Tag Archive | Văn hóa – Xã hội

Bác Hồ và Quốc vương Campuchia

“Trong thế giới tàn bạo này, Người đã đem lại cho chúng ta cũng như cho biết bao dân tộc khác những lý do để hy vọng”.

 “Được nhân dân kính mến, được bạn hữu khâm phục, được kẻ thù tôn trọng, Hồ Chí Minh là một trong những nhân vật hoạt động chính trị và là lãnh tụ cao quý nhất của thế kỷ này… Trong thế giới tàn bạo này, Người đã đem lại cho chúng ta cũng như cho biết bao dân tộc khác những lý do để hy vọng” – Quốc trưởng Campuchia phát biểu trong lễ tang Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Ngày 27/6/1965, Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi điện cảm ơn tới Thái tử Quốc truởng Campuchia Nôrôđôm Xihanuc (N.Sihanouk) bày tỏ “vô cùng cảm động về việc Ngài và nhân dân Khơme đã gửi tặng thuốc với một tấm lòng hào hiệp…

Cử chỉ cao cả đó là biểu hiện sự ủng hộ anh em của nhân dân Khơme đối với nhân dân Việt Nam… Như Ngài đã nói rất đúng: Nhiệm vụ của chúng ta đối với các thế hệ tương lai là phải cùng nhau củng cố cơ sở của sự hợp tác tin cậy và chân thành trong sự tôn trọng nền độc lập của nhau”.

Nôrôđôm Xihanuc vốn là Thái tử kế vị nhà vua Campuchia Nôrôđôm Xunamarit, năm 1960 mới được bầu làm Quốc trưởng. Trong thời kỳ kháng chiến chống Pháp nhà nước ta chỉ có quan hệ với Lực lượng kháng chiến của Sơn Ngọc Minh.

aKhi Bác qua đời, tháng 9/1969, ông Nôrôđôm Xihanuc cùng phu nhân đã tới Hà Nội dự lễ tang.

Sau Hiệp định Giơnevơ (1954), Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà tranh thủ mối quan hệ hữu nghị với Chính phủ Vương quốc Campuchia. Bác Hồ luôn bày tỏ sự tôn trọng nền độc lập, chủ quyền lãnh thổ và chính sách trung lập của  Thái tử Quốc trưởng Xihanuc và thường xuyên duy trì mối liên hệ.

Ngày 21/11/1956, lần đầu tiên, Bác gửi điện mừng tới Vua Nôrôđôm Xuramarit và Hoàng hậu Khơme và chúc nhân dân Khơme thu được nhiều thắng lợi mới trong sự nghiệp xây dựng đất nước Khơme, trong việc thực hiện chính sách hoà bình và trung lập, chúc tình hữu nghị giữa hai dân tộc Việt Nam và Khơme ngày càng phát triển.

Ngày 21/6/1960, Bác gửi điện mừng Thái tử Nôrôđôm Xihanuc nhận chức Quốc trưởng Vương quốc Campuchia, trong đó: “Chúc nhân dân Khơme dưới sự lãnh đạo sáng suốt của Thái tử Quốc trưởng thu được nhiều thắng lợi mới trong việc thực hiện chính sách hoà bình, trung lập, xây dựng đất nước Campuchia ngày thêm phồn vinh, góp phần vào việc củng cố hoà bình ở Đông Dương, Đông Nam Á và thế giới”.

Đế quốc Mỹ mở rộng chiến tranh ở miền Nam xâm phạm chủ quyền Campuchia và đánh phá miền Bắc đã khiến Nôrôđôm Xihanuc đứng về phía cuộc kháng chiến chống Mỹ của nhân dân Việt Nam.

Năm 1965, theo sáng kiến của Xihanuc, Hội nghị Nhân dân Đông Dương được triệu tập. Ngày 6/3/1965 Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi điện tới Thái tử Xihanuc, Chủ tịch Hội nghị Nhân dân Đông Dương: “Tôi rất cảm kích được biết qua bức điện của Ngài rằng Thái tử Nôrôdôm Xihanuc, Quốc trưởng Vương quốc Campuchia đã kịch liệt lên án đế quốc Mỹ về hành động khiêu khích mới và hết sức nghiêm trọng của chúng tôi đối với nước VNDCCH và nhấn mạnh sự cần thiết đối với nhân dân các nước Đông Dương phải tăng cường đoàn kết hơn nữa trước nguy cơ mở rộng chiến tranh do đế quốc Mỹ gây nên” và cho rằng thái độ ấy “là bằng chứng tỏ rõ ý chí thống nhất của nhân dân ba nước chúng ta (gồm cả Lào) là kiên quyết đấu tranh chống sự xâm lược của đế quốc Mỹ và ra sức bảo vệ hoà bình, độc lập dân tộc và toàn vẹn lãnh thổ” .

Sau đó Bác chủ động tạo mối liên hệ để tranh thủ sự ủng hộ của Nôrôđôm Xihanuc. Ngày  23/6/1967  trong điện mừng nhân dịp 2 nước đặt quan hệ ngoại giao cấp đại sứ, Bác đánh giá “Đây là một sự kiện lịch sử trong quan hệ giữa VN và Cămpuchia, một nhân tố tích cực trong việc gìn giữ hoà bình ở Đông Duơng và Đông Nam Á”.

Ngày 8/11/1968, chúc mừng nhân kỷ niệm lần thứ 15 Quốc khánh Campuchia, Bác “bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đối với sự ửng hộ anh em của Ngài, Chính pủ Vương quốc và nhân dân Khơme.

Chúng tôi khẳng định một lần nữa chính sách trước sau như một của Chính phủ nước VNDCCH là tôn trọng độc lập, chủ quyền, trung lập và toàn vẹn lãnh thổ Vương quốc Campuchia trong biên giới hiện tại.

Chúng tôi tin tưởng rằng ngày nay cũng như này mai,hai nước chúng ta mãi mãi vãn là những người bạn thân thiết… xây dựng mỗi nước theo con đưòng riêng của mình”.

Ngày 7/2/1969 gửi điện cảm ơn Quốc trưởng Nôrôđôm Xihanuc “đã ủng hộ hoàn toàn lập trường chính nghĩa của nhân dân Việt Nam tại Hội nghị bốn bên ở Pari về Việt Nam… Đó là sự cổ vũ to lớn đối với cuộc chiến đấu chống Mỹ, cứu nước của chúng tôi trong giai đoạn hiện nay, là biểu hiện rực rỡ của t ình đoàn kết chiến đấu giữa nhân dân hai nước chúng ta. Gửi lời chào anh em rất kính trọng”.

Đó cũng là văn kiện cuối cùng, Bác gửi Quốc trưởng Campuchia. Khi Bác qua đời, tháng 9/1969, ông Nôrôđôm Xihanuc cùng phu nhân đã tới Hà Nội dự lễ tang.

Tại đây, ông phát biểu: “Được nhân dân kính mến, được bạn hữu khâm phục, được kẻ thù tôn trọng, Hồ Chí Minh là một trong những nhân vật hoạt động chính trị và là lãnh tụ cao quý nhất của thế kỷ này… Trong thế giới tàn bạo này, Người đã đem lại cho chúng ta cũng như cho biết bao dân tộc khác những lý do để hy vọng”.

X&N
Vkyno (st)

Bác Hồ ở Ai Cập

Ngày 8/6/1946 còn có một sự kiện nghiêm trọng là vào thời điểm này, Bác nhận được tin ở Sài Gòn thực dân lập Chính phủ “Nam Kỳ tự trị”.

 – Ngày 8/6/1946, trên đường sang thăm nước Pháp, Chủ tịch Hồ Chí Minh dừng lại ở Ai Cập. Máy bay cất cánh từ thành phố Habagna (nay thuộc Pakistan) hạ cánh xuống Le Caire (Cairo) thủ đô Ai Cập từ ngày 7/6/1946.

Ngày hôm sau (8/6) theo phép lịch sự Bác và tướng Salan (người thay mặt Chính phủ Pháp tháp tùng) đến thăm Vua Ai Cập nhưng Ngài đi vắng. Viên quan nội vụ đại thần tiếp, mời cà phê và cùng ngày viên quan này theo phép xã giao lại thăm vị khách từ Việt Nam tới tại nơi nghỉ.

Cũng trong ngày, Bác thăm Viện Khảo cổ Ai Cập và được giáo sư viện trưởng người Pháp Prioton hướng dẫn. Ngày nay Viện đã trở thành một bảo tàng có tiếng trên thế giới, đặc biệt với loại hình hiện vật là xác ướp nên còn được gọi là Bảo tàng Xác ướp. Chiều, Bác và những người cùng đi thăm “thành phố Ma” là khu phụ cận thành phố, nhà mồ của những người đã chết được quy hoạch như một khu phố của người sống.

Sau đó, Bác đi thăm những kim tự tháp nổi tiếng của các pharaon Ai Cập và con Nhân sư khổng lồ với lời nhận xét “Bàn chân nó cao quá đầu người đứng. Đêm trời sáng trăng, trông vào tượng đá, thì thấy có vẻ nghiêm trang và thần bí lắm”. Hôm sau (9/6), Bác lại tiếp tục đi thăm kim tự tháp Sekherat cũng rất nổi tiếng.

Nhớ lại, cách đó 35 năm, tháng 6/1911, Bác đã từng đặt chân lên Cảng Xaít (Port Said) của Ai Cập trên hành trình đầu tiên của tàu Đô đốc Latouche Tréville khởi hành từ Bến Nhà Rồng ngày 5/6. Và 22/9/1946 trên chặng đường trở về nước từ Pháp bằng chiến hạm Dumont d’ Urville, Chủ tịch Hồ Chí Minh cùng mấy Việt kiều theo Bác về nước như bác sĩ Trần Hữu Tước, kỹ sư Phạm Quang Lễ (Trần Đại Nghĩa)… lại lên cảng Xait thăm.

Có thể nói, trong đời hoạt động của mình, Bác rất thích thăm thú các danh lam thắng cảnh và khảo sát đời sống của các quốc gia. Bác tham gia các nhóm du lịch đi nhiều nước và thăm nhiều di tích lịch sử. Ngay trước khi đến Ai Cập, lúc dừng chân ở Ấn Độ, Bác cũng thăm Lâu đài Delhi Cate, Lăng tẩm của Hoàng hậu Taj Mahan của thế kỷ XVII.

Ngày 8/6/1946 còn có một sự kiện nghiêm trọng là vào thời điểm này, Bác nhận được tin ở Sài Gòn thực dân lập Chính phủ “Nam Kỳ tự trị”. Chủ tịch Hồ Chí Minh chất vấn tướng Salan cùng đi: “Tại sao không báo cho tôi biết tin này trước khi lên đường? Thật là một âm mưu phi pháp! Tướng quân này, các vị đừng biến Nam Bộ thành một thứ Alsace-Loren (vùng đất của Pháp bị cắt cho Đức trong Đại chiến I) mới, nếu không chúng ta đi đến cuộc chiến tranh trăm năm đấy !…”.

X&N
Vkyno (st)

Bác Hồ và những vị tướng đầu tiên của Quân đội ta

Lễ tấn phong các vị tướng lẽ ra tổ chức vào ngày 27/5/1948, nhưng vì nước lũ to nên phải lùi sang ngày hôm sau.

– Ngày 28/5/1948, Chủ tịch Hồ Chí Minh chủ trì phiên họp của Hội đồng Chính phủ và một sự kiện quan trọng: lễ tấn phong quân hàm Đại tướng cho Võ Nguyên Giáp. 

Từ ngày 20/1/1948, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ký sắc lệnh phong các vị tướng lĩnh đầu tiên của Quân đội ta, gồm: Đại tướng Võ Nguyên Giáp, Trung tướng Nguyễn Bình và các Thiếu tướng: Nguyễn Sơn, Chu Văn Tấn, Hoàng Sâm, Hoàng Văn Thái, Lê Hiến Mai, Văn Tiến Dũng, Trần Đại Nghĩa và Trần Tử Bình.

 Bác Hồ và đại tướng Võ Nguyên Giáp chụp nhân kỷ niệm ngày thành lập QQĐNDVN năm 1962.jpg (76KB)Bác Hồ và Đại tướng Võ Nguyên Giáp chụp nhân kỷ niệm ngày thành lập Quân đội Nhân dân Việt Nam năm 1962

Lễ tấn phong lẽ ra được Chính phủ tổ chức vào ngày 27/5, nhưng vì nước lũ to nên các đại biểu từ các nơi trên chiến khu về chậm phải lùi sang ngày hôm sau. Hồi ký của Bộ trưởng Lê Văn Hiến ghi lại:

“Trong một căn nhà dựng bên cạnh suối lớn, dựa một bên núi, cây cối che phủ kín… Một phòng trưng bày đặc biệt. Có bàn thờ Tổ quốc, chung quanh băng đỏ ghi các khẩu hiệu: ”Trường kỳ kháng chiến nhất định thắng lợi”, “Thống nhất độc lập nhất định thành công”. Sự trưng bày đơn giản mà trang nghiêm.

Đến giờ làm lễ, Hồ Chủ tịch và cụ Trưởng ban Thường trực Quốc hội lên đứng 2 bên bàn thờ, toàn thể nhân viên Chánh phủ đứng sắp hàng trước bàn thờ. Hồ Chủ tịch tay cầm sắc lệnh gọi Võ Nguyên Giáp lên trước bàn thờ, rồi Cụ nín lặng, sụt sùi rơi nước mắt mà không nói được tiếng gì…

Giây lâu, Hồ Chủ tịch mới cất được tiếng mà tuyên bố: “Nhân danh Chủ tịch nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà trao cho chú chức vụ Đại tướng để chú điều khiển binh sĩ làm tròn sứ mạng mà quốc dân phó thác cho”.

Võ Nguyên Giáp nhận sắc lệnh… Cụ Trưởng ban Thường trực thay mặt Quốc hội tuyên bố mấy lời. Ông Phan Anh thay mặt Chính phủ nói mấy câu chúc mừng. Cuối cùng, Tạ Quang Bửu, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng nhân danh bộ đội tỏ lời mừng của toàn thể bộ đội và nêu cao tinh thần phấn đấu anh dũng dưới sự chỉ huy của Đại tướng Võ Nguyên Giáp.

Sau cùng Võ Nguyên Giáp đứng lên cảm ơn Hồ Chủ tịch, Quốc hội và Chánh phủ và tuyên bố sẽ tiếp tục nỗ lực làm tròn nhiệm vụ để đem lại độc lập và thống nhất cho đất nước…

Sau khi hết lễ, ai nấy ngồi chung quanh Hồ Chủ tịch và nghe Cụ nói sự xúc cảm của Cụ trong buổi lễ… 12 giờ đêm, xong các cuộc hội nghị Hồ Chủ tịch từ giã chúng mình ra về và dặn ai nấy sáng mai nên phân tán cho sớm…”.

Khi sự kiện này được công bố trên Đài Tiếng nói Việt Nam, có phóng viên phương Tây hỏi Bác việc phong tướng này được tiến hành dựa trên tiêu chuẩn nào? Bác trả lời giản dị: “Đánh thắng đại tá thì phong đại tá. Đánh thắng thiếu tướng, phong thiếu tướng. Đánh thắng trung tướng, phong trung tướng. Thắng đại tướng, phong đại tướng!”.

X&N
Vkyno (st)

Gia đình lớn của Bác Hồ

Mình chẳng phải thần thánh gì, cũng người như tất cả mọi người. Nhưng với hoàn cảnh này, còn điều kiện nào nghĩ đến gia đình.

– Bác chưa bao giờ lập gia đình. Bác có hàng nghìn người con là những trẻ em Việt Nam. Bây giờ Bác nghĩ lại thấy đúng. Thế nhưng, Bác vẫn giữ trong lòng tình yêu với người con gái Bác yêu… Bác đã phải làm như thế là vì cách mạng và Bác không hề hối tiếc…

Ngày 24/5/1948, Nhật ký của Bộ trưởng Lê Văn Hiến ghi lại buổi gặp Bác trước ngày họp Hội đồng Chính phủ: “Trời càng về đêm càng mưa lớn. Chúng mình phải ở lại kéo dài câu chuyện với Cụ trong lúc chờ đợi hết mưa. Cụ ân cần thăm hỏi gia đình của mọi người.

Đến lúc chúng mình vui câu chuyện nhắc đến gia đình Cụ, Cụ phì cười và nói: “Mình chẳng phải thần thánh gì, cũng người như tất cả mọi người. Nhưng với hoàn cảnh này, còn điều kiện nào nghĩ đến gia đình. Ý kiến các chú thế nào?”.

Bác Hồ với các cháu thiếu nhi tại Phủ chủ  tịchBác Hồ với các cháu thiếu nhi tại Phủ chủ tịch

Chúng mình cũng chỉ phì cười mà nói: “Thật là khó”, không thể có ý kiến gì khác. Cụ cười và nói tiếp: “Gia đình nhỏ không thể được thì ta cứ lo gia đình lớn đi vậy”.

Nói về gia đình riêng, trước đó, vào tháng 1/1947, trong bức điện chia buồn với Bác sĩ Vũ Đình Tụng, Bác Hồ tâm sự: “Thưa Ngài, tôi được báo cáo rằng: con giai của Ngài đã oanh liệt hy sinh cho Tổ quốc. Ngài biết rằng, tôi không có gia đình, cũng không có con cái. Nước Việt Nam là gia đình của tôi. Tất cả thanh niên Việt Nam là con cháu của tôi. Mất một thanh niên thì hình như tôi đứt một đoạn ruột vậy…”

Ngày 26/4/1960, nhận được bức thư của một nữ công dân Liên Xô, chị Ekaterina Iosipdovna chúc mừng ngày Quốc tế phụ nữ 8/3  gửi tới “vợ đồng chí Hồ Chí Minh”, Bác đã thân mật viết thư cảm ơn trong đó có đoạn: “Tôi chưa có gia đình riêng. Gia đình của tôi là đại gia đình các dân tộc Việt Nam”.

Năm 2007,  Đoàn làm phim của Hội Điện ảnh Việt Nam gặp Bà Madelein Riffaud, một nhà báo được Bác Hồ quý mến, gặp lần đầu tại Pháp (1946), sau đó bà sang Việt Nam nhiều lần trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp và Mỹ. Trong trả lời phỏng vấn bà đã kể lại câu chuyện Bác tâm sự với bà khi an ủi việc bà phải chấp nhận từ bỏ ý định hôn nhân với nhà văn Nguyễn Đình Thi.

Bà kể lại: “Bác gọi tôi đến và nói với tôi: Cháu không phải là người duy nhất hy sinh tình yêu của mình cho cách mạng… Khi Bác ở Pháp thì cháu còn chưa ra đời. Cháu yêu quý, cháu có biết không, Bác cũng yêu và có những tình cảm như cháu bây giờ. Bác là con người như những người khác thôi. Bác đã hy sinh tình yêu của mình cho cách mạng Việt Nam cũng như cháu hy sinh tình yêu của cháu bây giờ.

Cháu thấy đấy, Bác chưa bao giờ lập gia đình. Bác có hàng nghìn người con là những trẻ em Việt Nam. Bây giờ Bác nghĩ lại thấy đúng. Thế nhưng, Bác vẫn giữ trong lòng tình yêu với người con gái Bác yêu… Bác đã phải làm như thế là vì cách mạng và Bác không hề hối tiếc…” (Bản dịch theo phim của Hội Điện ảnh VN)

X&N
Vkyno (st)

Bác Hồ với “Binh pháp Tôn Tử”

Phải chăng, trước tình thế nguy cơ chiến tranh đang trở nên không tránh được, Bác bắt đầu viết hàng loạt bài bàn về “Binh pháp Tôn Tử”.

– Ngày 17/5/1946,  báo “Cứu Quốc” bắt đầu đăng tải loạt bài “Binh pháp Tôn tử”, ký bút danh là Q.Th. Đây chính là bút danh của Chủ tịch Hồ Chí Minh thường ký dưới các bài bàn về nội dung quân sự.

Phải chăng, trước tình thế nguy cơ chiến tranh đang trở nên không tránh được, Bác bắt đầu viết hàng loạt bài bàn về “Binh pháp Tôn Tử” để mang lại những tri thức cơ bản cho người dân và những cán bộ quân đội còn rất non trẻ?

Tháng 5/1959, Bác thăm Khu tự trị Tây Bắc trao tăng bức trướng kỷ niệm của nhân dân Thủ đôTháng 5/1959, Bác thăm Khu tự trị Tây Bắc trao tăng bức trướng kỷ niệm của nhân dân Thủ đô

Tôn Tử (hay Tôn Vũ) là một nhà lý luận quân sự cổ đại nổi tiếng ở Tung Quốc sống vào cuối thế kỷ VI trước công nguyên và là tác giả một bộ binh thứ thuộc loại sớm nhất nhân loại…

Trong bài đầu tiên này, Bác giới thiệu: “Theo các nhà nghiên cứu “binh pháp” của Tôn Tử ở Nhật Bản thì Tôn Tử đã dưạ vào 10 nguyên lý chính để sáng tạo ra binh pháp “ và nguyên lý thứ nhất – Phải biết xét đoán trước”.

Đề cập tới nguyên lý thứ nhất này của Binh pháp Tôn Tử, tác giả nhấn mạnh đến việc dùng binh phải xem xét 5 điều kiện là: đạo nghĩa, thiên thời, địa lợi, tướng và pháp để kết luận rằng: “Năm điều nói trên, người làm tướng phải biết rõ. Thế tức là biết mình. Nhưng biết phải cố làm. Làm đuợc thì sẽ có đủ nhân hoà, địa lợi, thiên thời, tướng giỏi, quân nhu đầy đủ để nắm chắc phần thắng trong lúc chiến tranh”.

Cùng trên số báo này, Bác còn viết bài: “Phương pháp tác chiến” để đưa ra kết luận: “Cho nên người làm tướng có mưu trí bao giờ cũng lo lắng đến lợi, đến hại. Lo đến lợi mới có đủ tin tưởng làm trọn được nhiệm vụ. Lo đến hại mới tìm mưu kế để giải trừ đựoc gian nguy”.

Tiếp đó, trên nhiều số báo “Cứu Quốc”, Bác tiếp tục giới thiệu các nội dung của “Binh pháp Tôn Tử”. Như các bài “Muốn biết người phải thế nào ?” (24/5/1946) bàn về hoạt động gián điệp và các loại gián điệp để đi đến kết luận: “Nhiệm vụ của gián điệp thực nặng nề. Làm được nhiệm vụ đó, thắng trận rất dễ dàng”.

Bài “Phương pháp dùng gián điệp” (CQ 31/5/1946) kết thúc bằng nhận định: “Đặt được kế hoạch xác đáng tức là biết mình, biết người, đánh trăm trận được trăm trận”.

Bài “Đặt kế hoạch tác chiến” (CQ 7/6/1946) bàn về vấn đề chiến lược chiến thuật; “Vấn đề quân nhu và lương thực” (CQ 21/6/1946); “Bàn về kế hư thực” (27/9/1946); “Phương pháp đánh giữ và tiến thoái” (CQ 4/10/1946)…

Xen kẽ với các bài giới thiệu “Binh pháp Tôn Tử”, Bác cũng còn cho đăng các bài của mình về một số vấn đề như: “Chiến tranh tư tuởng” (CQ 11/10/1946), “Bàn về địa hình” (CQ 25/10/1946), “Địa thế” (CQ 8/11/1946), “Phương pháp chiến đấu và hành quân trên các địa hình” (CQ 15/11/1946)…

X&N
Vkyno (st)

Bác Hồ viết Di chúc

Ngày 10/5/1965, Bác Hồ bắt đầu khởi thảo tài liệu được ghi chú “Tuyệt đối bí mật”. Bản thảo đầu tiên hoàn thành vào ngày 15/5/1965.

– Ngày 10/5/1965, Bác Hồ bắt đầu khởi thảo tài liệu được ghi chú “Tuyệt đối bí mật”. Đó là Di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Bản thảo đầu tiên hoàn thành vào ngày 15/5/1965. Kể từ đó, mỗi năm, vào khoảng thời gian trước ngày sinh nhật, văn kiện này được Bác đem ra xem lại và hoàn thiện như một sự chủ động chuẩn bị một cách thanh thản và cẩn trọng cho việc ra đi mãi mãi.

Ngày 11/5/1968, Bác tiếp tục đem “Di chúc” ra sửa chữa và hoàn chỉnh đoạn viết về công tác chỉnh đốn Đảng:  “Theo ý tôi, việc cần phải làm trước tiên là chỉnh đốn lại Đảng, làm cho mỗi đảng viên, mỗi đoàn viên, mỗi chi bộ đều ra sức làm tròn nhiệm vụ Đảng giao phó cho mình…”.

Ngày 10/5/1955 Bác nói chuyên tại Hội nghị bàn về công tác hộ đê toàn miền Bắc.Ngày 10/5/1955 Bác nói chuyện tại Hội nghị bàn về công tác hộ đê toàn miền Bắc.

Ngày 13/5/1968,  Bác lại bổ sung và viết thêm vào “Di chúc” phần chăm lo đời sống của dân  “Trong bao năm kháng chiến chống thực dân Pháp, tiếp đến chống đế quốc Mỹ, đồng bào ta, nhất là đồng bào nông dân, đã luôn luôn hết sức trung thành với Đảng và Chính phủ, ra sức góp của, góp người, vui lòng chịu đựng mọi khó khăn, gian khổ. Nay ta đã hoàn thành thắng lợi, tôi có ý đề nghị miễn thuế nông nghiệp để cho đồng bào hể hả, mát dạ, mát lòng, thêm niềm phấn khởi, đẩy mạnh sản xuất”.

Ngày 10/5/1969, Bác dự họp Hội nghị Trung ương 16 và phát biểu về nhiều nội dung quan trọng, trong đó nhắc nhở “phải giữ tinh thần độc lập, tự chủ và đoàn kết quốc tế”. Sau cuộc họp, Bác xem lại lần nữa bản thảo và sửa tiếp đoạn mở đầu của “Di chúc”. Hồi ức của Vũ Kỳ, thư ký của Bác cho biết :

“Hôm nay, Bác xem xét kỹ lại toàn bộ các bản viết trong 4 năm qua, nhưng chỉ chữa thêm 3 chỗ ở phần mở đầu. Trong câu “nhưng tinh thần, đầu óc vẫn sáng suốt bình thường”, Bác khẳng định lại bằng câu “nhưng tinh thần, đầu óc vẫn còn sáng suốt”… Trong câu “Khi người ta đã ngoài 70 tuổi…”, Bác bỏ chữ “tuổi” và thay vào chữ “xuân”. Bác dùng chữ “sẽ” thay cho chữ “phải” trong câu “phòng khi tôi phải đi gặp cụ Các Mác, cụ Lênin và các vị cách mạng đàn anh khác”.

Ngày 11/5/1969, sau khi ngồi sửa Di chúc, Bác gặp và trao đổi với Đại tướng Võ Nguyên Giáp về nội dung sẽ nói với Hội nghị đại biểu cao cấp toàn quân. Trong bài nói ngày 13/5/1969 Bác đưa ra nhận định: “Thế giặc Mỹ thua đã rõ ràng, nhất định chúng sẽ hoàn toàn thất bại. Vì độc lập tự do, bộ đội ta, nhân dân ta không sợ hy sinh, gian khổ…” và chỉ thị: “Phải xây dựng lực lượng thật tốt, chất lượng thật cao. Trần Hưng Đạo xưa từng nói “Quân cần tinh, không cần nhiều”. ” Phải cố gắng học tập và luôn luôn gương mẫu về đạo đức cách mạng”.

Từ đó cho đến ngày sinh nhật lần cuối (19/5/1969), ngày nào Bác cũng dành thời giờ đọc lại Di chúc của mình và ngày hôm sau (20/5/1969) Chủ tịch Hồ Chí Minh xem lại bản Di chúc lần cuối cùng trước khi xếp vào phong bì cất đi “phòng khi tôi sẽ đi thăm cụ Các Mác, cụ Lênin và các vị đàn anh khác, thì đồng bào cả nước, đồng chí trong Đảng và bầu bạn khắp nơi đều khỏi cảm thấy đột ngột”. Điều cũng đáng nói là trong nhật ký của Vũ Kỳ cho biết, thời gian Bác chọn để ngồi viết và sửa Di chúc thường vào khoảng từ 9 đến 10h sáng, và Bác qua đời vào ngày 2/9/1969 vào lúc 9h47.

X&N
Vkyno (st)

Bác Hồ với vị Thượng thư Bộ Hình của Nam triều

Chủ tịch Hồ Chí Minh đã giới thiệu 3 vị giữ những cương vị này đều là những trí thức được đào tạo của chế độ cũ và là những nhân sĩ.

– Ngày 3/5/1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh ký sắc lệnh số 59 về việc bổ nhiệm những trí thức lớn được đào tạo dưới chế độ cũ như cụ Huỳnh Thúc Kháng, Bùi Bằng Đoàn, Vũ Trọng Khánh vào Hội đồng Phúc thẩm đặt tại Bộ Nội vụ theo một sắc lệnh số 40 ký ngày 29/3/1946 về việc bảo vệ tự do cá nhân.

Sắc luật về việc bảo vệ tự do cá nhân được ký cho thấy quyết tâm của nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà mới ra đời từ trong một xã hội phong kiến và thuộc địa nhằm xây dựng một nhà nước pháp chế.

Sắc luật này quy định những điều khoản rất cụ thể về việc bắt người và giam cứu phải được thực thi đúng với quy trình pháp luật. Những quyền tự do cơ bản của người dân phải được bảo vệ.

10-1946 HCM tiếp đại biểu nhân sĩ,trí thức yêu nước dự kỳ họp thứ 2 QH khóa I tại Bắc bộ phủ,H (69KB)Tháng 10/1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh tiếp đại biểu nhân sĩ, trí thức yêu nước dự kỳ họp thứ 2 QH khóa I tại Bắc Bộ phủ.

Riêng đối với những tình thế đặc biệt đòi hỏi “phương pháp đề phòng đặc biệt”  thì mọi quyết định của người đứng đầu cơ quan hành chính phải được trình lên một Hội đồng Thẩm phán Phúc thẩm được thành lập trong Bộ Nội vụ chuẩn y hay bác bỏ.

Hội đồng này còn có thẩm quyền đưa ra xem xét lại các vụ án và các trường hợp bắt giữ hoặc giam cầm. Hội đồng này gồm một đại biểu của Chính phủ; 1 thanh tra hành chính và 1 thẩm phán đều do Bộ Nội vụ đề nghị và sắc lệnh công nhận.

Điều đáng nói là Chủ tịch Hồ Chí Minh đã giới thiệu 3 vị giữ những cương vị này đều là những trí thức được đào tạo của chế độ cũ và là những nhân sĩ. Cụ Huỳnh Thúc Kháng là một phó bảng, từng làm báo và hoạt động chính trị, lúc này là Bộ trưởng Nội vụ; ông Vũ Trọng Khánh là một luật gia đào tạo dưới chế độ thực dân và đặc biệt là cụ Bùi Bằng Đoàn từng là Thượng thư Bộ Hình của Nam Triều.

Trường hợp của Bùi Bằng Đoàn có thể coi là một điển hình của nguyên lý “cầu hiền tài” của Bác. Ngay khi Cách mang mới thành công, vị Chủ tịch nước Việt Nam độc lập đã đưa ra lời kêu gọi “Tìm người tài đức”.

Bác đã giao cho Thư ký Vũ Đình Huỳnh đến gia thất cụ Bùi gửi “lời tâm tri”mời ra giúp việc nước. Cụ Bùi có ý e ngại vì mình đã từng là Thượng thư của chế độ đã bị cách mạng đánh đổ, nhưng khi đón ý của Bác cho rằng cụ Bùi là bậc đại thần “triều ẩn lập thân hành thiện” thì người được mời đáp lại ràng “Thính vũ thanh cảm ứng nghinh thu” và nhận lời đến gặp vị Chủ tịch nước vào ngày 22/11/1945.

Ngay ngày hôm sau, 23/11/1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh ký sắc lệnh số 64 thành lập Ban Thanh tra đặc biệt, có quyền hạn rất lớn chuyên xử lý các vụ việc liên quan đến các quan chức vi phạm pháp luật. Cụ Bùi Bằng Đoàn và nhà thơ Cù Huy Cận đã được Bác bổ nhiệm vào chức vụ này vì “đó là những người có danh tiếng” trong dân.

Sau việc bổ nhiệm vào Hội đồng Thẩm phán phúc thẩm, cuối năm 1946, tại Kỳ họp thứ 2 của Quốc hội khoá I, cụ Bùi Bằng Đoàn được cử làm Trưởng ban Thường trực của Quốc hội… và tiếp tục cống hiến cho sự nghiệp kháng chiến và kiến quốc cho đến khi qua đời.

Cũng trong một ngày đầu tháng 5/1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh ngồi đọc báo trong phòng làm việc tại Bắc Bộ phủ để các hoạ sĩ Tô Ngọc Vân, Nguyễn Đỗ Cung, Nguyễn Thị Kim sáng tác các tác phẩm hội hoạ và tạo hình vị Chủ tịch nước Viêt Nam Độc lập.

X&N
Vkyno (st)

Bác Hồ với Ngày Quốc tế Lao động

Ngày 1/5/1924, Nguyễn Ái Quốc có mặt trong Ngày Quốc tế Lao động diễn ra trên Hồng trường theo lời mời của Thành uỷ Moscow.

– Ngày 1/5/1920, báo cáo của mật thám ghi nhận Nguyễn Ái Quốc tham dự mít tinh kỷ niệm Ngày Lao động Quốc tế cùng Nhóm đảng viên Xã hội Pháp và tham luận trên diễn đàn đòi ngưng gửi người sang thuộc địa.

Ngày 1/5/1924, Nguyễn Ái Quốc có mặt trong Ngày Quốc tế Lao động diễn ra trên Hồng trường theo lời mời của Thành uỷ Moscow và Ban Thư ký của Quốc tế Cộng sản.

Ngày 1/5/1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh ra lời kêu gọi trong đó xác nhận: “Ở nước ta lần này là lần đầu  mà đồng bào ta, anh chị em lao động ta được tự do đón tiếp ngày 1/5…

Đối với chúng ta nó là một ngày để tỏ cho thế giới biết rằng ngày nay chẳng những là ngày tết lao động, mà nó còn là ngày toàn dân đoàn kết. Đoàn kết để giữ vững tự do dân chủ. Đoàn kết để kiến thiết nước nhà. Đoàn kết để xây dựng một đời sống mới”.

Ngày 1/5/1952 Bác cùng các đại biểu dự ĐH CSTĐ và cán bộ gương mẫu toàn quốc.Ngày 1/5/1952 Bác cùng các đại biểu dự ĐH CSTĐ và cán bộ gương mẫu toàn quốc.

Ngày 1/5/1948, Bác Hồ ra “Lời kêu gọi thi đua yêu nước”, trong đó có đoạn: “Nước ta kinh tế lạc hậu, nhưng lòng yêu nước và chí quật cường chẳng kém ai. Nay muốn tự cung tự cấp, tự túc, đi kịp người thì chúng ta phải đi mau. Vì vậy, sĩ, nông, công, thương, binh, gái trai già trẻ, toàn thể quốc dân ta, vô luận ở địa vị nào, làm công việc gì, phải ra sức tham gia cuộc Thi đua yêu nước, tức là tăng gia sản xuất”.

Ngày 1/5/1951, trong lời kêu gọi nhân ngày Quốc tế Lao động, Bác Hồ xác định “Trọng tâm thi đua là: Quân đội thi đua giết gịăc lập công. Công nhân thi đua tăng gia sản xuất. Nông dân thi đua sản xuất lương thực. Trí thức thi đua sáng tác, phát minh. Cán bộ thi đua cần, kiệm, liêm, chính. Toàn dân thi đua tích cực tham gia kháng chiến”.

Cùng ngày, báo “Nhân Dân” đăng bài “Đảng Lao động Việt Nam với lao động trí óc” với bút danh C.B., Bác nêu rõ: “Lao động trí óc cần được khuyến khích giúp đỡ phát triển tài năng… trí thức ta cần cải tạo tư tưởng và sửa đổi lề lối làm việc”.

Ngày 1/5/1958, Bác đưa ra “lời kêu gọi nhân Ngày Quốc tế Lao động” khẳng định: “Hôm nay cùng với nhân dân lao động toàn thế giới, chúng ta nhịêt liệt chào mừng Ngày 1 tháng 5 trong lòng đầy tin tưởng và phấn khởi quyết tâm vượt mọi khó khăn, tiến lên làm tròn những nhiệm vụ mới… Ngày 1 tháng 5 năm nay là một ngày đoàn kết, đấu tranh, tin tưởng và phấn khởi”.

Ngày 1/5/1964, nhân Ngày Quốc tế Lao động, Bác gửi điện khen ngợi thanh niên trên công trường khôi phục đường sắt Thanh Hoá – Vinh  trong đó có việc xây lại Cầu Hàm Rồng.

X&N
Vkyno (st)

Bác Hồ nói chuyện tại Đại hội Phụ nữ 5 tốt

Điều thứ một trong phong trào là đoàn kết, sản xuất và tiết kiệm tốt. Đoàn kết tốt thì việc gì to lớn mấy, khó khăn mấy cũng làm được.

– Ngày 30/4/1964, Chủ tịch Hồ Chí Minh đến thăm và nói chuyện với Đại hội liên hoan Phụ nữ “5 tốt”. Trong bài nói, Bác khẳng định: “Ngay từ lúc đầu, Đảng và Nhà nước ta đã thi hành chính sách đối với phụ nữ cũng được bình quyền, bình đẳng với đàn ông”.

Phân tích những nôi dung của “5 tốt”, Bác nhấn mạnh: “Điều thứ một trong phong trào là đoàn kết, sản xuất và tiết kiệm tốt. Đoàn kết tốt thì việc gì to lớn mấy, khó khăn mấy cũng làm được. Tăng gia sản xuất và thực hành tiết kiệm là con đường đi đến xây dựng thắng lợi chủ nghĩa xã hội, xây dựng hạnh phúc cho nhân dân. Tăng gia là tay phải của hạnh phúc, tiết kiệm là tay trái của hạnh phúc”.

1969 Bác tặng hoa phong lan cho các chiến sĩ gái Quảng Bình.jpg (77KB)Năm 1969, Bác tặng hoa phong lan cho các nữ chiến sĩ Quảng Bình.

Về nội dung “gia đình”, Bác đưa ra quan niệm: “Gia là nhà, Đình là sân. Theo nghĩa cũ thì gia đình chỉ giới hạn hẹp hòi trong cái nhà, cái sân. Nghĩa là chỉ lo cho cha mẹ, vợ con trong nhà mình ấm no, yên ổn, ngoài ra ai nghèo khổ mặc ai. Như thế là ích kỷ, là không tốt.

Theo nghĩa mới thì gia đình rộng rãi hơn, tốt đẹp hơn. Ví dụ những người cùng lao động trong một nhà máy, một cơ quan, trong một hợp tác xã… đều phải đoàn kết và thương yêu nhau như là anh em trong một gia đình. Rộng ra nữa là đồng bào cả nước đều là anh em trong một đại gia đình. Ta có câu hát: “Nhiễu điều phủ lấy giá gương/ Người trong một nước thì thương nhau cùng”.

Nhân ngày kỷ niệm 20 năm thành lập Hội Phụ nữ Việt Nam, trong phát biểu ngày 19/10/1966, Bác biểu dương: “Hội phụ nữ mới 20 tuổi. Nhưng truyền thống anh hùng của phụ nữ Việt Nam ta đã có gần 2000 năm và ngày càng phát triển. Từ đầu thế kỷ thứ Nhất, Hai Bà Trưng phất cờ khởi nghĩa, đánh giặc cứu dân cho đến ngày nay mỗi khi nước nhà gặp nguy nan, thì phụ nữ ta đều hăng hái đứng lên, góp phần xứng đáng của mình vào sự nghiệp giải phóng dân tộc. Do đó ta có câu tục ngữ rất hùng hồn “Giặc đến nhà đàn bà cũng đánh”.

Trong các ngày 13, 16,18 và 20/11, Bác liên tiếp gửi điện khen các đơn vị nữ dân quân ở các xã Võ Ninh (Quảng Bình), xã Hà Phú và Hà Toại (Thanh Hoá), dùng súng bộ binh bắn rơi máy bay Mỹ.

Trong bức điện khen dân quân gái xã Hoàng Hải, Thanh Hoá, Bác khích lệ: “Cùng với thành tích to lớn chống Mỹ, cứu nước của phụ nữ cả nước ta, chiến công của các cháu càng làm rạng rỡ thêm truyền thống phụ nữ Việt Nam dũng cảm, đảm đang” (13/11/1967).

X&N
Vkyno (st)

Bác Hồ và nhà triết học Anh Bertrand Russel

Ngày 7/4/1967, Chủ tịch Hồ Chí Minh tham dự họp Bộ Chính trị nghe báo cáo về tình hình chiến sự và một số vấn đề về ngoại giao.

– Ngày 7/4/1967, Chủ tịch Hồ Chí Minh tham dự họp Bộ Chính trị nghe báo cáo về tình hình chiến sự trên cả nước và một số vấn đề về ngoại giao.

Bìa sách Hồ chí minh một bản biên niên sử mới được xuất bản tại Đức.

Bìa sách Hồ Chí Minh một bản biên niên sử mới được xuất bản tại Đức.

Bác lưu ý việc tăng cường công tác vận động ngoai giao nhân dân, cần tuyên truyền về Toà án xét xử tội ác chiến tranh của Mỹ ở Việt Nam do Huân tước và triết gia nổi tiếng người Anh (năm đó đã 94 tuổi), một người có cảm tình đặc biệt đối với nhân dân ta, đề xướng để tranh thủ dư luận quốc tế.

Bertrand Russel (1872 – 1970) là một nhà triết học và cũng là một chiến sĩ hoà bình nổi tiếng người Anh. Tháng 7/1964, ông đã dẫn đầu một đoàn đại biểu các tầng lớp nhân dân Anh đến Sứ quan của Mỹ và London phản đối những chính sách xâm lược của Mỹ đối với Việt Nam và khu vực Đông Dương. Uy tín của ông đã thu hút được nhiều nhân vật tên tuổi tham gia.

Ngay sau khi Mỹ tiến hành cuộc chiến tranh phá hoại, ném bom miền Bắc, Bertrand Russet đã gửi điện đến Chủ tịch Hồ Chí Minh lên án hành động chiến tranh của Mỹ.

Ngày 10/8/1964, Bác đã gửi điện cảm ơn, trong đó nêu rõ: “Chúng tôi luôn thiết tha với hoà bình và chủ trương giải quyết vấn đề Việt Nam bằng phương pháp hoà bình. Tôi cảm ơn cụ đã quan tâm đến tình hình nghiêm trọng do Mỹ gây ra trên đất nước chúng tôi và xin gửi cụ lời chào kính trọng”.

Ngày 15/11/1966, theo sáng kiến của Bertran Russel, một Toà án quốc tế xét xử tội ác chiến tranh của Mỹ, mang tên ông được thành lập và đã tiến hành hai phiên xét xử, lần thứ nhất từ 2 đến 13/5/1967 tại Stockholm (Thuỵ Điển) và lần thứ hai từ 20/11 đến 1/12/1967 tại Copenhaguen (Đan Mạch) gây tiếng vang thu hút ngày càng đông đảo giới tri thức và nhân dân các nước ủng hộ nhân dân Việt Nam.

Ngày 19/11/1966, Bác đã gửi điện tới Betrand Russel nhấn mạnh “… Toà án sẽ góp phần thức tỉnh lương tri của nhân dân… Kiên quyết đấu tranh cho đến thắng lợi cuối cùng vì sự nghiệp chính nghĩa của mình, nhân dân Việt Nam đánh giá cao và hết lòng ủng hộ sáng kiến cao quý của cụ…”.

Sau phiên xét xử đầu tiên, Bác lại gửi điện tới nhà triết học Anh khẳng định: “Sự nghiệp cao cả mà cụ đã đề xướng ra nay bước đầu được thực hiện… Đó là một sự kiện quốc tế rất quan trọng… Nhân dân Việt Nam và nhân dân yêu chuộng hoà bình và công lý trên thế giới đều mong đợi sự thành công của Toà án quốc tế”.

Cũng nhân dịp này, Bác còn gửi điện tới Nhà triết học nổi tiếng người Pháp Jean Paul Satre là đồng chủ tịch Toà án này bày tỏ niềm tin tưởng: “… Chắc chắn các dân tộc và tất cả những người yêu chuộng hoà bình và công lý sẽ sát cánh với các vị, nhiệt tình ủng hộ các vị”.

X&N
Vknyo (st)

Bác Hồ với những tù binh Pháp

Ngày 30/3/1953, Chủ tịch Hồ Chí Minh ký quyết định thả 200 tù binh Bắc Phi đã bị quân ta bắt trên các chiến trường.

– Ngày 30/3/1953, Chủ tịch Hồ Chí Minh ký quyết định thả 200 tù binh Bắc Phi đã bị quân ta bắt trên các chiến trường để thể hiện thiện chí của Chính phủ và nhân dân Việt Nam đối với dân các nước thuộc địa của Pháp.

Cần nói rằng chính sách đối với tù binh của Chủ tịch Hồ Chí Minh là nhất quán. Không đầy một tuần sau khi đưa ra lời kêu gọi “Toàn quốc kháng chiến” nhiều binh sĩ của quân đội Pháp đã bị bắt làm tù binh. Là người tha thiết không muốn cuộc chiến tranh bùng nổ, chủ trương hoà hiếu nhưng quyết tâm bảo vệ nền độc lập của mình, nhân ngày Thiên Chúa Giáng sinh, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã viết thư “gửi các tù binh Pháp” (24/12/1946). Thư viết :

30-3-1959 HCM thăm cơ sở sản xuất vận chuyển than ở vùng mỏ Quảng Ninh.jpg (111KB)Ngày 30/3/1959, Chủ tịch Hồ Chí Minh thăm cơ sở sản xuất vận chuyển than ở vùng mỏ Quảng Ninh

“Các bạn, tôi rất lấy làm phiền lòng vì thấy các người đang ở trong tình trạng như thế này. Tôi coi các người là bạn của tôi. Tôi biết rằng đó không phải là bởi các bạn, nhưng các bạn cũng như chúng tôi, đều là nạn nhân của bọn thực dân Pháp. Bọn này vì quyền lợi ích kỷ riêng của họ, chỉ muốn đi chinh phục nước người khác.

Tôi mong nột ngày gần đây, hai dân tộc Pháp – Việt có thể cùng cộng tác trong vòng hoà bình và thân ái để mưu cầu hạnh phúc chung cho hai dân tộc. Trong khi chờ đợi, các bạn hãy yên lòng và sống dưới sự che chở của chúng tôi, cho đến khi hết chiến tranh, khi đó các bạn sẽ được tự do. Tôi chúc các bạn một ngày Noel vui và một năm tốt đẹp”.

Trong suốt những năm tháng chiến tranh gian khổ và đầy hy sinh Bác cũng thực hiện một chính sách nhân dân đối với các tù binh của quân đôi Pháp, nuôi dưỡng trong hoàn cảnh chính những chiến sĩ của mình còn đói, rét, thiếu thuốc men… Do chính sách binh vận tốt nên nhiều tù binh Pháp và đoàn quân Lê dương cũng như những lính thuộc địa đã tình nguyện đi theo kháng chiến.

Sau Chiến dịch Biên giới (1950) cả 2 viên đại tá chỉ huy cấp binh đoàn là Lepage và Charton đều bị quân ta bắt sống, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng đích thân đến nơi giam giữ để an ủi.

Hồi ức của Đại tá Hoàng Thế Dũng người tháp tùng Bác, kể lại rằng, khi giải thích những khó khăn của tù binh Pháp gặp phải, Bác, trong vai cố vấn chính trị của Mặt trận, nói: “Các ông biết chiến tranh là chiến tranh. Nhưng quân đội Việt Nam chỉ làm chiến tranh trong các trận đánh thôi. Sau trận đánh, đối với quân đội bại trận, quân đội Việt Nam coi binh sĩ của nó như là nhân dân Pháp. Sự thiếu thốn chỉ là vì hoàn cảnh…”.

Và trong một lần thăm tù binh Pháp, Bác đã cởi tấm áo khoác của mình cho một sĩ quan ốm yếu của đối phương mà người nhận không hề biết rằng người nhường tấm áo rét cho mình là người đứng đầu Việt Minh đang tổ chức kháng chiến.

X&N
kienthuc.net.vn

Ý kiến của Bác Hồ tại phiên họp của Bộ Chính trị

“Ta có họp, có nghị,có quyết rồi giao cho ai phải giao trách nhiệm rõ ràng, ai làm được thì khen, thấy ai làm sai (…) thì cách chức ngay”.

 – Những phát biểu của Bác tại các phiên họp của Bộ Chính trị thường được bút lục trong biên bản lưu trữ. Dưới đây là một vài ý kiến phát biểu của Bác trong các cuộc họp rơi vào ngày 21/3 của một số năm. Tuy tình hình ngày nay đã khác xưa rất nhiều, nhưng những tinh thần cơ bản liên quan đến mục tiêu phát triển và phương thức lãnh đạo vẫn còn nhiều điều gần gũi với ngày hôm nay.

Ngày 21/3/1958, tham dự phiên họp của Bộ Chính trị bàn về kế hoạch nhà nước, trong phát biểu kết luận, Bác nhấn mạnh đến việc Trung ương cần kiên quyết đẩy mạnh sản xuất nông nghiệp, chú trọng đến các khâu nước, phân và công cụ. Không nhất thiết đưa ra chỉ tiêu mỗi huyện một hợp tác xã mà tuỳ theo hoàn cảnh cụ thể có huyện có vài ba, có huyện chưa cần lập, cán bộ hợp tác xã nên dùng người của địa phương.

Về công nghiệp phải chú trọng khâu kiểm tra. Vấn đề thu mua “phải chú trọng tuyên truyền, giáo dục, tổ chức chu đáo thì nông dân mới đồng tình…về giá cả phải định cho phải chăng, không nên hạ”.

Hồ Chí Minh nói chuyện tại Hội nghị tổng kết công tác bình dân học vụ toàn miền Bắc năm 1956Hồ Chí Minh nói chuyện tại Hội nghị tổng kết công tác bình dân học vụ toàn miền Bắc năm 1956

Ngày 21/3/1962, cũng trong một phiên họp Bộ Chính trị bàn về công tác chuẩn bị cho Hội nghị trung ương về công nghiệp, Bác phát biểu: “Phần nói nông nghiệp còn nhẹ quá. Công nghiệp nặng phải có, nhưng 8 năm thiếu gang thép ta vẫn xoay xở được, còn mất mùa một năm thì chúng ta méo mặt, mất mùa thì gang thép cũng không làm được”.

Bác cũng phê bình: “Ta có họp, có nghị, có quyết rồi giao cho ai phải giao trách nhiệm rõ ràng, ai làm đựơc thì khen, thấy ai làm sai không có thái độ rõ ràng, làm không được thì cách chức ngay (tỉnh Thái Bình được thưởng hơn 700 huân chương, huy chương mà không thấy phạt một ai), ý tôi còn nhu nhược với vấn đề này”.

Ngày 21/3/1964, cũng tại trong một lần họp Bộ Chính trị, Bác nêu ý kiến: quân và dân ta rất tốt, thiên thời địa lợi cũng không khó khăn lắm, nhưng công việc không chạy do lãnh đạo có sức ỳ lớn, phối hợp chưa chặt chẽ, chưa tốt, chỉ đạo chưa thống nhất. Bác còn phê bình tình trạng thiếu lương thực, hàng hoá kém phẩm chất, hình thức xấu, giá cả đắt đỏ, thiếu cán bộ cụ thể chịu trách nhiệm và phải coi vấn đề củng cố chi bộ là một trọng tâm.

X&N
kienthuc.net.vn