Archive by Author | Việt Nam - Hồ Chí Minh

Điện mừng Quốc khánh nước Cộng hoà Nhân dân Ba Lan (22-7-1955)

Kính gửi đồng chí Alếchxăngđơ Davátxki,

Chủ tịch Hội đồng quốc gia nước Cộng hoà Nhân dân
Ba Lan và đồng chí Giôdép Xirăngkiêvích, Chủ tịch
Hội đồng Bộ trưởng nước Cộng hoà Nhân dân Ba Lan,

Nhân dịp kỷ niệm lần thứ 11 ngày phục hưng nước Ba Lan, tôi xin thay mặt nhân dân Việt Nam, Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hoà và nhân danh cá nhân tôi, gửi hai đồng chí, nhân dân và Chính phủ nước Cộng hoà Nhân dân Ba Lan lời chào mừng nhiệt liệt.

Nhân dân Việt Nam và Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hoà chúc nhân dân Ba Lan, dưới sự lãnh đạo của Đảng Công nhân thống nhất Ba Lan và Chính phủ nước Cộng hoà Nhân dân Ba Lan, với sự giúp đỡ hết lòng của Liên Xô, sẽ thu được nhiều thắng lợi mới trong công cuộc xây dựng xã hội chủ nghĩa, góp phần giữ gìn và củng cố hoà bình ở châu Âu và trên toàn thế giới.

Tôi xin chúc tình hữu nghị giữa Việt Nam và Ba Lan ngày thêm thắm thiết và chặt chẽ, vì lợi ích của nhân dân hai nước chúng ta và vì lợi ích của hoà bình.

Chủ tịch kiêm Thủ tướng nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà
HỒ CHÍ MINH

—————————

Báo Nhân dân, số 506, ngày 22-7-1955.
cpv.org.vn

Báo cáo về việc Đoàn đại biểu của Chính phủ ta đi thǎm Liên Xô và Trung Quốc (23-7-1955)

Thưa đồng bào, thưa các cụ, các cháu thanh niên và nhi đồng,

Nhận lời mời của Chính phủ Liên Xô, Chính phủ Trung Quốc và Chính phủ Cộng hoà Nhân dân Mông Cổ, tôi đã cùng đồng chí Trường Chinh, bốn vị Bộ trưởng và ba vị Thứ trưởng đi thăm các nước bạn vĩ đại của ta.

Từ Hà Nội qua Bắc Kinh, qua Ulan Bato (Thủ đô Mông Cổ) đến Mátxcơva, vừa đi vừa về là 2 vạn 2.000 cây số.

Đoàn đại biểu ta ra đi từ hôm 22-6; về đến nhà hôm 22-7. Thế là vừa một tháng.

Cuộc đi thăm có mấy mục đích:

1. Để củng cố thêm tình đoàn kết hữu nghị giữa nhân dân ta với nhân dân Liên Xô và Trung Quốc;

2. Phát triển mối quan hệ kinh tế và văn hoá với các nước bạn. Đoàn đại biểu ta gặp gỡ và bàn bạc với các vị lãnh tụ của hai Chính phủ, bàn về tình hình Đông – Nam á và tình hình thế giới, về phương pháp giữ gìn hoà bình, về công tác khôi phục và phát triển kinh tế, văn hoá của nước ta. ý kiến của Đoàn đại biểu ta và các vị lãnh tụ hai nước bạn đều hoàn toàn nhất trí. Nội dung đã nói rõ trong hai bản tuyên bố chung giữa Đoàn đại biểu ta và Chính phủ hai nước bạn Liên Xô và Trung Quốc.

*

*     *

Bây giờ tôi tóm tắt kể lại cảm tưởng chung của Đoàn đại biểu ta trong cuộc đi thăm này:

Nhân dân và Chính phủ hai nước bạn đối với ta tình hữu nghị thật là thân mật, thắm thiết; sự đồng tình và ủng hộ thật là nhiệt liệt, tích cực. Chúng tôi đi đến đâu cũng có hàng ngàn hàng vạn người chào mừng vỗ tay, hoan hô. Cho đến các trẻ em cũng nhiệt liệt hô khẩu hiệu: “Nhân dân Việt Nam anh dũng muôn năm!”.

Vì đâu mà có tình nghĩa nồng nàn ấy?

– Vì dưới sự lãnh đạo của Đảng và của Chính phủ, nhân dân ta đã đoàn kết chặt chẽ, kháng chiến anh dũng. Ngày nay nhân dân ta lại kiên quyết đấu tranh cho hoà bình, thống nhất, độc lập, dân chủ trong cả nước.

– Vì Liên Xô và Trung Quốc là những nước dân chủ và xã hội chủ nghĩa, luôn luôn ủng hộ chính nghĩa, ủng hộ các dân tộc đấu tranh cho quyền độc lập tự do của mình.

ở Liên Xô và Trung Quốc, chúng tôi đều thấy nông nghiệp và công nghiệp rất phát triển, đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân rất cao, mỗi người đều kiên quyết đấu tranh để giữ gìn hoà bình.

*

*     *

Tôi xin báo cáo để đồng bào biết rằng: trong dịp này,

Liên Xô giúp tính ra tiền ta là 306 ngàn triệu đồng ngân hàng (1) trong hai năm.

Trung Quốc giúp ta tính ra tiền ta là 1.224 ngàn triệu đồng ngân hàng trong 5 năm.

Các nước bạn khác như Ba Lan, Tiệp Khắc, Bungari, Hunggari, Cộng hoà dân chủ Đức, v.v. cũng giúp ta. Nước Cộng hoà Nhân dân Mông Cổ với độ một triệu dân cũng giúp ta 500 tấn thịt, một số bò và cừu để lập một nông trường chăn nuôi.

Nhân dịp này, một lần nữa, tôi trân trọng thay mặt Chính phủ và đồng bào ta nhiệt liệt cảm ơn các nước bạn.

Các nước bạn đã giúp ta tiền bạc và vật liệu, lại còn phái những nhà chuyên môn giúp ta về việc xây dựng kinh tế, văn hoá, xã hội; còn giúp đào tạo cán bộ cho ta.

Các nước bạn giúp ta một cách vô tư, khảng khái. Ta không phải trả lại những khoản giúp ấy. Đó là sự giúp đỡ không có điều kiện. Các nước bạn ra sức giúp ta, đồng thời tuyệt đối tôn trọng chủ quyền của ta. Khác hẳn với “viện trợ” của các nước đế quốc: “giúp một để lột mười”, “giúp” để nô dịch.

Các nước bạn giúp ta để hàn gắn mau chóng những vết thương chiến tranh; để tăng gia sản xuất về nông nghiệp, công nghiệp và để phát triển thương nghiệp; để khôi phục và phát triển kinh tế và văn hoá; để ta dần dần nâng cao đời sống của nhân dân ta.

*

*     *

Các nước bạn, nhất là Liên Xô và Trung Quốc, giúp ta rất nhiều. Sự giúp đỡ ấy càng khuyến khích nhân dân và cán bộ ta phải ra sức làm trọn nhiệm vụ:

– Phấn đấu để khôi phục lại kinh tế và văn hoá, để chuẩn bị điều kiện xây dựng nước nhà.

– Hăng hái thi đua tăng gia sản xuất và thực hành tiết kiệm.

– Vỡ hoang, phòng lụt, chống hạn, để đánh tan giặc đói.

Cũng như trong thời kỳ kháng chiến, phương châm của ta hiện nay là: tự lực cánh sinh là chính, việc các nước bạn giúp ta là phụ.

Các nước bạn giúp ta cũng như thêm vốn cho ta. Ta phải khéo dùng cái vốn ấy để bồi bổ lực lượng của ta, phát triển khả năng của ta. Song nhân dân và cán bộ ta tuyệt đối chớ vì bạn ta giúp nhiều mà đâm ra ỷ lại.

Trái lại, chúng ta phải học tinh thần tự lập tự cường, tinh thần hăng hái thi đua sản xuất và tiết kiệm của nhân dân các nước bạn.

Nước ta là một bộ phận trong đại gia đình dân chủ và xã hội chủ nghĩa, gồm hơn 900 triệu người. Chúng ta đã kinh qua 8, 9 năm kháng chiến gian khổ và anh dũng. Ngày nay, hoà bình đã trở lại, nhưng chưa củng cố, đất nước ta còn tạm chia làm hai miền; đế quốc Mỹ đang âm mưu trường kỳ chia rẽ nước ta. Trước tình hình ấy, chúng ta phải nâng cao chí khí phấn đấu và tinh thần cảnh giác. Chúng ta phải đoàn kết nhất trí từ Bắc đến Nam, kiên quyết đấu tranh vượt mọi khó khăn để thi hành triệt để Hiệp định Giơnevơ.

Chúng ta phải bồi dưỡng lòng nồng nàn yêu nước và tinh thần quốc tế chân chính.

Các nước bạn giúp ta, chúng ta càng thêm lực lượng đấu tranh để củng cố hoà bình, thực hiện thống nhất nước nhà bằng cuộc tổng tuyển cử tự do, hoàn thành độc lập và dân chủ trong cả nước.

Tình hữu nghị vĩ đại giữa nhân dân ta và nhân dân các nước anh em muôn năm!

Việt Nam hoà bình, thống nhất, độc lập, dân chủ muôn năm!

—————————

Đọc ngày 23-7-1955.
Báo Nhân dân, số 508, ngày 24-7-1955.

(1) Hội nghị Giơnevơ: Hội nghị Bộ trưởng Ngoại giao của một số nước họp từ ngày 26-4 đến ngày 21-7-1954 tại Giơnevơ (Thuỵ Sĩ). Hội nghị này được triệu tập theo chủ trương của Hội nghị Béclin nǎm 1954. Chương trình thảo luận của Hội nghị gồm 2 vấn đề: giải quyết hoà bình vấn đề Triều Tiên và lập lại hoà bình ở Đông Dương.

Do thái độ ngoan cố của Mỹ và các nước chư hầu đã tham gia chiến tranh Triều Tiên, cuộc thảo luận về vấn đề Triều Tiên không thu được kết quả.

Ngày 8-5-1954, đúng một ngày sau chiến thắng Điện Biên Phủ, vấn đề chấm dứt chiến tranh lập lại hoà bình ở Đông Dương chính thức được Hội nghị Giơnevơ thảo luận. Phái đoàn Chính phủ ta do đồng chí Phạm Vǎn Đồng làm Trưởng đoàn tham gia Hội nghị với tư thế đoàn đại biểu của một dân tộc chiến thắng.

Tuyên bố chung của Hội nghị và Hiệp định đình chiến ở Đông Dương được ký kết vào ngày 21-7-1954. Các nước tham gia Hội nghị đã cam kết thừa nhận tôn trọng độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam, Lào và Campuchia; quy định quân Pháp phải rút khỏi Đông Dương và mỗi nước Đông Dương sẽ tuyển cử tự do để thống nhất đất nước.

Bản Tuyên bố chung còn ghi rõ, ở Việt Nam, lấy vĩ tuyến 17 làm ranh giới quân sự và chỉ có tính chất tạm thời, không thể coi đó là biên giới chính trị hoặc lãnh thổ và quy định ở Việt Nam cuộc Tổng tuyển cử tự do để thống nhất đất nước sẽ được tiến hành vào tháng 7-1956. Tr.7.

cpv.org.vn

Bài nói tại phân hiệu II Trường Nguyễn Ái Quốc 7-1955

Bác đến thăm các cô các chú, các cô các chú cũng mong gặp Bác lâu rồi, nhưng vì công việc bận nhiều quá nên Bác không đến với các cô các chú được.

Hôm nay Bác sẽ nói chuyện với các cô các chú một vài điểm:

I- Nhiệm vụ của Đảng, Chính phủ và nhân dân hiện nay

1. Về khôi phục kinh tế:

Về nông nghiệp: làm sao chống lụt, chống hạn, chống dịch trâu bò, phát triển chăn nuôi. Các nước bạn sẽ giúp ta kinh nghiệm chống lụt. Nhân dân và cán bộ cần hiểu rằng với sự giúp đỡ của các nước bạn, ta vẫn phải tự lực hăng hái mà làm.

Về công nghiệp: Liên Xô giúp ta xây dựng 25 nhà máy, giúp máy móc và công trình sư. Chỉ có nguyên như thế, nhà máy cũng không chạy được. Phải có sức mình, làm sao phải có người lãnh đạo, quản trị, phải chống được tham ô, lãng phí. Do đó phần lớn phải là ở cán bộ.

Làm sao cho nhân dân có công ăn việc làm để nâng cao đời sống của nhân dân lên, thì mức sống cán bộ mới nâng cao được. Nâng cao được phần nào là do sức cố gắng của mình quyết định.

2. Về chính trị:

Mục đích của dân ta cũng như của phe ta là làm sao cho nước Việt Nam được hoà bình, thống nhất, độc lập, dân chủ trong cả nước. Việc tiến hành phải có từng bước. Có hoà bình mới có thống nhất, mà có thống nhất được mới có hoà bình thật sự. Muốn thống nhất phải hiệp thương. Nhưng bọn Mỹ – Diệm phá hoại hiệp định. Làm sao cho nhân dân trong nước đều muốn cả, thì dù bọn Mỹ – Diệm không muốn cũng phải tiến hành hiệp thương; một số nước trên thế giới cũng muốn có cuộc tổng tuyển cử ở Việt Nam.

Về kinh tế cũng như về chính trị, cuộc đấu tranh đều gian khổ, phức tạp. Ngoài Mỹ – Diệm, thực dân ngoan cố, còn có địch trời: lụt, bão, hạn, bệnh tật, v.v.. Phải làm sao lấy sức người chống lại sức thiên nhiên. Thời kỳ kháng chiến, ta đã làm và ta đã thắng. Bây giờ có sự giúp đỡ của các nước bạn thì chống Mỹ – Diệm và trời phản động, ta cũng sẽ thắng. Nhưng còn một kẻ địch ngoan cố hơn là kẻ địch tư tưởng. Nếu hiểu rằng phải để lợi ích chung của Đảng, của nhân dân lên trên, lợi ích cá nhân xuống dưới, làm cho đúng đường lối của Đảng, của Chính phủ, hết sức lo lắng, thương yêu nhân dân, thì nhất định khắc phục được địch trời, địch người. Nếu cán bộ không thông chính sách, để lợi ích cá nhân lên trên, nghĩ đến hưởng lạc, địa vị, muốn làm việc này việc kia…, tức là chưa thắng địch trong mình, thì khó thắng được địch Mỹ – Diệm, địch trời.

Ta thắng kẻ địch mạnh vì ta có quyết tâm và đoàn kết. Trong giai đoạn đấu tranh chính trị này, ta lại càng phải có quyết tâm và đoàn kết hơn nữa, thế thì cuộc đấu tranh này tất thắng. Cuộc đấu tranh kinh tế, chính trị và tư tưởng nhất trí với nhau. Nhiệm vụ của cán bộ là cần phải nhận rõ để khắc phục mọi trở lực.

II- Nói về lớp học này

Đảng tức là nhiều đảng viên hợp lại theo chủ nghĩa Mác-Lênin, theo mục đích giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp. Chúng ta đều biết Đảng không phải trên trời rơi xuống, mà ở trong xã hội cũ, thực dân phong kiến. Truyền thống của dân tộc ta tốt, nhưng cái xấu trong xã hội cũ đã ảnh hưởng vào từng cá nhân đảng viên. Nói chung, Đảng mạnh vì Đảng có vũ khí tốt. Nhưng từng bộ phận, từng cá nhân có cái xấu. Vì thế, các cô, các chú ở đây cũng như ở nơi khác còn nhiều khuyết điểm; mặc dù những khuyết điểm ấy nhiều, ít, to, nhỏ khác nhau, nguyên nhân là vì trình độ lý luận thấp, vì không thật thà nghiêm khắc tự phê bình.

Đảng mở lớp huấn luyện giúp các cô, các chú tiến bộ, xứng đáng là người đảng viên để phục vụ Đảng, phục vụ giai cấp. Gần hai năm học tập, các cô, các chú đều có tiến bộ, kẻ nhiều người ít. Dù các cô, các chú có sai lầm gì, nhưng các cô, các chú cũng nhận rõ Đảng ta là Đảng thế nào. Đảng không phải là nơi để thăng quan, tiến chức, để phát tài. Vào Đảng là để phục vụ nhân dân, phục vụ giai cấp, đảng viên phải trở thành người con hiếu thảo của Tổ quốc, của giai cấp.

Đảng phải rất mạnh, rất trong sạch. Lấy đồng hồ làm thí dụ: bộ máy đồng hồ phải chạy đều, muốn chạy đều phải sạch sẽ. Đảng muốn trong sạch, mạnh mẽ thì mỗi bộ phận, mỗi đảng viên phải trong sạch, mạnh mẽ.

Học tập xong, mỗi người sẽ đi công tác. Nếu tư tưởng không thông thì công tác kém kết quả. Bây giờ, mọi công tác của Đảng đều cần và quan trọng, đều có ích cho cách mạng, về kinh tế cũng như về chính trị. Mọi người đều phải cố gắng tích cực làm, đừng so sánh, suy tính công tác này tiến bộ mau, công tác kia có tương lai, có tiếng tăm. Lại thí dụ cái đồng hồ: có kim giây, kim giờ, chữ, máy, v.v.. Cái nào cũng muốn chạy, hoặc chữ thì muốn chạy, kim thì muốn đứng, thì không thành đồng hồ. Thí dụ nữa: Bác làm nhiệm vụ Chủ tịch, cần có người nấu ăn cho Bác, Bác phải cố gắng, người nấu ăn cũng vậy. Nếu không ăn được thì Bác cũng không làm được nhiệm vụ. Mỗi người một nhiệm vụ, có phân công, tất cả là hợp tác, không có việc gì là sang, việc gì là hèn. Việc gì làm tròn nhiệm vụ là sang, không làm tròn nhiệm vụ là hèn.

Công việc của xã hội không có cái gì là cao sang, cái gì là hèn hạ. Thí dụ người hót phân trước kia ta cho là hèn, nhưng nay không thể coi như thế được: nếu họ nghỉ hai ngày thì thành phố Hà Nội sẽ thế nào?

Muốn xứng đáng là người cán bộ, đảng viên tốt phải cố gắng quyết tâm suốt đời phấn đấu cho chủ nghĩa cộng sản.

——————————-

Nói vào tháng 7-1955.
Sách Hồ Chí Minh: Phát huy tinh thần cầu học, cầu tiến bộ, Nxb Sự thật, Hà Nội, 1960, tr.53-56.
cpv.org.vn

Lực lượng to lớn của công nhân (9-8-1955)

Muốn cải thiện đời sống thì trước phải khôi phục và phát triển kinh tế.

Muốn khôi phục và phát triển kinh tế thì phải thi đua tăng gia và tiết kiệm.

Muốn thi đua có kết quả tốt thì tiết kiệm và tăng gia phải đi đôi với nhau.

Công nhân ta hiểu rõ điều đó, cho nên trong các ngành và các đợt thi đua, anh chị em đều cố gắng và đã thu được kết quả khá về cả hai mặt tăng gia và tiết kiệm. Sau đây là vài kiểu mẫu:

– Công nhân nhà máy xe lửa Hà Nội – Từ 22-5 đến 20-7, năng suất đã tăng từ 10 đến 60 phần 100. Đã tiết kiệm được hơn 5.280 giờ và 212 vạn đồng nguyên liệu, vật liệu.

– Công nhân Lộ Chí (Cẩm Phả) – Từ 1 đến 20-7 đã tiết kiệm được 31 tấn than, đã lợi dụng lúc rảnh mà thu nhặt được 29 toa xe hỏng, 150 kilô bùloong, 90 thước đường goòng, v.v..

– Công nhân Cẩm Phả – Đã vượt khó khăn, lắp lại máy trục và đường goòng.

Lúc đầu có người nói phải 6, 7 tháng, mới làm xong. Cán bộ cũng nói phải 45 ngày. Nhưng với sáng kiến và quyết tâm, anh chị em đã làm xong trong 20 ngày, tiết kiệm được hơn 1.170 công và hơn 832 vạn đồng nguyên liệu, vật liệu.

Đã sẵn lòng nồng nàn yêu nước và quyết tâm bền bỉ thi đua, nay lại có các nước bạn giúp máy móc và kỹ thuật, chắc rằng anh chị em lao động (trước tiên là công nhân) sẽ làm trọn nhiệm vụ vẻ vang là khôi phục và phát triển kinh tế nước nhà. Rồi do đó mà mọi người có công ăn việc làm, no cơm ấm áo, và tiến đến nước mạnh dân giàu.

Anh chị em công nhân hăng hái thi đua tăng gia và tiết kiệm, tức là góp phần quan trọng vào cuộc đấu tranh cho hoà bình, thống nhất, độc lập, dân chủ trong cả nước Việt Nam yêu quý của chúng ta.

C.B.

——————————

Báo Nhân dân, số 524, ngày 9-8-1955.
cpv.org.vn

Kiều bào yêu nước (15-8-1955)

Kiều bào ta ở trọ các nước tư bản, thường bị uy hiếp hoặc lợi dụng. Nhưng tối đại đa số kiều bào là những người yêu nước, kiên quyết và bền bỉ đấu tranh cho Tổ quốc.

Vừa rồi, gần 2.000 kiều bào ở Pháp, đủ các tầng lớp, trai có gái có, già có trẻ có, đã ký tên đòi đương cục miền Nam hiệp thương với Chính phủ ta, và đòi Chính phủ Pháp phải làm đúng Hiệp định Giơnevơ. Vậy có thơ rằng:

Gửi thân đất khách quê người,
Nhìn về cố quốc cách vời trùng dương
Càng nhìn càng nhớ, càng thương,
Càng mong Tổ quốc thịnh cường vẻ vang,
Càng cǎm những kẻ gian ngoan
Nghe lời bọn Mỹ phá ngang hoà bình.
Mọi người đoàn kết đấu tranh,
Đòi Ngô Đình Diệm tán thành hiệp thương.
Hoà bình, thống nhất, độc lập, tự cường,
Sao vàng cờ đỏ dẫn đường chúng ta.
Mấy câu thuận miệng nôm na:
“Một lòng yêu nước bài ca kiều bào”.

C.B.

——————————-

Báo Nhân dân, số 530, ngày 15-8-1955.
cpv.org.vn

Kỷ niệm cách mạng Tháng Tám (19-8-1955)

Suốt trong 80 nǎm nước ta bị Pháp chiếm, nhân dân ta từ Nam đến Bắc đã nhiều lần nổi dậy chống giặc ngoại xâm. Nhưng vì bọn vua quan hèn mạt, câu kết với địch, phản nước hại dân, cho nên các cuộc khởi nghĩa đều thất bại.

Cách mạng Nga thành công đã thức tỉnh các dân tộc bị áp bức, dạy cho họ cách tổ chức, đấu tranh và giành thắng lợi. Nhờ vậy mà ta có Đảng tiên phong, có Mặt trận dân tộc thống nhất, đoàn kết và lãnh đạo toàn dân, kiên quyết đấu tranh cho độc lập tự do, làm Cách mạng Tháng Tám thắng lợi.

Lần đầu tiên trong lịch sử nhân dân ta được hoàn toàn giải phóng: đã phá tan cái xiềng xích nô lệ thực dân, đã đập đổ cái chế độ thối nát của vua quan phong kiến, đã lập nên nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà. Từ đó dân ta làm chủ nước ta.

Phản bội những điều ước chúng đã ký kết với ta, thực dân Pháp lại gây chiến tranh xâm lược. Một lần nữa, những bọn bán nước cầu vinh, lại cong đuôi theo giặc!

Nhưng chí cǎm thù giặc ngoại xâm, và lòng nồng nàn yêu nước đã làm cho nhân dân ta vùng dậy, từ Bắc đến Nam triệu người như một, chống kẻ thù chung.

Sự đoàn kết nhất trí giữa Đảng, Chính phủ, quân đội và nhân dân ta trở thành một lực lượng vô cùng to lớn. Nó giúp ta vượt tất cả mọi khó khǎn gian khổ. Nó rèn luyện cho chiến sĩ, cán bộ và đồng bào ta thành những người anh hùng. Do đó chúng ta đã đánh thắng cái liên minh ghê tởm giữa thực dân Pháp, đế quốc Mỹ và tay sai.

Kháng chiến thắng lợi, sự nghiệp vẻ vang của Cách mạng Tháng Tám được giữ vững và phát triển.

10 nǎm trước đây, chúng ta hầu như cô đơn, chỉ nhờ sức mạnh đoàn kết mà cách mạng thắng lợi. Ngày nay, nhân dân ta lại có đại gia đình gồm 900 triệu anh em từ á sang Âu và nhân dân yêu chuộng hoà bình thế giới ủng hộ. Cho nên cuộc đấu tranh chính trị để thực hiện hoà bình, thống nhất, độc lập, dân chủ trong cả nước tuy nhiều khó khǎn, nhưng chúng ta nhất định sẽ thắng lợi.

Tinh thần Cách mạng Tháng Tám muôn nǎm!

Việt Nam hoà bình, thống nhất, độc lập, dân chủ muôn nǎm!

C.B.

—————————–

Báo Nhân dân, số 534, ngày 19-8-1955.
cpv.org.vn

Lời đáp trong buổi lễ nhận quốc thư của Đại sứ nước Cộng hoà Dân chủ Đức (30-8-1955)

Đồng chí Đại sứ thân mến,

Tôi rất vui lòng nhận bản quốc thư của đồng chí Chủ tịch nước Cộng hoà Dân chủ Đức uỷ nhiệm đồng chí làm Đặc mệnh toàn quyền Đại sứ ở nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà, thay đồng chí Gi.Cơních.

Tôi xin thành thật cảm ơn những lời chúc mừng thân ái của đồng chí.

Nhân dân Việt Nam hàng ngày theo dõi cuộc đấu tranh của nhân dân Đức chống Hiệp ước Pari, chống sự phục hồi chủ nghĩa đế quốc và quân phiệt ở Đức; đấu tranh cho thống nhất nước Đức trên cơ sở hoà bình và dân chủ.

Cuộc đấu tranh của nhân dân hai nước chúng ta đều nhằm những mục đích cao quý giống nhau. Cũng như nhân dân Đức, nhân dân Việt Nam đang kiên quyết và bền bỉ đấu tranh để củng cố hoà bình, thực hiện thống nhất, hoàn thành độc lập và dân chủ trong cả nước.

Nhân dân Việt Nam vui mừng trước những thành tích của anh em Đức và coi những thành tích đó như những thành tích của chính mình.

Nhân dân Việt Nam tin chắc rằng với sự đấu tranh kiên quyết và bền bỉ của mình, với sự ủng hộ của Liên Xô, các nước bạn khác, nhân dân Đức anh dũng nhất định sẽ thắng lợi.

Nhân dân và Chính phủ Việt Nam vô cùng cảm ơn sự ủng hộ nhiệt tình của nhân dân Đức và Chính phủ nước Cộng hoà Dân chủ

Đức trong cuộc đấu tranh của chúng tôi để khôi phục và phát triển kinh tế và để thực hiện hoà bình, thống nhất, độc lập và dân chủ trong cả nước Việt Nam chúng tôi.

Chúng tôi tin chắc rằng: từ nay về sau tình đoàn kết hữu nghị, cũng như quan hệ kinh tế, vǎn hoá giữa hai nước chúng ta sẽ ngày càng thêm mở rộng và củng cố, có lợi cho sự nghiệp xây dựng của nhân dân hai nước chúng ta và có lợi cho hoà bình thế giới.

Tôi nhiệt liệt hoan nghênh đồng chí lãnh chức Đại sứ của nước Cộng hoà Dân chủ Đức ở nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà. Trong khi thi hành nhiệm vụ, đồng chí sẽ luôn luôn được sự giúp đỡ thành khẩn của tôi, của nhân dân Việt Nam và Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hoà.

Tôi xin chúc đồng chí hoàn toàn thành công và nhờ đồng chí chuyển lời chào thân ái của chúng tôi tới đồng chí Chủ tịch V.Pích, tới Chính phủ nước Cộng hoà Dân chủ Đức và nhân dân Đức anh em.

—————————

Đọc ngày 30-8-1955.
Báo Nhân dân, số 546, ngày 31-8-1955.
cpv.org.vn

Càng nhớ lời Bác dạy

(Chinhphu.vn) – Ngay từ năm 1945, trả lời phỏng vấn của các nhà báo thế giới, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nói: “Tự do cho đồng bào tôi, độc lập cho Tổ quốc tôi, đấy là tất cả những điều tôi muốn, đấy là tất cả những điều tôi hiểu”.

Chủ tịch Hồ Chí Minh nói chuyện với các đại biểu trí thức dự
Hội nghị chính trị đặc biệt (tháng 3 -1964) – Ảnh: Tư liệu

Và từ đó cho đến khi từ giã cõi đời, Người đã dành cả cuộc đời mình, phấn đấu để đạt được khát vọng đó. Khát vọng của Người chính là mục tiêu của toàn Đảng, để Đảng trở thành người lãnh đạo đưa nhân dân ta đến đài hạnh phúc, bởi đối với mỗi người dân cũng như đối với toàn thể dân tộc, “Không có gì quý hơn độc lập, tự do”.

Trong hoàn cảnh Đảng trở thành Đảng cầm quyền, thì đối với mỗi cán bộ, đảng viên, chủ nghĩa cá nhân chính là một “kẻ thù hung ác”. Hồ Chủ tịch đã nhiều lần chỉ ra những căn bệnh đang tồn tại trong các cơ quan Đảng, chính quyền, trong một bộ phận đảng viên. Đó là bệnh tự mãn, tự túc, hiếu danh hiếu vị, tư tưởng địa phương chủ nghĩa; đầu óc hẹp hòi, đặt lợi ích địa phương, cục bộ lên trên lợi ích của quốc gia; óc bè phái, óc quân phiệt, quan liêu, lối làm việc bàn giấy, vô kỷ luật, ích kỷ, hủ hóa là những “ung nhọt” phá hoại đạo đức, văn minh của Đảng cầm quyền.

Mắc những bệnh như trên, người thì bòn rút của công, cậy quyền, ỷ thế, nhận hối lộ; người thì dối trên, lừa dưới, chạy chức chạy quyền nhằm “vinh thân phì gia”, phá hoại chính sách và kỷ luật của Đảng.

Kết quả là quần chúng không tin họ, càng không yêu họ và ngày càng rời xa họ. Đó là những con sâu mọt trong Đảng, là kẻ thù của nhân dân và của chủ nghĩa xã hội (Hồ Chí Minh toàn tập, tập 9).

Là người sáng lập, người luôn quan tâm rèn luyện Đảng ta, Chủ tịch Hồ Chí Minh một mặt nêu rõ những biểu hiện, những tác hại của các tệ nạn; mặt khác, Người nhấn mạnh rằng: Chừng nào cán bộ, đảng viên của Đảng chưa chiến thắng được những nọc độc của chủ nghĩa cá nhân, thì chừng đó trong Đảng vẫn sẽ còn những hiện tượng “trống đánh xuôi, kèn thổi ngược”. Như vậy, Đảng không thể “là đạo đức, là văn minh” lại càng không thể lãnh đạo được quần chúng.

Từ tháng 4/2006, Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ X đã thẳng thắn chỉ ra những tổn tại trong Đảng như “một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên, kể cả một số cán bộ chủ chốt các cấp yếu kém cả về nhân phẩm và năng lực; thiếu tính chiến đấu và tinh thần bảo vệ quan điểm, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, giảm sút lòng tin, phai nhạt lý tưởng… Bệnh cơ hội chủ nghĩa cá nhân trong một bộ phận cán bộ, đảng viên có chiều hướng gia tăng; vẫn còn tình trạng “chạy chức”, “chạy quyền”, “chạy tội”, “chạy bằng cấp”. Thoái hóa, biến chất về chính trị, tư tưởng, về đạo đức, lối sống; tệ quan liêu, tham nhũng, lãng phí, sách nhiễu dân trong một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên diễn ra nghiêm trọng, kéo dài, chưa được ngăn chặn, đẩy lùi, nhất là trong các cơ quan công quyền… làm giảm lòng tin của nhân dân đối với Đảng. Đó là một nguy cơ lớn liên quan đến sự sống còn của Đảng, của chế độ”.

Hội nghị lần thứ 4 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XI đã ra Nghị quyết, trong đó tiếp tục chỉ ra: “Công tác xây dựng Đảng vẫn còn không ít hạn chế, yếu kém, thậm chí có những yếu kém khuyết điểm kéo dài qua nhiều nhiệm kỳ chậm được khắc phục… nếu không được sửa chữa sẽ là thách thức đối với vai trò lãnh đạo của Đảng và sự tồn vong của chế độ. Nổi lên một số vấn đề cấp bách sau đây:

Một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên, trong đó có những đảng viên giữ vị trí lãnh đạo, quản lý, kể cả một số cán bộ cao cấp, suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống với những biểu hiện khác nhau về sự phai nhạt lý tưởng, sa vào chủ nghĩa cá nhân ích kỷ, cơ hội, thực dụng, chạy theo danh lợi, tiền tài, kèn cựa địa vị, cục bộ, tham nhũng, lãng phí, tùy tiện, vô nguyên tắc… Một số trường hợp đánh giá, bố trí cán bộ chưa thật công tâm, khách quan, không vì yêu cầu công việc, bố trí không đúng sở trường, năng lực, ảnh hưởng đến uy tín cơ quan lãnh đạo, sự phát triển của ngành, địa phương và cả nước”.

Nhớ lại những lời dạy của Bác năm xưa, trước tình trạng này, công tác xây dựng Đảng phải được đặt lên hàng đầu và cần phải được tiến hành trên cả 3 mặt: Tư tưởng, chính trị và tổ chức.

Về tư tưởng, phải lấy tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng cho tư tưởng và hành động của mọi đảng viên.

Coi dân là gốc, coi lợi ích của người dân là lợi ích tối cao. Ngoài lợi ích của dân, Đảng không có lợi ích nào khác. Việc gì có lợi cho dân thì khó mấy cũng phải làm. Việc gì có hại cho dân, thì dù hại ít cũng phải tránh.

Về chính trị, thì phải nắm vững hai mục tiêu: Tổ quốc và chủ nghĩa xã hội.

Nhằm hai mục tiêu ấy, trong cuộc sống, phải phấn đấu thực hiện phương châm: “mình vì mọi người, để mọi người vì mỗi người”. Cá nhân lo đóng góp cho xã hội, để xã hội có điều kiện cơ sở lo cho mỗi cá nhân. Trên cơ sở cống hiến tận tình của mỗi cá nhân, mà xã hội lo cho sự phân phối công bằng trong xã hội, xóa bỏ được tình trạng bần cùng hóa.

Về tổ chức, công tác xây dựng Đảng không thể chấp nhận tình trạng Đảng đông nhưng không mạnh. Đảng phải là một tổ chức có hệ thống chặt chẽ; các cấp bộ Đảng phải đảm bảo nguyên tắc dân chủ-tập trung; phải thống nhất ý chí để thống nhất hành động; phải thực hiện kỷ luật nghiêm minh, kiên quyết đưa ra khỏi Đảng những phần tử thoái hóa, mất phẩm chất, không chịu sửa chữa sai lầm, gây tác hại đến uy tín của Đảng, mất lòng tin của nhân dân.

Xây dựng Đảng được thành công, ta mới củng cố được một chính quyền vững mạnh vì dân và được lòng dân nhiệt tình ủng hộ.

Trần Thái Bình
baodientu.chinhphu.vn

Tấm gương trọn đời vì nước, vì dân

QĐND – Hôm nay, cả nước tưng bừng kỷ niệm 122 năm Ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại – vị lãnh tụ thiên tài, người thầy vĩ đại của cách mạng Việt Nam, Anh hùng giải phóng dân tộc, danh nhân văn hóa thế giới. Kỷ niệm sinh nhật Bác năm nay đúng vào dịp Ban Bí thư tổ chức Hội nghị sơ kết một năm triển khai thực hiện Chỉ thị 03 “Tiếp tục đẩy mạnh việc học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”; đồng thời toàn Đảng, toàn quân, toàn dân đang tích cực thi đua, nỗ lực phấn đấu thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội XI của Đảng, Nghị quyết đại hội đảng các cấp, nhất là việc triển khai thực hiện Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XI) về xây dựng Đảng.

Mỗi dịp kỷ niệm Ngày sinh của Bác Hồ là một lần chúng ta thấy rõ hơn giá trị to lớn về tư tưởng, tấm gương đạo đức sáng ngời Hồ Chí Minh. Một trong những tư tưởng vĩ đại nhất mà Người để lại cho Đảng ta, dân tộc ta là tình yêu thương con người, vì con người, vì cuộc sống ấm no và hạnh phúc của nhân dân. Suốt cuộc đời hoạt động cách mạng, Bác luôn quan tâm đến con người, chăm lo phát triển con người. Cả cuộc đời, Bác đã dành tất cả tình yêu thương cho đồng bào, đồng chí; cho cụ già, trẻ em, các cháu gái, trai, từ miền xuôi đến miền ngược; từ Bắc đến Nam… Bác tâm niệm: “Tôi chỉ có một sự ham muốn, ham muốn tột bậc, là làm sao cho nước ta được hoàn toàn độc lập, dân ta được hoàn toàn tự do, đồng bào ai cũng có cơm ăn, áo mặc, ai cũng được học hành”. Đó là tư tưởng lớn lao và cũng là thông điệp mà Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi đến quốc dân đồng bào, thể hiện trách nhiệm của Đảng, Nhà nước, của đội ngũ cán bộ, đảng viên đối với nhân dân.

Thấm nhuần lời dạy của Người, trên nền tảng tư tưởng chủ nghĩa Mác – Lê-nin và tư tưởng Hồ Chí Minh, bằng trách nhiệm và tình thương bao la, Đảng đã lãnh đạo dân tộc ta vượt qua muôn vàn chông gai thử thách, giành được những thắng lợi vĩ đại có ý nghĩa lịch sử. Đặc biệt, thực hiện đường lối Đổi mới, Đảng đã quy tụ sức mạnh của toàn dân tộc đưa đất nước phát triển; vị thế của Việt Nam ngày càng được khẳng định trên thế giới. Đó là thành quả vĩ đại từ giá trị to lớn của tư tưởng vì dân, thương dân mà Bác Hồ kính yêu đã để lại cho toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta.

Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại – vị lãnh tụ thiên tài, người thầy vĩ đại của cách mạng Việt Nam. Ảnh: internet
Tuy nhiên, soi mình vào thực tiễn, vẫn còn đâu đó tình trạng đội ngũ cán bộ của Đảng làm phiền dân, chưa thực sự quan tâm đến tâm tư, nguyện vọng chính đáng của nhân dân; vẫn còn biểu hiện của sự quan liêu, cửa quyền, xa dân. Thậm chí, một bộ phận không nhỏ cán bộ ngại tiếp xúc với dân, thiếu quan tâm đến cuộc sống của người dân. Tình trạng trên dẫn đến việc cán bộ “mắc” bệnh quan liêu, có những hành động đi ngược lại lợi ích của đa số nhân dân, gây bức xúc trong dư luận xã hội, làm tổn hại đến uy tín của Đảng, của Nhà nước; làm giảm hiệu lực thực thi pháp luật.

Sinh thời, Bác từng dạy: “Một Đảng cầm quyền mà để cho người dân nghèo hết còn chỗ để nghèo thì đó là lỗi của Đảng với nhân dân…”, “nếu dân đói, Đảng và Chính phủ có lỗi; nếu dân rét, Đảng và Chính phủ có lỗi; nếu dân dốt là Đảng và Chính phủ có lỗi; nếu dân ốm là Đảng và Chính phủ có lỗi”. Tư tưởng đó của Người mang bản chất cốt lõi là Đảng, Nhà nước không có lợi ích gì khác ngoài việc chăm lo cuộc sống hạnh phúc, ấm no trong độc lập, tự do, hòa bình thật sự của nhân dân. Vì vậy, chính sách của Đảng, quyết sách của Nhà nước; hành động của từng cán bộ, đảng viên đều phải hướng đến mục đích cuối cùng là vì nhân dân. Đó là giá trị nhân văn cao đẹp, là biểu hiện tiến bộ của xã hội xã hội chủ nghĩa dưới sự lãnh đạo của Đảng. Tư tưởng thương dân, vì dân của Bác mãi mãi là ánh đuốc soi sáng cho tâm hồn, trí tuệ, tình cảm, đạo đức của mỗi chúng ta; nâng bước ta đi trên những chặng đường gian lao mà đầy vinh quang phía trước.

Thiết thực kỷ niệm 122 năm Ngày sinh của Bác, toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta không chỉ thể hiện lòng tôn kính đối với vị lãnh tụ kính yêu, mà hơn lúc nào hết phải nhận thức đầy đủ, sâu sắc những giá trị to lớn của tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh. Tư tưởng Hồ Chí Minh là sự kết tinh giá trị truyền thống văn hóa của dân tộc cùng tinh hoa văn hóa thế giới. Đó là tài sản vĩnh hằng của dân tộc Việt Nam. Bởi vậy, học Bác và làm theo Bác đặt ra yêu cầu đối với mỗi cán bộ, đảng viên, quần chúng sự nỗ lực phấn đấu, thực hiện thắng lợi các mục tiêu kinh tế-xã hội đã được Nghị quyết Đại hội XI của Đảng xác định; chủ động, tự giác quán triệt, triển khai thực hiện có hiệu quả Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XI) về xây dựng Đảng, nhằm tạo được sự chuyển biến rõ rệt, khắc phục được những hạn chế, yếu kém trong công tác xây dựng Đảng, để Đảng ta thực sự là đảng cách mạng chân chính, ngày càng trong sạch, vững mạnh, không ngừng nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của Đảng, củng cố niềm tin trong Đảng và nhân dân, đưa đất nước ngày càng phát triển.

Để Đảng ta thực sự là Đảng do Bác Hồ sáng lập, lãnh đạo và rèn luyện, trên hết và trước hết mỗi cán bộ, đảng viên phải nêu cao tính tiền phong, gương mẫu, nắm vững những nội dung cốt lõi được xác định trong Chỉ thị 03 “Tiếp tục đẩy mạnh việc học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh” và Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XI) để tự soi mình, tự sửa chữa, hoàn thiện mình; kết hợp chặt chẽ giữa nói với làm. Mọi hành động, lời nói; mọi chủ trương, quyết sách đều phải đặt lợi ích của nhân dân, của dân tộc lên trên hết; tích cực sửa chữa, gạt bỏ bệnh quan liêu, hành chính, mệnh lệnh trong đội ngũ cán bộ, đảng viên. Học Bác và làm theo Bác phải rất tự giác và trở thành công việc thường xuyên, hằng ngày trong đời sống, sinh hoạt, công tác của từng cán bộ, đảng viên, quần chúng.

Quân đội ta gần 68 năm qua dưới sự lãnh đạo của Đảng và Bác Hồ kính yêu đã tỏ rõ là đội quân trung với Đảng, hiếu với dân, nhiệm vụ nào cũng hoàn thành, khó khăn nào cũng vượt qua, kẻ thù nào cũng đánh thắng. Ngay sau Đại hội XI của Đảng, toàn Đảng bộ Quân đội đang nỗ lực triển khai các biện pháp, với nhiều cách làm sáng tạo, thiết thực; tạo được sự chuyển biến vững chắc, đồng bộ trên các lĩnh vực công tác. Với tinh thần ấy, mỗi cán bộ, chiến sĩ trong Quân đội nhân dân Việt Nam nguyện đem hết tài trí, sức lực của mình bảo vệ và xây dựng đất nước, vì hạnh phúc của nhân dân, xứng đáng là đội quân mang phẩm chất Bộ đội Cụ Hồ.

QĐND
qdnd.vn

Hồ Chí Minh, dân tộc và nhân loại

Thường kính cẩn nghe HÒA THƯỢNG THÍCH CHƠN THIỆN – ĐBQH, PHÓ CHỦ TỊCH THƯỜNG TRỰC GIÁO HỘI PHẬT GIÁO VIỆT NAM, TIẾN SĨ KHOA HỌC – nói về vô ngã, trong nhiều lần chuyện trò, sự uyên bác của Hòa Thượng không dừng lại ở hai cái tên Đức Phật và Hồ Chí Minh, nhưng đó là hai cái tên được nhắc đến nhiều nhất… Chúng tôi tự sự:

– Thưa Hòa Thượng, lần này chúng ta đề cập tới một vấn đề khó, không phải để nhìn lại, không phải làm sáng tỏ hơn mà tự sự về cái chúng ta thường có – Hồ Chí Minh tồn tại trong mỗi con người Việt Nam yêu nước, trong sự nghiệp của chúng ta, trong đời thường và cả trong đức tin Phật giáo… thưa Hòa Thượng, có thể nêu nhận xét ngắn gọn nhất về Người?– Đề cập đến Hồ Chí Minh là một vấn đề rất khó, đúng như nhận định: “…chúng ta đề cập đến vấn đề khó, không phải để nhìn lại, không phải làm sáng tỏ hơn mà tự sự về cái chúng ta thường có…”. Ở đây, tôi đề cập đến Người chỉ vì lòng ngưỡng mộ, dù nhận thức và ngôn ngữ của mình có hạn chế đến mức nào đi chăng nữa.

Nhận xét ngắn gọn nhất về Người thì thông thường nhiều người nói: “Người là nhà yêu nước vỹ đại”, “Người là một nhà lãnh đạo thiên tài”, hay là “Người là một nhà văn hóa tỏa sáng”.v.v… Phát biểu ngắn gọn thế nào về Người tôi cũng cảm thấy có cái gì thiêu thiếu, có một cái gì bị đánh mất, hoặc giả có cái gì trống trải làm sao ấy! Một lần, trên báo Đại Biểu Nhân Dân, tôi đã viết:

– Năm 1926, năm Người 36 tuổi, đã vạch ra 12 điều của một mẫu mực cách mạng, trong đó điểm thứ nhất và thứ hai nói rằng:

Tượng đức phật ở Bồ Đề đạo Tràng, mặt quay về hướng đông đúng tư thế khi người giác ngộ

Ảnh: Thăng Long

Điểm 1: Đêm ngày nghĩ đến sự nghiệp cách mạng và cứu độ nhân loại.

Điểm 2: Hy sinh tiền bạc, thời gian và cả máu vì lợi ích các dân tộc bị áp bức; tóm lại phải vị tha và không ích kỷ, phải tuân thủ theo phương châm Tổ quốc trên hết ở mọi nơi và mọi lúc.

– Năm 36 tuổi, Người đã đầy lòng vong ngã, vị tha, đầy lòng cứu dân, cứu nước, cứu nhân loại, tâm thức không còn chỗ đứng cho các ý niệm về “tôi”, “của tôi”. Tâm thức ấy là đất hứa của nghìn sáng tạo chấp nối thành các thành quả của cách mạng Việt Nam cận đại và hiện đại…

Nay thì tôi nói thêm: Người là một trí tuệ lớn, một nguồn tâm lớn, cần nhìn rõ Người qua nhiều khía cạnh: quốc gia và quốc tế; văn hóa và giáo dục; chính trị và xã hội, mới có thể có phát biểu có giá trị gần gũi với Người. Để khách quan hơn, tôi xin trích dẫn thêm một vài đoạn ngắn trong phần kết của tập Hồ Chí Minh (New York, 2001), do William Duiker biên soạn (suốt hơn 40 năm về Người) rất giá trị:

“…không thể phủ nhận rằng sự nghiệp mà ông Hồ Chí Minh đã thúc đẩy và chỉ đạo đã tạo ra một thời điểm quan trọng trong thế kỷ XX, thể hiện đỉnh cao của thời đại Giải phóng Dân tộc ở thế giới thứ 3 và lần đầu tiên người ta công nhận rõ ràng những giới hạn của chính sách Hoa Kỳ về kiềm chế chủ nghĩa Cộng sản. Sau Việt Nam, thế giới sẽ không bao giờ như cũ nữa”.“Ông Hồ Chí Minh không những là người sáng lập ra Đảng của mình và sau đó là Chủ tịch nước mình mà Ông còn là nhà chiến lược chủ yếu và biểu tượng gây truyền cảm nhất của Việt Nam. Một nhà tổ chức có tài và một nhà chiến lược khôn ngoan và một lãnh tụ có sức lôi cuốn quần chúng, ông Hồ Chí Minh là một nửa Lê Nin và một nửa Gandhi, và là một sự phối hợp đầy năng động”.

“Như vậy, như câu nói đáng ghi nhớ của một triết gia Hoa Kỳ, Sidney Hook, ông Hồ Chí Minh là “Người tạo ra thời thế”, một “người con của khủng hoảng” đã kết hợp trong con người của mình hai trong số các sức mạnh trung tâm của lịch sử Việt Nam hiện đại: mong muốn độc lập dân tộc và tìm kiếm công bằng xã hội và kinh tế… Bất kể có sự phán xét như thế nào đối với di sản của ông, ông đã có chỗ trong Lăng các nhà anh hùng cách mạng đã đấu tranh mạnh mẽ để những người cùng khổ trên thế giới có thể nói lên tiếng nói đích thực của mình”.

Cá nhân tôi, tôi chỉ biết nghiêng mình trước trí tuệ, tấm lòng vời vợi, nghị lực phi thường chiến đấu thắng mọi gian khó của Người. Người sẽ vĩ đại hơn thế, nếu đất nước Việt Nam lớn hơn ba mươi lần hiện tại! Vĩ đại và đầy kính mến!…

– Tôi nhớ, và Hòa Thượng cũng thường nhắc một nhận định của W. Duiker trong tác phẩm Hồ Chí Minh (New York, 2001), là vào năm 1924 Nguyễn Ái Quốc nhận xét: phải bổ sung vào chủ nghĩa Marx chủ nghĩa yêu nước để chủ nghĩa Marx không chỉ đúng ở châu âu mà còn đúng ở phương Đông nữa. Có thể vin vào điều này mà nhiều học giả phương Tây cho rằng, Hồ Chí Minh là dân tộc chủ nghĩa. Hòa Thượng có thể cho biết ý kiến riêng của mình được không?

– Đúng như W. Duiker đã viết trong tác phẩm Hồ Chí Minh (New York, 2001): Hồ Chủ tịch đã bổ sung vào chủ nghĩa Marx, chủ nghĩa yêu nước, và đối tượng mà quốc tế vô sản đấu tranh không chỉ giải phóng giai cấp công nhân mà còn giải phóng giai cấp nông dân ở Á, Phi nữa. Và đúng như nhận định của Nhà xuất bản Chính Trị Quốc Gia, trong Hồ Chí Minh toàn tập: (Tập II, chương XI) đã viết:

“Như vậy, tư tưởng Hồ Chí Minh về độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội, là một đóng góp của cách mạng Việt Nam vào kho tàng của chủ nghĩa Marx – Lê nin, vào lý luận cách mạng xã hội trong thời đại hiện nay”.

W. Duiker, trong chương “Tập làm cách mạng”, đã viết về Hồ Chí Minh – bấy giờ là Nguyễn Ái Quốc – theo lập luận của tác phẩm Hồ Chí Minh (New York, 2001) với các đoạn:

“…Nông dân bị áp bức nặng nề và nếu được tổ chức, họ có một tiềm năng cách mạng lớn. Nhưng nguồn hoạt động chính trị chủ yếu là các trí thức và nho sĩ yêu nước. Theo Anh (Nguyễn Ái Quốc), chính họ là những người đã gây ra tất cả các cuộc nổi dậy trong quá khứ. Vì vậy, điều cần thiết trước mắt là phải xây dựng hành động chung giữa các nhà yêu nước “cách mạng dân tộc” đó và một đảng Cộng Sản…”.

“…Anh Quốc khẳng định rằng Commitern chỉ có thể trở thành một Quốc tế Cộng sản thực sự khi nó bao gồm cả các đại diện nông dân châu Á trên tư cách là những người tham gia tích cực.

Vào cuối hội nghị, những người tổ chức đã nhất trí lập một Quốc tế Nông dân mới, gọi là Krestintern… phối hợp thực hiện khẩu hiệu xây dựng một chính quyền Công –  Nông…”.

“…Vai trò của giai cấp nông dân cũng rất ít được quan tâm. Sau một sự khởi đầu mạnh mẽ, Krestintern đã bị thất sủng và không còn được coi trọng bởi các phần tử quan liêu và viên chức Mátxcơva có tư tưởng thiên về giai cấp Công nhân… Nguyễn Ái Quốc đã cố gắng duy trì sức sống cho vấn đề này, và đã phát biểu về vấn đề nông dân tại một cuộc họp của Krestintern vào tháng 6.1924, nhưng ít được hưởng ứng. Khi nói chuyện với một người bạn, anh Quốc đã cười và đã tự ví mình là tiếng than trong bãi sa mạc”.

Hồ Chí Minh: Chủ nghĩa Marx không chỉ đúng ở châu Âu mà còn phải đúng ở phương Đông nữa

Về sau Hồ Chủ tịch phải trải qua một thời gian chịu “vất vả, lận đận” vì bị nhiều lãnh tụ quốc tế nghi ngờ Người theo chủ nghĩa dân tộc mà không hẳn là chủ nghĩa vô sản…Ngày nay, thật tỉnh táo chúng ta thấy rằng ý kiến đề đạt của Nguyễn Ái Quốc đến Commitern là rất là trí tuệ và rất là Cộng sản Quốc tế bởi các lý do:

Quốc tế vô sản sẽ được mở rộng qua Á, Phi – nơi có nhiều dân tộc bị trị – với thành phần quần chúng đông đảo chiếm hơn 80% dân số các nước là nông dân làm hậu thuẫn sẽ tạo nên một sức mạnh vô song cho Quốc tế vô sản, sẽ dễ dàng chiến thắng Tư bản.

Nếu với lực lượng đông đảo nông dân ấy bất hợp tác (và cả chống đối) với các nước tư bản, không làm giàu cho Tư bản thì Tư bản sẽ yếu đi nhiều; cách mạng sẽ cắt đứt đi cái vòi “bạch tuộc” của Tư bản, sẽ dễ dàng đánh bại Tư bản.

Giải phóng cả giai cấp nông dân bị trị thì mới đúng với ý nghĩa giải phóng các giai cấp bị Tư bản thống trị. Bấy giờ chính nghĩa của Quốc tế Cộng sản càng tỏa sáng lòng nhân ái, tỏa sáng ý nghĩa chống bất công áp bức.

Thế giới là một sự tương quan bất khả phân ly giữa cá thể và tập thể, giữa quốc gia và quốc tế, vì thế sự kết hợp chủ nghĩa yêu nước và chủ nghĩa quốc tế là vô cùng thuận tình, thuận lý, và thuận cả sách lược.

Đối với thanh niên Nguyễn Ái Quốc, sự kết hợp trên là sự kết hợp đẹp đẽ giữa sứ mệnh giải phóng đất nước và sứ mệnh giải phóng các giai cấp bị trị của Quốc tế Cộng sản.

Thật đáng tiếc là Quốc tế Cộng sản đã giác hiểu sáng kiến đề đạt của thanh niên Nguyễn Ái Quốc khá muộn, quá muộn, một sáng kiến độc chiếu lúc bấy giờ!

– Một triết gia vĩ đại, hay một nhà thực hành vĩ đại thì ngay trong cái nhỏ bé của thường ngày cũng vẫn có tầm vóc nhân loại. Hơn nữa, vấn đề yêu nước là phạm trù lớn, thưa Hòa Thượng?

– Thế giới có một mối liên hệ chằng chịt giữa các hiện hữu. Va chạm đến vấn đề cá nhân thì liền va chạm đến cộng đồng – cộng đồng địa phương, dân tộc và nhân loại –, va chạm đến thiên nhiên, xã hội. Vì vậy tư tưởng của các triết gia, chưa nói đến triết gia vĩ đại, các nhà hành động lớn thường đi vào phổ quát của vấn đề nhân sinh, nhân loại từ một vấn đề cá nhân bình thường. Với các nhà thơ, nhà văn cũng thế: cảm xúc luôn đi vào phổ quát. Nói đến thân phận Thúy Kiều, Nguyễn Du đi vào thân phận của kiếp người:

“Trăm năm trong cõi người ta,
Chữ tài, chữ mệnh khéo là ghét nhau…”

Khó mà tách cá thể ra khỏi cộng đồng, khó mà tách vấn đề yêu nước khỏi vấn đề yêu nhân loại. Cũng vậy, khó mà tách rời vấn đề công – nông của nước nhà và thế giới. Hồ Chí Minh lên đường cứu nước, thoạt đầu là vì dân tộc, nhưng khi đụng chạm với quốc tế thì liền nối kết ngay với vấn đề công – nông thế giới. Theo tài liệu của CRN (http://www.cercledereflexion), “Thanh niên Nguyễn Tất Thành đến Paris liên hệ với tổ chức kín “Tam Điểm” năm 1919 và gia nhập đại đường Benjamin Franklin tại Thụy Sĩ” (đây là một tổ chức nhân bản và khát vọng chân lý chống lại với mọi chủ trương xâm lược, bóc lột, đàn áp). Sau đó, năm 1926, Người đã viết một trong mười hai điều mẫu mực cách mạng rằng: “Đêm ngày nghĩ đến sự nghiệp cách mạng và cứu độ nhân loại”. Nếu từ chủ trương bổ sung chủ nghĩa yêu nước vào phong trào Quốc tế Cộng sản mà kết luận Nguyễn Ái Quốc theo chủ nghĩa dân tộc (nghĩa là không quốc tế) là một tư duy máy móc và thiển cận. Chỉ những ai thiếu tâm hồn yêu con người yêu đất nước thật sự mới có thiển kiến ấy, bởi vì họ không có trải nghiệm về tình yêu. Huống nữa, với trí tuệ, nêu vấn đề dân tộc thì dễ xúc tiếp với quần chúng, dễ tác động quần chúng hơn là vấn đề quốc tế sâu xa và khá mơ hồ đối với họ. Chân lý vẫn đứng về phía Nguyễn Ái Quốc.

– Một nghịch lý từ kinh nghiệm làm việc, thường thì sự phối hợp giữa việc chung và việc riêng hay có độ vênh. Đây là hai vấn đề lớn, vấn đề dân tộc gần hơn và vấn đề giai cấp mang tính toàn cầu hơn. Lựa chọn phối hợp chắc chắn cũng không phải là việc dễ ngay cả đối với vỹ nhân, thưa Hòa Thượng?

– Vấn đề phối hợp nhuần nhuyễn giữa việc chung và việc riêng là vấn đề của trí tuệ, vấn đề của tâm lý đã được huấn luyện, và là vấn đề của nghệ thuật. Ở mặt nhận thức thì dễ thực hiện hơn là thực tế, bởi trên thực tế phải đối mặt với nhiều khác biệt về vấn đề tập quán nhận thức và hành động. Văn hóa phương Tây và văn hóa Trung Quốc thường xác định quá rõ ràng từng cá thể trong đó có cá thể của cá nhân và cá thể cộng đồng. Ở đó, rất khó hành xử cho các nhà tư tưởng lớn và hành động lớn. Như  Hồ Chí Minh – bấy giờ là Nguyễn Ái Quốc – đã từng ví mình “là lời than giữa sa mạc” khi không thể thuyết phục được tập thể chấp nhận sự phối hợp giữa chủ nghĩa quốc tế với chủ nghĩa yêu nước. Vượt qua được trở ngại này, đòi hỏi có một trí tuệ lớn, một nỗ lực lớn, và cả với một cơ duyên lớn.  Nguyễn Ái Quốc đã buông lời than, thì thường tình như ta còn có thể làm gì được hơn thế. Chỉ còn lại một trường hợp duy nhất có thể thực hiện là khi văn hóa của nhân loại cùng nhất trí rằng cái chung và cái riêng, cá nhân và tập thể là các thực thể cộng sinh, cộng tồn, không có tách ly và không có mâu thuẫn. Thì bấy giờ đề đạt của Nguyễn Ái Quốc hẳn là được tập thể Commitern hoan hỷ đón nhận, và W.Duiker đã không phải ghi lại lời than ấy.

– Xin Hòa Thượng đề cập thêm một chút về đức hy sinh, có phải cứ thực hành học thuyết là phải hy sinh hay không? Bài học của Đức Phật và bài học của Hồ Chí Minh về đức hy sinh là gì? Có điểm gì giống và khác nhau thưa Hòa Thượng?

– Trước hết từ hy sinh có nghĩa là tự nguyện nhận về mình một sự mất mát nào đó, bao gồm cả thân mạng, vì phục vụ cho tha nhân, tập thể, tổ quốc hay nhân loại. Đấy là nghĩa từ. Trên thực tế, nhiều trường hợp gọi là hy sinh mà thật ra không phải là một sự hy sinh: nó đánh đổi giá trị này bằng một giá trị khác cao đẹp hơn, lợi ích hơn, cao thượng hơn, hay hạnh phúc hơn. Một người từ bỏ niềm vui cá nhân để phục vụ bố mẹ, chăm sóc gia đình, hay để làm việc công ích, người ấy trên thực tế không hy sinh gì cả, mà là đang sống với niềm vui lớn hơn, hạnh phúc hơn. Ở đây, từ hy sinh bị phá sản.

Trường hợp Hồ Chủ tịch, rũ bỏ tất cả đời sống riêng tư (tuổi trẻ, tuổi thành niên và tuổi người lớn) để theo đuổi chỉ một mục đích: tìm đường cứu dân, cứu nước. Người đời nói rằng Người đã hy sinh tất cả vì tổ quốc, nhân dân. Trên thực tế đó là hành động chọn lựa của một vỹ nhân, sống với tâm hồn cao thượng và hạnh phúc cao thượng mà không có một ý nghĩa nào hy sinh ở đây cả. Từ hy sinh ở đây trở thành trống rỗng, bởi vì đó là sự hành xử của một vỹ nhân, một bậc trí tuệ và nhân ái. Sự hy sinh không làm thành một vỹ nhân, mà sự hành xử trí tuệ, nhân ái (yêu nước, yêu con người) mới làm nên vỹ nhân. Người là một nhà cách mạng trí tuệ trọn đời sống để xây dựng hạnh phúc cho nhân dân Việt Nam, nhân dân các nước bị trị, và để xây dựng công bằng xã hội. Ở đây, nếu nói hy sinh thì sẽ tầm thường hóa một nhân cách lỗi lạc. Nhân cách lỗi lạc sống như thế, hạnh phúc như thế, và được người đời (nhân dân) ngưỡng mộ, tôn kính như thế.

Với đức Phật, đức Phật không chỉ rũ bỏ đời sống riêng tư, mà còn rũ bỏ cả ngôi báu (ngai vàng), rũ bỏ triều đình, cung phi mỹ nữ, và rũ bỏ cả nhân dân “khốn khó”, của đất nước của Ngài vì lòng thương tưởng muốn cứu độ nhân dân, nhân loại, chúng sinh khỏi nỗi khổ nghìn đời của sinh, già, bệnh, chết để đi tìm đạo giải thoát khổ mà Ngài tin nhất định có (có khổ sinh ắt hẳn có khổ diệt). Ở đây Ngài không hy sinh gì cả, mà chỉ đi trên con đường của một vỹ nhân giải thoát, đấng giác ngộ, đi đến chân hạnh phúc của chân giải thoát. Người đời, về sau, tôn xưng và đảnh lễ Ngài là đấng giác ngộ, đấng đại hùng, đại lực, đại từ bi; tôn xưng và đảnh lễ niệm ân Ngài vì Ngài đã giới thiệu một nếp sống Giới, Định, Tuệ vượt qua mọi ưu, bi, khổ, não ở đời. Người đời không tôn xưng và đảnh lễ vì Ngài đã “hy sinh” vương vị.

Hai bậc vỹ nhân có điểm tương đồng ở chỗ rũ bỏ trần gian, rũ bỏ đời sống riêng tư để theo đuổi lý tưởng cao thượng của mình. Hai bậc vỹ nhân khác nhau ở điểm: một đi vào cuộc cách mạng xã hội đầy thị phi, truân chuyên; một đi vào cuộc cách mạng tâm linh, giải thoát, con đường chiến thắng tự ngã để đi vào giải thoát toàn triệt. Một thuộc “trần thế”, một thuộc “xuất thế”. Thực nghĩa là vậy. Nếu một người cán bộ, chiến sĩ cách mạng thấy rằng mình đang chịu (hay bị) hy sinh thì hẳn không phải là một cán bộ, chiến sĩ cách mạng thực thụ (chỉ nửa vời). Nếu một tu sĩ thấy mình hy sinh đời sống gia đình, thì ắt hẳn không phải là một vị chân tu. Ý nghĩa là thế.

Từ nguồn hạnh phúc cao thượng của các bậc vỹ nhân, ta có thể rút ra một bài học có ý nghĩa: có hai nguồn hạnh phúc: một thuộc về vật chất đến từ sự thỏa mãn liên hệ đến tai, mắt, mũi, lưỡi, và thân; một thuộc về tinh thần là hạnh phúc do tâm lý cảm nhận; hạnh phúc tinh thần bao giờ cũng có nguồn rung động cao hơn nhiều so với hạnh phúc đến từ vật chất. Hạnh phúc cao thượng nhất là hạnh phúc giải thoát. Trung thành thực hành lý tưởng bao giờ cũng đón nhận được nguồn hạnh phúc cao cả như là phần tưởng thưởng. Nguồn hạnh phúc tâm lý luôn là nguồn vị tha, vì tha nhân và cộng đồng: Càng vong ngã, càng hạnh phúc: đây là kinh nghiệm từ con đường tu tập giải thoát của nhà Phật. Vong ngã vị tha là nếp sống của trí tuệ, mà không phải là một sự hy sinh. Đây là bài học đòi hỏi trải nghiệm.

– Xin chân thành cảm ơn Hòa Thượng!

Thăng Long thực hiện
daibieunhandan.vn

Những ngày 19 tháng 5

ND – Cứ mỗi dịp Tháng 5 về, lòng mỗi người chúng ta lại bâng khuâng nhớ về kỷ niệm của những ngày 19-5 khi Bác Hồ kính yêu còn sống.

Chợt nhớ lại ngày 19- 5-1946, lần đầu tiên nhân dân ta kỷ niệm Ngày sinh của Chủ tịch Hồ Chí Minh, lãnh tụ vĩ đại của Ðảng, Nhà nước và nhân dân ta. Từ đó trở đi, cứ đến dịp 19-5, toàn dân ta cùng sống những giờ phút đặc biệt, niềm vui lâng lâng, kính yêu Bác vô hạn. Cũng vào dịp này toàn dân lại dấy lên phong trào thi đua lao động sản xuất học tập, công tác, mừng Ngày sinh Bác Hồ kính yêu.

Là lãnh tụ tối cao, nhưng Bác Hồ luôn gần gũi nhân dân. Hằng năm, cứ đến dịp kỷ niệm ngày sinh của mình, Bác thường dặn trước các địa phương, các cơ quan là không nên tổ chức chúc thọ linh đình. Vì Người sợ tốn thời giờ, tiền bạc của nhân dân, trong lúc đời sống và cuộc chiến đấu của nhân dân còn khó khăn, gian khổ.

Ở Hà Nội, đúng ngày 19-5, Bác thường đi làm việc, thăm hỏi một nơi khác để tránh những nghi lễ phiền phức tốn kém. Có năm, vào dịp Ngày sinh của Bác, Bác Hồ sang công tác bên Trung Quốc. Hôm ở nhà nghỉ Bắc Kinh, các đồng chí ở đây biết Ngày sinh của Bác nên chuẩn bị chúc thọ, Người nói với cán bộ phụ trách nhà nghỉ: “Tôi sang đây vào dịp này là để tránh việc chúc thọ trong nước. Vì vậy, tôi yêu cầu các đồng chí cũng không tổ chức chúc thọ tôi ở đây”.

Và vào một dịp ngày sinh năm khác, Bác sang Trung Quốc với ý nghĩa như Người đã viết trong thư gửi bà Ðặng Dĩnh Siêu – Cán bộ cao cấp của Ðảng Cộng sản Trung Quốc: “Tôi đi Trung Quốc lần này có mục đích và yêu cầu thật đơn giản, đó là đi du lịch, đi để tránh “chúc thọ”, “tránh tặng quà”.

Ngày 19-5, Bác vắng nhà. Bác giao cho những người phục vụ, bảo vệ tổ chức đánh bắt cá thịt tại ao cá mà Người vẫn hằng ngày chăm sóc, để biếu các cụ già, các cháu bé, các đồng chí lãnh đạo Ðảng, Nhà nước cho anh chị em trong cơ quan phục vụ Bác cải thiện bữa ăn. Việc này vừa thể hiện sự quan tâm chăm lo của Bác đối với mọi người, vừa là để cảm ơn mọi người tận tụy công tác chăm lo cuộc sống hằng ngày của Bác.

Vào những dịp đó, Bác thường viết thư, gửi điện cảm ơn đồng bào, đồng chí, các cơ quan đoàn thể trong nước và bầu bạn quốc tế đã dành cho Người những tình cảm thân thiết. Bác làm thơ nói về tuổi tác thay vì những lời cảm tạ. Mỗi bức thư, mỗi dòng thơ của Bác Hồ tuy nói về Ngày sinh của Bác, nhưng lại là tình cảm, trách nhiệm của Bác Hồ đối với non sông đất nước và đồng bào, đồng chí, là nguyên tắc sống của Bác: “Trung với Ðảng, hiếu với dân”, và thể hiện đường lối lãnh đạo của Ðảng ta đối với sự nghiệp cách mạng, của dân tộc ở trong từng thời điểm lịch sử.

Những ngày này tôi nhớ tới dịp kỷ niệm ngày sinh Bác 40 năm trước (5-1968), năm sức khỏe của Bác giảm sút. Ðó là vào lúc 9 giờ ngày 10- 5-1968, Bác viết câu mở đầu vào tài liệu “Tuyệt đối bí mật” để gửi lại cho đời sau: “Năm nay, tôi vừa 78 tuổi, vào lớp người “trung thọ”. Tinh thần vẫn sáng suốt tuy sức khoẻ có kém so với vài năm trước đây…”. Bởi vậy, sinh nhật năm nay, Bác không vắng nhà. Và như những năm trước, Bác tập trung cho công việc suy nghĩ, sửa chữa vào bản Tài liệu dặn lại cho đời sau. Năm nay, Bác viết thêm vào bản Di chúc, dặn việc phải làm sau khi cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước thắng lợi là hàn gắn vết thương chiến tranh, chỉnh đốn Ðảng; chăm lo đời sống của nhân dân sau chiến tranh.

Tuy Bác không đi công tác xa như những năm trước, nhưng buổi tối 18- 5-1968, Bác lên nhà nghỉ ở Hồ Tây. Trưa 19-5, một bữa cơm thân mật được tổ chức ở Hồ Tây, gồm một số anh em phục vụ, lái xe, bảo vệ nhân kỷ niệm lần thứ 78 của Bác Hồ.

6 giờ 15 ngày 20-5-1968, Bác Hồ dự khai mạc kỳ họp thứ 4 Quốc hội khóa III. Họp sớm để tránh hoạt động của máy bay Mỹ. Hội trường sôi động hẳn lên nhất là khi nghe Bác Hồ kết thúc buổi họp vào lúc 8 giờ bằng những lời chân tình và bốn câu thơ:

“Lần trước tôi có nói là những thắng lợi của chiến sĩ và đồng bào hai miền làm cho tôi thấy như mình trẻ lại 20 tuổi. Nhưng nay nghe nói 78 tuổi, thế thì tôi thấy già đi. Vì vậy, tôi có bài thơ này:

Bảy mươi tám tuổi chưa già lắm,
Vẫn vững hai vai việc nước nhà.
Kháng chiến dân ta đang thắng lớn,
Tiến bước! Ta cùng con em ta”

Cũng như mọi năm, vào dịp sinh nhật Bác, Bác cho anh em bảo vệ bắt cá ở ao để cải thiện bữa ăn. Năm nay anh em bảo vệ bắt được con cá trắm cỏ rất to. Khi đưa con cá để Bác xem, Bác bảo cân xem con cá nặng bao nhiêu? Anh em mượn chiếc cân bàn của nhà bếp, khi đặt con cá lên vì cá to đầu, đuôi chạm đất, đang loay hoay tìm cách cân cá, thì Bác bảo: Chú Ðỉnh (lúc đó là tổ trưởng tổ bảo vệ nhà sàn) ôm cá lên, và bước lên cân, trừ cân chú thì còn lại là cân của con cá. Theo chỉ dẫn của Bác, đồng chí Ðỉnh báo cáo, con cá nặng 24 kg. Lúc đó Bác nói vui: Bắt nó lên để cá lớn không nuốt cá bé.

Sự từ chối lễ nghi phiền phức của vị Chủ tịch nước, lãnh tụ tối cao của Ðảng, trong dịp kỷ niệm ngày sinh của mình thể hiện sự khiêm tốn, giản dị, đó là bản chất của người đầy tớ của nhân dân. Nhân cách ấy, sự cao thượng ấy càng làm cho hình ảnh Bác Hồ trở nên cao đẹp và là tấm gương mẫu mực về đức tính khiêm tốn, giản dị và đạo lý làm người cao đẹp nhất.

Bác Hồ đã đi xa gần 40 năm, nhưng mỗi người dân Việt Nam, bạn bè của nhân dân Việt Nam đều cùng chung một tình cảm: Bác Hồ không mất. Bác Hồ vẫn đời đời sống cùng non sông, đất nước và bạn bè khắp nơi. Vì vậy, vẫn như có Bác Hồ, hằng năm tới dịp Tháng 5 là toàn thể nhân dân ở khắp các miền quê Việt Nam, và cả bạn bè năm châu vẫn nô nức tổ chức kỷ niệm Ngày sinh của Bác Hồ. Kỷ niệm sinh nhật Bác năm nay đúng vào năm thứ hai toàn Ðảng, toàn dân ta thực hiện Cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”.

Ôn lại những bài học quý giá, những việc làm trong sáng của Người trong dịp kỷ niệm Ngày sinh của Người, sẽ là dịp chúng ta soi chung tấm gương lớn, và mong sao mỗi cán bộ, đảng viên nhất là những người có chức có quyền, gương mẫu học và làm theo Bác, để khắc phục sự suy thoái đạo đức, lối sống bớt đi những tệ tham nhũng, quan liêu, xa hoa, lãng phí.

TS Trần Viết Hoàn
nhandan.com.vn

Tầm nhìn của một nhà chiến lược

Đền thờ Bác Hồ ở Đèo De, Định Hóa

(DVT.vn) – Chọn Việt Bắc mà trung tâm là Thái Nguyên làm Thủ đô kháng chiến, cho thấy một tầm nhìn của một nhà chiến lược.

Ngày 20/05/1947, vừa tròn 65 năm, là ngày Chủ tịch Hồ Chí Minh về Định Hóa, Thái Nguyên để lãnh đạo cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp đi đến ngày thắng lợi hoàn toàn.

Tháng 5 năm 1951, nhà thơ Tố Hữu đã viết bài thơ “Sáng Tháng 5”:

.

Vui sao một sáng Tháng Năm
Đường về Việt Bắc lên thăm Bác Hồ
Suối dài xanh mướt nương ngô
Bốn phương lồng lộng thủ đô gió ngàn

Những câu thơ này không chỉ thể hiện được tình yêu, sự tin tưởng, phấn chấn của người cách mạng đối với lãnh tụ, với thắng lợi đang đến gần mà còn cho biết sự gắn bó đặc biệt của Bác Hồ đối với “thủ đô gió ngàn”.

Bác là người xây dựng thủ đô kháng chiến, là hiện thân của thủ đô kháng chiến.

Năm 1941, sau 30 năm tìm đường cứu nước, Người trở về Tổ quốc, dừng chân ở Pắc Bó, cùng Trung ương thành lập căn cứ địa Việt Bắc chuẩn bị cho Tổng khởi nghĩa.

Trở về Cao Bằng và đứng chân ở đó có phải là một ngẫu nhiên đối với  nhà cách mạng Nguyễn Ái Quốc  không? Không, đó chính là suy tính, lựa chọn rất kỹ càng của một nhà chiến lược.

Người khẳng định: Căn cứ địa Cao Bằng sẽ mở ra nhiều triển vọng lớn lao cho cách mạng nước ta. Cao Bằng có phong trào tốt từ trước, lại kề sát biên giới, lấy đó làm cơ sở liên lạc quốc tế rất thuận lợi. Nhưng từ Cao Bằng còn phải phát triển về Thái Nguyên và thông xuống nữa mới có thể tiếp xúc với toàn quốc được. Có nối phong trào với Thái Nguyên và toàn quốc  thì khi phát động đấu tranh vũ trang lúc thuận lợi có thể tiến công, lúc khó khăn có thể giữ…

Xây dựng căn cứ địa là một trong những yếu tố hàng đầu, quyết định thắng lợi của mọi cuộc khởi nghĩa, mọi cuộc kháng chiến. Trong quá trình đấu tranh dựng nước và giữ nước, cha ông ta đã tích lũy được những kinh nghiệm vô giá về xây dựng căn cứ địa.

Thành phố Thái Nguyên

Phải là một nhà quân sự thiên tài, mới có được tầm nhìn chiến lược trong việc xác định và xây dựng căn cứ địa.

Đại tướng Võ Nguyên Giáp trong bài phát biểu hội thảo kỷ niệm 50 năm chiến thắng Việt Bắc – Thu Đông cho biết:

“Tôi còn nhớ rất sớm Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng có chỉ thị xây dựng Thái Nguyên thành căn cứ địa. Trước Cách mạng Tháng Tám năm 1945, trong một cuộc họp, Bác nói: Hiện nay ta có hai chõ đứng chân là căn cứ Cao Bằng và căn cứ Bắc Sơn (Lạng Sơn), ta phải củng cố hai căn cứ đó, mở rộng căn cứ Cao – Bắc – Lạng. Cao Bằng có truyền thống cách mạng, lại thuận tiện cho việc liên lạc với quốc tế nhưng vị trí ở xa Trung ương quá. Vì vậy phải chọn một nơi để xây dựng thành trung tâm của căn cứ địa Việt Bắc. Nơi ấy phải có nhân dân tốt, có cơ sở chính trị tốt. Và ở nơi đó “tiến khả dĩ công, thoái khả dĩ thủ” (tiến có thể đánh, lui có thể giữ). Cuối cùng thì Bác đã lấy Thái Nguyên làm địa bàn trung tâm của toàn khu căn cứ Việt Bắc, và đã đề ra chủ trương mở đường Nam tiến từ Cao Bằng qua Phia Uắc xuống Nghĩa Tá (Chợ Đồn – Bắc Cạn); mặt khác đi qua Thất Khê – Bắc Sơn về đến Võ Nhai (Thái Nguyên)”…

Ngay sau khi Cách mạng Tháng Tám thành công, tiên đoán trước âm mưu, hành động của thực dân Pháp, năm 1946, Bác phái đồng chí Trần Đăng Ninh, Nguyễn Lương Bằng trở lại Việt Bắc xây dựng ATK (An toàn khu).

Bác nói: “Cách mạng Tháng Tám đã do Việt Bắc mà thành công thì kháng chiến nhất định do Việt Bắc mà thắng lợi!”

Phong cảnh Hà Giang

ATK kháng chiến bao gồm các huyện Định Hóa, Đại Từ, Phú Lương, Võ Nhai của tỉnh Thái Nguyên; Chợ Mới, Chợ Đồn của Bắc Cạn; Sơn Dương, Yên Sơn, Chiêm Hóa của Tuyên Quang. Định Hóa là nơi đặt đại bản doanh của Bác Hồ, T.Ư Đảng, Chính phủ, Bộ Tổng Tham mưu (Võ Nguyên Giáp), Bộ Quốc phòng (Tạ Quang Bửu) và các cơ quan đầu não khác.

Ngày 20/05/1947, Chủ tịch Hồ Chí Minh đến ở và làm việc tại đồi Khau Tý, xã Điềm Mặc, Định Hóa. Tại đây, Người đã viết tác phẩm nổi tiếng Sửa đỏi lề lối làm việc.

Ngày 28/05/1948, tại thôn Nà Lọm, xã Phú Đình, Định Hóa, Hội đồng Chính phủ làm lễ tấn phong quân hàm Đại tướng cho đồng chí Võ Nguyên Giáp và quân hàm cấp tướng cho một số sĩ quan khác.

Ngày 06/12/1953, tại Tỉn Keo, xã Phú Đình, Bộ Chính trị thông qua kế hoạch tác chiến Đông Xuân 1954 và quyết định mở  Chiến dịch Điện Biên Phủ…

Cũng tại ATK Thái Nguyên thời kỳ chống Pháp, Chủ tịch Xuphanuvong, Tổng Bí thư Cayxon Phomvihan của Đảng Nhân dân Cách mạng Lào; Tổng Bí thư Sơn Ngọc Minh Đảng Nhân dân Cách mạng Campuchia đã từng sống và làm việc.

PVA
dvt.vn