Archive by Author | Việt Nam - Hồ Chí Minh

Nghề cao quý nhất trong các nghề cao quý

Truyền thống hiếu học, tôn sư trọng đạo là nét đẹp văn hoá ngàn đời của dân tộc Việt Nam. Truyền thống ấy thể hiện bằng thành tích học tập, tình cảm, sự kính trọng, lòng biết ơn của lớp lớp thế hệ học trò giành cho người thầy và còn được đúc kết thành tục ngữ, thành ngữ lưu giữ suốt chiều dài lịch sử dân tộc: “Nhất tự vi sư, bán tự vi sư”; “Không thầy đố mày làm nên”; “Muốn sang thì bắc cầu Kiều/Muốn con hay chữ thì yêu kính thầy”… để tỏ lòng trân trọng, thành kính của xã hội dành cho nhà giáo. Vì vậy, Ngày Nhà giáo Việt Nam (hay Ngày Hiến chương Nhà giáo Việt Nam) được tổ chức hằng năm vào ngày 20 tháng 11 không chỉ là dịp để Ngành Giáo dục tôn vinh những người hoạt động trong ngành, học trò thể hiện lòng thành kính “tôn sư trọng đạo” mà còn là dịp để xã hội tôn kính, tri ân những người đã, đang gắn bó với nghề dạy học – “Nghề cao quý nhất trong các nghề cao quý, nghề sáng tạo nhất trong các nghề sáng tạo”.

nghe cao quy trong cac nghe cao quy

Những người làm “Nghề cao quý nhất trong các nghề cao quý…” từ xưa đến nay dù ít tuổi hay cao tuổi, dù khoa bảng hay chỉ là thầy đồ đều được nhân dân kính trọng, tôn quý, vị nể và được ví như “cây thông trên sườn núi, cây quế giữa rừng sâu thầm lặng toả hương dâng hiến trí tuệ, sức lực cho đời”. Người thầy mọi thời đại đều xác định nghề của mình là một nghề cao quý, thiêng liêng và luôn coi đối tượng lao động của mình là nhân cách, tâm hồn, thể chất con người nói chung và của một thế hệ nói riêng. Công cụ lao động của nghề dạy học chủ yếu bằng bản thân con người – toàn bộ nhân cách của thầy. Phương pháp lao động của người thầy là phương pháp nêu gương, cảm hoá đối tượng bằng tư tưởng, tình cảm, tri thức của mình… để tạo ra “sản phẩm” vừa uyên thâm về tri thức, vừa thấu hiểu đạo lý làm người. Sản phẩm đó không giống như chiếc áo của anh thợ may, chiếc bàn của anh thợ mộc hay một vật dụng cụ của một người thợ nào khác mà chính là con người. Con người có ý thức, con người biết vận dụng tri thức kỹ năng, kỹ xảo và bắt nhịp với thời đại. Con người độc lập, tự chủ và sáng tạo. Con người theo đúng nghĩa – “tâm, tài, tầm”! Sản phẩm làm ra của người thầy không thể đem so sánh với bất kỳ nghề nào trong xã hội! Bởi, nếu những ngành nghề khác vẫn cho phép xảy ra khả năng có những sản phẩm phạm lỗi kỹ thuật thì nghề dạy học không thể và không bao giờ được phép tạo ra những sản phẩm bị lỗi để rồi “sản phẩm” đó trở nên vô dụng. Vì vậy, lao động của người thầy đòi hỏi phải hết sức cẩn trọng, khoa học, nghiêm túc, đặc biệt phải có một cái tâm trong sáng để tạo dựng nên nhân cách con người, đáp ứng ngày càng cao yêu cầu của sự nghiệp xây dựng xã hội mới. Trách nhiệm của người thầy đối với sự nghiệp “trồng người” là vô cùng lớn lao! Giáo sư Nguyễn Văn Lê từng viện dẫn lời một nhà tư tưởng nói về nghề dạy học: “Nếu người thợ kim hoàn làm hỏng một đồ vàng bạc thì anh ta có thể đem ra nấu lại. Nếu một viên ngọc quý bị hư thì có thể phá bỏ… Làm hư một con người là một tội lớn, một lỗi lầm lớn không thể nào chuộc được”.

Lịch sử dân tộc ta đã lưu danh những bậc thầy “đức cao vọng trọng” – tấm gương sáng ngời về cốt cách thanh cao; không bị cám dỗ bởi tiền tài và danh vọng. Tên tuổi những nhà giáo nổi tiếng ấy tuy không được ghi danh trong bảng vàng bia đá nhưng đã làm rạng danh nền giáo dục nước nhà, khắc sâu trong tâm khảm mỗi người dân Việt Nam và được lưu truyền mãi mãi. Dân tộc ta không bao giờ quên hình ảnh nữ nhà giáo đầu tiên vào thế kỷ XV là bà Ngô Chi Lan, quê ở Phù Lỗ, Kim Hoá, Sóc Sơn đã được vua Lê Thánh Tông mời vào cung dạy học. Thầy Đỗ Năng Tế là thầy giáo của Hai Bà Trưng – những phụ nữ đầu tiên của dân tộc dựng cờ khởi nghĩa, chống lại ách đô hộ của phong kiến phương Bắc. Các thầy Chu Văn An, Nguyễn Bỉnh Khiêm, Nguyễn Văn Siêu, Nguyễn Thiếp, Lê Đình Diên, Nguyễn Đình Chiểu, Nguyễn Khuyến, Nguyễn Sinh Sắc… đều là những tấm gương tiêu biểu về nhân cách ngời sáng của người thầy mẫu mực, tài giỏi, ngay thẳng, cương trực, không màng danh lợi. Thầy Nguyễn Đình Chiểu còn được nhân dân ta mệnh danh là nhà giáo cầm bút đánh giặc: Chở bao nhiêu đạo thuyền không khẳm/Đâm mấy thằng gian bút chẳng tà.

Lãnh tụ thiên tài của dân tộc Việt Nam Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh đã từng dạy học ở trường Dục Thanh – Phan Thiết. Dù thời gian thầy Thành dạy học ở đây rất ngắn nhưng đã khai sáng tâm hồn học trò về đạo lý, lòng yêu nước, tinh thần tự hào, tự tôn dân tộc qua mỗi bài giảng. Người cũng chính là người thầy đầu tiên truyền lý tưởng cộng sản, con đường cứu nước giải phóng dân tộc theo Chủ nghĩa Mác-Lênin và con đường Cách mạng Tháng Mười Nga đến các thanh niên Việt Nam tại Quảng Châu – Trung Quốc. Các thế hệ học trò của thầy không những cùng thầy sáng lập ra Đảng Cộng sản Việt Nam mà còn đưa cách mạng Việt Nam đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác. Người thầy – Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn kỳ vọng, tin tưởng vào thế hệ trẻ Việt Nam, vì vậy, trong lễ khai giảng năm học đầu tiên của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, Người căn dặn: “Non sông Việt Nam có trở nên tươi đẹp hay không, dân tộc Việt Nam có trở nên vẻ vang sánh vai với các cường quốc năm châu được hay không, chính là nhờ công học tập của các cháu”.

Tiếp tục con đường người thầy đã chọn, những học trò xuất sắc của Chủ tịch Hồ Chí Minh: Đại tướng Võ Nguyên Giáp, Thủ tướng Phạm Văn Đồng, Tổng Bí thư Trường Chinh… trước khi trở thành nhà lãnh đạo tài ba của đất nước đã từng làm nghề “ươm mầm xanh” ở một số trường học. Họ tiếp tục sự nghiệp mà người thầy vĩ đại của dân tộc để lại, không chỉ cùng toàn Đảng, toàn quân, toàn dân viết nên những chiến công chói lọi ở thế kỷ XX mà còn từng bước đưa nền giáo dục nước nhà sánh vai cùng bạn bè năm châu. Nhà giáo Đặng Thai Mai, Trần Văn Giàu, Tôn Thất Tùng, Nguyễn Ngọc Ký… và biết bao tấm gương người thầy đã trở thành thần tượng, làm rung động triệu triệu trái tim, khối óc các thế hệ học sinh, sinh viên trong và ngoài nước. Họ đã cống hiến hết mình không chỉ cho sự nghiệp giáo dục mà còn cống hiến suốt cả cuộc đời cho sự nghiệp cách mạng, đưa dân tộc ta đến bến bờ vinh quang như hôm nay. Tên tuổi nhiều nhà giáo đã được dùng đặt tên cho các trường học, đường phố, công trình, giải thưởng của các cuộc thi và trở thành biểu tượng sáng ngời về trí tuệ, nhân cách người thầy!

Trong những cuộc kháng chiến vĩ đại của dân tộc, lớp lớp thầy giáo trẻ theo tiếng gọi của lý tưởng cách mạng cao đẹp đã ra trận, cống hiến sức lực và trí tuệ của mình cùng các thế hệ cha anh viết nên bản hùng ca bất tử, khắc ghi tên mình vào trang sử vẻ vang của dân tộc. Ở lại hậu phương, các thế hệ người thầy tiếp tục truyền lửa đến học trò, để rồi từ bục giảng, chính các thầy cô lại nhen nhúm, khơi dậy lòng yêu nước, chí căm thù giặc, nuôi dưỡng lý tưởng sống cao đẹp cho nhiều thế hệ học sinh, sinh viên. Mỗi bài giảng của thầy như thôi thúc học trò tiếp bước cha anh, theo tiếng gọi thiêng liêng của Tổ quốc, xếp bút nghiên lên đường “Xẻ dọc Trường Sơn đi cứu nước”, thực hiện lý tưởng cao đẹp “Không có gì quý hơn độc lập, tự do”. Những người thầy cầm súng đã góp một phần không nhỏ tạo nên “dáng đứng Việt Nam tạc vào thế kỷ”.

Đất nước hòa bình, thống nhất, vượt lên bao vất vả, lo toan của cuộc sống thường nhật, hình ảnh người thầy vẫn hiện lên sáng ngời, kiên trì thắp lửa, truyền đạt tri thức, sưởi ấm tâm hồn thế hệ tương lai với nghĩa cử cao đẹp “tất cả vì học sinh thân yêu”. Nhiều thầy, cô giáo đi theo tiếng gọi của Đảng, Nhà nước cũng là lương tâm, trách nhiệm đã từ bỏ cuộc sống đầy đủ vật chất chốn “đô hội”, không quản ngại nắng mưa, tình nguyện “cõng chữ lên non”, mang ánh sáng của con chữ đến với học sinh và kiến thức xây dựng kinh tế đến đồng bào miền núi, vùng sâu, vùng xa, biên giới, hải đảo giúp họ vượt lên rào cản hủ tục, thoát khỏi cái nghèo, cái đói. Họ là những người thầy kiên trì, miệt mài và tảo tần, quyết tâm mang “hạt” chữ lên đại ngàn để ươm trồng, tưới bằng những dòng nước hy vọng và niềm tin mãnh liệt vào tương lai thoát khổ, thoát nghèo của đồng bào ở vùng khó khăn nhất đất nước. Không ít các thế hệ giáo viên đã cống hiến và gắn bó cả quãng đời thanh xuân của mình ở vùng biên giới, hải đảo xa xôi và đã trở thành “hoa của núi rừng!”. Sự hy sinh thầm lặng của họ thật cao cả và đáng trân trọng biết bao!

Cả nước bước vào thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và hội nhập quốc tế, Đảng ta coi giáo dục là “Quốc sách hàng đầu”, đầu tư cho giáo dục là đầu tư cho sự phát triển, trong đó vị trí người thầy được coi là nhân vật trung tâm của quốc sách ấy. Vì vậy, vị trí, vai trò, trọng trách của người thầy đối với nền giáo dục nước nhà càng hết sức quan trọng, quyết định trực tiếp đến chất lượng nguồn nhân lực của đất nước cũng như hình ảnh, vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế. Sứ mệnh của người thầy hôm nay vừa đảm đương trọng trách đào tạo ra nguồn nhân lực để phát triển kinh tế – xã hội nhanh và bền vững vừa góp phần không nhỏ vào quá trình hình thành nhân cách con người Việt Nam giàu lòng yêu nước, có tinh thần tự hào với truyền thống văn hoá, lịch sử ngàn năm của dân tộc. “Sản phẩm” của người thầy làm ra cũng chính là “vũ khí” bách chiến, bách thắng – nhân tố trọng yếu, cơ bản để bảo đảm an ninh, chính trị quốc gia trong quá trình hội nhập. Kỳ vọng lớn vào thế hệ người thầy, Phó Thủ tướng Nguyễn Thiện Nhân “mong các nhà giáo phát huy niềm tự hào về vị trí nghề nghiệp cao cả của mình, vừa cống hiến tốt nhất cho xã hội, đồng thời đóng góp trí tuệ của mình cho việc tiếp tục đổi mới nhanh, mạnh mẽ của hệ thống giáo dục nước nhà và nhà trường của chính mình, làm cho ngành giáo dục phát triển xứng đáng với niềm mong mỏi của nhân dân, của Đảng, Nhà nước và cũng là mong mỏi của chính các thầy, cô giáo”.

Trước yêu cầu đòi hỏi của xã hội đối với sự nghiệp giáo dục nước nhà, những cuộc vận động của ngành giáo dục trong thời gian qua như: “Kỷ cương, tình thương, trách nhiệm”, “Xây dựng trường học thân thiện, học sinh tích cực”. “Mỗi thầy giáo, cô giáo là một tấm gương sáng về tinh thần học tập và sáng tạo”… đã được xã hội hưởng ứng, nâng cao vị thế của ngành giáo dục. Các nhà giáo đều hiểu rằng ngoài kiến thức, nhân cách – tấm gương để thuyết phục học sinh và phụ huynh còn phải có lòng nhiệt huyết, tình thương và trách nhiệm – yếu tố quyết định chất lượng giáo dục của nước nhà. Do vậy, trước tác động lớn của thời kỳ hội nhập và mặt trái của cơ chế thị trường, những người thầy tâm huyết vẫn kiên định, vững vàng bản lĩnh, giữ vững cốt cách của nhà giáo. Ánh sáng của lương tri luôn rọi chiếu, cùng với ngọn lửa trí tuệ và tình yêu thương của người làm nghề “trồng người” đã luôn vun đắp cho người thầy vững tin vào“nghề dạy học là nghề cao quý nhất trong các nghề cao quý”. Xã hội cảm phục và tự hào trước sự đóng góp, hy sinh to lớn của bao thế hệ thầy, cô giáo – người đã không quản khó khăn, gian khổ góp phần đào tạo nên những thế hệ người Việt Nam vừa “hồng”, vừa “chuyên” đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam XHCN.

Sự tri ân của xã hội với những người theo nghiệp làm “người chèo đò đưa khách qua sông!”, gắn bó với sự nghiệp “trồng người” là nét đẹp văn hoá truyền thống ngàn đời của dân tộc ta, góp phần bồi đắp và tô đậm truyền thống văn hóa “tôn sư trọng đạo” của dân tộc Việt Nam lên tầm cao mới. Mỗi dịp kỷ niệm Ngày Nhà giáo Việt Nam ngày 20 tháng 11, trước sự quan tâm của toàn xã hội, niềm vui, hạnh phúc lại trào dâng, rạng ngời trên mỗi gương mặt thầy cô – điểm tựa tinh thần vững chắc, tiếp thêm sức mạnh, lòng yêu nghề và khát khao cống hiến của các thầy cô đối với sự nghiệp giáo dục. Đó là niềm vinh dự, tự hào về vị trí, vai trò của mình đối với sự nghiệp “trồng người”! Nhưng trách nhiệm cũng không kém phần lớn lao, nặng nề, trăn trở của mỗi người thầy: Làm sao để hình ảnh người thầy mãi mãi là khuôn mẫu, chuẩn mực của xã hội, lời nói và hành động của thầy trở thành “khuôn vàng thước ngọc”, là tấm gương sáng để mọi thế hệ học trò học tập và noi theo, đồng thời để xứng đáng với sự tôn vinh của xã hội: “Dưới ánh sáng mặt trời không có nghề nào cao quý hơn nghề dạy học”. “Nghề dạy học là một nghề cao quý nhất trong những nghề cao quý, nghề sáng tạo nhất trong những nghề sáng tạo”!

Theo Tạp chí Xây dựng Đảng
Huyền Trang (st)

bqllang.gov.vn

Khu lưu niệm Chủ tịch Hồ Chí Minh đón Bằng công nhận Di tích quốc gia đặc biệt

(Chinhphu.vn) – Sáng 7/12, tỉnh Nghệ An đã long trọng tổ chức Lễ đón nhận Bằng công nhận Di tích quốc gia đặc biệt Khu lưu niệm Chủ tịch Hồ Chí Minh, tại xã Kim Liên, huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An.

Phó Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc trao Bằng công nhận di tích quốc gia đặc biệt Khu lưu niệm Chủ tịch Hồ Chí Minh cho lãnh đạo tỉnh Nghệ An-Ảnh: VGP/Lê Sơn

Đồng chí Nguyễn Xuân Phúc, Ủy viên Bộ Chính trị, Phó Thủ tướng Chính phủ, lãnh đạo các Bộ, Ban, ngành Trung ương, các địa phương, lãnh đạo tỉnh Nghệ An và đông đảo các tầng lớp nhân dân tới dự.

Thay mặt Lãnh đạo Đảng và Nhà nước, Phó Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc nhấn mạnh, trong nhiều năm qua, quần thể Khu lưu niệm Chủ tịch Hồ Chí Minh đã trở thành địa chỉ thiêng liêng trong lòng mỗi người dân Việt Nam và bạn bè quốc tế đến thăm và bày tỏ lòng tôn kính Người.

Đến với Khu lưu niệm Chủ tịch Hồ Chí Minh, mỗi chúng ta lại càng cảm nhận sâu sắc hơn về cội nguồn tạo nên phong cách, tư tưởng Hồ Chí Minh. Đó là sự giản dị mà sâu sắc, sự cô đọng hàm súc mà phong phú lạ thường, có sức lắng đọng và lan toả mãnh liệt. Tư tưởng đó phát triển đạt đến tầm cao minh triết và trở thành tài sản tinh thần vô cùng to lớn và quý giá của Đảng và dân tộc ta.

Dưới ánh sáng của tư tưởng Hồ Chí Minh, lớp lớp thế hệ người Việt Nam đã vững bước theo con đường mà Người đã chọn. Đó là con đường độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, con đường mang tầm nhìn vượt thời gian và sẽ đưa chúng ta đi đến thắng lợi hoàn toàn.

Phó Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc dâng hương tại Khu lưu niệm Chủ tịch Hồ Chí Minh -Ảnh: VGP/Lê Sơn

 

Phó Thủ tướng nói, mỗi người dân đất Việt khi về thăm quê Bác ai cũng thu nhận được cho mình những bài học quý báu. Trước hết đó là tinh thần phấn đấu không mệt mỏi, sẵn sàng hy sinh cho sự nghiệp giải phóng dân tộc, xây dựng đất nước, vì hạnh phúc của nhân dân. Chúng ta cũng rút ra cho mình bài học về văn hoá ứng xử Hồ Chí Minh, tinh tế, khoan dung, vị tha và nhân ái.

Để xây dựng quê hương Nghệ An ngày càng giàu đẹp, đồng thời gìn giữ và phát huy các giá trị của Khu di tích, Phó Thủ tướng đề nghị Đảng bộ, chính quyền và nhân dân tỉnh Nghệ An đồng tâm hợp lực, phấn đấu thực hiện lời căn dặn và mong mỏi của Bác “Mong đồng bào và đồng chí tỉnh nhà ra sức phấn đấu mau trở thành một trong những tỉnh khá nhất”. Muốn vậy, Nghệ An cần tiếp tục phát huy những lợi thế của địa phương, đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu kinh tế, thu hút đầu tư, nâng cao chất lượng tăng trưởng.

Phó Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc trồng cây tại Khu lưu niệm Chủ tịch Hồ Chí Minh-Ảnh: VGP/Lê Sơn

 

Đối với Khu lưu niệm Chủ tịch Hồ Chí Minh, tỉnh cần tiếp tục thực hiện công tác bảo tồn, tôn tạo và phát huy giá trị Di tích quốc gia đặc biệt, có đội ngũ cán bộ chuyên môn và phẩm chất tốt, để đồng bào cả nước và du khách nước ngoài đến thăm hiểu hơn về truyền thống của quê hương xứ Nghệ nói chung và Chủ tịch Hồ Chí Minh nói riêng.

Phát huy truyền thống yêu nước và cách mạng của quê hương Nghệ An, Phó Thủ tướng tin tưởng Đảng bộ, chính quyền và nhân dân tỉnh nhà sẽ tiếp tục nỗ lực phấn đấu đoàn kết, chung kết, chung lòng vượt qua khó khăn thách thức, giành được những thành tựu to lớn hơn nữa trên con đường phát triển.

Lê Sơn
chinhphu.vn

Đại biểu Hội nghị toàn quốc ngành Kiểm sát nhân dân vào Lăng viếng Chủ tịch Hồ Chí Minh

VKS
Đoàn đại biểu vào Lăng viếng Chủ tịch Hồ Chí Minh

Sáng ngày 06/12/2012, hơn 900 đại biểu Hội nghị toàn quốc ngành Kiểm sát nhân dân đã đặt vòng hoa và vào Lăng viếng Chủ tịch Hồ Chí Minh. Vòng hoa của Đoàn mang dòng chữ “Đời đời nhớ ơn Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại”.

Các đại biểu tham dự Hội nghị gồm các đồng chí: Nguyễn Hoà Bình -Viện trưởng Viện Kiểm sát nhân dân tối cao, các Phó Viện trưởng Viện Kiểm sát nhân dân tối cao; lãnh đạo Viện kiểm sát quân sự Trung ương; Viện trưởng Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương; Viện trưởng Viện Kiểm sát nhân dân cấp huyện; Viện trưởng Viện Kiểm sát  quân sự cấp quân khu và khu vực; Tổ Thư ký và các đồng chí Thư ký lãnh đạo Viện Kiểm sát nhân dân tối cao.

Hội nghị toàn quốc ngành Kiểm sát nhân dân diễn ra tại Hà Nội trong 2 ngày từ ngày 06 đến ngày 07 tháng12 năm 2012 với nội dung: Tổng kết thực tiễn 10 năm thi hành Luật Tổ chức Viện Kiểm sát nhân dân năm 2002, Pháp lệnh Kiểm sát viên Viện Kiểm sát nhân dân năm 2002 và Pháp lệnh Tổ chức Viện Kiểm sát quân sự năm 2002; Tổng kết thực tiễn 08 năm thi hành Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2003; Thảo luận ý kiến về những định hướng cơ bản sửa đổi Luật Tổ chức Viện Kiểm sát nhân dân và Bộ luật Tố tụng Hình sự; Triển khai thực hiện Nghị quyết số 522b/NQ -UBTVQH13 ngày 16/8/2012 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội về trang phục của ngành Kiểm sát nhân dân.

Hải Yến
bqllang.gov.vn

Thiên tai là đồng minh giặc đói, giặc dốt

Trong số những mối lo toan thường trực của Chủ tịch Hồ Chí Minh cho dân cho nước, bão lụt – hạn hán – hỏa hoạn… chiếm một vị trí quan trọng.

 Bà Mađơlen Rípphô, nữ nhà báo Pháp, có lần dẫn lời một đồng chí được sống gần gũi với Bác: Hồ Chí Minh rất ít ngủ. Người bận lo toan tới những chiến sỹ, những thanh niên xung phong đang xông pha ngày đêm dưới bom đạn quân thù. Và tất nhiên có nhiều đêm Người mất ngủ vì bận lo lắng, suy nghĩ tới những nạn hạn hán, mùa lũ đang đe dọa nhấn chìm đồng ruộng, người dân, cả nơi thôn quê đến chốn thị thành.

Thien tai 1
Bác Hồ thăm nông dân huyện Đại Từ (Thái Nguyên) đang gặt lúa đông xuân, năm 1953.

Nghe tin lũ lớn ở Kiến An, năm 1955, gây thiệt hại lớn về người và của, Bác Hồ cho gọi đồng chí phụ trách lên nắm tình hình. Nghe báo cáo những con số thiệt hại, nước mắt Bác rơm rớm. Bác liền chỉ thị cho Thành ủy Hải Phòng phải sớm có phương án tỉ mỉ khắc phục hậu quả, mà trước hết là không để cho một người dân nào bị đói… Cứ đến mùa nước lũ, kỳ hạn hán, Bác thường trực tiếp xuống địa phương tham gia chống hạn, chống lũ cùng dân. Có lần, Bác đến công trường Đại Thủy nông Bắc Hưng Hải tham gia lao động như một người dân thực thụ. Trên đường, thấy một chị đẩy xe cút kít nặng nề lên dốc, Bác vội chạy đến đẩy giúp chị… Người hòa vào khí thế lao động khẩn trương của công trường, làm tăng thêm niềm vui, sức mạnh cho cả một biển người đang lao động quên mình ở một công trình thủy lợi lớn trên miền Bắc xã hội chủ nghĩa lúc bấy giờ.

Giai đoạn trước năm 1945, Việt Nam nói chung và miền Trung nói riêng sống dưới chế độ thống trị của thực dân Pháp và chính quyền phong kiến bù nhìn. Trước những thiên tai dồn dập do bão lụt, hạn hán gây ra, tuy đã có tìm một số giải pháp phòng ngừa và cứu hộ, họ đã không toàn tâm toàn ý, thậm chí ở nhiều nơi và nhiều lúc, chính quyền đã bỏ mặc dân chúng. Các soạn giả cuốn sách Lũ lụt ở các tỉnh miền Trung trong hai thế kỷ XIX – XX (2002) có cho bạn đọc biết thêm: “Ngay cả việc cứu hộ cũng triển khai chậm và không toàn diện, chỉ tập trung vào mục tiêu duy nhất là chống đói kịp thời, nên dân chúng thường phải chịu cảnh điêu đứng kéo dài trước nạn thiên tai”. Cách mạng Tháng Tám (1945) gắn với tên tuổi Hồ Chí Minh, đã mở ra một chương khác!

Tính sơ bộ từ năm 1947 tới năm 1959, có tới 13 bức thư, bài viết của Bác Hồ khen ngợi, động viên, chia sẻ hoặc nhắc nhở, chỉ bảo cán bộ, đồng bào, chiến sỹ trực tiếp hoặc gíán tiếp liên quan tới việc chống thiên tai bão lụt… Trên thế giới, có lẽ hiếm hoi những lãnh tụ quan tâm một cách thường xuyên, cụ thể, khoa học, và đau đáu đối với vấn đề an dân trước thiên tai, như Bác Hồ của chúng ta?!

Riêng với Nghệ An là một tỉnh lớn của miền Bắc, có vị trí quan trọng về kinh tế, chính trị, văn hóa và quốc phòng; là tỉnh đất rộng, người đông, tài nguyên khá phong phú, nhân dân có truyền thống anh dũng, cần cù. Mặc dầu vậy, Nghệ An là tỉnh thường xuyên phải đối phó, chống đỡ và khắc phục hậu quả nhiều trận bão lụt, hạn hán hiếm có trong lịch sử; rồi cháy nhà, cháy rừng, lũ ống, lũ quét, mưa đá… Trước rất nhiều khó khăn, thách thức ấy, Bác vẫn yêu cầu: “Đồng bào và cán bộ phải có quyết tâm phấn đấu xây dựng tỉnh ta thành một trong những tỉnh khá nhất ở miền Bắc”.

Năm 1961, được tin vụ cháy ở thị xã Vinh gây thiệt hại tới tài sản của đồng bào, Bác Hồ gửi thư tỏ ý rất phiền lòng, đồng thời khen ngợi đồng bào, bộ đội, công an, cán bộ thị xã đã hết sức tham gia chữa cháy, giúp đỡ bà con bị nạn. Cũng năm này, lần về thăm quê thứ hai, sáng ngày 09/12/1961, nói chuyện với cán bộ và đồng bào tỉnh nhà, Bác khen: “Đã đấu tranh vượt qua những khó khăn do hạn và lụt năm ngoái để lại, và đẩy mạnh sản xuất tiến lên”. Nhưng, Bác cũng nghiêm khắc với Nghệ An khi phải nói câu “Thủy lợi ở Nghệ An còn kém lắm”, và kém là do hợp tác xã kém! Về việc trồng cây gây rừng của tỉnh nhà, trực tiếp liên quan tới môi trường, Bác cũng nêu nhiều nhận xét, đề nghị thẳng thắn, đến nay còn có giá trị về phương pháp luận!

Bác Hồ quan niệm, thời kháng chiến bọn Pháp và Nhật xâm chiếm nước ta nên chúng ta coi chúng là giặc và phải đánh đổ chúng đi; nay miền Bắc tạm hòa bình, phải tập trung chống thiên tai, chống nghèo đói, chống lạc hậu. Mà muốn chống thiên tai thì phải làm tốt công tác thủy lợi để chống hạn chống úng kịp thời. Lũ lụt là “giặc”, chúng đồng minh với giặc đói, giặc dốt, bởi thế Người phát động phong trào đắp đê giữ đê cũng như một chiến dịch và tổ chức thi đua, những chiến sỹ hoặc những nhóm có thành tích đặc biệt, đều được Bác và Chính phủ khen thưởng, nêu gương kịp thời…

Bước sang thế kỷ XXI, môi trường toàn cầu càng trở nên xấu đi, thiên tai càng hung hãn khôn lường. Tìm hiểu và ôn lại những câu chuyện, những lời căn dặn của Chủ tịch Hồ Chí Minh nhằm chống lại, làm hạn chế thiên tai mục đích bảo vệ tính mạng và của cải người dân, là việc làm luôn có tính thời sự, cần đi sâu hơn nữa. Cũng qua đó, ta thấm thía thêm giá trị nhân văn vì con người trong đạo lý sống, đạo lý làm người của một Danh nhân!

Kim Hùng
Theo http://baonghean.vn
Thu Hiền (st)

bqllang.gov.vn

Bác Hồ của chúng ta là như vậy đó

Chuyện kể về NgườiHơn 40 năm làm công tác dân vận – Mặt trận, với trách nhiệm được giao, tôi có hạnh phúc lớn là được tiếp xúc với nhiều chính khách, nhiều nhân sĩ, trí thức nổi tiếng, các vị tiêu biểu của các dân tộc, các tôn giáo, trong đó không ít người đã được Bác Hồ cảm hóa, trở thành cộng sự thân thiết của Bác, tiếp thu tư tưởng của Người và đã có những đóng góp to lớn vào sự nghiệp đại đoàn kết dân tộc và xây dựng Mặt trận Dân tộc thống nhất.

Mỗi lần kỷ niệm Ngày sinh của Chủ tịch Hồ Chí Minh lại một lần anh chị em làm công tác Mặt trận chúng tôi có dịp được nghe chính những người trong cuộc kể lại những câu chuyện đầy xúc động về tầm nhìn xa, trông rộng, lòng bao dung, độ lượng, sức hút kỳ diệu và tài cảm hóa lạ thường của Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Những câu chuyện đó được anh em chúng tôi ghi chép đầy đủ. Nhân dịp kỷ niệm 66 năm ngày Cách mạng tháng Tám thành công và Quốc khánh nước Cộng hòa XHCN Việt Nam, tôi trích đăng chuyện kể của Luật sư Phan Anh, Phó Chủ tịch thứ nhất Đoàn Chủ tịch UBTƯ MTTQ Việt Nam khóa III, tại buổi họp mặt của Mặt trận ngày 10-5-1990 kỷ niệm 100 năm Ngày sinh của Bác Hồ. Không ai nghĩ rằng đây là buổi nói chuyện cuối cùng của Luật sư tại cơ quan Mặt trận vì chỉ sau đó hơn một tháng, ngày 28-6-1990 luật sư Phan Anh đã vĩnh biệt chúng ta. Tiêu đề bài viết này chính là câu kết bài nói của Luật sư.

Ông kể: Theo tôi nhớ, từ trung tuần tháng 7 đến trung tuần tháng 8-1945, những cuộc thương lượng giữa Chính phủ Trần Trọng Kim với Việt Minh diễn ra dồn dập tại Hà Nội. Mở đầu là việc ông Lê Trọng Nghĩa với vai giáo sư Lê Ngọc đã có cuộc tiếp xúc đầu tiên với Khâm sai đại thần Phan Kế Toại ngay tại Phủ khâm sai trong giờ hành chính. Tiếp đó là cuối tháng 7, Thủ tướng Trần Trọng Kim ra Bắc Bộ để thị sát thực địa và điều đình với Nhật cũng đã được ông Phan Kế Toại bố trí tiếp xúc với đại diện Việt Minh ở Hà Nội.

Trước tình hình chuyển biến mau lẹ, ngày 18-8 Khâm sai Phan Kế Toại lại gặp các ông Nguyễn Khang, Lê Trọng Nghĩa, Trần Đình Long tại Phủ khâm sai, chính thức mời Việt Minh cộng tác với Chính phủ Trần Trọng Kim và sẵn sàng chờ Mặt trận cử người tham gia Chính phủ. Cùng ngày, Bộ trưởng Hoàng Xuân Hãn cũng xin gặp Việt Minh, mời Việt Minh tham gia Chính phủ mở rộng và đề nghị trong tình hình quân Đồng minh đang trên đường vào Việt Nam mong cuộc thương lượng tiếp tục, Việt Minh nên nắm vùng nông thôn, Chính phủ lâm thời quản lý các thành phố để có danh nghĩa nói chuyện với Đồng minh.

Tất cả các cuộc thương lượng đều không có kết quả. Ông Trần Trọng Kim giao tôi làm thuyết khách cuối cùng với hy vọng: Với “tài hùng biện của Phan Anh” may ra còn cứu vãn được tình thế.

Nể lời Thủ tướng Trần Trọng Kim, tôi nhận lời và chuẩn bị kỹ cho cuộc gặp.

Tôi còn nhớ, ngày 25-8 Chủ tịch Hồ Chí Minh từ Tân Trào về Hà Nội. Ngày 26, Người chủ trì Hội nghị Ban Thường vụ Trung ương Đảng. Ngày 28, báo chí Hà Nội công bố danh sách 15 thành viên của Chính phủ cách mạng do Bác làm Chủ tịch. Cũng ngày đó, tôi đến gặp lại giáo sư Hoàng Minh Giám – một trí thức tiêu biểu của nước ta, thầy Hiệu trưởng trường Thăng Long xưa mà tôi đã một thời dạy học ở đó. Ông lúc này là Đổng lý Văn phòng Bộ Nội vụ và được Giáo sư cho biết Cụ sẽ tiếp tôi vào 9 giờ sáng hôm sau. Hay tin tôi ra “đấu tranh” với Chủ tịch Hồ Chí Minh, chú Phan Mỹ – em tôi, một cán bộ cách mạng, vội gặp tôi can ngăn:

– Từ trước đến nay, tôi vẫn phục Anh, coi Anh là thần tượng. Nhưng với việc anh định “đấu tranh” với Cụ thì Anh mê muội quá chừng. Anh muốn “đội đá, vá trời” chăng? – Tôi chỉ mỉm cười, chẳng phản đối, cũng chẳng thanh minh.

Đúng giờ, tôi đến địa điểm hẹn. Tôi quá bất ngờ và đi từ ngạc nhiên này đến ngạc nhiên khác. Đón tôi là một ông Tiên thực thụ. Cụ vận bộ kaki bạc màu, đi đôi bata của đồng bào dân tộc Tày. Cụ không chờ tôi lên mà dáng nhanh nhẹn, Cụ vội bước xuống ngang chỗ tôi đứng bắt tay:

– Tôi đã chờ chú từ lâu. Người nói – Trước khi ra Bắc, chú đã về quê choa chưa?

Tôi bối rối và thực sự xúc động. Những điều lâu nay tôi chuẩn bị công phu nay tan biến cả trước một con người cao sang nhưng không xa cách, một vĩ nhân xa quê hương, đất nước hơn một phần ba thế kỷ nhưng vẫn không quên thổ ngữ thân thương. Tôi ấp úng trả lời:

– Thưa Cụ, con chưa kịp về quê nhà.

Cụ ôm eo tôi cùng bước lên, đưa tôi vào phòng khách. Đồng chí Đàm Quang Trung (1) lúc đó là Đội trưởng đội bảo vệ Bác vào định rót nước mời khách.

Cụ ngăn:

– Chú Phan Anh là khách của Bác, để Bác tiếp. Chú cứ lo việc của chú. Chính tay Bác rót nước mời tôi, thân mật như cha con lâu ngày gặp lại.

Vừa uống nước, Cụ vừa giải thích cho tôi hiểu tình hình thời cuộc và đời sống cùng cực của dân ta hiện nay. Cụ nói ý:

– Dân ta bao năm một cổ đôi tròng, sống dưới chế độ áp bức của thực dân, phong kiến và phát xít Nhật. Nay ta đã giành được độc lập, phải mau chóng tái thiết quốc gia để dân có cơm ăn, áo mặc, được học hành. Chú là người tài cao, học rộng, tôi đề nghị chú ra gánh vác việc nước và trực tiếp làm Chủ tịch Ủy ban Kiến thiết quốc gia.

Tôi ngỡ ngàng trước một sự việc mà mình chưa bao giờ nghĩ tới, liền thưa:

– Thưa Cụ, con chỉ được đào tạo về luật chứ chưa được đào tạo về kiến thiết xây dựng.

– Thế tôi có được ai đào tạo để làm Chủ tịch nước đâu? Dân giao thì mình phải làm, phải vừa làm, vừa học và làm cho tốt, cho thật tốt.

Bác Hồ của chúng ta là như vậy đó. Ngày 29-8-1945 là ngày mà Bác Hồ đổi đời cho tôi, cho gia đình tôi.

45 năm đã trôi qua, tôi lớn lên theo cách mạng, lớn lên theo sự dìu dắt, bảo ban của Người, của Bác Hồ kính yêu của chúng ta.

Con đường mà Luật sư đi theo cách mạng là như vậy. Luật sư Phan Anh là Chủ tịch đầu tiên của Ủy ban Kiến thiết quốc gia của nước ta.

Ngày 2-3-1946 Chính phủ liên hiệp quốc gia được thành lập do Chủ tịch Hồ Chí Minh đứng đầu, ông được mời giữ chức Bộ trưởng Quốc phòng. Tháng 7-1946 ông được Chính phủ giao trọng trách Tổng Thư ký Phái đoàn Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đi dự Hội nghị Fontainbleau đàm phán với Chính phủ Pháp.

Trong những năm kháng chiến chống Pháp, ông từng đảm nhiệm các chức vụ: Bộ trưởng Bộ Kinh tế (1948), Bộ trưởng Bộ Công thương (1954). Tháng 7-1954, ông là phái viên Phái đoàn Việt Nam đàm phán tại Hội nghị Giơnevơ.

Sau Hiệp định Giơnevơ, Đảng, Nhà nước và Chủ tịch Hồ Chí Minh giao ông đảm nhận nhiều trọng trách: Bộ trưởng Bộ Kinh tế, Bộ trưởng Bộ Thương nghiệp rồi Bộ trưởng Bộ Ngoại thương.

Luật sư Phan Anh là đại biểu Quốc hội từ khóa II đến khóa VIII, là Phó Chủ tịch Quốc hội khóa VII. Ông cùng luật sư Nguyễn Mạnh Tường sáng lập Hội Luật gia Việt Nam và trở thành vị Chủ tịch đầu tiên của Hội và là Ủy viên Thường vụ của Hội Luật gia dân chủ thế giới.

Đối với sự nghiệp đại đoàn kết dân tộc và hoạt động của Mặt trận Dân tộc thống nhất, luật sư Phan Anh là thành viên của Ban Vận động thành lập Hội Liên hiệp quốc dân Việt Nam. Ngày 29-5-1946 khi Hội chính thức được thành lập, ông được cử làm Ủy viên Thường vụ.

Ngày 10-9-1955 MTTQ Việt Nam ra đời, ông tiếp tục được cử làm Ủy viên Đoàn Chủ tịch UBTƯ MTTQ Việt Nam cho đến khi Đại hội thống nhất các tổ chức Mặt trận trong phạm vi cả nước vào tháng 2-1977.

Tại Đại hội I và Đại hội II MTTQ Việt Nam, luật sư Phan Anh được cử làm Ủy viên Đoàn Chủ tịch. Và tại Đại hội III ông được cử làm Phó Chủ tịch thứ nhất Đoàn Chủ tịch UBTƯ MTTQ Việt Nam.

Luật sư Phan Anh là một trí thức tiêu biểu, tài năng và đức độ, một nhà hùng biện nổi tiếng, một trong những nhân vật đã từng được cộng tác mật thiết bên cạnh Bác Hồ trong nhiều năm và đã có những cống hiến to lớn vào việc xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân và Mặt trận Dân tộc thống nhất.

 Nguyễn Túc
(Ủy viên Đoàn Chủ tịch UBTƯ MTTQ Việt Nam)
daidoanket.vn

(1) Sau này là Thượng tướng, Phó Chủ tịch Hội đồng Nhà nước

Lễ báo công dâng Bác của Hội Chữ thập đỏ tỉnh Vĩnh Phúc

Nhân kỷ niệm 66 năm Ngày thành lập Hội Chữ thập đỏ Việt Nam (23/11/1946 – 23/11/2012), ngày 02 tháng 12 năm 2012, Đoàn đại biểu Hội Chữ thập đỏ tỉnh Vĩnh Phúc gồm cán bộ, hội viên, tình nguyện viên tiêu biểu cho trên 1000 tình nguyện viên Chữ thập đỏ của tỉnh đã hội tụ về Quảng trường Ba Đình lịch sử, trước Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại long trọng tổ chức lễ báo công dâng lên Bác những kết quả đã đạt được trong suốt chặng đường phát triển vừa qua.

Hoi chu thap do vinh phucĐoàn đại biểu vào Lăng viếng Chủ tịch Hồ Chí Minh

Khắc sâu lời dạy của Người: “Phải xuất phát từ tình thương yêu nhân dân tha thiết, mà góp phần bảo vệ sức khỏe của nhân dân và làm việc có thể làm được để giảm bớt đau thương cho họ”, các thế hệ cán bộ, hội viên, thanh thiếu niên và tình nguyện viên Hội Chữ thập đỏ tỉnh Vĩnh Phúc luôn khắc phục khó khăn, học tập nâng cao trình độ, tâm huyết, trách nhiệm với xã hội để chia sẻ, giúp đỡ cho những đối tượng có hoàn cảnh khó khăn trong cộng đồng, giá trị trợ giúp nhân đạo, số lượng người được trợ giúp ngày càng nhiều hơn.

Hiện nay, Hội Chữ thập đỏ tỉnh Vĩnh Phúc có trên 1000 tình nguyện viên là những người hoạt động bằng sự nhiệt tình và tinh thần tự nguyện để cống hiến khả năng, kiến thức và sự hiểu biết của mình tham gia vào các hoạt động nhân đạo. Họ xuất thân từ mọi tầng lớp xã hội, làm mọi ngành nghề khác nhau như: Các bác là lão thành cách mạng, sỹ quan quân đội, các thầy cô giáo đã nghỉ hưu, cán bộ, công chức, các y bác sỹ, doanh nhân, học sinh, sinh viên… Người lớn tuổi nhất là 84 và người nhỏ tuổi nhất là 18… Họ tâm huyết với việc làm từ thiện, mang lại lợi ích cho những người dễ bị tổn thương trong cộng đồng.

Hội Chữ thập đỏ tỉnh Vĩnh Phúc có hơn 30 đội, nhóm tình nguyện viên, hoạt động trên 7 lĩnh vực hoạt động của Hội như: Cứu trợ khẩn cấp và trợ giúp nhân đạo (có Đội tình nguyện viên vận động quỹ bằng nhiều hình thức như: Đặt thùng gạo tình thương, biểu diễn văn nghệ gây quỹ, nồi cháo tình thương, hỗ trợ học bổng, đi tìm địa chỉ nhân đạo…); chăm sóc sức khỏe nhân dân dựa vào cộng đồng (có Đội y bác sỹ tình nguyện chăm sóc sức khỏe tại nhà, có Đội y bác sỹ Phục hồi chức năng…); sơ cấp cứu ban đầu (có Đội tình nguyện viên xe ôm, sơ cấp cứu tai nạn giao thông; Đội tình nguyện viên sơ cấp cứu đuối nước, Đội bác sỹ tình nguyện là giảng viên sơ cấp cứu công nghiệp, mầm non, tiểu học…); hiến máu tình nguyện (có Câu lạc bộ thanh niên Chữ thập đỏ tuyên truyền hiến máu nhân đạo, có ngân hàng máu điện tử với hàng trăm tình nguyện viên tham gia…); tuyên truyền các giá trị nhân đạo, phòng ngừa và ứng phó thảm họa…

Tuy phải đối mặt với những thách thức lớn như: Biến đổi khí hậu; tình trạng đô thị hóa; khủng hoảng kinh tế; phân hóa giàu nghèo… nhưng đội ngũ tình nguyện viên của Hội đã khẳng định được những đóng góp quan trọng của mình đối với cộng đồng và xã hội. Mỗi hoạt động của Hội, mỗi hành động của cán bộ, hội viên, thanh thiếu niên, tình nguyện viên đã và đang góp phần thực hiện tốt hơn chính sách xóa đói, giảm nghèo của Đảng và Nhà nước ta.

Thay mặt cán bộ, hội viên, tình nguyện viên Hội Chữ thập đỏ tỉnh Vĩnh Phúc, đồng chí Hà Đình Kính – Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Hội Chữ thập đỏ Việt Nam, Chủ tịch Hội Chữ thập đỏ tỉnh Vĩnh Phúc xin hứa với Bác sẽ hành động: “Làm nhiều hơn – Làm tốt hơn – Vươn xa hơn”. Kết thúc buổi lễ, Đoàn đại biểu đã kính cẩn đặt vòng hoa và vào Lăng viếng Chủ tịch Hồ Chí Minh./.

Trần Tiên Long

bqllang.gov.vn

Noi gương nhà giáo Nguyễn Tất Thành – Hồ Chí Minh

Bác Hồ luôn đặc biệt quan tâm đến sự nghiệp trồng người - Ảnh tư liệu

Bác Hồ luôn đặc biệt quan tâm đến sự nghiệp trồng người – Ảnh tư liệu

Nhà giáo Nguyễn Tất Thành – Hồ Chí Minh tấm gương sáng ngời về đạo đức, tinh thần tự học và sự sáng tạo để mọi người học tập và noi theo.

Sinh thời, Bác Hồ thường căn dặn các thầy giáo, cô giáo phải có ý thức tổ chức kỷ luật, ý thức và trách nhiệm phục vụ nhân dân trong các hoạt động giáo dục, đấu tranh chống chủ nghĩa cá nhân, tệ quan liêu, tham nhũng, lãng phí và các tiêu cực trong giáo dục.

Trong cuộc đời của mình, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã có những thời điểm trực tiếp là nhà giáo. Từ tháng 9 năm 1910 đến trước tháng 2  năm 1911, người thanh niên Nguyễn Tất Thành dạy học ở Trường Dục Thanh, Phan Thiết. Sau khi đến với chủ nghĩa Mác – Lênin, trong những năm 1925-1927, Nguyễn Ái Quốc về Quảng Châu (Trung Quốc), trực tiếp mở các lớp huấn luyện chính trị cho thanh niên, thiếu niên Việt Nam yêu nước; trực tiếp lãnh đạo và là giảng viên chính của các khóa học.

Thông qua các bài giảng và thảo luận ở tổ, nhà giáo Nguyễn Ái Quốc phân tích, so sánh làm cho học viên nhận thức sâu sắc tính chất triệt để, đến nơi đến chốn của cuộc Cách mạng Tháng Mười Nga so với các cuộc cách mạng tư sản Anh, Pháp, Mỹ, từ đó lựa chọn con đường của cách mạng Việt Nam: Ðộc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội.

Năm 1941, sau 30 năm bôn ba ở nước ngoài, Nguyễn Ái Quốc về nước trực tiếp lãnh đạo phong trào cách mạng Việt Nam. Người luôn chăm lo việc đào tạo và bồi dưỡng đội ngũ cán bộ cho cách mạng; tổ chức và chỉ đạo từng bước xây dựng nền giáo dục cách mạng, nhằm thực hiện công cuộc nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực và bồi dưỡng nhân tài cho đất nước, giáo dục và đào tạo thế hệ trẻ.

Quá trình từ nhà giáo yêu nước Nguyễn Tất Thành, đến nhà giáo Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh, khi đã là người cộng sản, cũng chính là quá trình nhà giáo Nguyễn Tất Thành – Hồ Chí Minh phấn đấu không mệt mỏi để tự học, khổ luyện trong mọi khó khăn, gian khổ để rèn luyện đạo đức, ý chí cách mạng và qua đó sự sáng tạo của Người bộc lộ sáng ngời trên mọi lĩnh vực công tác.

Nhà giáo Nguyễn Tất Thành – Hồ Chí Minh tấm gương sáng ngời về đạo đức, tinh thần tự học và sự sáng tạo để mọi người học tập và noi theo.

Ðạo đức là một trong những vấn đề quan tâm hàng đầu và xuyên suốt của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong sự nghiệp cách mạng. Ðặt đạo đức ở vị trí là gốc, là nguồn, là nền tảng của người cách mạng, Chủ tịch Hồ Chí Minh thường xuyên tự tu dưỡng đạo đức về mọi mặt để làm gương giáo dục, rèn luyện đạo đức cho cán bộ, đảng viên, công nhân, nông dân, trí thức, bộ đội, công an, thanh niên, thiếu nhi, giáo viên, học sinh và sinh viên, v.v.

Nêu gương đạo đức, nói đi đôi với làm là nét đẹp trong văn hóa phương Ðông và văn hóa Việt Nam được Chủ tịch Hồ Chí Minh tiếp thu, vận dụng và trở thành nguyên tắc chỉ đạo xây dựng đời sống mới và rèn luyện hằng ngày của Người. Lời nói phải đi đôi với việc làm, thì mới đem lại hiệu quả thiết thực cho chính bản thân mình và có tác dụng đối với người khác. Do đó, Bác Hồ căn dặn: “… một tấm gương sống còn có giá trị hơn một trăm bài diễn văn tuyên truyền” .

Sinh thời, Bác Hồ thường căn dặn các thầy giáo, cô giáo phải có ý thức tổ chức kỷ luật, ý thức và trách nhiệm phục vụ nhân dân trong các hoạt động giáo dục, đấu tranh chống chủ nghĩa cá nhân, tệ quan liêu, tham nhũng, lãng phí và các tiêu cực trong giáo dục; yêu nghề, yêu ngành, yên tâm công tác, mô phạm trong quan hệ với nhân dân, đồng nghiệp và người học, thương yêu học sinh và sinh viên; đoàn kết, giúp đỡ đồng nghiệp cùng hoàn thành tốt nhiệm vụ, thật thà phê bình, đấu tranh, ngăn chặn nhà giáo vi phạm pháp luật và quy định nghề nghiệp. Thầy giáo, cô giáo phải có chí khí cao thượng, phải “tiên ưu hậu lạc”, nghĩa là khó khăn thì phải chịu trước thiên hạ, sung sướng thì hưởng sau thiên hạ.

Nhà giáo Nguyễn Tất Thành – Hồ Chí Minh còn nêu tấm gương sáng ngời về tu dưỡng đạo đức suốt đời. Hằng ngày, Người chăm lo tu dưỡng bản thân, ung dung tự tại, lạc quan, yêu đời, không chủ quan, tự mãn, thắng không kiêu, bại không nản. Ðồng thời, Người còn đề xuất  nhiều phong trào quần chúng rộng rãi để rèn luyện đạo đức cho đội ngũ cán bộ, bộ đội, công nhân, nông dân, thanh – thiếu nhi. Trong ngành giáo dục, Bác Hồ đã khởi xướng phong trào thi đua “Dạy tốt, học tốt” từ năm 1961 và trở thành truyền thống của nhà giáo, học sinh và sinh viên từ đó đến nay.

Tự học là quá trình tự thân vận động của mỗi người để tích lũy những tri thức, kỹ năng, kinh nghiệm lịch sử – xã hội mà nhân loại tích lũy được trong quá trình phát triển, biến nó thành kinh nghiệm và kỹ năng riêng cho cá nhân mỗi người. Ngoài những tri thức ban đầu học được ở các thầy giáo khi còn nhỏ ở quê và khi còn trên ghế nhà trường ở Huế, thì suốt cuộc đời của Chủ tịch Hồ Chí Minh, các tri thức, kiến thức có được chủ yếu là do tự học và bản thân không ngừng tự học.

Mục tiêu và động cơ học tập được Bác Hồ xác định rõ: Học để biết, học để làm việc, học để làm người, học để chung sống, học để phục vụ Tổ quốc và nhân dân, học để thực hiện nhiệm vụ cách mạng do Ðảng và nhân dân giao phó, học để phục vụ nhân loại. Do đó, Bác Hồ rất chủ động và tự giác trong học tập.

Nguyễn Ái Quốc tự học ở sách báo, học ở bạn bè và những người cùng hoạt động, học ở trên tàu, học ở thực tiễn cách mạng của nhân dân lao động trên thế giới, học mọi nơi và mọi lúc, v.v. Người đã khắc phục mọi khó khăn, tự lao động nuôi sống bản thân, hoạt động cách mạng và học tập, tìm lấy phương pháp tự học, tự nghiên cứu để học ngoại ngữ, văn hóa, chính trị, quân sự và các lĩnh vực mà Người quan tâm.

Ngày nay, sự tự học của nhà giáo vừa là quá trình để tự hoàn thiện mình vừa là tấm gương cho học trò. Học tập để nâng cao phẩm chất đạo đức, trình độ chính trị, chuyên môn, ngoại  ngữ và nghiệp vụ để phục vụ công tác và hoạt động giáo dục. Rèn luyện và sáng tạo nên phương pháp tự học, năng lực tự học, tự nghiên cứu để chiếm lĩnh tri thức khoa học, công nghệ và nghệ thuật sư phạm.

Sáng tạo là đổi mới, là tạo nên những sự vật mới, giá trị mới tốt đẹp hơn. Cách mạng là sáng tạo và sáng tạo là bản chất của cách mạng. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nêu cho chúng ta tấm gương sáng ngời về sự sáng tạo. Sáng tạo về phương pháp tự học, sáng tạo về phương pháp lãnh đạo và chỉ đạo cách mạng, sáng tạo trong các hoạt động thực tiễn hằng ngày.

Nhờ đó, Người đã kế thừa và phát triển được những giá trị truyền thống tốt đẹp của dân tộc, tiếp thụ được tinh hoa văn hóa của nhân loại; tiếp nhận, vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác – Lênin vào điều kiện cụ thể của nước ta, dẫn dắt cách mạng nước ta đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác.

Ngày nay, sáng tạo của nhà giáo là sự đổi mới, là tạo ra cái mới trong hoạt động giáo dục và quản lý giáo dục, góp phần  nâng cao chất lượng giáo dục. Các nhà giáo chân chính đều sáng tạo không ngừng trong các hoạt động của mình. Sáng tạo trong vận dụng tri thức và công nghệ mới vào quá trình giảng dạy, nghiên cứu khoa học và chuyển giao công nghệ. Chế tạo đồ dùng dạy học mới, hoặc cải tiến đồ dùng dạy học đã có phù hợp với điều kiện cụ thể của bài dạy, lớp học và người học.

Ðổi mới phương pháp giảng dạy, áp dụng công nghệ thông tin vào bài giảng. Kịp thời phát hiện và xử lý tốt các tình huống sư phạm. Biết phát hiện và bồi dưỡng những người học có năng khiếu, học giỏi, đồng thời biết bồi dưỡng và phụ đạo những người học yếu kém. Ðổi mới, cải tiến phương pháp quản lý nhà trường, quản lý học sinh, sinh viên và người học, nâng cao chất lượng và hiệu quả giáo dục – đào tạo.

Mỗi nhà giáo thường xuyên rèn luyện đạo đức, năng lực tự học và sáng tạo theo gương nhà giáo Nguyễn Tất Thành – Hồ Chí Minh sẽ là bước đột phá, góp phần xây dựng đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục trong sạch và vững mạnh, tạo động lực thúc đẩy đổi mới mạnh mẽ sự nghiệp giáo dục – đào tạo, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước trong giai đoạn mới.

TS. Phạm Văn Thanh
Theo pup.edu.vn
Phương Thúy
(st)

bqllang.gov.vn

Chuyện đặt tượng Bác ở thành Len

Làm rể Việt Nam, GSTS Vladimir Kolotov là người làm rất nhiều việc có ích cho quê vợ. Anh là một trong những người chủ chốt trong việc lập Viện Hồ Chí Minh đầu tiên ngoài lãnh thổ Việt Nam và đặt tượng Bác Hồ ở Đại học Quốc gia Saint Petersburg, Liên bang Nga.

len 1Khai trương tượng Bác Hồ trong khuôn viên Viện Hồ Chí Minh ở St. Petersburg.

Tôi gặp Vladimir Kolotov lần đầu ở Trung ương Hội Hữu nghị Việt – Nga cuối năm 2009. Khi ấy nhà khoa học người Nga trẻ trung, phong độ ấy để lại cho tôi ấn tượng là một người dễ xúc động: Tôi thấy anh rơi nước mắt khi nghe nhắc đến việc Việt Nam vừa khánh thành tượng đài tưởng niệm quân nhân Nga/Xô Viết hi sinh khi làm nhiệm vụ ở căn cứ hải quân Cam Ranh.

Bẵng đi gần hai năm, hôm bật ti vi xem lại cầu truyền hình trực tiếp Hà Nội – Mátxcơva “Bài ca chiến thắng” đầu tháng 11 năm 2011, tôi thấy Vladimir cầm mic dẫn chương trình ở đầu cầu Mátxcơva bằng tiếng Việt. Hôm gặp lại cũng ở Hội Việt-Nga cuối tháng 11 năm 2011, tôi hỏi về việc làm chương trình, anh bảo: “Tôi không dám xem lại nữa. Tiếng Việt của tôi hôm đó khủng khiếp”.

Té ra hôm đó người đảm nhiệm bản dịch tiếng Nga cứ đọc gần như đồng thời với Vladimir, mà anh thì không được trang bị tai nghe cách âm, thành ra mọi thứ cứ loạn cả lên, không giữ được sự điềm tĩnh cần thiết.

Tuy nhiên, việc một ông Tây dẫn cầu truyền hình của Đài quốc gia Việt Nam bằng tiếng Việt là một món quà bất ngờ thú vị với khán giả Việt và khó có ai nỡ trách anh về sự thiếu hoàn hảo. Câu chuyện Vladimir kể như một bằng chứng. Một tiếng đồng hồ sau chương trình, anh bỗng nhận được điện thoại của một nhân vật lớn Đảng cầm quyền Nước Nga Thống nhất: “Này, cậu làm cái gì trên truyền hình mà một lãnh đạo cao cấp của Đảng Cộng sản Việt Nam gọi điện cho tôi cảm ơn thế?”

len 2Vladimir Kolotov

Vladimir Kolotov là giáo sư, tiến sĩ, Chủ nhiệm bộ môn lịch sử các nước Viễn Đông tại khoa Phương Đông, Đại học Tổng hợp Quốc gia Saint Petersburg (Leningrad trước đây), Viện trưởng Viện Hồ Chí Minh của Đại học này, Chủ tịch Hội Hữu nghị Nga – Việt tại cố đô Nga, thành viên Ủy ban  Quốc gia Nga của Hội đồng Hợp tác an ninh Châu Á – Thái Bình Dương (CSCAP).

Tiếng Việt của Vladimir có thể dùng thoải mái ở mọi hoàn cảnh, kể cả các hội thảo khoa học, hội nghị chính thức. Hỏi về bí quyết học, anh cười: “Có người trong khách sạn nhìn cách chọn món và cách ăn của tôi đã đoán: Chắc anh có từ điển tiếng Việt tóc dài?” Đúng rắp! Vợ anh là cô gái Việt anh đã gặp ở Thành phố Hồ Chí Minh trong một chuyến công tác.

Hỏi vì sao chọn chuyên ngành liên quan Việt Nam và Phương Đông, Vladimir chỉ lên trời nói: “Trên đó còn chưa tiết lộ cho tôi lý do. Một tập hợp các hoàn cảnh ngẫu nhiên đã khiến tôi chọn lĩnh vực này, tôi cũng không thật hiểu vì sao. Có lẽ do định mệnh”. Có thể là định mệnh, nhưng một điều chắc chắn là tình cảm của anh với quê vợ tựa trên một cái nền vững chắc tri thức của một nhà Việt Nam học.

Xem danh mục các công trình nghiên cứu đã công bố của anh, thấy đụng chạm nhiều đến các vấn đề chính trị, xung đột và đặc điểm tôn giáo Việt Nam. Đặc biệt, anh phân tích rất kỹ việc các thế lực từ bên ngoài sử dụng các yếu tố tôn giáo trong mô hình “quản lý xung đột” để can thiệp vào công việc nội bộ của Việt Nam trong quá khứ và hiện tại.

Cuối thế kỷ 16 – đầu thế kỷ 17, các thế lực thực dân Phương Tây đã lợi dụng các giáo sĩ để thâm nhập vào Việt Nam. Trong thuyết quản lý xung đột có 3 giai đoạn: Một là cải đạo dân bản địa và xây dựng cộng đồng tôn giáo tại chỗ; hai là, gây mâu thuẫn giữa giáo dân và bên lương; ba là thực hiện sách lược gây mất ổn định cục bộ có tính quản lý và tiến tới xâm lược đối tượng.

Lịch sử cuộc xâm lược Việt Nam của thực dân Pháp đã diễn ra theo kịch bản như vậy. Vladimir chỉ rõ: Chiến thuật đó, cơ chế đó, “mô hình quản lý xung đột” đó cũng đang được các thế lực thù địch với Việt Nam áp dụng ngày hôm nay với việc truyền đạo trái phép ở các vùng Tây Nguyên, Tây Bắc…

Vladimir cũng nghiên cứu sâu về các chuyển động chính trị của vùng Đông Nam Á. Phân tích chiến lược của các cường quốc đối với khu vực cực kỳ quan trọng đối với thế giới hiện đại này, anh đánh giá cao vai trò, vị trí của Việt Nam. Trong bài “Yếu tố Việt Nam trong hệ thống an ninh khu vực” mà anh viết riêng cho Đài BBC tháng 12 năm 2008, anh nhận định các cường quốc “đều hiểu là họ không thực hiện được chính sách của mình nếu họ coi thường yếu tố Việt Nam. Điều đó khiến chúng ta phải coi yếu tố Việt Nam là hết sức quan trọng trong hệ thống an ninh khu vực đang trong giai đoạn biến đổi”.

Trong các phát biểu khác trên Thanh niên và BBC, anh nhận xét ý đồ chiến lược của Trung Quốc là “rất rõ ràng đó là kiểm soát tài nguyên ở Biển Đông và kiểm soát tuyến đường giao thông hàng hải quan trọng bậc nhất của thế giới này”, là “độc chiếm Biển Đông”. Anh khẳng định: “Theo luật pháp quốc tế, Trung Quốc hoàn toàn không có quyền kiểm soát đối với hai quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa…”.

Vladimir là một trong những người chủ chốt tham gia thành lập Viện Hồ Chí Minh ở Khoa Phương Đông thuộc Đại học Quốc gia Saint Petersburg, đặt tượng Bác Hồ trong khuôn viên Viện, tổ chức nhiều hoạt động phong phú của Hội hữu nghị Nga – Việt thành Petersburg mà anh là Chủ tịch…

Viện Hồ Chí Minh được khai trương ngày 19-5-2010, đúng vào dịp kỷ niệm 120 năm Ngày sinh của Bác. Ngoài các vấn đề liên quan đến Việt Nam, Viện Hồ Chí Minh nghiên cứu các vấn đề quốc tế rộng. Chẳng hạn vừa qua, Viện tổ chức 3 semina khoa học về hiện tượng “Mùa xuân Arập”, phân tích rõ các thủ đoạn, thủ thuật kích động, gây xung đột để can thiệp của một số thế lực. Như việc một clip “biểu tình giải phóng” (cảnh bạo loạn) ở thủ đô Tripoli của Lybia lại được dàn dựng và quay ở Qatar, tại địa điểm có bối cảnh na ná Tripoli…

len 3V. Kolotov thuyết trình về việc dùng mô hình
“Quản lý xung đột” để can thiệp vào Việt Nam .

Vladimir kể rằng ý tưởng thành lập Viện Hồ Chí Minh và đặt tượng Bác Hồ trong khuôn viên Viện trở thành hiện thực là nhờ công lao và sự phối hợp ăn ý của rất nhiều người, trong đó vai trò cực kỳ quan trọng thuộc về GS.TS E.I. Zelenev – Trưởng khoa Phương Đông, GS.TS N.M.Kropachev – Hiệu trưởng trường ĐHQG St. Petersburg, hai Hiệu phó; hai vị Đại sứ Việt Nam tại Liên bang Nga là các ông Bùi Đình Dĩnh và Phạm Xuân Sơn.

Khoa Phương Đông báo cáo ý tưởng thành lập Viện lên Hiệu trưởng và nhận được sự ủng hộ nhiệt tình. Đại sứ Bùi Đình Dĩnh là người thảo văn bản đầu tiên báo việc này với nguyên thủ Việt Nam lúc đó là Chủ tịch nước Nguyễn Minh Triết. Tháng 4 năm 2010, Đoàn đại biểu ĐHQG St. Petersburg đã sang làm việc với Học viện Chính trị – Hành chính Quốc gia Hồ Chí Minh về vấn đề này.

Sau khi được sự chuẩn y của Chủ tịch nước Việt Nam, một đoàn đại biểu lãnh đạo Việt Nam do ông Tô Huy Rứa dẫn đầu đã sang ký hiệp định hợp tác và khai trương Viện Hồ Chí Minh đầu tiên ở nước ngoài tại St. Petersburg vào ngày 19-5-2010. Đại sứ quán Việt Nam tại Liên bang Nga đã tặng Viện bức tượng Bác Hồ bằng đồng.

Trường và Viện quyết định đặt tượng Bác trong khuôn viên Viện. Cán bộ của sứ quán Việt Nam ở Nga đã chọn ngày giờ rất cẩn thận, lại đặt la bàn tỉ mỉ để tượng Bác quay hướng nhìn đúng về Tổ quốc Việt Nam. Khuôn viên ngoài tượng Bác còn có tượng Khổng Tử và được hưởng quy chế của bảo tàng ngoài trời.

Lê Xuân Sơn
Theo tienphong.vn
Phương Thúy
(st)

bqllang.gov.vn

Bác Hồ với ngành giáo dục

Bác rất quan tâm đến con trẻ – Vũ Kỳ kể

Untitled

Bác Hồ yêu các cháu, hiểu các cháu, tin tưởng các cháu. Vì đó là tương lai của dân tộc. Đó là những mầm, những búp trên cành…

Tình yêu đó thấm đậm chất người.

Một sự tình cờ đầy ý nghĩa – sau Ngày sinh của Bác Hồ là sắp đến Tết Thiếu nhi Quốc tế 1-6.

07 giờ ngày 27.

Bác gọi chị Thu Trà đến hỏi về tình hình có một số cháu học sinh miền Nam nghịch ngợm, quấy phá mà Bác được nghe báo cáo. Việc đó là có thật.

Nhưng Bác hỏi về khía cạnh khác: Các cô, các chú dạy dỗ thế nào? Bởi lúc ba má các cháu gửi ra ngoài Bắc thì các cháu đều ngoan và ba má các cháu đều tin tưởng ở hậu phương.

Bác nhắc phải chú ý đến việc các cháu thiếu tình cảm gia đình, phải tìm cách bù đắp.

Rồi Bác kết luận: Lỗi các cháu một phần thì lỗi của người lớn chúng ta mười phần.

Quả nhiên, sau này đưa các cháu đến với sự chăm sóc của các gia đình cán bộ khác thì các cháu đỡ hẳn chuyện gây gổ, nghịch ngợm. Phần Bác cũng nhận chăm sóc một cháu trai, hai cháu gái, con đồng chí Nguyễn Hữu Thọ

Chủ tịch Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam.

Bác luôn luôn coi trẻ em cũng là một nhân cách, một thực thể đáng tôn trọng, chứ không chỉ đáng yêu mến.

Nhớ hồi năm 1957, một hôm Bác hỏi tôi chuyện riêng tư:

– Chú Kỳ này! Có bao giờ chú đánh con không?

Tôi ấp úng vì quả là lúc giận quá tôi cũng có đánh các cháu.

Không dám giấu Bác, tôi thú thật:

– Thưa Bác! Khi nóng giận cũng có lúc tôi đánh dọa vài roi ạ.

Bác vẫn không cao giọng, nhưng nghe thấy nghiêm khắc hơn:

– Thế là dã man đấy, chú ạ.

Tôi suy ngẫm thấy rất đúng.

Bác nhìn nhận khuyết điểm, nhược điểm của con người một cách bình tĩnh như hiểu cái lẽ tự nhiên “bàn tay có ngón dài ngón ngắn vậy”. Tấm lòng Bác mở rộng, bao dung cho tất cả…

Bác không nói trẻ em hư, không nói con người hỏng, mà nhận xét có một số chậm tiến, có một số cụ thể có lúc nào đó, ở chỗ nào đó chưa tốt, chưa hay lắm. Cái chưa hay, chưa tốt ấy cần được uốn nắn một cách chân tình và kịp thời.

(Trích theo sách của Hoàng Giai: Ai yêu các nhi đồng bằng Bác Hồ Chí Minh, Nxb.Thanh niên, H.1999, tr.134-136)

Bác nhớ các cháu – Đoàn Văn Luyện kể

Bh GD 1

Tháng chạp năm 1968, các dũng sĩ thiếu niên miền Nam đang học ở Tả ngạn thì có mấy chú đưa xe ô tô đến đón về Hà Nội. Luyện, Thu, Nết, Phổ, Mên, Hoà,… chưa hiểu có chuyện gì. Về thủ đô hôm trước thì năm giờ chiều ngày hôm sau có xe đến đón đi.

Vào đến sân Phủ Chủ tịch mới biết là được vào gặp Bác Hồ.

Vừa bước chân xuống xe, đã nom thấy Bác Hồ và Bác Tôn ngồi ở một cái ghế gỗ dài kê trước cửa nhà, tất cả chạy ào tới chào Bác.

Bác cháu trò chuyện với nhau. Sau đó hai Bác bảo:

– Thôi, các cháu vào ăn cơm với hai Bác!

Bữa cơm không có thịt cá gì nhiều nhưng rất ấm cúng. Các dũng sĩ thiếu niên được ngồi ăn cùng với Bác Hồ và Bác Tôn. Nết, người nhỏ quá, cái đầu chỉ lấp ló cạnh bàn, được Bác gắp thức ăn cho luôn.

Vừa ăn, bác cháu vừa nói chuyện rất vui. Ăn xong, hai Bác cho mỗi cháu một bông hồng, một quả táo, một quả lê và ba quyển sách “Người tốt, việc tốt”. Sau đó, Bác Hồ bảo:

– Các cháu lại cả đây hôn hai Bác rồi ra về.

Các dũng sĩ hôn hai Bác xong, Bác Hồ lại dặn:

– Các cháu về trường cố gắng học tập cho giỏi.

Tất cả đều rất cảm động. Đoàn Văn Luyện lên tiếng thưa với Bác:

– Thưa Bác, chúng cháu cứ tưởng hai Bác gọi các cháu về có việc cần.

Bác Hồ cười hiền từ và bảo:

– Hai Bác nhớ các cháu cho nên gọi các cháu về để hai Bác gặp hỏi chuyện.

Nghe Bác nói, Luyện và các bạn cảm động, muốn trào nước mắt. Hai Bác tuổi đã cao, trăm nghìn công việc, vậy mà hai Bác vẫn nhớ đến các cháu miền Nam. Luyện nghĩ: “Mình được ở ngoài Bắc mà hai Bác còn lo và thương như vậy, các bạn còn ở trong Nam, hai Bác còn lo và thương biết chừng nào!…”

(Trích trong sách: Bác Hồ kính yêu, Nxb. Kim Đồng, H.1979, tr 151-152.)

Tâm Trang (st)
bqllang.gov.vn

Bác Hồ với việc tăng gia sản xuất

BH tang gia

Bác rất chú ý tới việc tăng gia sản xuất và bản thân Người cũng tích cực tham gia. Thời kỳ kháng chiến, lúc mới lên rừng khó khăn nhiều, thóc gạo hiếm, nhân dân đói, cán bộ cũng đói, cơ quan di chuyển luôn Bác thường động viên chúng tôi tăng gia sản xuất, Bác nói:

– Các chú làm mà không ăn thì dân ăn, đi đâu mà thiệt.

Bác còn chỉ thị phải học và làm theo những người dân địa phương, Bác nói:

– Các chú phải phát nương, muốn phát được nương thì phải hỏi dân.

Chúng tôi học tập kinh nghiệm phát nương, trồng mướp, khoai lang, đậu, rau và bắp. Kết quả là chẳng thiếu thứ gì. Hàng ngày, đến giờ tăng gia, Bác cũng tham gia.

Bác thích ăn hoa quả và lá bí. Hồi ở thác Khấu Lấu năm 1949-1950, chúng tôi trồng rất nhiều bí đỏ, có lần Bác hỏi:

– Bí của các chú có bao nhiêu quả. Chúng tôi trả lời không biết.

Bác bảo:

– Sáng mai các chú cho chặt một ít que nứa, vót nhọn rồi đếm xem bao nhiêu que, đến chỗ nào thấy quả bí thì cắm một que, sau đó đếm số que còn lại thì ra số bí.

Nghe lời Bác, chúng tôi đếm được ba trăm quả. Khi thu hoạch Bác bảo đem sang biếu Văn phòng Trung ương và các đồng chí công an. Kết quả đã khuyến khích được việc tăng gia sản xuất, phong trào nhân rộng và phát triển mạnh.

Chúng tôi ăn sáng bằng bí đỏ thoải mái. Anh Cả(1) đưa 200 vạn tài chính chỉ để mua gạo, muối và mắm. Anh Dũng và anh Định đi câu cá ở suối. Chúng tôi vào làng mua thóc, xay giã ăn dần, có cám nuôi gà, trứng đủ để Bác ăn thường xuyên không phải mua. Vậy là sinh hoạt cũng tạm đủ.

Ở chiến khu, công việc kháng chiến bận rộn. Tuy vậy đôi lúc Bác cũng tìm được cho mình một chút thư giãn, đó là thả mình trong cảnh vật thiên nhiên của núi rừng. Bác nuôi một đôi chim bồ câu trắng, Bác cho chim ăn. Đôi chim quấn quít cạnh Người, có khi đậu lên hai vai. Chúng tôi ngắm Bác, giữa khung cảnh núi rừng Việt Bắc trông Bác như một ông tiên, tạm thời quên hết mọi việc nhọc nhằn, khó khăn của những ngày kháng chiến.

Khi về Hà Nội, phá đất trồng rau, trồng chuối, Bác cũng tham gia, vườn nhài Bác góp nhiều công chăm sóc. Ao cá chúng tôi vét bùn, Bác nhận cho cá ăn. Lúc đầu Bác luyện cho cá ăn bằng mõ, sau vỗ tay. Thế là cứ nghe tiếng vỗ tay là cá bơi đến ăn dầy đặc cả bờ ao, trông thật vui mắt.

Hữu Kháng

(1) Đồng chí Nguyễn Lương Bằng

Theo http://www.mattran.org.vn
Thu Hiền (st)

bqllang.gov.vn

Bác Hồ với ngày hội đoàn kết toàn dân

Việt Nam - Hồ Chí MinhCách đây 80 năm, giữa lúc cao trào cách mạng đầu tiên mà đỉnh cao là Xô viết Nghệ Tĩnh đang diễn ra rầm rộ, ngày 18/11/1930, Ban Thường vụ Trung ương Đảng Cộng sản Đông Dương ra chỉ thị thành lập Hội phản đế đồng minh, đây là hình thức đầu tiên của Mặt trận dân tộc thống nhất Việt Nam. Ngày 19/5/1941, theo sáng kiến của đồng chí Hồ Chí Minh, Việt Nam độc lập đồng minh (Việt Minh) thành lập tại Pắc Pó (Cao Bằng). Tháng 5 năm 1946, cũng theo sáng kiến của Người, Hội Liên hiệp quốc dân Việt Nam (Liên Việt) được thành lập. Đến tháng 3 năm 1951, Đại hội thống nhất Việt Minh – Liên Việt lấy tên là Mặt trận Liên Việt.

Để mở rộng khối đoàn kết dân tộc, Đại hội Mặt trận Liên Việt toàn quốc họp từ ngày 5 tháng 9 đến ngày 10-9-1955 tại Hà Nội quyết định thành lập Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, tiếp tục sự nghiệp đoàn kết toàn dân của Mặt trận Liên Việt. Chủ tịch Hồ Chí Minh được Đại hội bầu làm Chủ tịch danh dự của Mặt trận.

Tháng 12 năm 1960, Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam ra đời với chương trình hành động 10 điểm mà nội dung cơ bản là đánh đổ chế độ thuộc địa trá hình của đế quốc Mỹ và chế độ độc tài Ngô Đình Diệm, xây dựng một miền Nam Việt Nam độc lập, dân chủ, hoà bình, trung lập, tiến tới hoà bình thống nhất Tổ quốc. Sau khi thống nhất nước nhà, tháng 01 năm 1977, Đại hội Mặt trận Dân tộc thống nhất Việt Nam quyết định thống nhất 3 tổ chức Mặt trận ở hai miền lấy tên chung là Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, nhằm đoàn kết rộng rãi các tầng lớp nhân dân để cùng phấn đấu.

Trải qua quá trình lịch sử cách mạng, Mặt trận dân tộc thống nhất (nay là Mặt trận Tổ quốc Việt Nam) ra đời và trưởng thành gắn liền với sáng kiến của Chủ tịch Hồ Chí Minh, đồng thời Người cũng là một tấm gương sáng mẫu mực về đoàn kết dân tộc, xây dựng các phong trào cách mạng, gắn kết tinh thần tập thể trong các lực lượng cách mạng của cả nước. Đồng thời, Người đã trực tiếp xây đắp khối đại đoàn kết dân tộc, tình đoàn kết quốc tế giữa nhân dân ta với nhân dân các nước trên thế giới. Có thể coi đại đoàn kết là một chiến lược lớn của cách mạng, chiến lược về tổ chức nhằm tập hợp lực lượng đến mức đông đảo nhất, rộng rãi nhất mọi tầng lớp nhân dân.

Quán triệt tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng đời sống mới, tháng 5 năm 1995 nhân kỷ niệm 105 năm Ngày sinh của Người, Uỷ ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam đã phát động trong cả nước Cuộc vận động “Toàn dân đoàn kết xây dựng cuộc sống mới ở khu dân cư”nay là Cuộc vận động “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hoá ở khu dân cư”. Đây là Cuộc vận động nhân dân rộng lớn trong cả nước của thời kỳ đổi mới có nội dung toàn diện, diễn ra trong thời gian dài. Hơn 17 năm qua được sự quan tâm lãnh đạo của các cấp uỷ Đảng, sự phối hợp tạo điều kiện của các cấp chính quyền, các tổ chức thành viên Mặt trận, sự hưởng ứng tham gia tích cực của các tầng lớp nhân dân, cùng với các phong trào thi đua yêu nước khác, Cuộc vận động đã đạt được những kết quả tốt đẹp góp phần từng bước nâng cao rõ rệt đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân, giữ vững an ninh trật tự, ngày càng tạo ra các mối quan hệ gắn bó, đoàn kết, đùm bọc lẫn nhau của nhân dân cả nước.

Trong những thực hành lớn của cuộc đời mình, Hồ Chí Minh đặc biệt chú trọng thực hành đoàn kết và đại đoàn kết, từ đoàn kết trong Đảng đến đoàn kết trong dân và đoàn kết quốc tế. Đó là sự gặp gỡ và kết hợp nhuần nhuyễn giữa đường lối chiến lược, phương pháp tổ chức và hoạt động, lãnh đạo và quản lý, với chính sách và biện pháp nhằm gây dựng lực lượng, nuôi dưỡng phong trào thi đua ái quốc, dùng người tài đức, trọng đãi nhân tài, hiền tài để giữ vững nền độc lập tự do, xây dựng đất nước phú cường, đem lại cuộc sống ấm no, hạnh phúc cho đồng bào. Đường lối chiến lược và chính sách đại đoàn kết của Hồ Chí Minh còn đồng thời là văn hóa ứng xử tinh tế của Người mà ngày nay toàn Đảng, toàn dân ta đang ra sức vận dụng, phát huy để vượt qua mọi khó khăn, thách thức hướng tới mục tiêu phát triển bền vững và hiện đại hóa vì dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh.

Bác Hồ với đại biểu công giáoBác Hồ với đại biểu Công giáo

Để đại đoàn kết với mọi người, Chủ tịch Hồ Chí Minh quan tâm đến mọi người và chăm lo lợi ích cho mọi người. Bác Hồ quan tâm đến lợi ích của mọi tầng lớp, từ người cộng sự, người phục vụ gần gũi đến quảng đại quần chúng, từ miền xuôi đến miền ngược, mọi tôn giáo, mọi dân tộc. Người quan tâm đặc biệt đến lợi ích vật chất: Dân đủ ăn, đủ mặc, có nhà ở, được học hành. Ngoài sự chăm lo lợi ích vật chất, Người còn quan tâm đến đời sống văn hóa, đời sống tinh thần của mọi tầng lớp. Với các tăng ni phật tử, đồng bào Công giáo, Người đều gửi gắm những quan điểm tích cực, đậm chất nhân văn và mang đậm tinh thần đoàn kết, bác ái, không phân biệt người có đạo và người không đạo. Chủ tịch Hồ Chí Minh nêu tấm gương đoàn kết rộng rãi bởi một lẽ rất giản đơn: Người muốn huy động tiềm năng của cả dân tộc vào sự nghiệp chung, Người luôn mong muốn thêm bạn bớt thù. Người tin ở tính hướng thiện của mọi người và trong bất cứ con người nào, Người cũng tìm thấy những nhân tố tốt đẹp đó. Tấm gương đại đoàn kết của Chủ tịch Hồ Chí Minh còn thể hiện ở chỗ Người có phương pháp xử lý đúng đắn những bất đồng, những cản trở cho sự đoàn kết. Có thể nói, Chủ tịch Hồ Chí Minh chăm lo xây dựng khối đại đoàn kết song không phải là kiểu đại đoàn kết một chiều. Người luôn luôn khuyên đoàn kết song phải đấu tranh, đấu tranh để đoàn kết.

Chủ tịch Hồ Chí Minh là người luôn quan tâm đến xây dựng tinh thần đoàn kết thống nhất trong Đảng. Theo Người, sự đoàn kết trong Đảng là cơ sở vững chắc để xây dựng sự đoàn kết trong nhân dân. Đảng đoàn kết, dân tộc đoàn kết và sự gắn bó máu thịt giữa Đảng với nhân dân sẽ tạo lên sức mạnh để dân tộc ta vượt qua mọi khó khăn, chiến thắng mọi kẻ thù, đi tới thắng lợi cuối cùng của cách mạng. trong Di chúc để lại, điều đầu tiên Bác nói về Đảng Bác căn dặn: Đoàn kết là một truyền thống cực kỳ quý báu của Đảng và của nhân dân ta. Các đồng chí từ Trung ương đến các chi bộ cần phải “giữ gìn sự đoàn kết của Đảng như giữ gìn con ngươi của mắt mình. Thực hiện Di chúc cảu Chủ tịch Hồ Chí Minh, hơn bốn mươi năm qua, Đảng ta đã rất đề cao tinh thần đoàn kết, nhất trí trong nội bộ Đảng, giữa Đảng với nhân dân. Nhờ vậy, Đảng ta đã phát huy trí tuệ của Đảng trong quá trình lãnh đạo cách mạng; phát huy nội lực, sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân tộc, tập hợp đông đảo quần chúng nhân dân dưới ngon cờ của Đảng.

Trong giai đoạn phát triển xã hội hiện nay đầy những biến động và thách thức lớn lao đặt ra cho toàn Đảng và toàn dân ta nên muốn tồn tại và phát triển đi lên một cách bền vững thì hơn lúc nào hết chúng ta phải quán triệt và thấm nhuần tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh về đại đoàn kết dân tộc là: “Đoàn kết, đoàn kết, đại đoàn kết. Thành công, thành công đại thành công”.

Kỷ niệm 82 năm thành lập Mặt trận Dân tộc thống nhất Việt Nam, Ngày hội Đại đoàn kết toàn dân tộc ở khu dân cư, chúng ta khắc sâu lời dạy của Bác Hồ: “Chính sách Mặt trận là chính sách rất quan trọng. Công tác Mặt trận là công tác rất quan trọng trong toàn bộ công tác cách mạng”, nguyện cùng nhau tiếp tục đẩy mạnh việc học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh, cuộc vận động “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa ở khu dân cư”, thực hiện tốt Nghị quyết Đại hội lần thứ XI của Đảng và Nghị quyết Đại hội Mặt trận Tổ quốc Việt Nam lần thứ VII, thiết thực góp phần thực hiện thắng lợi các nhiệm vụ chính trị, phát triển kinh tế, văn hoá – xã hội, quốc phòng, an ninh ở địa phương.

Kim Yến
bqllang.gov.vn

Hồ Chủ tịch trả lời chất vấn qua lời kể Tướng Giáp

Đại tướng Võ Nguyên Giáp viết về phần trả lời chất vấn của Chủ tịch Hồ Chí Minh tại kỳ họp thứ 2, Quốc hội khóa I cách đây gần 65 năm.

Ho Chu tich tra loi chat van qua loi ke cua Tuong Giao
Bác Hồ và Đại tướng Võ Nguyên Giáp chụp nhân kỷ niệm
Ngày thành lập Quân đội nhân dân Việt Nam năm 1962

… Quốc hội khóa I, kỳ 2 khai mạc trọng thể vào sáng ngày 28 tháng 10 tại Nhà hát Lớn thành phố. Quốc hội nghe báo cáo của Chính phủ về những công việc đã làm từ ngày thành lập, trong đó có cuộc đàm phán của Chính phủ Việt Nam với Chính phủ Pháp tại Fontainebleau và việc ký Tạm ước ngày 14 tháng 9.

Ngày 31 tháng 10, các đại biểu chất vấn Chính phủ. Có 88 câu hỏi nêu lên thuộc các vấn đề quốc phòng, ngoại giao, kinh tế, tài chính, tư pháp, nội vụ. Những câu hỏi được chuyển tới các Bộ hữu quan, Hồ Chủ tịch thay mặt Chính phủ trả lời về chính sách ngoại giao của Chính phủ, việc ký Tạm ước ngày 14 tháng 9, việc Nguyễn Hải Thần, Nguyễn Tường Tam, Vũ Hồng Khanh tự ý bỏ đi.

Người nói: Về chính sách ngoại giao của Chính phủ và việc ký bản Tạm ước ngày 14 tháng 9 trong các báo cáo trước đã nói nhiều. Tóm lại đối với các nước dân chủ, hết sức gây thiện cảm. Các nước ấy tuy chưa công khai thừa nhận ta, nhưng ít nhiều thiện cảm với ta. Còn về ngoại giao với Pháp thì từ khi ký Hiệp định ngày 6 tháng 3, qua các Hội nghị Đà Lạt và Fontainebleau đến Tạm ước ngày 14 tháng 9, Chính phủ quyết tâm giữ vững nền độc lập và thống nhất của Việt Nam, đồng thời hợp tác thật thà và thân thiện với Pháp. Cố nhiên, người Pháp cũng phải cộng tác với ta trên nguyên tắc bình đẳng…

Người nói tiếp: Tạm ước này có ảnh hưởng tới các Hiệp ước ký sau không? Trong xã hội loài người, có cái gì mà không ảnh hướng tới cái khác. Tuy vậy, những sự điều đình sau đây không thể vì bản tạm ước này mà bị ràng bó. Bản Tạm ước này tùy theo sự thi hành thế nào, sẽ tạo điều kiện đẩy cho những cuộc điều đình sau mau chóng đạt kết quả.

Người chuyển qua vấn đề khác: Về ông Phó Chủ tịch Nguyễn Hải Thần, ông Bộ trưởng Ngoại giao Nguyễn Tường Tam, ông Phó Chủ tịch Quân ủy hội Vũ Hồng Khanh, các ông ấy không có mặt ở đây. Lúc Nhà nước đương gặp bước khó khăn, quốc dân tin ở người nào trao người ấy làm công việc lớn mà các ông ấy lại bỏ đi thì các ông ấy phải hỏi lương tâm thế nào? Những người đã bỏ việc đi kia, họ không muốn gánh vác việc nước nhà hoặc họ cũng không đủ năng lực gánh vác, nay chúng ta không có họ ở đây chúng ta cũng cứ gánh vác được như thường. (Tiếng vỗ tay nổi lên). Nhưng nếu các anh em đấy biết nghĩ lại, dối không nổi lương tâm, với đồng bào, với Tổ quốc mà trở về, thì chúng ta vẫn hoan nghênh,

Trước khi bước xuống, Người nói: Nếu trong Chính phủ có các người khác lầm lỡ, thì lỗi ấy tôi xin chịu, xin gánh và xin lỗi với đồng bào.

Buổi chiều và buổi tối, các bộ trả lời những điều đại biểu đã hỏi. Nhưng khi các bộ giải đáp xong, nhiều đại biểu vẫn tiếp tục chất vấn. Chờ mọi người nêu hết những câu hỏi, một lần nữa, Hồ Chủ tịch thay mặt Chính phủ để trả lời. Vẫn bằng những lời lẽ giản dị, ôn tồn, Người nói:

Vấn đề Quốc kỳ, Chính phủ không bao giờ dám đòi thay đổi Quốc kỳ. Có một vài người trong Chính phủ đề nghị việc ấy nên Chính phủ phải đệ qua Thường trực Quốc hội xét. Tình thế từ ngày ấy đến giờ biến chuyển nhiều, lá cờ đỏ Sao vàng đã nhuộm bao nhiêu máu các chiến sỹ Việt Nam ở Nam bộ và Nam Trung bộ, đã đi từ Á sang Âu, lại từ Âu sang Á, tới đâu cũng được chào kính cẩn. Đôi mắt sáng rực, bằng giọng nói nhấn mạnh, Người tiếp: Bây giờ trừ 25 triệu đồng bào ra còn không ai có quyền gì mà đòi thay đổi Quốc kỳ. Cả Hội trường vang lên tiếng vỗ tay, Bác nói tiếp:

Vấn đề liêm khiết của Chính phủ thì Chính phủ hiện thời đang cố gắng liêm khiết lắm. Nhưng trong Chính phủ từ Hồ Chí Minh cho đến những người làm việc ở ủy ban làng đông lắm. Dù sao Chính phủ cũng đã hết sức làm gương. Và nếu làm gương không xong sẽ dùng pháp luật trừng trị những kẻ ăn hối lộ, đã trị, đương trị và sẽ trị cho kỳ hết. (Tiếng vỗ tay hoan nghênh lại nổi lên).

Còn có đại biểu nói rằng bản Tạm ước ngày 14 tháng 9 là bất bình đẳng thì Chính phủ không dám nhận như thế. Với bản Tạm ước ấy, mỗi bên đều nhân nhượng ít nhiều, ta bảo đảm cho Pháp một phần những quyền lợi văn hóa ở đây thì Pháp cũng phải bảo đảm thi hành tự do dân chủ ở Nam bộ và thả các nhà ái quốc bị bắt bớ. Còn nói Pháp thành thật thi hành bản Tạm ước hay không thì ta hiểu rằng Pháp cũng có người tốt, có người xấu. Tôi có thể nói quyết rằng đa số nhân dân Pháp bây giờ tán thành chúng ta độc lập và thống nhất lãnh thổ…

Bằng những lời nói thật giản dị nhưng cũng thật sáng rõ, khúc chiết chặt chẽ, Bác tiếp tục trả lời tất cả những vấn đề mà các đại biểu đã nêu ra. Người nói xong, không ai hỏi gì thêm. Cuộc chất vấn Chính phủ kết thúc đúng vào nửa đêm…

Đại tướng Võ Nguyên Giáp
(Theo sách Hồi ký đại biểu Khóa I)

Theo Khampha.vn
Huyền Trang
(st)

bqllang.gov.vn