Archive | 2012

“Cánh cụt cánh què” – kỷ niệm khó quên năm 1972

(VOV) – Bài hát có giai điệu, tiết tấu vui nhộn, vận dụng ngôn ngữ dân gian chế giễu, châm biếm không lực Hoa Kỳ.

Những ngày cuối năm 1972 không thể nào quên, người dân Hà Nội vợi đi nhiều vì sơ tán về các vùng lân cận. Nếu đứng ở ngã tư Quán Sứ – Tràng Thi (cạnh cơ quan Đài TNVN) thì nhìn rõ được nhà hát Lớn vì rất vắng người. Nhưng nếu ngước mắt nhìn lên cao thì thấy trên các nóc nhà cơ quan, bệnh viện, trường học… những chiến sĩ tự vệ và cả dân quân đang tập trung cao độ hướng tầm nhìn 8 hướng, cảnh giác với lũ giặc trời và sẵn sàng nhả đạn.

Các Ban Biên tập của Đài TNVN sơ tán về Quốc Oai (Hà Tây cũ), Đoàn Ca nhạc của Đài sơ tán lên Lương Sơn (Hòa Bình) chỉ để lại một số người trực chiến đấu và trực làn sóng phát thanh, nên càng vắng vẻ.

Bất chấp tiếng rít của máy bay và tiếng bom của Mỹ ném xuống bệnh viện Bạch Mai, khu dân cư Khâm Thiêm… trên nóc khu nhà 58 Quán Sứ, đội tự vệ vẫn căng mắt trực chiến ngày đêm, với nỗi căm thù và niềm tin tưởng nhân đôi. Sự “im lặng” ấy như báo hiệu một trận chiến căng thẳng sắp diễn ra.

Khi tiếng kẻng hối hả vang lên là tiếng “gừ gừ” nghe đều đều như tiếng xay lúa, càng lúc càng to dần. Rồi mặt đất bắt đầu rung lên, liên hồi, kéo theo những tiếng nổ rền. Đó là sự xuất hiện của máy bay B52.

Đêm nào cũng vậy, con “ngáo ộp” cứ lừ lừ đến và gây tội ác. Xen giữa những đợt ném bom đó, cứ khoảng 15 – 20 phút chúng lại cho 1 hoặc 2 chiếc máy bay F111, loại “cánh cụp cánh xòe” bay rất thấp, tiếng gầm rú man rợ. Chỉ một chiếc như thế cũng đủ cho cả thành phố phải thức giấc và lực lượng phòng không phải đánh trả.

Chúng cứ làm thế mãi, nên mọi người ngủ luôn dưới hầm. Đến sáng hôm sau, tin tức mà ai cũng muốn biết là chúng thả bom nơi nào? Điều quan trọng hơn nữa là có mấy chiếc B52 bị ta bắn rơi, bao nhiêu phi công Mỹ bị bắt. Bà con ta vui sướng hả hê vì chúng ta đã đứng vững và bắt giặc Mỹ phải đền tội, nhưng cũng đau xót vì bao nhiêu người vô tội bị sát hại, nhà cửa bị san bằng.

Những ngày ấy các nhạc sĩ Phạm Tuyên, Nguyễn An và tôi được phân công ở lại Hà Nội để thay đổi các chương trình ca nhạc và văn học nghệ thuật khi cần, phục vụ đồng bào và chiến sĩ ở cả hai miền Nam Bắc. Chúng tôi ăn ngủ và làm việc dưới căn hầm nhà hai tầng phía sau cơ quan.

Lúc nào cũng như con thoi chạy qua chạy lại giữa 58 Quán Sứ và 39 Bà Triệu, nơi biên tập và nơi truyền âm phát sóng. Tôi đã phóng xe đạp đến số 51 Trần Hưng Đạo để mời nhà văn Nguyễn Tuân đến đọc bài văn; hay đến số 4 Lý Nam Đế mời nhà thơ Thanh Tịnh đến đọc bài tấu vui…

Phòng thu “dã chiến” lúc đó đặt ở tầng 1 gần cổng chính của Đài. Đúng là “bận thì bận mà vui càng vui” như lời một bài dân ca thời ấy. Chứng kiến một không gian hào hùng đầy khí phách của Hà Nội, chúng tôi không ai bảo ai mỗi người đều cố gắng viết bài hát để thể hiện tình cảm của mình và đó cũng là trách nhiệm của một công dân với thời cuộc. Một cuộc thi đua thầm lặng nhưng không kém phần sôi nổi đã diễn ra.

Anh Phạm Tuyên viết rất nhanh bài “Hà Nội những đêm không ngủ” thể hiện tình cảm của người ở lại với người đi sơ tán đang tạm xa Thủ đô. Còn anh Nguyễn An cũng vừa hoàn thành xong bài “Tiếng hát của Hà Nội hôm nay” để báo tin với quân và dân cả nước rằng, mặc cho bom đạn Mỹ tàn phá Thủ đô ta, nhưng người Hà Nội vẫn vững vàng và luôn ngân vang tiếng hát chiến đấu và chiến thắng.

Cánh cụt cánh què
Nhạc và lời: Dân Huyền

Tối hôm 22/12, tôi đang ngồi nghe lại chương trình ca nhạc ngày thành lập quân đội thì Tổng biên tập Trần Lâm đến, ông hỏi đã xong được bài nào chưa? Anh Tuyên và anh An lần lượt khoe ngay và hát luôn. Ông Lâm rất vui và nhắc chúng tôi cần có thêm bài khái quát nói về trận “Điện Biên Phủ trên không” của Hà Nội ta và cũng đừng quên có thêm những bài “châm biếm” không lực Hoa Kỳ.

Các anh “phân công” luôn cho tôi viết. Tổng biên tập nói vui: “Đặt hàng đấy, cố lên nhé!”. Tôi đáp lễ bằng nụ cười “quyết tâm” nhưng không giấu được sự lo lắng về trình độ, bởi đây đâu phải là “đặt hàng” mà là “mệnh lệnh của trái tim”.

Viết châm biếm rất khó. Phải chọn được giai điệu, tiết tấu vừa vui nhộn vừa dễ hát. Phần lời cũng phải chế giễu chua cay, vận dụng được ngôn ngữ dân gian. Lúc đầu tôi định viết về B52, lấy chất liệu từ điệu “Bà Rí” (Bà rằng, Bà rí…), nhưng chất này tôi đã sử dụng trong bài “Voi nhiều, cỏ ít” rồi.

Lục lại trí nhớ hồi đi về Phú Thọ (đất Tổ Hùng Vương) thu thanh hát Xoan, hát Ghẹo, tôi bỗng nghĩ ngay đến điệu “Trống quân Đức Bác” (Trống quân, trống quýt, trống cò – Đứa nào lấy tớ, tớ cho quan tiền…). Tôi đang ngồi vào đàn để tìm những nốt nhạc dí dỏm nhất thì anh Tuyên bước vào nói như reo: “Ta bắn rơi F111 rồi!”.

Được dịp, tôi “bám” lấy nó rồi chạy vội lên phòng tin thời sự hỏi lại, mới biết tự vệ nhà máy xay Lương Yên trận địa dọc sông Hồng đã hợp đồng bắn hạ được máy bay “cánh cụp cánh xòe”. Thế là tôi “vớ” ngay bốn chữ ấy biến nó thành “cánh cụt, cánh què”. Như có động lực mới, cả lời và nhạc cùng lúc cứ thế mà “tuôn” ra:

“Cánh cụp, cánh cụp cụp với lại cánh xòe xòe
Bị đạn tầm thấp ta ghè hàng xâu
Mỹ khoe Mỹ mạnh Mỹ giàu (ái chà chà)
Cả cánh lẫn đầu xuống tận bùn đen
Giặc lái kinh hoàng mặt mũi nhọ nhem
Hễ đến đất này thì xác chúng bay nhiều thêm…”

Viết xong lời một, tôi vừa đàn vừa hát cho anh An nghe. Anh An nói nên thêm lời hai cho đủ ý và phong phú. Hễ “phang” thì phang cho “đã”. Viết mau lên để sáng mai xe giao liên đem cả 3 bài lên đoàn ca nhạc thu cho kịp. Thế là suốt đêm hôm ấy tôi hoàn thành xong lời hai:

“Cánh cụt, cánh cụt cụt với lại cánh què què
Kìa nhìn nó cháy bốn bề lửa vây
Đến đây vỡ mặt vỡ mày (ái chà chà)
Đã sẵn ruộng cày gốc rạ vùi thây
Còn đến nơi này còn chết lăn quay
Súng máy súng trường bủa lưới quyết tiêu diệt ngay!”

Tôi thở phào nhẹ nhõm, chép lại toàn bài và không quên ghi: Tốp nam hát. Sáng dậy nộp cho anh Tuyên để gửi lên Hòa Bình kịp dàn dựng.

Sáng 28/12 chúng tôi nhận được băng ghi âm 3 bài hát từ nơi sơ tán của đoàn ca nhạc gửi về. Trong chương trình ca nhạc 11h30 trưa hôm đó và các chương trình tiếp theo đã được truyền đi kịp thời trên làn sóng của Đài TNVN cùng những bài hát của các nhạc sĩ khác. Biết rằng bài hát “Cánh cụt cánh què” của tôi do nhạc sĩ Văn Cước phối khí, hai nghệ sĩ Đăng Khoa và Hữu Nội trình bày. Những mong muốn của tác giả đã được đáp ứng.

Sau chiến thắng “Điện Biên Phủ trên không” 20 ngày, tôi lại được lệnh cùng một bộ phận biên tập của Đài đi sơ tán cách Hà Nội hơn 300 km. Trong hành trang mang theo, tôi không quên những lá thư của thính giả đề nghị được nghe lại bài hát “Cánh cụt cánh què”. Họ động viên khích lệ, muốn tôi viết thêm những bài hát châm biếm bên cạnh những bài hát trữ tình ca ngợi.

Thấm thoắt đã 40 năm tròn sau trận “Điện Biên Phủ trên không” của quân và dân Hà Nội anh hùng, đã bắn rơi 32 máy bay của Mỹ có cả B52 và F111 trong 12 ngày đêm rực lửa.

Giữa những ngày kỷ niệm lịch sử này, xin được biết ơn những người đã ngã xuống vì Thủ đô, vì cả nước để chúng tôi được vinh dự có mặt trong ngày vui hôm nay./.

Nhạc sĩ Dân Huyền
vov.vn

Xây dựng ý chí quyết đánh, quyết thắng B-52 Mỹ

Hướng tới kỷ niệm 40 năm chiến thắng “Hà Nội – điện biên phủ trên không”:

Đại Tá, TS Nguyễn Thành Hữu

Khi Mỹ xâm lược Việt Nam và tiến hành chiến tranh phá hoại miền Bắc, chúng ta phải đương đầu trực tiếp với tên đế quốc mạnh nhất, thì ý chí quyết đánh và quyết thắng trở thành yếu tố quyết định để đánh bại cuộc chiến tranh phá hoại của Mỹ.

>> Cầu truyền hình “Bản hùng ca Hà Nội”

Trong lịch sử chiến tranh giữ nước, dân tộc ta luôn phải chống lại kẻ thù xâm lược có nền kinh tế và quân sự phát triển cao hơn ta, cho nên vấn đề xây dựng ý chí quyết đánh, quyết thắng có vị trí đặc biệt quan trọng. Chỉ có quyết đánh, quyết thắng mới tạo nên sức mạnh đánh thắng địch.

Khi Mỹ xâm lược Việt Nam và tiến hành chiến tranh phá hoại miền Bắc, chúng ta phải đương đầu trực tiếp với tên đế quốc mạnh nhất, thì ý chí quyết đánh và quyết thắng trở thành yếu tố quyết định để đánh bại cuộc chiến tranh phá hoại của Mỹ.

Xây dựng ý chí quyết đánh, quyết thắng B-52 cũng là yếu tố quyết định giành thắng lợi trong chiến dịch phòng không Hà Nội, Hải Phòng tháng 12/1972.

Ngày 12/4/1966, lần đầu tiên Mỹ cho B-52 đánh đèo Mụ Giạ – Quảng Bình rồi thường xuyên đánh phá Vĩnh Linh và chiến trường miền Nam. Bác Hồ đã trực tiếp giao cho Quân chủng Phòng không – Không quân (PK-KQ) nghiên cứu cách đánh B-52 và quyết tâm bắn rơi B-52 được đề ra từ đó.

Tháng 5/1966, Trung đoàn tên lửa 238 cơ động vào Vĩnh Linh nghiên cứu đánh B-52, tại đây, ngày 17/9/1967, đã bắn rơi chiếc B-52 đầu tiên. Và từ tháng 2/1968, Quân ủy Trung ương (QUTƯ) dự đoán Mỹ có thể dùng B-52 đánh vào Hà Nội, Hải Phòng và giao cho Quân chủng PK-KQ xây dựng kế hoạch tác chiến. Suốt thời gian sau đó nhiều đoàn cán bộ PK-KQ cùng một số trung đoàn tên lửa và biên đội không quân tiêm kích được đưa vào nghiên cứu cách đánh B-52 trên vùng trời Khu 4.

Đặc biệt tháng 4/1972, khi Mỹ cho B-52 đánh phá TP Vinh, TP Hải Phòng, thì ý chí quyết đánh và quyết thắng B-52 Mỹ trên bầu trời Hà Nội được thể hiện bằng một loạt việc triển khai công tác chuẩn bị. Đầu tiên phải nói đến Hội nghị chuyên đề đánh B-52 do Bộ Tổng tham mưu (BTTM) tổ chức ngày 6/7/1972 với sự tham gia của nhiều cơ quan, đơn vị.

Phải đánh trúng B-52, lời nói “chắc như đinh đóng cột” không chỉ của Tư lệnh Quân chủng PK-KQ mà là ý chí quyết tâm của cả Hội nghị. Tổng Tham mưu phó Phùng Thế Tài kết luận và chỉ thị cho các cơ quan, đơn vị đẩy mạnh nghiên cứu đánh B-52 bằng lực lượng, vũ khí hiện có của Quân chủng PK-KQ; đánh trúng, bắn rơi B-52 là nhiệm vụ cấp bách, là yêu cầu cao về quân sự, chính trị, ngoại giao; Quân chủng PK-KQ phải được chuẩn bị cho chiến thắng B-52.

Sau hội nghị, BTTM chỉ thị thực hiện gấp việc nghiên cứu và triển khai kế hoạch đánh B-52. Bộ Tư lệnh Quân chủng PK-KQ chủ trì biên soạn lý luận chiến thuật đánh B-52; Viện Kỹ thuật quân sự cử người tham gia; đồng thời Quân chủng PK-KQ nhanh chóng bổ sung ý kiến chỉ đạo để hoàn chỉnh kế hoạch và phương án tác chiến, kết hợp một cách hợp lý việc điều chỉnh bố trí lực lượng, biên soạn tài liệu huấn luyện và tiến hành tập huấn đánh B-52 trong các tình huống phức tạp

Bộ Tư lệnh Quân chủng chỉ thị cho cơ quan tham mưu cùng Bộ Tư lệnh các binh chủng khẩn trương hoàn chỉnh phương án đánh B-52 bảo vệ miền Bắc, chủ yếu là Hà Nội và Hải Phòng. Tổ nghiên cứu, biên soạn tài liệu “Cách đánh B-52″ được quân chủng gấp rút thành lập, làm việc không kể ngày đêm để sớm có tài liệu huấn luyện.

Đại tướng Võ Nguyên Giáp nghe Tổng Tham mưu phó Phùng Thế Tài và các đồng chí trong Bộ Tư lệnh Quân chủng Phòng không – Không quân trình bày kế hoạch chống địch tập kích đường không bằng B-52 vào Hà Nội năm 1972.

Phương án đánh B-52 được nhanh chóng hoàn thành theo đúng kế hoạch. Các đơn vị tên lửa, rađa, pháo 100mm mở đợt huấn luyện đột kích nội dung và mục tiêu chủ yếu là đánh B-52. Bộ đội Không quân tích cực luyện tập theo phương án đánh B-52 trên năm hướng xung quanh Hà Nội. Phương án này được kết hợp chặt chẽ với hỏa lực của các binh chủng, cả vòng trong và vòng ngoài, kết hợp cơ động và yếu địa, tuyến trước và tuyến sau, trên không và mặt đất.

Tiếp tục nghiên cứu, tổng hợp quy luật hoạt động của không quân địch, xác minh tính năng kỹ chiến thuật của B-52 đối với các loại vũ khí của ta, BTTM giao cho Cục Tình báo chủ trì cùng Quân chủng PK-KQ, Viện Kỹ thuật quân sự khai thác thông tin từ giặc lái Mỹ; Cục Tình báo cung cấp kịp thời những tin tức, tư liệu liên quan đến B-52, phục vụ cho yêu cầu tác chiến của phòng không, không quân.

Đồng thời Quân chủng PK-KQ xúc tiến khẩn trương việc nghiên cứu cải tiến và sử dụng trang bị vũ khí, sử dụng rađa cũ kết hợp khí tài quang học với điện tử, điều chỉnh độ nhạy của đầu đạn tên lửa để có thể bắn rơi tại chỗ B-52. Cục Tình báo, Cục Quân lực, Bộ Tư lệnh Thông tin liên lạc cùng quân chủng giải quyết các vấn đề bảo đảm…

Tổng Tư lệnh, Đại tướng Võ Nguyên Giáp trực tiếp làm việc với Quân chủng, Tư lệnh các binh chủng Rađa, Tên lửa, Không quân, Sư đoàn trưởng Sư đoàn Phòng không Hà Nội xác định phương hướng tác chiến chiến dịch phòng không đánh B-52 bảo vệ Thủ đô.

Tháng 9/1972, BTTM chỉ đạo Bộ Tư lệnh Quân chủng PK-KQ bổ sung và hoàn thiện phương án mới đánh B-52; xác định những vấn đề cơ bản của nghệ thuật chiến dịch phòng không, phán đoán âm mưu, thủ đoạn, hướng và mục tiêu tiến công của địch, quyết định sử dụng lực lượng và cách đánh của ta; đồng thời chỉ đạo quân chủng khẩn trương xây dựng thế trận, điều chỉnh lực lượng, nhanh chóng hoàn thành mạng lưới phòng không ba thứ quân nhiều tầng, nhiều hướng, có trọng điểm vào hai khu vực Hà Nội và Hải Phòng.

Đầu tháng 10/1972, Đảng ủy Quân chủng PK-KQ ra nghị quyết tăng cường giáo dục cán bộ, chiến sĩ, quyết tâm bắn rơi nhiều máy bay Mỹ, kể cả B-52. Các binh chủng trong quân chủng mở hội nghị sơ kết rút kinh nghiệm xây dựng và chiến đấu 6 tháng đầu năm chống chiến tranh phá hoại lần thứ hai của đế quốc Mỹ; hội nghị chuyên đề bàn cách đánh B-52. Một số kinh nghiệm về chống nhiễu, phân biệt B-52 thật và giả trong tầm đánh, kết hợp đánh địch của lực lượng cơ động và tại chỗ được đúc kết làm cơ sở cho các binh chủng biên soạn tài liệu huấn luyện bộ đội.

Ngày 27/10/1972, Đảng ủy Quân chủng họp phiên bất thường, quán triệt tinh thần chỉ đạo của QUTƯ về tình hình nhiệm vụ mới và ra nghị quyết: “…kiên quyết bắn rơi B-52 tại chỗ, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ trong mọi tình huống…”.

Đầu tháng 11, Quân chủng PK-KQ cử cán bộ và một số kíp chiến đấu vào Nghệ An cùng Trung đoàn tên lửa 263 đánh B-52 và đêm 22/11 đã diệt được B-52 Mỹ; kinh nghiệm của trung đoàn được phổ biến đến các đơn vị. Tài liệu “Cách đánh B-52″ được bổ sung những chi tiết quan trọng.

Tiếp đó, BTTM và Quân chủng PK-KQ thống nhất phán đoán đường bay, hướng tập kích của địch; cho Binh chủng Rađa bố trí ưu tiên hướng chủ yếu… Ngày 24/11/1972, Tổng Tham mưu trưởng Văn Tiến Dũng phê chuẩn kế hoạch và lệnh cho quân chủng hoàn thiện công tác chuẩn bị chiến đấu trước ngày 3/12/1972.

Ngày 27/11/1972, Bộ Tổng Tư lệnh ra lệnh cho các lực lượng vũ trang miền Bắc tăng cường các mặt chuẩn bị chiến đấu; Quân chủng PK-KQ tập trung mọi khả năng tiêu diệt bằng được B-52 Mỹ. Ngày 3/12/1972, Quân chủng PK-KQ báo cáo “Mọi mặt công tác chuẩn bị đánh B-52 xong, quyết tâm của quân chủng kiên quyết không để bị bất ngờ, đánh rơi tại chỗ máy bay địch, kể cả B-52”.

Cựu chiến binh Sư đoàn Phòng không 361 gặp mặt nhân kỷ niệm 40 năm “Điện Biên Phủ trên không”

Sáng 15/12 tại Hà Nội, Ban liên lạc cựu chiến binh Sư đoàn Phòng không 361 đã tổ chức họp mặt. Sư đoàn 361 thành lập ngày 19/5/1965 với nhiệm vụ bảo vệ bầu trời Hà Nội. Trong chiến dịch 12 ngày đêm (tháng 12/1972), sư đoàn là lực lượng phòng không chủ lực bảo vệ Hà Nội, bắn rơi nhiều máy bay của Mỹ (trong đó có máy bay B-52), góp phần làm nên chiến thắng “Điện Biên Phủ trên không”. Ngày 15/1/1976, sư đoàn đã được phong tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân.

Các đại biểu dự gặp mặt dâng hương tưởng nhớ các anh hùng, liệt sĩ.

Cuộc gặp mặt có sự tham dự của những nhân chứng lịch sử, như Trung tướng Nguyễn Văn Phiệt, nguyên Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 57, Trung đoàn 261, nguyên Phó Tư lệnh Quân chủng Phòng không – Không quân, là đơn vị lập thành tích xuất sắc trong trận quyết chiến chiến lược “Điện Biên Phủ trên không”. Ông Phiệt từng là vị tướng nổi tiếng, khi trực tiếp bắn và chỉ huy bắn được 19 máy bay địch, trong đó có 4 máy bay B-52, trong 12 ngày đêm cuối năm 1972.

Một nhân chứng khác là Thiếu tướng, Anh hùng LLVTND Phạm Ngọc Lan, người phi công đầu tiên tiêu diệt máy bay Mỹ trong một trận không chiến đầy kịch tính ngày 3/4/1965, cùng sự hiện diện của những nhân chứng lịch sử, những người đã góp mặt vào bảng vàng thành tích của Quân chủng Phòng không – Không quân trong trận “Điện Biên Phủ trên không” nói riêng và sự nghiệp kháng chiến chống Mỹ, cứu nước nói chung.

Tại buổi gặp mặt, các cựu binh đã dâng hương tưởng nhớ 1.756 liệt sĩ của sư đoàn đã hy sinh trong sự nghiệp giải phóng đất nước và ôn lại truyền thống hào hùng của bộ đội phòng không không quân.

Duy Hiển


N.T.H. (Cán bộ nghiên cứu lịch sử Bộ Tổng tham mưu)
cand.com.vn

Cuộc chào đón dữ dội của tên lửa đất đối không

Chiến thắng trong cuộc chiến chống đợt tập kích bằng B52 vào Hà Nội và Hải Phòng 12 ngày đêm cuối năm 1972 đã ghi nhận nghệ thuật phòng không của quân đội ta khi đối đầu với không quân nhà nghề của Mỹ. Ngay trận mở đầu, 2 “siêu pháo đài bay” B52 đã bị bắn rơi tại chỗ trên bầu trời Hà Nội.

Chuẩn bị cho cuộc ném bom vào Hà Nội, Hải Phòng và một số địa phương trên miền Bắc, đế quốc Mỹ huy động lực lượng máy bay lớn chưa từng có, với hy vọng trận tấn công phủ đầu bất ngờ có thể hạ gục ý chí của một dân tộc, buộc Chính phủ ta phải ngồi vào bàn đàm phán và chấp nhận những điều kiện có lợi cho chúng. Tuy nhiên, mọi động thái của địch đều được ta theo dõi chặt chẽ. Từ sáng sớm ngày 18.12.1972, qua hệ thống thu tin của Bộ Tổng tham mưu, những dấu hiệu đầu tiên của cuộc tập kích đã được nhận diện. Vào 19h10, radar phát hiện từng tốp B52 bay dọc sông MeKong lên hướng bắc. Ngay sau đó, trước khi B52 đến, hàng loạt máy bay tiêm kích ào ạt tấn công dọn đường. Các đơn vị cao xạ của bộ đội phòng không và lực lượng tự vệ của Hà Nội đã nổ súng quyết liệt. Đến 19h40, những tốp B52 đầu tiên bắt đầu đánh phá sân bay Hòa Lạc, Nội Bài. Các đơn vị tên lửa Hà Nội lần đầu tiên đối mặt với “pháo đài bay” đã thấy rõ ngay tình huống hết sức phức tạp với dải nhiễu của B52 và tên lửa không đối đất của máy bay hộ tống. Từ Sở chỉ huy Quân chủng đến Sư đoàn Phòng không Hà Nội, những câu hỏi liên tục dội xuống: đã có tiểu đoàn nào bắn chưa? Đã nhìn thấy B52 chưa? Nhưng giờ phút đó vẫn chưa có đơn vị nào khai hỏa, bởi trên màn hiện sóng chỉ có một màu trắng xóa. Toàn bộ hệ thống gây nhiễu của kẻ thù được mở hết công suất, gây cho ta rất nhiều khó khăn. Trên các trận địa tên lửa, máy nổ ầm ầm, đạn đã lên nòng nhưng các chiến sỹ trắc thủ vẫn ngồi im lặng trong tâm trạng căng thẳng tột độ. Kẻ thù đang trút bom đạn xuống những ngôi nhà, đường phố thân yêu nhưng họ chưa thể ấn nút khai hỏa bởi nhiễu dày đặc.

Sau khi nắm bắt tình hình qua việc theo dõi hướng bay của địch, tiểu đoàn 78 (Sư đoàn Phòng không Hà Nội) quyết định phát sóng điều khiển cho dù các loại máy bay tiêm kích vẫn đang quần đảo trên đầu và bắn ầm ầm xung quanh, cả máy bay mang tên lửa chiến thuật không đối đất (Sơ-rai) chỉ chờ ta phát sóng là lao đến. Sóng phát lên, dù không nhìn rõ mục tiêu nhưng đã có thể phân biệt nhiễu của B52 so với các loại nhiễu khác, các chiến sỹ vẫn quyết định phóng đạn. Quả tên lửa đầu tiên của Hà Nội lao vút lên, hướng về phía kẻ thù, mở đầu cho trận đánh vang dội, đáp trả giọng điệu huênh hoang của địch về loại “pháo đài bay bất khả xâm phạm”. Lúc đó là 19h44 ngày 18.12.1972.

Sau quả đạn mở đầu của tiểu đoàn 78, các bệ phóng tên lửa khác cũng liên tiếp khai hỏa. Sự xuất hiện của “rồng lửa Thăng Long” hòa nhịp với tiếng súng của các trung đoàn cao xạ 212, 220, 221, 260 của Sư đoàn 361, tiếng súng tầm thấp các cỡ của lực lượng dân quân tự vệ Hà Nội tạo nên một không khí hào hùng. Một tên đại úy lái máy bay B52 thoát chết trong đêm 18.12.1972 khi về đến căn cứ đã tường thuật lại: “Cuộc chào đón dữ dội của tên lửa đất đối không… Khi những chiếc B52 đầu tiên tới vùng trời Hà Nội, tên lửa đất đối không bắn như pháo hoa lên máy bay chúng tôi. Từ khi vào mục tiêu, anh bạn xạ thủ của tôi đã đếm được 32 tên lửa SAM bắn vào hoặc ít ra cũng bay sát máy bay chúng tôi. Chiếc máy bay số 2 trong tổ bay mất liên lạc nhưng không ai có thì giờ tìm hiểu nó”.

Trận địa của các tiểu đoàn 57, 59, 93, 94 tạo thành một vòng cung phía bắc và đông bắc Hà Nội như lũy thép kiên cường. Chính từ lũy thép này, các chiến sỹ tiểu đoàn 59 trung đoàn 261 đã làm nên một chiến công lịch sử. Hồi 20h13 ngày 18.12.1972, chiếc máy bay B52G mang số hiệu 52122001 đã bị bắn tan xác trên bầu trời Hà Nội. Lần đầu tiên ở Việt Nam và cũng là lần đầu tiên trên thế giới, “siêu pháo đài bay” B52, từ độ cao trên 10.000m đã bị “rồng lửa Thăng Long” vít cổ xuống đất. Đây là chiến công có ý nghĩa vô cùng to lớn, chứng tỏ rằng tuy chưa được trang bị những vũ khí hiện đại nhất nhưng bằng lòng căm thù, bằng ý chí quyết tâm cùng sức mạnh của trí tuệ và lòng dũng cảm, chúng ta hoàn toàn có thể đánh bại được kẻ thù, vốn được trang bị những phương tiện, vũ khí hiện đại nhất lúc bấy giờ.

4h sáng ngày 19.12.1972, kíp chiến đấu của tiểu đoàn 77 (thuộc trung đoàn 257 tên lửa) vào trận và mở máy phát sóng. Chỉ một lát sau “mục tiêu!” tín hiệu B52 nổi lên quá rõ trên màn hình. Ngay lập tức tiểu đoàn trưởng ra lệnh: “Bám sát tự động!”. Sau khi ấn nút phóng tên lửa, tín hiệu vỡ tan, rơi lả tả rồi mất hẳn và lại thêm một chiếc B52 bị bắn rơi. Chỉ trong một đêm, 2 máy bay ném bom B52 được coi là tối tân, hiện đại nhất đã bị bắn tan xác, rơi ngay tại chỗ trên vùng trời Hà Nội.

Dù trận đầu tiên quân và dân ta chỉ bắn rơi tại chỗ 2 chiếc B52, nhưng đã tạo ra sức mạnh và niềm tin vô cùng to lớn cho những ngày chiến đấu sau này. Trận mở đầu vang dội. Chiến công đó khẳng định sức mạnh của lòng yêu nước, sức mạnh của trí tuệ con người trong đấu tranh chống lại cái ác, dù chúng có hung bạo và xảo quyệt đến đâu.

(Bài viết dựa theo hồi ký của Trung tướng Trần Nhẫn, nguyên Phó tư lệnh Sư đoàn Phòng không Hà Nội)

KHÁNH NGUYÊN
daibieunhandan.vn

Máy bay rơi… trên những con tem

QĐND – Có một bộ sưu tập tem đặc biệt về những chiếc máy bay Mỹ bị bắn rơi trên bầu trời miền Bắc của Trung tướng, Viện sĩ hàn lâm Xô-viết A.I. Khiu-lê-nhen. Xem bộ sưu tập của người bạn Xô-viết, người chơi tem được khám phá, cảm nhận rõ hơn về cuộc chiến đấu của quân và dân ta chống lại tội ác không lực Hoa Kỳ…

Con tem thứ hai trong bộ tem về sự kiện bắn rơi chiếc máy bay thứ 2.500. Ảnh chụp lại.

Trong những năm chiến đấu chống chiến tranh phá hoại miền Bắc của đế quốc Mỹ, quân và dân ta đã bắn hạ hơn 4000 máy bay Mỹ các loại. Đặc biệt, trong chiến dịch 12 ngày đêm “Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không” tháng Chạp năm 1972, hàng chục “Pháo đài bay” B -52 – biểu tượng uy lực của không quân Mỹ và các loại máy bay tiêm kích hiện đại bậc nhất của Mỹ, đã bị bắn tan xác. Là người có một thời gian dài giúp đỡ Việt Nam, Trung tướng, Viện sĩ hàn lâm Xô -viết A.I. Khiu -lê-nhen đã sưu tầm được bộ tem đặc biệt về sự thất bại của không quân Mỹ, giai đoạn từ năm 1964 đến năm 1973 trên bầu trời miền Bắc Việt Nam.

Bộ sưu tập tem gần như tái hiện đầy đủ từng giai đoạn lịch sử, từng chiến công tiêu biểu của quân và dân ta trong cuộc chiến đấu chống chiến tranh phá hoại miền Bắc của Mỹ. Từ sự kiện bắn rơi chiếc máy bay thứ 500 được in lên tem, đến con tem in sự kiện quân và dân ta bắn hạ chiếc máy bay thứ 4000. Trong đó con tem: O du kích nhỏ giương cao súng / Thằng Mỹ lênh khênh bước cúi đầu được phát hành năm 1967, ghi dấu chiến công của quân và dân ta bắn rơi chiếc máy bay thứ 2000, đã trở thành con tem được “đi” đến nhiều nước nhất. Đặc biệt, trong số máy bay Mỹ bị bắn hạ trên bầu trời miền Bắc, thì chiếc máy bay thứ 2.500 đã được phát hành tới 2 con tem. Một con tem mô phỏng chiếc máy bay đang tan rã rơi thẳng xuống mặt đất; con tem thứ hai là cảnh xác chiếc máy bay đang bốc cháy ngùn ngụt trên bầu trời… Con tem về chiến công tiêu diệt chiếc máy bay thứ 3.500 vẽ hình tên phi công Mỹ mặc trang phục tù binh bại trận gục mặt xuống nhìn xác chiếc máy bay tan nát thảm hại như một đống sắt vụn. Con tem phát hành nhân sự kiện bắn hạ chiếc máy bay thứ 4000 lại minh họa hình ảnh của những chiến sĩ pháo cao xạ ngước mắt bám sát máy bay địch trên bầu trời…

Những con tem in hình máy bay Mỹ bị bắn rơi trên miền Bắc, giai đoạn từ (1964- 1973). Ảnh chụp lại.

Được biết, bộ sưu tập tem quý giá này đang được trưng bày trang trọng trong “phòng truyền thống” tại nhà riêng của Trung tướng -Viện sĩ A.I. Khiu -lê-nhen, tại thành phố Xanh Pê -téc-bua của Liên bang Nga. Trong cuốn hồi ký “Những điều không thể quên ở Việt Nam” được xuất bản năm 2008, bộ sưu tập tem của ông đã được thể hiện khá đầy đủ và trang trọng trong cuốn sách. Cựu chiến binh Nguyễn Quang Hùng, nguyên là sĩ quan chỉ huy điều khiển, thuộc Trung đoàn Tên lửa 236 là người chỉ huy trực tiếp bắn rơi chiếc máy bay thứ 2.500 trên bầu trời Hà Nội ngày 6-11-1967. Được xem bộ sưu tập tem trên đây trong cuốn hồi ký “Những điều không thể quên ở Việt Nam”, ông Nguyễn Quang Hùng xúc động nói: “Bộ tem có giá trị đặc biệt với chúng ta, dù là hình ảnh thì đó là một kỷ vật, một tài sản tinh thần có ý nghĩa rất lớn”. Năm 2008, Trung tướng, Viện sĩ hàn lâm Xô -viết A.I. Khiu -lê-nhen đến thăm những người bạn Việt Nam, đã chia sẻ cùng cựu chiến binh Nguyễn Quang Hùng: Đã có nhiều nhà sưu tầm tem thích thú hỏi mua lại với giá cao, nhưng với ông, bộ sưu tập là tài sản vô giá, là kỷ vật, tinh thần, tình cảm của ông với quân và dân Việt Nam. Vì vậy, ông không thể bán với bất kỳ giá nào…

Thú vui chơi tem đã có từ rất lâu, nhưng với những con tem ghi dấu những chiến công bắn rơi máy bay Mỹ trên đây, thì không chỉ là sự thỏa mãn yêu cầu về thưởng thức nghệ thuật mà còn là sự khám phá, tìm hiểu về lịch sử của dân tộc Việt Nam “lấy nhỏ thắng lớn, lấy ít địch nhiều”. Với “nhà sưu tập” A.I. Khiu -lê-nhen, thì đây không đơn thuần chỉ là “sưu tập tem”, mà còn là tình cảm của một người bạn Nga đối với nhân dân Việt Nam anh hùng và nhân hậu.

NGUYỄN VĂN HẠNH
qdnd.vn

“Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không”: Chiến thắng của trí tuệ và bản lĩnh Việt Nam

(ĐCSVN) – Bốn mươi năm đã trôi qua, nhưng chiến thắng “Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không” đã đi vào lịch sử dân tộc như một chiến thắng chói lọi, một kỳ tích vô song của thế kỷ XX. Chiến thắng vĩ đại này là sự minh chứng hùng hồn về sức mạnh của văn hóa Việt Nam, là chiến thắng của ý chí, bản lĩnh khí phách Việt Nam, chiến thắng của lòng tự hào, tự tôn, tự trọng của đức hy sinh cao thượng Việt Nam.

Theo lệnh của Tổng thống Nixon, từ tháng 11 năm 1972 Lầu Năm góc đã chính thức xây dựng kế hoạch cho cuộc tập kích đường không chiến lược mang tên “Cuộc hành binh Lai-nơ-bêch-cơ II”. Theo kế hoạch này Nhà trắng và Lầu Năm góc đã huy động một lực lượng vũ khí kỹ thuật khổng lồ và hiện đại bậc nhất của không quân và hải quân Mỹ. Đây là cuộc huy động lực lượng tập kích đường không lớn nhất của đế quốc Mỹ kể từ sau Đại chiến thế giới lần thứ hai đến năm 1972, trong đó gần 50% tổng số máy bay B52 hiện có (193/404). Hơn 1/3 tổng số máy bay chiến thuật (cả tiêm kích và cường kích (1077/3041 chiếc trong đó có 01 biên đội F111 với 50 chiếc) chưa kể hàng trăm máy bay trinh sát, máy bay gây nhiễu, máy bay tiếp dầu, máy bay chỉ huy liên lạc dẫn đường; 1/4 tổng số tàu sân bay của toàn nước Mỹ (6/24 chiếc), 60 tàu chiến các loại của Hạm đội 7. Các máy bay B52 xuất phát từ 02 sân bay Guyam và Utupao (Thái Lan). Các máy bay chiến thuật xuất phát từ 6 tàu sân bay đậu trên biển đông và 6 sân bay trên đất Thái Lan. Với một loạt các căn cứ hậu cần kỹ thuật của Mỹ đóng ở Nhật, Philippin.

Đáng chú ý, tất cả các máy bay chiến lược và chiến thuật được huy động vào trận tập kích đường không chiến lược này đều là các loại máy bay được cải tiến kỹ thuật mới nhất nên có tính năng kỹ thuật tối ưu phục vụ cho các ý đồ chiến lược, chiến thuật của cuộc tập kích đường không này. Hệ thống máy gây nhiễu điện tử từ xa lắp trên các máy bay đặc chủng để gây nhiễu như EA6A, EB66-B-C-D-E, EC121, và các máy gây nhiễu điện tử từ xa hiện đại, được lắp trên mỗi chiếc B52 là 15 chiếc, lắp 2 chiếc trên một máy bay tiêm kích hộ tống các B52, cho nên mỗi tốp B52 (3 chiếc) đã có 45 máy gây nhiễu điện tử từ xa, và 45 máy bay F4 hộ tống với 90 máy điện tử gây nhiễu.

B52 được mệnh danh là “siêu pháo đài bay”, được phía Mỹ cho là “bất khả xâm phạm”
(Ảnh tư liệu. Nguồn: vov.vn)

Trong 12 ngày đêm tháng chạp năm 1972, trước mỗi đợt tập kích, không quân Mỹ thả sợi kim loại tạo thành một bức tường bằng sợi kim loại cao từ 3km – 4km, rộng 5km-6km, dài 40-70km. Đây là bức tường khổng lồ nhiễu tiêu cực. Trong mỗi đợt tập kích lúc nào trên bầu trời Hà Nội, Hải Phòng đều có một tốp 02 máy bay gây nhiều điện tử từ xa, mỗi chiếc mang theo 25 máy gây nhiễu liên tục gây nhiễu tích cực đối với hệ thống ra đa của ta, cùng với thủ đoạn dùng B52 tập kích vào ban đêm hầu như loại trừ mọi khả năng quan sát bằng các kính quang học nhìn xa của các đài quan sát dưới đất của các trận địa pháo cao xạ và khả năng nhìn trực tiếp của các phi công MIG21; cùng thủ đoạn gây nhiễu “giả B52”. Nói một cách khái quát chúng ta đã đối mặt với một cuộc chiến tranh điện tử hiện đại nhất của Mỹ trong thế kỷ XX. Cuộc chiến tranh điện tử này là một hình thái tổng hợp giữa yếu tố kỹ thuật của các thiết bị điện tử tối tân nhất với các thủ đoạn chiến thuật cực kỳ tinh vi và lợi hại.

Bộ Quốc phòng Mỹ đã coi nhiễu điện tử là niềm kiêu hãnh của nền công nghiệp hàng đầu của Mỹ, là sức mạnh siêu phàm, là lá bùa màu nhiệm. Với cuộc chiến tranh điện tử này, chúng có thể làm mù toàn bộ hệ thống ra đa của đối phương, từ hệ thống ra đa cảnh giới dẫn đường, ra đa của tên lửa, ra đa pháo phòng không đến gây nhiễu hệ thống thông tin liên lạc của ta. Bằng hệ thống gây nhiễu điện tử này theo tính toán của Bộ Chỉ huy không lực Hoa Kỳ, lực lượng pháo đài bay B52 trở thành lực lượng tập kích đường không khổng lồ nhưng lại là lực lượng “tàng hình” nên sẽ loại hoàn toàn tên lửa và pháo phòng không ra khỏi đối tượng tác chiến, do đó ngay từ đêm đầu tiên của chiến dịch, sau khi chúng tiến hành đồng loạt các thủ đoạn gây nhiễu ngoài đội hình, trong đội hình bằng nhiều tích cực, tiêu cực, tạo nhiễu B52 giả,… Bộ chỉ huy không quân Mỹ cho lực lượng cường kích bay thấp F111 và lực lượng cường kích F4, F105, A6, A7, A4 đồng loạt tiến công tất cả các sân bay của không quân ở Hà Nội, Bắc Giang, Yên Bái, Hải Phòng, Thanh Hóa. Tiếp theo ngay sau đó là tung lực lượng pháo đài bay B52 xông vào rải thảm bom để hủy diệt Hà Nội, Hải Phòng và một số địa phương khác. Trong 12 ngày đêm chúng đã rải hơn 100.000 tấn bom, phá hủy 5.400 ngôi nhà, hơn 100 nhà máy, xí nghiệp, trường học, bệnh viện. Giết chết 2.388 dân thường, làm bị thương 1.355 người khác. Độ tàn bạo của cuộc rải thảm bom hủy diệt này như là một “Hirosima không có bom nguyên tử”. Xin lưu ý sự kiện: Sau thất bại thảm hại của Mỹ ngụy ở Đường 9-Nam Lào (1971), đầu năm 1972, chiến lược “Việt Nam hóa chiến tranh” của Mỹ có nguy cơ sụp đổ hoàn toàn, để cứu vãn tình thế, ngày 06/4/1972, Tổng thống Mỹ Nixon ra lệnh tiến hành cuộc chiến tranh phá hoại lần thứ hai đối với miền Bắc với quy mô lớn hơn, tính chất ác liệt tàn bạo hơn nhiều so với cuộc chiến tranh phá hoại lần I, Mỹ sử dụng cả máy bay chiến lược B52 đánh phá các tỉnh Quảng Bình, Nghệ An, Thanh Hóa, Hải Phòng. Quân và dân ta đã chiến đấu kiên cường, dũng cảm đánh bại các đợt đánh phá, các đợt tập kích đường không của địch, cục diện chiến tranh chuyển hướng ngày càng có lợi cho ta. Tại Hội nghị đàm phán 4 bên ở Pari, ngày 08/1/1972 ta đã đưa ra dự thảo Hiệp định “Về chấm dứt chiến tranh lập lại hòa bình ở Việt Nam”. Phía Mỹ đã chấp thuận bản dự thảo này, nhưng sau đó, đã bội ước, sau khi Tổng thống Nixon  thỏa hiệp được với một số nước lớn. Phía Mỹ không những không thực hiện lộ trình của thỏa thuận này mà lại thực hiện những thủ đoạn xảo trá đánh lừa và trấn an dư luận Mỹ thông qua màn khói: “Hòa bình đang ở trong tầm tay” để đầu tháng 11 sau khi có kết quả tái cử vào Nhà trắng lập tức Tổng thống Nixon, cố vấn Kissinger, Bộ trưởng Quốc phòng Laira, Thứ trưởng Quốc phòng Haig và Chủ tịch Hội đồng tham mưu liên quân Moorer thông qua kế hoạch tuyệt mật. Cuộc hành binh Lainơbêchcơ II”.

Năm 1972, Bộ đội phòng không-không quân của ta phải đảm đương 3 nhiệm vụ rất nặng nề: Tham gia chiến đấu trong đội hình quân binh chủng hợp thành ở chiến trường phía Nam, vừa phải bảo vệ vùng giải phóng Quảng Trị và giao thông vận tải chiến lược trên địa bàn Quân khu 4 và sẵn sàng đánh trả cuộc tập kích chiến lược đường không vào Hà Nội, Hải Phòng. Do đó lực lượng tên lửa bảo vệ thủ đô có 10 tiểu đoàn (3 trung đoàn ) và sau bổ sung thêm dăm tiểu đoàn nữa. Bảo vệ Hải Phòng có 2 trung đoàn tên lửa. Pháo cao xạ của Hà Nội, Hải Phòng cùng với lực lượng phòng không của Quân khu 3, Quân khu Việt Bắc cũng chỉ có 15 trung đoàn.

Lực lượng dân quân tự vệ Hà Nội ngoài 4 trung đội pháo 100 ly còn có gần 200 trận địa trung liên, đại liên, súng máy 12,7 ly, 14,5 ly. Máy bay tiêm kích MIG21, loại có tính năng vượt trên tầm cao của B52 chỉ có vài trung đoàn nhưng số phi công lái MIG21 có khả năng bay đêm lại không nhiều. Lực lượng ra đa cảnh giới dẫn đường cũng chỉ có gần 30 đại đội được bố trí khắp miền Bắc.

Căn cứ vào những số liệu về lực lượng địch ta nói trên ta thấy lực lượng của Mỹ chiếm ưu thế áp đảo cả về số lượng và kỹ thuật hiện đại tối tân – đúng như Nixon đã khẳng định trong một cuốn sách của mình: “Trong lịch sử nhân loại chưa hề có một quốc gia nào chiếm ưu thế hơn hẳn về vũ khí như Hoa Kỳ so với Bắc Việt Nam…” . Trong cuộc chiến đấu không cân sức này, quân dân Hà Nội, Hải Phòng, mà nòng cốt là lực lượng phòng không-không quân đã đi vào trận quyết chiến 12 ngày đêm lịch sử với hạnh phúc lớn là được sự quan tâm đặc biệt của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Ngày 18/6/1965 khi Mỹ đưa 30 B52 vào ném bom khu căn cứ Long Xuyên của ta ở huyện Bến Cát, một tháng sau, ngày 19/7/1965, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã cảnh cáo bọn xâm lược và chỉ thị cho quân dân ta: “Dù đế quốc Mỹ có lắm súng, nhiều tiền, dù chúng có B57, B52 hay “Bê” gì đi nữa ta cũng đánh… mà đã đánh là nhất định thắng”.

Ngày 12/6/1966, Mỹ cho B52 ném bom đèo Mụ Giạ ở Quảng Bình rồi mở rộng ra đến Vĩnh Linh, Chính ủy quân chủng phòng không-không quân được Bác Hồ mời lên gặp và giao nhiệm vụ: “Máy bay B52 Mỹ đã ném bom miền Bắc. Phải tìm cách đánh cho được B52. Nhiệm vụ này Bác giao cho các chú phòng không – không quân”. Từ năm 1966 – 1967, quân chủng phòng không – không quân đã cử hai đoàn cán bộ tên lửa, một đoàn cán bộ ra đa, một đoàn cán bộ thông tin, một đoàn cán bộ không quân vào tuyến lửa Quảng Bình, Vĩnh Linh và biên giới Việt – Lào để nghiên cứu nhiễu, nghiên cứu B52, đồng thời đưa hai trung đoàn tên lửa, và một số phi đội MIG21 vào trực tiếp đánh B52 trên vùng trời Quảng Bình, Vĩnh Linh để rút kinh nghiệm. Vì xác định đúng các đường bay B52 vào đánh Hà Nội, Hải Phòng cho nên, số lượng đơn vị tên lửa, pháo phòng không, MIG21 của ta rất có hạn nhưng đã bố trí đủ lực lượng cần thiết trên từng đường bay, nhất là tạo được lực lượng mạnh, lưới lửa nhiều tầng trên các hướng đường bay chủ yếu.

Bộ đội phòng không-không quân của ta sẵn sàng chiến đấu,
tiêu diệt “pháo đài bay” B52. (Ảnh tư liệu. Nguồn: vtv.vn)

Đầu xuân năm 1968, Bác Hồ đã mời Tổng tham mưu phó Quân đội nhân dân Việt Nam Phùng Thế Tài nguyên Tư lệnh Quân chủng Phòng không – không quân lên và Bác đã đưa ra một dự báo và nhận định thiên tài: “Sớm muộn đế quốc Mỹ cũng sẽ đưa B52 ra ném bom Hà Nội rồi có thua mới chịu thua. Chú nên nhớ trước khi đến Bàn Môn Điếm ký Hiệp định đình chiến ở Triều Tiên, Mỹ đã cho không quân hủy diệt Bình Nhưỡng. Ở miền Nam, Mỹ nhất định thua nhưng nó chỉ chịu thua trên bầu trời Hà Nội.

Sau chỉ thị của Bác, một kế hoạch đặc biệt quan trọng mang tên “Phương án đánh trả cuộc tập kích chiến lược đường không bằng B52 của Mỹ, bảo vệ Hà Nội, Hải Phòng” của Quân chủng phòng không – không quân được ra đời ngày 27/2/1968. Từ cuối tháng 11 đến nửa đầu tháng 12, từ phương án chung này của Quân chủng đã được cụ thể hóa thành những kế hoạch chiến đấu của từng binh chủng như ra đa, tên lửa, cao xạ, không quân… Và được tổ chức luyện tập nghiêm túc, chu đáo, được cán bộ chỉ huy các cấp và các đơn vị xử lý thành thạo những tình huống đặt ra.

10h30 ngày 17/12/1972, theo lệnh của Bộ Tổng tham mưu, toàn bộ lực lượng của quân chủng phòng không – không quân, cùng lực lượng dân quân tự vệ của Hà Nội, Hải Phòng… đã vào tư thế sẵn sàng chiến đấu cao nhất. Quân dân Hà Nội, Hải Phòng… đã thực sự chủ động đi vào chiến dịch lịch sử 12 ngày đêm tháng chạp năm 1972.

Đêm ngày 18/12, Binh chủng ra đa cảnh giới dẫn đường đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ canh trời tổ quốc. 19h, Đại đội 16 ra đa phát hiện có nhiễu B52, kíp trắc thủ trực ban của đại đội đã kịp thời thông báo những tọa độ đầu tiên của B52 khi nó đang bay lên phía thượng Lào. 19h45, Đài trưởng ra đa của Đại đội 45 Nghiêm Đình Tích báo cáo: “B52 đang bay vào Hà Nội. Khi tốp B52 đầu tiên còn cách Hà Nội 300km, toàn bộ lực lượng của Quân chủng phòng không – không quân vào tư thế sẵn sàng chiến đấu cấp I. 20h20, thực hiện lệnh của Tiểu đoàn trưởng D59.E261, sĩ quan điều khiển Dương Văn Thuận đã ấn nút phóng đưa quả đạn tên lửa mang số hiệu C202A vạch trời đêm bay trúng đích hạ tại chỗ chiếc B52-G xuất phát từ Guam, rơi xuống địa phận Phù Lỗ, Đông Anh, Hà Nội. Đây là chiếc B52 đầu tiên bị bắn rơi tại chỗ của chiến dịch, cũng là chiến công đầu, ngay trong ngày đầu của quân dân thủ đô anh hùng.

Đêm đầu tiên của chiến dịch, quân dân ta lập công vang dội: Bắn rơi 3 pháo đài bay B52, bắt sống 7 giặc lái.

Trong 12 ngày đêm của chiến dịch lịch sử, Binh chủng tên lửa lập chiến công cao nhất: Bắn rơi 36 trên tổng số 81 máy bay các loại, trong đó bắn rơi 29 máy bay B52 trên tổng số 34 máy bay B52 bị bắn rơi. Tất cả 16 máy bay B52 bị bắn rơi tại chỗ đều là chiến công của Bộ đội tên lửa anh hùng. Trong 12 ngày đêm của chiến dịch, các cán bộ chiến sỹ tên lửa đã sáng tạo những cách đánh đầy bản lĩnh và khí phách tiến công, thông minh sáng tạo để xử lý mọi thủ đoạn gây nhiễu, gạt được các tên lửa không đối đất sơrai, tách được nhiều B52 giả, tiết kiệm tên lửa, nâng cao hiệu quả tiêu diệt B52. Các chiến sỹ lái xe chở tên lửa đã vượt qua bom đạn cung cấp đạn kịp thời cho các trận địa tên lửa. Các chiến sỹ của các tiểu đoàn 5 – tiểu đoàn lắp ráp, nạp nhiên liệu cho tên lửa đã sáng tạo nên những sáng kiến khôi phục hàng nghìn quả tên lửa quá đát, có những chiến sỹ chấp nhận nhiễm độc của nhiên liệu tên lửa nhằm hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ này.

Bộ đội không quân dũng cảm, thông minh, sáng tạo khắc phục biết bao khó khăn vượt qua bao gian khổ hy sinh:

+ Máy bay trinh sát địch dò tìm vị trí máy bay ta thì ta có lúc phải dùng trực thăng cẩu MIG21 đi dấu nơi xa, tối đến trả MIG21 về sân bay cất cánh chiến đấu.

+ Địch đánh hỏng đường băng chính, ta dùng đường băng phụ, đường băng phụ hỏng ta dùng đường lăn, đường lăn hỏng ta cất cánh từ các sân bay dã chiến vòng ngoài. Thực hiện khẩu hiệu: “Địch phá ta sửa, ta bay”. Mỗi lần đường băng bị bắn phá, công binh phối hợp với nhân dân địa phương lập tức việc san lấp, sửa chữa đường băng cho máy bay cất cánh.

+ Đối phó với số lượng máy bay của địch nhiều, không quân ta đánh du kích, dùng tốp nhỏ, chiếc lẻ với khẩu hiệu: “Một người, một máy bay vẫn tấn công”, bất ngờ đột kích, vượt qua hàng đàn máy bay hộ tống tiếp cận phía điểm yếu của B52 phóng tên lửa K13 tiêu diệt địch.

Đêm ngày 27/12 phi công Phạm Tuân và đêm 28/7 phi công Vũ Xuân Thiều đã lập công xuất sắc bắn rơi 02 máy bay B52.

Bộ đội pháo cao xạ được giao nhiệm vụ chủ yếu đánh máy bay chiến thuật để trực tiếp bảo vệ các mục tiêu và nhất là bảo vệ các trận địa tên lửa, các sân bay.

Chính các đơn vị cao xạ tầm thấp đã bố trí đón lõng và tổ chức cảnh giới tốt nên đã nổ súng kịp thời bắn rơi tại chỗ 5 máy bay cánh cụp cánh xòe F111 trên tổng số 48 chiếc được huy động trong chiến dịch, đạt hiệu quả chiến đấu rất cao. Các đơn vị pháo trung cao 100ly, trong 02 đêm 24 và 26/12 đã bắn rơi 03 máy bay B52.

Bộ đội cao xạ trong chiến dịch lịch sử đã bám trụ kiên cường nhằm thẳng quân thù bắn đã lập công xuất sắc bắn rơi 39 máy bay trên tổng số 81 chiếc (48%) góp phần tích cực bảo vệ các mục tiêu nhất là các cơ quan lãnh đạo, các nhà máy, bệnh viện, các đơn vị tên lửa, sân bay.

Trong hai cuộc chiến tranh phá hoại bằng không quân của Mỹ đối với miền Bắc, chưa bao giờ đế quốc Mỹ chịu tổn thất nặng nề như trong chiến dịch 12 ngày đêm đánh vào Hà Nội, Hải Phòng… Trong chiến dịch lịch sử này, 81 máy bay Mỹ bị bắn rơi trong đó: 34 máy bay B52, 05 máy bay F111, 21 máy bay F4, 04 máy bay A6A, 12 máy bay A7, 01 máy bay F105, 02 máy bay RA5C, 01 trực thăng HH53, 01 trinh sát 147SC. Đúng như Phó Chỉ huy không quân chiến lược Mỹ, Tướng Giooc Et tơ phải cay đắng thú nhận: “Tổn thất về máy bay chiến lược B52 cùng phi hành đoàn là hết sức nặng nề, là đòn choáng váng đánh thẳng vào những nhà vạch kế hoạch của Lầu Năm góc”.

Chiến thắng “Điện Biên Phủ trên không” là đài vinh quang chói lọi, là niềm kiêu hãnh tự hào về Đảng vĩ đại, Bác Hồ kính yêu, về dân tộc Việt Nam anh hùng và quân đội nhân dân Việt Nam anh hùng, về quân chủng phòng không – không quân anh hùng.

Chiến công hiển hách này là sự minh chứng hùng hồn sức mạnh của văn hóa Việt Nam, sức mạnh của sự kết hợp hài hòa các yếu tố cách mạng và khoa học, giữa bản lĩnh vững vàng, khí phách tiến công, quyết đánh và trí tuệ biết đánh thắng, sự kết hợp giữa tinh thần lạc quan tin tưởng với đức hy sinh cao thượng. Sự kết hợp hài hòa các yếu tố tinh thần này để tạo nên sức mạnh tổng hợp của nền văn hóa Việt Nam.

Việc trân trọng, giữ gìn, phát huy mạnh mẽ các giá trị tinh thần trên đây sẽ tạo động lực to lớn để thực hiện thắng lợi hai nhiệm vụ chiến lược: Xây dựng thành công và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa./.

PGS,TS Đào Duy Quát
cpv.org.vn

Chương trình cầu truyền hình “Bản hùng ca Hà Nội”

Tối 16-12, tại Hà Nội, Ðài Phát thanh – Truyền hình Hà Nội phối hợp Báo Quân đội Nhân dân, Sư đoàn Phòng không Hà Nội tổ chức chương trình cầu truyền hình đặc biệt với tên gọi “Bản hùng ca Hà Nội”, nhân kỷ niệm 40 năm Chiến thắng Hà Nội – Ðiện Biên Phủ trên không.

Ðến dự, có đồng chí Phạm Quang Nghị, Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Thành ủy Hà Nội; Thượng tướng Ngô Xuân Lịch, Bí thư T.Ư Ðảng, Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị Quân đội Nhân dân Việt Nam; các đồng chí Ủy viên T.Ư Ðảng: Trung tướng Mai Quang Phấn, Phó Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị; Ngô Thị Doãn Thanh, Chủ tịch HÐND thành phố Hà Nội.

Chương trình cầu truyền hình Bản hùng ca Hà Nội kỷ niệm 40 năm chiến thắng
Hà Nội – Ðiện Biên Phủ trên không tại Ðài tưởng niệm Khâm Thiên.
Ảnh: Đăng Anh – Báo Nhân Dân

Chương trình cầu truyền hình được tổ chức tại năm điểm gồm: Bảo tàng Lịch sử Quân sự Việt Nam, Sư đoàn Phòng không Hà Nội, Bảo tàng Chiến thắng B52, Ðài tưởng niệm những nạn nhân chết vì bom B52 ở phố Khâm Thiên và trận địa tên lửa Chèm (xã Thụy Phương, huyện Từ Liêm, Hà Nội). Trong đó, Bảo tàng Lịch sử Quân sự Việt Nam là điểm cầu chính. Người xem đã được gặp gỡ các khách mời gồm: Ðại tá Nghiêm Ðình Tích, người đầu tiên phát hiện B52 tiến công Hà Nội năm 1972; Ðại tá, Anh hùng Lực lượng vũ trang Nguyễn Ðình Kiên, người đã tham gia bắn rơi bốn chiếc máy bay B52, trong đó có kỷ lục bắn rơi hai chiếc B52 trong vòng chín phút; Trung tá Dương Văn Thuận, người bấm nút điều khiển tên lửa bắn rơi chiếc máy bay B52 đầu tiên; bà Phạm Thị Viễn, nữ tự vệ Nhà máy Cơ khí Mai Ðộng, đơn vị bắn rơi máy bay F111A bằng pháo 14,5 ly…

Các nhân chứng đã kể về những ngày họ từng sống và chiến đấu trong 12 ngày đêm cuối năm 1972 đầy vinh quang của Thủ đô và đất nước. Khán giả còn được giao lưu và nghe tâm sự của nhạc sĩ Phú Quang, nhà văn Giang Quân – những người đã chứng kiến, thậm chí đã gánh chịu hy sinh, mất mát trong 12 ngày đêm máu lửa ấy. Ðan xen giữa những câu chuyện về hồi ức lịch sử là những ca khúc Người Hà Nội, Làng lúa làng hoa, Hà Nội niềm tin và hy vọng… thể hiện một Hà Nội kiên cường, bất khuất nhưng vẫn đầy lãng mạn, hào hoa.

* Chiều 16-12, tại Hà Nội, Bảo tàng Lịch sử quốc gia tổ chức chương trình giao lưu Ký ức Hà Nội 12 ngày đêm, kỷ niệm 40 năm Chiến thắng Hà Nội – Ðiện Biên Phủ trên không. Tham dự buổi giao lưu có đại diện các đơn vị thuộc ngành văn hóa, thể thao và du lịch, ngành giáo dục và đào tạo, công chúng Thủ đô, học sinh, sinh viên một số trường học thuộc Hà Nội, cùng các nhân chứng lịch sử như: Nhà nghiên cứu sử học Dương Trung Quốc, Tổng Thư ký Hội Khoa học Lịch sử Việt Nam; Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân Trung tướng Phạm Tuân; GS Ðỗ Doãn Ðại, nguyên Giám đốc Bệnh viện Bạch Mai và nhà báo Nguyễn Xuân Mai. Buổi giao lưu góp phần giáo dục lòng yêu nước, ý thức gìn giữ phát huy truyền thống anh dũng, kiên cường, khơi dậy niềm tự hào dân tộc đối với thế hệ trẻ.

* Ngày 16-12, tại Thái Nguyên, Ban liên lạc truyền thống cựu chiến binh Sư đoàn 324 đã tổ chức Lễ trao Kỷ niệm chương Chiến sĩ tặng 85 cựu chiến binh thuộc sư đoàn đang sinh sống trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên.

Tại buổi gặp mặt, các đại biểu đã ôn lại truyền thống lịch sử vẻ vang của sư đoàn. Ðược thành lập ngày 1-7-1955 tại xã Triệu Dương, huyện Tĩnh Gia, tỉnh Thanh Hóa, cùng với Sư đoàn 305 (sau này là đơn vị nhảy dù đầu tiên của Không quân Nhân dân Việt Nam), đây là hai sư đoàn của Liên khu 5. Sư đoàn 324 được giao nhiệm vụ giữ vững trị an ở Thanh Hóa, sau đó chuyển vào đóng quân tại Nghệ An. Một bộ phận sư đoàn tách ra thành Văn công Sư đoàn 324. Năm 1957, theo chỉ thị của Tổng cục Chính trị, Văn công 305, Văn công 324, Văn công Trung đoàn 120 (Tây Nguyên) sáp nhập và giữ phiên hiệu Ðoàn Văn công Bộ đội Liên khu 5, đặt dưới sự lãnh đạo của Bộ Tư lệnh Sư đoàn 324. Ðến tháng 6 năm 1961, Sư đoàn 324 chuyển thành Lữ đoàn 324, tham gia bảo vệ tỉnh Nghệ An trong cuộc tiến công miền bắc bằng không quân và hải quân của Quân đội Mỹ. Sư đoàn đã phối hợp với quân dân Nghệ An đánh 125 trận, bắn hạ 47 máy bay. Ðến tháng 5 năm 1965, Sư đoàn 324 được tái lập và được cử vào nam, trở thành sư đoàn chủ lực đầu tiên của Quân khu 4 mở mặt trận đường 9 Bắc Quảng Trị. Trong Tổng tiến công và nổi dậy mùa xuân năm 1975, Sư đoàn 324 trực thuộc Quân đoàn 2 tham gia tiến công giải phóng Sài Gòn. Sau kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, Sư đoàn 324 trở về trực thuộc Quân khu 4. Sư đoàn 324 đã hai lần được Ðảng, Nhà nước phong tặng danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân./.

(Theo báo Nhân Dân)
cpv.org.vn

Đức “Chính” trong tư tưởng Hồ Chí Minh

“Cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư” là những chuẩn mực đạo đức cốt lõi trong tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh.

dưc chinhaThăm Bệnh xá Vân Đình, tỉnh Hà Tây ngày 20-4-1963, Bác Hồ căn dặn
cán bộ bệnh xá thực hiện “Lương y như từ mẫu”

Những chuẩn mực đạo đức tốt đẹp này đã tồn tại qua thời gian, qua các chế độ xã hội và đã được Bác Hồ tiếp thu, phát triển nội dung của những chuẩn mực ấy để rèn luyện chính mình và răn dạy chúng ta. Có người cho rằng: Giáo dục cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư thì e cổ quá. Bác đã ôn tồn giải thích: “Cái gì cũ mà tốt thì phải tiếp thu, phát triển lên”.

Hồ Chí Minh đã viết nhiều bài về cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư. Bản thân Người thực sự là tấm gương mẫu mực của cần, kiệm, liêm, chính. Bốn đức ấy, đức nào cũng quý, cũng cần, Bác Hồ đã ví như bốn mùa của trời, bốn phương của đất, thiếu một đức, thì không thành người. Với chữ “chính”, đức “chính”, Bác không phân tích nhiều, Người viết: “Chính nghĩa là không tà, nghĩa là thẳng thắn đứng đắn. Điều gì không thẳng thắn, đứng đắn, tức là tà”.

Cần, kiệm, liêm là gốc rễ của chính. Nhưng một cây cần có gốc rễ, lại cần có cành, lá, hoa, quả mới là cây hoàn toàn. Một người phải cần, kiệm, liêm nhưng còn phải chính mới hoàn toàn. Trên quả đất có hàng muôn triệu người. Số người ấy có thể chia làm hai hạng người thiện và người ác. Trong xã hội, tuy có trăm công nghìn việc. Song những công việc ấy có thể chia làm hai thứ: việc chính và việc tà. Làm việc chính, là người thiện. Làm việc tà, là người ác. Siêng năng (cần), tằn tiện (kiệm), trong sạch (liêm), chính là thiện. Lười biếng, xa xỉ, tham lam là tà, là ác.

Chữ “chính” của Bác là sự tiếp thu, phát triển chữ “chính” từ đạo Nho của Đức Khổng Tử. Đức Khổng Tử nêu học thuyết của mình cách đây khoảng 2.500 năm đòi hỏi xã hội phong kiến phải thực hiện cho được “chính danh”. Danh là tên gọi của con người hoặc sự vật. Danh có thể hiểu là do con người đặt tên cho sự vật và hiện tượng khi đã hiểu biết về bản chất của nó. “Chính danh” nghĩa là tên gọi của sự vật thế nào thì bản chất của sự vật như thế ấy. Vua phải thật sự xứng đáng là vua, có đầy đủ các tố chất về tài, đức, về trí tuệ. Các thứ bậc, quan tước được cất nhắc, bổ nhiệm cũng phải có đầy đủ những tiêu chí xứng đáng với chức vụ được bổ (những tiêu chí ấy bây giờ tương tự như chúng ta coi đó là các tiêu chuẩn cán bộ). Trong các mối quan hệ thì cha phải ra cha, con phải ra con, vợ phải ra vợ, chồng phải ra chồng, trên phải ra trên, dưới phải ra dưới… Đức Khổng Tử cho rằng danh có chính thì ngôn mới thuận. Ngôn là biểu hiện không chỉ của danh mà còn là biểu hiện của trí tuệ và các phẩm chất bảo đảm của chính danh. Học thuyết chính danh của Khổng Tử vô cùng sâu sắc và gần gũi với chúng ta hiện nay. Bác Hồ dạy cán bộ, đảng viên đạo làm gương, nêu gương: “Đảng viên đi trước, làng nước theo sau” cũng có cội nguồn sâu xa từ thuyết chính danh.

Đức Phật Thích Ca Mâu Ni quan niệm về cuộc đời là những chuỗi ngày đau khổ, là sự luân hồi, nhân – quả. Người đã tìm ra chân lý của sự khổ đau vô tận của con người do thập kết sử (mười điều) do chính con người tạo ra: tham lam, giận dữ, si mê, kiêu ngạo, nghi ngờ, thân kiến, biến kiến, tà kiến, kiến thủ, giới cấm thủ; trong đó đặc biệt có tam độc (ba điều): tham lam, giận dữ, si mê là nguyên nhân chính của sự đau khổ. Đức “chính” theo quan niệm của đạo Phật hết sức toàn diện cả tư duy đến hành động, cả lời nói đến việc làm trong mọi mối quan hệ của con người. Cái đích chữ chính của Đức Phật là cái đích hướng thiện, loại bỏ cái tà, cái ác…

Bác Hồ kính yêu tiếp thu những tinh túy cái thiện của Đức Khổng Tử, Đức Phật, Người định nghĩa: chính nghĩa là không tà, nghĩa là thẳng thắn, đứng đắn. Nội dung chữ chính của Bác có cả những điều trong chữ Chính của tinh hoa văn hóa nhân loại: nhân loại luôn có xu hướng hướng thiện, hướng tới cái chính, không chấp nhận cái tà, cái ác. Thực hiện chữ chính theo quan niệm của Chủ tịch Hồ Chí Minh, phải bắt đầu từ tâm và phải là sự tu dưỡng bền bỉ suốt đời. Trong mối quan hệ với “liêm”; có “liêm” thì mới có “chính”; có “cần”, “kiệm” thì có “liêm”; nhưng cũng có khi có “liêm” mà chưa thể có “chính” hoàn toàn. Ví dụ như có một người trong cuộc sống và quan hệ luôn liêm khiết, trong sáng, nhưng trước hành vi lũng đoạn, sa đọa của người khác lại không dám góp ý, không dám đấu tranh… thì người đó chưa chính tâm, chưa chính ngôn… Cho nên trong bốn đức: cần, kiệm, liêm, chính mà Bác dạy chúng ta đức nào cũng vô cùng cần thiết và thực hiện nó không hề dễ. Đức “chính” là kết quả của cần, kiệm, liêm nhưng không phải cứ thực hiện tốt cần, kiệm, liêm là có “chính”, phải thấy “chính” độc lập tương đối, đồng thời cũng là cái đức khó thực hiện nhất trong bốn đức. Trong đời sống “chính” có ý nghĩa vô cùng sâu rộng, vô cùng cần thiết, nhưng không phải ai cũng thực hiện được, nhất là trong quá trình phát triển nền kinh tế thị trường hiện nay ở nước ta.

Thực hiện tốt đức “chính” thật sự là niềm tin, là sự công bằng, văn minh và ổn định chính trị, xã hội. Những điều đó đòi hỏi ở mọi người, trước hết là ở Đảng, ở cán bộ, đảng viên, đặc biệt là những người đang giữ những cương vị, những trọng trách của Đảng và chính quyền các cấp, bởi vì, họ như những tấm gương cho cán bộ, đảng viên và nhân dân noi theo… Hiểu được và làm được chữ “chính” trong tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh không hề đơn giản mà nó là niềm tin, là cội nguồn của sự đoàn kết, là biểu hiện của một xã hội chân chính, một Đảng chân chính, một tương lai chân chính, bắt đầu từ mỗi con người chân chính..

CHÍNH

Chính nghĩa là không tà, nghĩa là thẳng thắn, đúng đắn. Điều gì không đúng đắn, thẳng thắn, tức là tà. CẦN, KIỆM, LIÊM, là gốc rễ của CHÍNH. Nhưng một cây cần có gốc rễ, lại cần có cành, lá, hoa, quả mới là hoàn toàn. Một người phải Cần, Kiệm, Liêm, nhưng còn phải CHÍNH mới là người hoàn toàn. Trên quả đất, có hàng muôn triệu người. Song số người ấy có thể chia làm hai hạng: người THIỆN và người ÁC.

Trong xã hội, tuy có trăm công, nghìn việc. Song những công việc ấy có thể chia làm 2 thứ: việc CHÍNH và việc TÀ.

Làm việc CHÍNH, là người THIỆN.

Làm việc TÀ, là người ÁC.

Siêng năng (cần), tằn tiện (kiệm), trong sạch (liêm), CHÍNH là THIỆN.

Lười biếng, xa xỉ, tham lam, là tà, là ác.

Bất kỳ ở tầng lớp nào, giữ địa vị nào, làm nghề nghiệp gì, sự hoạt động của một người trong xã hội có thể chia làm 3 mặt:

1. Mình đối với mình.

2. Mình đối với người.

3. Mình đối với công việc.

ĐỐI VỚI MÌNH

– Chớ tự kiêu, tự đại. Tự kiêu, tự đại là khờ dại. Vì mình hay, còn nhiều người hay hơn mình. Mình giỏi, còn nhiều người giỏi hơn mình. Tự kiêu, tự đại tức là thoái bộ. Sông to, biển rộng, thì bao nhiêu nước cũng chứa được, vì độ lượng của nó rộng và sâu. Cái chén nhỏ, cái đĩa cạn, thì một chút nước cũng đầy tràn, vì độ lượng của nó hẹp nhỏ. Người mà tự kiêu, tự mãn, cũng như cái chén, cái đĩa cạn.

– Luôn luôn cầu tiến bộ. Không tiến bộ thì là ngừng lại. Trong khi mình ngừng lại thì người ta cứ tiến bộ. Kết quả là mình thoái bộ, lạc hậu.

Tiến bộ không giới hạn. Mình cố gắng tiến bộ, thì chắc tiến bộ mãi.

– Luôn luôn tự kiểm điểm, tự phê bình, những lời mình đã nói, những việc mình đã làm, để phát triển điều hay của mình, sửa đổi khuyết điểm của mình.

Đồng thời phải hoan nghênh người khác phê bình mình. Cụ Tăng Tử là một vị đại hiền, là một tín đồ giỏi nhất của cụ Khổng Tử. Cụ Tăng đã làm kiểu mẫu cho chúng ta. Cụ nói: Mỗi ngày tôi tự kiểm điểm mấy lần: đối với người có thẳng thắn không? Đối với việc có chuyên cần không?

Cụ Khổng Tử nói: Mình có đứng đắn, mới tề được gia, trị được quốc, bình được thiên hạ.

Tự mình phải chính trước, mới giúp được người khác chính. Mình không chính, mà muốn người khác chính là vô lý.

ĐỐI VỚI NGƯỜI

Chữ người, nghĩa hẹp là gia đình, anh em, họ hàng, bầu bạn. Nghĩa rộng là đồng bào cả nước. Rộng nữa là cả loài người.

Trừ bọn Việt gian bán nước, trừ bọn phát xít thực dân, là những ác quỷ mà ta phải kiên quyết đánh đổ, đối với tất cả những người khác thì ta phải yêu quý, kính trọng, giúp đỡ.

Chớ nịnh hót người trên. Chớ xem khinh người dưới. Thái độ phải chân thành, khiêm tốn, phải thật thà đoàn kết. Phải học người và giúp người tiến tới.

Phải thực hành chữ Bác – Ái.

ĐỐI VỚI VIỆC

Phải để công việc nước lên trên, trước việc tư, việc nhà. Đã phụ trách việc gì, thì quyết làm cho kỳ được, cho đến nơi đến chốn, không sợ khó nhọc, không sợ nguy hiểm. Bất kỳ việc to, việc nhỏ, phải có sáng kiến, phải có kế hoạch, phải cẩn thận, phải quyết làm cho thành công. Việc THIỆN thì dù nhỏ mấy cũng làm. Việc ÁC thì dù nhỏ mấy cũng tránh.

Việc gì dù lợi cho mình, phải xét nó có lợi cho nước không? Nếu không có lợi, mà có hại cho nước thì quyết không làm.

Mỗi ngày cố làm một việc lợi cho nước (lợi cho nước tức là lợi cho mình), dù là việc nhỏ, thì một năm ta làm được 365 việc. Nhiều lợi nhỏ cộng thành lợi to.

Cả 20 triệu đồng bào đều làm như vậy, thì nước ta nhất định mau giàu, dân ta nhất định được nhiều hạnh phúc.

Ai chẳng muốn cho tự mình thành một người tốt.

Con cháu mình sung sướng,

Gia đình mình no ấm,

Làng xóm mình thịnh vượng,

Nòi giống mình vẻ vang,

Nước nhà mình mạnh giàu.

Mục đích ấy tuy to lớn, nhưng rất thiết thực.

Thiết thực, vì chúng ta nhất định đạt được.

Chúng ta nhất định đạt được, vì mỗi người và tất cả dân ta đều thi đua: Cần, Kiệm, Liêm, Chính.

“Cần, kiệm, liêm, chính”, tháng 6-1949.

Hồ Chí Minh: Toàn tập, t.5, tr. 631-645.

Theo Báo Hải Dương online
Huyền Trang
(st)
bqllang.gov.vn

Olivier Tessier và “Hà Nội những ngày đêm năm 1972”

(VOV) -“Hà Nội, những ngày đêm năm 1972” là chủ đề cuộc triển lãm ảnh sẽ diễn ra từ 11/10 – 9/11 tại Trung tâm văn hóa Pháp.

“Hà Nội, những ngày đêm năm 1972” tập hợp những hình ảnh của Hà Nội trong trận chiến đấu chống lại đợt ném bom hủy diệt B52 của đế quốc Mỹ. Đó là hình ảnh quân và dân thủ đô anh hùng, quyết tâm chống lại âm mưu “đưa Hà Nội trở về thời kỳ đồ đá” của đế quốc bằng chiến dịch phòng không quy mô lớn nhất cuộc kháng chiến chống Mỹ.

Bên cạnh đó, triển lãm cũng giới thiệu những giai đoạn của trận đánh bom theo trình tự thời gian (mục tiêu chiến lược, sự tham gia của lực lượng không quân, những thiệt hại về cơ sở vật chất và con người, dân sự và quân sự) và quá trình đàm phán đồng thời diễn ra.

Tiến sĩ Olivier Tessier cũng chính là người được vinh danh Giải thưởng Bùi Xuân Phái- Vì tình yêu Hà Nội năm 2012. Ông là một trong những nhà nghiên cứu hàng đầu về Hoàng thành Thăng Long.

Song song với quá trình nghiên cứu, niềm đam mê của ông còn là sưu tập hình ảnh Hà Nội trong nhiều thời kì lịch sử. Ông cũng là chủ nhân bộ sưu tập ảnh và bản đồ cổ về thành Hà Nội, cho chúng ta nhìn thấy rõ một giai đoạn chuyển giao đặc biệt của đô thị Hà Nội thế kỷ 19-20.

Triển lãm được tổ chức và điều phối bởi Olivier Tessier (Viện Viễn đông Bác cổ – Pháp)./.

Phương Thúy/VOV-TTTin
vov.vn

Tư tưởng Hồ Chí Minh về công tác tư tưởng

Việt Nam - Hồ Chí MinhTuyên truyền là một bộ phận, một tác nghiệp của công tác tư tưởng có vị trí hết sức quan trọng, bởi vậy, Người định nghĩa và xác định rõ mục đích của tuyên truyền “Tuyên truyền là đem một việc gì nói cho dân hiểu, dân nhớ, dân theo, dân làm. Nếu không đạt được mục đích đó, là tuyên truyền thất bại”

Sinh thời Chủ tịch Hồ Chí Minh rất chăm lo đến công tác giáo dục chính trị tư tưởng, bởi theo Người “Tư tưởng không đúng đắn thì công tác ắt sai lầm”; rằng “Trong Đảng và ngoài Đảng có nhận rõ tình hình mới, hiểu rõ nhiệm vụ mới thì tư tưởng mới thống nhất, tư tưởng thống nhất thì hành động mới thống nhất”. Công tác tư tưởng tự bản thân nó đã hàm chứa những vấn đề nhạy cảm, phức tạp, đa chiều, liên quan đến tâm tư nguyện vọng của cán bộ, đảng viên, nhân dân; liên quan đến sự thành bại của sự nghiệp cách mạng. Người nói: “Lãnh đạo quan trọng nhất là lãnh đạo tư tưởng, phải hiểu tư tưởng của mỗi cán bộ để giúp đỡ thiết thực trong công tác; vì tư tưởng thông suốt thì làm tốt, tư tưởng nhùng nhằng thì không làm được việc”. Trong báo cáo tại Hội nghị lần thứ 6 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá II (15-7-1954), trong mười công tác được xác định thì công tác lãnh đạo tư tưởng là quan trọng nhất. Hồ Chí Minh luôn yêu cầu “Cán bộ lãnh đạo và cán bộ các ngành, tư tưởng phải thông, phải thật thông. Phải có quyết tâm khắc phục khó khăn, làm tròn nhiệm vụ”. “Phải đánh thông tư tưởng và động viên sáng kiến và lực lượng của toàn Đảng, toàn dân. Mọi người quyết tâm làm cho được và tin tưởng làm nhất định được”. Mỗi lần về thăm các nhà máy, công trường, hợp tác xã, Bác Hồ luôn nhắc nhở, động viên cán bộ, đảng viên, nhân viên “Muốn quản lý tốt thì cán bộ và công nhân phải thông suốt tư tưởng”.

Trên cơ sở quy luật của công tác tư tưởng, Người đã trù liệu hệ quả khi đảng viên chưa thông suốt tư tưởng sẽ dẫn tới những biến dạng khôn lường “Nếu đảng viên tư tưởng và hành động không nhất trí, thì khác nào một mớ cắt rời, “trống đánh xuôi, kèn thổi ngược”. Như vậy, thì không thể lãnh đạo quần chúng, không thể làm cách mạng”. Do đó mà Người luôn canh cánh kỳ vọng làm sao tư tưởng tiên tiến, tư tưởng xã hội chủ nghĩa phải trở thành chủ đạo, trường tồn cùng với Đảng, với cán bộ, đảng viên và nhân dân. Người chỉ rõ “Tư tưởng thông suốt thì mọi việc làm đều tốt. Phải làm cho tư tưởng xã hội chủ nghĩa hoàn toàn thắng, tư tưởng cá nhân hoàn toàn thất bại”.

Tuyên truyền là một bộ phận, một tác nghiệp của công tác tư tưởng có vị trí hết sức quan trọng, bởi vậy, Người định nghĩa và xác định rõ mục đích của tuyên truyền “Tuyên truyền là đem một việc gì nói cho dân hiểu, dân nhớ, dân theo, dân làm. Nếu không đạt được mục đích đó, là tuyên truyền thất bại”. Người nói “Người tuyên truyền bao giờ cũng phải tự hỏi: Viết cho ai xem? Nói cho ai nghe? Nếu không vậy, thì cũng như cố ý không muốn cho người ta nghe, không muốn cho người ta xem”. Do mục đích, yêu cầu của công tác tuyên truyền, nhất là tính chính xác và sức lay động lan toả đối với dân chúng nên Hồ Chí Minh đòi hỏi cán bộ tuyên truyền “Phải biết cách nói. Nói thì phải giản đơn, rõ ràng, thiết thực. Phải có đầu, có đuôi, sao cho ai cũng hiểu được, nhớ được”; rằng: Người tuyên truyền không điều tra, không phân tách, không nghiên cứu, không hiểu biết quần chúng, chỉ gặp sao nói vậy, bạ gì viết nấy, nhất định thất bại. Khi tuyên truyền vận động đồng bào dân tộc thiểu số, Người lưu ý: Phải nói thiết thực, rõ ràng để đồng bào dễ nghe, dễ hiểu và làm được tốt.

Với sự quan sát và thông qua nhiều kênh tiếp nhận, với tình cảm chân thành mà Người nhắc nhở, phê phán một số báo cáo viên thiếu chủ động, đầu tư trong việc chuẩn bị bài nói, thuyết trình “Nhiều người trước khi nói không sắp sửa kỹ càng. Lúc ra nói hoặc lắp lại những cái người trước đã nói. Hoặc lắp đi lắp lại cái mình đã nói rồi”; hoặc “Nhưng viết một cách cao xa, mầu mè, đến nỗi chẳng những quần chúng không hiểu, mà cả cán bộ cũng không hiểu”. Đặc biệt Người còn phê phán một số người sính dùng chữ, nhất là thích dùng chữ Hán “Tiếng ta có thì không dùng, mà cứ ham dùng chữ hán. Dùng đúng, đã là một cái hại, vì quần chúng không hiểu. Nhiều người biết không rõ, dùng không đúng, mà cũng ham dùng, cái hại lại càng to”. Vì vậy, Hồ Chí Minh mong muốn làm sao trong mỗi bài nói, bài viết phải thấu cảm được ý tưởng và mong ước của nhân dân. Người yêu cầu “Mỗi tư tưởng, mỗi câu nói, mỗi chữ viết, phải tỏ rõ cái tư tưởng và lòng ước ao của quần chúng”. Có như vậy công tác tư tưởng mới đạt được mục tiêu “được người, được việc, được tổ chức” như nguyên Tổng Bí thư Lê Khả Phiêu đã khẳng định. “Phải đạt được mục đích tăng cường đoàn kết nhất trí trong Đảng, trong quân đội”.

Hơn lúc nào hết đội ngũ cán bộ tuyên truyền “Phải có lòng tự tin, tin vào mình, tin Đảng, tin giai cấp, tin nhân dân mình”, thiếu nó thì khó có thể hoàn thành tốt các nhiệm vụ được giao trên mặt trận tư tưởng văn hoá. Xuất phát từ vai trò, tầm quan trọng của công tác tư tưởng nên Người luôn mong muốn “Người tuyên truyền cần phải chịu khó, chịu khổ, khéo ở, siêng làm. Chớ tưởng rằng: Đi phớt qua địa phương, diễn thuyết một hai giờ đồng hồ mà có kết quả. Đến một địa phương nào cần phải đi thăm các cụ phụ lão, các người phụ trách, rồi đi thăm các nhà đồng bào để gây cảm tình, và để hiểu biết tình hình địa phương”. Người còn chỉ giáo “Thấy dân làm việc gì, bất kỳ to nhỏ, ta cũng ra tay làm giúp. Đó là cách gây cảm tình tốt nhất, nó sẽ giúp cho việc tuyên truyền kết quả gấp bội”. Cán bộ tuyên truyền cần phải chủ động học tập nâng cao trình độ, kiến thức, nếu không sẽ lạc hậu, thoái bộ; luôn nắm vững chủ trương, nghị quyết của Đảng, pháp luật của Nhà nước, tập quán, sinh hoạt của nhân dân. Chú trọng “nâng cao trình độ lý luận, gắn liền công tác lý luận với thực tiễn cách mạng; phải đi sát thực tế, phải liên hệ mật thiết với quần chúng”. Đồng thời Người còn căn dặn: Cán bộ, đảng viên phải nâng cao chí khí chiến đấu, nâng cao lòng tin tưởng. Trong kháng chiến rất khó khăn nếu chí khí chiến đấu của bộ đội, cán bộ, nhân dân mà sụt thì sẽ thất bại.

Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đi xa chúng ta nhưng tư tưởng của Người nói chung, về công tác tư tưởng nói riêng vẫn còn sống mãi với thời gian, với Đảng ta, và đội ngũ những người làm công tác tuyên giáo hôm nay. Đó là hành trang, phương pháp luận quý báu để Đảng ta, đội ngũ làm công tác tuyên truyền vững tin hơn, trí tuệ sắc sảo hơn nhằm góp phần nâng cao chất lượng công tác tư tưởng của Đảng lên một tầm cao mới. Đặc biệt càng có ý nghĩa cấp bách khi Đảng ta thực hiện chủ trương mở cửa, hội nhập; khi các lực lượng thù địch chưa từ bỏ mưu toan chống phá cách mạng nước ta, hòng chia rẽ Đảng với nhân dân; khi “Công tác tư tưởng còn thiếu sắc bén, tính chiến đấu còn hạn chế…; chưa làm tốt công tác giáo dục chính trị, tư tưởng và đấu tranh chống chủ nghĩa cá nhân, tư tưởng cơ hội, những quan điểm mơ hồ, sai trái; thiếu quan tâm giáo dục lý tưởng, đạo đức, lối sống”. Khắc phục và thực hiện tốt các nhiệm vụ đó là nhân tố để “Đảng ta là một tập thể lớn, tư tưởng nhất trí, hành động nhất trí” trong tiến trình kiến tạo đất nước theo lý tưởng xã hội chủ nghĩa, đẩy nhanh công nghiệp hoá, hiện đại hoá vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh.

Theo  TS. Nguyễn Thế Tư, Học viện Chính trị-
Hành chính khu vực III
Tâm Trang
(st)

bqllang.gov.vn

Tình trạng “phe nhóm” trong Quân đội Sài Gòn

QĐND-Theo một tài liệu lưu trữ của Cục Địch vận (Tổng cục Chính trị), vào thời điểm các năm 1972-1973, đội ngũ cán bộ địch vận các đơn vị đã thu thập, nghiên cứu khá chi tiết về tình hình đảng phái trong sĩ quan Quân đội Sài Gòn. Tài liệu cũng nêu rõ xu hướng, thế lực của từng đảng phái, nội tình phe nhóm trong các sĩ quan cao cấp và việc xuất hiện những “ông bầu” Mỹ đứng sau từng phe nhóm…

Mục đích tổ chức và hoạt động của các đảng phái trong Quân đội Sài Gòn là để bảo vệ quyền lợi, địa vị của các đảng phái, song nhìn chung đội ngũ sĩ quan đều dựa vào đảng phái của mình để thăng tiến và “làm giàu” chứ không hẳn là từ những lời rêu rao “vì quyền lợi tối thượng của quốc gia, dân tộc”. Thực tế trong Quân đội Sài Gòn, sĩ quan cầm đầu đơn vị là đảng viên thuộc đảng phái nào thì phần lớn sĩ quan thuộc quyền sẽ là đảng viên của đảng phái ấy.

Nguyễn Văn Thiệu trong lần tiếp Đại sứ Hoa Kỳ Hen-ri Ca-bốt Lốt (Henry Cabot Lodge) tại Sài Gòn. Ảnh tư liệu.

Trong số các đảng phái lớn thời Nguyễn Văn Thiệu, tổ chức đảng của “Cần lao nhân vị” có phần chặt chẽ hơn vì được chính quyền Thiệu ủng hộ và có nhiều tướng lĩnh, sĩ quan cao cấp cầm đầu trong quân đội và chính quyền. “Cần lao nhân vị” từng là đảng của Ngô Đình Diệm, sau khi Diệm đổ, đảng này tan rã, nhưng trong các năm 1967-1971, lại được Thiệu tích cực ủng hộ và phát triển ở nhiều nơi. Khá đông đảng viên “Cần lao nhân vị” đã nắm các vị trí chủ chốt như: Tổng Tham mưu trưởng; Tổng cục trưởng Tổng cục Chiến tranh chính trị; đa số các tư lệnh quân đoàn, sư đoàn, tỉnh trưởng, trung đoàn trưởng, quận trưởng, cảnh sát các cấp… “Đại Việt” cũng là một đảng phái phát triển khá mạnh, nhất là khu vực Vùng 1 Chiến thuật. Tháng 5-1972, sau khi bị Quân giải phóng đánh chiếm Quảng Trị, phái “Đại Việt” miền Trung do Hà Thúc Ký cầm đầu đã đứng ra lập Sư đoàn Thuận Hóa gồm cả lực lượng bảo an, công chức lẫn thương-phế binh nhằm “phòng tránh nguy cơ Cộng sản chiếm Huế”. Ngoài 6 đảng phái chính, chính trường Sài Gòn còn xuất hiện các tổ chức: “Mặt trận cứu nguy dân tộc”, “Phong trào quốc gia cấp tiến”, “Phong trào Tân dân”… cùng các giáo phái khác, tất cả đều chung mục tiêu chính là “chống Cộng”.

Thời kỳ đầu thập niên 1970, từ Tổng thống cho tới các Tư lệnh quân đoàn, sư đoàn, các tỉnh trưởng, trung đoàn trưởng, quận trưởng… đều có dính líu đến các phe nhóm, hoặc là của phe này, hoặc là của phe kia do các mối quan hệ: Cùng quê hương, họ hàng, cùng tín ngưỡng, đảng phái chính trị, hoặc ít ra cũng là quen biết, thân thích nhau. Quân đội Sài Gòn những năm 1972-1973 đã xuất hiện các phe cánh được điểm mặt, gồm: Phe Nguyễn Văn Thiệu, phe Trần Thiện Khiêm, phe Nguyễn Cao Kỳ, phe Nguyễn Văn Vỹ, phe Cao Văn Viên… Ở cấp Quân đoàn, Vùng chiến thuật lại chia thành các phe nhóm do các viên tướng đứng đầu gồm: Phe Hoàng Xuân Lãm, phe Ngô Quang Trưởng, phe Nguyễn Văn Minh, phe Vĩnh Lộc, phe Ngô Du, phe Lữ Lan… Mỗi phe lại có một “ông bầu” là cố vấn Mỹ đứng sau, như phe Nguyễn Văn Thiệu có Bân-cơ (Bunker), Nguyễn Cao Kỳ có Oét-mo-len (Westmoreland), Cao Văn Viên có A-bram (Abrams), Ngô Du có Giôn Pôn Van (John Paul Vann), Ngô Quang Trưởng có tướng Cháp-men (Chapman) – cựu Tư lệnh sư đoàn thủy quân lục chiến Mỹ, Trần Thiện Khiêm có một nhóm CIA và một số chính khách ở Đài Loan, … Những cố vấn Mỹ này thường nắm rất chắc các Tư lệnh quân đoàn, Tư lệnh sư đoàn và Tỉnh trưởng thông qua những cuộc vui chơi, nhậu nhẹt. Thậm chí thông qua những cuộc thăm hỏi, chuyện trò, các “ông bầu” Mỹ còn tranh thủ tìm hiểu ý định, quan điểm của sĩ quan bản địa rồi tìm cách can thiệp vào vị trí chỉ huy của đội ngũ này. Năm 1971, chính Rát-xơn (Russon) (Phó tư lệnh Bộ Chỉ huy viện trợ quân sự Mỹ-MACV) đã từng đưa ra nhận xét về Dư Quốc Đống với Nguyễn Văn Thiệu: “Ông ta chỉ lo làm giàu, không lo hành quân” và bày tỏ ý định muốn loại Đống ra khỏi sư đoàn dù. Đống biết chuyện, muốn Thiệu thu xếp để ông ta chuyển sang nơi khác, nhưng Thiệu vẫn muốn Dư Quốc Đống nắm Sư dù, bởi viên Tổng thống “lo xa”, muốn Đống là chỗ dựa tin cậy để phòng đảo chính. Nguyễn Văn Thiệu cũng từng có ý định đưa vây cánh của mình là Tư lệnh phó Sư đoàn dù Hồ Trung Hậu sang làm Tư lệnh Sư đoàn 21, nhưng các cố vấn Mỹ không đồng tình, cho rằng năng lực của Hậu kém, không hợp vị trí, mãi tới tháng 4-1972, Thiệu mới có dịp cất nhắc, đưa Hậu lên làm Tư lệnh Sư đoàn 21…

Không chỉ số sĩ quan cấp cao mới có tình trạng phe nhóm, đội ngũ sĩ quan trẻ cũng có sự phân hóa rõ rệt trong xu hướng lựa chọn đường binh nghiệp. Các cán bộ địch vận của ta đã tiến hành khảo sát thái độ chính trị của hàng trăm sĩ quan Quân đội Sài Gòn và nhận thấy phần lớn trong số này đều “thích thú” và tự nguyện vào các đơn vị binh chủng hơn là các đơn vị bộ binh, bởi theo họ cầm quân ở các đơn vị binh chủng vừa đỡ vất vả, ít thương vong, lại có “cơ hội” kiếm tiền và dễ dàng tiến thân. Trong các đơn vị binh chủng, sĩ quan không quân và hải quân thường tự cho mình là những thành phần “trí thức” hơn các đơn vị binh chủng khác, số này thường tỏ ra kiêu căng, nặng đầu óc hưởng thụ. Sĩ quan hải quân do hoạt động đặc thù ở xa đất liền nên các đảng phái cũng ít có điều kiện câu móc, lôi kéo.

Với số sĩ quan mới tốt nghiệp được lựa chọn phục vụ ở hậu cứ, gần nhà và tránh xa “hòn tên mũi đạn” thì buộc phải có những điều kiện: Là con một, có cha mẹ già trên 60 tuổi và gia đình đã có 3-4 anh trai đang ở đơn vị chiến đấu. Tuy có những nguyên tắc trên, song thực tế vẫn có những trường hợp dựa vào quyền thế, tiền bạc nhằm lo lót, chạy chọt để được “toại nguyện”…

QUANG HUY
qdnd.vn

Tầm nhìn hướng biển của các vua đầu triều Nguyễn

Biên giới và hải đảo

(Tiếp theo và hết)

QĐND-Gia Long, vị vua khai sáng Triều Nguyễn và vua Minh Mệnh sau này đã nâng cấp tầm nhìn hướng biển, không chỉ hai quần đảo đó, mà còn thực thi nhiều chính sách, nhiều giải pháp để khẳng định chủ quyền của mình trên các đảo gần bờ như Phú Quốc, Côn Lôn.

Thời chúa Nguyễn Phúc Chu, tháng Tư năm Tân Mão (1711) đã điều động quân lính và những người có trách nhiệm mang các phương tiện đo vẽ đi thuyền ra “đo bãi cát vàng Trường Sa dài ngắn, rộng hẹp bao nhiêu” (Đại Nam Thực lục, tập 1, trang 126). Sự kiện nổi bật nhất thời Gia Long trong việc khẳng định chủ quyền của quốc gia trên hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa là lễ thượng cờ và cắm mốc chủ quyền trên hai quần đảo đó. Sự kiện trọng đại ấy được miêu tả hết sức vắn tắt trong Đại Nam Thực lục, tập 1, trang 922 bằng một câu: “Sai thủy quân và đội Hoàng Sa đi thuyền ra Hoàng Sa để thăm dò đường thủy”. Mười bảy năm sau, năm 1833, giám mục Giăng Lu-i Ta-be (Jean Louis Tarberd), người đã nhiều năm truyền giáo ở Đàng Trong (phần đất từ đèo Ngang trở vào) trong một công trình của mình đã viết khá rõ về sự kiện trọng đại đó: “Chúng tôi biết chắc là Hoàng đế Gia Long đã chú tâm thêm cái đóa hoa kỳ lạ đó vào vương miện của ngài, vì vậy mà ngài xét thấy đúng lúc phải thân chinh vượt biển để tiếp thâu quần đảo Hoàng Sa, và chính là vào năm 1816, ngài đã long trọng treo tại đó lá cờ của xứ Đàng Trong (thời này xứ Đàng Trong được hiểu là nước Việt Nam chúng ta)” (1).

Tiếp tục ý tưởng của vua cha, năm 1833, Minh Mệnh đã nói với Bộ Công rằng: “Trong hải phận Quảng Ngãi, có một dải Hoàng Sa, xa trông trời nước một màu không phân biệt được nông hay sâu. Gần đây thuyền buôn thường bị hại. Nay nên dự bị thuyền bè đến sang năm sẽ phái người tới, dựng miếu, lập bia, lại trồng nhiều cây cối. Ngày sau cây cối to xanh tốt, người dễ nhận biết, ngõ hầu tránh được nạn mắc cạn. Đó cũng là việc lợi muôn đời” (sđd, tr.743). Tháng Sáu năm Ất Mùi (1835), Bộ Công cho dựng đền thờ thần ở đảo Hoàng Sa thuộc Quảng Ngãi. Đại Nam Thực lục có ghi: “Hoàng Sa ở hải phận Quảng Ngãi có một chỗ nổi cồn cát trắng, cây cối xanh um, giữa cồn cát có giếng, phía tây nam có miếu cổ có tấm bài khắc 4 chữ “Vạn lý ba bình” (muôn dặm sóng êm), cồn Bạch Sa (cát trắng) chu vi 1070 trượng, tên cũ là núi Phật Tự, bờ đông, tây, nam đều đá san hô thoai thoải uốn quanh mặt nước. Phía bắc, giáp với một cồn toàn đá san hô, sừng sững nổi lên, chu vi 340 trượng, cao 1 trượng 3 thước (1 trượng bằng 10 thước, 1 thước đo đất bằng 0,47m) ngang với cồn cát, gọi là Bàn Than Thạch). Năm ngoái, vua toan dựng miếu lập bia ở chỗ ấy, bỗng vì sóng gió không làm được. Đến đây mới sai Cai đội thủy quân là Phạm Văn Nguyên đem lính thợ Giám thành cùng phu thuyền hai tỉnh Quảng Ngãi, Bình Định, chuyên chở vật liệu đến dựng miếu (cách tòa miếu cổ 4 trượng). Bên tả miếu dựng bia đá; phía trước miếu xây bình phong. Mười ngày làm xong rồi về” (2).

Vua Minh Mệnh đã có tầm nhìn vượt lên cả vua cha. Đó là việc ông ứng xử với đảo Phú Quốc và quần đảo Côn Lôn, những nơi có dân sinh sống, nhưng thường bị bọn hải tặc đến quấy nhiễu. Năm 1832, Minh Mệnh được tâu bọn hải tặc người Chà Và lên đảo Côn Lôn thuộc Phiên An (Gia Định) đón cướp thuyền buôn, lên bờ đốt nhà, cướp của dân ta. Vua suy nghĩ Côn Lôn và Hà Tiên đều là những nơi xung yếu, dân ở đông đúc, thế mà thường có giặc biển ẩn hiện, liền truyền dụ cho quan thành chọn đất hai chỗ ấy, xây đặt pháo đài, liệu cấp súng đạn, khí giới, thuyền bè, phái quân đóng giữ. Cư dân cũng được cấp cho khí giới để cùng phòng giữ. Lại chuyển sức cho 5 trấn trong thành hạt, ra lệnh cho các làng sở tại ven biển đều sẵn sàng thuyền bè khí giới, nếu thấy thuyền giặc đến gần bờ, tức thì cùng nhau tiếp ứng góp sức đánh bắt (3).

Đại Thanh đế quốc vị trí khu hoạch đồ (năm 1909), đã vẽ phần cực Nam Trung Quốc là đảo Hải Nam, không có Hoàng Sa, Trường Sa. Ảnh: Sách “Kỷ yếu Hoàng Sa”– Nxb Thông tin và Truyền thông.

Năm 1833, vâng lệnh vua, Tuần phủ Phạm Xuân Bách ra đảo tìm chọn một nơi vừa ý ở phía nam Phú Quốc tâu lên vua và vua xuống dụ cho khởi công xây đắp, cho đặt tên là đồn Phú Quốc. Đồn “được xây xung quanh bằng đá núi, trên dựng một căn phòng cho lính đương ban đóng. Trên đồn đặt 4 khẩu hồng y cương pháo, 8 khẩu quá sơn đồng pháo, phái 50 lính tỉnh đến đóng giữ. Lại lấy thêm dân sở tại phụ vào việc canh giữ, cấp cho khí giới và thuyền bè đủ dùng. Dùng viên phủ ngự đồn Phú Quốc là Nguyễn Văn Sương làm Phòng thủ úy đứng cai quản, cho mộ thêm lính đặt làm đội phòng thủ” (4).

Với vị trí địa – chính trị quan trọng của quần đảo Côn Lôn, vua Minh Mệnh cũng đã có những ứng xử tương tự như đảo Phú Quốc, tuy có muộn hơn. Tháng Hai năm Bính Thân (1836), Minh Mệnh cho xây dựng đồn Thanh Hải và pháo đài Thanh Hải trên đảo Côn Lôn thuộc Gia Định (sau đó thuộc Vĩnh Long). Bốn mặt đồn đều dài 12 trượng, cao 5 thước, chân rộng 6 thước 3 tấc. Đằng trước và đằng sau đều mở một cửa. Pháo đài xây ở phía nam đồn ngoài binh lính còn thuê dân tất cả 500 người để làm việc. Hoàn tất công việc Bộ Binh tâu: “Đảo ấy có nhiều núi lên từng dãy từng lớp, tàu thuyền có thể đỗ lại yên ổn. Lại có mối lợi là nhiều cá, tôm, ruộng đất màu mỡ, thủy thổ lành, thực là hình thế đẹp ở cương giới về phần biển. Chỉ phải cái là hẻo lánh, xa xôi, hằng năm khoảng xuân sang hạ, thường có thuyền giặc Chà Và thừa cơ, lén lút nổi dậy, làm ngăn trở thuyền buôn đi lại. Nhân dân sở tại thưa ít, chẳng làm thế nào được! Vậy xin phái một suất đội và 50 lính thuộc tỉnh, cấp cho thuyền và khí giới đến đóng giữ, mỗi năm thay phiên một lần… Nơi ấy lại có nhiều đất bỏ hoang, có thể cày cấy được… Quân lính những khi làm việc tuần phòng hải phận đã nhàn rỗi, sức cho khẩn hoang trồng cấy và chiêu mộ dân nghèo cùng ở, cho sống bằng sức mình, còn trâu cày, nông cụ thì do nhà nước cấp phát cho. Như thế, có lính để phòng thủ, có ruộng để cày cấy, giặc biển không dám lại đến, thuyền buôn ngày một đông nhiều, sau vài năm tất thành một nơi vui vẻ, mà việc phòng giữ mặt biển sẽ bền vững được”(5).

Lời tâu của Bộ Binh quá hay nên vua Minh Mệnh không chỉ chuẩn y mà còn gợi mở cho ông một ý tưởng thú vị: Lập làng nơi đây. Công việc đó khởi đầu từ Minh Mệnh với những chính sách rõ ràng, minh bạch như sử dụng những người dân di cư tự do ra đây từ trước, những người bị phát vãng, lính hết thời hạn phục vụ muốn ở lại đảo. Bằng chính sách có lợi cho dân, ông đã điều khiển một luồng dân từ trong đất liền di cư ra đảo lập nên làng mang tên An Hải năm 1840. Như vậy quá trình hình thành một làng trên đảo Côn Lôn diễn ra ròng rã trong 12 năm, khi Minh Mệnh không còn trên đời nữa. (6)

Đối với những tàu thuyền nước ngoài, phần lớn là thuyền đánh cá nhà Thanh (Trung Quốc) xâm phạm lãnh hải của ta, vua Minh Mệnh cho xử lý một cách kiên quyết, không khoan nhượng. Trấn Quảng Yên có trên 300 thuyền đánh cá của nhà Thanh đậu lâu ở phần biển Cát Bà. Quan Bắc Thành đã sai trấn thủ Nguyễn Văn Đoái đem hơn 20 chiếc binh thuyền thân đến nơi khuyên họ đi. Lại sai Phó thống thập cơ Tiền quân là Lương Văn Liễu đem 15 thuyền binh tiến theo để làm thanh ứng. Sự việc được tâu lên triều đình, vua xuống dụ: “Thuyền Thanh vài trăm chiếc mà thuyền của ta chỉ có hơn 30 chiếc, nếu hắn cự lại thì lấy gì mà địch. Phái thêm binh thuyền và chở nhiều súng đạn quân nhu đi ứng tiếp. Nếu chúng nghe lời thì thôi, bằng không thì góp sức vào cố đánh dẹp” (7).

Nhưng đối với những thuyền buôn, thuyền đánh cá các nước gặp nạn trôi dạt vào các đảo thuộc chủ quyền của ta, hoặc dạt vào cảng, bến cảng dọc bờ biển nước ta thì Minh Mệnh đối xử với cương vị là một đất nước có văn hiến. Chẳng hạn, Tháng Tám năm Kỷ Sửu (1829), thuyền của A Sinh, người Chà Và được quốc trưởng phái đến đảo Câu Mạch khai thác yến sào, không may gặp bão trôi dạt vào đảo Côn Lôn. Khi được tâu lên, vua Minh Mệnh sai cấp gạo rồi cho về (8). Hoặc tàu nước Phú Lãng Sa (nước Pháp) đến đậu ở hòn Mỏ Diều thuộc Quảng Nam. Tỉnh thần Quảng Nam cho người xuống tàu khám qua, thấy tàu dài hơn 8 trượng, rộng hơn 1 trượng 8 thước, cao hơn 1 trượng 5 thước, 3 tầng ván lát, 3 cột to, 24 cỗ đại bác, 10 cỗ súng Quá sơn và 6 chiếc xuồng. Cuối thuyền treo cờ tam tài vuông: Xanh, trắng, đỏ và hỏi họ thì họ nói: “Tàu của thành Tu Luân (Toulouse), quốc trưởng sai đi thao diễn ở đường biển, đã hơn 1 năm, nay từ Ma Cao đến đây, xin ở 1, 2 hôm để lấy củi và nước”. Tỉnh thần lấy làm ngờ, nghiêm sức cho binh thuyền tuần tiễu, chỉ thị cho tỉnh Quảng Ngãi phòng bị, rồi dâng sớ tâu lên Triều đình Huế. Vua Minh Mệnh phê: “Đó là việc thường. Họ đi thăm dò, đo đạc đường biển, hà tất phải hoang mang tư báo làm kinh hãi tai mắt người ta. Thực không hiểu việc!”. Qua hôm sau, quả nhiên họ bắn một phát đại bác rồi đi (9).

Rõ ràng, so với các chúa Nguyễn và Triều Nguyễn Tây Sơn, tầm nhìn hướng biển của hai vị vua đầu của Triều Nguyễn, đặc biệt dưới thời Minh Mệnh, có một bước tiến mang tính chiến lược quan trọng. Các vị vua này không chỉ xác lập chủ quyền bằng việc thượng cờ, xây miếu thờ, cắm mốc trên quần đảo Hoàng Sa, mà còn xây dựng đồn, pháo đài, lập làng trên những hòn đảo gần bờ như Phú Quốc và Côn Lôn. Tầm nhìn hướng biển đó thực sự mang tầm chiến lược để trên nền tảng đó ta làm chứng cớ lịch sử trong cuộc tranh chấp chủ quyền trên các quần đảo trên Biển Đông với các nước láng giềng.

——————-

1. Bức tranh thế giới – Lịch sử và mô tả các dân tộc, tôn giáo, phong tục, tập quán của họ. Nxb Firmin-Điot Freses et Cie, paris, 1833).

2. Đại Nam Thực lục. Nxb Giáo Dục. HN, 2004, tập 4, tr, 673.

3. Đại Nam Thực lục. Sđd, tập 3,

tr. 384.

4. Đại Nam Thực lục. Sđd. Tập 3,

tr. 492, 568.

5. Đại Nam Thực lục, Sđd, tập 4,

tr. 873.

6. Xem thêm bài của Phạm Xanh trên tạp chí NCLS, số 1, 1987, tr.105

7. Đại Nam Thực lục. Sđd, tập 3,

tr. 824.

8. Đại Nam Thực lục. Sđd, tập 2,

tr. 882.

9. Đại Nam Thực lục. Sđd, tập 4, tr.1076.

PGS, TS PHẠM XANH
qdnd.vn

—————————–

Bài đầu: Tầm nhìn hướng biển của các chúa Nguyễn

Tầm nhìn hướng biển của các chúa Nguyễn

Biên giới và hải đảo

QĐND-Năm 1558, Nguyễn Hoàng nghe theo lời khuyên của Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm “Hoành Sơn nhất đái, vạn đại dung thân”, vào trấn thủ vùng Thuận Hóa. Cũng bắt đầu từ đó trên đất nước chúng ta diễn ra cục diện Trịnh – Nguyễn phân tranh kéo dài trên hai trăm năm ở 9 đời chúa. Nguyễn Hoàng băng hà năm 1614, ở ngôi 56 năm, hưởng thọ 89 tuổi. Trong những năm thống lĩnh vùng Thuận Hóa, Nguyễn Hoàng vừa lo chống lại những cuộc chinh phạt của Lê-Trịnh từ Đàng ngoài, nhưng chủ yếu là lo củng cố quyền lực và mở nước về phương Nam. Vì thế tầm nhìn hướng biển của Nguyễn Hoàng, do những điều kiện khách quan quy định, còn rất hạn hẹp. Nhưng người kế vị ông, chúa Nguyễn Phúc Nguyên, không chỉ kế tục xuất sắc hai hướng hành động của Chúa cha, mà còn vượt lên bằng tầm nhìn hướng biển mang tính chiến lược.

Sở dĩ Nguyễn Phúc Nguyên cùng quân dân Đàng trong lập được những kỳ tích đó bởi lẽ ông đã thu phục được Đào Duy Từ, người mà vua Lê, chúa Trịnh ở Đàng ngoài không dung nạp, đã trốn vào Đàng trong, đang sống ẩn dật với nghề dạy học ở chốn thôn quê. Sách Đại Nam thực lục, tập I, phần Tiền biên, trang 43 có ghi lại cuộc gặp gỡ giữa hai con người vốn xa lạ này và rồi Đào Duy Từ trở thành người cố vấn chính trị-quân sự thân cận nhất của Chúa.

Dưới sự cố vấn của họ Đào, lũy Trường Dục chạy từ chân núi Trường Dục tới bãi cát Hạc Hải (Nhật Lệ) được xây dựng nhanh chóng, trở thành thành lũy kiên cố, vững chắc, ngăn chặn quân Trịnh từ phía Bắc. Cùng với công trình quân sự đó, cũng theo lời khuyên của họ Đào, chúa Nguyễn Phúc Nguyên mở nước về phương Nam cho đến tận vùng cực nam Trung Bộ hiện nay. Có lẽ, cũng trong thời kỳ này mà xuất hiện tầm nhìn hướng biển của Chúa Nguyễn Phúc Nguyên. Đó là vươn ra biển xác lập chủ quyền của mình ở những hòn đảo ven bờ và quan trọng hơn là vươn xa làm chủ quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa ngoài biển Đông. Sách Phủ biên tạp lục của nhà bác học Lê Quý Đôn đã xác nhận một sự thực:“Ngày trước, họ Nguyễn có thiết lập đội Hoàng Sa gồm 70 suất, lấy người xã Yên Vĩnh bổ sung. Mỗi năm họ luân phiên nhau đi biển, lấy tháng Giêng ra đi nhận lãnh chỉ thị làm sai dịch. Đội Hoàng Sa này được cấp phát mỗi người sáu tháng lương”(1). Ở một chỗ khác, Lê Quý Đôn viết: “Họ Nguyễn còn thiết lập thêm đội Bắc Hải. Đội này không định trước bao nhiêu suất. Hoặc chọn lấy người thôn Tứ Chính thuộc phủ Bình Thuận, hoặc chọn lấy người làng Cảnh Dương, lấy những người tình nguyện bổ sung vào đội Bắc Hải. Quan địa phương cấp phát phó từ và chỉ thị sai phái đội ấy đi làm công tác.

Nhà nước sai chức cai đội Hoàng Sa kiêm lãnh quản đốc đội Bắc Hải này, vì chẳng qua họ chỉ lấy được những hải vật kể trên mà thôi, còn như vàng bạc và các của cải quý báu thì ít khi họ tìm kiếm được”.(2)

Gần đây, chúng ta phát hiện nhiều thư tịch cổ liên quan đến đội Hoàng Sa trên đảo Lý Sơn cho biết thêm những chứng cớ vững chắc về chủ quyền của ta trên hai quần đảo lớn đó. Hằng năm, người đảo Lý Sơn được tuyển mộ vào đội này làm binh, phu đi khai thác, bảo vệ Hoàng Sa và Trường Sa. Mỗi cuộc đi ra đảo xa là muôn vàn khó khăn nên các Chúa Nguyễn đều cho mỗi người lính mang theo một đôi chiếu, 7 đòn tre, 7 sợi giây lạt và một tấm thẻ bài có khắc họ tên, quê quán để phòng nếu chẳng may hy sinh, đồng đội sẽ bó thi hài vào chiếu và thả xuống biển. Trước khi lên đường, thường vào tháng Hai Âm lịch, dân làng làm lễ gọi là “Lễ khao lề thế lính Hoàng Sa”, tái hiện những hùng binh năm xưa trên những chiếc thuyền nan mỏng manh đã dong buồm vượt trùng dương gìn giữ bờ cõi, đồng thời làm những “ngôi mộ gió” – mộ chôn những hình nhân tượng trưng cho những người lính hy sinh vì Hoàng Sa.(3)

Đây là một trong những bản đồ trong “Phủ biên tạp lục” do Lê Quý Đôn (1726-1784) biên soạn năm 1776. Ông mô tả tỉ mỉ địa lý, tài nguyên ở Hoàng Sa và Trường Sa, công việc khai thác của chúa Nguyễn đối với 2 quần đảo này. (Theo sách Kỷ yếu Hoàng Sa của NXB Thông tin và Truyền thông).

Đến đời chúa Nguyễn Phúc Chu, năm 1698 với việc “sai Thống suất Nguyễn Hữu Kính (Cảnh) kinh lược đất Chân Lạp, chia đất Đông Phố, lấy xứ Đồng Nai làm huyện Phúc Long (nay phong làm phủ), dựng dinh Trấn Biên (tức Biên Hòa ngày nay), lấy xứ Sài Gòn làm huyện Tân Bình (nay phong làm phủ), dựng dinh Phiên Trấn (tức Gia Định ngày nay), trên căn bản hình thể nước ta như ngày nay. Tháng Tám năm Mậu Ngọ, 1702, Chúa Nguyễn Phúc Chu được Trấn thủ dinh Trấn Biên là Trương Phúc Phan báo: “Giặc biển là người Man An Liệt (tức người Anh) có 8 chiếc thuyền đến đậu ở đảo Côn Lôn. Trưởng là bọn Tô Thích Già Thi 5 người tự xưng là nhất ban, nhị ban, tam ban, tứ ban, ngũ ban (các cấp bậc trong quân đội) cùng đồ đảng hơn 200 người, kết lập trại sách, của cải chứa đầy như núi, bốn mặt đều đặt đại bác” (4). Ngay lập tức “Chúa sai Phúc Phan tìm cách trừ bọn ấy”(5) để xác định chủ quyền của đất nước, mặc dù lúc đó Côn Đảo chưa có người ở. Trương Phúc Phan lập tức cho nghiên cứu phương án đánh đuổi quân Anh khỏi Côn Đảo. Tổng trấn Trương mộ 15 lính người Ma-lai-xi-a, dùng kế trá hàng lọt được vào lính Anh chiếm đóng trên đảo. Sau một thời gian chung sống với lính Anh, nghiên cứu cung cách phòng vệ của họ và cuối cùng tháng 10 năm Quý Mùi, 1703 họ thống nhất ra tay hành động, tiêu diệt được nhiều lính đánh thuê Anh và thu vô số chiến lợi phẩm. Trong Đại Nam Thực lục, tập I, phần Tiền biên, có ghi vắn tắt sự kiện quan trọng đó như sau: “Mùa đông, tháng 10, dẹp yên đảng An liệt. Trước là Trấn thủ Trấn Biên Trương Phúc Phan mộ 15 người Chà Và sai làm kế trá hàng đảng An Liệt để thừa chúng sơ hở thì giết. Bọn An Liệt không biết. Ở Côn Lôn hơn một năm không thấy Trấn Biên xét hỏi, tự lấy làm đắc chí. Người Chà Và đang đêm phóng lửa đốt trại, đâm chết nhất ban, nhị ban, bắt được ngũ ban trói lại, còn tam ban, tứ ban thì theo đường biển trốn đi. Phúc Phan nghe tin báo, tức thì sai binh thuyền ra Côn Lôn, thu hết của cải bắt được dâng nộp. Chúa trọng thưởng người Chà Và và tướng sĩ theo thứ bực. Tên ngũ ban thì đóng gông giải đi, chết ở dọc đường”.(6)

Thời đó, Côn Đảo thường là nơi lui tới của bọn hải tặc. Để khẳng định chủ quyền của mình trên đảo này, chúa Nguyễn Phúc Chu ra lệnh cho Trấn thủ Trấn Biên Trương Phúc Phan (người Quảng Bình) đánh đuổi quân Anh ra khỏi đảo. Từ đó trở về sau, thực dân Anh mặc dù ở gần đó (thống trị Ma-lai-xi-a), nhưng không dám bén mảng vì đất này đã có chủ.

Dưới thời Chúa Nguyễn Phúc Chu còn diễn ra nhiều sự kiện quan trọng gắn liền với cương vực nước ta. Tháng Tám năm Mậu Tý, 1708, Mạc Cửu dâng nộp mảnh đất Hà Tiên mà ông đã có công khai phá cho chúa Nguyễn và ông được chúa Nguyễn trọng dụng, phong cho ông làm Tổng binh Trấn Hà Tiên. Mùa hạ, tháng 4 năm Tân Mão, 1711, Tổng binh Trấn Hà Tiên Mạc Cửu đến cửa Chúa tạ ơn và được Chúa Nguyễn Phúc Nguyên hậu thưởng. Cùng mùa hạ năm đó, Chúa Nguyễn Phúc Nguyên sai cho lính ra đảo Trường Sa đo đạc, vẽ bản đồ.(7)

Rõ ràng, từ chúa Nguyễn Phúc Nguyên, đặc biệt dưới thời chúa Nguyễn Phúc Chu, tầm nhìn hướng biển mang tính chiến lược có sự phát triển liên tục, từ chiếm hữu đến khẳng định chủ quyền đất nước trên các đảo gần bờ và đặc biệt là hai quần đảo ngoài khơi xa Hoàng Sa và Trường Sa. Tầm nhìn hướng biển đó vẫn được tiếp tục dưới thời các chúa Nguyễn tiếp theo và đặc biệt được nâng cấp khi thành lập Vương triều Nguyễn năm 1802, bắt đầu từ Gia Long và tiếp nối mạnh mẽ hơn dưới thời vua Minh Mạng.

(Xem tiếp số sau)

—————

(1), (2). Lê Quý Đôn. Phủ biên tạp lục. Quyển hai. Bản dịch của Lê Xuân Giáo, tủ sách cổ văn, Ủy ban dịch thuật, Sài Gòn, 1972, tr.208-212.

(3). Biển và Đảo Việt Nam (Mấy lời hỏi-đáp). NXB Tổng hợp Thành phố Hồ Chí Minh. 212, tr.108.

(4), (5). Đại Nam Thực lục, Tập 1. Nxb Giáo dục, HN, 2002, tr.115.

(6). Đại Nam Thực lục. Sdd, tr.117.

(7). Đại Nam thực lục. Sdd. Tr.122 và 126.

PGS.TS Phạm Xanh
qdnd.vn