Tag Archive | Văn hóa – Xã hội

“Thép Bác Hồ”

Ngày ấy, công trường Khu Gang thép được mở mang trên một vùng đồi núi Thái Nguyên. Những cánh bộ đội chuyển ngành của từng Sư đoàn kéo đến đầu quân. Trong đầu mọi người đều hình dung và mơ tưởng một cách khác, những tưởng nơi đây chí ít cũng đã thành nhà cửa đàng hoàng, có máy móc, có xe cộ. Ai dè, một con đường cho ô tô vào cũng chưa có. Đồi núi nhấp nhô, xung quanh bạt ngàn các thứ cỏ dại. Những nhát cuốc đầu tiên bổ xuống tóe lửa lại bật lên. Mọi người từ chỗ chưng hửng, đến phát ngán.

Người là niềm tin tất thắngGiữa lúc ấy, Bác Hồ về thăm. Bác về bất ngờ. Một ngày tháng sáu năm 1959, nắng hầm hập như lửa. Anh em đang đào đất, dựng nhà, bận rộn với tre, với nứa ngoài bến… thì bỗng nghe tin Ban Chỉ huy công trường triệu về có việc gấp. Tự nhiên có người reo lên: “Hay là Bác Hồ về thăm?!”. Mọi người chẳng ai bảo ai, cuốc xẻng trên vai quáng quàng chạy một mạch về phía một bãi rộng, sườn một quả đồi đang san dở. Một chiếc ô tô đen, bám đầy bụi đường vừa đỗ, anh em đã ùa tới. Hàng trăm, hàng nghìn người vây đặc kín quanh chiếc xe. Bác Hồ từ cửa xe hiện ra râu tóc đều bạc phơ, mặt hồng hào. Bác mặc bộ quần áo ta, màu gụ, chiếc áo hở khuy cổ, để lộ lần áo lót trắng trông vừa khỏe mạnh vừa phóng khoáng. Anh em công nhân hò reo, hoan hô vui sướng. Người xúm đông, xúm đỏ, Bác nhích lên một cách khó khăn.

Những người được ở gần Bác nhất cố sức lấy tay cản mọi người đang ùa tới, lấy chỗ cho Bác đi.

Sườn đồi cao, anh em phải kéo, nâng Bác lên. Nắng quá. Có mấy anh chạy đi ngay kiếm mấy tàu lá cọ còn tươi xòe che nắng cho Bác. Bác giơ tay  cho chúng tôi trật tự rồi bắt đầu nói chuyện:

– Công trường của các cô, các chú rất rộng lớn. Sau này sẽ có tới ba vạn người tới ở. Thế mà bây giờ các cô, các chú mới có mấy nghìn người. Như vậy các cô các chú có cái vinh dự là người đi trước.

Bác giải thích về “tiền đồ”:

– Xã hội chủ nghĩa là gì ? Là không có người bóc lột người, mọi người đều no ấm. Đó là tiền đồ của chúng ta, không có tiền đồ, bạc đồ nào khác.

Rồi Bác hỏi:

– Muốn ăn quả thì phải làm gì ?

– Phải trồng cây ạ !

– Khi mới trồng cây thì đã có quả chưa ?

– Chưa ạ !

– Muốn uống nước thì phải làm gì ?

– Phải đào giếng ạ !

– Khi đang đào giếng thì đã có nước chưa ?

– Chưa ạ !

– Đào giếng có khó nhọc không ?

– Có ạ !

– Đào giếng rồi còn phải múc nước lên, đun sôi thì mới có bát nước trong lành mà uống. Xây dựng Xí nghiệp bây giờ cũng thế. Tiền đồ là ở các cô, các chú. Xây dựng Xí nghiệp nhanh thì chóng có tiền đồ. Bác nghe nói có một số cô chú thắc mắc đó là vì chưa hiểu thôi. Bác tin rồi mọi người sẽ làm rất hăng hái.

Hôm đó, Bác còn dặn rất nhiều điều: Công nhân, cán bộ phải có tinh thần đoàn kết, phát huy sáng kiến, cải tiến kỹ thuật, phải tăng gia lấy cái mà ăn, phải giữ gìn vệ sinh, không được uống nước lã, phải đánh ruồi, mỗi người một cái vỉ ruồi sau lưng, thấy ruồi là đánh… Mỗi điều dặn, Bác đều lấy ví dụ cho dễ hiểu.

Nói về đoàn kết, Bác chỉ vào chiếc xe hơi đang đỗ dưới đường:

– Nếu mười người cùng đẩy xe, cùng dô hò thì xe sẽ chạy bon bon. Còn nếu người thì đẩy, người thì không, có mấy người lại chỉ vờ đẩy thôi thì không thể đẩy xe chạy được.

Nói về đánh ruồi, Bác hỏi:

– Đế quốc to hơn hay con ruồi to hơn ?

– Đế quốc to hơn ạ !

Bác ôn tồn:

– Thằng đế quốc to lù lù, có máy bay, đại bác, xe tăng, tầu bò, các cô các chú còn đánh được nó, lẽ nào các cô, các chú lại chịu thua mấy con ruồi.

Cuối cùng, Bác nói:

– Hôm nay, Bác không đi thăm khắp công trường được. Bác nhờ các cô, các chú ở đây chuyển lời hỏi thăm của Bác đến các cô các chú vắng mặt.

Tiễn Bác đi rồi mà lòng chúng tôi còn ngẩn ngơ, bàng hoàng như vừa qua một giấc mơ. Chúng tôi bàn tán, khoe với nhau những gì mình được thấy ở Bác, suy nghĩ không dứt về những lời Bác dạy. Nhưng trước nhất, chúng tôi thấy có cái vẻ vang là có đi xây dựng khu gang thép mới được gặp Bác Hô, trong một kỷ niệm thắm thiết như vậy.

(Theo “Hồ Chí Minh – Một huyền thoại kỳ vĩ” – NXB Lao động)
Nguồn hcmpc.vn
Phương Thúy (st).

bqllang.gov.vn

Nỗi nhớ Bác Hồ và tiếng hát mùa xuân

Tư tưởng Hồ Chí Minh đi tới mùa XuânNhững ca khúc viết về Bác đều đạt đến độ chín mùi của tấm lòng và thăng hoa bởi tài năng của người nghệ sĩ, nhanh chóng đi vào lòng người và trở thành một phần máu thịt của tâm hồn Việt Nam. Một xuân nữa chúng ta không được nghe thơ chúc Tết của Người, nhưng hình bóng và tình yêu mà Người dành cho toàn dân là điều không thể phai nhòa.

Một trong những ca khúc viết về Bác thường được nhắc đến là “Trồng cây lại nhớ đến Người” của Đỗ Nhuận. Nhiều ca sĩ, người dẫn chương trình đã giới thiệu ca khúc này là dân ca Nghệ An một cách vô tư. Sự nhầm lẫn này là một minh chứng hết sức tuyệt vời về sự phổ biến của nó. Trên nền dân ca được chỉnh lí, chất thô mộc, đầm ấm của ca từ dường như đã hòa lẫn vào chất giọng đậm, ngọt của người xứ Nghệ : “Trồng cây tôi lại nhớ đến Người. À ơi… (chừ) rừng bao nhiêu cây mọc tôi lại ơn Người bấy nhiêu…” Cũng những rung động tương tự nhưng nhạc sĩ An Thuyên lại đưa dân ca Nghệ An reo trên cung bậc khác. “Một khúc dân ca sâu lắng quê nhà, đêm sông Lam dạt dào sóng nước. Vọng câu đò đưa tình người mộc mạc bát ngát nhớ thương mà thoảng hương giữa đời”. Nếu ai đã từng nghe NSƯT Thanh Hoa trình bày ca khúc này hẳn sẽ đồng ý: Dường như An Thuyên đã cộng hưởng với dân ca xứ Nghệ, chan hòa máu thịt mình vào để hình dung ra tâm tư Bác thời niên thiếu một cách đằm thắm nhất, sâu lắng nhất .

Hầu hết những ca khúc mang chủ đề Bác đều có sự thành công lớn khi sử dụng lợi thế phổ biến của những làn điệu dân ca. Dân ca Nghệ An có “Trồng cây lại nhớ đến Người” của Đỗ Nhuận, “Đêm nghe hát đò đưa nhớ Bác của An Thuyên’. Dân ca Trung bộ có “Miền Trung nhớ Bác’ của Thuận Yến. Dân ca Nam bộ có “Miền Nam nhớ mãi ơn Người” của Nguyễn Đồng Nai, Vào Lăng viếng Bác của Hoàng Hiệp… Đặc biệt là tiếng reo vui của những người con Tây Nguyên: “Mùa xuân đến rồi bản làng ơi, thư Bác Hồ gởi tới non sông đem chiến công vang dội khắp hai miền. Bác Hồ ơi đây là mùa chiến thắng…”

Dân ca là tiếng nói tâm hồn của một miền đất. Gần nửa thế kỷ qua đã có nhiều ca khúc mới sử dụng làn điệu, âm hưởng dân ca để nói về sự kiện hiện đại. Nhưng viết về một người thì không chủ đề nào lại tập trung và thành công như viết về Bác. Câu trả lời cho hiện tượng này không quá khó – ấy là do dân ta mang nặng lòng kính yêu người lãnh tụ vĩ đại của dân tộc. Người miền Trung tỏ bày chân thành không một chút màu mè: “Chúng con sinh ra khi nước còn chia cắt, nỗi nhớ Bác Hồ dằn dặt đến miền Trung. Để sớm nay con đi giữa đoàn quân, trong gió biển chan hòa đi theo dấu chân Bác. Đường miền Trung non xanh nước biếc, xin hỏi đường nào Bác đã qua đây khi Bác tìm đường cứu nước ai hay (Miền Trung nhớ Bác – Thuận Yến). Nếu Chế Lan Viên từng bộc bạch qua những vần thơ : “Lũ chúng ta sống trong giường chiếu hẹp, giấc mơ con đè nát cuộc đời con. Hiểu sao hết những tấm lòng lãnh tụ, vạch đường đi cho dân tộc đi theo” thì Thuận Yến lại bày tỏ bằng dân ca. Hầu như tất cả các nhạc sĩ khi hòa âm cho ca khúc này đều phối cho những giọt đàn bầu rải đều và xuyên suốt bài ca. Chính nét nhạc chủ đạo này đã mang lại ấn tượng tấm lòng sâu nặng của người miền Trung với Bác. Người miền Trung nhớ Bác như thế thì dân Nam bộ lại gọi tên Người như tìm đến một niềm tin tất thắng. “Trên cánh đồng miền Nam mây đen bao phủ chân trời khi ca lên Hồ Chí Minh nghe lòng phơi phới niềm vui (Hồ Chí Minh đẹp nhất tên Người –Trần Kiết Tường). Chất ngọt ngào của dân ca Nam bộ đã làm ca khúc như rộng hẳn ra, bàng bạc khắp không gian và mênh mông như lúa đồng Nam bộ. Có nhiều chuyện kể về tấm lòng người dân Nam bộ với Bác: chuyện người Đồng Tháp dựng đình thờ Bác, Mỹ – Ngụy phá hoài không được, chuyện người dân miệt rừng đước Cà Mau lấy ảnh Bác làm tín vật biểu lộ lòng thủy chung với cách mạng … Những câu chuyện ấy không hề cá biệt mà khắp miền Nam đâu đâu cũng có (chẳng phải thế mà ngay cả sách vở nhiều lúc cũng nhầm thơ của Bảo Định Giang là ca dao đấy thôi – Tháp Mười đẹp nhất bông sen, Việt Nam đẹp nhất có tên Bác Hồ. Rồi một chiều ghé qua bến Nhà Rồng, nhạc sĩ Trần Hoàn đã xúc động mà viết nên ca khúc thật sự thấm đượm chất Nam Bộ: “Ai về Thủ Thiêm ai qua Bến Nghé. Ai xuôi ai ngược nhớ ghé bến Nhà Rồng. Chiều về khói tỏa trên sông, lẳng nghe câu hát mà chạnh lòng nước non (Thăm bến Nhà Rồng – Trần Hoàn ). Nhạc sĩ trong ca khúc chỉ hỏi một câu, chỉ băn khoăn một điều mà đã phả được cái hồn người Nam Bộ dân dã, chất phác vào trong ca khúc. Lúc cập thuyền ai tiễn Người đi hay chỉ một mình khăn gói biệt ly vì nước vì dân. Cũng bằng những chi tiết rất nhỏ như vậy nhưng với sự khai thác độc đáo nhiều ca khúc lớn đã ra đời, điển hình là Đôi dép Bác Hồ của Văn An – “Đôi dép đơn sơ đôi dép Bác Hồ, Bác đi từ ở chiến khu Bác về. Phố phường trận địa nhà máy đồng quê đều in dấu dép Bác về Bác ơi …” Ra đời sau ngày Bác mất, cho đến nay mỗi khi nghe lại ca khúc nhiều người vẫn thấy lòng mình rưng rưng tưởng như Người vẫn còn đâu đây.

Bác của chúng ta vĩ đại vì nhiều lẽ nhưng lẽ đầu tiên đó là sự vĩ đại của cái bình thường. Sẽ không ai quên cuộc đời bình dị, hết lòng vì dân vì nước của Người, và vì thế khi viết về những điều giản đơn như vậy các nhạc sĩ đã khơi dòng suy tưởng về Bác trong trái tim ta. Những ca khúc viết về Bác sẽ còn xuyên suốt nhiều thời đại bởi lẽ chỉ riêng tên Người đã là cả một bài ca.

Bá Phùng
Theo http://www.baobinhdinh.com.vn
Thu Hiền (st)

bqllang.gov.vn

Nhớ “Tết trồng cây” của Bác Hồ

 Trong không khí rộn ràng khi Tết đến Xuân về, mỗi chúng ta lại nhớ tới cái “Tết” khác –  một mỹ tục do Chủ tịch Hồ Chí Minh kính yêu khởi xướng từ cuối năm 1959, đó là “Tết trồng cây”. Quan tâm đến môi trường thiên nhiên và hiểu được ý nghĩa sâu sắc, giá trị thiết thực của môi trường sống, Bác đã động viên và kêu gọi nhân dân ta tích cực trồng cây, giữ lấy màu xanh của đất nước:

“Mùa xuân là Tết trồng cây,
Làm cho đất nước càng ngày càng Xuân”.

Từ lâu, câu thơ của Bác Hồ đã thấm sâu vào tâm trí của hàng triệu trái tim con người Việt Nam, kể từ đó cho tới nay, đã thành một truyền thống tốt đẹp, mỗi dịp Xuân về là “Tết trồng cây” thực sự trở thành ngày hội của toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta trồng cây, gây rừng và bảo vệ môi trường sinh thái. Truyền thống đó đã mang lại giá trị thực tiễn, góp phần làm đẹp cảnh quan môi trường, nhất là trong tình hình biến đổi khí hậu, ô nhiễm môi trường như hiện nay.

trong cay 1
Bác Hồ trồng cây đa tại xã Vật Li, Ba Vì, Hà Tây (nay là Hà Nội) ngày 16/02/1969

Chủ tịch Hồ Chí Minh vốn yêu thiên nhiên, sống gần gũi với thiên nhiên nên từ những ngày hoạt động cách mạng, dù bận trăm công nghìn việc nhưng Người vẫn luôn chú trọng tới việc xây dựng môi trường để bảo đảm cho điều kiện sống và công tác bí mật trong kháng chiến. Ở thời điểm đó, cơ quan thường xuyên phải di chuyển, Người căn dặn cán bộ phải chọn những nơi:“Trên có núi, dưới có sông, có đất ta trồng, có bãi ta vui”. Đến địa điểm mới, Người cùng cán bộ bắt tay ngay vào việc cuốc đất trồng cây vừa để cải thiện đời sống, vừa để hòa nhập vào thiên nhiên. Người coi việc sống gần gũi, hòa mình với thiên nhiên như một cách để nuôi dưỡng tâm hồn, trí tuệ.

Chủ tịch Hồ Chí Minh đặt vấn đề phải đấu tranh chống lại những tai họa của thiên nhiên,“quan tâm đến việc trồng cây” và bảo vệ rừng, cấm phá rừng. Theo Bác, trồng cây ngoài ý nghĩa to lớn là để cho môi trường tự nhiên và quang cảnh đất nước trở nên tươi đẹp hơn thì còn ý nghĩa thiết thực nữa là để chuẩn bị lấy gỗ làm nhà ở cho nhân dân. Ngày 30-5-1959, với bút danh Trần Lực, Bác đã viết bài: “Nông dân phải trồng cây chuẩn bị làm nhà ở”, đăng trên Báo Nhân dân số 1901, trong đó Bác chỉ ra: “Muốn làm cửa nhà tốt, phải ra sức trồng cây, chúng ta chuẩn bị từ nay, dăm năm sau, sẽ bắt tay dựng nhà”. Ngày 28-11-1959, trên Báo Nhân dân số 2082, Chủ tịch Hồ Chí Minh viết bài “Tết trồng cây” và đề nghị tổ chức một ngày Tết trồng cây để thiết thực kỷ niệm ngày thành lập Đảng. Trong bài viết, Bác nêu rõ tác dụng của việc trồng cây là công việc đó “tốn kém ít mà ích lợi nhiều”, tất cả nhân dân miền Bắc mỗi người phụ trách trồng một hoặc vài ba cây và chăm sóc cho tốt. Tại thời điểm đó, Bác đã tính “ở miền Bắc có độ 14 triệu, trong số đó độ 3 triệu là trẻ em thơ ấu, còn 11 triệu người từ tám tuổi trở lên đều có thể trồng cây…Như vậy, mỗi Tết trồng được độ 15 triệu cây. Từ năm 1960 đến 1965, chúng ta sẽ có 90 triệu cây, vừa cây ăn quả, cây có hoa, vừa cây làm cột nhà. Và trong hai mươi năm, nước ta phong cảnh sẽ ngày càng tươi đẹp hơn, khí hậu điều hòa hơn, cây gỗ đầy đủ hơn. Điều đó sẽ góp phần quan trọng vào việc cải thiện đời sống của nhân dân ta”. Cuối bài báo, Bác Hồ đã viết Tết trồng cây “cũng là một cuộc thi đua dài hạn nhưng nhẹ nhàng mà tất cả mọi người – từ các cụ phụ lão đến các em nhi đồng đều có thể hăng hái tham gia”. Điều đó có thể thấy, ý nghĩa của “Tết trồng cây” là hết sức thiết thực và lớn lao.

trong cay 2

Vào buổi sáng ngày 11/1/1960, không khí Tết trồng cây đầu tiên mừng Đảng, mừng Xuân thật sôi nổi. Chủ tịch Hồ Chí Minh cùng đồng bào Thủ đô đã trồng cây ở Công viên Hồ Bảy Mẫu (nay là Công viên Thống Nhất). Tại nơi đây, Bác đã tự tay cầm xẻng, xúc đất vun cho một cây đa nhỏ. Trồng cây xong, Bác nói chuyện thân mật với mọi người về lợi ích của việc trồng cây. Người nói đại ý rằng, mấy năm trước nơi đây còn là bãi rác, nhờ có lao động của mọi người mà nay cây đã lên xanh tốt. Ngày nghỉ, các cô, các chú dẫn con cái ra đây hóng mát, xem hoa, ngắm cây vui chơi. Đây chính là vườn hoa của các cô, các chú. Vậy chúng ta phải lao động cho thật tốt, ta làm cho ta và cho con cháu đời sau.

trong cay 3
Cây đa Bác Hồ trồng ở Công viên Thống Nhất (Hà Nội) năm 1960, nay sum suê xanh tốt, tỏa bóng mát quanh năm. Ảnh internet

52 mùa Xuân kể từ ngày ấy, Công viên Thống Nhất hôm nay đã trở thành một khu vui chơi giải trí lớn của Thủ đô Hà Nội. Cây đa nhỏ năm xưa Bác trồng giờ đã là một cây đa cổ thụ sum suê xanh tốt, tỏa bóng mát quanh năm.

Mùa Xuân năm 1969, sức khỏe của Bác yếu nhiều, việc bố trí để Bác trồng cây ở một địa phương nào đó theo ý của Bác là một vấn đề hết sức khó khăn. Những người phục vụ Bác rất lo lắng nên nhiều lần đề nghị Bác hoãn lại việc trồng cây. Nhưng Bác rất kiên quyết. Người nói: “Đây là dịp kỷ niệm 10 năm ngày phát động Tết trồng cây nên các chú phải bố trí cho Bác trồng cây ở một địa phương nào đó có nhiều thành tích…”. Sau đó, Bác gợi ý chọn xã Vật Lại, huyện Ba Vì, tỉnh Hà Tây (nay là Hà Nội) là nơi có phong trào trồng cây tốt.

Theo kế hoạch đã chuẩn bị, Bác đến địa điểm trồng cây. Đông đảo các đại biểu, các tầng lớp nhân dân đã đứng trên những đồi cây đón Bác. Bác trực tiếp trồng thêm một cây đa. Nhìn những xẻng đất, bình nước Bác tưới mát cho cây, mọi người ai cũng xúc động. Trồng cây xong, Bác cùng mọi người quây quần dưới tán bạch đàn và thân mật hỏi chuyện và chúc Tết mọi người. Bác căn dặn: “Đất nước này là của chúng ta nên phải thi đua sản xuất giỏi, trồng cây giỏi”.

Bác không chỉ nêu rõ giá trị của việc trồng cây, gây rừng mà còn chỉ rõ những hậu quả và thiệt hại khi chặt phá rừng bừa bãi, khai thác không hợp lý: “Ảnh hưởng đến khí hậu, ảnh hưởng đến sản xuất, đời sống rất nhiều” và “nếu rừng kiệt thì không còn gì và mất nguồn nước thì ruộng mất màu, gây ra lụt và hạn hán”. Chính vì thế mà Bác ví rừng là vàng và căn dặn: “Chớ lãng phí vàng mà phải bảo vệ vàng của chúng ta”. Đau xót trước cảnh rừng bị tàn phá, bị khai thác bừa bãi, Bác nói: “Những cây gỗ to bị chặt để đốt hay cho mục nát không khác gì đồng bào mình tự đem tiền bạc bỏ xuống sông”. Và rồi Bác kêu gọi nhân dân ta “phải có kế hoạch trồng rừng và tích cực bảo vệ rừng… Phải bảo vệ rừng như bảo vệ nhà của mình”.

Ngay cả đến giờ phút sắp đi xa, trong Di chúc, Bác Hồ cũng không quên nhắc nhở nhân dân ta phải tiếp tục công việc trồng cây gây rừng: “Nên có kế hoạch trồng cây trên đồi. Ai đến thăm thì trồng một cây hoa làm kỷ niệm. Trồng cây nào phải tốt cây ấy. Lâu ngày cây nhiều thành rừng, sẽ tốt cho phong cảnh và lợi cho công nghiệp”.

Như vậy có thể thấy, trong suốt cuộc đời mình, Bác Hồ rất quan tâm tới công cuộc trồng cây, gây rừng và bảo vệ rừng. Tết trồng cây là bài học lớn của Bác để lại cho thế hệ sau về cách sống gần gũi với thiên nhiên, bảo vệ tài nguyên môi trường, về phát triển bền vững, công nghiệp hóa hiện đại hóa đất nước nhưng phải luôn giữ được màu xanh cây cỏ, vì chất lượng cuộc sống của người dân.

Ngày nay, trong bối cảnh trái đất của chúng ta đang đứng trước những vấn nạn như ô nhiễm môi trường, trái đất nóng lên do hiệu ứng nhà kính, biến đổi khí hậu, thiên tai lũ lụt, hạn hán…..thì công cuộc bảo vệ môi trường, ứng phó với biến đổi khí hậu đã trở thành một trong những chính sách quan trọng hàng đầu của Chính phủ các nước trên thế giới, trong đó có Đảng và Nhà nước Việt Nam. Hơn 50 năm đã trôi qua, “Tết trồng cây” do Chủ tịch Hồ Chí Minh phát động và những lời căn dặn của Người về giữ gìn, bảo vệ môi truờng sinh thái thân thiện, bền vững với đời sống con người càng có ý nghĩa lớn lao và thiết thực. Tấm gương sống giản dị, gần gũi với thiên nhiên, tư tưởng, triết lý sống tiến bộ về bảo vệ cảnh quan môi trường sinh thái và tài nguyên thiên nhiên để phát triển bền vững của Chủ tịch Hồ Chí Minh đã trở thành kim chỉ nam hành động đúng đắn cho các thế hệ hôm nay và mãi về sau./.

Huyền Trang (Tổng hợp)
bqllang.gov.vn

Những mùa xuân lịch sử

Người Việt Nam có một truyền thống rất đẹp: Hằng năm, cứ mỗi dịp chào đón xuân về, cả dân tộc ôn lại lịch sử hàng nghìn năm dựng nước và giữ nước với biết bao chiến công chói lọi giành được vào mùa xuân. Những chiến công đó đã làm nên những mùa xuân lịch sử.

Những mùa xuân lịch sử trước khi Đảng ra đời

Mùa xuân năm 1077 diễn ra trận quyết chiến chiến lược Như Nguyệt (18/1 đến 2/1077) của quân dân Đại Việt do Lý Thường Kiệt chỉ huy nhằm tiêu diệt quân Tống xâm lược trên phòng tuyến sông Cầu (Bắc Ninh). Kết thúc thắng lợi cuộc kháng chiến chống quân Tống lần thứ II (1075-1077).

Mùa xuân năm 1258 diễn ra cuộc kháng chiến chống Nguyên-Mông lần thứ I, trong đó quân và dân ta dưới thời nhà Trần tổ chức phản công bằng trận Đông Bộ Đầu (ngày 29/1/1258), đập tan âm mưu xâm lược Đại Việt của quân Nguyên-Mông.

Mùa xuân năm 1285 diễn ra trận phòng ngự ở Vạn Kiếp (2/1285) do Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn chỉ huy, đánh thắng quân Nguyên-Mông trong cuộc kháng chiến chống Nguyên-Mông lần thứ II.

Mùa xuân năm 1288 ghi lại trận phục kích đường sông của quân dân nhà Trần (Đại Việt) trên sông Bạch Đằng (9/4/1288) do Trần Quốc Tuấn chỉ huy nhằm tiêu diệt quân Nguyên-Mông trên đường rút chạy, kết thúc thắng lợi cuộc kháng chiến chống Nguyên-Mông lần III (1287-1288).

Mùa xuân năm 1785 chứng kiến trận Rạch Gầm-Xoài Mút (20/1/1785) do Nguyễn Huệ chỉ huy, đập tan âm mưu can thiệp của phong kiến Xiêm, đánh đổ các tập đoàn phong kiến của chúa Nguyễn ở Đàng Trong.

Mùa xuân năm 1789, chỉ trong vòng 5 ngày đêm (từ ngày 30/12 đến 5/1 năm Kỷ Dậu – 1789), dân tộc ta dưới sự lãnh đạo tài tình của Quang Trung – Nguyễn Huệ đã quét sạch 20 vạn quân xâm lược Mãn Thanh ra khỏi bờ cõi, giải phóng kinh thành Thăng Long, giải phóng Tổ quốc.

Đây là một trong những chiến công vĩ đại và hiển hách vào bậc nhất trong lịch sử chống ngoại xâm của dân tộc ta.

Những mùa xuân lịch sử gắn với sự ra đời và lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam

Mùa xuân năm 1930 ghi lại dấu mốc lịch sử ra đời Đảng Cộng sản Việt Nam ngày 3/2/1930. Từ đó, dưới sự lãnh đạo của Đảng, sự nghiệp cách mạng của nhân dân Việt Nam giành được nhiều thắng lợi vĩ đại, có ý nghĩa dân tộc và thời đại.

Mùa xuân năm 1931: Chứng kiến sự ra đời của Đoàn Thanh niên Cộng sản Đông Dương vào ngày 26/3/1931, tiền thân của Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh, là tổ chức chính trị – xã hội lớn nhất của thanh niên Việt Nam do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo.

moi do xuan ve
Ảnh Tư liệu

Mùa xuân năm 1949: Chiến dịch Cao – Bắc – Lạng (mở màn ngày 15/3/1949, kết thúc ngày 30/4/1949), là chiến dịch tiến công của lực lượng vũ trang nhân dân Việt Nam đánh vào tuyến phòng thủ đường 4 và lực lượng chiếm đóng của Pháp ở Cao Bằng, Bắc Kạn, Lạng Sơn.

Mùa xuân năm 1950:

Từ ngày 25 đến ngày 27/1/1950 diễn ra Chiến dịch Bến Cát I của lực lượng vũ trang khu Sài Gòn – Chợ Lớn tiêu diệt một bộ phận quân Pháp, mở rộng khu căn cứ Long Nguyên – Thanh Tuyền;

Ngày 18/1/1950, diễn ra trận sân bay Bạch Mai của Tiểu đoàn 108 (Mặt trận Hà Nội) tập kích sân bay Bạch Mai – một căn cứ không quân quan trọng của Pháp ở Hà Nội;

Từ ngày 26/1 đến ngày 1/2/1950, diễn ra chiến dịch Cao Lãnh của lực lượng vũ trang Khu 8 trên địa bàn tổng An Tịnh (huyện Cao Lãnh, tỉnh Sa Đéc, nay thuộc tỉnh Đồng Tháp) nhằm tiêu hao sinh lực, phá vỡ hệ thống lô cốt, tháp canh của quân Pháp, mở rộng vùng giải phóng, xây dựng cơ sở cách mạng trong vùng địch tạm chiếm.

Mùa xuân năm 1951: Chiến dịch Trần Hưng Đạo kết thúc thắng lợi vào ngày 18/1/1951, do Bộ Tổng tư lệnh trực tiếp tổ chức, chỉ huy đánh vào phòng tuyến của quân Pháp ở vùng trung du Bắc Bộ, nhằm phát huy quyền chủ động chiến lược sau thắng lợi chiến dịch Biên Giới (năm 1950).

Mùa xuân năm 1954:

Chứng kiến trận sân bay Cát Bi (7/3/1954) do 32 chiến sĩ bộ đội địa phương Kiến An tập kích vào sân bay Cát Bi, góp phần phát triển chiến tranh du kích trong chiến cục Đông Xuân 1953-1954;

Chiến dịch Hạ Lào và Đông Bắc Campuchia từ 30/1 đến 4/1954, là chiến dịch tiến công của quân đội nhân dân Việt Nam phối hợp với lực lượng vũ trang cách mạng Lào và Campuchia đánh quân Pháp ở Hạ Lào và Đông Bắc Campuchia;

Chiến dịch Thượng Lào (29/1 đến 13/2/1954) là chiến dịch tiến công của Đại đoàn 308 và một bộ phận lực lượng vũ trang Phathét Lào trong chiến cục Đông Xuân 1953-1954;

Chiến dịch Điện Biên Phủ (từ 13/3 đến 7/5/1954), chiến dịch quyết chiến chiến lược của quân đội nhân dân Việt Nam, là đòn tiến công tiêu diệt lớn nhất, điển hình nhất của quân và dân Việt Nam trong kháng chiến chống thực dân Pháp, giáng đòn quyết định đánh bại ý chí xâm lược của thực dân Pháp.

Mùa xuân năm 1963: Trận Ấp Bắc (2/1/1963) là trận chống càn điển hình của quân và dân miền Nam Việt Nam đánh bại lực lượng càn quét của ngụy quân Sài Gòn được cố vấn Mỹ chỉ huy. Báo hiệu sự phá sản của chiến lược chiến tranh đặc biệt của Mỹ.

Mùa xuân năm 1964: Trận chiến đấu đầu tiên của không quân Việt Nam (16/2/1964), trong đó máy bay T-28 (số hiệu 963 do Nguyễn Văn Ba và Lê Tiến Phước điều khiển) thuộc Trung đoàn không quân vận tải 919 Quân chủng Phòng không-Không quân, bằng 2 loạt đạn bắn rơi máy bay địch, diệt toàn bộ toán biệt kích và tổ lái. Không quân Việt Nam lập chiến công đầu ở mặt trận trên không.

Mùa xuân năm 1965: Trận chiến đấu không quân (3/4/1965) của biên đội máy bay MIG-17 thuộc Trung đoàn không quân tiêm kích 921, là trận đầu đánh thắng của Không quân nhân dân Việt Nam, mở ra mặt trận trên không chống chiến tranh phá hoại của Mỹ ở miền Bắc Việt Nam. Mỹ phát động cuộc chiến tranh phá hoại lần thứ I (7/2/1965 đến 1/11968). Quân và dân miền Bắc bắn rơi 3.243 máy bay (có 6 B 52 và 3 F 111), bắn chìm, bắn cháy 143 tàu chiến, tàu biệt kích của Mỹ.

Mùa xuân năm 1967: Chiến dịch phản công của quân giải phóng miền Nam Việt Nam đánh bại cuộc hành quân Gianxơn Xiti (Junction City) của Mỹ (từ 22/2 đến 15/4/1967), loại khỏi chiến đấu hơn 14.000 quân địch, phá huỷ 992 xe quân sự, 112 khẩu pháo, bắn rơi và phá huỷ 160 máy bay; bảo vệ vững chắc căn cứ, cơ quan đầu não kháng chiến; đánh bại cố gắng lớn nhất của Mỹ trong cuộc phản công chiến lược lần II và cả cuộc chiến tranh xâm lược ở miền Nam Việt Nam.

Mùa xuân năm 1968: Đêm 30 rạng ngày 31/1/1968, quân dân miền Nam nhất tề tổng tiến công và nổi dậy đồng loạt ở 64 thành phố, thị xã và nhiều vùng nông thôn rộng lớn, tiến công hàng loạt căn cứ quân sự, đánh trúng các sào huyệt, cơ quan đầu não quan trọng của quân Mỹ và quân Ngụy, là đòn quyết định giáng vào chiến lược chiến tranh cục bộ của đế quốc Mỹ.

Mùa xuân năm 1971: Diễn ra Chiến dịch phản công của Quân giải phóng miền Nam Việt Nam nhằm đánh bại chiến dịch Quang Trung của ngụy quân Sài Gòn ở vùng giáp giới 3 nước Việt Nam, Lào, Campuchia từ 27/2 đến 16/4/1971, tiêu diệt 3 tiểu đoàn, đánh thiệt hại nặng 9 tiểu đoàn, đánh bại hoàn toàn cuộc hành quân Quang Trung của địch. Chiến dịch đường 9 Nam Lào (từ 30/1 đến 3/3/1971), trong đó Quân giải phóng miền Nam Việt Nam phối hợp với lực lượng cách mạng Lào đánh bại cuộc hành quân Lam Sơn 719 (30/1 đến 23/3/1971) của ngụy quân Sài Gòn được Mỹ yểm trợ hoả lực.

Mùa xuân năm 1973: Ngày 15/1/1973, sau nhiều thất bại thảm hại, Chính phủ Mỹ buộc phải tuyên bố chấm dứt mọi hành động ném bom, bắn phá miền Bắc Việt Nam. Ngày 27/1/1973, Mỹ buộc phải ký Hiệp định Pari lập lại hoà bình tại Việt Nam.

Mùa xuân năm 1975: Chiến dịch Tây Nguyên (4/3 đến 24/3/1975) là chiến dịch chiến lược tiến công của Quân giải phóng Mặt trận Tây Nguyên mở đầu cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Mùa Xuân 1975, làm thay đổi cơ bản so sánh lực lượng và thế chiến lược giữa ta và địch, tạo bước ngoặt quyết định, đưa cuộc tiến công chiến lược của ta phát triển thành Tổng tiến công trên toàn miền Nam Việt Nam.

Đặc biệt, Chiến dịch Hồ Chí Minh (26/4 đến 30/4/1975), chiến dịch quyết chiến chiến lược của quân và dân ta trong cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Mùa Xuân 1975, là điển hình về hiệp đồng chặt chẽ giữa các lực lượng, các binh chủng, quân chủng, sự kết hợp trên quy mô lớn giữa tiến công quân sự và nổi dậy của quần chúng; đòn quyết chiến chiến lược táo bạo, kịp thời, chính xác, kết thúc chiến tranh.

Thái Công Trường Giang
Theo http://www.gdtd.vn
Thu Hiền
(st)

bqllang.gov.vn

Một năm hai lần đến thăm trại giam

Ngày 18 tháng 1 năm 1946, mới 5 tháng sau ngày 19 tháng 8, nhân dân ta giành được chính quyền ở Hà Nội, Chủ tịch Hồ Chí Minh lần đầu đi kiểm tra công tác “giác ngộ” những người lầm lỗi ở nhà giam Hỏa Lò và ở Nha Công an.

Chuyện kể về NgườiTháng 1 năm 1946 là một tháng trong những tháng “ngàn cân treo sợi tóc” của nước cộng hòa non trẻ Việt Nam. Và ngày 16/2/1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh, từ sáng sớm đã gửi thư cho Tổng thống Mỹ H.Truman qua bài diễn văn ngày 28 tháng 10 năm 1945 của Tổng thống. Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng đã viết trong thư lên án sự trở lại của quân đội Pháp và yêu cầu Tổng thống Mỹ “can thiệp ngay lập tức và có giải phóng để nhân dân Việt Nam thoát ra khỏi cuộc chiến tranh đó”.

Thư viết xong, đã thấy một cán bộ của Văn phòng Phủ Chủ tịch, trình Chủ tịch nước ký một loạt sắc lệnh, trong đó có Sắc lệnh giải tán tổ chức Quỹ cứu trợ mang tên Toàn quyền Đông Dương Brêviê và của Hội Bảo trợ Phụ nữ và Nhi đồng An Nam do chính quyền cũ tổ chức, để lại.

Sau đó, Hồ Chủ tịch tới nhà giam ở trên phố Hỏa Lò. Người đến đây với tư cách người ông, người cha, xót thương cho những con cháu lỗi lầm, nước đã độc lập tự do mà họ còn ngồi trong bốn bức tường nhà tù.

Bác đi một vòng xem nhà bếp, nhà ăn, phòng tắm, phòng giam. Ngôi bên họ, không sợ hôi hám, bẩn thỉu, Bác nghe những đứa con nhẹ dạ, không hiểu biết đầy đủ luật pháp đã phạm sai lầm phân trần. Thông cảm với sự hồi tâm, hối tiếc của những người bị giam giữ, Bác khuyên họ mau chóng sửa chữa để xứng đáng là công dân của nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa, để góp công, góp sức vào công cuộc kiến thiết nước nhà…

Nước mắt lưng tròng, những người đeo số tù ấy không ai vận động ai đều đứng lên hô to: “Hồ Chủ tịch muôn năm!”

Họ có biết đâu là Hồ Chủ tịch của họ cũng rưng rưng nước mắt. Bác nói: “Nên đổi chữ trại giam thành khu giác ngộ”. Giác ngộ là danh từ nhà Phật. Tự mình răn mình, lánh xa điều ác, chăm giữ điều thiện để trở về với con người chân chính, là giác ngộ. Bác không vui, dù rằng nếu có đổi ra “Khu giác ngộ” cũng là “trại giam” mà thôi… ý xót thương, tấm lòng bao dung của Bác muốn cho cán bộ trại không nên coi đấy là nơi đọa đầy họ và họ cũng chẳng nên phẫn chí, cùng đường ở nơi “đầy đọa” này…

Có lẽ hình ảnh những con người Việt Nam ấy, sau 80 năm nô lệ, chưa được độc lập tự do luôn trở về trong tâm trí Bác.

Mười tháng sau, mới 2 ngày sau khi từ Paris về Hà Nội, Bác lại đến thăm “Khu giác ngộ”, thăm số công an viên đang chuẩn bị đi làm nhiệm vụ.

Nói chuyện với trại viên “Khu giác ngộ”, Bác an ủi họ: “Anh chị em vì hám lợi mà làm sai nên phải vào đây chờ pháp luật xét xử”. Nhưng khi gặp cán bộ khu, Bác căn dặn: “Nên chăm sóc hơn đối với người bị giam. Phải xét ngay và xét kỹ cho họ khỏi bị oan uổng”.

Trong cơn lốc của cuộc cách mạng, trong buổi đầu lập nước, tránh sao khỏi những việc oan uổng trong dân… Bác biết và Bác nói hộ lời của dân “xin đừng giam lâu, xin đừng xét oan…”

Trích trong “120 chuyện kể về tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”
Baclieu.gov.vn
Tâm Trang
(st)

bqllang.gov.vn

Những câu truyện kể về Bác Hồ với bà con nông dân

Chuyện kể về NgườiĐể Bác tự đi

Được cấp trên cho biết Bác Hồ sẽ về thăm Hợp tác xã cấp cao Vĩnh Thành, huyện Yên Thành, lãnh đạo Đảng, chính quyền và Ban chủ nhiệm Hợp tác xã đều lo toan chuẩn bị. Nào là bố trí làm tổng vệ sinh khu vực làm việc của Đảng ủy, ủy ban và trụ sở Hợp tác xã. Cuộc họp lãnh đạo nhất trí là phải thông báo cho dân biết tin này để cùng chuẩn bị đón Bác. Thế là Ban Chủ nhiệm Hợp tác xã phân công cán bộ đến từng nhà dân ở gần trụ sở ủy ban và gần nơi đón Bác. Những nhà gần đó đều được xã cử thanh niên đến sửa soạn lại trong nhà sao cho ngăn nắp. Có 4 gia đình ở gần hội trường nhất thì cho người mượn thêm tủ, bàn ghế sang trọng ở những nhà khác xa hơn đưa đến đặt vào, để khi Bác đến sẽ thấy đời sống của dân ở đây khấm khá thật.

Thế là ngày hôm sau, Bác Hồ đã đến thăm Hợp tác xã Vĩnh Thành. Sau khi nói chuyện xong với cán bộ và nhân dân, Bác nói cho Bác đi thăm một số gia đình. Lãnh đạo xã mời Bác đi và dẫn Bác theo con đường có mấy nhà đã chuẩn bị trước. Ra khỏi hội trường đi được khoảng mươi mét đến ngã ba đường làng, ông Chủ tịch xã chỉ mời Bác đi đường này. Nhưng Bác xoa tay nói: “Để Bác tự đi để biết đúng thực tế, có lẽ ở đó các chú đã bố trí rồi”. Thế là Bác Hồ đi theo con đường khác. Bác đi vào nhà một gia đình bình thường có ngôi nhà tranh nhỏ bé. Trong nhà chỉ có một cái sập nhỏ đựng lúa làm bàn thờ và hai cái giường gỗ nhỏ cũ kỹ. Sau khi nói chuyện và hỏi thăm bà già đang ngồi bồng cháu trên chiếc võng, Bác lại đi thăm một số gia đình khác.

Trích theo sách: Tư tưởng lớn qua những câu chuyện nhỏ, Nxb Nghệ An, 2005

 Bác hướng dẫn làm kinh tế thời kháng chiến

 Thời gian rỗi, Bác cùng anh em trong cơ quan chơi bóng chuyền, tập thể thao, tăng gia sản xuất, trồng bí trồng bầu, nuôi gà, nuôi bò. Trong thời gian này, Bác nảy ra ý quản lý kinh tế theo phương thức khoán sản phẩm. Bác bảo các đồng chí, giao bò cho dân địa phương nuôi, khi bò phát triển thì một phần để lại cho nhân dân còn một phần cho tập thể. Trồng được nhiều bí, cả một bãi rộng dày đặc quả, khi thu hoạch anh em kiểm số lượng quả vì nhiều nên bị lẫn liên tục, Bác bày cho cách: Đếm xong quả nào cắm một que tre, khi cắm hết chỉ cần gom số que là ra số quả tăng gia được và giao cho người quản lý.

Trích theo sách: Những kỷ niệm cảm động về Bác Hồ
, Nxb Văn hóa thông tin, H.2008

 Biết mực nước lụt thường xuyên như chỉ huy nắm địch

 Vào mùa nước sông Hồng đang lên, Bác cho gọi đồng chí Thứ trưởng Bộ Thuỷ lợi lên hỏi: Chú cho Bác biết mực nước sông Hồng lên bao nhiêu?” “Thưa Bác tối qua mực nước là…” Bác ngắt lời: “Tối qua Bác biết rồi, Bác muốn biết lúc này là bao nhiêu?”. Đồng chí Thứ trưởng không trả lời được, Bác nghiêm giọng nói: “Thủy – hỏa – đạo – tặc, giặc lụt tai hại bao nhiêu chắc chú đã biết rõ, vậy sao chú nắm tình tình không sát, phải như Bộ Chỉ huy nắm địch ấy.

Trích theo sách: Những kỷ niệm cảm động về Bác Hồ
Nxb Văn hóa thông tin, H.2008

“Trăm năm trong cõi người ta,

Chống úng thắng lợi mới là người ngoan”.

 Đó là một sáng tháng 8 năm 1962, tất cả xã viên và cán bộ Mai Xá đang dồn hết sức mình ứng cứu lúa trên trận tuyến dài gần một cây số ở cánh đồng Sao. Hàng trăm chiếc gầu, hàng chục chiếc guồng nghiêng đồng đổ nước ra sông. Bác đến rất bất ngờ. Cả công trình chống úng của Mai Xá tưng bừng nhộn nhịp hẳn lên trong niềm vui được đón Bác. Mọi người chạy xô lại phía Bác. Bác bước tới dáng hồng hào khoẻ mạnh. Người mặc bộ quần áo gụ giản dị, đầu đội mũ cát, chân đi đôi dép cao su. Đến một chiếc guồng nước của hai cô xã viên, Bác bước lên và cùng đạp guồng với đồng chí Bí thư tỉnh uỷ. Sau đó Bác nói chuyện với bà con xã viên. Bác căn dặn tất cả mọi người phải đoàn kết chống úng đẩy mạnh sản xuất. Và Bác đọc một câu lẩy kiều:

“Trăm năm trong cõi người ta,

Chống úng thắng lợi mới là người ngoan”.

Giọng nói của Bác ấm áp đã đi sâu vào trong tâm trí mọi người. Cuộc gặp gỡ diễn ra hơn một giờ đồng hồ. Sau đó Bác ra về. Xã viên Mai Xá nhìn theo Bác lòng đầy lưu luyến. Tất cả mọi người đều muốn được mãi mãi nhìn Bác, nghe những lời dạy dỗ của Bác như lời người cha hiền từ dạy bảo con cái. Và từ hôm đó mọi người cùng nêu cao quyết tâm thực hiện lời dạy của Bác hăng hái chống úng đẩy mạnh sản xuất. Ngay vụ mùa đó cánh đồng Sao, cánh đồng hay ngập úng của xã Mai Xá mà Bác cùng guồng nước với mọi người đã đạt năng suất 3 tấn một héc ta.

Trích theo sách: 118 chuyện kể về Bác Hồ, Nxb Lý luận chính trị, H2008

Bác là người lao động

 Vào khoảng cuối năm 1953, đầu năm 1954, tuy đã ở trong ATK (an toàn khu) nhưng đội bảo vệ của Bác vẫn đào hầm sâu trong núi để đề phòng giặc. Anh em không quen nên làm việc có phần lúng túng. Bác đến và làm động tác mẫu quai búa cho đồng chí phụ trách búa xem. Rồi Bác lấy một thanh tre bánh tẻ làm kẹp cây “choòng” cầm chống, ra lệnh cho người quai búa cứ quai cho đều tay. Sợ Bác mệt, anh em nói:

– Thưa Bác, chúng cháu hiểu rồi ạ.

Đến lúc anh em tranh cãi về tăng gia, Bác lại “tham gia”. Có anh phát biểu nên trồng cà, anh thì bảo nên trồng rau muống cạn. Bác hỏi:

– Các chú đều là nông dân phải không?

– Dạ, chúng cháu đều là nông dân.

Bác giải thích: Vì các chú mỗi người một quê khác nhau, thời tiết mỗi vùng một khác. Kinh nghiệm trồng trọt cũng khác nên tranh cãi là bình thường. Song phải chú ý tới người xưa đã dạy ta rằng: “Bao giờ đom đóm bay ra, cành xoan chân chó trồng cà mới nên…” Thế các chú thấy cây xoan nảy mầm tức là thò chân chó chưa”

– Dạ, chưa ạ

– Thế thì chưa trồng cà được đâu!

Trích theo sách: Chuyện kể về Bác Hồ, Nxb Công an nhân dân, H.2009

Thúy Hằng (st)
bqllang.gov.vn

Tấm gương cần kiệm của Bác

Theo gương Bác HồBác Hồ thường căn dặn mọi người phải thực hành tiết kiệm, tiết kiệm sức lao động, tiết kiệm thời giờ, tiền bạc; phải tiết kiệm từ cái to đến cái nhỏ, không xa xỉ, hoang phí, không bừa bãi, phô trương hình thức. Bác đã sống cả cuộc đời thanh bạch từ ăn, ở đến phương tiện sử dụng phục vụ công việc hàng ngày.

Sinh thời, để tiết kiệm thời gian, Bác dạy: “Ai mang vàng vứt đi là người điên rồ. Ai mang thời giờ vứt đi là người ngu dại”, “Từ Chủ tịch Chính phủ cho đến người chạy giấy, người quét dọn trong một cơ quan nhỏ, đều là những người ăn lương của dân, làm việc cho dân… làm việc phải đến đúng giờ, chớ đến trễ về sớm… Phải nhớ rằng: Dân đã lấy tiền mồ hôi nước mắt để trả lương cho ta trong những giờ đó. Ai lười biếng tức là lừa gạt dân”.

Nhà ở của Bác chỉ là một ngôi nhà sàn gỗ lợp ngói, trên gác có hai phòng mỗi phòng hơn 10m2, vậy mà, Bác đề nghị để đồng chí Phạm Văn Đồng sử dụng một phòng để khỏi lãng phí. Một Tổng Biên tập nước ngoài được Bác tiếp tại nơi đó đã kể lại: “Chúng tôi được dẫn vào tầng dưới ngôi nhà sàn của Bác Hồ. Chúng tôi đợi Người ở đấy. Tôi còn kịp lướt nhìn mọi thứ được xếp đặt trong phòng khách của Người. Gọi là phòng khách của vị nguyên thủ quốc gia mà thật vô cùng giản dị, có lẽ không khác những gian nhà của nông dân Việt Nam mà tôi có dịp tới. Trong gian phòng này có lẽ chỉ có bộ bàn ghế mây được coi là nổi bật”.

Bữa ăn của Bác như bữa ăn của mọi nhà: Bát canh, quả cà, con cá kho, hoặc lát thịt kho. Bác luôn nghĩ đến người nghèo “lúc chúng ta nâng bát cơm ăn, nghĩ đến kẻ đói khổ, chúng ta không khỏi động lòng. Vậy tôi đề nghị với đồng bào cả nước và tôi xin thực hành trước, cứ 10 ngày nhịn ăn 1 bữa, mỗi tháng nhịn 3 bữa. Đem gạo đó (mỗi bữa 1 bơ) để cứu dân nghèo”. Một hôm, Bác đi họp ở đâu về, sợ Bác đói, nhà bếp vẫn để dành cơm cho Bác, nhưng Bác kiên quyết từ chối không ăn, mặc dầu Bác chưa ăn cơm. Vì hôm đó đúng bữa nhịn của Bác để góp vào hũ gạo tiết kiệm.

Khi ăn, không bao giờ Bác để rơi cơm. Đồng chí Phạm Văn Đồng có lần kể: Ăn cơm với Cụ hàng trăm lần, lần nào cũng thấy Cụ tém vén không để rơi một hạt cơm. Bởi vì Cụ trọng và tiết kiệm công sức của người làm ra lúa gạo. Chuyện nhỏ, đức lớn hài hoà ở một con người.

Khi dùng các món ăn bao giờ Bác cũng dùng hết, không để thừa lãng phí. Hồi 1957, Bác về thăm quê, lần ăn cơm với lãnh đạo tỉnh, khi đưa thêm các món ăn, Bác gạt đi: Dùng hết lấy thêm, đừng để người khác ăn thừa của mình.

15 năm cuối ở Hà Nội, lúc dân đói, kinh tế còn khó khăn, Bác đã thực hiện: Chiều thứ 7 hàng tuần ăn cháo để tiết kiệm thêm một chút gạo cho người nghèo. Dân, cán bộ ăn cơm độn ngô, khoai, sắn bao nhiêu phần trăm, thì Bác cũng thực hiện bấy nhiêu phần trăm giống như cán bộ, như dân. Khi đi công tác, Bác mang cơm nắm với muối vừng.

Một đồng chí ở Hội Luật gia Việt Nam kể lại: Đến Hội nghị Tư pháp toàn quốc năm 1950, Bác không cho Hội nghị làm cơm mời Bác. Buổi trưa, Bác bày ra bãi cỏ nắm cơm, lọ cà, lọ thịt kho và cho gọi tôi cùng ăn. Tôi gắp miếng thịt nhai không đứt, phải dúi xuống cỏ. Bác mang cơm nắm, vì rằng: Bác dặn đồng chí phục vụ đi công tác nắm cơm ở nhà đi. Trên đường tính toán đến giờ ăn dừng lại chỗ nào đó giữa đường, Bác cháu ăn với nhau. Đến nơi nói với địa phương Bác ăn cơm rồi, Bác thích thế, đỡ phiền bữa cơm, mất thời giờ của mọi người. Bác nói: Người ta dọn ra một bữa cơm sang, có khi Bác chẳng ăn đâu, nhưng rồi để lại cái tiếng đấy. Bác Hồ đến thăm cũng làm một bữa cơm sang, cũng điều người này, người khác từ giao tế sang, chuẩn bị cả buổi. Thế là tự Bác bao che cho cái chuyện xôi thịt. Như thế nắm cơm theo ăn cho tiện, ăn no rồi đến làm việc.

Bác còn chỉ thị cho những người phục vụ: Vá khăn mặt cho Bác, vá áo lót cho Bác, vá chiếu nằm cho Bác. Có lần, khi tất rách chưa kịp vá, anh em đưa đôi mới để Bác dùng. Bác cầm đôi tất xoay chỗ rách vào bên trong người Bác, rồi cười: Đấy có trông thấy rách nữa đâu… Những việc này thật quá bình thường. Nhưng trên đời này không ai làm được những điều bình thường ấy. Bác làm những điều bình thường ấy có làm cho Bác nhỏ bé đi đâu.

Mùa đông, Bác Hồ có một cái áo bông của đồng bào biếu. Bác dùng nhiều năm, mền bông xẹp xuống không ấm nữa. Nhưng không ai dám nghĩ đến việc xin Bác bỏ mền bông đi, chỉ nghĩ đến việc thay vỏ ngoài. Vì dùng mãi vỏ áo đã đứt chỉ ở khuỷu tay và ở cổ. Bác bảo mạng nó lại. Nó rách ở vai thì Bác bảo vá vai, đến khi nó rách lần hai, đồng chí phục vụ xin cho thay vỏ ngoài, Bác bảo: Này chú ạ, Chủ tịch Đảng, Chủ tịch nước mặc áo vá vai thế này là cái phúc của dân đấy, đừng bỏ cái phúc đó đi.

Bác mặc bộ quần áo ka ki đã sờn cổ, sờn tay, xin được thay bộ khác, Bác bảo: Nếu thi sang thì thua, thi tiết kiệm thì thắng. Bác mặc như thế phù hợp với hoàn cảnh của nước của dân không phải thay. Xưởng may X biếu Bác bộ quần áo ka ki mới, Bác nhận, nhưng rồi Bác lại gửi lại xưởng may để làm phần thưởng thi đua.

Nhớ lại lần Bác sang thăm In-đô-nê-xi-a, đồng chí bảo vệ được cùng đi với Bác, và đồng chí đã sắm bộ com-lê mới. Sang bên đó, đồng chí mặc nó, thấy vậy, Bác nói với đồng chí rằng: Không phải Bác không muốn các chú ăn sang, mặc đẹp, nhưng lương của các chú có hạn, cái sang, cái đẹp dễ biến thành nô lệ của nó.

Ô tô phục vụ Bác là chiếc Pô bê đa (Thắng lợi) của Liên Xô trước đây. Đã nhiều lần Trung ương xin thay ô tô khác, nhưng Bác bảo ô tô là phương tiện phục vụ cho công việc, chứ không phải là sự phân biệt cấp bậc, chức tước, ô tô phục vụ Bác còn dùng được, không phải thay. Và một lần chiếc ô tô phục vụ Bác bị lão hoá ở vòng tay lái, toả mùi cao su khó chịu nhưng chưa kịp sửa, thì đúng lúc Bác có việc phải đi, đồng chí bảo vệ lấy chút nước hoa vẩy vào trong xe để át mùi cao su. Khi Bác lên ô tô phát hiện có mùi nước hoa, Bác tỏ ý không vui. Bác bảo: Không phải Bác không thích nước hoa, nhưng nhân dân mình còn nghèo khổ. Vị Chủ tịch của những người nghèo khổ dùng nước hoa sao đành.

Bác tiết kiệm đến cái nhỏ như tờ giấy: “Giấy bút, vật liệu đều tốn tiền của Chính phủ, tức là của dân; ta cần phải tiết kiệm. Nếu một miếng giấy nhỏ đủ viết, thì chớ dùng một tờ to. Một cái phong bì có thể dùng hai, ba lần”. Và Bác đã làm để mọi người bắt chước là hàng ngày các văn bản Bác đều viết ở mặt sau của bản tin Thông tấn xã Việt Nam; còn phong bì Bác đều dùng lại phong bì của các nơi gửi tới đến hai, ba lần.

Làm được những việc nhỏ thì sẽ thành cái to như Bác đã chỉ rõ “nơi nào cũng tiết kiệm một chút, thì trong một năm đỡ được hàng vạn tấn giấy, tức là hàng triệu đồng bạc. Nhờ tiết kiệm…mà lợi cho dân rất nhiều”. Qua những việc làm đó mà một chính khách nước ngoài được gặp Bác từ năm 1951 đã nói: Tôi hiếm khi được gặp một người sống thanh đạm đến thế và khinh thường mọi xa hoa đến thế.

Bác đã dạy: “Người ta ai cũng muốn ăn ngon, mặc đẹp, nhưng phải đúng thời, đúng hoàn cảnh. Trong lúc nhân dân còn khó khăn, một người nào đó muốn sống hưởng ăn ngon, mặc đẹp thì không có đạo đức”. Và Bác thường xuyên nhắc nhở phải coi đạo đức là cái gốc của người cách mạng, của con người, phải thực hành cần, kiệm, liêm, chính. Người chỉ rõ: “Một dân tộc biết cần, kiệm, liêm, chính là một dân tộc giàu về vật chất, mạnh về tinh thần, một dân tộc văn minh tiến bộ”.

Ôn lại những điều cụ thể trên đây về cuộc sống tiết kiệm của Bác, như đồng chí Phạm Văn Đồng đã nói: Chớ có hiểu lầm rằng, Bác Hồ sống khắc khổ theo kiểu nhà tu hành, thanh tao theo kiểu nhà hiền triết ẩn dật. Bác Hồ sống tiết kiệm, thanh bạch trong đời sống và cuộc đấu tranh gian khổ, ác liệt của quần chúng nhân dân. Đời sống vật chất càng giản dị thì càng phù hợp với đời sống tâm hồn phong phú, với những tình cảm, những giá trị tinh thần cao đẹp nhất. Đó là cuộc sống thật sự văn minh mà Bác Hồ đã nêu gương sáng.

Và cũng chính vì thế, lịch sử biến thiên, nhưng Bác Hồ vẫn sống mãi. Tuy Bác đã đi xa, nhưng con cháu Bác vẫn hàng ngày tìm về cái đẹp cuộc đời Bác nêu gương để chau chuốt cái đẹp cho đời. “Học tập, làm theo tấm gương đạo đức Bác Hồ” chính là học tập và làm theo những mẫu mực cao đẹp đó của Người.

Theo TS. Trần Viết Hoàn
Nguyên Giám đốc Khu di tích Phủ Chủ tịch/ VietNamnet

Tâm Trang (st)
bqllang.gov.vn

40 năm ký kết Hiệp định hòa bình Pa-ri (27-1-1973/27-1-2013)

QĐND – LTS: Giô-dép A.Am-tơ là một luật gia ở Đen-vơ, bang Cô-lô-ra-đô, Mỹ, người đã có một thời gian dài quan tâm đến công tác đối ngoại và hòa bình quốc tế. Am-tơ đã thành lập tổ chức “Quỹ tổ chức nghiên cứu hòa bình” và nhiều năm làm giám đốc tổ chức này.

Một gia đình người Việt Nam ở phố Khâm Thiên để tang người thân bị B-52 Mỹ giết hại. Ảnh: Corbis

Năm 1965, theo yêu cầu của Tổng thống Giôn-xơn, Am-tơ làm đồng chủ tịch các cuộc hội nghị Nhà Trắng nghiên cứu về sự cộng tác quốc tế để “tìm kiếm, thăm dò, suy xét và thảo luận mọi con đường có thể có để đưa đến hòa bình”. Theo Am-tơ, ông vô cùng thất vọng vì Tổng thống Mỹ không cho phép hội nghị thảo luận chính sách của Nhà Trắng đối với Việt Nam.

Qua cuốn “Lời phán quyết về Việt Nam”, Am-tơ cố gắng giải thích sự việc, không đưa những ý kiến cá nhân, mà chỉ nêu những kết luận qua tài liệu nghiên cứu tham khảo trong những năm làm việc tại Nhà Trắng.

Cuốn sách “Lời phán quyết về Việt Nam” ngoài lời mở đầu, gồm 4 phần lớn: Sự dính líu của Mỹ vào Việt Nam; Cuộc chiến tranh của Giôn-xơn; Cuộc chiến tranh của Ních-xơn; Thảm họa Việt Nam. Cuối cùng là phần kết ngắn: Lời phán quyết của một công dân Mỹ (cũng chính là tác giả).

Nhân dịp 40 năm ký kết Hiệp định hòa bình Pa-ri (27-1-1973/27-1-2013), Báo Quân đội nhân dân Cuối tuần xin trích dịch một phần trong cuốn sách trên đây, nhằm cung cấp thêm một góc nhìn về cuộc chiến tranh của Mỹ tại Việt Nam nói chung và khuôn khổ Hiệp định hòa bình Pa-ri nói riêng.

Kỳ I: Kế hoạch “giành chiến thắng”

Vì Ri-chát Ních-xơn công bố “hòa bình đã ở tầm tay” nên ông ta theo đuổi kế hoạch giành thắng lợi hoàn toàn bằng một cuộc tiến công không quân dã man nhất trong toàn bộ cuộc chiến tranh chống Bắc Việt Nam, cố gắng buộc Hà Nội đầu hàng. Ngày 20-11-1972, sau khi cuộc bầu cử đã xong xuôi, Kít-xinh-giơ đồng ý gặp lại ông Lê Đức Thọ. Trong lúc đó, Mỹ tập trung cung cấp cho Sài Gòn mọi vũ khí có thể. Mỹ gửi cho tướng Thiệu một số lượng vũ khí lớn, gồm xe tăng, máy bay lên thẳng, máy bay ném bom và máy bay chiến đấu. Việc cung cấp vũ khí mà chẳng bao lâu rơi vào tay quân Bắc Việt Nam, tốn của Mỹ nhiều tỷ USD và làm yếu các căn cứ khác của chúng ta trên thế giới. Trong khi đó, quân đội Sài Gòn lại nổi lên “với lực lượng không quân lớn thứ tư trên thế giới, với hơn 2000 máy bay, tuy rằng, phi công của họ chưa được kiểm tra để bay một số các máy bay tinh vi hơn”.

Chính quyền Ních-xơn cố gò ép toàn bộ chương trình viện trợ quân sự của cả năm tới cho quân đội Sài Gòn chỉ trong một vài tuần lễ, trước khi hiệp định hòa bình có thể đạt được.

Kế hoạch In-han-xơ Plớt là một hoạt động trọng yếu cho chiến lược Ních-xơn và Kít-xinh-giơ nhằm chấm dứt chiến tranh theo các điều kiện của Mỹ. Họ tin tưởng rằng, sức ép như vậy sẽ củng cố lập trường thương lượng của họ và buộc Hà Nội khuất phục theo các điều kiện của họ. Theo quan điểm của Ních-xơn, In-han-xơ Plớt phục vụ hai mục đích. Chương trình đó ủng hộ chế độ Sài Gòn và làm cho Thiệu dễ bảo hơn khi có hiệp định hòa bình. Tổng thống cử tướng He-gơ đến Sài Gòn để giám sát việc giao hàng. He-gơ cảnh cáo Thiệu là sẽ có thể đến lúc Mỹ buộc phải rời khỏi Việt Nam và Thiệu phải hợp tác với Nhà Trắng. He-gơ nói rõ cho nhà lãnh đạo chính quyền Sài Gòn là phải tập trung vào việc làm thế nào để sống sót sau khi Mỹ rời Việt Nam.

Kế hoạch In-han-xơ Plớt còn có một mục tiêu nữa là làm cho Thiệu thấy rằng, Mỹ có ý định đứng sau lưng hắn ta. Để nhấn mạnh điểm đó, Tổng thống Ních-xơn ra lệnh các cuộc đánh phá mới bằng không quân chống Hà Nội ngay vào lúc In-han-xơ Plớt bắt đầu. Hà Nội tố cáo Ních-xơn “củng cố phe lũ Nguyễn Văn Thiệu để chuẩn bị những cuộc xâm lược mới”. Tuy nhiên, ông Lê Đức Thọ vẫn trở lại Pa-ri dự một cuộc họp nữa với Kít-xinh-giơ. Tại cuộc họp đó, ông Lê Đức Thọ ra tuyên bố: “Nếu Mỹ kéo dài các cuộc thương lượng trì hoãn việc ký hiệp định và tiếp tục chiến tranh thì người Việt Nam không có cách nào khác hơn là quyết tâm tiếp tục cuộc chiến đấu của mình cho đến khi đạt được độc lập, tự do và hòa bình thực sự”.

Mỹ trả lời bằng việc đưa ra những yêu sách mới làm cho nhiều vấn đề đã được thỏa thuận hồi tháng 10-1972 bị lật lại. Bây giờ, Kít-xinh-giơ đòi rằng khu phi quân sự phải được thừa nhận như một biên giới tạm thời. Hà Nội phải rút một số quân khỏi miền Nam và thừa nhận thực sự chủ quyền của chính quyền Sài Gòn. Kít-xinh-giơ cũng phác họa một số phản đối của Thiệu. Khi Oa-sinh-tơn đã ra những yêu sách mới hơn nữa vào ngày 25-11-1972, ông Lê Đức Thọ yêu cầu ngừng họp. Hai bên tỏ ra bế tắc một lần nữa.

Khi rời Pa-ri, Kít-xinh-giơ đe dọa là cuộc chiến tranh sẽ tăng lên trừ phi Hà Nội nhượng bộ. Trong một bức điện cho Kít-xinh-giơ, Ních-xơn viết: “Nếu họ ngạc nhiên vì tổng thống có thể có hành động mạnh mẽ như ông ta đã làm trước cuộc họp cấp cao Mát-xcơ-va và trước cuộc bầu cử thì bây giờ họ sẽ thấy, với cuộc bầu cử bỏ lại sau lưng chúng ta, tổng thống sẽ có bất kỳ hành động nào mà ông ta cho là cần thiết để bảo vệ lợi ích của Mỹ”.

Rồi Ních-xơn cam kết bí mật với Thiệu là nếu Hà Nội, dù bằng cách nào vi phạm hiệp định đã được dự định thì Mỹ sẽ đến cứu Sài Gòn. Ních-xơn viết: “Tôi xin bảo đảm với ông rằng, nếu Hà Nội không tôn trọng các điều khoản của hiệp định, tôi sẽ có hành động trả đũa nhanh chóng và nghiêm khắc”. Tổng thống bảo đảm với giới nội bộ của ông ta là ông ta có ý định giữ lời cam kết bí mật đó. Ông ta cũng hướng dẫn Lầu Năm Góc hoàn thành việc vạch ra một kế hoạch đặc biệt để thực hiện cam kết đó, gọi là kế hoạch “các thay đổi về tổ chức ở Đông Nam Á”. Kế hoạch đó phác họa việc Mỹ có thể tiếp tục dính líu ở Việt Nam như thế nào: Sau khi đạt được một số giải pháp, bộ chỉ huy quân sự Mỹ ở Sài Gòn sẽ được thay bằng một cơ quan của tùy viên quốc phòng Mỹ, viết tắt là DAO, với nhiều chức năng tương tự.

DAO sẽ phối hợp các hoạt động quân sự “trong nước” điều khiển sự “giám sát của không quân Mỹ” phối hợp các biện pháp an ninh cho quân đội Sài Gòn và thành lập một mạng lưới đưa tin tức tình báo ở miền Nam Việt Nam và các “lãnh thổ kế cận”. Kế hoạch này đặt ra thực tế là dù cho hiệp định có thể nói gì về việc Mỹ rút khỏi Việt Nam, giới quân sự Mỹ đã có ý định ở lại và chuẩn bị tình huống cho một cuộc chiến tranh không quân mới, dùng B-52 đậu ở Thái Lan trên cơ sở báo động 24 tiếng một ngày.

Kít-xinh-giơ và ông Lê Đức Thọ nối lại các cuộc thảo luận của họ vào tuần đầu của tháng 12-1972 ở Pa-ri. Cả hai đại diện xem xét lại các vấn đề một lần nữa nhưng không bên nào thay đổi lập trường. Kít-xinh-giơ giữ vững những thay đổi lớn mà cả Ních-xơn lẫn Thiệu muốn có trong hiệp định tháng 10 và đe dọa Hà Nội với những cuộc tiến công ném bom hơn nữa nếu Hà Nội không chịu nhượng bộ. Về phần mình, ông Lê Đức Thọ hy vọng buộc được Kít-xinh-giơ thương lượng thực tế hơn.

Phố Khâm Thiên, Hà Nội, bị B-52 của không quân Mỹ tàn phá trong cuộc ném bom Lễ Giáng sinh 1972. Ảnh: Corbis

Cuộc thảo luận bị cắt đứt lần nữa vào ngày 13-12-1972. Kít-xinh-giơ về Oa-sinh-tơn và gặp Ních-xơn ngày hôm sau. Họ quyết định ra một tối hậu thư cho Hà Nội: “Nhượng bộ theo yêu sách của Mỹ trong vòng ba ngày hoặc phải đương đầu với một chiến dịch ném bom”. Hành động nhanh chóng, Kít-xinh-giơ giải thích tình hình cho Đô đốc Mu-rơ của Bộ Tham mưu liên quân và hỏi có bao nhiêu B-52 sẵn có cho một cuộc tấn công Hà Nội. Câu trả lời rõ ràng làm vừa lòng Nhà Trắng. Ngay tức khắc, Ních-xơn ra lệnh các cuộc tiến công không quân lớn nhất của cuộc chiến tranh vào Hà Nội và Hải Phòng.

Để biện bạch cho việc ném bom, Kít-xinh-giơ nói với dân Mỹ rằng, Hà Nội có lỗi và đã phá hoại các cuộc đàm phán tại Pa-ri. Ông ta nói rằng, Hà Nội đã đưa ra “hết vấn đề phù phiếm này đến vấn đề phù phiếm khác” như là một phần của “trò chơi đố chữ” lớn và mỗi lần “một giải pháp sắp đạt được thì lại bị đẩy ra khỏi tầm với của chúng tôi”. Kít-xinh-giơ chỉ làm theo các chỉ thị của Tổng thống Ních-xơn: “Chúng ta phải đóng một vai trò mà chúng ta có thể đóng được làm sao để tỏ ra là Hà Nội chứ không phải chúng ta chịu trách nhiệm về vệc phá vỡ hội nghị. Và rồi chúng ta phải thương lượng ở mức càng thấp càng tốt, hành động càng mạnh mẽ càng hay, mà không gây sự huyên náo về thực tế là chúng ta đẩy mạnh ném bom và do đó nối lại chiến tranh…”.

Trong 12 ngày tiếp theo, từ ngày 18-12 đến 29-12-1972, Mỹ ném bom Hà Nội và Hải Phòng với sự tàn bạo hơn bao giờ hết trong lịch sử cuộc chiến tranh Việt Nam, thả hơn 35.000 tấn bom vào bên trong hai trung tâm đô thị lớn ở Bắc Việt Nam. Lầu Năm Góc đã dùng 200 B-52, các “pháo đài bay” này bay theo từng nhóm 3 chiếc, mang bom 500 và 700 bảng Anh, mà khi thả xuống, đúng là nhấn chìm những khu vực hình chữ nhật, một dặm bề dài, nửa dặm bề ngang của thành phố. Giới quân sự cho rằng, các trung tâm dân cư cũng như các mục tiêu quân sự sẽ bị quét sạch. Và trong phần lớn các trường hợp, khu vực mục tiêu chỉ còn là những đống gạch vụn. Gạch vụn là mục tiêu thừa nhận của Lầu Năm Góc nhằm “làm tê liệt đời sống hằng ngày của Hà Nội và Hải Phòng và phá hủy khả năng của Hà Nội ủng hộ các lực lượng ở Nam Việt Nam”.

Các cuộc ném bom Lễ Giáng sinh năm 1972 đã tàn phá và gây đau khổ lớn lao. Chỉ riêng ở Hà Nội, hơn 2000 người dân thường chết. Toàn bộ các vùng lân cận đã bị xóa sạch. Các phương tiện vận tải bị hoàn toàn phá hủy. Những nhà thương quan trọng bị tàn phá. Nhà thương Bạch Mai, cơ sở y tế hiện đại nhất của Hà Nội, với hơn 900 giường, đã bị biến thành đống đổ nát. Các nhà báo nước ngoài mô tả những hố bom 50 bộ Anh và những gốc cây trốc rễ trong chính trung tâm Hà Nội.

NGUYỄN HOÀNG biên soạn
qdnd.vn

Có một “Chiến dịch Hồ Chí Minh” trong lòng Pa-ri (Kỳ cuối)

Sau khi ký Hiệp định Pa-ri

Mặt trận ngoại giao “đợi tin” chiến trường

QĐND – Trên mặt trận ngoại giao, cơ quan của ta ở Pháp cũng nhận thức rằng, Pa-ri là một trong những đài quan sát quan trọng nhất của ta trên thế giới để thu thập tin tức, nghiên cứu các vấn đề phối hợp với chiến trường nên cần phải làm việc khẩn trương và chính xác. Chúng tôi đã huy động hầu hết lực lượng nghiên cứu, tiếp xúc của hai cơ quan Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam để tổng hợp và đưa ra nhận định cho thấy những hạn chế của Mỹ trong khả năng trở lại Việt Nam bằng quân sự. Trong đó có một số việc chỉ riêng ở vị trí của tôi mới làm được.

Năm thành viên chính thức của đoàn Chính phủ Việt Nam dân chủ cộng hòa ký Hiệp định Pa-ri (từ trái sang phải): Nguyễn Minh Vỹ, Xuân Thủy, Nguyễn Duy Trinh, Nguyễn Cơ Thạch, Võ Văn Sung. Ảnh tư liệu

Ví dụ, sau khi ta giải phóng toàn bộ tỉnh Phước Long, tôi có gặp và hỏi ông Nguyễn Duy Quang ý kiến về việc ta giải phóng Phước Long. Ông Nguyễn Duy Quang nguyên là Đổng lý văn phòng của Bảo Đại. Ông này đã tham gia kháng chiến chống Pháp đến năm 1953, là Giám đốc Sở Tư pháp Liên khu 4 của ta; năm 1953 trở về vùng tạm chiếm và được chính quyền Sài Gòn sử dụng và chọn làm Đại sứ ở Pa-ri. Ông Quang tỏ thái độ khá lo lắng và nói đại ý không rõ tình hình. Tôi nói: “Chỗ anh em với nhau, tôi xin nói thẳng, năm 1953 anh đã không tiếp tục đi với kháng chiến thì bây giờ anh nên cân nhắc và tôi có thể đảm bảo với anh rằng, nếu anh quay trở về thì vẫn được hoan nghênh”. Ông Quang xin thêm thời gian suy nghĩ. Sau khi ta giải phóng Buôn Ma Thuột, tôi lại chủ động gặp ông Nguyễn Duy Quang. Ông Quang cho tôi biết đại ý là không thấy Mỹ động tĩnh gì. Tôi nhắc lại việc “trở lại với kháng chiến”, ông ta vẫn trả lời lần lữa. Chỉ có một lần tôi hỏi quan hệ giữa Mỹ và Thiệu như thế nào, ông ta trả lời cho tôi hiểu rằng quan hệ đó không tốt.

Cùng với việc thăm dò đối phương, các hoạt động đề cao vị thế quốc tế của Chính phủ Cách mạng lâm thời cũng được đẩy mạnh. Cao điểm là từ cuối tháng 1 đến giữa tháng 2-1975: Đấu tranh cho sự tham gia của Chính phủ Cách mạng lâm thời ở Hội nghị quốc tế về Luật Nhân đạo tại Giơ-ne-vơ. Đồng thời, tiếp tục tiến hành vận động thêm một số nước công nhận Chính phủ Cách mạng lâm thời.

Tôi có một số kỷ niệm đáng nhớ giúp cho ta thấy được tình cảm của chính phủ các nước đối với Chính phủ Cách mạng lâm thời nhiều khi không như biểu hiện về mặt ngoại giao chính thức. Ví dụ như việc tôi xin gặp Đại sứ Van-đơ Clao-xơ, Trưởng phái đoàn của Hà Lan tại Giơ-ne-vơ (về sau ông này làm Bộ trưởng Ngoại giao Hà Lan) nhưng Văn phòng của phái đoàn Hà Lan trả lời đại sứ không tiếp vì cách đó hai ngày đã từng gặp một người xưng là đại diện của ta. “Chúng tôi chưa có ai gặp các ông cả. Ông Võ Văn Sung xin gặp là Đại sứ của Hà Nội tại Pa-ri kiêm nhiệm Đại sứ tại Hà Lan”- ta trả lời. Chưa đầy 15 phút sau, phái đoàn Hà Lan gọi lại cho biết đại sứ có thể tiếp tôi lúc nào tôi muốn. Khi tôi bước vào phòng khách, Đại sứ Van-đơ Clao-xơ vồn vã ra tận cửa đón và nói: “Xin bạn đồng nghiệp miễn chấp vì tôi cứ tưởng người xin gặp tôi là đại sứ của chính quyền bù nhìn ở Sài Gòn”. Tôi nói: “Lời nói của bạn đồng nghiệp làm cho tôi hiểu được tình cảm thật sự của bạn đối với chúng tôi. Thế lập trường của Sài Gòn thế nào mà Hà Lan không thể ủng hộ được?”. Đại sứ Hà Lan trả lời: “Họ đề nghị tôi chống việc Chính phủ Cách mạng lâm thời tham gia Hội nghị”. Tôi hỏi: “Thế Hà Lan sẽ ủng hộ Chính phủ Cách mạng lâm thời chứ?”. Trả lời: “Đó là ý định của chúng tôi”. Sự việc này khiến tôi thấy rằng giữa hành động ngoại giao chính thức và tình cảm thực sự có lúc có khoảng cách và không nên vì thế mà xem nhẹ tình cảm thật của bạn bè đối với chính nghĩa của ta.

“Sắp thống nhất rồi anh Sung ơi!”

Hai năm sau ngày ký kết Hiệp định Pa-ri, chúng tôi dự kiến có một hoạt động với ý đồ phục vụ hai mục đích như các việc đã kể trên. Kinh nghiệm vận động Việt kiều hàng chục năm trước ở Pháp và Tây Âu cho thấy, Tết là dịp có thể huy động được số đông Việt kiều và bạn bè quốc tế. Vì vậy, chúng tôi quyết định tiến hành hai đợt hoạt động: Đợt 1 nặng về chính trị làm vào ngày 26-1-1975 nhân dịp hai năm ký kết Hiệp định Pa-ri; đợt 2 tổ chức một đêm Tết lớn với nòng cốt là Hội Liên hiệp Việt kiều gọi là “Tết hòa giải hòa hợp Ất Mão” bao gồm cả Việt kiều ở Pháp và các nước lân cận. Mọi việc diễn ra suôn sẻ đúng với ý định của ta. Sau lễ Tết “hòa giải hòa hợp”, tôi để ý thấy nhiều người xin gặp tôi và có thái độ gần như “chúng ta là cùng một phía”.

Ngày 13-4-1975, tôi được triệu tập sang Mát-xcơ-va gấp và ngày 14-4-1975 tôi được nối “đường dây” mà anh Lê Đức Thọ nói khi lên máy bay rời Pa-ri. Bất ngờ đầu dây bên kia là anh Lê Thanh Nghị. Anh Lê Thanh Nghị đã giao cho tôi một số việc về kinh tế và khoa học kỹ thuật, sau đó nói với tôi về tình hình trong nước và báo riêng “anh Sáu Thọ nhắn anh là các việc cứ xúc tiến như đã bàn; có nhiều khả năng xong trước mùa mưa này”. Trước khi chia tay, anh Nghị nói với tôi một câu đầy xúc động khác với tác phong thường ngày của anh: “Sắp thống nhất rồi anh Sung ơi!”. Tôi thấy trong người như được thêm một sức mạnh mới, phấn chấn hẳn lên. Trên máy bay trở về Pa-ri tôi liên tục nghĩ về công việc của những ngày sắp tới…

BÍCH TRANG
qdnd.vn

(Theo lời kể của nhà ngoại giao lão thành Võ Văn Sung – người duy nhất còn sống trong năm thành viên của đoàn Chính phủ Việt Nam dân chủ cộng hòa ký Hiệp định Pa-ri).

Có một “Chiến dịch Hồ Chí Minh” trong lòng Pa-ri (Kỳ 1)

Có một “Chiến dịch Hồ Chí Minh” trong lòng Pa-ri

Sau khi ký Hiệp định Pa-ri

QĐND – Tham gia cuộc đấu tranh ngoại giao của ta tại Hội nghị Pa-ri, sau đó là giai đoạn đấu tranh thi hành Hiệp định, nhà ngoại giao Võ Văn Sung là một trong số ít người có may mắn chứng kiến toàn bộ cuộc đụng đầu lịch sử giữa nền ngoại giao Việt Nam Dân chủ Cộng hòa non trẻ và một nền ngoại giao lão luyện của Mỹ ngay tại Pa-ri.

40 năm sau, chúng tôi có dịp trò chuyện với ông tại nhà riêng. Qua hồi ức của ông, một “Chiến dịch Hồ Chí Minh” thầm lặng và không tiếng súng đã diễn ra gay go và ác liệt ngay trong lòng trung tâm văn minh lớn của phương Tây.

Nhà ngoại giao Võ Văn Sung. Ảnh: Song Thanh

Pa-ri, trọng điểm của mặt trận ngoại giao

Tháng 11-1970, tôi sang Pháp, bên trong là tham gia nhóm làm việc của anh Lê Đức Thọ đàm phán “bí mật” với Kít-xinh-giơ, bên ngoài tôi làm Tổng đại diện của chính phủ ta. Tôi nhớ trong 12 ngày đêm Mỹ ném bom B-52 xuống Hà Nội tháng 12-1972, tại Pa-ri ngày nào Bộ trưởng Bộ Ngoại giao Pháp Mô-rít-xơ Su-man và tôi cũng gặp gỡ, hoặc gọi điện thoại cho nhau cả vào đêm khuya để thông tin tình hình và trao đổi ý kiến vì phía Pháp cần có thông tin để có thái độ. Ngược lại, ta cũng mong muốn phía Pháp góp phần lên án cuộc ném bom đó. Ngày 31-12-1972, nghe tôi thông báo thắng lợi của ta bắn rơi 81 máy bay Mỹ trong đó có 34 máy bay B-52, ngoại trưởng Pháp đã thốt lên “Thật kỳ diệu” và sau đó đưa tôi ra thềm trụ sở Bộ Ngoại giao. Tại đây, đã có hàng chục nhà báo Pháp và quốc tế chờ sẵn để nghe tôi nói về sự kỳ diệu ấy.

Thực tiễn cho thấy, Pa-ri đúng là môi trường đàm phán, đấu tranh dư luận và tranh thủ quốc tế tốt cho ta. Trong các năm 1968-1975, ta lần đầu tiên đã đưa ngoại giao thành một mặt trận, thực sự hình thành cuộc đấu tranh: Chính trị, quân sự, ngoại giao chưa từng có trong lịch sử Việt Nam. Các cuộc đàm phán: Hai bên Việt Nam dân chủ cộng hòa và Mỹ (1968); bốn bên: Việt Nam Dân chủ Cộng hòa – Mỹ – Chính phủ cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam – chính quyền Sài Gòn (1969-1973); đàm phán “bí mật” Lê Đức Thọ – Kít-xinh-giơ (1970-1973); hiệp thương hai bên miền Nam Việt Nam (3-1973 đến cuối năm 1974) đều diễn ra tại Pa-ri.

Liên tục trong 5 năm, thường xuyên có các cuộc mít tinh, biểu tình, hội họp ủng hộ hòa bình ở Việt Nam và lập trường đàm phán của ta. Riêng Đảng Cộng sản Pháp đã chuyển toàn bộ trường Đảng Trung ương đi nơi khác để lấy địa điểm cho đoàn đàm phán Việt Nam sử dụng. Báo chí Pháp cũng luôn bám sát, phản ánh đều đặn và hầu hết đều bình luận có lợi cho việc giải quyết hòa bình vấn đề Việt Nam cũng như bênh vực lập trường có tình có lý của ta.

Đòn cân não sau Hiệp định

Khoảng đầu tháng 5-1973, phía Mỹ đã gặp tôi chuyển đề nghị cho Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa để tổ chức cuộc gặp tại Pa-ri giữa anh Lê Đức Thọ với Kít-xinh-giơ. Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đã trả lời đồng ý với mục đích buộc Mỹ phải hành động thực sự thi hành đầy đủ các điều khoản của Hiệp định Pa-ri. Đợt gặp này bắt đầu từ 17-5 đến 13-6-1973. Anh Lê Đức Thọ bác bỏ mọi điểm xin sửa đổi của phía Mỹ và nêu điều kiện, phải ký như đã thỏa thuận nếu không thì kết thúc hội đàm. Sài Gòn tiếp tục đánh thì ta phải đánh trả lại. Thái độ miễn cưỡng của Mỹ và sự ngoan cố của Nguyễn Văn Thiệu cho ta thấy rõ khả năng thi hành Hiệp định Pa-ri ngày càng ít.

Ngày 25-11-1974, anh Lê Đức Thọ sang Pa-ri công tác đã gặp và yêu cầu tôi chuẩn bị để kịp thời xử lý những hoạt động ở Pháp trong tình huống sự chỉ đạo cụ thể của trong nước sang Pa-ri không thể kịp thời. Trước khi lên máy bay, anh Thọ còn cho tôi biết, sẽ có “đường dây” báo riêng cho tôi biết “thời điểm” để tôi hiệp đồng tốt với “nhà”. Từ đây, tôi cho rằng vấn đề hàng đầu có ý nghĩa cốt lõi khi quyết định dùng quân sự là việc đánh giá đúng ý đồ và khả năng Mỹ có đưa quân trở lại miền Nam để cứu chính quyền Sài Gòn không…

BÍCH TRANG
qdnd.vn

(Theo lời kể của nhà ngoại giao lão thành Võ Văn Sung- người duy nhất còn sống trong 5 thành viên của đoàn Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ký Hiệp định Pa-ri).

(Còn nữa)

Ngày “họa mi” rời ngục tối

QĐND – Chuyến bay cuối cùng chở tù chính trị từ Cần Thơ về Lộc Ninh theo Hiệp định Pa-ri vừa hạ cánh, hàng trăm người lập tức ùa tới. Ai nấy đều ngạc nhiên khi thấy viên trung úy cai ngục lẽo đẽo bước theo một cô gái. Khi mọi người xúm đến ôm chầm cô gái vào lòng, viên sĩ quan ngụy nước mắt lưng tròng, đứng lặng nhìn. Khoảnh khắc ấy đã đi vào tác phẩm của các văn nghệ sĩ có mặt lúc bấy giờ. Cô gái ấy là Trần Thu Hồng, vừa tròn 17 tuổi, nhưng đã phải ở tù hơn 4 năm…

“Họa mi” Trần Thu Hồng sau ngày ra tù.

“Họa mi” trong “chuồng cọp”

Cô gái của 40 năm trước, giờ đã là một phụ nữ U.60, đã có cháu nội, nhưng chị vẫn rất đẹp. Những năm tháng chịu cực hình, đòn roi trong “chuồng cọp”, tù ngục và chuỗi thời gian vất vả nơi thương trường dường như không làm nhạt phai nét xuân sắc của chị. Là một phụ nữ thầm lặng và bình dị nên cái tên của chị còn xa lạ với truyền thông. Cũng bởi vì: “Từ lúc đi làm cách mạng cho đến những năm tháng bị tù đày, mình đều được các chị, các anh, những đồng chí đi trước dìu dắt, giúp đỡ. Công lao của các anh, các chị lớn lắm chứ mình thì cũng bình thường thôi…”. Ấy là chị khiêm nhường nói thế, nhưng khi tiếp xúc với các đồng đội của chị và được xem các tài liệu, tác phẩm văn học viết về chị ngày ấy, tôi mới nhận ra, chị là một con người đặc biệt. Điều đặc biệt nhất, chị là nữ tù chính trị trẻ tuổi nhất. 13 tuổi đã bị địch bắt giam vào “chuồng cọp”. Và những câu chuyện cảm động trong lao tù cũng bắt đầu từ cái “nhất” ấy.

Sinh ra ở vùng quê Điện Bàn, Quảng Nam, lên 10 tuổi chị đã được dìu dắt, tham gia làm giao liên cho các cơ sở cách mạng trong vùng. Năm 1968, chị sa vào tay giặc trong một lần đi trinh sát, tìm đường cho đoàn cán bộ vượt sông. Bị địch bắt, chị đã mưu trí hét toáng lên, báo động cho đoàn cán bộ của ta rút êm vào rừng. Chị bị tống giam vào nhà tù Non Nước ở Đà Nẵng, biệt giam vào “chuồng cọp” ở nhà lao Phú Tài (Quy Nhơn). Sau đó, chị nằm trong nhóm 10 nữ tù bị địch liệt vào hàng “cứng đầu” bắt giam vào hầm cầm cố. Năm 1972, gần 1000 nữ tù chính trị, trong đó có nhóm 10 nữ tù “cứng đầu” bị đưa vào nhà tù Cần Thơ.

Ở cái tuổi thiếu niên, mọi đường đi, nước bước của Hồng đều được các chị đi trước hướng dẫn, dìu dắt. Cô bé dù phải chịu cực hình, tra tấn tàn khốc, vẫn không mất đi nét duyên nhí nhảnh trời cho. Hồng càng lớn càng xinh đẹp, là “con chim họa mi” trong tù. Tiếng hát líu lo và sự hồn nhiên, nhí nhảnh của tuổi mới lớn ở Hồng đã làm bừng lên tinh thần lạc quan, ý chí đấu tranh của chị em tù. “Tại sao lại có thể bắt giam một cô bé xinh đẹp, trong trẻo, hồn nhiên như vậy?”. Viên sĩ quan cai ngục tên Thọ ở nhà tù Phú Tài nhiều lần thốt lên như vậy. Vẻ đẹp thánh thiện của nữ tù chính trị tuổi trăng tròn đã làm mềm lòng một số sĩ quan, binh lính cai tù. Nhiều đối tượng trong số đó được ta cảm hóa, trở thành “tay trong”, tích cực giúp đỡ tù nhân. Ngày Hồng bị chuyển vào nhà tù Cần Thơ, trung úy Thọ, không hiểu vì lý do gì, một thời gian ngắn sau đó cũng có mặt trong đám cai tù ở đây. “Có một số cai tù luôn tỏ ý giúp đỡ chúng tôi. Các chị thường nói vui với tôi, có lẽ thấy mày xinh đẹp nên chúng nó nương tay. Nhưng tôi thì nghĩ, có thể có những trường hợp người của ta cài cắm vào…” – chị Hồng kể.

Bà Thu Hồng và cháu nội hiện nay.

Một trong những nhân vật “bí ẩn” ấy là trung sĩ, y tá trưởng tên Sỹ ở nhà tù Cần Thơ. “Lúc bị bắt, trên người tôi có một đôi khuyên tai, một chiếc nhẫn và một dây chuyền vàng. Tôi đã giấu được. Đến khi vào nhà tù Cần Thơ, tôi nhờ Sỹ bán số nữ trang này để lấy tiền mua sắm đồ dùng, vải vóc phục vụ chị em trong tù. Sỹ giúp đỡ chị em tôi rất tận tình mà không hề đòi hỏi bất cứ điều gì…” – chị Hồng nhớ lại.

Ký ức ngày về

Hôm đó tầm 5 giờ chiều, Sỹ đưa Hồng từ bệnh viện về lại trại giam, khi đi ngang qua sân bay Trà Nóc, bất ngờ Hồng nghe tiếng hét: “Hiệp định Pa-ri được ký rồi!”. Cô bé như quên hết tất cả, nhảy phốc lên chạy một mạch về buồng giam, vừa chạy vừa hét toáng lên: “Cách mạng thắng lợi rồi! Hiệp định Pa-ri được ký rồi! Chúng ta được tự do rồi…”. Thế là suốt đêm hôm đó, nhà tù như mở hội. Các buồng giam vang lên tiếng hát của tù nhân: Đảng đã cho ta một mùa xuân… Nhờ chiếc ra-đi-ô mà Sỹ mua giúp, buồng giam 10 nữ tù chính trị “cứng đầu” vừa nghe đài vừa hát vang những ca khúc ca ngợi Đảng, Bác Hồ…

Trưa hôm sau, tù nhân được ăn một bữa rất ngon. Thức ăn có đủ món thịt, cá, rau xanh, cơm trắng. Trước khi thực hiện thủ tục trao trả tù binh, trung úy Thọ cho gọi Hồng lên phòng điều hành. Anh ta nói:

– Tôi đã có thiện cảm với em từ ngày em còn ở nhà tù Phú Tài. Em xinh đẹp, lại rất trẻ, phải chịu cảnh tù đày… Bây giờ được trả tự do rồi, chi bằng em ở lại đây, tôi sẽ lo cho em một cuộc sống sung sướng, giàu sang, hạnh phúc.

Hồng đáp:

– Cảm ơn lòng tốt của ông. Nếu thực tình ông có thiện tâm như vậy thì hãy làm một việc gì đó có ích cho dân, cho nước. Tôi làm sao có hạnh phúc khi các đồng chí của tôi suốt ngày đêm bị người của các ông tra tấn, đánh đập. Làm sao có hạnh phúc nếu người chồng của mình làm tay sai cho bọn Mỹ, phản bội lại Tổ quốc, nhân dân. Chị em tù chúng tôi sống chết có nhau. Các chị đi đâu, tôi đi đó.

Một cuộc hội ngộ của các nữ tù chính trị ở Quảng Nam.

Trung úy Thọ cố thuyết phục, níu kéo nhưng Hồng nhất định không nghe. Trong lúc đó, 9 nữ tù chính trị chưa thấy Hồng trở lại cũng dứt khoát không chịu lên máy bay. Có mấy chị xông thẳng vào phòng điều hành đòi trung úy Thọ phải đưa Hồng ra máy bay gấp. Chuyến bay sắp cất cánh nhưng bên ta phát hiện còn thiếu 10 người trong danh sách, lo sợ bị bọn chúng thủ tiêu nên kiên quyết đòi phía bên kia phải bàn giao đủ. Tình thế ấy buộc trung úy Thọ phải để cho Hồng trở về. Hồng và các đồng chí của mình vừa bước lên cầu thang máy bay thì trung úy Thọ cũng vội vã bước theo. Đó là chuyến bay cuối cùng từ Cần Thơ về Lộc Ninh thực hiện việc trao trả tù binh theo Hiệp định Pa-ri.

Cuộc đón tiếp tù nhân tại sân bay Lộc Ninh diễn ra hết sức cảm động. Hồng nhận được thật nhiều tình cảm, sự động viên, mến mộ của các bác, các chú, các cô. Chứng kiến ngày về của Hồng trong vòng tay yêu thương của đồng bào, đồng chí, trung úy Thọ đứng im một góc, nước mắt chảy dài. Anh ta lặng lẽ rời Lộc Ninh theo máy bay trở lại Cần Thơ…

Trong đoàn người đón tù chính trị trở về có nhiều văn nghệ sĩ. Hình ảnh của nữ tù chính trị tuổi 13 đã trở thành nhân vật trong nhiều tác phẩm văn học nghệ thuật. Trong bài thơ “Em về chiến thắng” tặng nữ tù chính trị tuổi 13 Trần Thu Hồng của nhà thơ Trần Đình Vân đăng trên Báo Giải Phóng sau đó có đoạn: Em gái cười như ánh mặt trời/ Màu da xanh bỗng chuyển hồng tươi/ Em ơi Trái Đất này vui lắm/ Em đó niềm vui của mọi người… Thằng ngụy khoanh tay đứng lặng nhìn/ Cả rừng người đến đón mừng em/ Nghĩ chi nó bước chân không vững/ Nắng hắt bên lề bóng đổ nghiêng… Nhưng “bài thơ” tuyệt vời nhất dành tặng chị trong ngày trở về chính là tình yêu của nhà thơ Đỗ Nam Cao ở Ban Văn nghệ giải phóng. Cảm phục tinh thần cách mạng của người con gái xứ Quảng, nhà thơ Đỗ Nam Cao sau cuộc đón chị ở sân bay đã đem lòng yêu mến. Năm 1977, họ trở thành vợ chồng.

Giờ đây, chị Hồng sinh sống cùng hai con (một trai, một gái) ở quận Phú Nhuận, TP Hồ Chí Minh. Hôm đến dự ngày giỗ đầu của nhà thơ Đỗ Nam Cao, tôi được gặp nhiều bạn tù ngày xưa của chị. Trở về cuộc sống đời thường sau chiến tranh, ngoài chị Hồng, tất cả các chị trong nhóm 10 nữ tù chính trị ngày ấy đều đã qua thời con gái. Nay, mỗi người một hoàn cảnh. Có người đã mất. Có người vẫn phải còng lưng làm đủ nghề mưu sinh khi cõi ngày đã cạn và ước mơ về một mái ấm gia đình mãi mãi không thành hiện thực. Trong câu chuyện với tôi, các chị nhắc đến những kỷ niệm ở chốn lao tù. Chìm trong muôn vàn tội ác và sự tàn khốc của kẻ thù, vẫn le lói những gam màu nhân ái. Trung úy Thọ, trung sĩ Sỹ, trung sĩ Tấn, trung sĩ Trường… là những con người như vậy. Không biết bây giờ họ ở đâu? Nếu có một cuộc hội ngộ, biết đâu lại gợi ra thật nhiều điều chưa bao giờ nói…

Bài: PHAN TÙNG SƠN – Ảnh: HỒNG THU
qdnd.vn

Hà Nội tặng thành phố Choisy le Roi bức tranh gốm Kỷ niệm 40 năm Hiệp định Pa–ri

QĐND – Ngày 27-1, các nghệ sĩ của Công ty Nghệ thuật Tân Hà Nội đã hoàn thành bức tranh gốm Kỷ niệm 40 năm Hiệp định Pa-ri tặng thành phố Choisy le Roi (Pháp).

Họa sĩ Nguyễn Thu Thủy (trái) bên bức tranh gốm Kỷ niệm 40 năm Hiệp định Paris.

Bức tranh gốm là quà tặng của TP Hà Nội, do họa sĩ Nguyễn Thu Thủy thiết kế và cùng cộng sự thể hiện. Các bức ảnh lịch sử về cuộc đàm phán Hiệp định Pa -ri được họa sĩ Thu Thủy in trên gốm, lưu giữ những hình ảnh lịch sử về Bác Hồ, phái đoàn Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, Chính phủ Cách mạng Lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam, toàn cảnh ngày ký kết hiệp định… Những bức ảnh lịch sử này được sắp đặt trên nền hai dải lụa mềm uốn lượn tượng trưng cho sông Hồng của Việt Nam và sông Seine của Pháp. Bức tranh sẽ được đặt trong phòng họp lớn của Tòa thị chính thành phố Choisy le Roi và dự kiến sẽ được khánh thành vào ngày 20-3 tới.

VƯƠNG HÀ
qdnd.vn