng tuyến đường số 4 của địch bị phá vỡ.

Trong chiến dịch Biên giới, quân ta đã tiêu diệt và bắt sống 8.000 tên địch (trong đó bắt sống 3.500 tên), tiêu diệt gọn một nửa lực lượng cơ động chiến lược của địch ở Bắc Đông Dương, thu nhiều vũ khí; giải phóng 5 thị xã, 13 thị trấn, nhiều vùng đất đai quan trọng, cả một dải biên giới dài 750 kilômét, bao gồm 35 vạn dân. Căn cứ địa Việt Bắc được mở rộng và củng cố. Cách mạng nước ta lần đầu tiên đã phá tan vòng vây của chủ nghĩa đế quốc.

Chiến dịch Biên giới là chiến dịch tiến công quy mô lớn đầu tiên của quân và dân ta, một chiến dịch đánh vận động, đánh tiêu diệt xuất sắc, đạt hiệu suất chiến đấu cao, đánh dấu bước phát triển mới về quyền chủ động của quân đội ta trên chiến trường chính. Tr.54.

(18) Chiến dịch Hoà Bình: Bắt đầu từ ngày 25-11-1951. Trung tuần tháng 11-1951, thực hiện kế hoạch của Đờlát Đờ Tátxinhi, thực dân Pháp đã mở cuộc càn quét lên vùng Hoà Bình, âm mưu lập lại hành lang Đông – Tây, chặn đường tiếp tế của ta, lập “xứ Mường tự trị” hòng chia rẽ các dân tộc thiểu số, tiêu diệt bộ đội chủ lực của ta và giành lại thế chủ động trên chiến trường Bắc Bộ. Lực lượng được chúng huy động cho cuộc hành quân này gồm 20 tiểu đoàn tinh nhuệ, lúc cao nhất lên tới 29 tiểu đoàn, có không quân, pháo binh và cơ giới yểm trợ.

Nắm chắc chủ trương và lực lượng của địch, ngày 24-11-1951, Trung ương Đảng ra Chỉ thị: Nhiệm vụ phá cuộc tiến công lên Hoà Bình của địch. Chỉ thị vạch rõ, nhiệm vụ của ta trong chiến dịch này là tiêu diệt địch ở mặt trận chính diện, đẩy mạnh chiến tranh du kích ở vùng sau lưng địch, mở rộng các khu căn cứ du kích.

Thực hiện Chỉ thị của Trung ương Đảng, các lực lượng vũ trang và nhân dân ta đã chiến đấu dũng cảm trên các mặt trận. ở mặt trận chính diện, quân ta đánh địch trên cả 3 phân khu: Chợ Bến, sông Đà và Hoà Bình, với các chiến thắng vang dội ở Tu Vũ, đường số 6, sông Đà, v.v.. ở mặt trận sau lưng địch, chiến tranh du kích phát triển rất mạnh ở Vĩnh Yên, Bắc Ninh, Ninh Bình, v.v.. Trước sự tiến công của ta ở cả hai mặt trận, ngày 23-2-1952, quân địch phải rút chạy khỏi Hoà Bình. Tổng kết chiến dịch, quân ta đã loại khỏi vòng chiến đấu 22.000 tên địch, (riêng ở mặt trận Hoà Bình, số địch bị tiêu diệt là hơn 6.000 tên), bắn rơi 13 máy bay, bắn cháy 23 tàu chiến và canô, phá huỷ 17 xe tăng, thu nhiều đồ dùng quân sự. Hơn 2 triệu dân và một vùng đất đai rộng lớn được giải phóng. Tr.54.

(19) Hiệp ước Manila: Được ký kết giữa các nước Mỹ, Anh, Pháp, Ôxtrâylia, Niu Dilơn, Pakixtan, Thái Lan, Philíppin tại Manila (Philíppin) vào ngày 8-9-1954. Nội dung căn bản của bản Hiệp ước này là việc thành lập “Tổ chức Hiệp ước phòng thủ Đông – Nam Á (SEATO)”. Khối quân sự- chính trị nhằm chống lại phong trào giải phóng dân tộc và các lực lượng tiến bộ ở khu vực Đông – Nam Á. Theo điều khoản của Hiệp ước, các thành viên của khối SEATO có trách nhiệm giúp đỡ lẫn nhau trong trường hợp một nước bị tấn công hay có “nguy cơ bị tấn công”. Không những thế, bản Hiệp ước còn cho phép các nước này tiến hành các hoạt động quân sự ngoài khu vực của các nước thành viên. Các nước tham gia Hiệp ước còn ký một văn kiện bổ sung cho phép thực hiện các điều khoản của Hiệp ước ở miền Nam Việt Nam, Lào và Campuchia, vi phạm trắng trợn các nghị quyết của Hội nghị Giơnevơ năm 1954. SEATO đã tổ chức nhiều cuộc tập trận, tích cực ủng hộ và can thiệp trực tiếp vào cuộc chiến tranh của Mỹ ở Đông Dương. Do những mâu thuẫn trong nội bộ các nước thành viên, năm 1976, khối SEATO tự tuyên bố giải tán. Tr. 57.

(20) Kế hoạch Mácsan: Kế hoạch viện trợ kinh tế của Mỹ cho các nước tư bản châu Âu sau Chiến tranh thế giới thứ hai, do Mácsan, Quốc vụ khanh Chính phủ Mỹ, đề ra ngày 5-6-1947.

Thực chất của kế hoạch Mácsan là nhằm thực hiện mưu đồ của đế quốc Mỹ khống chế kinh tế, quân sự và can thiệp vào công việc nội bộ của các nước khác. Các nước tiếp nhận kế hoạch Mácsan phải dành cho Mỹ những đặc quyền có tính chất một chiều; phải ngừng buôn bán với Liên Xô và các nước dân chủ nhân dân. Phần lớn số tiền mà các nước nhận được từ kế hoạch Mácsan, do sức ép của Mỹ đều chi vào mục đích quân sự. Ngoài ra đế quốc Mỹ còn được phép xây dựng nhiều căn cứ quân sự tại những nước này. Tr.58.

(21) Hội nghị Băngđung: Họp từ ngày 18 đến 24-4-1955, tại Băngđung (Inđônêxia). Do sáng kiến của 5 nước khởi xướng là Inđônêxia, Mianma, Xri Lanca, Pakixtan, ấn Độ. Lần đầu tiên trong lịch sử loài người, đại biểu 29 nước ở châu á, châu Phi, bao gồm hơn nửa nhân loại, đã họp nhau lại để giải quyết những vấn đề chung của các nước đó. Mặc dù chế độ kinh tế, xã hội khác nhau, những nước đó đoàn kết lại vì nguyện vọng chung là hoà bình và độc lập dân tộc. Đoàn đại biểu Việt Nam do Phó Thủ tướng Phạm Văn Đồng làm trưởng đoàn đã có đóng góp tích cực vào Hội nghị. Thông cáo chung của Hội nghị nêu rõ: chủ nghĩa thực dân, dưới mọi biểu hiện của nó, là một tai hoạ cần phải nhanh chóng tiêu diệt. Các nước á-Phi hoàn toàn ủng hộ quyền bình đẳng và tự quyết dân tộc, lên án chính sách phân biệt chủng tộc và Thông cáo chung kêu gọi các nước hãy tiến hành ngay việc giải trừ quân bị, ngăn cấm việc sản xuất vũ khí hạt nhân; thực hiện hoà bình, hợp tác thân thiện và giải quyết những vấn đề tranh chấp bằng thương lượng. Tr.58.

cpv.org.vn

Advertisements