Tag Archive | Việt Nam – Hồ Chí Minh

“Chống giặc nội xâm” – Bài học về xây dựng Đảng hiện nay

(GD&TĐ) – “Chỉ một năm sau ngày Tết Độc lập 2/9/1945, ngày 27/11/1946 Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ký sắc lệnh 223 về việc “Xử phạt đối với tội đưa hối lộ cho công chức, tội công chức nhận hối lộ, biển thủ công quĩ hoặc của công dân”.

Sắc lệnh 223 là Đạo luật chống tham nhũng đầu tiên của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà, ra đời chỉ trước Ngày toàn quốc kháng chiến 19/12/1946 chưa đầy một tháng.

Nghị quyết Trung ương 4 khóa XI về xây dựng chỉnh đốn Đảng chính là gạn đục, khơi trong làm cho Đảng thật sự trong sạch, vững mạnh“Nghị quyết Trung ương 4 khóa XI về xây dựng chỉnh đốn Đảng chính là gạn đục, khơi trong làm cho Đảng thật sự trong sạch, vững mạnh”

Điều đó nói lên sự cấp bách của vấn nạn chống tham nhũng mà Bác Hồ gọi là “giặc nội xâm” trước nguy cơ giặc ngoại xâm đang rập rình ngay trước cửa. Trong có ấm, ngoài mới êm, nếu nội bộ không trong sạch, không được làm sạch, thì làm sao tập trung toàn lực chống ngoại xâm đi tới thắng lợi? Bài học mà Bác Hồ chỉ ra cho toàn Đảng, toàn chính quyền và toàn dân rất cụ thể, rất rõ ràng: “Vì những người và những cơ quan lãnh đạo từ cấp trên đến cấp dưới không sát công việc thực tế, không theo dõi và giáo dục cán bộ, không gần gũi quần chúng… chỉ biết khai hội, viết chỉ thị, xem báo cáo trên giấy, chứ không kiểm tra đến nơi đến chốn… thành thử có mắt mà không thấu suốt, có tai mà không nghe thấu, có chế độ mà không giữ đúng, có kỷ luật mà không nắm vững, kết quả là những người xấu, những cán bộ kém tha hồ mà tham ô, lãng phí. Thế là bệnh quan liêu đã ấp ủ, dung túng, che chở cho nạn tham ô, lãng phí.” Những cảnh báo cách đây hơn nửa thế kỷ của Bác Hồ mà cứ như Bác đang nói chuyện ngày hôm nay! Cứ như Bác đang nhìn thấu những chuyện đau lòng xảy ra ngày hôm nay gây ra bởi “quốc nạn” tham nhũng, lãng phí, và bắt đầu từ gốc của nó là bệnh quan liêu, giấy tờ, xa rời dân của các cấp chính quyền, của những người vẫn tự xưng mình là “đầy tớ của nhân dân”.

Cứ mỗi khi chúng ta có dịp nghiền ngẫm những lời căn dặn của Bác, mỗi khi ta thật tình tiếp thu, suy nghĩ về những lời dạy đó, chứ không phải làm qua chuyện “theo phong trào”, ta lại phát hiện ra những điều mới mẻ kỳ lạ từ những lời nói rất dung dị, bình thường của Bác Hồ. Ngay từ khi mới giành được chính quyền, Bác Hồ đã cảnh báo ngay về “nạn giặc nội xâm”- là tham nhũng, quan liêu, lãng phí. Dùng từ “nội xâm” thật đích đáng, và có lẽ ngày càng đích đáng, khi nhiệm vụ của Nhà nước bây giờ không phải là giành chính quyền hay xây dựng chính quyền trong những ngày “trứng nước” như xưa nữa, mà là xây dựng một Nhà nước pháp quyền đủ mạnh, đủ công khai và minh bạch để mọi công dân, dù làm việc gì, dù ở cương vị nào cũng phải tuân thủ pháp luật và hoàn toàn thấy yên tâm, thấy thoải mái trong việc tuân thủ pháp luật. Cứ vào lúc nào và với bất cứ ai tự cho mình cái quyền “đứng trên pháp luật” để hành xử từ việc nhỏ tới việc lớn, thì chừng đó, “giặc nội xâm” không chỉ là hiểm họa, mà thực sự đã thành tai họa nhãn tiền.

“Ai cũng biết vụ tham nhũng của đại tá Trần Dụ Châu trước đây. Khi phát hiện một đại tá tham nhũng, Bác Hồ đã kiên quyết xử lý. Vụ này báo chí không vào cuộc, vì đại tá lúc đó to lắm, nhưng Bác Hồ ra lệnh phải tường thuật trên Báo Cứu Quốc và Đài Tiếng nói Việt Nam đầy đủ, tỉ mỉ về vụ án này. Lúc đó Báo Cứu Quốc đăng 6 kỳ, trong đó 4 kỳ đăng trang nhất kèm xã luận.” Bác muốn người dân phải được biết về vụ việc này. Quyền được thông tin của người dân đã được người đứng đầu Đảng và Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà đặc biệt tôn trọng. Bài học về việc chống lại “giặc nội xâm” của Bác Hồ đến lúc này vẫn mang tính thời sự.

Hiện nay, trước tình hình tham nhũng và những tệ nạn xã hội ở nước ta có chiều hướng gia tăng, ôn lại những chỉ dẫn của Chủ tịch Hồ Chí Minh về đạo đức cách mạng, cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư, chống tham ô, lãng phí, quan liêu càng thấy rõ ý nghĩa sâu xa, tầm quan trọng và tính thời sự những chỉ dẫn của Người. Tuy chúng ta không bắt gặp những từ “tham nhũng” trong các tác phẩm của Người, nhưng đối chiếu với Luật Phòng chống tham nhũng năm 2005 của Quốc hội khóa XI, kỳ họp thứ 8 thông qua ngày 29-11-2005, có hiệu lực từ ngày 1- 6 -2006 có nêu: “Tham nhũng là hành vi của người có chức vụ, quyền hạn đã lợi dụng chức vụ, quyền hạn đó mà vụ lợi”, cùng những hành vi tham nhũng nêu trong Luật này phù hợp với những nội dung mà Chủ tịch Hồ Chí Minh gọi là tham ô, lãng phí, quan liêu.

Qua các kỳ Đại hội, Đảng ta đã thẳng thắn kiểm điểm và chỉ rõ một trong bốn nguy cơ, đó là tệ quan liêu và tham nhũng: “Tình trạng tham nhũng và sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống của một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên đang cản trở việc thực hiện đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng, gây bất bình và làm giảm lòng tin trong nhân dân”. Thật vậy, nạn tham nhũng kéo dài, ngày càng diễn biến phức tạp, quy mô ngày càng lớn, tính chất ngày càng nghiêm trọng trong bộ máy của hệ thống chính trị và trong nhiều tổ chức kinh tế là một nguy cơ lớn đe dọa đến sự sống còn của chế độ ta. Điều quan trọng hơn là từ thực tiễn kinh nghiệm của nhiều nước trên thế giới, thấm nhuần tư tưởng Hồ Chí Minh, Đảng ta muốn cảnh báo về hậu quả xã hội nguy hại của nó.

Tham nhũng, lãng phí, quan liêu ngoài những tổn thất và thiệt hại to lớn về kinh tế còn gây nên những thiệt hại về chính trị, xã hội khó lường. Điều tệ hại hơn, các tệ nạn này đang làm tha hóa cán bộ, đảng viên, nhất là những người có chức, có quyền; làm mất lòng tin của nhân dân đối với Đảng, Nhà nước và chế độ; làm mất đi mối quan hệ máu thịt giữa Đảng với quần chúng nhân dân; làm cho các chủ trương, chính sách bị sai lệch dẫn đến chệch hướng và làm tiền đề của mọi sự mất ổn định xã hội; là điều kiện thuận lợi cho các thế lực thù địch, gây mất ổn định chính trị, thực hiện âm mưu diễn biến hòa bình”, bạo loạn lật đổ. Đối với kẻ thù, nạn tham nhũng, lãng phí, quan liêu là cơ sở và mục tiêu để chúng công kích, bôi xấu chế độ ta, làm suy yếu sự lãnh đạo của Đảng và sự quản lý của Nhà nước ta. Đúng như điều mà Lênin trước đây đã cảnh báo về nguy cơ của một đảng cầm quyền chính là ở chỗ đánh mất mối dây liên hệ với quần chúng, rằng “nếu có cái gì làm tiêu vong chúng ta thì chính là những tệ nạn đó”.

Trong nhiều năm qua, Đảng ta đã có những chủ trương, phương hướng chỉ đạo nhằm đấu tranh chống tệ nạn này có hiệu quả. Nhà nước cũng ban hành hàng loạt văn bản pháp luật quy định cụ thể về chống tham nhũng, lãng phí, nhưng nhìn chung hiệu quả của cuộc đấu tranh chống tham nhũng, lãng phí chưa cao. Nhận thức ra tính chất nguy hại của tệ nạn này, Đảng ta đã có chủ trương tiếp tục đẩy mạnh cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng, lãng phí. Cuộc đấu tranh này là một nhiệm vụ trọng tâm của công tác xây dựng Đảng, nhiệm vụ trực tiếp, thường xuyên của cả hệ thống chính trị và toàn xã hội.

Thiết nghĩ, các cấp ủy và tổ chức Đảng, đặc biệt là cán bộ, đảng viên, trước hết là người đứng đầu các cơ quan đơn vị phải nhận thức sâu sắc tính cấp thiết, lâu dài, phức tạp và khó khăn của cuộc đấu tranh này, có quyết tâm chính trị cao, phải thực sự tiên phong, gương mẫu trong trận chiến với thứ “giặc nội xâm” đấu tranh kiên quyết, kiên trì, liên tục có hiệu quả từ Trung ương đến cơ sở, trong Đảng, Nhà nước và toàn xã hội.

Nghị quyết Trung ương 4 khóa XI về xây dựng chỉnh đốn Đảng chính là gạn đục, khơi trong làm cho Đảng thật sự trong sạch, vững mạnh, “thật sự trong như pha lê, mạnh như thác lũ” như Bác Hồ từng chỉ rõ, để phục vụ nhân dân, mang lại lợi ích thiết thực cho nhân dân. Mọi hoạt động xây dựng Đảng trong mọi thời kỳ cách mạng của Đảng đều không ngoài mục đích trên.

Trần Thông

gdtd.vn

Tìm hiểu Tư tưởng Hồ Chí Minh về tín ngưỡng, tôn giáo

Những nǎm gần đây tín ngưỡng tôn giáo đang phục hồi và phát triển mạnh mẽ ở nhiều quốc gia, châu lục, trong đó có Việt Nam. Rõ ràng tôn giáo không mất đi như nhiều người dự đoán, mà ngược lại có chiều hướng phát triển. Tình hình diễn biến theo nhiều khuynh hướng, góc độ khác nhau, đang đặt ra những vấn đề cần được lý giải trên cơ sở khoa học. Vì vậy, việc làm rõ quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về vấn đề tín ngưỡng, tôn giáo trong tình hình hiện nay là việc làm cần thiết, nhằm nâng cao nhận thức, quan điểm, thái độ cách nhìn nhận cho quần chúng và tìm cách giải quyết vấn đề tín ngưỡng, tôn giáo một cách đúng đắn. Việt Nam là một quốc gia có nhiều hình thức tôn giáo, tín ngưỡng khác nhau đang tồn tại. Lịch sử hình thành, du nhập, số lượng tín đồ, vai trò xã hội cũng như tác động chính trị của các tôn giáo ở nước ta cũng khác nhau. Có tôn giáo đã góp phần nâng cao ý thức dân tộc. Nhưng cũng có tôn giáo quá trình du nhập, hình thành và tồn tại đã bị các thế lực chính trị lợi dụng vì mục đích ngoài tôn giáo. Chính vì vậy, ngay từ đầu Hồ Chí Minh đã tiếp thu và vận dụng sáng tạo những quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lênin về tôn giáo vào điều kiện cụ thể của cách mạng Việt Nam, trên cơ sở đó Người đã đưa ra phương pháp giải quyết vấn đề tôn giáo phù hợp với từng giai đoạn cách mạng.

  • Quan điểm của Hồ Chí Minh về tôn giáo

Chủ tịch Hồ Chí Minh coi các giá trị nhân bản của các tôn giáo là những di sản vǎn hoá tinh thần quý báu của nhân loại, bằng tri thức cách mạng, vốn hiểu biết về vǎn hoá sâu sắc và cái nhìn duy vật biện chứng, Người đã phát hiện và tiếp nhận cái thiện, cái mỹ, cái cốt lõi nhân vǎn trong các tôn giáo. Người đã viết:

“Học thuyết của Khổng Tử có ưu điểm của nó là sự tu dưỡng đạo đức cá nhân .

Tôn giáo Giê su có ưu điểm của nó là lòng nhân ái cao cả.

Chủ nghĩa Mác có ưu điểm là phương pháp làm việc biện chứng.

Chủ nghĩa Tôn Dật Tiên có ưu điểm là chính sách của nó thích hợp với điều kiện nước ta.

Khổng Tử, Giê su, Tôn Dật Tiên chẳng có những ưu điểm chung đó sao? Họ đều mưu cầu hạnh phúc cho loài người, cho xã hội. Nếu nay họ còn sống trên đời này, nếu họ hợp lại một chỗ, tôi tin rằng họ nhất định chung sống với nhau hoàn mỹ như những người bạn thân thiết. Tôi cố gắng làm người học trò nhỏ của các vị ấy “.

Vì vậy, không ngạc nhiên khi Hồ Chí Minh – Người cộng sản, lãnh tụ vĩ đại của dân tộc Việt Nam không dưới một lần ca ngợi những người sáng lập ra các tôn giáo một cách thành kính: Chúa Giê su dạy đạo đức và bác ái. Phật thích ca dạy đạo đức và từ bi. Khổng Tử dạy đạo đức và nhân nghĩa.

Người đã nhấn mạnh điểm chung giữa lý tưởng của chủ nghĩa Mác với tôn giáo và các học thuyết có tính tiến bộ, đó là mưu cầu hạnh phúc cho loài người. Đây là một đặc điểm lớn được Hồ Chí Minh khai thác một cách triệt để và tài tình trong giải quyết các vấn đề có liên quan đến tôn giáo.

Tình cảm trân trọng và sự ngưỡng mộ của Chủ tịch Hồ Chí Minh đối với giá trị nhân vǎn của tôn giáo, khác với đức tin của các tín đồ của các tôn giáo ấy, nó xuất phát từ chủ nghĩa nhân đạo có sẵn trong con người Hồ Chí Minh. Chủ tịch Hồ Chí Minh là người vô thần đầy tư tưởng bao dung, không giáo điều, cục bộ, hẹp hòi; Người đã khéo léo vận dụng chủ nghĩa duy vật của Mác để “gạn đục khơi trong”, kế thừa những giá trị vǎn hoá mang tính nhân vǎn cao đẹp của các tôn giáo. Điều đó làm cho các tôn giáo không hoàn toàn đối lập với chế độ xã hội chủ nghĩa, trái lại một số vǎn hoá, đạo đức tôn giáo có thể hoà nhập cùng dân tộc trên con đường xây dựng một xã hội dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ và vǎn minh; xây dựng một nền vǎn hoá tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc. Đấy chính là sự vận dụng những quan điểm mác-xít hết sức xuất sắc và phát triển sáng tạo của Hồ Chí Minh vào hoàn cảnh thực tế nước ta.

Có thể nói, ở Hồ Chí Minh tư tưởng và hành động của Người là sự dung hợp những giá trị tư tưởng nhân vǎn cao cả trên nền tảng của chủ nghĩa yêu nước, chủ nghĩa cộng sản vì mục tiêu giải phóng dân tộc, giải phóng con người. Trong sự dung hoà đó các giá trị nhân bản của tôn giáo được Hồ Chí Minh kế thừa, nâng cao trên cơ sở bổ sung những nội dung mới phù hợp với từng giai đoạn lịch sử của cách mạng Việt Nam, phù hợp với thời đại.

Bản chất của tôn giáo là khẳng định, nhấn mạnh vai trò của siêu nhiên như một giá trị xã hội cao nhất và đề ra một hệ thống chuẩn mực bình đẳng cho sự củng cố, giữ vững niềm tin ở sức mạnh của các thế lực siêu nhiên. Dù tôn giáo có lý tưởng cứu khổ, giải phóng con người nhưng tôn giáo đã phủ định sức mạnh ở chính con người. Với tôn giáo, con người chỉ là “con cừu bé nhỏ”, là “chúng sinh đau khổ”, cần được “chǎn dắt”, “cứu vớt”, “giải thoát”. Với Hồ Chí Minh, xuất phát từ sự tôn trọng, tin tưởng vào sức mạnh to lớn của bản thân con người, Người cho rằng sự nghiệp giải phóng con người, giải phóng dân tộc phải dựa vào chính tiềm nǎng, sức mạnh to lớn của con người, của dân tộc.

2. Tự do tín ngưỡng và đại đoàn kết toàn dân là những nguyên tắc cơ bản của tư tưởng Hồ Chí Minh khi giải quyết vấn đề tôn giáo. Điều này được thể hiện rất rõ:

a) Tư tưởng tự do tín ngưỡng, tôn giáo: trong các vǎn bản quan trọng cũng như sắc lệnh mà Người trực tiếp tuyên bố và soạn thảo, Hồ Chí Minh luôn khẳng định tư tưởng nhất quán, lâu dài trước sau như một của Đảng và Nhà nước ta là tôn trọng quyền tự do tín ngưỡng của nhân dân. Hồ Chí Minh không chỉ nêu ra những quan điểm của mình mà còn giáo dục cán bộ, Đảng viên cũng như đồng bào lương giáo phải tôn trọng quyền tự do tín ngưỡng đó. Sự tôn trọng ấy không chỉ thể hiện trên vǎn bản, lời nói mà cả trên hành động thực tiễn của Người. Ngay từ khi mới giành được độc lập, tại phiên họp đầu tiên của chính phủ Người đã khẳng định: “Thực dân phong kiến tìm cách chia rẽ đồng bào giáo và đồng bào lương để dễ thống trị. Tôi đề nghị chính phủ ra tuyên bố “tín ngưỡng tự do, lương giáo đoàn kết”. Trong buổi ra mắt Đảng Lao động Việt Nam (nǎm 1957), Người khẳng định lại: “Chúng tôi xin nói thêm hai điều, nói rõ để tránh sự hiểu lầm: Một là vấn đề tôn giáo thì Đảng Lao động Việt Nam hoàn toàn tôn trọng quyền tự do tín ngưỡng của mọi người…”. Khẳng định quyền tự do tín ngưỡng của nhân dân, Người luôn phê phán nghiêm khắc những thái độ, hành vi xâm phạm, hoặc làm phương hại đến quyền tự do chính đáng đó.

Sự tôn trọng đức tin của đồng bào có đạo và lòng thương yêu bà con có tín ngưỡng tôn giáo khác nhau ở Hồ Chí Minh làm cho những người không cùng quan điểm với Người cũng phải kín phục. Chính ông J. Sainteny đã viết trong cuốn sách “Đối diện với Hồ Chí Minh”: “Về phần tôi phải nói rằng chưa bao giờ tôi có cớ nơi các chương trình của cụ Hồ Chí Minh một dấu vết nào dù rất nhỏ của sự công kích, đa nghi hoặc chế diễu đối với bất kỳ một tôn giáo nào”.

Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn tranh thủ sự ủng hộ của các chức sắc tôn giáo đối với cách mạng, thông qua họ để động viên tín đồ gắn bó với dân tộc, tham gia bảo vệ và xây dựng đất nước. Ngay cả với những người có tư tưởng bán nước (như giám mục Lê Hữu Từ), khi còn tranh thủ được, Người vẫn tranh thủ đến cùng trên tình huynh đệ con người, nhằm hạn chế thấp nhất những ảnh hưởng xấu và tổn thất do họ gây ra. Ngày 23/1/1947, trong thư gửi giám mục Lê Hữu Từ, Người đã viết: “Tôi tin rằng Đức cha đã lấy tư cách công dân, cố vấn tối cao của chính phủ và là bạn thân của tôi mà giải thích cho nhân dân hiểu rõ chính sách của chúng ta là khuyên giải bà con can đảm tham gia cuộc toàn quốc kháng chiến”.

Có thể nói, cách ứng xử của Chủ tịch Hồ Chí Minh đối với tôn giáo thể hiện trong đó tính khoa học và nghệ thuật, nhưng đồng thời còn chứa đựng tính nhân bản, nhân vǎn đối với con người, đối với quần chúng có đạo. Có lẽ vì thế mà Người đã được đông đảo quần chúng tín đồ coi như mộ tấm gương mẫu mực phấn đấu cho đạo và cho đời của dân tộc Việt Nam.

Đối với bọn lợi dụng, mượn danh tôn giáo để chống phá cách mạng, chống phá sự nghiệp của nhân dân. Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn tìm mọi cách để đồng bào ta, nhất là đồng bào có đạo nhận rõ bộ mặt của chúng. Sắc lệnh 234/SL ngày 14/6/1955 do Người ký đã chỉ rõ: “Pháp luật sẽ trừng trị kẻ nào mượn danh nghĩa tôn giáo để phá hoại hoà bình, thống nhất độc lập, dân chủ, tuyên truyền chiến tranh, phá hoại đoàn kết, ngǎn cản tín đồ làm nghĩa vụ công dân, xâm phạm tự do tín ngưỡng và tự do tư tưởng của người khác hoặc những việc làm trái pháp luật ” (Điều 7 – Chương 1).

b) Tư tưởng đoàn kết lương giáo, hoà hợp dân tộc: vấn đề xây dựng khối đoàn kết toàn dân trong sự nghiệp cách mạng Việt Nam là một tư tưởng lớn của Hồ Chí Minh; đồng thời tư tưởng đoàn kết lương giáo là một bộ phận có vị trí quan trọng trong tư tưởng của Người về chiến lược đại đoàn kết dân tộc. Có thể nói quan điểm đoàn kết lương giáo, hoà hợp dân tộc là sợi chỉ đỏ xuyên suốt, bao trùm trong tư tưởng của Người đối với vấn đề tín ngưỡng, tôn giáo trong cách mạng giải phóng dân tộc và cách mạng XHCN ở Việt Nam.

Tư tưởng Hồ Chí Minh nói chung, tư tưởng đoàn kết tôn giáo của Người nói riêng đã được hình thành, phát triển trên cơ sở kế thừa phát huy những giá trị vǎn hoá truyền thống của dân tộc qua hàng ngàn nǎm lịch sử dựng nước và giữ nước, cũng như tiếp thu những tinh hoa vǎn hoá của nhân loại (trước hết là những nguyên lý của chủ nghĩa Mác – Lênin), đồng thời vận dụng nó một cách sáng tạo vào hoàn cảnh, điều kiện lịch sử nước ta. Vì vậy, tư tưởng đoàn kết lương giáo, hoà hợp dân tộc của Hồ Chí Minh đã đạt đến đỉnh cao truyền thống đoàn kết của nhân dân ta.

Nội dung đoàn kết lương giáo, hoà hợp dân tộc của Hồ Chí Minh đã được chứng minh qua thực tiễn hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ.

Trong kháng chiến chống Pháp, Hồ Chí Minh đã viết: “Đồng bào đều biết rằng: ngày bắt đầu kháng chiến, lực lượng quân sự của Pháp mạnh hơn ta, thế mà ta càng ngày càng thắng lợi. Đó là nhờ sức mạnh đại đoàn kết của toàn dân và sự hǎng hái tham gia kháng chiến của mọi người giáo cũng như lương”.

Trong thời kỳ miền Bắc đã được giải phóng và đi lên CNXH, Hồ Chí Minh lại viết: “Phải đoàn kết chặt chẽ giữa đồng bào lương và đồng bào các tôn giáo, cùng nhau xây dựng đời sống ấm no, xây dựng tổ quốc, chấp hành đúng chính sách tôn trọng tự do tín ngưỡng của tất cả các tôn giáo”.

Thông qua thực tiễn cách mạng Việt Nam ở từng giai đoạn cụ thể, Hồ Chí Minh đã tìm ra những động lực chủ yếu, trực tiếp cho chiến lược đoàn kết lương giáo; Người đã làm thất bại âm mưu và hành động nhằm chia rẽ khối đoàn kết lương giáo; xoá bỏ những thành kiến, mặc cảm giữa dân tộc và đồng bào theo đạo.

Trên cơ sở lập trường duy vật triệt để, Hồ Chí Minh đã có một tầm nhìn khá bao quát và rộng rãi. Điều đó đã đưa Người vượt qua thành kiến hẹp hòi đối với tôn giáo, thực hiện thắng lợi chiến lược đoàn kết toàn dân, góp phần đưa cách mạng đến thắng lợi cuối cùng. Có thể nói tư tưởng Hồ Chí Minh về tín ngưỡng, tôn giáo mặc dù ra đời đã lâu, trong một hoàn cảnh khá đặc biệt của đất nước, nhưng mãi cho đến nay tư tưởng của Người vẫn còn giá trị, là di sản tư tưởng vô cùng quý giá giúp Đản và Nhà nước ta có cơ sở lý luận hoạch định chính sách tôn giáo trong bối cảnh tín ngưỡng tôn giáo đang diễn biến không ít phức tạp như hiện nay. Do đó, tìm hiểu tư tưởng Hồ Chí Minh và tuyên truyền giáo dục cho mọi người cùng hiểu, đặc biệt là quần chúng có đạo là việc làm cần thiết nhằm đoàn kết tốt các tôn giáo, vận động toàn dân thực hiện tốt những nhiệm vụ kinh tế – xã hội, nâng cao hiệu quả quản lý của Nhà nước về tôn giáo, đấu tranh chống địch lợi dụng tôn giáo chống phá sự nghiệp xây dựng CNXH ở nước ta.

Các từ khóa theo tin:Võ Thị Bích Thuỷ
Trường Chính trị Lâm Đồng (Tạp chí Khoa học chính trị, số 5/2001)

cpv.org.vn

Về những phẩm chất của người cán bộ y tế trong tư tưởng Hồ Chí Minh

Là lãnh tụ của Đảng và dân tộc, Hồ Chí Minh hơn ai hết nhận rõ tầm quan trọng của việc nâng cao sức khoẻ cho nhân dân để dựng nước và giữ nước. Người từng nói: “Dân cường thì nước mạnh”. Một trong những yếu tố làm cho dân cường là tổ chức chǎm sóc tốt sức khoẻ cho mỗi cá nhân và cả cộng đồng từ khi mới sinh ra. Người coi đó là nhiệm vụ vinh quang, rất vẻ vang mà thiên chức của nó được trao vào tay người cán bộ y tế.

Trong cả cuộc đời hoạt động cách mạng của mình, Hồ Chí Minh đã rất quan tâm đến ngành y và y đức của người thầy thuốc. Người đã nhiều lần gửi thư, trực tiếp gặp, thǎm các cơ sở y tế bày tỏ quan điểm của Đảng và Chính phủ ta về phẩm chất người thầy thuốc. Người cán bộ y tế là người chiến sĩ. Xét trên góc độ y học, mỗi cán bộ y tế là một chiến sĩ trên mặt trận bảo vệ sức khoẻ cho cộng đồng.

Chủ tịch Hồ Chí Minh từng nói: “Y tá là những chiến sĩ đánh gặc ốm để bảo vệ sự khang kiện của giống nòi”. Cuộc chiến đấu của con người chống lại bệnh tật luôn diễn ra gay go ác liệt. Những thành tựu y học đã chǎm sóc bảo vệ con người tốt hơn, nhưng có những lúc con người phải lùi bước trước bệnh tật. Trên trận tuyến này, người cán bộ y tế là người đi đầu, có nhiệm vụ nghiên cứu tìm ra phương cách phòng bệnh, chữa bệnh và chiến thắng bệnh tật.

Trong lịch sử nước ta, một nước chậm phát triển và chiến tranh kéo dài, vai trò người chiến sĩ của người cán bộ y tế thể hiện rõ hơn trong đó có sự kết hợp chặt chẽ giữa quân y và dân y. ở vào thời kỳ kháng chiến, người làm công tác quân y thường là ở tuyến sau, chạy chữa thương bệnh binh. Đảm bảo sức chiến đấu, giữ lại sinh mạng đồng đội là một nhiệm vụ không kém phần khó khǎn. Mỗi sự cố gắng nỗ lực của họ đều có vai trò quan trọng tới sinh mạng của đồng chí đồng đội. Công tác quân y làm tốt có ảnh hưởng rất quan trọng đến tinh thần chiến đấu của người lính.

Trong thư khen các y bác sĩ, hộ lý ngày 8-1-1947 Chủ tịch Hồ Chí Minh đã viết: “Các thầy thuốc và khán hộ đều hết lòng sǎn sóc thương binh một cách rất chu đáo. Thế là các bạn cũng trực tiếp tham gia kháng chiến cứu quốc . Trong thực tế, không ít trường hợp người cán bộ y tế phải trực tiếp cầm súng chiến đấu bảo vệ thương bệnh binh và bảo vệ chính mình. Trên một khía cạnh khác, người cán bộ y tế phải chiến đấu vì các giá trị khoa học mà họ đang tiến hành.

Đó là việc phổ biến các kiến thức y học, chống lại các tập quán mê tín dị đoan, đặc biệt ở vùng sâu, vùng xa, vùng dân tộc ít người. Người cán bộ y tế phải vượt trǎm ngàn gian khổ hy sinh, “chịu khổ, chịu khó” thực sự làm công tác dân vận của Đảng, giành giật người bệnh từ tay tầng lớp thầy mo thầy cúng. ở đây, người cán bộ y tế thực sự là người chiến sĩ trên mặt trận vǎn hoá tư tưởng, đấu tranh chống những tư tưởng lạc hậu, đem ánh sáng khoa học tới với đồng bào.

Chiến đấu chống bệnh tật đã khó, chiến đấu chống những tư tưởng lạc hậu đã ǎn sâu vào tập quán bao đời của đồng bào còn khó hơn nhiều. Nó đòi hỏi người cán bộ y tế phải hết sức cố gắng về chuyên môn chữa trị bệnh có hiệu quả tốt, kiên trì làm công tác chính trị mới có tính thuyết phục. Như vậy vai trò người cán bộ y tế là người chiến sĩ là quan điểm rất đúng đắn của Chủ tịch Hồ Chí Minh, có cơ sở khoa học và thực tiễn. Người cán bộ y tế phải như người mẹ hiền.

Chủ tịch Hồ Chí Minh rất coi trọng đạo đức. Theo Người đạo đức là gốc. Đạo đức của người làm công tác y tế theo Chủ tịch Hồ Chí Minh phải là người biết “thương yêu người bệnh” “sǎn sóc người bệnh như anh em ruột thịt của mình, coi họ đau đớn cũng như mình đau đớn”, “phải giàu lòng bác ái hy sinh”, “thầy thuốc phải như mẹ hiền”. Không phải ngẫu nhiên, Người lại dùng hình ảnh so sánh thầy thuốc như mẹ hiền bởi tình mẫu tử là tình cảm thiêng liêng. Mặt khác cha ông ta có câu: “có bệnh vái tứ phương”.

Những lúc đau yếu, bệnh tật người bệnh không còn trông cậy vào đâu, họ thực sự phó thác tính mệnh của mình cho người thầy thuốc. Đưa tình cảm này vào sự chǎm sóc, chữa trị bệnh, Chủ tịch Hồ Chí Minh muốn người thầy thuốc có cái tâm, làm phúc, để đức cho đời. Chǎm sóc cứu chữa kịp thời, không ít trường hợp người cán bộ y tế đã “sinh ra” người bệnh lần thứ hai, để lại niềm tin yêu kính phục trong nhân dân. Tinh thần phục vụ người bệnh là rất quan trọng, đặc biệt trong điều kiện vật chất của các cơ sở y tế nước ta còn hạn chế.

Vì vậy, Chủ tịch Hồ Chí Minh cǎn dặn thầy thuốc và nhân viên phục vụ cần coi trọng cả hai mặt vật chất và tinh thần . Có thuốc hay thức ǎn ngon, còn cần phải có thái độ phục vụ tốt, coi người bệnh như ruột thịt. Người viết trong thư gửi Hội nghị quân y (3-1948): “Người làm thuốc chẳng những có nhiệm vụ cứu chữa bệnh tật mà còn phải nâng đỡ tinh thần những người ốm yếu”. Như vậy, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chú ý đến mối quan hệ giữa thể xác và tinh thần người bệnh, lấy sự an ủi động viên tinh thần làm giảm đi nỗi đau về thể xác, hướng cho người bệnh có suy nghĩ và hành động đúng.

Chủ tịch Hồ Chí Minh phê phán những hành vi phân biệt đối xử với người bệnh, tính tự kiêu tự phụ, xem mình là người ban ơn cho kẻ khác của người làm công tác y tế. Người cán bộ y tế không chỉ giỏi về chuyên môn mà phải vững vàng về chính trị. Để chǎm sóc sức khoẻ nhân dân ngày càng tốt hơn, người thầy thuốc phải không ngừng nâng cao trình độ chuyên môn. Chủ tịch Hồ Chí Minh khuyến khích người thầy thuốc tích cực học tập và vận dụng kiến thức học tập vào công tác thực tế ở các cơ sở y tế để nâng cao tay nghề.

Trên cơ sở khám và chữa bệnh cho cộng đồng, chú trọng tổng kết, chú trọng nghiên cứu khoa học để tổng kết các phương pháp chữa bệnh, các phương thuốc thích hợp với từng loại bệnh để rút ngắn thời gian điều trị trả lại sức khoẻ cho người bệnh. Người đặc biệt lưu ý các thầy thuốc Việt Nam nghiên cứu kết hợp chữa bệnh Đông y và Tây y, tìm ra các phương thức chữa bệnh cũng như ứng dụng những thành tựu y học của nhân loại. Bác cũng nhắc nhở “học” phải đi đôi với “hành” mới có thể thành thạo công việc, mới có thể đưa kiến thức y học vào thực tiễn.

Trong điều kiện cụ thể của nước ta, Người nhắc nhở luôn học tập để tiến bộ nhưng phải chú trọng cái gì thích hợp với hoàn cảnh tức là gắn lý luận với thực tiễn, hiệu quả là thước đo sự tiến bộ trình độ chuyên môn. Y tế dự phòng là công tác hết sức quan trọng vì thế Chủ tịch Hồ Chí Minh nhắc nhở người cán bộ y tế phải đặc biệt chú ý đến phòng bệnh. Vừa chữa bệnh, người cán bộ y tế vừa có trách nhiệm tuyên truyền công tác giữ gìn vệ sinh, phòng tránh bệnh tật cho nhân dân trong đời sống thường ngày. Có như vậy, những kiến thức về vệ sinh phòng bệnh thông qua người cán bộ y tế mới tới được với cộng đồng. Giỏi về chuyên môn chưa đủ, người cán bộ y tế còn cần sự vững vàng về tư tưởng chính trị.

Hoạt động y tế của người thầy thuốc phải theo đúng đường lối chính sách y tế của Đảng và Chính phủ. Họ phải xác định công tác y tế là phục vụ đông đảo quần chúng nhân dân lao động. Bằng hoạt động của mình, họ tuyên truyền cho đường lối chủ trương chính sách của Đảng và Nhà nước. Người cán bộ y tế phải có tinh thần vượt mọi khó khǎn gian khổ, cố gắng hết sức mình vì sự nghiệp chǎm sóc và bảo vệ sức khoẻ nhân dân… Người cán bộ y tế phải có lối sống thực thà đoàn kết. Trong chữa bệnh, người thầy thuốc không được gây phiền hà cho người bệnh, không được lợi dụng vị trí của mình để kiếm lợi.

Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng tổng kết: đoàn kết đoàn kết đại đoàn kết, thành công thành công đại thành công. Trong y tế cũng vậy, Người cǎn dặn: “Đoàn kết thì vượt mọi khó khǎn, giành được nhiều thành tích. Đoàn kết giữa các cán bộ cũ và cán bộ mới, đoàn kết giữa tất cả những người trong ngành y tế từ các bộ trưởng, thứ trưởng, bác sĩ, dược sĩ cho đến các anh chị em giúp việc. Bởi vì công việc và địa vị tuy có khác nhau, nhưng người nào cũng là một bộ phận cần thiết trong ngành y tế, trong việc phục vụ nhân dân”. Người đã coi tinh thần tập thể của người cán bộ y tế là một yếu tố dẫn tới thành công. Rõ ràng là công việc chǎm sóc và bảo vệ sức khoẻ nhân dân không đơn giản. Nó đòi hỏi sự hỗ trợ cùng hoàn thành trách nhiệm của đội ngũ cán bộ y tế, cho dù ở cương vị nào. Chỉ có như vậy công tác y tế mới đạt hiệu quả cao nhất.

Không chỉ đoàn kết nội bộ, Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng nhắc nhở người cán bộ y tế phải đoàn kết với nhân dân nói chung. Có như vậy, người cán bộ y tế mới có thể vượt mọi khó khǎn gian khổ, hoàn thành tốt nhiệm vụ của mình, đến với cộng đồng, chǎm sóc và bảo vệ tốt sức khoẻ nhân dân. Những quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh về người cán bộ y tế và y đức có cơ sở lý luận và được thực tiễn chứng minh là đúng đắn. Vì vậy trong công tác y tế hiện nay, việc tìm hiểu, hiểu đúng và thực hiện tốt những lời dạy bảo ân cần của Người là trách nhiệm của mỗi người cán bộ y tế…

PTS. Trịnh Mưu – Nguyễn Bình (Bộ Y Tế; NXB. Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 1997)

cpv.org.vn

Lịch sử nước ta

Việt Minh tuyên truyền Bộ
xuất bản, tháng 2-1942.

Theo bản in của
Việt Minh tuyên truyền Bộ.

LỊCH SỬ NƯỚC TA

Dân ta phải biết sử ta,
Cho tường gốc tích nước nhà Việt Nam.
Kể năm hơn bốn ngàn năm,
Tổ tiên rực rỡ, anh em thuận hoà.
Hồng Bàng là tổ nước ta.
Nước ta lúc ấy gọi là Văn Lang.
Thiếu niên ta rất vẻ vang,
Trẻ con Phù Đổng tiếng vang muôn đời.
Tuổi tuy chưa đến chín mười,
Ra tay cứu nước dẹp loài vô lương.
An Dương Vương thế Hùng Vương,
Quốc danh Âu Lạc cầm quyền trị dân.
Nước Tàu cậy thế đông người,
Kéo quân áp bức giống nòi Việt Nam,
Quân Tàu nhiều kẻ tham lam.
Dân ta há dễ chịu làm tôi ngươi?
Hai Bà Trưng có đại tài,
Phất cờ khởi nghĩa giết người tà gian,
Ra tay khôi phục giang san,
Tiếng thơm dài tạc đá vàng nước ta.
Tỉnh Thanh Hoá có một bà,
Tên là Triệu ẩu tuổi vừa đôi mươi,

Tài năng dũng cảm hơn người,
Khởi binh cứu nước muôn đời lưu phương.
Phụ nữ ta chẳng tầm thường,
Đánh Đông, dẹp Bắc làm gương để đời,
Kể gần sáu trăm năm giời,
Ta không đoàn kết bị người tính thôn1*.
Anh hùng thay ông Lý Bôn,
Tài kiêm văn võ, sức hơn muôn người,
Đánh Tàu đuổi sạch ra ngoài.
Lập nên Triều Lý sáu mươi năm liền.
Vì Lý Phật Tử ngu hèn,
Để cho Tàu lại xâm quyền nước ta.
Thương dân cực khổ xót xa,
Ông Mai Hắc Đế đứng ra đánh Tàu,
Vì dân đoàn kết chưa sâu,
Cho nên thất bại trước sau mấy lần.
Ngô Quyền quê ở Đường Lâm,
Cứu dân ra khỏi cát lầm ngàn năm.
Đến hồi Thập nhị sứ quân2*
Bốn phương loạn lạc, muôn dân cơ hàn.
Động Hoa Lư có Tiên Hoàng,
Nổi lên gây dựng triều đàng họ Đinh.
Ra tài kiến thiết kinh dinh,
Đến vua Phế Đế chỉ kinh hai đời.
Lê Đại Hành nối lên ngôi.
Đánh tan quân Tống, đuổi lui Xiêm Thành.
Vì con bạo ngược hoành hành,
Ra đời thì đã tan tành nghiệp vương.
Công Uẩn là kẻ phi thường,
Dựng lên nhà Lý cầm quyền nước ta.
Mở mang văn hoá nước nhà,
Đắp đê để giữ ruộng nhà cho dân.
Lý Thường Kiệt là hiền thần,
Đuổi quân nhà Tống, phá quân Xiêm Thành.
Tuổi già phỉ chí công danh,
Mà lòng yêu nước trung thành không phai.
Họ Lý truyền được chín đời,
Hai trăm mười sáu năm giời thì tan.
Nhà Trần thống trị giang san,
Trị yên trong nước, đánh tan địch ngoài,
Quân Nguyên binh giỏi tướng tài:
Đánh đâu được đấy, dông dài á, Âu,
Tung hoành chiếm nửa Âu châu,
Chiếm Cao Ly, lấy nước Tàu bao la,
Lăm le muốn chiếm nước ta,
Năm mươi vạn lính vượt qua biên thuỳ,
Hải quân theo bể kéo đi,
Hai đường vây kín Bắc Kỳ như nen1)
Dân ta nào có chịu hèn,
Đồng tâm, hợp lực mấy phen đuổi Tàu.
Ông Trần Hưng Đạo cầm đầu,
Dùng mưu du kích đánh Tàu tan hoang,
Mênh mông một giải Bạch Đằng,
Nghìn thu soi rạng giống dòng quang vinh,
Hai lần đại phá Nguyên binh,
Làm cho Tàu phải thất kinh rụng rời.
Quốc Toản là trẻ có tài,
Mới mười sáu tuổi ra oai trận tiền,
Mấy lần đánh thắng quân Nguyên,
Được phong làm tướng cầm quyền binh nhung.
Thật là một đấng anh hùng,
Trẻ con Nam Việt nên cùng noi theo.
Đời Trần văn giỏi võ nhiều,
Ngoài dân thịnh vượng, trong triều hiền minh.
Mười hai đời được hiển vinh,
Đến Trần Phế Đế nước mình suy vi.
Cha con nhà Hồ Quý Ly,
Giết vua tiếm vị một kỳ bảy niên.
Tình hình trong nước không yên,
Tàu qua xâm chiếm giữ quyền mấy lâu,
Bao nhiêu của cải trân châu,
Chúng vơ vét chở về Tàu sạch trơn.
Lê Lợi khởi nghĩa Lam Sơn,
Mặc dầu tướng ít binh đơn không nàn.
Mấy phen sông Nhị núi Lam,
Thanh gươm yên ngựa Bắc, Nam ngang tàng.
Kìa Tuý Động nọ Chi Lăng,
Đánh hai mươi vạn quân Minh tan tành.
Mười năm sự nghiệp hoàn thành,
Nước ta thoát khỏi cái vành nguy nan.
Vì dân hăng hái kết đoàn,

Nên khôi phục chóng giang san Lạc Hồng.
Vua hiền có Lê Thánh Tôn,
Mở mang bờ cõi đã khôn lại lành.
Trăm năm truyền đến cung hoàng,
Mạc Đăng Dung đã hoành hành chiếm ngôi
Bấy giờ trong nước lôi thôi,
Lê Nam, Mạc Bắc rạch đôi san hà,
Bảy mươi năm nạn can qua1*
Cuối đời mười sáu2* Mạc đà suy vi.
Từ đời mười sáu2* trở đi,
Vua Lê, Chúa Trịnh chia vì khá lâu3*
Nguyễn Nam, Trịnh Bắc đánh nhau,
Thấy dân cực khổ mà đau đớn lòng.
Dân gian có kẻ anh hùng,
Anh em Nguyễn Nhạc nổi vùng Tây Sơn,
Đóng đô ở đất Quy Nhơn,
Đánh tan Trịnh, Nguyễn, cứu dân đảo huyền4*
Nhà Lê cũng bị mất quyền,
Ba trăm sáu chục năm truyền vị vương.
Nguyễn Huệ là kẻ phi thường,
Mấy lần đánh đuổi giặc Xiêm, giặc Tàu,
Ông đà chí cả mưu cao,
Dân ta lại biết cùng nhau một lòng.
Cho nên Tàu dẫu làm hung,

Dân ta vẫn giữ non sông nước nhà.
Tướng Tây Sơn có một bà,
Bùi là nguyên họ, tên là Thị Xuân,
Tay bà thống đốc ba quân,
Đánh hơn mấy trận, địch nhân liệt là.
Gia Long lại dấy can qua,
Bị Tây Sơn đuổi, chạy ra nước ngoài.
Tự mình đã chẳng có tài,
Nhờ Tây qua cứu, tính bài giải vây.
Nay ta mất nước thế này,
Cũng vì vua Nguyễn rước Tây vào nhà,
Khác gì cõng rắn cắn gà,
Rước voi dầy mả, thiệt là ngu si.
Từ năm Tân Hợi trở đi,
Tây đà gây chuyện thị phi1* với mình.
Vậy mà vua chúa triều đình,
Khư khư cứ tưởng là mình khôn ngoan.
Nay ta nước mất nhà tan
Cũng vì những lũ vua quan ngu hèn.
Năm Tự Đức thập nhất niên1),
Nam Kỳ đã lọt dưới quyền giặc Tây.
Hăm lăm năm sau trận này,
Trung Kỳ cũng mất, Bắc Kỳ cũng tan,
Ngàn năm gấm vóc giang san,
Bị vua họ Nguyễn đem hàng cho Tây!
Tội kia càng đắp càng đầy,
Sự tình càng nghĩ càng cay đắng lòng.
Nước ta nhiều kẻ tôi trung,
Tấm lòng tiết nghĩa rạng cùng tuyết sương.
Hoàng Diệu với Nguyễn Tri Phương,
Cùng thành còn mất làm gương để đời.
Nước ta bị Pháp cướp rồi,
Ngọn cờ khởi nghĩa nhiều nơi lẫy lừng;
Trung Kỳ đảng Phan Đình Phùng
Ra tay đánh Pháp, vẫy vùng một phương.
Mấy năm ra sức Cần Vương1*,
Bọn ông Tán Thuật nổi đường Hưng Yên,
Giang san độc lập một miền,
Ông Hoàng Hoa Thám đất Yên tung hoành.
Anh em khố đỏ, khố xanh,
Mưu khởi nghĩa tại Hà thành năm xưa,
Tỉnh Thái Nguyên với Sầm Nưa,
Kế nhau khởi nghĩa rủi chưa được toàn.
Kìa Yên Bái, nọ Nghệ An
Hai lần khởi nghĩa tiếng vang hoàn cầu.
Nam Kỳ im lặng đã lâu,
Năm kia khởi nghĩa đương đầu với Tây.
Bắc Sơn đó, Đô Lương đây!
Kéo cờ khởi nghĩa, đánh Tây bạo tàn.
Xét trong lịch sử Việt Nam,
Dân ta vốn cũng vẻ vang anh hùng.
Nhiều phen đánh bắc dẹp đông,
Oanh oanh liệt liệt con Rồng cháu Tiên.
Ngày nay đến nỗi nghèo hèn,
Vì ta chỉ biết lo yên một mình.
Để người đè nén, xem khinh,
Để người bóc lột ra tình tôi ngươi!
Bây giờ Pháp mất nước rồi,
Không đủ sức, không đủ người trị ta.
Giặc Nhật Bản thì mới qua,
Cái nền thống trị chưa ra mối mành.
Lại cùng Tàu, Mỹ, Hà, Anh,
Khắp nơi có cuộc chiến tranh rầy rà.
ấy là nhịp tốt cho ta,
Nổi lên khôi phục nước nhà tổ tông.
Người chúng ít, người mình đông
Dân ta chỉ cốt đồng lòng là nên.
Hỡi ai con cháu Rồng Tiên!
Mau mau đoàn kết vững bền cùng nhau.
Bất kỳ nam nữ, nghèo giàu,
Bất kỳ già trẻ cùng nhau kết đoàn.
Người giúp sức, kẻ giúp tiền,
Cùng nhau giành lấy chủ quyền của ta.
Trên vì nước, dưới vì nhà,
ấy là sự nghiệp, ấy là công danh.
Chúng ta có hội Việt Minh
Đủ tài lãnh đạo chúng mình đấu tranh
Mai sau sự nghiệp hoàn thành

Rõ tên Nam Việt, rạng danh Lạc Hồng
Dân ta xin nhớ chữ đồng:
Đồng tình, đồng sức, đồng lòng, đồng minh!

NHỮNG NĂM QUAN TRỌNG

Trước Tây lịch
Năm
2879 Hồng Bàng
111 Tàu lấy nước ra lần đầu
Sau Tây lịch
40 Hai Bà Trưng đánh Tàu
248 Bà Triệu ẩu khởi nghĩa
544 Vua Lý đánh Tàu
603 Tàu lấy nước ta.
939 Vua Ngô khởi nghĩa
968 Đời vua Đinh (12 năm)
981 Đời vua Tiền Lê (29 năm)
1010 Đời vua Hậu Lý (215 năm)
1073 Lý Thường Kiệt đánh Tàu
1225 Đời vua Trần (175 năm)
1283 Trần Hưng Đạo đánh Tàu
1407 Tàu lấy nước ta
1427 Vua Lê khởi nghĩa
1543 Đời vua Hậu Lê (360 năm)
1545 Vua Lê Chúa Trịnh
1771 Đời vua Tây Sơn (24 năm)
1789 Vua Nguyễn Huệ đánh Tàu
1794 Gia Long thông với Tây
1847 Tây bắt đầu đánh nước ta
1862 Vua nhà Nguyễn bắt đầu hàng Tây
1889 Ông Đề Thám khởi nghĩa
1893 Ông Phan Đình Phùng khởi nghĩa
1916 Trung Kỳ khởi nghĩa
1917 Thái Nguyên, Sầm Nưa khởi nghĩa
1930 Yên Bái, Nghệ An khởi nghĩa
1940 Bắc Sơn và Đô Lương khởi nghĩa
1941 Nam Kỳ khởi nghĩa
1945 Việt Nam độc lập

——————————–

Tài liệu gốc lưu tại Bảo tàng Cách mạng Việt Nam.

cpv.org.vn

Vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về GD truyền thống lịch sử dân tộc trong nhà trường

(GD-TĐ) – Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã dạy:

 “Dân ta phải biết sử ta
Cho tường gốc tích nước nhà Việt Nam”

Bởi theo Người, “Sử ta dạy cho ta những chuyện vẻ vang của tổ tiên ta. Dân ta là con Rồng, cháu Tiên, có nhiều người tài giỏi đánh Bắc dẹp Nam, yêu dân trị nước tiếng để muôn đời”.

Tư tưởng đó là kết quả của một quá trình tự nhận thức, đúc rút kinh nghiệm qua lịch sử đấu tranh dựng nước và giữ nước hàng ngàn năm của dân tộc ta, từ năm 2079 TCN – thời kỳ vua Hùng dựng nước đến khi thành lập Mặt trận Việt Minh, toàn bộ quá trình này đã được Người tổng kết trong tác phẩm “lịch sử nước ta”.

Đã có biết bao thế hệ ngã xuống, bao nhiêu máu và nước mắt đã đổ, mỗi tấc đất quê hương đều là sự hòa trộn của tinh khí tổ tiên, của những nỗi đau đời, của khát vọng,…tất cả tạo thành truyền thống. Và qua quá trình bôn ba tìm đường cứu nước Người nhận rõ hơn giá trị của tự do và càng tự hào về truyền thống lịch sử của dân tộc mình. Trên mỗi chặng đường cứu nước, Người luôn chú trọng việc giáo dục lịch sử dân tộc, khơi gợi lòng yêu nước của đồng bào.

Người nói: “Dân ta có một lòng nồng nàn yêu nước. Đó là một truyền thống quý báu của ta. Từ xưa đến nay, mỗi khi Tổ quốc bị xâm lăng, thì tinh thần ấy lại sôi nổi, nó kết thành một làn sóng vô cùng mạnh mẽ, to lớn, nó nhấn chìm tất cả lũ bán nước và cướp nước”. Tuy nhiên, Người cũng chỉ rõ rằng “…tinh thần yêu nước cũng như các thứ của quý. Có khi được trưng bày trong tủ kính, trong bình pha lê, rõ ràng dễ thấy. Nhưng cũng có khi cất giấu kín đáo trong rương, trong hòm…”. Chính vì vậy “bổn phận của chúng ta là làm cho những của quý kín đáo ấy đều được đưa ra trưng bày. Nghĩa là phải ra sức giải thích, tuyên truyền, tổ chức, lãnh đạo, làm cho tinh thần yêu nước của tất cả mọi người đều được thực hành vào công việc yêu nước…”

Nói như vậy để thấy rằng Bác rất quan tâm đến việc giáo dục truyền thống lịch sử cho mọi người, đặc biệt là truyền thống lịch sử địa phương. Công việc giáo dục ấy bao gồm nhiều kênh, từ “giải thích”, đến “tuyên truyền” rồi “tổ chức” và “lãnh đạo”. Mục đích cuối cùng là “làm cho tinh thần yêu nước của tất cả mọi người đều được thực hành vào công việc yêu nước”.

Một giờ học ngoại khoá của học sinh trường Tiểu học Nguyễn Bá Ngọc tại khu di tích lịch sử văn hoá Căng - Đồn Nghĩa Lộ   Một giờ học ngoại khoá của học sinh trường Tiểu học Nguyễn Bá Ngọc tại khu di tích lịch sử văn hoá Căng – Đồn Nghĩa Lộ (Yên Bái)

Kế thừa tư tưởng này của Người, trong suốt thời gian qua vấn đề giáo dục truyền thống lịch sử địa phương đã được quan tâm và đẩy mạnh trong mọi tầng lớp nhân dân, đặc biệt là đối với thế hệ trẻ. Bởi lẽ, thế hệ trẻ chính là những chủ nhân tương lai của đất nước. Sự sinh tồn, phát triển của một dân tộc nói chung và của địa  phương nói riêng phụ thuộc rất nhiều vào thái độ và cách ứng xử của những thế hệ tương lai đối với quá khứ của dân tộc mình, của địa phương mình.

Trong xu thế hội nhập, sự hòa trộn giữa những nền văn hóa tất yếu đưa đến nhiều hệ quả khác nhau và cả những hậu quả khó tránh. Có một thực tế đáng buồn là có một bộ phận không nhỏ giới trẻ đã quay lưng với quá khứ, với lịch sử, thậm chí sẵn sàng phủ nhận quá khứ, phủ nhận truyền thống bằng một lối sống hời hợt, a dua, lệch lạc, sự hiểu biết của học sinh về lịch sử địa phương còn rất hạn chế.

Theo kết quả điều tra về lịch sử địa phương do giáo viên dạy Sử ở trường TH&THCS Trần Phú, thị xã Nghĩa Lộ, tỉnh Yên Bái cho thấy: Với những câu hỏi đơn giản như: “Tỉnh Yên Bái có bao nhiêu huyện, thị xã, thành phố?” chỉ có 15% số học sinh được hỏi trả lời đúng, hoặc “Lãnh đạo của cuộc khởi nghĩa Yên Bái là ai?” chỉ có 20% số học sinh được hỏi trả lời đúng, số học sinh còn lại lơ mơ hoặc không biết. Đây cũng là tình trạng chung ở các trường. Vấn đề này đã được các phương tiện thông tin đại chúng thường xuyên mổ xẻ. Đó không chỉ là vấn đề nan giải của ngành giáo dục mà còn của toàn xã hội.

Trước thực tế ấy, việc giáo dục truyền thống lịch sử  và lịch sử địa phương cho thế hệ trẻ càng trở nên cấp thiết. Một trong những môi trường giáo dục tiên quyết chính là trường học. Bởi đây là môi trường có nhiều điều kiện để tích hợp mọi phương pháp, đặc biệt là những phương pháp mang tính trực quan, sinh động, chẳng hạn: minh họa qua tranh ảnh, sách báo; qua máy chiếu; tổ chức ngoại khóa, các cuộc thi tìm hiểu; qua các trò chơi dân gian…

Nhờ các phương pháp, hình thức trên mà việc giáo dục truyền thống lịch sử dân tộc, lịch sử địa phương trở nên sinh động, bớt khô cứng, máy móc, đọng lại trong tư duy học sinh ấn tượng tốt đẹp về mảnh đất quê hương với rất nhiều điều thú vị về những câu chuyện lịch sử, về phong tục tập quán của các dân tộc anh em được gìn giữ từ lâu đời, về các danh lam thắng cảnh của địa phương…Những kiến thức lịch sử đang hiện hữu xung quanh chúng ta chính là một nguồn tư liệu quý giá, cái chính là phải làm sao để những điều thường nhật ấy trở nên lấp lánh sắc mầu lịch sử. Vai trò đầu tiên thuộc về nhà trường mà cụ thể là những giáo viên trực tiếp giảng dạy.

Trước tiên, giáo viên phải nghiên cứu kỹ nội dung giảng dạy trước khi lên lớp, sau đó hướng dẫn học sinh học bài về nhà để học sinh có định hướng tìm tòi, sưu tầm các tài liệu phục vụ cho bài học. Để đạt được mục tiêu bài học, giáo viên cần chuẩn bị tốt các giáo cụ trực quan (tranh ảnh, biểu đồ, bản đồ, sa bàn…), làm chủ các phương tiện dạy học hiện đại, phát huy tính chủ động, tích cực của học sinh.

Bên cạnh đó, giáo viên cần phải tự nâng cao kỹ năng tổ chức các hoạt động ngoài giờ lên lớp như: tổ chức các trò chơi dân gian, các hoạt động ngoại khóa, phối hợp với các đơn vị quản lý di tích, danh thắng trên địa bàn tổ chức cho học sinh tham quan, tìm hiểu, lao động ngoại khóa tại các di tích lịch sử, văn hóa. Qua đó, tạo môi trường giáo dục thân thiện, tích cực, kéo học sinh về gần hơn với các giá trị truyền thống lịch sử. Việc phối hợp giáo dục giữa nhà trường với các đơn vị trên đã mang lại hiệu quả thiết thực.

Lấy mô hình ở thị xã Nghĩa Lộ là một ví dụ, nhiều năm nay Phòng giáo dục thị xã đã chủ động phối hợp với Khu tưởng niệm Chủ tịch Hồ Chí Minh thường xuyên tổ chức cho học sinh các trường đến tham quan, lao động ngoại khóa kết hợp với nghe thuyết minh, kể chuyện về lịch sử địa phương, về danh nhân. Hiệu quả trông thấy là học sinh tỏ ra rất hứng thú khi tham gia các hoạt động này bởi các kiến thức lịch sử đã trở nên sinh động, hấp dẫn, dễ tiếp thu. Từ đó học sinh sẽ có ý thức tôn trọng, bảo vệ các di tích, danh thắng, đồng thời lòng tự tôn, tự hào được nâng lên, việc quảng bá truyền thống lịch sử địa phương ra bên ngoài là tất yếu.

Ngày nay, việc giáo dục truyền thống lịch sử dân tộc trong đó có lịch sử địa phương càng trở nên có ý nghĩa hơn bao giờ hết. Trong xu thế hội nhập, nếu không biết giữ bản sắc văn hóa dân tộc thì sẽ bị hòa tan, bị nhấn chìm. Bởi vì đối với một dân tộc, lịch sử là điểm tựa, là kim chỉ nam để tồn tại và phát triển. Quá khứ, hiện tại và tương lai là một dòng chảy liên tục, cái mới sẽ ra đời trên mảnh đất truyền thống. Tôn trọng lịch sử là một tiêu chí của sự đổi mới. Như Bác Hồ đã từng căn dặn: “Ngày xưa, các vua Hùng đã có công dựng nước, ngày nay Bác cháu ta phải cùng nhau giữ lấy nước”./.

Thu Phong – Phạm Duyên
(Khu tưởng niệm Chủ tịch Hồ Chí Minh thị xã Nghĩa Lộ, Yên Bái)

gdtd.vn

Lời Bác Hồ dạy năm xưa

Năm mươi năm có lẻ đã qua đi nhưng những lời Bác dạy mộc mạc ấy đã làm kim chỉ nam dẫn đường cho chúng tôi đi trong suốt cuộc đời. Làm theo lời Bác từ lúc còn trai trẻ, đến nay đã thuộc lớp người xưa nay hiếm. Chúng tôi tự hào là đã cả cuộc đời học hành. Học ở nhân dân để rồi phục vụ nhân dân. Trong số chúng tôi có người đã trở thành Giáo sư, là chuyên gia đầu ngành như Đặng Anh Đào, Nguyễn Đình Chú, Phan Cự Đệ, Hà Minh Đức, Nguyễn Hải Hà, Nguyễn Thái Hoà…

Vào một buổi sáng chủ nhật tháng 4 năm 1956 trời mưa. Mưa mỗi lúc một thêm nặng hạt. Đường đi lối lại trong Việt Nam học xá (xưa là Đông Dương học xá – bây giờ là trường Đại học Bách Khoa – phường Bách Khoa – Hà Nội) lầy lội. Sinh viên chúng tôi sau khi tập thể dục lại leo lên giường “tụng niệm”…

Không khí trong các phòng im ắng. Bỗng tiếng loa vang vọng với một tin ngắn gọn: “Tất cả sinh viên tập trung tại tiền sảnh nhà A1 để đón khách Trung ương” (Cả khu Việt Nam học xá lúc ấy có hai nhà cao tầng là nơi ở của sinh viên Việt Nam và hai nhà hai tầng nhỏ là nơi ở của sinh viên Lào – Campuchia thời Pháp thuộc).

– Khách ở Trung ương là ai? Trời lại mưa? Lại vào ngày chủ nhật?

Bọn sinh viên chúng tôi đoán già đoán non. Người thì bảo: Bộ trưởng Bộ đại học Hồ Đắc Di, người thì bảo: Giáo sư – Hiệu trưởng Phạm Huy Thông v v… Cũng có người bảo: Biết đâu khách Trung ương lại là Bác Hồ… Nửa tin nửa ngờ: Cũng có thể… Bọn mình mong gặp Bác nhưng Bác bận trăm ngàn công việc và trong chốc lát chúng tôi đã xếp hàng trước tiền sảnh nhà A1.

Cùng lúc ấy hai ba chiếc xe con màu sơn đã nhạt nhoà từ từ tiến vào Việt Nam học xá rồi dừng lại. Từ xe thứ nhất bước ra là Bộ trưởng Bộ Giáo dục Nguyễn Văn Huyên, Giám đốc VNHX Hoàng Vi Nam, từ xe thứ hai một cụ già mảnh khảnh bước ra với mái tóc trắng đầy sương tuyết… Người đó là Bác Hồ.

Chúng tôi, chẳng ai bảo ai, tất cả reo to: Bác Hồ! Hồ Chí Minh muôn năm! Miệng hô và chân chạy thật nhanh, tất cả ùa ra đón Bác. Mấy đồng chí cảnh vệ đi theo Bác chẳng làm thế nào ngăn được. Bác đi rất nhanh, giơ tay vẫy chào rồi thoắt một cái Bác đã rẽ ra lối sau của ngôi nhà A1 và bước nhanh lên cầu thang. Bác cùng hai Bộ trưởng thăm hỏi nơi ở của chúng tôi.

Sau ít phút chờ đón Bác ở tiền sảnh, bỗng lại có tiếng reo to: Bác Hồ! Bác Hồ! Theo hướng tay chỉ, chúng tôi quay lại phía cầu thang sau nhà A1, Bác Hồ bước ra tươi cười vẫy chào chúng tôi. Như có một lực hút, tất cả chúng tôi ùa lại vây quanh Bác, ai cũng muốn được gần Bác nhất. Bác dừng lại ngay bên bậc thềm có hệ thống vòi nước dành cho sinh viên tắm giặt. Câu đầu tiên Bác bảo:

– Tri thức là vốn quý của đất nước. Các cháu phải cố gắng học tập. Việc học giống như cái thang không có nấc cuối cùng.

Bác dừng lại hỏi:

– Học có khó lắm không?

Chúng tôi đồng thanh:

– Thưa Bác khó ạ!

Với thái độ ân cần, Bác nhắc tới câu ngạn ngữ Trung Quốc: “Học như bơi thuyền ngược nước, không tiến sẽ phải lùi”. Nói đến đây Bác dừng lại trong giây lát và hỏi tiếp:

– Các cháu học ở đâu?

Chúng tôi mỗi người trả lời một cách, một ý. Tỏ ý hài lòng Bác nhắc:

– Học ở trường, học ở sách vở, học lẫn nhau và học ở nhân dân. Không học ở nhân dân là một thiếu sót lớn, nhưng học phải có phương pháp. Về cách học phải lấy tự học làm cốt, học để hành, hành để học.

Xoay quanh việc học, Bác nhấn mạnh tới việc tự học, bởi theo Bác tự học là con đường để đi tới thành công.

Nhưng điều Bác quan tâm hơn có lẽ là mục đích của sự học. Bác nêu vấn đề:

– Học để làm gì?

Chúng tôi đồng thanh thưa:

– Học để phục vụ nhân dân.

Với đôi mắt sáng, trìu mến Bác nhấn mạnh:

– Học không phải để làm quan. Không có quan cách mạng. Học không phải để làm ông này bà nọ, để một người làm quan cả họ được nhờ, để móc túi dân. Các cháu học để làm thầy, để dạy người nên càng phải trau dồi quan điểm vì dân. Ví như dân thiếu nước thì phải làm gì?

Chúng tôi đồng thanh trả lời: Thưa Bác, phải đào giếng ạ! Tưởng mọi việc đã xong. Nhưng câu trả lời đúng mà chưa đủ nên Bác gặng hỏi:

– Còn phải làm gì nữa?

Bọn chúng ngơ ngác ai nấy nhìn nhau. Trong lúc tất cả còn đang lúng túng thì có tiếng trả lời:

– Thưa Bác phải lọc nước ạ!

Bác lại một lần nữa đưa mắt nhìn khắp lượt chúng tôi rồi nhỏ nhẹ chỉ bảo:

– Có nước sạch rồi phải đưa nước tới tay nhân dân. Nhân dân ta còn nghèo. Nghèo đi với hèn. Nghèo đã khổ, nhưng khổ hơn là bị áp bức. Miền Bắc hạnh phúc hơn là được tự do, độc lập, còn đồng bào Miền Nam…

Nói đến Miền Nam giọng Bác trầm hẳn xuống, Bác nghẹn ngào:

– Miền Bắc phải chuẩn bị cho miền Nam. Các cháu miền Nam tập kết ra Bắc may mắn được học tập dưới mái trường xã hội chủ nghĩa, đó là một vinh dự. Vinh dự lớn và trách nhiệm thật nặng nề, các cháu có nhiệm vụ tiếp nhận có chọn lọc vốn văn hoá đa chiều trong vùng địch kiểm soát để xây dựng một nền văn hoá Việt Nam mang bản sắc dân tộc.

Một câu trả lời hoà trộn giọng Bắc và giọng Nam lại đồng thanh:

– Dạ! Vâng!

Đôi mắt Bác cười, Bác hỏi:

– Các cháu có hỏi thêm gì không?

Tất cả lại đồng thanh:

– Thưa Bác không ạ!

Câu trả lời của chúng tôi vừa dứt thì Bác giơ tay vẫy và chân đi thoăn thoắt về phía xe ôtô. Chúng tôi chạy theo tiễn Bác đồng thanh hô to:

– Hồ Chí Minh muôn năm! Bác Hồ muôn năm!

Năm mươi năm có lẻ đã qua đi nhưng những lời Bác dạy mộc mạc ấy đã làm kim chỉ nam dẫn đường cho chúng tôi đi trong suốt cuộc đời.

Làm theo lời Bác từ lúc còn trai trẻ, đến nay đã thuộc lớp người xưa nay hiếm. Chúng tôi tự hào là đã cả cuộc đời học hành. Học ở nhân dân để rồi phục vụ nhân dân. Trong số chúng tôi có người đã trở thành Giáo sư, là chuyên gia đầu ngành như Đặng Anh Đào, Nguyễn Đình Chú, Phan Cự Đệ, Hà Minh Đức, Nguyễn Hải Hà, Nguyễn Thái Hoà…

Họ đã đóng góp đáng kể cho nền văn học Việt Nam và sự nghiệp giáo dục của đất nước. Hơn 100 sinh viên khoa Văn chúng tôi ngày ấy đều đã làm thầy, đã tạo nên biết bao nhân tài cho đất nước… Cũng có nhiều học sinh trưởng thành trên con đường chính trị, họ là các Thứ trưởng, Bộ trưởng, nhiều người đã thành nhà giáo ưu tú và nhiều người đã ngã xuống nơi chiến trường để Bắc Nam xum họp một nhà.

Hạnh phúc của những người làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh là học để phục vụ nhân dân một cách tự nguyện, tự giác. Thế hệ chúng tôi đã nói là làm, là có trách nhiệm nên được dân tin dân mến. Đó chẳng phải là hạnh phúc lớn nhất của một con người, một đời người đó chăng?

(Theo GD&TĐ)

vnmedia.vn

70 năm, Người về chỉ lối

Đúng vào ngày này 70 năm về trước (28-1-1941), Bác Hồ về nước. Từ mọi hoạt động của Người trong năm Tân Tỵ lịch sử ấy đã tạo nên những nền tảng đầu tiên cho cuộc cách mạng vĩ đại nhất của lịch sử dân tộc

Phải đến 30 năm kể từ năm 1911 – thời điểm người thanh niên yêu nước Nguyễn Tất Thành xuất hành rời Bến Nhà Rồng đi tìm đường cứu nước – Bác mới có thể đặt chân lên địa đầu biên giới phía Bắc. Cũng sau chừng ấy thời gian, đất nước mới đến được thời cơ cách mạng.

Bác Hồ làm việc tại Pắc Bó (Cao Bằng) trong những năm 1940. Ảnh: TƯ LIỆU

Như vậy là mùa Xuân 1941 đã đến với Tổ quốc VN bằng tin vui lớn – Bác về, như một ánh lửa, một ngọn lửa sưởi ấm không gian đất nước, rồi bùng lên thành một rừng lửa thiêu cháy toàn bộ cơ đồ chủ nghĩa thực dân đặt lên đầu lên cổ 25 triệu dân ta sau ngót 80 năm nô lệ. Năm 1941, ngay sau khi về nước, Bác đã chọn hang Cốc Bó (đầu nguồn) làm nơi ở đầu tiên. Và dĩ nhiên, với một người xa nước, xa nhà trong suốt 30 năm thì nơi đây, dẫu chỉ là suối và hang, vẫn là nơi duy nhất gợi biết bao là cảm xúc, để Bác có thể “tức cảnh” mà có hai bài thơ vào tháng 2-1941:

Non xa xa, nước xa xa
Nào phải thênh thang mới gọi là
Đây suối Lênin kia núi Mác
Hai tay xây dựng một sơn hà

Sớm ra bờ suối, tối vào hang
Cháo bẹ, rau măng vẫn sẵn sàng
Bàn đá chông chênh dịch sử Đảng
Cuộc đời cách mạng thật là sang.

Ngay sau Tết Tân Tỵ 1941, Bác đã khai bút bằng 2 bài thơ “tức cảnh” và “sinh tình” là thế, như là một cách Bác nói với mình và về mình; để rồi ngay sau đó là hàng chục bài thơ khác Bác viết cho đồng chí, đồng bào như một cách huấn luyện, tuyên truyền đưa quần chúng vào trường học cách mạng đã ra đời, như: Ca công nhân, Ca dân cày, Ca binh lính, Kêu gọi phụ nữ, Kêu gọi thiếu nhi, Trẻ chăn trâu, mỗi bài trên dưới 20 câu với chữ nghĩa nôm na, vần điệu dễ nhớ, đọc chỉ vài lần là thuộc…

Người yêu nước lớn – Nguyễn Ái Quốc, nhà cách mạng vĩ đại – Hồ Chí Minh bất cứ lúc nào cũng có thể làm thơ trong một giao cảm lớn với nhân dân và Tổ quốc.

Năm 1941, hơn 3 tháng sau khi về nước, thay mặt Quốc tế Cộng sản, Bác chủ trì Hội nghị Trung ương lần thứ VIII. Vào tháng 5, trên một cái lán có tên Khuổi Nậm, hội nghị đã quyết định chiến lược giải phóng dân tộc với hàng loạt công việc trọng đại và cụ thể, như thành lập Mặt trận Việt Minh (thường gọi tắt là VN Độc lập Đồng minh); xây dựng căn cứ địa cách mạng, xây dựng lực lượng vũ trang, thành lập Đội VN Tuyên truyền Giải phóng quân… tiến tới tổng khởi nghĩa toàn quốc.

Năm 1941 – chẵn 70 năm về trước, tính tới Xuân Tân Mão 2011 này, đã đến với dân tộc VN sự kiện Hồ Chí Minh về nước; để từ mọi hoạt động của Người trong năm Tân Tỵ lịch sử ấy mà tạo nên những nền tảng đầu tiên cho một cuộc cách mạng vĩ đại nhất trong lịch sử dân tộc. Đó là khối đoàn kết toàn dân trong Mặt trận Việt Minh, với hạt nhân trung tâm là Đảng, và người anh hùng số 1 vừa là lãnh tụ của Đảng vừa là của dân tộc, có tên Nguyễn Ái Quốc, lúc này đang trong vai một ông ké cách mạng mang bộ y phục người Nùng. Ông ké ấy trong bận rộn với bao công việc trọng đại của đất nước vẫn rất mực ung dung trong những bài thơ khai bút viết cho mình; và rất mực gần gũi, thân thiết viết cho đồng bào mình ở một nơi, được gọi là đầu nguồn (Cốc Bó) – nơi 20 năm sau, vào ngày 20-2-1961, cũng vào mùa Xuân, Bác sẽ lại có thơ về nó:

Hai mươi năm trước ở hang này
Đảng vạch con đường đánh _Nhật, Tây
Lãnh đạo toàn dân ra chiến đấu
Non sông gấm vóc có ngày nay.

Mùa Xuân này, vào những ngày này, cả dân tộc hãy hướng về nguồn Cốc Bó và cột mốc biên giới có số hiệu: 108 – nơi in dấu chân đầu tiên của Bác, nơi cả dân tộc chờ đón Bác sau 30 năm xa xứ…

GS Phong Lê

nld.com.vn

Tâm địa thực dân – Bài báo đầu tiên của Nguyễn Ái Quốc

Mùa hè năm Tân Hợi (6-1911) Nguyễn Tất Thành, dưới cái tên Văn Ba xuất dương hướng về phương Tây để tìm hiểu sự thật ẩn giấu đằng sau những từ “Tự do – Bình đẳng – Bác ái” mà Người đã từng nghe 8 năm trước đó khi còn ở quê hương xứ Nghệ, để tìm ra được con đường cách mạng phù hợp cứu nước cứu dân.

Từng đến lao động mưu sinh ở nhiều nước các châu Âu, Phi, Mỹ, cuối tháng 7-1917 Người có mặt ở Paris, thủ đô nước Pháp trước khi Cách mạng tháng 10 Nga bùng nổ (11-1917).

Trả lời phóng viên báo Mỹ và Triều Tiên về mục đích sang Pháp (1917), Nguyễn Ái Quốc đã nói: “Đến Pháp để đòi những quyền tự do mà người An Nam phải được hưởng, muốn thế phải luôn luôn tiến lên phía trước tùy theo sức của chúng tôi”.

– Những hoạt động từ khi ông đến đây?

– Ngoài việc vận động các nghị viên, tôi đã tìm cách nhen nhóm thiện cảm mỗi nơi một chút, trong đó Đảng xã hội đã tỏ ra ít thỏa mãn các biện pháp của Chính phủ, và đã sẵn lòng ủng hộ chúng tôi, ở Pháp – đó là hy vọng duy nhất của chúng tôi.

Ở nước Mỹ thì có nhiều thành công, còn chỗ khác đâu cũng chỉ gặp khó khăn.

Một trong những khó khăn Nguyễn Ái Quốc gặp phải cả ở Paris, là sự “công kích của bọn bồi bút thực dân”. Đó là báo Courrier Colonial ngày 29-6-1919 kịch liệt chỉ trích bản “Yêu sách 8 điểm của nhân dân An Nam” (do Nguyễn Ái Quốc đại diện ký tên gửi hội nghị Véc-xây) với bài báo “Giờ phút nghiêm trọng” của Ca-mi Lơ Đờ-vi-la.

Đáp lại sự công kích đó, Nguyễn Ái Quốc đã viết bài trả lời với đầu đề rất trực diện “TÂM ĐỊA THỰC DÂN”.

Với ngòi bút chính luận sắc bén, Nguyễn Ái Quốc đã vạch trần âm mưu xuyên tạc sự thật của báo chí thực dân, dã tâm đen tối của bè lũ thực dân Pháp đang cai trị quê hương xứ sở và nhiều nước khác trên thế giới.

Nguyễn Ái Quốc đã chĩa thẳng bài bút chiến vào bọn cướp nước ngay tại Paris, tố cáo dã tâm xâm lược thuộc địa và sự bóc lột dã man người lao động bản xứ. Nguyễn Ái Quốc lập luận chặt chẽ để cô lập bọn Pháp thực dân, tranh thủ lương tâm người Pháp chân chính, tiến bộ Pháp, giúp độc giả phân biệt rõ sự đối lập mâu thuẫn ngay trong nội bộ lũ thực dân, Người viết: “Chúng tôi nhấn mạnh những chữ, tên người trong lũ thực dân gian ác, các viên chức tàn bạo, vì chúng tôi biết rằng có những người thực dân chính trực, những viên chức công bằng, song họ còn lâu mới là đa số, thậm chí còn sợ rằng họ còn là một thiểu số rất nhỏ nữa”.

Qua “Tâm địa thực dân” tác giả Nguyễn Ái Quốc còn khoét sâu mâu thuẫn cá nhân giữa bọn Đơ-vi-la (tác giả bài “Giờ phút nghiêm trọng”) với Toàn quyền Pháp An-be Xa-rô ở Đông Dương khi ấy, làm cho Đơ-vi-la trở thành tâm điểm của sự phản kích của Nguyễn Ái Quốc và dư luận. Song tâm điểm Đơ-vi-la không phải là mục tiêu duy nhất, chủ yếu mà kẻ bị Nguyễn Ái Quốc công kích trong “Tâm địa thực dân” là cả chủ nghĩa thực dân Pháp ở Đông Dương – “họ đang bóc lột, đày đọa người bản xứ, sống sung sướng bằng mồ hôi của dân thuộc địa, chủ nghĩa thực dân đẩy dân bản xứ vĩnh viễn ngập trong cảnh nô lệ”.

Lênin coi chủ nghĩa đế quốc là giai đoạn tột cùng của chủ nghĩa tư bản… Đảng cộng sản (B) Nga đã làm Cách mạng Tháng Mười vĩ đại, chặt đứt 1 mắt xích của chủ nghĩa tư bản, lập nên chính quyền Xô Viết đầu tiên trên thế giới. Tiến tới giải phóng Tổ quốc đau thương, Nguyễn Ái Quốc đã dày công nghiên cứu chủ nghĩa thực dân, “lối rẽ” của chủ nghĩa đế quốc, coi đó là 1 con đỉa 2 vòi, “1 để hút máu nhân dân thuộc địa, 1 để hút máu công nhân, người lao động chính quốc”, Người kết luận: “Muốn đánh đổ chủ nghĩa thực dân phải “chặt đứt cả 2 vòi của con đỉa đó”. Người viết tiếp: “Ông Ca-mi Lơ Đơ-li-va – (tác giả bài: “Giờ phút nghiêm trọng”) khát khao danh hiệu người yêu chuộng chân lý trong thế giới này, và cả thế giới bên kia, sự khao khát ấy là chính đáng, chúng tôi vui lòng thừa nhận, nhưng ông cho phép chúng tôi chỉ cho ông thấy cái chân lý theo tâm địa của ông, cái chân lý theo quan niệm của bọn thực dân thù ghét dân bản xứ, không có gì là giống với chân lý theo quan niệm của người Pháp tốt ở nước Pháp cả. Sở dĩ chúng tôi nhận xét một cách lịch sự như vậy là nhằm tỏ thái độ tôn trọng quyền tự do ngôn luận”.

Qua đoạn văn viết trên “Tâm địa thực dân” cho thấy Nguyễn Ái Quốc khẳng định “Dân bản xứ” và những người Pháp tốt ở nước Pháp đều quan niệm về chân lý khác với những tên “thực dân độc ác, các viên chức tàn bạo”; điều đó chứng tỏ: chân lý đang thuộc về phái mạnh mặc dầu chúng là thiểu số, người lao động, dân xứ thuộc địa bị áp bức chẳng có gì ngoài xiềng xích.

“Tâm địa thực dân” là bài báo mà ở đó Nguyễn Ái Quốc đã bắt đầu thể hiện sự sáng tạo học thuyết Mác – Lênin.

Những độc giả đọc bài “Tâm địa thực dân” không hề thấy sự “đấu bút” giữa Nguyễn Ái Quốc và Đơ-vi-la, vì Đơ-vi-la chỉ là một đại diện, một bồi bút của lũ thực dân, nên y không là đối thủ của Nguyễn Ái Quốc, cả An-be Xa-rô cũng thế, sự phản kích của Nguyễn Ái Quốc chính là lũ thực dân đầu sỏ độc ác, lũ viên chức tàn bạo, kẻ đã cướp đoạt quyền sống của người dân xứ thuộc địa, và nhân dân thế giới.

Do đã được đọc Luận cương về vấn đề dân tộc và vấn đề thuộc địa trước khi gia nhập Đảng cộng sản Pháp nên một đoạn trong bài “Tâm địa thực dân”, Nguyễn Ái Quốc đã viết: “Nếu đã có một Đảng độc lập tồn tại thì Đảng này không phải đi ăn xin một vài quyền tự do, mà thiếu nó thì con người là một tên nô lệ khốn khó”. Như vậy Nguyễn Ái Quốc đã hình dung về một Đảng cách mạng, hình thành tư tưởng về độc lập tự do với quan điểm rõ ràng, phải chiến đấu đến cùng để giành lại độc lập tự do, nên tại Đại hội 18 Đảng xã hội Pháp với tư cách là đại biểu Đông Dương Nguyễn Ái Quốc đã nói: “Đảng phải tuyên truyền chủ nghĩa xã hội trong tất cả các nước thuộc địa, Đảng xã hội Pháp gia nhập Quốc tế III có nghĩa là Đảng đã hứa một cách cụ thể rằng: Từ nay Đảng sẽ đánh giá đúng tầm quan trọng của vấn đề thuộc địa”.

“Tâm địa thực dân”, một trong các bài báo đầu tiên của Nguyễn Ái Quốc, tuy là 1 bài báo trả lời công kích của tên bồi bút trung gian, nhưng nội dung là hàm chứa, thể hiện không chỉ 1 vấn đề, 1 chủ đề; cấu trúc bài báo cũng như sự vận dụng ngôn ngữ trong cấu trúc đó toát lên tư tưởng: “Phải làm một cuộc cách mạng triệt để, để giành độc lập cho Tổ quốc Việt Nam” – một quốc gia phương Đông không có tên trên bản đồ thế giới, đang bị 1 nước tư bản phương Tây đánh chiếm thống trị từ giữa thế kỷ 19 (1858 – thời Tự Đức) trùm lên che khuất.

Để chuẩn bị cho cuộc cách mạng nổ ra ngay trên Tổ quốc Việt Nam, Nguyễn Ái Quốc đã chọn phương thức vén dần tấm màu đen bằng hoạt động báo chí mà Mác, Ăng ghen và Lênin cũng như những người cách mạng đã chọn dùng nó. Người cho rằng hoạt động báo chí phải đi vào trong giai cấp công nhân và nhân dân lao động để vận động, đoàn kết họ thành 1 lực lượng cách mạng; báo chí phải là vũ khí tấn công trực diện kẻ thù, muốn làm được những việc đó, báo chí cách mạng phải nằm trong tay những người có bản lĩnh, tri thức và đạo đức cách mạng, đủ sức hướng về chân lý, các mục tiêu cao cả của lương tri, tương lai của nhân loại…, nếu không có các thứ đó, sẽ trở thành một mũi dao sát thương, thậm chí tự diệt ngay mình như Cau-xki, Trốt-xki, và ngay cả tên bồi bút Đơ-vi-la, tác giả bài “Giờ phút nghiêm trọng” mà lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc đã phê phán kịch liệt trong bài “Tâm địa thực dân” .

Năm 1922, Nguyễn Ái Quốc làm chủ bút báo “Le Paria”, viết nhiều bài báo đả kích tên vua Khải Định sang viếng thăm, tri ân “mẫu quốc bảo hộ”; năm 1925 ra Báo Thanh niên ở Quảng Châu (Trung Quốc); năm 1941 ra Báo Việt Nam độc lập ngay sau khi về nước ở Cao Bằng.

Bài “Tâm địa thực dân” là bài báo đầu tiên của Người đến nay đã qua gần một thế kỷ vẫn làm cho chúng ta thấy hiện lên một cách nhất quán nội dung cách mạng triệt để và một chủ nghĩa nhân văn cao cả gắn liền với chân dung một Nhà báo Cách mạng vĩ đại.

Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh – từ bài báo đầu tiên “Tâm địa thực dân” đã khai sinh ra nền báo chí cách mạng Việt Nam đến nay và mãi mãi sau này.

La Sơn Thái

baodaklak.vn

Bác Hồ dạy thực hành tiết kiệm

 

Bác Hồ là tấm gương sáng ngời về lòng yêu nước thương dân, về cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư để chúng ta học tập noi theo. Lối sống giản dị, trong sáng tiết kiệm của Bác Hồ có lẽ không ai sánh bằng. Sau đây là những mẩu chuyện của các đồng chí lãnh đạo lão thành vinh dự được phục vụ và bảo vệ Bác Hồ kể về nếp sống giản dị và tiết kiệm của Bác.

 

Hũ gạo chống đói

Sau khi giành được chính quyền cách mạng về tay nhân dân, đất nước ta đứng trước nạn đói vô cùng nghiêm trọng. Trên một triệu người dân kiệt sức vì đói. Trước tình hình đó, tại phiên họp Hội đồng Chính phủ đầu tiên ngày 3/9/1945, Bác nêu lên 6 vấn đề cấp bách nhất, trong đó Người phát động phong trào tăng gia sản xuất để chống nạn đói.

Trong khi chờ đợi thu hoạch ngô, khoai (khoảng ba, bốn tháng) sẽ mở một cuộc quyên góp. Mười ngày một lần, tất cả đồng bào nhịn ăn một bữa, mỗi tháng nhịn ăn ba bữa (mỗi bữa một bơ gạo). Gạo tiết kiệm được sẽ góp lại phát cho người đói. Bác thực hiện đúng như vậy và tới lấy phần gạo của mình, tự tay đổ vào hũ gạo chống đói.

Một hôm, đúng vào bữa cơ quan nhịn ăn gom gạo thì Tiêu Văn (Tiêu Văn là Trưởng ban Chính trị Quân đội Tưởng Giới Thạch) mời Bác đến dự chiêu đãi. Khi Bác về anh em trong cơ quan báo cáo đã đem phần gạo của Bác đổ vào hũ gạo chống đói rồi. Bác vẫn quyết định nhịn ăn một bữa vào ngày hôm sau.

Cái gì dùng được nên dùng, bỏ đi không nên

Bác sống rất giản dị, thanh bạch, ăn uống chi tiêu bao giờ cũng rất tiết kiệm. Chiến sĩ Cảnh vệ chúng tôi được ở gần Bác không thấy Bác lãng phí một thứ gì.

Ngày ở chiến khu, có đôi tất rách đã vá đi vá lại mấy lần thế mà Bác không bỏ, cũng không dùng tất mới. Bác nói: “Cái gì dùng được nên dùng, bỏ đi không nên…”. Có một cái tất bị rách chưa kịp vá, chúng tôi đưa đôi tất mới để Bác dùng, nhưng Bác vẫn không đồng ý, Bác xoay chỗ rách vào bên trong rồi cười xí xóa: “Đấy! Có trông thấy rách nữa đâu?”.

Lời nói và việc làm của Bác làm chúng tôi thật xúc động. Một vị lãnh tụ tối cao thế mà cuộc sống giản dị như những người dân lao động vậy!

Ai cho các chú may thêm

Bác Hồ mặc rất giản dị, Người chỉ có hai bộ quần áo kaki dùng khi tiếp khách. Ở nhà Bác thường mặc bộ bà ba. Có lần Bác đi thăm nước bạn, nhân dân yêu quý họ tung hoa làm áo Bác bị ố, giặt là không kịp. Các đồng chí phục vụ đã may thêm một bộ giống như bộ Bác đang dùng nhưng không cho Bác biết. Tuy đã giặt nhiều lần cho cũ đi nhưng khi mặc Bác vẫn phát hiện ra đó là quần áo mới may. Bác phê bình ngay: “Ai cho các chú may thêm, Bác chỉ cần hai bộ. Nhân dân ta còn đang thiếu vải mặc, Bác dùng như vậy là đủ rồi”.

Thấy trời nóng mà khi tiếp khách Bác vẫn mặc áo bằng vải kaki, anh em phục vụ đề nghị Bác cho may hai chiếc sơ mi để Bác thay đổi cho đỡ nóng. Bác nói: “Tiếp khách mà mặc áo đại cán là tôn trọng khách rồi, không cần dùng áo sơ mi nữa”. Quả thật Bác không có áo sơ mi. Ngoài hai bộ kaki quen thuộc, Người chỉ còn một bộ áo len dạ do Chính phủ Tiệp Khắc tặng. Bác thường dùng khi đi thăm các nước xứ lạnh.

Một mình Bác ở như vậy là vừa rồi

Sau chiến thắng Điện Biên Phủ, cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp của nhân dân ta kết thúc thắng lợi, Bác Hồ và các đồng chí lãnh đạo cấp cao cùng các cơ quan Trung ương, Chính phủ rời căn cứ Việt Bắc về tiếp quản Thủ đô Hà Nội, tiếp tục lãnh đạo nhân dân ta làm cách mạng.

Những ngày đầu về Thủ đô, Bác ở và làm việc tại một ngôi nhà trong nhà thương Đồn Thủy (nay là Bệnh viện Trung ương Quân đội). Đến tháng 12/1954 thì Trung ương mời Bác Hồ về khu Ba Đình và ở Phủ Chủ tịch (ngôi nhà Phủ toàn quyền cũ) để tiện chủ trì các cuộc họp của Chính phủ, tiếp khách trong nước và nước ngoài.

Khi nghe Trung ương báo cáo ý định này, Bác đến xem trước. Khi xem ngôi nhà, Người khen to và đẹp nhưng quyết định không ở và cho tu sửa lại căn nhà ba gian gần bờ ao cách Phủ Chủ tịch khoảng 300 mét để ở. Căn nhà này vốn là nơi ở của người thợ điện làm việc cho chế độ cũ. Người nói: “Một mình Bác ở như vậy là vừa rồi, lại gần Phủ Chủ tịch nên khi hội họp, tiếp khách đi bộ sang cũng tiện”.

Chủ tịch Hồ Chí Minh chụp ảnh lưu niệm với cán bộ, chiến sĩ Công an bảo vệ Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ  III của Đảng (năm 1960).

Hãy mang đến cho các chú thương binh

Thời gian Bác Hồ ở ngôi nhà của người thợ điện phục vụ trong Phủ Toàn quyền cũ, phòng ở hẹp nên mùa hè rất nóng. Bác Hồ thường dùng chiếc quạt làm bằng lá cọ. Anh em ở Bộ Ngoại giao thương Bác ở nóng bức nên đã mua biếu Bác chiếc máy điều hòa nhiệt độ.

Nhân một hôm Bác đi công tác, anh em phục vụ cho lắp máy điều hòa vào phòng của Bác. Vừa về đến nhà, bước chân vào phòng, Bác đứng lại hỏi đồng chí Cảnh vệ: “Này chú! Hôm nay nhà mình có mùi gì “hôi” quá” (chả là khi lắp chiếc máy điều hòa các đồng chí phục vụ còn để lọ nước hoa khô cho thơm phòng). Biết không giấu được Bác, các đồng chí phục vụ phải trình bày lý do về chiếc máy điều hòa.

Không thấy Bác nói gì, mọi người ai nấy đều vui mừng. Nhưng chỉ đến buổi chiều, Bác gọi đồng chí phục vụ đến, Người nói: “Các chú hãy mang chiếc máy điều hòa này cho anh em thương binh ở Hàng Bột. Hôm Bác đến thăm thấy các chú ấy ở nóng lắm. Còn Bác thì chưa cần”.

Thế là ngay chiều hôm ấy anh em phục vụ phải chuyển chiếc máy điều hòa cho anh em thương binh theo yêu cầu của Bác.

Ai thích sang thì đi xe mới

Từ ngày về tiếp quản Thủ đô, Bác vẫn dùng chiếc xe Pô-vê-đa để đi lại. Đây là quà của Chính phủ Liên Xô tặng Bác. Chiếc xe dùng lâu đã cũ. Anh em phục vụ định đổi chiếc khác mới và tốt hơn. Thấy vậy, Bác hỏi: “Xe Bác đang dùng đã hỏng chưa?” Đồng chí lái xe báo cáo thật với Bác, xe chưa hỏng nhưng muốn đổi xe khác tốt hơn để đi nhanh Bác đỡ vất vả. Bác nói luôn: “Thế thì chưa đổi, ai cần đi nhanh thì dùng xe khác, ai thích sang thì đi xe mới, còn Bác vẫn dùng xe này vì nó chưa hỏng”.

Tuy vậy, anh em lái xe vẫn muốn đổi xe mới để Bác dùng. Một hôm các đồng chí phục vụ bàn với đồng chí lái xe, lúc đánh xe đưa Bác đi công tác thì cố gắng làm cho xe trục trặc không nổ máy được. Đồng chí lái xe trình bày với Bác lý do vì xe cũ nên nóng máy là không nổ được. Bác vẫn không đồng ý đổi xe mới. Bác ân cần căn dặn lái xe: “Lần sau chú phải sửa chữa cho cẩn thận kẻo nhỡ việc của Bác”.

Thế là chiếc Pô-vê-đa cũ kỹ ấy, Bác dùng cho đến ngày Bác đi xa.

Theo thanhnienviet.vn

hcmpc.com.vn

Dũng khí đảng viên

Trong tháng 10-1947, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã có những tác phẩm, bài nói mà 65 năm trôi qua, nay đọc lại vẫn thấy như mới, như Bác nói cho các đại biểu dự Hội nghị Trung ương 4 (khóa XI). Riêng cuốn “Sửa đổi lối làm việc” của Bác đã có đầy đủ các nội dung đưa ra bàn thảo, phân tích để ban hành Nghị quyết về chỉnh đốn Đảng ghi dấu ấn của Ban chấp hành Trung ương khóa XI. Đọc và so sánh, cả 3 vấn đề cấp bách và 4 giải pháp để chỉnh đốn Đảng đã được đưa vào Nghi quyết Hội nghị Trung ương 4 đều được Bác chỉ ra rất cụ thể, rõ ràng, dễ hiểu trong cuốn sách quý ấy. Cuốn sách không dày, có 6 phần, hơn 26.700 chữ (số chữ còn ít hơn Báo cáo chính trị tại Đại hội XI có trên 29.000 chữ), nhưng rất đầy đủ, từ quan điểm chính trị, tư tưởng, đạo đức, tác phong, tư cách, lối sống cho đến trách nhiệm cán bộ, đảng viên, phương pháp công tác, phê bình và tự phê bình sửa chữa khuyết điểm, dạy cả cách viết và nói của cán bộ, đảng viên…

Đối với Chủ tịch Hồ Chí Minh, việc gì cũng phải rất thiết thực, cụ thể và đã làm phải nhanh chóng, đến cùng trên cơ sở đã tính toán kỹ. Ở phần 6, khi nói về tật xấu là thói ba hoa của cán bộ, đảng viên, Bác viết rất dân dã như nông dân nói trên bờ ruộng, dễ hiểu và thấu đáo: “Chưa điều tra, chưa nghiên cứu, chưa biết rõ, chớ nói, chớ viết. Trước khi nói, phải nghĩ cho chín, phải sắp đặt cẩn thận. Phải nhớ câu tục ngữ: “Chó ba quanh mới nằm. Người ba năm mới nói”.

Một trong những giải pháp để chỉnh đốn Đảng lần này là tự phê bình và phê bình. Đây là khâu mở đầu, mấu chốt, có ý nghĩa cực kỳ quan trọng. Phương châm, phương pháp tiến hành là phải nhìn thẳng vào sự thật, đánh giá đúng sự thật, nhất là những mặt còn yếu kém, không nể nang, né tránh; đề ra các biện pháp khắc phục, sửa chữa thiết thực, khả thi…(Chỉ thị số 15-CT/TƯ của Bộ Chính trị về việc thực hiện Nghị quyết Hội nghị lần thứ tư Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa XI).

Lời Chủ tịch Hồ Chí Minh ngắn gọn, súc tích nhưng đầy khí phách và thể hiện thái độ dứt khoát: “Một đảng mà không biết sửa chữa khuyết điểm là một đảng hỏng”. Vậy, suy ra, một đảng viên mà che giấu khuyết điểm, bảo thủ cái sai, không tự giác nhận khuyết điểm cũng không còn xứng đáng là đảng viên. Trước hết, trong đợt chỉnh Đảng lần này, các đảng viên phải rất tự giác, cầu thị, phải “tiên trách kỷ, hậu trách nhân”, tự xem lại mình trước trước khi phê bình người khác. Đó là lòng tự trọng cần thiết. Không biết tự trọng đồng nghĩa với tự phỉ báng lương tâm. Chính vì thế, khi nói về phê bình và sửa chữa, Bác đã nhấn mạnh đến chữ “DŨNG”, rất cần dũng khí trong đấu tranh tự phê bình và phê bình. Bác viết: “DŨNG là dũng cảm, gan góc, gặp việc phải có gan làm. Thấy khuyết điểm có gan sửa chữa. Cực khổ khó khăn, có gan chịu đựng. Có gan chống lại những sự vinh hoa, phú quý, không chính đáng. Nếu cần, thì có gan hy sinh cả tính mệnh cho Đảng, cho Tổ quốc, không bao giờ rụt rè, nhút nhát”.

Nói chuyện tại buổi bế mạc lớp bổ túc cán bộ trung cấp về đạo đức cán bộ, đảng viên, Bác nhấn mạnh: “DŨNG là phải mạnh dạn, quả quyết nhưng không phải làm liều. Phải có kế hoạch, rồi kiên quyết làm ngay. Nguy hiểm cũng phải làm. Nghĩa là phải có lòng dũng cảm trong công việc” (Báo Vệ quốc quân, số ra ngày 10-10-1947).

Chữ “gan” rất giản dị mà Bác đã dạy chính là dũng khí. Khi con người có lòng tự trọng và bản lĩnh, có nghị lực thì sẽ có dũng khí. Trên thế giới ta đã thấy không ít những vị lãnh đạo, những chủ doanh nghiệp, tập đoàn kinh tế tuyên bố từ chức. Nhưng ở nước ta thì rất hiếm. Khi một người tuyên bố từ chức, thì điều ghi nhận đầu tiên của mọi người là người đó có lòng tự trọng, có dũng khí. Làm không được việc, hoặc vì lý do nào đó mà chức trách không hoàn thành, việc bị hỏng, gây hậu quả nghiêm trọng, thì mất uy tín. Khi đã mất uy tín, nếu tìm mọi cách cố bấu víu quyền lực, dù có được tại vị sẽ bị người đời coi thường, xử lý công việc kém hiệu quả và luôn ở thế “há miệng mắc quai”. Cách tốt nhất là xin từ chức một cách hợp lý thể hiện văn hóa ứng xử. Như thế, thiên hạ chẳng ai cười, lại còn cho là người tự trọng và được tôn trọng. Theo lẽ thường, từ chức là hành động văn minh. Cán bộ đã mất hết uy tín, không chịu nhận khuyết điểm, không chịu từ chức, thậm chí còn ngoan cố chống chế, bảo thủ, quanh co, đổ trách nhiệm cho người khác, thế là hèn. Tham và hèn là thứ sâu mọt đục phá nhân cách.

Cùng đồng cảm, chia sẻ với quan niệm về từ chức, Tiến sĩ Tô Văn Trường đã viết: “Văn hóa nói chung và văn hóa từ chức nói riêng là không phải tự nhiên mà có, hơn nữa đó lại là thứ văn hóa đặc biệt quý giá. Dân tộc ta có một “nền văn hiến đã lâu” như Nguyễn Trãi đã khẳng định trong Bình Ngô đại cáo. Vậy sao bây giờ “văn hóa từ chức” lại chưa có và khó làm đến thế! Từ chức là một nét văn hóa đẹp, đáng kính trọng, thể hiện sự tự trọng và nhân cách của con người. Thiếu vắng hiện tượng từ chức đích đáng không phải chỉ đáng tiếc mà là đáng buồn và xấu hổ” (trong bài “Từ chức – khó nghe và khó thực hiện”).
Suy cho cùng, có sai thì nhận sai thực sự chân thành để sửa, nếu không thì từ chức – đó là lối ứng xử có văn hóa. Tham lam, ích kỷ, nói điêu, vu khống, né tránh khuyết điểm, ưa nịnh không phải là có văn hóa. Có những cán bộ thời nay vẫn thích khen, che giấu khuyết điểm, sợ bị chê, sợ bị phê bình, thích nghe tâng bốc. Họ coi những kẻ dù vô văn hóa, kém tài, gian xảo nhưng giỏi nịnh là “đệ tử”. Thậm chí chỉ nghe kẻ ton hót xiểm nịnh “tâu” những chuyện người khác chê mình đã nổi cáu, rồi “ghi sổ”, hằm hè, xoi mói, để ý người phê bình mình, thậm chí chèn ép, kìm hãm, trù dập. Đó là ứng xử, đối phó của kẻ hèn mạt, không có dùng khí. Như thế không xứng đáng là đảng viên cộng sản, không có dũng khí. Cho nên, chịu phê bình đã khó, tự phê bình càng khó hơn. Dũng khí đảng viên còn phải được thể hiện ở chỗ không chỉ mạnh dạn tự nói ra cái yếu, cái sai của mình, mà rất cần phải nói thẳng cái sai, cái yếu của đồng chí mình, nhất là của cấp ủy, thường vụ, bí thư. Khi thấy cấp trên sai nhưng ai cũng né tránh, sợ đụng chạm bất lợi cho cá nhân mình cũng là biểu hiện sự hèn kém, cá nhân chủ nghĩa. Ngậm miệng ăn tiền, khi thấy nhiều người nói thì mình mới nói theo, gọi là a dua, không muốn tỏ rõ chính kiến. Cái có lợi cho mình thì hết sức làm, cái có hại cho tập thể, cho người dân, hại cho xã hội thì né tránh không can thiệp cũng là biểu hiện lối sống ích kỷ, vụ lợi, không có dũng khí của cán bộ, đảng viên.

Bác Hồ đã chỉ bảo chí tình, chí lý: “Các cơ quan, các cán bộ, các đảng viên, mỗi người mỗi ngày phải thiết thực tự kiểm điểm và kiểm điểm đồng chí mình. Hễ thấy khuyết điểm phải kiên quyết tự sửa chữa và giúp đồng chí mình sửa chữa. Phải như thế, Đảng mới chóng phát triển, công việc mới chóng thành công. Nếu không kiên quyết sửa chữa khuyết điểm của ta, thì cũng như giấu giếm tật bệnh trong mình, không dám uống thuốc, để bệnh ngày càng nặng thêm, nguy đến tính mệnh”. Trong Báo Sự thật số ra ngày 15-4-1949, Bác đã có bài viết phê phán những cán bộ, đảng viên có khuyết điểm, mắc sai lầm mà cứ muốn giấu nhẹm đi, ngán ngại khi nghe người khác phê bình, chỉ sợ nói ra bị mất uy tín, mất chức, hết “ghế ngồi”. Những cán bộ như thế, Bác đã thẳng thừng chỉ trích: “Cán bộ nào không dám công khai thừa nhận khuyết điểm của mình, e sợ lời phê bình của đồng sự và của nhân dân, không có can đảm sửa chữa khuyết điểm thì những người đó không xứng đáng là cán bộ”.

Phê bình, tự phê bình không nên chỉ tiến hành trong nội bộ Đảng, mà cần phải đưa ra quần chúng, phải trưng cầu dân ý, phải thỏa chí dân nguyện, tôn trọng dân và cần được nhân dân góp sức trong cuộc đấu tranh này thì mới nhanh chóng có kết quả, triển khai Nghị quyết mới có hiệu lực trong thực tiễn cuộc sống. Cũng là thực hiện lời Bác dạy: “Việc phê bình phải từ trên xuống và từ dưới lên. Cấp trên phê bình, chưa đủ. Đồng chí, đồng sự phê bình, chưa đủ. Phải hoan nghênh quần chúng phê bình nữa, thì sự phê bình mới hoàn toàn”. Trong thực tế, thường là ích kỷ, tham lam, đầu óc còn cá nhân, thực dụng mới sinh ra hèn nhát, ngại người khác phê bình mình, khó chịu khi nghe dân phê phán, vạch ra những cái sai.

Do đó, thực hiện Nghị quyết Trung ương 4, như đồng chí Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã yêu cầu: Mỗi cán bộ, đảng viên rất cần nêu cao tính đảng, tính trung thực, thẳng thắn, cầu thị, trên tinh thần xây dựng vì lợi ích của dân, của đất nước, vì sự trong sạch, vững mạnh của Đảng. Trước hết là các đồng chí trong Bộ Chính trị, Ban Bí thư, các đồng chí Ủy viên Trung ương đều thể hiện rõ phẩm chất và bản lĩnh cộng sản kiên cường, cần có dũng khí tự phê bình và kiên quyết đấu tranh phê bình. Tự phê bình và phê bình là vũ khí sắc bén. Vũ khí tuy sắc bén nhưng cũng dễ bị vô hiệu hóa, không còn phát huy tác dụng nếu người sử dụng vũ khí không có dũng khí, không đủ bản lĩnh, lồng động cơ cá nhân, không trung thực. Phê bình, tự phê bình rất cần dũng khí như người lính ra trận mà kẻ thù chính là chủ nghĩa cá nhân./.

Theo Bùi Văn Bồng
Tạp chí Xây dựng Đảng
Huyền Trang (st)

bqllang.gov.vn

Nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của tổ chức cơ sở đảng theo Tư tưởng Hồ Chí Minh

Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn đặc biệt quan tâm đến việc xây Đảng ta thật sự trong sạch vững mạnh, xứng đáng là người lãnh đạo, là người đầy tớ thật trung thành của nhân dân. Người căn dặn: Đảng phải luôn nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu, phải luôn tự chỉnh đốn để hoàn thành nhiệm vụ vẻ vang.

Theo Hồ Chí Minh, nâng cao năng lực lãnh đạo của Đảng, trước hết phải coi trọng giáo dục Chủ nghĩa Mác-Lênin, xây dựng lập trường, quan điểm giai cấp công nhân cho mọi cán bộ, đảng viên, quần chúng. Bởi vì, Đảng muốn vững thì phải có chủ nghĩa làm cốt. Đảng mà không có chủ nghĩa làm cốt cũng như người không có trí khôn, tàu không có bàn chỉ nam. Đối với tổ chức cơ sở đảng, Người yêu cầu: “Phải học tập tinh thần của Chủ nghĩa Mác-Lênin, học tập lập trường, quan điểm và phương pháp của Chủ nghĩa Mác-Lênin để áp dụng lập trường, quan điểm và phương pháp ấy mà giải quyết cho tốt những vấn đề thực tế trong công tác cách mạng của chúng ta”(1). Đồng thời, phải giáo dục, động viên, tổ chức cho nhân dân thực hiện tốt đường lối, chủ trương của Đảng. Lãnh đạo nhân dân bằng cách tuyên truyền, cổ động, giáo dục, tổ chức nhân dân, dựa vào nhân dân để thực hiện nguyện vọng chính đáng của nhân dân. Công việc càng khó khăn thì sự lãnh đạo càng phải liên hợp chặt chẽ với quần chúng, càng phải liên hợp chặt chẽ chính sách chung với chỉ đạo riêng.

Về nâng cao sức chiến đấu của Đảng, Người dạy: “Để lãnh đạo tốt, các cấp ủy phải thật đoàn kết, thật dân chủ, phải thực hành chế độ tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách”(2). Trong Đảng, thực hành dân chủ rộng rãi, thường xuyên và nghiêm chỉnh tự phê bình và phê bình là cách tốt nhất để củng cố và phát triển sự đoàn kết và thống nhất. Thực hành dân chủ rộng rãi nghĩa là phải dân chủ thực sự, dân chủ thường xuyên, dân chủ từ Trung ương đến cơ sở. Nhưng, dân chủ phải gắn với tập trung. Tập trung dân chủ là nguyên tắc cơ bản và cũng là biện pháp tốt nhất để xây dựng Đảng ta. Trước khi đi xa, Người căn dặn: “Nhờ đoàn kết chặt chẽ, một lòng một dạ phục vụ giai cấp, phục vụ nhân dân, phục vụ Tổ quốc, cho nên từ ngày thành lập đến nay, Đảng đã đoàn kết, tổ chức và lãnh đạo nhân dân ta hăng hái đấu tranh tiến từ thắng lợi này đến thắng lợi khác”. Chỉ trên cơ sở đoàn kết Đảng mới có sự thống nhất về ý chí và hành động, triệu người như một để chiến thắng bất cứ kẻ thù nào, vượt qua bất cứ khó khăn trở ngại nào.

Thực tiễn hơn 81 năm qua đã khẳng định ý nghĩa to lớn của việc nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu, góp phần quan trọng xây dựng Đảng ta luôn trong sạch, vững mạnh, thực sự là đội tiên phong của giai cấp công nhân, đồng thời là đội tiên phong của nhân dân lao động và của dân tộc Việt Nam.

Trong công cuộc đổi mới đất nước hiện nay, hầu hết các tổ chức đảng và đội ngũ cán bộ, đảng viên đã thể hiện tốt vai trò lãnh đạo, vững vàng trước những khó khăn, thử thách. Kết quả của Cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh” cho thấy những chuyển biến tích cực trong công tác xây dựng đảng, xuất hiện nhiều tấm gương tiêu biểu của đảng viên.

Tuy nhiên, vẫn còn không ít tổ chức cơ sở đảng yếu kém. Năng lực lãnh đạo và tổ chức thực hiện các chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, luật pháp của Nhà nước và cấp ủy cấp trên của nhiều tổ chức cơ sở đảng còn yếu, chưa đủ sức phát hiện, giải quyết những vấn đề phức tạp xảy ra ở cơ sở. Điều đó cho thấy cần phải quán triệt sâu sắc hơn nữa nội dung Nghị quyết Đại hội lần thứ XI của Đảng về tiếp tục nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu, xây dựng Đảng ta thực sự trong sạch vững mạnh cả về chính trị, tư tưởng và tổ chức, đội ngũ cán bộ, đảng viên đủ phẩm chất và năng lực đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ giai đoạn cách mạng mới.

Để nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của tổ chức cơ sở đảng cần thực hiện tốt một số nội dung, biện pháp cơ bản sau:

1. Tăng cường công tác giáo dục lý luận Chủ nghĩa Mác-Lênin, Tư tưởng Hồ Chí Minh cho cán bộ, đảng viên. Tổ chức cơ sở đảng và đội ngũ cán bộ, đảng viên phải có bản lĩnh vững vàng trước những khó khăn, thách thức; nhạy bén về chính trị, kịp thời phát hiện và kiên quyết đấu tranh với các thủ đoạn, hành động “diễn biến hòa bình”, bạo loạn lật đổ của chủ nghĩa đế quốc và các thế lực thù địch; kiên quyết đấu tranh với những nhận thức, quan điểm mơ hồ, lệch lạc, hành vi sai trái; đề cao trách nhiệm chính trị, thực hiện tốt chức trách, nhiệm vụ được giao, đóng góp sức lực, trí tuệ của mình xây dựng đảng bộ, chi bộ trong sạch, vững mạnh, cơ quan, đơn vị vững mạnh toàn diện.

2. Nâng cao năng lực vận dụng đúng đắn, sáng tạo Chủ nghĩa Mác – Lênin, Tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối của Đảng, pháp luật của Nhà nước, chỉ thị, nghị quyết của cấp trên vào tình hình thực tiễn của đảng bộ, chi bộ. Xây dựng cấp ủy, tổ chức đảng, đơn vị đoàn kết, thống nhất. Thường xuyên nêu cao tính chiến đấu, tự phê bình và phê bình. Thực hiện tốt công tác kiểm tra, giám sát, thi hành kỷ luật đảng, kiên quyết đưa ra khỏi Đảng những phần tử thoái hóa, biến chất.

3. Thực hiện nghiêm nguyên tắc tập trung dân chủ, tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách trong mọi hoạt động của cơ quan, đơn vị. Dân chủ trong thảo luận, bàn bạc, ra quyết định và tổ chức thực hiện. Thực hiện tốt quy chế lãnh đạo, quy chế làm việc, chế độ thông tin nhanh chóng, chính xác để đảm bảo thực sự dân chủ, quyết định tập thể.

4. Xây dựng đội ngũ cán bộ, đảng viên vững mạnh; thực hiện tốt công tác phát triển đảng viên; kết hợp chặt chẽ giữa việc kiện toàn cán bộ chủ trì với kiện toàn cấp ủy đảng. Trong đó: Các cấp ủy, tổ chức đảng cần tăng cường hơn nữa công tác quản lí, giáo dục, rèn luyện, đào tạo, bồi dưỡng nâng cao phẩm chất đạo đức cách mạng, năng lực công tác cho cán bộ, đảng viên; đồng thời, mỗi cán bộ, đảng viên cần phải tích cực tự học tập, tự rèn luyện phấn đấu nâng cao trình độ, hoàn thành tốt chức trách, nhiệm vụ được giao. Công tác phát triển đảng viên phải được tiến hành đúng phương châm, phương hướng, coi trọng chất lượng, không chạy theo số lượng. Phát triển đảng viên luôn đi đôi với việc củng cố Đảng. Mỗi tổ chức đảng cơ sở phải thường xuyên kiện toàn đội ngũ cán bộ chủ trì và cấp ủy; làm tốt công tác bồi dưỡng năng lực, kinh nghiệm hoạt động công tác đảng cho đội ngũ cấp ủy viên, cán bộ chủ trì cơ quan, đơn vị, nhất là phương pháp, tác phong công tác và nâng cao chất lượng các khâu trong quá trình lãnh đạo của Đảng.

5. Phát huy vai trò của các tổ chức quần chúng, các tổ chức chính trị – xã hội tham gia tích cực vào công tác xây dựng đảng, nhất là việc góp ý kiến, phê bình cho cấp ủy, tổ chức đảng, cán bộ, đảng viên. Có quy chế tiếp nhận, xử lí thông tin, chế độ tiếp thu và trả lời ý kiến đóng góp, nguyện vọng hoặc khiếu nại, tố cáo của quần chúng đối với cán bộ, đảng viên và tổ chức đảng.

——————————–

1. Hồ Chí Minh, Toàn tập, tập 5, Nxb CTQG, H. 2000, tr.250, 267, 269, 273, 285.
2. Hồ Chí Minh, Toàn tập, tập 8, Nxb CTQG, H. 2000, tr.496.

Theo Tạp chí Xây dựng Đảng

hcmpc.com.vn

Đảng phải trong sạch, vững mạnh

Trước lúc đi xa, Chủ tịch Hồ Chí Minh, vị lãnh tụ kính yêu của Đảng và dân tộc ta đã căn dặn: “Phải giữ gìn Đảng ta thật trong sạch, phải xứng đáng là người lãnh đạo, là người đầy tớ trung thành của nhân dân”.

Thực tiễn từ ngày thành lập Đảng đến nay cho thấy, vận mệnh của dân tộc ta đã gắn liền với vận mệnh của Đảng. Xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh là điều kiện quyết định thắng lợi của sự nghiệp cách mạng Việt Nam.

Lịch sử đấu tranh cách mạng của Đảng, của dân tộc đã chứng minh: bất cứ ở đâu và bất cứ lúc nào, Đảng liên hệ chặt chẽ với quần chúng, được quần chúng tin tưởng, ủng hộ thì Đảng vững mạnh, lãnh đạo cách mạng thành công; còn nếu xa rời quần chúng, không được quần chúng tin tưởng, ủng hộ thì sẽ suy yếu, giảm sút sức chiến đấu và có khi vấp phải thất bại. Muốn vững mạnh, muốn được quần chúng tin tưởng, ủng hộ, Đảng phải luôn trong sạch, phải xứng đáng là người lãnh đạo, là người đầy tớ trung thành của nhân dân. “Dễ trăm lần, không dân cũng chịu, khó vạn lần dân liệu cũng xong”.

Đảng trong sạch để cho dân tin yêu phải gồm những đảng viên trong sạch, có lý tưởng, đạo đức cách mạng, cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư vì đảng viên chính là cầu nối giữa Đảng với dân. Là “đầy tớ” của nhân dân, mỗi cán bộ, đảng viên phải tận tụy phục vụ nhân dân, một lòng một dạ vì lợi ích của nhân dân.

Để Đảng thật sự trong sạch, vững mạnh, phải kiên quyết đưa những đảng viên thoái hóa, biến chất ra khỏi Đảng. Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, nguyên nhân sâu xa khiến người đảng viên mắc những căn bệnh nguy hiểm như kiêu ngạo, hống hách, tham ô, lãng phí chính là chủ nghĩa cá nhân. “Một dân tộc, một đảng và mỗi con người, ngày hôm qua là vĩ đại, có sức hấp dẫn lớn, không nhất định hôm nay và ngày mai vẫn được mọi người yêu mến và ca ngợi nếu lòng dạ không trong sáng nữa, nếu sa vào chủ nghĩa cá nhân”. Để đáp ứng yêu cầu của tình hình mới, Đảng phải xây dựng, chỉnh đốn để ngày càng vững mạnh về mọi mặt. Xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh là một trong những vấn đề có ý nghĩa quyết định đối với thắng lợi của công cuộc đổi mới đất nước.

Cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh” đang được thực hiện sâu rộng trong Đảng và trong toàn xã hội sẽ thúc đẩy bước chuyển biến mới trong công tác xây dựng và chỉnh đốn Đảng, tăng cường sự thống nhất đoàn kết trong Đảng, làm cho Đảng ngày càng vững mạnh và trong sạch, đủ sức lãnh đạo và tổ chức nhân dân vượt qua mọi khó khăn, thử thách, đưa đất nước ngày càng giàu mạnh, đáp ứng lòng mong mỏi của nhân dân.

  • Hoàng Liên

baobinhdinh.com.vn