Archive by Author | Việt Nam - Hồ Chí Minh

Bài học về sự tiết kiệm

43Ảnh Tư liệu

Trước kia, Thông tấn xã Việt Nam hàng ngày đều đưa bản tin lên cho Bác xem. Khi in một mặt, Bác phê bình là lãng phí giấy. Sau đấy Thông tấn xã in hai mặt bằng rônêô, nhoè nhoẹt khó đọc hơn nhưng Bác vẫn đọc. Sang năm 1969, sức khoẻ Bác yếu và mắt giảm thị lực, Thông tấn xã lại gửi bản tin in một mặt để Bác đọc cho tiện. Khi xem xong, những tin cần thiết Bác giữ lại, còn Người chuyển bản tin cho Văn phòng Phủ Chủ tịch cắt làm phong bì tiết kiệm hoặc dùng làm giấy viết. Ngày 10-5-1969, Bác đã viết lại toàn bộ đoạn mở đầu Bản Di chúc lịch sử bằng mực xanh vào mặt sau tờ tin Tham khảo đặc biệt ra ngày 3-5-1969. Từ giữa năm 1969, sức khoẻ Bác yếu đi nhiều nên Bộ Chính trị đề nghị: Khi bàn những việc quan trọng của Đảng, Nhà nước thì Bác mới chủ trì, còn những việc khác thì cứ bàn rồi báo cáo lại sau, Bác cũng đồng ý như vậy. Tháng 7, Bộ Chính trị họp ra Nghị quyết về việc tổ chức 4 ngày lễ lớn của năm: Ngày thành lập Đảng, ngày Quốc khánh, Ngày sinh Lênin và Ngày sinh của Bác. Sau khi Báo Nhân Dân đăng tin Nghị quyết này, Bác đọc xong liền cho mời mọi người đến để góp ý kiến: “Bác chỉ đồng ý 3/4 nghị quyết. Bác không đồng ý đưa ngày 19-5 là Ngày kỷ niệm lớn trong năm sau. Hiện nay, các cháu thanh thiếu niên đã sắp bước vào năm học mới, giấy mực, tiền bạc dùng để tuyên truyền về Ngày sinh nhật của Bác thì các chú nên dành để in sách giáo khoa và mua dụng cụ học tập cho các cháu, khỏi lãng phí”.

Theo Những câu chuyện kể về Bác Hồ
Kim Yến (st)
bqllang.gov.vn

Đoàn đại biểu Đảng, Nhà nước, Quốc hội, Chính phủ, Ủy ban Trung ương MTTQ Việt Nam vào Lăng viếng Chủ tịch Hồ Chí Minh và đặt hoa tưởng niệm các Anh hùng liệt sỹ

Nhân kỷ niệm 83 năm Ngày thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam (03/02/1930 – 03/02/2013) và Tết Nguyên đán Quý Tỵ, sáng ngày 06/2/2013, Đoàn đại biểu Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Chủ tịch nước, Quốc hội, Chính phủ, Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam đã đến đặt vòng hoa và vào Lăng viếng Chủ tịch Hồ Chí Minh, vị lãnh tụ kính yêu của dân tộc Việt Nam, người sáng lập ra Đảng Cộng sản Việt Nam do Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng, Chủ tịch nước Trương Tấn Sang, Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Sinh Hùng và Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Tấn Dũng dẫn đầu.

Lanh dao dang vieng 3.2.1Đoàn đại biểu vào Lăng viếng Chủ tịch Hồ Chí Minh

Đoàn đại biểu gồm: Nguyên Tổng Bí thư Nông Đức Mạnh; nguyên Chủ tịch nước Trần Đức Lương; nguyên Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Văn An; nguyên Chủ tịch Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam Phạm Thế Duyệt và các Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Trung ương Đảng, Phó Chủ tịch nước, Phó Chủ tịch Quốc hội, Phó Thủ tướng Chính phủ; lãnh đạo một số Bộ, ngành, đoàn thể Trung ương và các đồng chí lão thành cách mạng cùng dự lễ viếng. Các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam bày tỏ lòng thành kính trước anh linh Chủ tịch Hồ Chí Minh, tưởng nhớ công lao vĩ đại của Người đối với sự nghiệp cách mạng vẻ vang của Đảng và dân tộc ta. Vòng hoa của Đoàn mang dòng chữ “Đời đời nhớ ơn Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại”.

Lanh dao dang vieng 3.2.2Đoàn đại biểu đặt vòng hoa tưởng niệm các Anh hùng liệt sỹ

Sau khi vào Lăng viếng Bác, các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam đã đến dâng hương, tưởng niệm các Anh hùng liệt sỹ tại Đài Tưởng niệm các Anh hùng liệt sỹ, tưởng nhớ những người con ưu tú của dân tộc đã không tiếc máu xương, dũng cảm chiến đấu, hy sinh vì sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc, vì nền độc lập, tự do của Tổ quốc, vì hạnh phúc của nhân dân. Vòng hoa của Đoàn mang dòng chữ “Đời đời nhớ ơn các Anh hùng liệt sỹ.”

Cũng trong sáng ngày 06/2/2013, Đoàn đại biểu Quân ủy Trung ương và Bộ Quốc phòng, Đảng ủy Công an Trung ương và Bộ Công an, Bộ Ngoại giao, Thành ủy, Ủy ban nhân dân thành phố Hà Nội đã đến đặt vòng hoa và vào Lăng viếng Chủ tịch Hồ Chí Minh; đặt vòng hoa tại Đài tưởng niệm các Anh hùng Liệt sỹ. Cùng ngày, đông đảo đồng bào, chiến sỹ cả nước và khách quốc tế đã vào Lăng viếng Chủ tịch Hồ Chí Minh./.

Lan Hương
bqllang.gov.vn

Tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng Nhà nước pháp quyền kiểu mới

Tư tưởng Hồ Chí MinhTư tưởng Hồ Chí Minh về nhà nước của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân là một hệ thống các quan điểm lý luận về bản chất, chức năng, cơ chế hoạt động, tổ chức bộ máy, xây dựng đội ngũ cán bộ công chức nhà nước; trong đó, quan niệm về nhà nước pháp quyền là một tư tưởng nhất quán, thể hiện tầm nhìn vượt thời đại và có giá trị lâu bền. Hồ Chí Minh luôn khẳng định: Pháp luật của ta là pháp luật dân chủ, phải nghiêm minh và phát huy hiệu lực thực tế. Nhà nước ta cũng sử dụng pháp luật để quản lý xã hội. Song pháp luật của ta đã có sự thay đổi về chất, mang bản chất của giai cấp công nhân, là một loại hình pháp luật kiểu mới, pháp luật thật sự dân chủ, vì nó bảo vệ quyền tự do, dân chủ rộng rãi cho nhân dân lao động.

Với Hồ Chí Minh, pháp luật không phải là để trừng trị con người mà là công cụ bảo vệ, thực hiện lợi ích của con người. Tư tưởng pháp quyền của Người không chỉ dừng lại ở các quyền con người được ghi trong các văn bản pháp luật mà còn thấm đượm một tấm lòng thương yêu nhân dân, chăm lo cho ấm no, hạnh phúc của nhân dân, thấm đượm lòng nhân ái, nghĩa đồng bào theo đạo lý truyền thống ngàn năm của dân tộc Việt Nam. Vì thế, pháp quyền Hồ Chí Minh là pháp quyền đặc biệt, pháp quyền nhân nghĩa – một thứ nhân nghĩa có nội hàm triết lý, mang đậm tính dân tộc và dân chủ sâu sắc. Vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh, tiếp thu các giá trị tư tưởng hiện đại của loài người, trước nhu cầu thực tiễn phát triển đất nước, Đảng Cộng sản Việt Nam chủ trương lãnh đạo xây dựng nhà nước pháp quyền ở nước ta.

Là người sáng lập Nhà nước dân chủ mới Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng là người có công lớn nhất trong sự nghiệp lập hiến và lập pháp. Ở cương vị Chủ tịch nước, Người đã hai lần đứng đầu Ủy ban soạn thảo Hiến pháp 1946 và Hiến pháp 1959. Tư tưởng Hồ Chí Minh về Nhà nước pháp quyền của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân đã được ghi trang trọng trong Hiến pháp đầu tiên của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Đó là tư tưởng về “tất cả quyền bính trong nước là của toàn thể nhân dân Việt Nam, không phân biệt nòi giống, gái trai, giàu nghèo, giai cấp, tôn giáo”; tư tưởng về “nhân dân có quyền phúc quyết về Hiến pháp và những việc quan hệ đến vận mệnh quốc gia”; tư tưởng về “Chính phủ là công bộc của dân”. Nhà nước của nhân dân thì “bao nhiêu quyền hành và lực lượng đều ở nơi dân”. Tất cả các cơ quan Nhà nước đều phải dựa vào nhân dân, liên hệ chặt chẽ với nhân dân, lắng nghe ý kiến và chịu sự kiểm soát của nhân dân.

Ngay sau ngày giành được chính quyền về tay nhân dân, Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng ta đã chủ trương xây dựng Hiến pháp, biểu hiện đầu tiên của một Nhà nước pháp quyền. Hiến pháp năm 1946 là Hiến pháp dân chủ đầu tiên của nước Việt Nam mới, phù hợp với giai đoạn cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân của nước ta, là một mốc son quan trọng đánh dấu quá trình bắt đầu xây dựng một nhà nước pháp quyền của dân, do dân và vì dân. Theo Hồ Chí Minh: “Dân là chủ, Chính phủ là đầy tớ”. Đây là một trong những vấn đề hết sức căn bản trong xây dựng nhà nước kiểu mới, Nhà nước pháp quyền của dân, do nhân dân làm chủ, mà Quốc hội là cơ quan quyền lực cao nhất do nhân dân trực tiếp bầu ra. Người viết: “Những khi dân dùng đầy tớ để bảo vệ cho mình thì phải giúp đỡ, nếu Chính phủ sai thì phải phê bình, phê bình không có nghĩa là chửi”. Đối với cán bộ, đảng viên, nhân viên nhà nước, Người gọi đó là “công bộc” của dân.

Nhà nước phải thể hiện ý chí quyền lực của dân, mưu cầu hạnh phúc cho dân, phấn đấu đem lại lợi ích cho dân, thoả mãn những nhu cầu hợp lý của các tầng lớp nhân dân trong xã hội. Đó là một Nhà nước dân chủ và tiến bộ. Những lợi ích và nhu cầu đó lại phải được thực hiện một cách công bằng, dân chủ, văn minh, chính đáng, bảo đảm sự kết hợp hài hòa giữa phát triển các cá nhân với mục tiêu phát triển xã hội. Đồng thời, lại phải chăm lo giải quyết những vấn đề bức xúc hàng ngày của dân tộc, của đất nước.

Trải qua các thời kỳ cách mạng, dưới sự lãnh đạo của Ðảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước ta đã không ngừng lớn mạnh, góp phần quan trọng vào sự nghiệp đấu tranh giành độc lập dân tộc, bảo vệ và xây dựng đất nước theo con đường XHCN. Qua hơn 25 năm thực hiện công cuộc đổi mới đất nước, việc xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCH đã được đẩy mạnh; tổ chức bộ máy ngày càng hoàn thiện hơn; phương thức hoạt động của Nhà nước được đổi mới, đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp CNH, HÐH đất nước. Tuy nhiên, việc xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN trong những năm qua còn một số hạn chế, chưa theo kịp yêu cầu phát triển kinh tế – xã hội và quản lý đất nước.

Hiện nay, toàn Ðảng, toàn dân và toàn quân ta đang nỗ lực triển khai thực hiện thắng lợi Nghị quyết Ðại hội lần thứ XI của Ðảng, các Nghị quyết của QH khóa XIII, đặc biệt là Nghị quyết T.Ư 4 (khóa XI): Một số vấn đề cấp bách về xây dựng Ðảng hiện nay, Kết luận Hội nghị T.Ư 5 (khóa XI) về tiếp tục thực hiện Nghị quyết Hội nghị lần thứ ba Ban Chấp hành T.Ư Ðảng khóa X về tăng cường sự lãnh đạo của Ðảng đối với công tác phòng, chống tham nhũng, lãng phí; về Tổng kết việc thi hành Hiến pháp năm 1992 và một số nội dung cần sửa đổi, bổ sung Hiến pháp năm 1992. Ðây là nhiệm vụ hết sức quan trọng đặt ra những yêu cầu mới trong việc xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền XHCN, của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân. Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên CNXH (bổ sung, phát triển năm 2011) đã chỉ rõ: Tất cả quyền lực Nhà nước thuộc về nhân dân mà nền tảng là liên minh giữa giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức, do Ðảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo; quyền lực Nhà nước là thống nhất; có sự phân công, phối hợp và kiểm soát quyền lực giữa các cơ quan trong việc thực hiện các quyền: lập pháp, hành pháp và tư pháp. Theo đó, Nhà nước mà chúng ta đang xây dựng phải là một Nhà nước đủ khả năng quản lý kinh tế, quản lý xã hội bằng pháp luật, chăm lo, phục vụ nhân dân, gắn bó mật thiết với nhân dân, bảo đảm quyền, lợi ích chính đáng của mọi người dân; tôn trọng, lắng nghe ý kiến của nhân dân và chịu sự giám sát của nhân dân. Một nhà nước với thể chế dân chủ, minh bạch; bộ máy tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả; đội ngũ cán bộ, công chức trong sạch, vững mạnh và tinh thông nghiệp vụ.

Ðể đáp ứng những yêu cầu này, một trong những nhiệm vụ quan trọng cấp thiết hiện nay là chúng ta cần sớm hoàn thiện bộ máy Nhà nước và hệ thống pháp luật để tổ chức quản lý xã hội bằng pháp luật, tăng cường pháp chế XHCN, trong đó có việc sửa đổi, bổ sung Hiến pháp năm 1992 theo tinh thần Hội nghị T.Ư 5 (khóa XI) vừa qua. Trên cơ sở Hiến pháp, Nhà nước cần xây dựng cơ chế kiểm soát, ngăn ngừa tệ quan liêu, tham nhũng, lãng phí, vô trách nhiệm, lạm quyền, xâm phạm lợi ích của Nhà nước, quyền dân chủ của công dân để giữ nghiêm kỷ cương, phép nước. Tiếp tục đẩy mạnh cải cách nền hành chính Nhà nước và cải cách tư pháp theo tinh thần Nghị quyết 49 của Bộ Chính trị. Ðồng thời, kiên quyết trừng trị mọi hành vi xâm phạm lợi ích quốc gia và của công dân.

Đại hội XI của Đảng xác định, Nhà nước ta là Nhà nước pháp quyền XHCN của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân, thể hiện và thực hiện ý chí, quyền lực của nhân dân. Việc tiếp tục xây dựng và hoàn thiện Nhà nước ta hiện nay là một trong những vấn đề lớn được Đảng hết sức quan tâm và xác định, Nhà nước ta là Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân, thể hiện và thực hiện ý chí, quyền lực của nhân dân, trên cơ sở liên minh giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức, do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo.Nhà nước định ra luật pháp và tổ chức, quản lý xã hội bằng pháp luật; giữ nghiêm kỷ cương xã hội, nghiêm trị mọi hành động xâm phạm pháp luật, vi phạm  lợi ích của Tổ quốc, của nhân dân. Nhà nước gắn bó chặt chẽ với nhân dân, thực hiện đầy đủ quyền làm chủ của nhân dân, tôn trọng, lắng nghe ý kiến của nhân dân và chịu sự giám sát của nhân dân. Nhà nước có cơ chế và biện pháp kiểm soát, ngăn ngừa và trừng trị tệ quan liêu, tham nhũng, lãng phí, vô trách nhiệm, lộng quyền, xâm phạm quyền làm chủ của công dân, nhằm bảo đảm, phát huy quyền làm chủ của nhân dân. Tổ chức và hoạt động của bộ máy Nhà nước theo nguyên tắc tập trung dân chủ, có sự phân công, phân cấp, đồng thời bảo đảm sự chỉ đạo thống nhất của Trung ương. Quyền lực nhà nước là thống nhất; có sự phân công phối hợp giữa các cơ quan trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp; có cơ chế kiểm tra, giám sát trong việc thực hiện ba quyền đó, bảo đảm những hoạt động của các cơ quan nhà nước thật sự của dân, do dân, vì dân; thật sự mọi quyền lực đều thuộc về nhân dân như Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định.

Sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước ta hiện nay diễn ra trong bối cảnh mới của tình hình quốc tế và xu thế toàn cầu hóa đang đặt ra những nhiệm vụ hết sức nặng nề đòi hỏi Nhà nước ta cần có sự đổi mới mạnh mẽ, sâu sắc và toàn diện hơn trên tất cả các lĩnh vực, trước hết là đẩy mạnh cải cách, hoàn thiện tổ chức và hoạt động của bộ máy Nhà nước, nâng cao năng lực và hiệu quả quản lý, góp phần phát triển kinh tế – xã hội./.

Tâm Trang (Tổng hợp)
bqllang.gov.vn

Vâng lời Bác, chúng con lên đường

Đúng 7 giờ sáng ngày 23/01/2013, khi tiết trời Hà Nội còn đang mờ sương buổi sớm, nhưng gần 400 cán bộ, giáo viên, học viên Học viện Kỹ thuật Quân sự cùng các đại biểu của Bộ Tư lệnh Bảo vệ Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh đã có mặt đông đủ trước Lăng Chủ tịch Hồ Chi Minh để tổ chức lễ báo công dâng Bác cho 326 học viên Khoá học 43, Học viện Kỹ thuật Quân sự tốt nghiệp ra trường, chuẩn bị lên đường nhận nhiệm vụ mới.

HVKTQS
Học viên Khoá học 43, Học viện Kỹ thuật Quân sự
báo công tại Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh

Buổi lễ báo công dâng Bác hôm nay là nội dung trọng tâm trong chương trình phối hợp giáo dục, tuyên truyền đẩy mạnh việc học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh giữa Học viện Kỹ thuật Quân sự và Bộ Tư lệnh Bảo vệ Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh đã được ký kết từ ngày 19/5/2012. Nooij dung của Chương trình phối hợp giữa Học viện và Bộ Tư lệnh là: “Tất cả các học viên của Học viện Kỹ thuật Quân sự trong dịp khai giảng, mở đầu khoá học mới được vào Lăng viếng Bác; khi kết thúc khoá học ra trường được về Lăng báo công dâng Người”. Đây là nội dung tuyên truyền, giáo dục thiết thực, hiệu quả. Mở đầu khóa học, từng học viên khi về Lăng viếng Bác, như để hứa với Bác sẽ nỗ lực cố gắng phấn đấu hoàn thành tốt nhất nhiệm vụ của người học viên. Để trước khi tốt nghiệp ra trường, tất cả các học viên về trước Lăng Bác báo cáo với Người kết quả học tập, rèn luyện trong những năm học tại Trường. Đồng thời tiếp tục hứa với Bác sẽ đi bất cứ nơi đâu, nhận bất cứ nhiệm vụ gì khi Tổ quốc, nhân dân và Quân đội giao phó; phấn đấu hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ của người cán bộ trong Quân đội nhân dân Việt Nam.

Sau lễ chào cờ và lắng nghe những lời căn dặn của Bác đối với Thanh niên, Đại tá Nguyễn Văn Tài, Phó Chủ nhiệm Chính trị Học viện đã trân trọng kính thưa với Bác những kết quả nổi bật trong học tập, rèn luyện của Khóa học 43: Thực hiện mục tiêu đào tạo học viên trở thành người sỹ quan tốt – kỹ sư giỏi – đảng viên mẫu mực, trong gần 6 năm học vừa qua (2007- 2013), toàn thể cán bộ, học viên Khóa 43 đã nêu cao tinh thần đoàn kết, quyết tâm vượt qua mọi khó khăn thử thách, phấn đấu “học tập tốt, rèn luyện kỷ luật nghiêm”, hoàn thành tốt nhiệm vụ của toàn khóa học. Trong số 326 học viên tốt nghiệp ra trường hôm nay có 271 đồng chí (chiếm 83,18%) đạt kết quả Khá, Giỏi. Đồng thời, Khóa học 43 còn dành được 49 giải Olympic, trong đó có 10 giải Nhất và 12 giải Nhì; tiến hành nghiên cứu 130 đề tài khoa học, có 31 đề tài được các cấp khen thưởng và có 322 đồng chí (chiếm 98,78%) được vinh dự trở thành đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam.

Trong niềm vui chung của Học viện và toàn Khoá học 43, có 10 học viên tiêu biểu xuất sắc gồm các đồng chí Nguyễn Văn Cương, Nguyễn Thị Bảo Yến và Ngô Thị Hòa thuộc Đại đội 143, Tiểu đoàn 1; Phạm Đình Thắng, Trương Quang Lăng và Trần Văn Hiệp thuộc Đại đội 243, Tiểu đoàn 2; Đới Thị Lan, Phạm Thúy Hằng thuộc Đại đội 343, Tiểu đoàn 3 và Đào Duy Tùng, Đỗ Văn Thùy thuộc Đại đội 443, Tiểu đoàn 4 được Học viện Kỹ thuật Quân sự và Bộ Tư lệnh Bảo vệ Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh trao tặng Huy hiệu Bác Hồ trước Lăng của Người. Đồng chí Thiếu tướng Đặng Nam Điền, Chính ủy Bộ Tư lệnh Bảo vệ Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh và đồng chí Thiếu tướng Nguyễn Thiện Chất, Phó Chính ủy Học viện Kỹ thuật Quân sự đã gắn cho từng đồng chí Huy hiệu Bác Hồ – phần thưởng cao quý mà lúc sinh thời Người dành tặng cho những gương “người tốt, việc tốt” tiêu biểu.

Đời đời ghi nhớ công ơn của Đảng, của Bác, trực tiếp là những tình cảm quý báu và sự quan tâm giáo dục, rèn luyện của Học viện dành cho các học viên trong những năm học vừa qua, đồng chí Phạm Đình Thắng đã xúc động báo cáo với Bác: “Trong giờ phút trang nghiêm này, chúng cháu xin bày tỏ lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc tới Đảng, Bác Hồ, Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng, các đồng chí lãnh đạo, chỉ huy các cấp, cùng các thầy, các cô và các đồng chí nhân viên, chiến sỹ phục vụ trong Học viện đã luôn quan tâm giáo dục, rèn luyện, giúp đỡ để chúng cháu hoàn thành tốt nhiệm vụ khóa học và trở thành người sỹ quan, người cán bộ khoa học kỹ thuật trong Quân đội nhân dân Việt Nam Anh hùng”.

Kết thúc buổi lễ, các đại biểu cùng toàn thể cán bộ, học viên Khóa học 43, Học viện Kỹ thuật Quân sự kính cẩn dâng vòng hoa: “Đời đời nhớ ơn Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại” và vào Lăng viếng Người. Tâm trạng về bên Bác ai cũng bồi hồi xúc động, nhưng đều quyết tâm thực hiện trọn vẹn lời hứa mà đồng chí Phạm Thúy Hằng, học viên Đại đội 343, Tiểu đoàn 3 đã hứa với Bác: “Năm xưa, vâng lời Bác, các thế hệ cha anh đã xẻ dọc Trường Sơn đi cứu nước. Nay, vâng lời Bác, chúng cháu sẽ tiếp bước cha anh, lên đường hướng tới mọi vùng miền, biên cương của Tổ quốc, đem sức trẻ, lòng nhiệt huyết và kiến thức đã được Học viện trang bị vào quản lý, khai thác, sử dụng, cải tiến vũ khí, trang thiết bị kỹ thuật của từng đơn vị, góp phần xây dựng Quân đội cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ bảo vệ và xây dựng Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa”./..

Nguyễn Hữu Mạnh
bqllang.gov.vn

Vị Đại đức có nhiều việc làm theo gương Bác

Chủ tịch Hồ Chí Minh từng nêu rõ những giá trị đạo đức và văn hóa tích cực của tôn giáo: “Chúa Giê-su dạy: Đạo đức là bác ái. Phật Thích Ca dạy: Đạo đức là từ bi”. Cả cuộc đời Chủ tịch Hồ Chí Minh là tấm gương mẫu mực về tình yêu thương con người, tất cả vì hạnh phúc của nhân dân.

Tìm thấy trong triết lý Phật giáo và tư tưởng Hồ Chí Minh những trùng hợp về tư tưởng cao cả vì con người, noi theo tấm gương đạo đức tuyệt vời cao đẹp của Bác, trong thời gian qua, Đại đức Thích Thiện Hòa cùng chùa Hải Hội, xã Hòa Hiệp Trung, huyện Đông Hòa, tỉnh Phú Yên đã có nhiều việc làm thiết thực nhằm cứu giúp những cảnh đời nghèo khó và xây dựng đời sống văn hóa ở khu dân cư.

Bàn thờ Bác bốn mùa ngát hương

Tôi tìm về chùa Hải Hội – ngôi chùa đẹp, cổ kính, mang đậm dấu ấn kiến trúc chùa chiền Nam Trung Bộ vào một ngày rằm. Người đi lễ chùa khá đông. Tiếng chuông, tiếng mõ hoà với tiếng rì rào sóng vỗ tạo nên khung cảnh yên bình ở một vùng quê biển. Đại đức Thích Thiện Hòa, trụ trì cùa Hải Hội dẫn tôi vào gian chánh điện, kính cẩn thắp hương lên bàn thờ Phật và bàn thờ Bác.

Đại đức cho biết: Từ trước năm 1975, sau khi Bác mất, hằng năm, vào dịp sinh nhật Bác hay Tết Độc lập, chùa đều bí mật lập bàn thờ Bác, thắp hương tưởng nhớ công ơn của Người. Ngay sau giải phóng, chùa lập bàn thờ Bác ở vị trí trang trọng nhất của gian chánh điện. Bà con ngư dân, trước mỗi chuyến biển, đều đến chùa, cầu cho sóng yên biển lặng và thắp thắp hương, hứa với Bác sẽ chung tay giữ biển đến cùng, như lời Bác dạy. Đi lễ chùa cũng là dịp bà con thắp hương lên bàn thờ Bác, vì thế, bàn thờ Bác quanh năm hương hoa thơm ngát.

Đại đức Thích Thiện Hoà tâm sự: “Chúng tôi lúc nào cũng tưởng nhớ đến Bác Hồ kính yêu vì Bác là vị lãnh tụ vĩ đại đã giải phóng dân tộc khỏi áp bức của ngoại xâm, để chúng tôi có được cuộc sống yên bình như ngày hôm nay, yên tâm tu hành, tu học. Tôi đã nghiên cứu rất kỹ cuộc đời, tấm gương đạo đức của Bác, tư tưởng vì dân, vì con người của Bác và thấy bổn phận mình phải học tập và làm theo tấm gương đạo đức của Người”.

Chùa Hải Hội đã có từ lâu đời. Trong kháng chiến chống Mỹ, đây là cơ sở, nơi đi về của cán bộ cách mạng. Cũng vì thế, không ít lần chính quyền chế độ cũ đã làm khó dễ đối với chùa, thậm chí chúng còn cài lựu đạn cho nổ tung  tượng Phật. Sau ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng, với sự ủng hộ của chính quyền, sự đóng góp của đạo hữu, ngôi chùa được tu bổ, xây dựng khang trang, là nơi sinh hoạt tín ngưỡng của bà con phật tử xã Hòa Hiệp trước đây, nay là các xã Hòa Hiệp Bắc, Hòa Hiệp Trung, Hòa Hiệp Nam, huyện Đông Hòa. Tiếp nối truyền thống tốt đẹp trong kháng chiến chống Mỹ, các thế hệ trụ trì chùa Hải Hội đã tích cực tham gia hưởng ứng các phong trào yêu nước.

vi Dai ducBàn thờ Bác tại chùa Hải Hội

Đặc biệt, từ khi triển khai Cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gươg đạo đức Hồ Chí Minh”, từ tấm gương của Bác và qua nghiên cứu, tìm thấy trong triết lý Phật giáo và tư tưởng Hồ Chí Minh những trùng hợp về tư tưởng cao cả vì con người, mỗi tháng 2 lần, trong các buổi dạy giáo lý, Đại đức Thích Thiện Hòa đã lồng ghép nói về tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh cho bà con phật tử. Đại đức dặn bà con phải luôn thương yêu, đoàn kết, giúp đỡ nhau theo lời Bác và cũng là lời Phật dạy.

Những việc làm theo gương Bác

Các xã Hòa Hiệp ngày nay đã có nhiều đổi mới, song tỷ lệ hộ nghèo vẫn còn khá cao và vẫn còn không ít cảnh đời bất hạnh do hậu quả chiến tranh. Chung tay cùng người nghèo, góp phần cùng địa phương giúp đỡ những gia đình khó khăn, Đại đức Thích Thiện Hòa đứng ra  thành lập Chi hội Chữ thập đỏ của chùa với gần 200 hội viên là các phật tử, luôn duy trì nguồn quỹ khoảng 30 triệu đồng, trong đó có nhiều  hội viên nòng cốt, chưa bỏ sót tham gia một đợt quyên góp nào. Ông Huỳnh Đức Ngọc ở thôn Phú Hiệp 2, xã Hòa Hiệp Trung, một thành viên tích của Chi hội Chữ thập đỏ chùa Hải Hội nói: “Chúng tôi rất ủng hộ những việc làm từ thiện của chùa Hải Hội. Không nhiều thì ít, hễ nhà chùa mở đợt quyên góp là gia đình tôi hưởng ứng ngay”.

Từ nguồn quỹ này, Chi hội Chữ thập đỏ Chùa Hải Hội thường xuyên giúp đỡ nhiều gia đình khó khăn, nạn nhân chất độc màu da cam và tặng quà cho học sinh nghèo vượt khó. Ngay sau trận lũ  lịch  sử ở Phú Yên đầu tháng 11/2009, chùa Hải Hội đã vận động quyên góp, tổ chức 3 đợt về huyện Đồng Xuân – nơi bị thiệt hại nặng nề nhất – trao quà cho bà con vùng lũ trị giá 50 triệu đồng.

Cùng với đó, Đại đức Thích Thiện Hòa còn gặp gỡ trao đổi với bà con phật tử về thực hiện đời sống văn hoá ở khu dân cư, chăm lo xây dựng gia đình hạnh phúc, yêu thương đùm bọc, nuôi dạy con cái ngoan hiền, hiếu học, góp phần xây dựng và giữ vững danh hiệu các thôn văn hóa.

Những việc làm của Đại đức Thích Thiện Hòa và Chi hội Chữ thập đỏ chùa Hải Hội được chính quyền, Mặt trận địa phương đánh giá cao. Ông Nguyễn Hữu Tổng, Phó Chủ tịch UBMTTQ Việt Nam xã Hòa Hiệp Trung nói: “Không chỉ góp phần giúp đỡ những cảnh đời khốn khó, bà con nghèo,  chùa Hải Hội và Đại đức Thích Thiện Hòa còn hỗ trợ địa phương rất nhiều trong việc xây dựng thôn xóm bình yên”.

Phan Xuân Luật
cand.com.vn

“Đã đánh là nhất định thắng”

Tròn 40 năm đã trôi qua kể từ ngày quân và dân ta lập nên Chiến thắng “Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không” lẫy lừng, đánh dấu một mốc son chói lọi trong lịch sử dựng nước và giữ nước vẻ vang của dân tộc Việt Nam. Chiến thắng này một lần nữa cho thấy tầm nhìn chiến lược của Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại, một trong những yếu tố đóng vai trò then chốt làm nên thắng lợi rực rỡ của cách mạng nước nhà.

Ngày 16-4-1952, trước trận “Điện Biên Phủ trên không” hai mươi năm, nước Mỹ cho bay thử thành công chiếc máy bay B.52 đầu tiên do hãng Boeing sản xuất và tuyên truyền rùm beng cho loại “siêu pháo đài bay bất khả xâm phạm”. Sau 20 năm, năm 1972, B.52 đã được qua 8 lần cải tiến từ B.52A đến B.52G, B.52H. Mỗi chiếc B.52G hoặc H (loại bị bắn rơi tại Hà Nội tháng 12-1972) có thể mang trên dưới 100 quả bom với trọng lượng từ 17 đến 30 tấn cùng nổ chỉ trong phạm vi 3 đến 10 giây đồng hồ. Đi kèm B.52 là một lực lượng máy bay F4 hộ tống tạo thành mộthàng rào không thể chọc phá”. Nhưng điều chủ yếu nhất, nguy hiểm nhất và gây nhiều khó khăn nhất cho đối phương là hệ thống gây nhiễu điện tử cực mạnh tạo thành chiếc áo giáp điện tửche giấu toàn bộ lực lượng tiến công, biến mỗi chiếc B.52 thành một máy bay tàng hình”. Hoa Kỳ cho rằng “Đối phương không thể có cách chống đỡ và không còn một sinh vật nào tồn tại nổi dưới những trận mưa bom kinh khủng của loại B.52 bất khả xâm phạm”.

da danh nhat dinh thang 1Máy bay B.52 thực sự là kho bom đạn bay trên không.
(Ảnh Tư liệu – Internet)

Ngày 18-6-1965, đế quốc Mỹ cho 30 chiếc B.52 từ đảo Gu-am giữa Thái Bình Dương bay vào “rải thảm” khu căn cứ Long Nguyên của ta ở huyện Bến Cát. Đây là lần đầu tiên B.52 được sử dụng ở Việt Nam. Giặc Mỹ muốn dùng “con ngáo ộp” B.52 để hăm dọa chúng ta.

Nhưng chỉ một tháng sau, ngày 19-7-1965, trong chuyến thăm Trung đoàn 324, bộ đội Phòng không – Không quân đóng tại Tam Đảo, Chủ tịch Hồ Chí Minh, thay mặt nhân dân Việt Nam đã lên tiếng trả lời bọn xâm lược: “Dù đế quốc Mỹ có lắm súng nhiều tiền, dù chúng có B57, B.52 hay “Bê” gì đi chăng nữa ta cũng đánh. Từng ấy máy bay, từng ấy quân Mỹ chứ nhiều hơn nữa ta cũng đánh, mà đã đánh là nhất định thắng”.

Lời khẳng định ấy của Bác, cùng chỉ thị của Bộ Chính trị và mệnh lệnh Bộ Quốc phòng sau này, đã trở thành niềm tin và động lực để quân và dân ta tạo nên chiến thắng lịch sử của trận Điện Biên Phủ trên không ở Hà Nội cuối năm 1972.

“Dù đế quốc Mỹ có lắm súng nhiều tiền, dù chúng có B57, B.52 hay “Bê” gì đi chăng nữa ta cũng đánh. Từng ấy máy bay, từng ấy quân Mỹ chứ nhiều hơn nữa ta cũng đánh, mà đã đánh là nhất định thắng” – Thể hiện quyết tâm của Bác, cũng là quyết tâm của toàn Đảng, toàn quân, toàn dân ta trong cuộc chiến chống trả đế quốc Mỹ xâm lược, bảo vệ miền Bắc, giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước. Đồng thời, câu nói này cũng thể hiện tầm nhìn xa trông rộng của một nhà chiến lược tài tình.

Riêng đối với Quân chủng Phòng không – Không quân, lời dạy của Bác đã củng cố lòng tin và tiếp thêm sức mạnh cho cán bộ chiến sĩ trong toàn quân chủng nỗ lực vươn lên hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ, đánh thắng những bước leo thang chiến tranh phá hoại bằng không quân của đế quốc Mỹ đối với miền Bắc nước ta. Hơn thế nữa, lời dạy của Bác thực sự đã đặt nền móng cho tư tưởng chỉ đạo tác chiến phòng không, nghệ thuật tác chiến phòng không của chúng ta. Ngay sau khi Bác đến thăm, theo chỉ thị của Đảng ủy Quân chủng, Cục Chính trị Quân chủng đã hướng dẫn các đơn vị phát động toàn thể cán bộ, chiến sĩ học tập và làm theo lời dạy của bác, thi đua lập công, quyết tâm đánh thắng giặc Mỹ xâm lược. Bản chỉ thị nêu rõ những yêu cầu của đợt phát động: 1) Nêu cao quyết tâm chiến đấu, kiên định vững vàng, phát huy chủ nghĩa anh hùng cách mạng, dũng cảm chiến đấu, đánh thắng đế quốc Mỹ xâm lược. 2) Quán triệt tư tưởng chỉ đạo tác chiến “Đánh thắng trận đầu, đánh tiêu diệt, đánh chắc thắng”, phát huy quân sự dân chủ, tăng cường rèn luyện năng lực chỉ huy, trình độ kĩ thuật để bắn trúng ngay từ loạt đạn đầu, bắn rơi tại chỗ nhiều máy bay địch, tiết kiệm đạn, trước mắt nhanh chóng đưa số máy bay Mỹ bị bắn rơi trên miền Bắc lên 400 chiếc.

Dù kẻ địch có huy động lực lượng đông đảo quân lính với những vũ khí tối tân để tấn công, “Từng ấy máy bay, từng ấy quân Mỹ chứ nhiều hơn nữa”, có đông hơn nữa thì “ta cũng đánh”. “Ta cũng đánh” là lời khẳng định chắc như đinh đóng cột của Bác kính yêu. Sở dĩ Người có thể khẳng định mạnh mẽ như vậy là xuất phát từ sự thấu hiểu sâu sắc truyền thống yêu nước quý báu đã có từ hàng nghìn năm nay của dân tộc ta; thấu hiểu ý chí quật cường, tinh thần anh dũng, quả cảm, không bao giờ chịu khuất phục trước kẻ thù xâm lược của những người con mang dòng máu Lạc Hồng. Đó là quyết tâm của Bác, quyết tâm của Đảng cũng như của nhân dân ta, dù thế nào “ta cũng đánh” và “đã đánh là nhất định thắng”.

“Phải đánh thắng B.52” là mối quan tâm đặc biệt của Bác và cũng là quyết tâm của quân dân ta. Năm 1962, mười năm sau khi chiếc B.52 đầu tiên ra đời, trong lần gặp đồng chí Phùng Thế Tài nhân dịp đồng chí được bổ nhiệm làm Tư lệnh Quân chủng Phòng không, Bác hỏi:

Bây giờ chú là Tư lệnh Phòng không, vậy chú biết gì về B.52 chưa?

Thấy đồng chí Tài lúng túng, Bác cười độ lượng:

Nói thế thôi, chú có biết cũng chưa làm gì được nó. Nó bay trên cao mười cây số mà trong tay chú hiện nay mới chỉ có cao xạ thôi. Nhưng ngay từ nay, là Tư lệnh Phòng không, chú phải theo dõi chặt chẽ và thường xuyên quan tâm đến thằng B.52 này”.

Để có vũ khí trừng trị được B.52, Bác đặt vấn đề với Liên Xô chi viện cho Việt Nam vũ khí tên lửa phòng không. Dưới sự giúp đỡ của nước bạn, Trung đoàn tên lửa phòng không SAM-2 đầu tiên mang phiên hiệu H36 ra đời.

Tháng 4-1965, Mỹ quyết định dùng Sư đoàn Không quân chiến lược số 3 đóng ở đảo Guam tiến hành chiến dịch ném bom mang tên “Cung sáng” vào miền Nam Việt Nam để yểm trợ cho bộ binh Mỹ trong các cuộc hành quân trên bộ. Ngày 18-6-1965, 30 máy bay B.52 cất cánh từ Guam ở trung tâm Thái Bình Dương vượt gần 9.000 km với 16 giờ bay liên tục, thực hiện cuộc ném bom “rải thảm” lần đầu tiên trên thế giới vào căn cứ Long Nguyên của ta ở huyện Bến Cát, tỉnh Bình Dương (phía Tây Bắc Sài Gòn). Cùng với bom là những tờ truyền đơn in hình chiếc B.52 với đủ kích thước, tính năng của nó và đã gây tác dụng tâm lý nhất định. Một số cán bộ ở miền Nam ra công tác miền Bắc khi kể về những trận rải thảm của B.52 đã tỏ ra phân vân, lo lắng. Vì, chỉ cần 10 chiếc B.52 lọt vào Hà Nội cũng đủ gây tổn thất nặng nề không lường hết được. Chính vì vậy mà Bác Hồ đã đặc biệt quan tâm đến loại máy bay này. Việc xây dựng quyết tâm dám đánh và quyết thắng B.52 được đặt ra ngay từ khi đế quốc Mỹ bắt đầu sử dụng máy bay B.52 đánh phá ở chiến trường miền Nam.

Ngày 24-7-1965, Trung đoàn tên lửa H36 ra quân đánh thắng trận đầu, bắn rơi tại chỗ chiếc F4C trên bầu trời Hà Tây. Một ngày sau, ngày 25-7-1965, hạ tại chỗ thêm một máy bay trinh sát không người lái BQM34A ở độ cao 19 km. Hai chiến công đầu của bộ đội tên lửa Việt Nam có ý nghĩa đặc biệt: Nó khẳng định khả năng tên lửa Việt Nam trị được B.52 đã ở trong tầm tay. Bác Hồ đã gửi thư khen quân và dân Hà Tây và ký lệnh thưởng 2 Huân chương Quân công hạng Ba cho 2 Tiểu đoàn 63 và 64 đã trực tiếp lập công. Ngày 12-4-1966, máy bay B.52 lần đầu tiên ném bom đèo Mụ Giạ ở Tây Nam Quảng Bình, mở đầu việc đánh phá của B.52 ở miền Bắc nước ta. Ít lâu sau, B.52 đánh rộng đến Vĩnh Linh, phía bắc giới tuyến 17 với mức độ ngày càng dữ dội. Bác mời đồng chí Đặng Tính, Chính uỷ Quân chủng Phòng không – Không quân lên báo cáo tình hình và trực tiếp giao nhiệm vụ cho quân chủng: “Máy bay B.52 Mỹ đã ném bom miền Bắc. Phải tìm cách đánh cho được B.52. Nhiệm vụ này Bác giao cho các chú Phòng không- Không quân”.da danh nhat dinh thang 2Chủ tịch Hồ Chí Minh đến thăm các chiến sĩ lực lượng phòng không bảo vệ thủ đô năm 1966. (Ảnh Tư liệu – Internet)

Các đồng chí trong Quân uỷ Phòng không – Không quân báo cáo Bác ý định đưa lực lượng tên lửa, ra-đa vào chiến trường phía Nam tìm cách bắn rơi máy bay B.52, để củng cố ý chí quyết thắng và xây dựng niềm tin đánh thắng B.52 cho bộ đội. Người suy nghĩ rồi thong thả nói: “Đúng, muốn bắt cọp phải vào tận hang”. Tháng 5-1966, một số đơn vị tên lửa, ra-đa và những cán bộ có kinh nghiệm của quân chủng đã được cấp tốc đưa vào chiến trường. Trung đoàn tên lửa H38 (biệt danh Đoàn Hạ Long) – đơn vị hoả lực đầu tiên nhận trọng trách lớn lao này, đã kịp thời cơ động từ đồng bằng Bắc Bộ, vượt qua nhiều chặng đường hiểm trở đầy ác liệt của bom đạn Mỹ để tới Vĩnh Linh vào đầu năm 1967. Các chiến sĩ đã anh dũng nằm ngay trong tầm đạn pháo mặt đất, pháo biển của địch phục kích bắn B.52. Một số đơn vị ra-đa đã vượt qua muôn vàn gian khổ, khó khăn đưa máy lên tận đỉnh Trường Sơn để nghiên cứu phát hiện B.52. Đưa tên lửa vào Vĩnh Linh là chặng đường đầu tiên trên con đường dài đi đến chiến thắng B.52. Nghe tin 1 trung đoàn tên lửa SAM-2 của ta vào Vĩnh Linh, Lầu năm góc hoảng sợ và quyết tiêu diệt những bệ phóng của ta bằng mọi giá. Các khí tài của ta bị bom, đạn Mỹ đánh hỏng nặng. Biết đơn vị gặp khó khăn, Bác thường xuyên quan tâm thăm hỏi xem có biện pháp khắc phục chưa.da danh nhat dinh thang 3Ngày 09-02-1967, Bác Hồ thăm bộ đội Không quân nhân dân Việt Nam.
(Ảnh Tư liệu – Internet)

Ngày 17-9-1967, Phân đội tên lửa 84, Đoàn H38 lần đầu tiên chỉ trong vòng ba mươi phút đã kịp thời phát hiện và bắn rơi 2 chiếc B.52 trên bầu trời Vĩnh Linh. Nhận được tin vui từ Vĩnh Linh ra, các đồng chí lãnh đạo Quân chủng Phòng không – Không quân muốn báo tin ngay đến Bác vì Người đã cho phép gọi điện thoại trực tiếp đến bất cứ lúc nào cần thiết. Trời đã khuya, sợ Bác thức giấc, đồng chí Tư lệnh đã gọi cho đồng chí Vũ Kỳ (thư ký của Bác) thì được biết Bác vẫn chưa ngủ. Đồng chí quay số 01 (mật danh điện thoại của Bác), Bác nhận ra giọng đồng chí Phùng Thế Tài và hỏi ngay: “Chú Tài đấy à? Có việc gì thế? Bắn rơi B.52 rồi phải không?”

Việc Bác đoán trước đã bắn rơi B.52 là xuất phát từ niềm tin tuyệt đối của Người vào lòng dũng cảm, trí tuệ, khả năng sáng tạo của bộ đội ta. Từ ngôi nhà sàn, Bác đã tự tay viết thư khen quân và dân Vĩnh Linh anh hùng và ký Lệnh thưởng Huân chương Quân công hạng Nhì cho Tiểu đoàn 84 thuộc Trung đoàn tên lửa H38 là đơn vị trực tiếp đã lập công.

Bước leo thang của Mỹ đã lên đến đỉnh. Chúng tổ chức những chiến dịch không quân liên tục đánh phá quyết liệt Thủ đô. Bộ Tư lệnh Phòng không -Không quân được giao nhiệm vụ chuẩn bị phương án chiến đấu bảo vệ Hà Nội, Hải Phòng trong tình huống địch sử dụng B.52. Vào một buổi tối mùa Xuân năm 1968, tại ngôi nhà sàn, Bác Hồ nói với đồng chí Phùng Thế Tài, lúc này là Phó Tổng tham mưu trưởng lời dự báo về một cuộc chiến căng thẳng, khốc liệt sắp diễn ra: “Sớm muộn đế quốc Mỹ cũng sẽ đưa B.52 ra ném bom Hà Nội rồi có thua mới chịu thua. Chú nên nhớ trước khi đến Bàn Môn Điếm ký hiệp định đình chiến ở Triều Tiên, Mỹ đã cho không quân hủy diệt Bình Nhưỡng. Ở Việt Nam, Mỹ nhất định thua, nhưng nó chỉ chịu thua sau khi thua trên bầu trời Hà Nội. Vì vậy nhiệm vụ cuả chú rất nặng nề”.

Đúng như lời dự đoán của Bác, ngày 17-12-1972, Ních-xơn chính thức ra lệnh mở Chiến dịch Lai-nơ-bêch-cơ II, sử dụng không quân chiến lược B.52, tập kích với quy mô hủy diệt vào Hà Nội, Hải Phòng và một số thành phố, thị xã trên miền Bắc.

Trong suốt 12 ngày đêm vần vũ trên bầu trời Hà Nội, đế quốc Mỹ đã huy động một lực lượng lớn chưa từng có kể từ sau Chiến tranh Thế giới lần thứ hai (tính đến tháng 12/1972) cho cuộc tập kích này: gần 1/2 số máy bay chiến lược B.52 của toàn nước Mỹ (193 chiếc trên tổng số 400 chiếc), gần 1/3 số máy bay chiến thuật của toàn nước Mỹ (1.077 chiếc trên tổng số 3041 chiếc) cùng nhiều phương tiện chiến tranh hiện đại khác. Chúng đã huỷ diệt nhiều khu phố, làng mạc, phá sập 5.480 ngôi nhà, trong đó gần 100 nhà máy, xí nghiệp, trường học, bệnh viện, nhà ga, giết hại 2.368 dân thường, làm bị thương 1.355 người khác. Tờ báo lớn nhất của Anh, the Daily Mirror đã bình luận rằng: “Việc Mỹ quay lại ném bom Bắc Việt Nam đã làm cho cả thế giới lùi lại vì ghê sợ”.

Đế quốc Mỹ toan tính rằng, bằng sự tàn sát dã man của B.52, chúng có thể buộc nhân dân ta phải khuất phục. Nếu đế quốc Mỹ thành công trong cuộc tập kích bằng B.52 thì hậu quả thật khôn lường. Báo Pháp Nhân đạo viết: “Tấn thảm kịch Việt Nam đang trải qua cho ta hương vị của cái mà trái đất chúng ta sẽ nếm trải nếu nước đế quốc mạnh nhất đặt được nền thống trị độc tôn của nó!”. Thế nhưng, “thần tượng B.52” – con át chủ bài trong bộ ba chiến lược của đế quốc Mỹ đã phải sụp đổ trước ý chí kiên cường và trí tuệ thông minh tuyệt vời của dân tộc Việt Nam. Chỉ trong 12 ngày đêm, lưới lửa phòng không dày đặc của ta đã xé tan xác 81 máy bay của giặc Mỹ, trong đó “siêu pháo đài bay” B.52 là 34 chiếc, F111 – 5 chiếc và 42 máy bay chiến thuật khác, bắt sống nhiều giặc lái, trong đó có nhiều giặc lái B.52.

Thông thường trong chiến tranh, ở những trận tập kích đường không lớn, tỷ lệ tổn thất về máy bay của phe tiến công là khoảng 1-2%. Vậy mà trong cuộc tập kích không quân chiến lược cuối tháng 12-1972 này tỷ lệ tổn thất về máy bay của Mỹ đạt kỷ lục cao nhất từ trước tới nay (25%), khiến các nhà quan sát quân sự Mỹ phải thú nhận: “Cứ cái đà mất máy bay, người lái này và nếu Mỹ còn tiếp tục ném bom thì chỉ đến ngày 28 tháng 4 năm 1973 toàn bộ lực lượng không quân chiến lược Mỹ ở vùng Đông Nam Á sẽ hết nhẵn”. Người Mỹ cũng đã phải cay đắng thừa nhận rằng: “B.52 đã được tung ra chiến trường với số lượng lớn chưa từng có, để cuối cùng Tổng thống phải chấp nhận một kết cục bi thảm chưa từng thấy!”. Chính Ních-xơn cũng đã phải cay đắng thừa nhận về thất bại thảm hại này trong hồi ký của mình: “Nỗi lo của tôi trong những ngày này không phải là lo những làn sóng phản đối, phê phán nghiêm khắc ở trong nước và trên thế giới, mà chính là mức độ tổn thất về máy bay B.52 quá nặng nề”.

da danh nhat dinh thang 4 Xác pháo đài bay B.52 chất đống ở Bảo tàng Lịch sử Quân sự Việt Nam. (Ảnh tư liệu – Internet)

Trước sự thất bại liên tiếp trong 12 ngày đêm đánh phá miền Bắc, 7h sáng ngày 30/12, Tổng thống Mỹ Ních-xơn buộc phải tuyên bố ngừng ném bom từ vĩ tuyến 20 trở ra và chấp nhận họp lại Hội nghị Pari về Việt Nam. Cuộc tập kích đường không chiến lược quy mô lớn bằng máy bay B.52 của đế quốc Mỹ vào Hà Nội, Hải Phòng và một số địa phương miền Bắc kéo dài 12 ngày đêm đã bị thất bại hoàn toàn. Ngày 27-01-1973 Hiệp định Pari về “chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam” được ký kết.

“Phải tin tưởng vững chắc là ta nhất định thắng, Mĩ nhất định thua. Lúc này mà còn phân vân, tàu địch to, tàu ta nhỏ, máy bay địch nhiều, súng ta ít, liệu có đánh được không? Đó là biểu hiện quyết tâm chưa cao. Tuy không dám tự nhận là sợ địch, nhưng chính là sợ địch. Phải khẳng định rằng: Dù đế quốc Mĩ có lắm súng nhiều tiền. Dù chúng có B57, B52 hay “bê” gì đi chăng nữa, ta cũng đánh. Từng ấy máy bay, từng ấy quân Mỹ, chứ nhiều hơn nữa ta cũng đánh, mà đã đánh là nhất định thắng… Ta phải có lòng tin sắt đá ở Đảng. Đảng đã nói: “Nhất định đánh thắng giặc Mỹ xâm lược” là nhất định thắng… Đánh nhau có hi sinh, có gian khổ, nhưng bền gan, vững chí thì cuối cùng ta nhất định thắng, giặc nhất định thua”. Lời của Bác tựa như lời sông núi, thấm sâu vào trái tim mỗi người dân Việt Nam, cổ vũ, thôi thúc quân dân ta vững niềm tin tất thắng kiên cường chống lại kẻ thù xâm lược. Đoàn kết một lòng, quân dân thống nhất, dưới sự lãnh đạo tài tình, sáng suốt của Đảng Cộng sản Việt Nam và Chủ tịch Hồ Chí Minh, nhân dân ta đã kiên cường, dũng cảm, quyết chiến, quyết thắng, làm nên Chiến thắng “Hà Nội – Điện Biên phủ trên không” vang dội, đánh một đòn chí mạng vào kẻ thù xâm lược, khiến chúng phải thua một cách “tâm phục, khẩu phục”.da danh nhat dinh thang 5Các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước và Quân đội trao cờ cho các đơn vị lập công xuất sắc trong Chiến dịch “Điện Biên Phủ trên không” cuối năm 1972.
 (Ảnh tư liệu – Internet)

Đã bốn thập kỷ qua đi nhưng những bài học vô giá về tính chủ động, sáng tạo, tinh thần dám đánh và quyết thắng mà Bác Hồ để lại từ trận “Hà Nội – Điện Biên phủ trên không” vẫn còn vẹn nguyên giá trị và sẽ giúp cho dân tộc ta vững tay lái khi ra biển lớn trong quá trình hội nhập quốc tế hôm nay.

Thu Hiền (Tổng hợp)
bqllang.gov.vn

Nâng cao tinh thần trách nhiệm, tự giác học tập và làm theo tấm gương đạo đức Bác Hồ

Đồng chí Tô Huy Rứa phát biểu chỉ đạo tại Hội nghị.

Như tin đã đưa, chiều 22-1-2013, Đảng uỷ cơ quan Ban Tổ chức Trung ương tổ chức Hội nghị tổng kết công tác năm 2012 và triển khai nhiệm vụ năm 2013. Đồng chí Tô Huy Rứa, Uỷ viên Bộ Chính trị, Bí thư Trung ương Đảng, Trưởng Ban Tổ chức Trung ương dự và phát biểu chỉ đạo. Tạp chí Xây dựng Đảng trân trọng giới thiệu bài phát biểu này.

Thưa các đồng chí đại biểu, thưa toàn thể Hội nghị!

Hôm nay, Đảng bộ cơ quan Ban Tổ chức Trung ương tổ chức Hội nghị đảng viên để tổng kết công tác năm 2012 và triển khai nhiệm vụ năm 2013, năm giữa nhiệm kỳ thực hiện Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng.

Qua nghe tóm tắt dự thảo Báo cáo do Đảng uỷ chuẩn bị trình Hội nghị Đảng bộ, Lãnh đạo ban nhất trí với những đánh giá về kết quả đạt được của Đảng bộ trong năm 2012. Hội nghị cán bộ chủ chốt và Hội nghị cán bộ, công chức của cơ quan đã khẳng định: Năm qua, Ban Tổ chức Trung ương đã tổ chức triển khai thực hiện tương đối toàn diện, đồng bộ một khối lượng công việc lớn, yêu cầu đòi hỏi cao, trong thời gian ngắn nhưng chúng ta hoàn thành có chất lượng, được Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư đánh giá tốt, được các ban, ngành Trung ương và các địa phương, cũng như dư luận chia sẻ, đồng tình và ghi nhận. Cơ quan Ban Tổ chức Trung ương nội bộ đoàn kết, đa số cán bộ, công chức hăng hái, nhiệt tình và năng động sáng tạo trong thực hiện chức năng, nhiệm vụ được giao. Đạt được kế quả đó, trước hết là do Ban ta có Đảng bộ, có các chi bộ, có đội ngũ đảng viên vững mạnh. Đảng bộ thường xuyên làm tốt công tác chính trị, tư tưởng, tạo sự đồng thuận, đoàn kết, thống nhất trong toàn cơ quan, hướng tới thực hiện tốt nhiệm vụ chính trị.

Với nhiệm vụ chủ trì nghiên cứu, tham mưu xây dựng, ban hành Nghị quyết Trung ương 4 (khoá XI) “Một số vấn đề cấp bách về xây dựng Đảng hiện nay” cũng như theo dõi, đôn đốc việc thực hiện giúp các chi bộ và từng đảng viên, cán bộ của Ban về sự gương mẫu làm tốt hơn việc thực hiện nghị quyết Trung ương 4. Việc kiểm điểm tự phê bình và phê bình của tập thể, cá nhân Lãnh đạo Ban, Ban Thường vụ Đảng uỷ, các tập thể chi uỷ và toàn thể đảng viên trong Đảng bộ đã thực sự là đợt sinh hoạt chính trị sâu rộng, với thái độ nghiêm túc, thẳng thắn, cầu thị, chỉ tõ những mặt hạn chế, khuyết điểm, từ đó đề ra biện pháp sửa chữa, khắc phục để cùng nhau tiến bộ, góp phần xây dựng Đảng bộ và từng chi bộ trong sạch, vững mạnh.

Lãnh đạo Ban hoan nghênh, đánh giá cao và cảm ơn sự đóng góp tích cực và hiệu quả của Đảng bộ cơ quan.

Tuy  nhiên, chúng ta cũng còn nhiều điều thiếu sót, hạn chế và khuyết điểm như Báo cáo tổng kết của Ban và của Đảng bộ đã nêu. Năm 2013 lại là năm công việc rất nhiều, đòi hỏi vẫn rất cao và thời gian triển khai thực hiện đối với từng công việc không nhiều. Lãnh đạo Ban mong muốn Đảng bộ tiếp tục phát huy truyền thống đoàn kết, đồng thời có những đổi mới tích cực, hiệu quả, tạo khí thế mới và chuyển biến rõ nét hơn nữa trên tất cả các mặt công tác.

Trước hết, cán bộ, đảng viên của Đảng bộ phải làm rõ tốt việc nêu gương trong thực hiện các nghị quyết, chỉ thị, quy định, quy chế của Trung ương, nhất là trong lĩnh vực công tác tổ chức xây dựng đảng. Từng đồng chí phải chủ động nghiên cứu, học tập, quán triệt sâu sắc các chỉ thị, nghị quyết của Đảng, nói đi đôi với làm, vận dụng sáng tạo, linh hoạt vào từng lĩnh vực công tác được giao, góp phần thúc đẩy hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ chính trị cơ quan.

Thứ hai, tiếp tục nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức của cơ quan cả về trình độ, năng lực chuyên môn, khả năng nghiên cứu lý luận, tổng kết thực tiễn, phát hiện đức tính tốt, cả về phẩm chất chính trị, đạo đức, lối sống và dũng khí của người cán bộ tổ chức để tham mưu, đề xuất những chủ trương, biện pháp đúng và trúng, đáp ứng được đòi hỏi của công tác xây dựng đảng hiện nay.

Tôi đề nghị Đảng bộ, nhất là các đồng chí trong Đảng uỷ, Ban Thường vụ Đảng uỷ và các chi uỷ cần chủ động hơn trong nghiên cứu, đề xuất để cùng lãnh đạo Ban, lãnh đạo các vụ, đơn vị làm tốt công tác nội bộ, khắc phục sớm những hạn chế của đội ngũ cán bộ, công chức cơ quan, như báo cáo tổng kết của Đảng uỷ đã chỉ ra. Trước mắt, tập trung nâng cao tinh thần trách nhiệm, tự giác học tập và làm theo tấm gương đạo đức Bác Hồ. Nâng cao chất lượng công tác tuyển chọn cán bộ, bố trí, sử dụng đội ngũ cán bộ, kịp thời đào tạo, bồi dưỡng, bổ sung kiến thức và phẩm chất đối với những đồng chí mới về Ban công tác; tiến hành luân chuyển cán bộ giữa các vụ, đơn vị trong Ban, luân chuyển cán bộ của Ban đến một số cơ quan làm công tác tổ chức ở Trung ương và địa phương để đào tạo nguồn cán bộ lâu dài.

Thứ ba, duy trì nghiêm túc và nâng cao chất lượng sinh hoạt đảng, nhất là đổi mới nội dung và hình thức sinh hoạt chi bộ, thiết thực hơn, hiệu quả hơn và có tính chiến đấu cao hơn.

Chúc Đảng bộ tiếp tục là hạt nhân chính trị, trung tâm đoàn kết nhất trí, là chỗ dựa tin cậy của Lãnh đạo Ban.

Nhân đây, chúng ta bày tỏ sự biết ơn sự lãnh đạo, sự cộng tác tích cực và hiệu quả của các ban, ngành mà trực tiếp là Đảng uỷ Khối các cơ quan Trung ương.

Chúc các đồng chí mạnh khoẻ, hạnh phúc, thành đạt và nhiều may mắn trong cuộc sống.

xaydungdang.org.vn

Tư tưởng Hồ Chí Minh về giáo dục – đào tạo

Bác Hồ thǎm đại biểu giáo viên toàn miền Bắc năm 1958.

Trong suốt cuộc đời hoạt động cứu nước, cứu dân của mình, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn coi trọng sự nghiệp giáo dục và vai trò, vị trí của người thầy. Nhiều lần Bác đã đi thăm các trường học, các hội nghị của ngành giáo dục, gửi và điện cho thầy giáo và học sinh. Mỗi lần như thế Bác đã có lời dạy chân tình.

Trước Cách mạng Tháng Tám, Người coi giáo dục là một bộ phận của công cuộc giải phóng dân tộc. Bản thân Người đã tích cực tham gia huấn luyện, đào đạo đội ngũ cán bộ cách mạng ngay từ khi trở về đất Quảng Châu (Trung Quốc): tổ chức lớp học, biên soạn tài liệu, trực tiếp giảng dạy. Người thực sự là một thầy giáo cách mạng đầu tiên. Nhiều học trò của Người sau đó cũng là những thầy giáo, những nhà giáo dục đi sâu vào phong trào quần chúng vừa dạy văn hóa, vừa tuyên truyền cách mạng cho đồng bào…

Cách mạng Tháng Tám thành công mở ra một kỷ nguyên mới cho dân tộc. trong hoàn cảnh mới, giáo dục trở nên hết sức quan trọng và cấp bách. Chính vì vậy, Hồ Chủ tịch đã đặt nhiệm vụ giáo dục ở hàng thứ hai trong khẩu hiệu “diệt giặc đói, diệt giặc dốt, diệt giặc ngoại xâm”. Người đánh giá rất cao đội ngũ giáo viên: “anh chị em là đội tiên phong trong sự nghiệp tiêu diệt giặc dốt. Anh chị em chịu cực khổ, khó nhọc, hi sinh phấn đấu để mở mang tri thức phổ thông cho đồng bào, để xây đắp nền văn hóa sơ bộ cho dân tộc”(1). Người nhắc nhở phải “chăm lo dạy dỗ con em của nhân dân thành người công dân tốt, người cán bộ tốt của nước nhà”(2).

Thầy cũng như trò, cán bộ cũng như nhân viên phải thật thà yêu nghề mình. “Còn gì vẻ vang hơn là nghề đào tạo những thế hệ sau này tích cực góp phần xây dựng CNXH và CNCS? Người thầy giáo tốt – thầy giáo xứng đáng là thầy giáo, là người vẻ vang nhất. Dù là tên tuổi không đăng trên báo, không được thưởng huân chương, song những người thầy giáo tốt là những anh hùng vô danh. Đây là một điều rất vẻ vang. Nếu không có thầy giáo dạy dỗ cho con em nhân dân thì làm sao mà xây dựng CNXH được? Vì vậy nghề thầy giáo rất là quan trọng, rất là vẻ vang, ai có ý kiến không đúng về nghề thầy giáo thì phải sửa chữa”(3). Người phân biệt rõ vị trí khác nhau của người thầy trong xã hội cũ và xã hội mới. Xưa nghề thầy giáo là gõ đầu trẻ để kiếm cơm ăn, nay là sự nghiệp quan trọng “trăm năm trồng người”, để thực hiện nhiệm vụ nặng nề và cao cả đó, người thầy phải có năng lực phẩm chất cao, phải có lòng yêu nghề, yêu trẻ, phải “làm kiểu mẫu về mọi mặt: tư tưởng, đạo đức, lối làm việc”(4).

Để làm tốt công việc giảng dạy của mình, người giáo viên còn phải hình thành cho mình hàng loạt những năng lực sư phạm khác như năng lực dạy học, năng lực ngôn ngữ, năng lực tổ chức, năng lực giao tiếp…

Trong Đại hội chiến sĩ thi đua toàn Ngành Giáo dục ngày 21-2-1956, Bác đã ân cần căn dặn: “Các cô, các chú là những thầy giáo, những cán bộ giáo dục đều phải luôn luôn cố gắng học thêm, học chính trị, học chuyên môn. Nếu không tiến bộ mãi thì sẽ không theo kịp đà tiến chung, sẽ trở thành lạc hậu”(5).

Tại buổi nói chuyện chỉnh huấn giáo viên phổ thông toàn miền Bắc, năm 1958, Người đã nhắc lại câu “giáo bất nghiêm, sư chi đọa” – dạy không nghiêm là do thầy lười nhác.

Để nhắc nhở trách nhiệm cao cả, đáng trân trọng của người thầy, Người căn dặn: “Vì lợi ích mười năm thì phải trồng cây. Vì lợi ích trăm năm thì phải trồng người”(6). Khắc ghi lời Bác dặn, kế thừa truyền thống “tôn sư trọng đạo” của dân tộc, Đảng và Nhà nước ta đã có những quyết sách nhằm phát huy mọi tiềm năng của con người, trong đó có đội ngũ thầy, cô giáo và những người làm công tác quản lý giáo dục. Nguồn lực giáo dục, đào tạo trước hết là nguồn lực con người, trong đó thầy cô giáo và cán bộ quản lý giáo dục là nguồn lực quan trọng nhất. Luật Giáo dục được Quốc hội thông qua ngày 11-12-1998 đã ghi rõ: “Mục tiêu giáo dục là đào tạo con người phát triển toàn diện có đạo đức, trí tuệ, sức khoẻ, thẩm mỹ và nghề nghiệp, trung thành với lý tưởng độc lập dân tộc và CNXH, hình thành và bồi dưỡng nhân cách, phẩm chất, năng lực của công dân, đáp ứng yêu cầu xây dựng và bảo vệ Tổ quốc”. Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng xác định “Giáo dục và đào tạo có sứ mệnh nâng cao dân trí, phát triển nguồn nhân lực, bồi dưỡng nhân tài, góp phần quan trọng phát triển đất nước, xây dựng nền văn hoá và con người Việt Nam. Phát triển giáo dục và đào tạo cùng với phát triển khoa học và công nghệ là quốc sách hàng đầu; đầu tư cho giáo dục và đào tạo là đầu tư phát triển. Đổi mới căn bản và toàn diện giáo dục và đào tạo theo nhu cầu phát triển của xã hội; nâng cao chất lượng theo yêu cầu chuẩn hoá, hiện đại hoá, xã hội hoá, dân chủ hoá và hội nhập quốc tế, phục vụ đắc lực sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Đẩy mạnh xây dựng xã hội học tập, tạo cơ hội và điều kiện cho mọi công dân được học tập suốt đời”(7).

Trong giai đoạn hiện nay, đất nước ta đang trong thời kỳ đổi mới, đẩy mạnh CNH, HĐH và hội nhập kinh tế quốc tế. Do đó, sự nghiệp giáo dục – đào tạo càng trở nên quan trọng. Trước những đòi hỏi đó, vai trò của người thầy càng có ý nghĩa. Sứ mệnh, nhiệm vụ của những nhà giáo hơn lúc nào hết rất nặng nề và người thầy cần phải tạo dựng cho mình những phẩm chất và năng lực nhằm cống nhiến nhiều hơn nữa cho Tổ quốc nói chung, sự nghiệp giáo dục – đào tạo nói riêng.

Để thực hiện được lời dạy cuả Bác, người thầy cần phải đẩy mạnh việc nghiên cứu khoa học, phải luôn tìm tòi, sáng tạo không ngừng để tiếp nối một cách xứng đáng thế hệ những người đi trước, không ngừng rèn luyện, hoàn thành tốt vai trò thiêng liêng đối với xã hội. Đồng thời đổi mới nội dung, phương pháp giảng dạy, phải năng động, sáng tạo, linh hoạt, có phương pháp làm việc khoa học, có ý chí vượt khó và đặc biệt phải có tâm huyết với nghề nghiệp mà mình đã lựa chọn. Người thầy không thể tự bằng lòng với những kiến thức đã có mà phải nâng cao, vươn xa hơn về nhận thức, tiếp cận tốt hơn với phương pháp giảng dạy tích cực nhằm tạo ra những “sản phẩm” tốt đáp ứng có hiệu quả nhu cầu của xã hội, của công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, CNH, HĐH đất nước.

Trần Văn Hạnh
3CB-36 -Tam Phước – TP. Biên Hoà – Đồng Nai
xaydungdang.org.vn

————————–

(1). Hồ Chí Minh, Toàn tập, tập 4, Nxb CTQG, H,2001, tr.220. (2). Hồ Chí Minh, Toàn tập, tập 7, Nxb CTQG, H,2001, tr.501. (3).Hồ Chí Minh, Toàn tập, tập 11, Nxb CTQG H, 2001, tr.329-330. (4). Hồ Chí Minh, Toàn tập, tập 6, Nxb CTQG, H,2001, tr.46. (5).Hồ Chí Minh, Toàn tập, tập 8, Nxb CTQG, H,2001, tr.126-127. (6) Hồ Chí Minh, Toàn tập, tập 9, Nxb CTQG, H,2001, tr.222. (7).Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Nxb CTQG, H, 2011, tr.77.

Phải ra sức chống hạn

Lời của Bác - Lời của non sôngNgày 4-12-1959, trên Báo Nhân dân số 2088, trong bài “Phải ra sức chống hạn”, Bác Hồ viết:

“Dù cho hạn hán khắp nơi/Người mà quyết chí thì trời phải thua/Không mưa mà vẫn được mùa”.

Sinh thời, Bác Hồ rất quan tâm đến công tác phòng, chống hạn hán. Trong nhiều bài phát biểu, bài viết, Người thường xuyên nhắc đến hai từ “hạn hán”. Người gọi hạn là “giặc hạn” để kêu gọi mọi lực lượng, mọi lứa tuổi ở từng địa phương đều phải tham gia chống hạn: Mỗi người phải ra sức chống hạn. Ai ai cũng thi đua tham gia chống hạn. Các cụ già có kinh nghiệm, thanh niên có sức lực làm đầu tàu. Các cháu thiếu nhi ra đồng động viên, nấu nước cho đồng bào uống. Mỗi người một tay, già trẻ góp sức, nhất định chống hạn thắng lợi.

Cuối năm 1959, thiên tai, hạn hán diễn ra ở nhiều nơi trên miền Bắc, ảnh hưởng đến sản xuất vụ chiêm xuân của bà con nông dân. Song song với việc chỉ đạo các bộ, ngành giúp bà con nông dân chống hạn, Bác đã viết bài báo “Phải ra sức chống hạn” để tuyên truyền rộng rãi trong nhân dân, nhắc nhở từng địa phương phải đặc biệt quan tâm tới mùa màng. Người nêu việc, nhiều địa phương trong cả nước mặc dù bị thiên tai nhưng vẫn được mùa. “Đó là vì đồng bào nông dân và cán bộ ta đã quyết tâm chống hạn”.

Sau khi gặt xong vụ mùa thắng lợi, thời tiết khô hạn kéo dài, nhiều nơi thiếu nước cho sản xuất vụ chiêm, vì thế, Bác nêu rõ: “Chúng ta phải ra sức làm thủy nông nhỏ và quyết tâm tìm mọi cách chống hạn. Các hợp tác xã và tổ đổi công phải hăng hái làm chủ lực. Thanh niên phải là những đội đột kích xung phong. Bộ đội phải cố gắng giúp sức. Toàn thể đảng viên ở nông thôn phải gương mẫu. Cán bộ từ tỉnh đến xã phải  xem xét tận đồng ruộng, phải cùng quần chúng bàn bạc, đặt kế hoạch cho sát và theo dõi đôn đốc, chu đáo liên tục. Như thế thì chúng ta nhất định đánh thắng giặc hạn và bảo đảm vụ chiêm thắng lợi”.

Thực hiện lời dạy của Bác, Đảng, Nhà nước ta rất chú trọng phát triển nông nghiệp, với nhiều chủ trương, giải pháp phòng, chống thiên tai nhằm tăng năng suất cây trồng. Các tỉnh đã cơ bản xây dựng các hồ chứa nước lớn; xây dựng hàng nghìn công trình thuỷ lợi, trong đó có nhiều công trình quy mô lớn góp phần nâng cao năng lực phòng, chống, giảm nhẹ thiên tai.

Những lời dạy của Bác về công tác phòng, chống hạn hán đến nay vẫn còn nguyên giá trị trong công cuộc phòng, chống thiên tai, bảo vệ môi trường.

Theo Báo Hải Dương online
Huyền Trang (st)

bqllang.gov.vn

Rèn luyện tu dưỡng đạo đức suốt đời

Việt Nam - Hồ Chí MinhNgày 26-12-1963, Bác thăm và chúc Tết Hội đồng Chính phủ đang họp phiên cuối năm.

Bác nhắc nhở các thành viên trong Chính phủ phải làm tốt ba Cuộc vận động lớn do Đảng và Chính phủ đã phát động, đặc biệt là Cuộc vận động “3 xây, 3 chống”. Người nói: “Hiện nay, chúng ta làm 3 xây, 3 chống còn kém. Anh chị em công nhân và nhân viên ở cơ sở thì rất hăng hái, nhưng từ cấp giám đốc lên đến bộ trưởng, thứ trưởng thì còn nhiều người chưa chuyển, cho nên có chỗ cuộc vận động bị tắc lại. Bây giờ phải làm 3 xây, 3 chống cả hai chiều, từ dưới lên và từ trên xuống. Bản thân các đồng chí bộ trưởng, thứ trưởng, các cán bộ lãnh đạo phải 3 xây, 3 chống. Hơn ai hết, người lãnh đạo phải nhận rõ cuộc vận động 3 xây, 3 chống này rất quan trọng để làm cho tốt”.

Người yêu cầu các Bộ trưởng, Thứ trưởng và cán bộ lãnh đạo “phải luôn gương mẫu về mọi mặt, phải nêu gương sáng về đạo đức cách mạng: Cần kiệm liêm chính, chí công vô tư, phải giữ gìn tác phong gian khổ phấn đấu, phải không ngừng nâng cao chí khí cách mạng trong công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc. Có như thế mới xứng đáng với đồng bào miền Nam đang chiến đấu vô cùng anh dũng chống đế quốc Mỹ và tay sai của chúng để giải phóng miền Nam và hoà bình thống nhất nước nhà”. Người khẳng định: “Nhân dân ta rất tốt. Nếu chúng ta làm gương mẫu và biết lãnh đạo thì bất cứ công việc gì khó khăn đến đâu cũng nhất định làm được”.

Bác Hồ đã phát động cuộc thi đua “3 xây, 3 chống”, viết sách “Người tốt, việc tốt” để tuyên truyền, giáo dục đạo đức, lối sống. Người cho rằng, muốn xây dựng đạo đức mới thì xây phải đi đôi với chống. Cùng với việc xây dựng đạo đức mới, bồi dưỡng những phẩm chất tốt đẹp, nhất thiết phải chống những biểu hiện phi đạo đức, sai trái, xấu xa, trái với những yêu cầu của đạo đức mới, đó là “chủ nghĩa cá nhân”.

Bác khẳng định, đạo đức cách mạng phải qua đấu tranh, rèn luyện bền bỉ mới thành, “phải rèn luyện, tu dưỡng đạo đức suốt đời”. Người viết: “Đạo đức cách mạng không phải trên trời sa xuống. Nó do đấu tranh, rèn luyện bền bỉ hằng ngày mà phát triển và củng cố. Cũng như ngọc càng mài càng sáng, vàng càng luyện càng trong”.

Học tập và làm theo những nguyên tắc, chuẩn mực đạo đức mà Người đã chỉ ra chính là biện pháp quan trọng để mọi cán bộ, đảng viên và tổ chức Đảng sửa chữa, khắc phục tình trạng suy thoái về đạo đức.

Theo Báo Hải Dương online
Huyền Trang (st)

bqllang.gov.vn

Tổng thống nước Cộng hòa Argentina đặt hoa tưởng niệm các Anh hùng liệt sĩ và vào Lăng viếng Chủ tịch Hồ Chí Minh

3. tong thong a1
Tổng thống nước Cộng hòa Argentina vào Lăng viếng Chủ tịch Hồ Chí Minh

Nhận lời mời của Chủ tịch nước Trương Tấn Sang, Tổng thống nước Cộng hòa Argentina Cristina Fernandez de Kirchner sang thăm chính thức Việt Nam từ ngày 18-21/1/2013. Trong khuôn khổ chuyến thăm này, sáng 21/1/2013, Tổng thống và Đoàn đại biểu cấp cao nước Cộng hòa Argentina đã đến đặt hoa tưởng niệm các Anh hùng liệt sĩ Việt Nam và vào Lăng viếng Chủ tịch Hồ Chí Minh tại Lăng của Người. Vòng hoa của Đoàn mang dòng chữ: “Tổng thống nước Cộng hòa Argentina kính viếng.”

Chuyến thăm của Tổng thống Argentina Kirchner tới Việt Nam mang ý nghĩa rất lớn bởi hai nước đã đi qua chặng đường 40 năm thiết lập quan hệ ngoại giao, con đường tuy chưa dài nhưng đã có nhưng bước tiến lớn. Quan hệ giữa hai nước đã ở một tầm cao mới, vì thế chuyến thăm nhân dịp này đã được cả hai bên đón chờ. Tiềm năng hợp tác giữa Việt Nam và Argentina rất lớn, hai nước có những hoàn cảnh tương đồng nhưng đồng thời lại có khả năng bổ sung cho nhau, đặc biệt là có mục tiêu phát triển giống nhau.

3. tong tong a2
Tổng thống nước Cộng hòa Argentina đặt hoa tưởng niệm các Anh hùng liệt sĩ Việt Nam

Chuyến thăm lần này của Tổng thống nhằm tăng cường quan hệ hữu nghị, hợp tác giữa hai nước trong các lĩnh vực thương mại, đầu tư, nông nghiệp, năng lượng, khoa học – công nghệ, y tế và giáo dục đào tạo. Đồng thời, tập trung trao đổi, hoạch định chính sách và thông qua những biện pháp để thúc đẩy các mối quan hệ này.

Lan Hương
bqllang.gov.vn

Tư tưởng Hồ Chí Minh về kỷ luật quân sự

Kỷ luật quân sự được hiểu là một hình thức đặc biệt của kỷ luật mà đặc trưng của nó được quyết định bởi tính chất của hoạt động quân sự. Kỷ luật quân sự đòi hỏi những người thực hiện nghĩa vụ quân sự tính tập trung, chính xác, tinh thần chấp hành triệt để vô điều kiện, tự chủ, kịp thời, nhanh chóng thực hiện tốt nhất mệnh lệnh, chỉ thị của người chỉ huy. Khi nói về ý nghĩa của kỷ luật với tư cách là một phương tiện quan trọng nhằm nâng cao năng lực chiến đấu của quân đội, V.I.Lênin viết: “Nếu suy nghĩ đến cùng, do nguyên nhân sâu xa mà có được cái kỳ tích lịch sử là một nước suy yếu, bị kiệt quệ và lạc hậu lại chiến thắng được những nước hùng cường nhất thế giới, thì chúng ta thấy nguyên nhân đó là chế độ tập trung, kỷ luật và tinh thần hy sinh chưa từng có” [i].

Là người khai sinh Quân đội nhân dân Việt Nam, Bác luôn dày công chăm lo, rèn luyện và giáo dục quân nhân trong mọi lĩnh vực, nhất là tính kỷ luật. Kế thừa một cách khoa học, sáng tạo chủ nghĩa Mác- Lênin, trong quá trình giáo dục, rèn luyện Quân đội ta, Bác chỉ rõ: “Bộ đội không có kỷ luật, đánh giặc nhất định thua” [ii] hay “Quân đội mạnh là nhờ giáo dục khéo, nhờ chính sách đúng và nhờ kỷ luật nghiêm. Vì vậy, kỷ luật phải nghiêm minh” [iii]Trong nội dung xây dựng kỷ luật quân đội, Người thường xuyên nhắc nhở cán bộ, chiến sĩ phải chăm lo xây dựng kỷ luật tự giác, nghiêm minh. Kỷ luật ấy phải xuất phát từ tính tự giác, tự nguyện của từng cá nhân và của cả tập thể.

Đối với Bác, để có kỷ luật tốt, trước tiên phải nâng cao trình độ tri thức về mọi phương diện cho cán bộ, chiến sĩ. Trong một lá thư gửi bộ đội, Bác dạy: “Quân nhân phải biết võ, phải biết văn. Võ như tay phải, văn như tay trái của quân nhân. Muốn biết thì phải thi đua học…” [iv].

Trong công tác giáo dục kỷ luật quân sự, Bác đặc biệt quan tâm đến giáo dục ý thức tổ chức kỷ luật cho sĩ quan, đặc biệt là cán bộ chủ trì đơn vị. Nói chuyện với đại biểu quân đội nhân dịp Tết Đinh Dậu, Bác nhắc nhở:“Trong quân đội cách mạng, cán bộ gương mẫu, phải chăm nom đến đời sống tinh thần, vật chất của chiến sĩ, phải gương mẫu học tập và giữ kỷ luật”.

Về phương pháp thực hành kỷ luật, Bác nhấn mạnh việc dùng vũ khí phê bình và tự phê bình trong việc quản lý và duy trì chấp hành kỷ luật. Bác dạy: “Người cán bộ muốn tốt thì phải có đạo đức cách mạng, phải biết phê bình và tự phê bình, phải biết kỷ luật”Phương pháp nêu gương được Bác coi là biện pháp hữu hiệu để hướng dẫn các hành vi về đạo đức và ý thức tổ chức kỷ luật cao. Trước hết là sự gương mẫu về hành vi kỷ luật của cán bộ sĩ quan. Theo Bác: “Giữ gìn kỷ luật, học tập kỹ thuật, luyện tập lập công, xung phong hãm trận, thân ái đoàn kết, nói tóm lại mỗi việc trong bộ đội, cán bộ đều phải làm  gương”.

Để duy trì kỷ luật, thưởng và phạt là quan trọng và cần thiết nhằm động viên trong mọi người giữ nghiêm kỷ luật. Trong quốc lệnh tháng 1-1946, Bác yêu cầu: “Phải nâng cao kỷ luật, giữ vững kỷ luật. Những cán bộ có ưu điểm thì phải khen thưởng; người làm trái kỷ luật thì phải phạt. Nếu không thưởng thì không có khuyến khích; nếu không có phạt thì  không giữ vững kỷ luật. Thưởng phạt nghiêm minh là cần thiết. 

Một phương pháp quản lý và thực hành kỷ luật có hiệu quả nhất theo lời dạy của Bác,  là từng người phải tự giác chấp hành nghiêm pháp luật Nhà nước, kỷ luật nghiêm của quân đội, mệnh lệnh chỉ thị của người chỉ huy. Bác nhắc nhở cán bộ: “…Phải khiêm tốn, nghiêm chỉnh. Phải giữ gìn tính chất trong sạch, chất phác của người chiến sĩ cách mạng… Giấu khuyết điểm thì khuyết điểm ngày càng nhiều… Mình phải tự đấu tranh với mình”.

Những tư tưởng của Người về xây dựng quân đội nói chung và tư tưởng về kỷ luật quân sự nói riêng luôn là kim chỉ nam cho quá trình nhận thức và thực hiện các nhiệm vụ của quân đội ta trong suốt chặng đường gần 70 năm qua.

Ths. Nguyễn Văn Công
Đồng Nai


[i] V.I. Lênin, Toàn tập, tập 40, Nxb Tiến bộ, 1978, tr.279.  [ii] Hồ Chí Minh, Toàn tập, tập 8, Nxb CTQG, H, 1996, tr.341. [iii] Sđd, tập6, tr.560.  [iv] Sđd, tập 5, tr.588.

xaydungdang.org.vn