“Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không”: Chiến thắng của trí tuệ và bản lĩnh Việt Nam

(ĐCSVN) – Bốn mươi năm đã trôi qua, nhưng chiến thắng “Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không” đã đi vào lịch sử dân tộc như một chiến thắng chói lọi, một kỳ tích vô song của thế kỷ XX. Chiến thắng vĩ đại này là sự minh chứng hùng hồn về sức mạnh của văn hóa Việt Nam, là chiến thắng của ý chí, bản lĩnh khí phách Việt Nam, chiến thắng của lòng tự hào, tự tôn, tự trọng của đức hy sinh cao thượng Việt Nam.

Theo lệnh của Tổng thống Nixon, từ tháng 11 năm 1972 Lầu Năm góc đã chính thức xây dựng kế hoạch cho cuộc tập kích đường không chiến lược mang tên “Cuộc hành binh Lai-nơ-bêch-cơ II”. Theo kế hoạch này Nhà trắng và Lầu Năm góc đã huy động một lực lượng vũ khí kỹ thuật khổng lồ và hiện đại bậc nhất của không quân và hải quân Mỹ. Đây là cuộc huy động lực lượng tập kích đường không lớn nhất của đế quốc Mỹ kể từ sau Đại chiến thế giới lần thứ hai đến năm 1972, trong đó gần 50% tổng số máy bay B52 hiện có (193/404). Hơn 1/3 tổng số máy bay chiến thuật (cả tiêm kích và cường kích (1077/3041 chiếc trong đó có 01 biên đội F111 với 50 chiếc) chưa kể hàng trăm máy bay trinh sát, máy bay gây nhiễu, máy bay tiếp dầu, máy bay chỉ huy liên lạc dẫn đường; 1/4 tổng số tàu sân bay của toàn nước Mỹ (6/24 chiếc), 60 tàu chiến các loại của Hạm đội 7. Các máy bay B52 xuất phát từ 02 sân bay Guyam và Utupao (Thái Lan). Các máy bay chiến thuật xuất phát từ 6 tàu sân bay đậu trên biển đông và 6 sân bay trên đất Thái Lan. Với một loạt các căn cứ hậu cần kỹ thuật của Mỹ đóng ở Nhật, Philippin.

Đáng chú ý, tất cả các máy bay chiến lược và chiến thuật được huy động vào trận tập kích đường không chiến lược này đều là các loại máy bay được cải tiến kỹ thuật mới nhất nên có tính năng kỹ thuật tối ưu phục vụ cho các ý đồ chiến lược, chiến thuật của cuộc tập kích đường không này. Hệ thống máy gây nhiễu điện tử từ xa lắp trên các máy bay đặc chủng để gây nhiễu như EA6A, EB66-B-C-D-E, EC121, và các máy gây nhiễu điện tử từ xa hiện đại, được lắp trên mỗi chiếc B52 là 15 chiếc, lắp 2 chiếc trên một máy bay tiêm kích hộ tống các B52, cho nên mỗi tốp B52 (3 chiếc) đã có 45 máy gây nhiễu điện tử từ xa, và 45 máy bay F4 hộ tống với 90 máy điện tử gây nhiễu.

B52 được mệnh danh là “siêu pháo đài bay”, được phía Mỹ cho là “bất khả xâm phạm”
(Ảnh tư liệu. Nguồn: vov.vn)

Trong 12 ngày đêm tháng chạp năm 1972, trước mỗi đợt tập kích, không quân Mỹ thả sợi kim loại tạo thành một bức tường bằng sợi kim loại cao từ 3km – 4km, rộng 5km-6km, dài 40-70km. Đây là bức tường khổng lồ nhiễu tiêu cực. Trong mỗi đợt tập kích lúc nào trên bầu trời Hà Nội, Hải Phòng đều có một tốp 02 máy bay gây nhiều điện tử từ xa, mỗi chiếc mang theo 25 máy gây nhiễu liên tục gây nhiễu tích cực đối với hệ thống ra đa của ta, cùng với thủ đoạn dùng B52 tập kích vào ban đêm hầu như loại trừ mọi khả năng quan sát bằng các kính quang học nhìn xa của các đài quan sát dưới đất của các trận địa pháo cao xạ và khả năng nhìn trực tiếp của các phi công MIG21; cùng thủ đoạn gây nhiễu “giả B52”. Nói một cách khái quát chúng ta đã đối mặt với một cuộc chiến tranh điện tử hiện đại nhất của Mỹ trong thế kỷ XX. Cuộc chiến tranh điện tử này là một hình thái tổng hợp giữa yếu tố kỹ thuật của các thiết bị điện tử tối tân nhất với các thủ đoạn chiến thuật cực kỳ tinh vi và lợi hại.

Bộ Quốc phòng Mỹ đã coi nhiễu điện tử là niềm kiêu hãnh của nền công nghiệp hàng đầu của Mỹ, là sức mạnh siêu phàm, là lá bùa màu nhiệm. Với cuộc chiến tranh điện tử này, chúng có thể làm mù toàn bộ hệ thống ra đa của đối phương, từ hệ thống ra đa cảnh giới dẫn đường, ra đa của tên lửa, ra đa pháo phòng không đến gây nhiễu hệ thống thông tin liên lạc của ta. Bằng hệ thống gây nhiễu điện tử này theo tính toán của Bộ Chỉ huy không lực Hoa Kỳ, lực lượng pháo đài bay B52 trở thành lực lượng tập kích đường không khổng lồ nhưng lại là lực lượng “tàng hình” nên sẽ loại hoàn toàn tên lửa và pháo phòng không ra khỏi đối tượng tác chiến, do đó ngay từ đêm đầu tiên của chiến dịch, sau khi chúng tiến hành đồng loạt các thủ đoạn gây nhiễu ngoài đội hình, trong đội hình bằng nhiều tích cực, tiêu cực, tạo nhiễu B52 giả,… Bộ chỉ huy không quân Mỹ cho lực lượng cường kích bay thấp F111 và lực lượng cường kích F4, F105, A6, A7, A4 đồng loạt tiến công tất cả các sân bay của không quân ở Hà Nội, Bắc Giang, Yên Bái, Hải Phòng, Thanh Hóa. Tiếp theo ngay sau đó là tung lực lượng pháo đài bay B52 xông vào rải thảm bom để hủy diệt Hà Nội, Hải Phòng và một số địa phương khác. Trong 12 ngày đêm chúng đã rải hơn 100.000 tấn bom, phá hủy 5.400 ngôi nhà, hơn 100 nhà máy, xí nghiệp, trường học, bệnh viện. Giết chết 2.388 dân thường, làm bị thương 1.355 người khác. Độ tàn bạo của cuộc rải thảm bom hủy diệt này như là một “Hirosima không có bom nguyên tử”. Xin lưu ý sự kiện: Sau thất bại thảm hại của Mỹ ngụy ở Đường 9-Nam Lào (1971), đầu năm 1972, chiến lược “Việt Nam hóa chiến tranh” của Mỹ có nguy cơ sụp đổ hoàn toàn, để cứu vãn tình thế, ngày 06/4/1972, Tổng thống Mỹ Nixon ra lệnh tiến hành cuộc chiến tranh phá hoại lần thứ hai đối với miền Bắc với quy mô lớn hơn, tính chất ác liệt tàn bạo hơn nhiều so với cuộc chiến tranh phá hoại lần I, Mỹ sử dụng cả máy bay chiến lược B52 đánh phá các tỉnh Quảng Bình, Nghệ An, Thanh Hóa, Hải Phòng. Quân và dân ta đã chiến đấu kiên cường, dũng cảm đánh bại các đợt đánh phá, các đợt tập kích đường không của địch, cục diện chiến tranh chuyển hướng ngày càng có lợi cho ta. Tại Hội nghị đàm phán 4 bên ở Pari, ngày 08/1/1972 ta đã đưa ra dự thảo Hiệp định “Về chấm dứt chiến tranh lập lại hòa bình ở Việt Nam”. Phía Mỹ đã chấp thuận bản dự thảo này, nhưng sau đó, đã bội ước, sau khi Tổng thống Nixon  thỏa hiệp được với một số nước lớn. Phía Mỹ không những không thực hiện lộ trình của thỏa thuận này mà lại thực hiện những thủ đoạn xảo trá đánh lừa và trấn an dư luận Mỹ thông qua màn khói: “Hòa bình đang ở trong tầm tay” để đầu tháng 11 sau khi có kết quả tái cử vào Nhà trắng lập tức Tổng thống Nixon, cố vấn Kissinger, Bộ trưởng Quốc phòng Laira, Thứ trưởng Quốc phòng Haig và Chủ tịch Hội đồng tham mưu liên quân Moorer thông qua kế hoạch tuyệt mật. Cuộc hành binh Lainơbêchcơ II”.

Năm 1972, Bộ đội phòng không-không quân của ta phải đảm đương 3 nhiệm vụ rất nặng nề: Tham gia chiến đấu trong đội hình quân binh chủng hợp thành ở chiến trường phía Nam, vừa phải bảo vệ vùng giải phóng Quảng Trị và giao thông vận tải chiến lược trên địa bàn Quân khu 4 và sẵn sàng đánh trả cuộc tập kích chiến lược đường không vào Hà Nội, Hải Phòng. Do đó lực lượng tên lửa bảo vệ thủ đô có 10 tiểu đoàn (3 trung đoàn ) và sau bổ sung thêm dăm tiểu đoàn nữa. Bảo vệ Hải Phòng có 2 trung đoàn tên lửa. Pháo cao xạ của Hà Nội, Hải Phòng cùng với lực lượng phòng không của Quân khu 3, Quân khu Việt Bắc cũng chỉ có 15 trung đoàn.

Lực lượng dân quân tự vệ Hà Nội ngoài 4 trung đội pháo 100 ly còn có gần 200 trận địa trung liên, đại liên, súng máy 12,7 ly, 14,5 ly. Máy bay tiêm kích MIG21, loại có tính năng vượt trên tầm cao của B52 chỉ có vài trung đoàn nhưng số phi công lái MIG21 có khả năng bay đêm lại không nhiều. Lực lượng ra đa cảnh giới dẫn đường cũng chỉ có gần 30 đại đội được bố trí khắp miền Bắc.

Căn cứ vào những số liệu về lực lượng địch ta nói trên ta thấy lực lượng của Mỹ chiếm ưu thế áp đảo cả về số lượng và kỹ thuật hiện đại tối tân – đúng như Nixon đã khẳng định trong một cuốn sách của mình: “Trong lịch sử nhân loại chưa hề có một quốc gia nào chiếm ưu thế hơn hẳn về vũ khí như Hoa Kỳ so với Bắc Việt Nam…” . Trong cuộc chiến đấu không cân sức này, quân dân Hà Nội, Hải Phòng, mà nòng cốt là lực lượng phòng không-không quân đã đi vào trận quyết chiến 12 ngày đêm lịch sử với hạnh phúc lớn là được sự quan tâm đặc biệt của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Ngày 18/6/1965 khi Mỹ đưa 30 B52 vào ném bom khu căn cứ Long Xuyên của ta ở huyện Bến Cát, một tháng sau, ngày 19/7/1965, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã cảnh cáo bọn xâm lược và chỉ thị cho quân dân ta: “Dù đế quốc Mỹ có lắm súng, nhiều tiền, dù chúng có B57, B52 hay “Bê” gì đi nữa ta cũng đánh… mà đã đánh là nhất định thắng”.

Ngày 12/6/1966, Mỹ cho B52 ném bom đèo Mụ Giạ ở Quảng Bình rồi mở rộng ra đến Vĩnh Linh, Chính ủy quân chủng phòng không-không quân được Bác Hồ mời lên gặp và giao nhiệm vụ: “Máy bay B52 Mỹ đã ném bom miền Bắc. Phải tìm cách đánh cho được B52. Nhiệm vụ này Bác giao cho các chú phòng không – không quân”. Từ năm 1966 – 1967, quân chủng phòng không – không quân đã cử hai đoàn cán bộ tên lửa, một đoàn cán bộ ra đa, một đoàn cán bộ thông tin, một đoàn cán bộ không quân vào tuyến lửa Quảng Bình, Vĩnh Linh và biên giới Việt – Lào để nghiên cứu nhiễu, nghiên cứu B52, đồng thời đưa hai trung đoàn tên lửa, và một số phi đội MIG21 vào trực tiếp đánh B52 trên vùng trời Quảng Bình, Vĩnh Linh để rút kinh nghiệm. Vì xác định đúng các đường bay B52 vào đánh Hà Nội, Hải Phòng cho nên, số lượng đơn vị tên lửa, pháo phòng không, MIG21 của ta rất có hạn nhưng đã bố trí đủ lực lượng cần thiết trên từng đường bay, nhất là tạo được lực lượng mạnh, lưới lửa nhiều tầng trên các hướng đường bay chủ yếu.

Bộ đội phòng không-không quân của ta sẵn sàng chiến đấu,
tiêu diệt “pháo đài bay” B52. (Ảnh tư liệu. Nguồn: vtv.vn)

Đầu xuân năm 1968, Bác Hồ đã mời Tổng tham mưu phó Quân đội nhân dân Việt Nam Phùng Thế Tài nguyên Tư lệnh Quân chủng Phòng không – không quân lên và Bác đã đưa ra một dự báo và nhận định thiên tài: “Sớm muộn đế quốc Mỹ cũng sẽ đưa B52 ra ném bom Hà Nội rồi có thua mới chịu thua. Chú nên nhớ trước khi đến Bàn Môn Điếm ký Hiệp định đình chiến ở Triều Tiên, Mỹ đã cho không quân hủy diệt Bình Nhưỡng. Ở miền Nam, Mỹ nhất định thua nhưng nó chỉ chịu thua trên bầu trời Hà Nội.

Sau chỉ thị của Bác, một kế hoạch đặc biệt quan trọng mang tên “Phương án đánh trả cuộc tập kích chiến lược đường không bằng B52 của Mỹ, bảo vệ Hà Nội, Hải Phòng” của Quân chủng phòng không – không quân được ra đời ngày 27/2/1968. Từ cuối tháng 11 đến nửa đầu tháng 12, từ phương án chung này của Quân chủng đã được cụ thể hóa thành những kế hoạch chiến đấu của từng binh chủng như ra đa, tên lửa, cao xạ, không quân… Và được tổ chức luyện tập nghiêm túc, chu đáo, được cán bộ chỉ huy các cấp và các đơn vị xử lý thành thạo những tình huống đặt ra.

10h30 ngày 17/12/1972, theo lệnh của Bộ Tổng tham mưu, toàn bộ lực lượng của quân chủng phòng không – không quân, cùng lực lượng dân quân tự vệ của Hà Nội, Hải Phòng… đã vào tư thế sẵn sàng chiến đấu cao nhất. Quân dân Hà Nội, Hải Phòng… đã thực sự chủ động đi vào chiến dịch lịch sử 12 ngày đêm tháng chạp năm 1972.

Đêm ngày 18/12, Binh chủng ra đa cảnh giới dẫn đường đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ canh trời tổ quốc. 19h, Đại đội 16 ra đa phát hiện có nhiễu B52, kíp trắc thủ trực ban của đại đội đã kịp thời thông báo những tọa độ đầu tiên của B52 khi nó đang bay lên phía thượng Lào. 19h45, Đài trưởng ra đa của Đại đội 45 Nghiêm Đình Tích báo cáo: “B52 đang bay vào Hà Nội. Khi tốp B52 đầu tiên còn cách Hà Nội 300km, toàn bộ lực lượng của Quân chủng phòng không – không quân vào tư thế sẵn sàng chiến đấu cấp I. 20h20, thực hiện lệnh của Tiểu đoàn trưởng D59.E261, sĩ quan điều khiển Dương Văn Thuận đã ấn nút phóng đưa quả đạn tên lửa mang số hiệu C202A vạch trời đêm bay trúng đích hạ tại chỗ chiếc B52-G xuất phát từ Guam, rơi xuống địa phận Phù Lỗ, Đông Anh, Hà Nội. Đây là chiếc B52 đầu tiên bị bắn rơi tại chỗ của chiến dịch, cũng là chiến công đầu, ngay trong ngày đầu của quân dân thủ đô anh hùng.

Đêm đầu tiên của chiến dịch, quân dân ta lập công vang dội: Bắn rơi 3 pháo đài bay B52, bắt sống 7 giặc lái.

Trong 12 ngày đêm của chiến dịch lịch sử, Binh chủng tên lửa lập chiến công cao nhất: Bắn rơi 36 trên tổng số 81 máy bay các loại, trong đó bắn rơi 29 máy bay B52 trên tổng số 34 máy bay B52 bị bắn rơi. Tất cả 16 máy bay B52 bị bắn rơi tại chỗ đều là chiến công của Bộ đội tên lửa anh hùng. Trong 12 ngày đêm của chiến dịch, các cán bộ chiến sỹ tên lửa đã sáng tạo những cách đánh đầy bản lĩnh và khí phách tiến công, thông minh sáng tạo để xử lý mọi thủ đoạn gây nhiễu, gạt được các tên lửa không đối đất sơrai, tách được nhiều B52 giả, tiết kiệm tên lửa, nâng cao hiệu quả tiêu diệt B52. Các chiến sỹ lái xe chở tên lửa đã vượt qua bom đạn cung cấp đạn kịp thời cho các trận địa tên lửa. Các chiến sỹ của các tiểu đoàn 5 – tiểu đoàn lắp ráp, nạp nhiên liệu cho tên lửa đã sáng tạo nên những sáng kiến khôi phục hàng nghìn quả tên lửa quá đát, có những chiến sỹ chấp nhận nhiễm độc của nhiên liệu tên lửa nhằm hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ này.

Bộ đội không quân dũng cảm, thông minh, sáng tạo khắc phục biết bao khó khăn vượt qua bao gian khổ hy sinh:

+ Máy bay trinh sát địch dò tìm vị trí máy bay ta thì ta có lúc phải dùng trực thăng cẩu MIG21 đi dấu nơi xa, tối đến trả MIG21 về sân bay cất cánh chiến đấu.

+ Địch đánh hỏng đường băng chính, ta dùng đường băng phụ, đường băng phụ hỏng ta dùng đường lăn, đường lăn hỏng ta cất cánh từ các sân bay dã chiến vòng ngoài. Thực hiện khẩu hiệu: “Địch phá ta sửa, ta bay”. Mỗi lần đường băng bị bắn phá, công binh phối hợp với nhân dân địa phương lập tức việc san lấp, sửa chữa đường băng cho máy bay cất cánh.

+ Đối phó với số lượng máy bay của địch nhiều, không quân ta đánh du kích, dùng tốp nhỏ, chiếc lẻ với khẩu hiệu: “Một người, một máy bay vẫn tấn công”, bất ngờ đột kích, vượt qua hàng đàn máy bay hộ tống tiếp cận phía điểm yếu của B52 phóng tên lửa K13 tiêu diệt địch.

Đêm ngày 27/12 phi công Phạm Tuân và đêm 28/7 phi công Vũ Xuân Thiều đã lập công xuất sắc bắn rơi 02 máy bay B52.

Bộ đội pháo cao xạ được giao nhiệm vụ chủ yếu đánh máy bay chiến thuật để trực tiếp bảo vệ các mục tiêu và nhất là bảo vệ các trận địa tên lửa, các sân bay.

Chính các đơn vị cao xạ tầm thấp đã bố trí đón lõng và tổ chức cảnh giới tốt nên đã nổ súng kịp thời bắn rơi tại chỗ 5 máy bay cánh cụp cánh xòe F111 trên tổng số 48 chiếc được huy động trong chiến dịch, đạt hiệu quả chiến đấu rất cao. Các đơn vị pháo trung cao 100ly, trong 02 đêm 24 và 26/12 đã bắn rơi 03 máy bay B52.

Bộ đội cao xạ trong chiến dịch lịch sử đã bám trụ kiên cường nhằm thẳng quân thù bắn đã lập công xuất sắc bắn rơi 39 máy bay trên tổng số 81 chiếc (48%) góp phần tích cực bảo vệ các mục tiêu nhất là các cơ quan lãnh đạo, các nhà máy, bệnh viện, các đơn vị tên lửa, sân bay.

Trong hai cuộc chiến tranh phá hoại bằng không quân của Mỹ đối với miền Bắc, chưa bao giờ đế quốc Mỹ chịu tổn thất nặng nề như trong chiến dịch 12 ngày đêm đánh vào Hà Nội, Hải Phòng… Trong chiến dịch lịch sử này, 81 máy bay Mỹ bị bắn rơi trong đó: 34 máy bay B52, 05 máy bay F111, 21 máy bay F4, 04 máy bay A6A, 12 máy bay A7, 01 máy bay F105, 02 máy bay RA5C, 01 trực thăng HH53, 01 trinh sát 147SC. Đúng như Phó Chỉ huy không quân chiến lược Mỹ, Tướng Giooc Et tơ phải cay đắng thú nhận: “Tổn thất về máy bay chiến lược B52 cùng phi hành đoàn là hết sức nặng nề, là đòn choáng váng đánh thẳng vào những nhà vạch kế hoạch của Lầu Năm góc”.

Chiến thắng “Điện Biên Phủ trên không” là đài vinh quang chói lọi, là niềm kiêu hãnh tự hào về Đảng vĩ đại, Bác Hồ kính yêu, về dân tộc Việt Nam anh hùng và quân đội nhân dân Việt Nam anh hùng, về quân chủng phòng không – không quân anh hùng.

Chiến công hiển hách này là sự minh chứng hùng hồn sức mạnh của văn hóa Việt Nam, sức mạnh của sự kết hợp hài hòa các yếu tố cách mạng và khoa học, giữa bản lĩnh vững vàng, khí phách tiến công, quyết đánh và trí tuệ biết đánh thắng, sự kết hợp giữa tinh thần lạc quan tin tưởng với đức hy sinh cao thượng. Sự kết hợp hài hòa các yếu tố tinh thần này để tạo nên sức mạnh tổng hợp của nền văn hóa Việt Nam.

Việc trân trọng, giữ gìn, phát huy mạnh mẽ các giá trị tinh thần trên đây sẽ tạo động lực to lớn để thực hiện thắng lợi hai nhiệm vụ chiến lược: Xây dựng thành công và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa./.

PGS,TS Đào Duy Quát
cpv.org.vn

Advertisements