Tag Archive | Văn hóa – Xã hội

“Chúng ta cùng theo đuổi lý tưởng: Tự do-Bình đẳng-Bác ái”

 – “Các bà yêu đất nước mình, các bà mong muốn nước mình được độc lập và thống nhất… Chúng tôi cũng thế, chúng tôi yêu Tổ quốc Việt Nam của chúng tôi, cũng muốn Tổ quốc của chúng tôi độc lập và thống nhất… Người Pháp đã đau khổ vì bị chiếm đóng trong 4 năm.

Trong bốn năm ấy, các bà đã tiến hành cuộc kháng chiến và đánh du kích. Người Việt Nam chúng tôi cũng đã đau khổ vì bị chiếm đóng 80 năm, chúng tôi cũng đã kháng chiến và đánh du kích… Nếu những thanh niên Pháp đến Việt Nam như những công nhân kỹ thuật viên hoặc nhà bác học, thì tôi xin bảo đảm với bà rằng họ sẽ được đón tiếp nồng nhiệt như những người bạn, những người anh em… Nhưng một khi những người này đến với tư cách là những kẻ đi chinh phục có võ trang… thì sự đối địch là điều không thể tránh khỏi…

d


Trong khi một bà mẹ Pháp thương khóc đứa con của mình thì có biết bao nhiêu bà mẹ Việt Nam vừa khóc thương những người con bị chết lại vừa đau xót vì nỗi nhà tan cửa nát… Phải chấm dứt cuộc huynh đệ tương tàn này. Người Việt Nam và người Pháp chúng ta cùng theo đuổi một lý tưởng giống nhau: Tự do-Bình đẳng-Bác ái. Chúng ta có cùng một mục đích giống nhau là chế độ dân chủ. Chúng ta cần nhờ cậy lẫn nhau. Người Việt Nam chúng tôi cũng yêu mến nước Pháp và những người Pháp bạn hữu… Nhưng chính để thực hiện sự hợp tác bình đẳng và hữu nghị ấy, chúng tôi quyết dùng tất cả sức mình để giành được nền độc lập dân tộc và toàn vẹn lãnh thổ của chúng tôi.

Chỉ cần nước Pháp công nhận nền độc lập của chúng tôi thì nước Pháp sẽ chiếm được trái tim và tình cảm của tất cả những người Việt Nam… Theo tinh thần bốn bể đều là anh em, tôi yêu mến thanh niên Pháp cũng như yêu mến thanh niên Việt Nam… Đối với tôi, sinh mệnh một người Pháp hay sinh mệnh một người Việt Nam đều đáng quý như nhau. Tôi thành thực mong muốn thanh niên Pháp và thanh niên Việt Nam hiểu biết lẫn nhau và yêu mến nhau như anh em”. Thư của Chủ tịch Hồ Chí Minh viết ngày 22/9/1946, trên tàu biển đang trở về nước, để trả lời bức thư của bà Chossis, một phụ nữ Pháp có con trai đang cầm súng trong quân đội Pháp tại chiến trường Việt Nam.

“Phải lấy việc giáo dục làm đầu, phải đánh thông tư tưởng cho quần chúng. Dân hiểu, dân làm, thì việc khó đến đâu cũng làm được”. Bác nói chuyện với lãnh đạo 2 tỉnh Lap Kay và Yên Bái trong chuyến thăm ngày 22/9/1958.

“Công nghiệp và nông nghiệp như hai chân của một con người… có quan hệ với nhau rất khăng khít… Thanh niên phải rèn luyện đạo đức cách mạng… tóm tắt trong mấy điểm: trung thành, dũng cảm và khiêm tốn… Bác có ý giao cho thanh niên làm chủ lực trong phong trào trồng cây gây rừng …”. Bác nói chuyện với Hội nghị Đoàn Thanh niên Lao động VN toàn miền Bắc, ngày 22/9/1962.

X&N
bee.net.vn

“Vua Hùng có công dựng nước…”

– “Bác cháu ta gặp nhau ở đây trong tình cờ, nhưng lại rất có ý nghĩa. Ngày xưa các Vua Hùng đã có công dựng nước, ngày nay Bác cháu ta phải cùng nhau giữ lấy nước… Trải qua bao thời đại đấu tranh, ông cha ta mới giữ được Thủ đô, tám chín năm nay, do quân ta kiên quyết kháng chiến nên mới có thắng lợi trở về Hà Nội. Vì thế, các chú được Trung ương và Chính phủ giao cho nhiệm vụ tiếp quản Thủ đô là được nhận một vinh dự lớn…”.

Lời nói của Bác khi Ngày 19/9/1954, lần đầu tiên thăm đền Hùng, Bác gặp gỡ cán bộ chiến sĩ Đại đoàn Quân tiên phong đang trên đường chuẩn bị về tiếp quản Thủ đô.

Trước đó, trong bài báo “Chính phủ là công bộc dân” của Chủ tịch Hồ Chí Minh đăng trên tờ “Cứu Quốc”, ngày 19/9/1945, Bác viết: “Non hai tháng trước đây, trước cuộc khởi nghĩa 19/8/1945, nói tới hai chữ “Chính phủ” người ta nghĩ ngay tới một bọn đầu đảng cướp nguy hiểm, xảo quyệt. Trái lại, ai ai đối với Chính phủ nhân dân hiện nay cũng đều có một cảm tình thân mật, xen lẫn với một tôn kính sâu xa: Chính phủ đối với ta như người “anh cả” trong gia đình, một đồng chí phụ trách trong một địa phương, một người đứng mũi chịu sào ta có thể vững lòng trông cậy và gửi số mệnh vào.

Người xưa nói: quan là công bộc của dân, ta cũng có thể nói: Chính phủ là công bộc của dân vậy. Các công việc của Chính phủ làm phải nhằm vào một mục đích duy nhất là mưu cầu tự do hạnh phúc cho mọi người. Cho nên Chính phủ nhân dân bao giờ cũng phải đặt quyền lợi dân lên trên hết thảy. Việc gì có lợi cho dân thì làm. Việc gì có hại cho dân thì phải tránh… Nói tóm lại, bao nhiêu những cái xấu xa, thối nát, bất công, áp bức của chế độ cũ, của các hội đồng kỳ mục trước sẽ không thể tồn tại trong các Uỷ ban Nhân dân bây giờ. Uỷ ban Nhân dân là Uỷ ban có nhiệm vụ thực hiện tự do dân chủ cho dân chúng. Nó phải hành động đúng tinh thần tự do dân chủ đó”.

d19/9/1954 Hồ Chí Minh nói chuyện với cán bộ, chiến sĩ đại đoàn Quân tiên phong đang trên đường về tiếp quản Thủ đô.

Trong thư của Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi Hội nghị Trung du ngày 19/9/1949, Bác viết: “Đồng bào ta, gái cũng như trai, trẻ cũng như già, cho đến các cháu nhi đồng cỏn con ai cũng nồng nàn yêu nước, ai cũng hăng hái kháng chiến, ai cũng cố gắng giết giặc. Nếu cán bộ khéo cơ động, tổ chức lãnh đạo thì ngoài Vệ Quốc quân anh dũng của chúng ta, chúng ta lại có những cái lưới sắt du kích rộng lớn và mạnh mẽ quét hết lũ giặc, không sót một tên nào… Phải làm cho cho các tỉnh trung du thành một phòng tuyến kiên cố của ta, một nghĩa địa mênh mông của giặc”.

Bác viết thư cảm ơn các bà mẹ chiến sĩ Liên khu IV: “Các chiến sĩ thì sẵn sàng hy sinh gia đình, hy sinh tính mệnh để giết giặc cứu nước, bảo vệ đồng bào. Các cụ, các bà thì thương yêu săn sóc chiến sĩ như con cháu ruột thịt. Thế là các cụ, các bà cũng trực tiếp tham gia kháng chiến… Chẳng những các chiến sĩ mà tôi và Chính phủ cũng biết ơn các cụ, các bà. Tôi mong khắp cả nước, các liên khu, các tỉnh, các làng, ở đâu cũng có Hội mẹ chiến sĩ. Còn các chiến sĩ thì phải hiếu với mẹ nuôi bằng cách thi đua giết nhiều giặc, cướp nhiều súng, lập nhiều công làm rạng danh và đền bồi công ơn của các bà mẹ chiến sĩ”.

X&N
bee.net.vn

“Người cách mạng mẫu mực”

 – “Sự nghiệp cách mạng rộng lớn và khó thực hiện; nó không thể do môt người hay một nhà làm mà tốt được. Cách mạng của các nòi giống có mục đích là giải phóng các dân tộc yếu, sau tiến lên làm cách mạng thế giới, sẽ giải phóng toàn nhân loại khỏi ách đế quốc chủ nghĩa và tư bản chủ nghĩa.

Để hoàn thành vẻ vang vai trò này, người cách mạng kiểu mẫu phải: “1. Đêm ngày nghĩ đến sự nghiệp cách mạng và cứu độ nhân loại, 2. Hy sinh tiền bạc, thời gian và cả máu vì lợi ích các dân tộc bị áp bức, tóm lại, phải vị tha, không ích kỷ, phải tuân thủ theo phương châm “Tổ quốc trên hết” ở mọi nơi, mọi lúc… làm việc không biết mệt mỏi”, “xem thường cái chết”, “thuận theo hoàn cảnh”, “suy nghĩ kỹ càng trước khi hành động”, “dựa vào sức mạnh của dân”, “xem thường danh vị, ngôi thứ, tiền bạc”, “không cục bộ”, “không kiêu ngạo” và “Kiên trì và nhẫn nại”. Sự nghiệp cách mạng là lâu dài, khó khăn và nguy hiểm. Nếu người cách mạng thiếu kiên trì và nhẫn nại thì những khó khăn sẽ làm anh ta thối chí và sẽ đào ngũ giữa trận tiền”. Quan điểm Nguyễn Ái Quốc về phẩm chất “người cách mạng mẫu mực” viết trên báo “Thanh Niên” xuất bản tại Quảng Châu số ra ngày 18/9/1926.

dẢnh 1: 18/9/1945 Hồ Chí Minh tiếp các nhà tư sản có tiếng ở HN, tại Bắc Bộ phủ.

“Dòng sông lặng ngắt như tờ/ Sao đưa thuyền chạy, thuyền chờ trăng theo/ Bốn bề phong cảnh vắng teo/ Chỉ nghe cót két tiếng chèo thuyền nan/ Lòng riêng riêng những bàn hoàn/ Lo sao khôi phục giang san Tiên Rồng/ Thuyền về trời đã rạng đông/ Bao la nhuốm một màu hồng đẹp tươi”. Bài thơ “Đi thuyền trên Sông Đáy” Bác sáng tác trên thuyền đi từ Khâu Lâu xuôi theo Sông Đáy về huyện Sơn Dương.

“Nam Bộ kháng chiến trước nhất. Chịu đựng gian khổ lâu nhất. Lại cách xa Chính phủ Trung ương nhất. Hoàn cảnh rất khó khăn. Nhưng sức kháng chiến ngày càng mạnh mẽ và có nhiều thành tích rất oanh liệt, vẻ vang.  Đó là vì đồng bào và bộ đội có lòng yêu nước rất nồng nàn, chí căm hờn giặc rất sâu sắc, lòng tin tưởng vào thắng lợi rất vững bền. Cho nên càng gian khổ, lại càng hăng hái. Chính như câu tục ngữ nói: Lửa thử vàng, gian nan thử sức. Dù ở xa, nhưng lòng tôi và Chính phủ rất gần Nam Bộ”. Lời kêu gọi của Chủ tịch Hồ Chí Minh nhân kỷ niệm 6 năm Nam Bộ Kháng chiến, công bố ngày 18/9/1945.

Cùng ngày, trong bài báo “Chiến sĩ nấu bếp Hoàng Cầm”, đăng trên báo “Nhân Dân”, Bác động viên:“Dưới chế độ dân chủ của nước ta, bất kỳ ai làm việc gì mà cố gắng thi đua vượt mức thì tức là anh hùng… Nhiệm vụ của người nấu bếp cũng quan trọng như nhiệm vụ của người chỉ huy, vì “thực túc thì binh cường”, cơm no thì thắng giặc”.

dẢnh 2: Ngày 18/9/1946 trên tàu Dumont D; Urvilee trở về Tổ quốc.

Ngày 18/9/1945, tại Bắc Bộ phủ, Chủ tịch Hồ Chí Minh tiếp khoảng 30 nhà công thương có tiếng ở Hà Nội, động viên các nhà hằng sản đóng góp cho “Tuần lễ Vàng” để “tỏ rõ cho thế giới biết người Việt Nam đồng lòng yêu nước”. (ảnh 1)   Ngày 18/9/1946, từ quân cảng Tulon, chiến hạm Dumont D’ Urville nhổ neo đưa Chủ tịch Hồ Chí Minh trở về nước kết thúc chuyến thăm Pháp kéo dài 4 tháng. Trên tàu còn có một số trí thức Việt kiều theo Bác về phục vụ đất nước như: Bác sĩ Trần  Hữu Tước, kỹ sư Phạm Quang Lễ (tức Trần Đại Nghĩa”  (ảnh 2)…

X&N
bee.net.vn

Tuần lễ Vàng

– “Muốn củng cố nền tự do độc lập ấy, chúng ta cần sức hy sinh phấn đấu của toàn quốc đồng bào; nhưng chúng ta cũng rất cần sức quyên giúp của nhân dân, nhất là những nhà giàu có. Ý nghĩa “Tuần lễ Vàng” là ở đó.

Tuần lễ Vàng sẽ thu góp số vàng trong nhân dân và nhất là của nhà giàu có để cúng vào việc cần cấp và quan trọng nhất của chúng ta lúc này là việc quốc phòng.

Tuần lễ Vàng sẽ tỏ cho toàn quốc đồng bào và toàn thế giới biết rằng trong lúc chiến sĩ Việt Minh trên các mặt trận quyết hy sinh giọt máu cuối cùng để giữ vững nền tự do độc lập của nước nhà, thì đồng bào ở hậu phương, nhất là những nhà giàu có, cũng có thể hy sinh được chút vàng để phụng sự Tổ quốc…”

Trên đây là thư của Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi đến Ban tổ chức Tuần Lễ Vàng do các nhà công thương yêu nước tổ chức để quyên góp cho Quỹ Độc lập, ngày 16/9/1945. Kết thúc Tuần Lễ Vàng, trên cả nước  theo thống kê của Bộ Tài chính đã có 370kg vàng và 40 triệu đồng nộp vào “Quỹ Độc lập” và 20 triệu đồng nộp vào “Quỹ Quốc phòng”.

Quang cảnh ngày khai mạc Tuần lễ VàngQuang cảnh ngày khai mạc Tuần lễ Vàng

Cùng ngày, Bác cũng gửi lời nhắn nhủ tới đồng bào Việt kiều tại Pháp khi lên xe lửa rời Paris, ngày 16/9/1945 đi Marseille để ra bến cảng Tulon về nước: “Tôi đi nhưng ý nghĩ của tôi bao giờ cũng vẫn gần gũi đồng bào”.

5 năm sau, Bác viết “Chống gậy lên non xem trận địa/ Vạn trùng núi đỡ vạn trùng mây/ Quân ta khí mạnh nuốt Ngưu Đẩu/ Thề diệt xâm lăng lũ sói cầy”.  Bài thơ chữ Hán “Đăng Sơn” (theo bản dịch “Lên Núi” của Xuân Diệu, do Bác sáng tác sau khi đến trận địa quan sát công tác chuẩn bị cho trận đánh Đông Khê, mở màn Chiến dịch Biên giới, ngày 16/9/1950

X&N
bee.net.vn

Những ngày 13/9 của Bác Hồ

 –  “Chớ quên rằng làm cách mạng là vì Tổ quốc, vì Dân tộc”.  Căn dặn của Chủ tịch Hồ Chí Minh, hiệu trưởng Trường Quân chính Việt Nam (tiền thân là Trường Quân chính Kháng Nhật trong lễ khai giảng khoá đầu tại Hà Nội, ngày 13/9/1945.

“Dân tộc giải phóng thì tôn giáo mới được giải phóng. Lúc này, chỉ có quốc gia mà không phân biệt tôn giáo nữa, mỗi người đều là công dân của nước Việt Nam và có nhiệm vụ chiến đấu cho nền độc lập hoàn toàn của Tổ quốc”. Phát biểu của Bác Hồ với các chức sắc của Thiên Chúa Giáo, Phật giáo và Cao Đài trong buổi tiếp tại Hà Nội, ngày 13/9/1945.

“Chắc đồng bào cũng biết ở Nam Bộ, chúng ta đang đánh giặc ngoại xâm; ở Bắc Bộ, đồng bào nhiều tỉnh bị nạn lụt, hạn hán thật là đói khổ. Vậy bổn phận chúng ta là phải ủng hộ đồng bào Nam Bộ, giúp đỡ đồng bào Bắc Bộ. Như thế là đồng bào đã giúp Chính phủ giữ cho nền độc lập được vững vàng. Bây giờ Chính phủ là chính phủ của dân thì chắc các cụ cũng nên theo ý dân và nên hết sức cần kiệm cho xứng đáng là con dân trong lúc Tổ quốc đang lâm nạn”.
 Nhân về thăm làng Đình Bảng, Bắc Ninh để dự kỷ niệm Lý Bát Đế (8 đời vua Lý), Bác nói chuyện cùng đồng bào.

“Văn hoá với chính trị có quan hệ chặt chẽ với nhau. Có chính trị mới có văn hoá, xưa kia chính trị bị đàn áp, nền văn hoá của ta vì thế không nẩy sinh được. Nay nước ta đã độc lập, tinh thần được giải phóng, cần có một nền văn hoá hợp với khoa học và hợp với cả nguyện vọng của dân”.
 Nói chuyện với Nhà báo Nguyễn Tường Phượng, chủ bút tạp chí “Tri Tân” cũng trong ngày 13/9/1945.

Ngày 13/9/1958, Bácthăm lớp học chính trị giáo viên cấp II,cấp III toàn miền BắcNgày 13/9/1958, Bácthăm lớp học chính trị giáo viên cấp II,cấp III toàn miền Bắc

Ngày 13/9/1946, chuẩn bị lên đường trở về Tổ quốc, Chủ tịch Hồ Chí Minh gặp gỡ giới báo chí tại Khách sạn Royal Monceau, tỏ ý thất vọng vì những bất đồng trong Hội nghị Fontainebleau không được giải quyết nhưng vẫn ghi nhận thái độ thân thiện của chính phủ và dân chúng Pháp, hy vọng cuộc đám phán sẽ được nối lại.

Cùng ngày, Bác viết thư gửi lời chia tay với đồng bào Việt kiều trong đó nêu rõ: “Đồng bào thân mến của tôi, Đồng bào trông đợi nhiều ở nước Pháp mới. Nay các đại biểu và Chủ tịch của đồng bào trở lại nước nhà, không mang lại độc lập dân tộc, không quyết định cuối cùng về vấn đề Nam Bộ. Đồng bào có thể vì thế mà thất vọng. Cần biết rằng tương lai của một đất nước không thể xây dựng trong một vài tháng. Nhìn vào những hội nghị quốc tế khác kéo dài nhiều tháng truớc khi đi đến kết qủa. Hãy tin vào lực lượng chúng ta và sự kiên quyết của chúng ta…” .

Ngày 13/9/1950, Bác rời Sở chỉ huy Chiến dịch Biên giới trực tiếp đến thị sát Mặt trận Đông Khê và chỉ thị: “Dù khó khăn đến đâu cũng kiên quyết khắc phục đánh cho kỳ thắng trận đầu”.

Ngày 13/9/1951, báo “Nhân Dân” đăng bài “Để thực hiện 10 điều ghi nhớ của Mặt trận Liên Việt” trong đó, Bác chỉ rõ những biện pháp thiết thực để thi đua trở thành khẩu hiệu hành động “10 điều ghi nhớ không phải là những khẩu hiệu để hô cho kêu, dán cho đẹp… Mà muốn cho mọi người làm trọn nhiệm vụ, cán bộ Đảng và chính quyền cần biết lãnh đạo thiết thực và xung phong làm gương mẫu”.

“Vì lợi ích mười năm thì phải trồng cây, vì lợi ích trăm năm thì phải trồng người. Chúng ta phải đào tạo ra những công dân tốt cho nước nhà. Nhân dân, Đảng, Chính phủ giao các nhiệm vụ đào tạo thế hệ tương lai cho các cô các chú. Đó là một trách nhiệm nặng nề, nhưng rất vẻ vang”.
 Lời căn dặn của Bác Hồ khi tới thăm lớp học chính trị của giáo viên cấp II và III toàn miền Bắc tổ chức tại Hà Nội, ngày 13/9/1958.

X&N
bee.net.vn

“Chúng ta sáng tạo! Chúng ta xây dựng! Chúng ta tiến lên”

 – “Ông Hồ phàn nàn là tình hình sẽ rất khó khăn và có chiều hướng hoàn toàn xấu. Nhưng ông Hồ nói cuối cùng thì Việt Nam cũng sẽ được giải phóng khỏi người Pháp, Trung Quốc hay bất kỳ nước ngoài nào khác…. Trong một phút linh cảm, ông Hồ đã nhận xét là sẽ có đổ máu trong tương lai. Nếu người Trung Quốc thực sự chống đối lại nền độc lập của Việt Nam, nhân dân ông  nhất định sẽ kháng cự lại bằng vũ khí…  Và nếu sự đe dọa của người Pháp trở thành hiện thực thì sẽ có cuộc chiến tranh toàn diện… Ông cho biết là sự có mặt của quân đội Trung Quốc đã làm ông phiền muộn”.

Đó là ghi chép và nhận thức của Thiếu tá Archimedes Patti, người đứng đầu cơ quan tình báo chiến lược của Mỹ (OSS) đang có mặt tại Hà Nội sau cuộc gặp Chủ tịch Hồ Chí Minh vào ngày 10/9/1945 về tình thế phức tạp của đất nước ta vào thời điểm đó.

Cuộc gặp này diễn ra ngay sau khi người đúng đầu nhà nước Việt Nam chiêu đãi Tướng Tiêu Văn, người chỉ huy đơn vị quân đội của Trung Hoa Quốc dân Đảng vừa kéo vào miền Bắc Việt Nam để giải giáp quân đội Nhật.

“Người ta mỗi ngày ai cũng rửa mặt, vài hôm phải tắm giặt để giữ cho thân thể sạch sẽ, mạnh khoẻ. Người cách mạng cũng thế, trước hết là cán bộ chính quyền và Đoàn thể cách mạng, mỗi người cũng phải rửa các mặt tinh thần, tư tưởng của mình, để tẩy sạch những chứng bệnh, những khuyết điểm. Chính quyền và Đoàn thể cũng cần thường thường rửa các bộ máy của mình, để tẩy trừ những phần tử bất chính, đầu cơ và chỉnh đốn lại cách làm việc cho gọn gàng, mau chóng”. Trích bài “Chỉnh đốn Đoàn thể và Chính quyền” của Bác, với bút danh X.Y.Z đăng trên báo “Sự Thật” ngày 10/9/1950.

fChủ tịch Hồ Chí Minh trong chuyến đi thăm Pháp 1946.

Ngày 10/9/1960, tại phiên bế mạc Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ III của Đảng Lao động Việt Nam, Bác được bầu lại vào Ban chấp hành Trung ương và cương vị Chủ tịch Đảng.

Trong diễn văn bế mạc, Chủ tịch Hồ Chí Minh nói: “Đại hội lần thứ II đã đưa kháng chiến đến thắng lợi. Chắc chắn rằng Đại hội lần thứ III này sẽ là nguồn ánh sáng mới, lực lượng mới cho toàn Đảng và toàn dân ta xây dựng thắng lợi chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc và đấu tranh thực hiện hoà bình thống nhất nước nhà… Mười lăm năm trước đây, chỉ có 5000 đảng viên và trong những điều kiện cực kỳ khó khăn mà Đảng ta đã lãnh đạo Cách mạng tháng Tám đến thắng lợi.

Ngày nay, Đảng ta có hơn 50 vạn đồng chí, lại có những điều kiện rất thuận lợi, cho nên Đảng nhất định lãnh đạo cách mạng xã hội chủ nghĩa đến thành công, đấu tranh thực hiện thống nhất nước nhà đến thắng lợi… Toàn Đảng và toàn dân ta đoàn kết chặt chẽ thành một khối khổng lồ. Chúng ta sáng tạo. Chúng ta xây dựng. Chúng ta tiến lên. Quyết không có lực lượng nào ngăn cản được chúng ta đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác”. Diễn văn bế mạc Đại hội Đảng lần thứ Ba đọc ngày 10/9/ 1960.

Cách đây 68 năm, ngày 10/9/1943, Hồ Chí Minh được trả tự do kết thúc gần 13 tháng (kể từ 29/8/1942) bị các thế lực quân phiệt Trung Hoa giam giữ tại 30 nhà tù thuộc 13 huyện ở Quảng Tây.

Bài thơ thứ 134 nhan đề “Kết luận” cũng khép lại tập thơ “Ngục trung nhật ký” (Nhật ký trong tù). Bài thơ chữ Hán này nhằm bày tỏ lời cám ơn với Hầu Chí Minh là người đã trực tiếp ký lệnh trao trả tự do. Bài thơ được nhà thơ Khương Hữu Dụng dịch ra quốc ngữ:  “Sáng suốt, nhờ ơn Hầu chủ nhiệm/ Tự do trở lại với mình rồi/ Ngục trung nhật ký từ đây dứt/ Tái tạo ơn sâu, cảm tạ người” cho thấy cách ứng xử của Bác rất có hậu đối với những người mình mang ơn.

X&N
bee.net.vn

Về một Nhà nước Dân chủ – Cộng hoà

– Ngày 3/9/1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh chủ trì phiên họp đầu tiên của Hội đồng Chính phủ và trình bày “Những nhiệm vụ cấp bách của Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà” gồm 6 vấn đề: 

“ 1. Giải quyết nạn đói bằng việc “phát động một chiến dịch tăng gia sản xuất” và đề nghị “Mười ngày một lần, tất cả đồng bào ta nhịn ăn một bữa. Gạo tiết kiệm được sẽ góp lại và phát cho người nghèo”.

2. “Một dân tộc dốt là một dân tộc yếu. Vì vây tôi đề nghị mở một chiến dịch để chống nạn mù chữ”.

3. “Chúng ta phải có hiến pháp dân chủ. Tôi đề nghị Chính phủ tổ chức càng sớm càng hay cuộc Tổng tuyển cử với chế độ phổ thông đầu phiếu”.

4. “Chúng ta phải làm cho dân tộc chúng ta trở thành một dân tộc dũng cảm, yêu nước, yêu lao động, một dân tộc xứng đáng với nước Việt Nam độc lập”. “Tôi đề nghị mở một chiến dịch giáo dục lại tinh thần nhân dân bằng cách: Cần, Kiệm, Liêm, Chính”.

5. Để nghị bỏ các thuế thân, thuế chợ, thuế đò “tuyệt đối cấm hút thuốc phiện”.

6. “Tôi đề nghị Chính phủ ta tuyên bố: tín ngưỡng tự do và Lương Giáo đoàn kết”.

Đó là nội dung trình bày của Chủ tịch Chính phủ Lâm thời trong phiên họp đầu tiên ngay sau Ngày Tuyên ngôn Độc lập 3/9/1945. Nó không chỉ cho thấy những khó khăn vô cùng to lớn của đất nước ta sau ngày độc lập mà còn cho thấy quan điểm của người đứng đầu nhà nước về bản chất của một nhà nước theo thiết chế Dân chủ – Cộng hoà, với mục tiêu “của dân – do dân – vì dân” gắn với nguyên lý “nước độc lập mà dân không được tự do, hạnh phúc thì cũng vô nghĩa” như Bác Hồ đã nhiều lần tuyên bố sau đó.

Cùng ngày, Chủ tịch Hồ Chí Minh ra thông cáo “về việc tiếp chuyện đại biểu các đoàn thể” yêu cầu“Gửi thơ nói trước để tôi sắp xếp thời giờ, rồi trả lời cho bà con, như vậy khỏi chờ đợi mất công. Mỗi đoàn xin chớ quá 10 vị. Mỗi lần tiếp chuyện xin chớ quá 1 tiếng đồng hồ”.

Ngày 3/9/1960, Bác Hồ tham dự Dạ hội của Thanh niên Hà Nội và các đoàn đại biểu quốc tế tham dự Đại hội Đảng lần thứ III, tổ chức tại Vườn Bách Thảo. Kết thúc đêm hội, Bác thân cầm đũa chỉ huy dàn hợp xướng và bắt nhịp cùng mọi người cất cao bài ca “Kết đoàn chúng ta là sức mạnh…”.

X&N
bee.net.vn

Những điều Bác nhắc đến trong dịp Quốc khánh

-“Một dân tộc đã gan góc chống lại ách nô lệ của Pháp hơn 80 năm nay, một dân tộc đã gan góc đứng về phe Đồng minh chống phát xít mấy năm nay, dân tộc đó phải được tự do! Dân tộc đó phải được độc lập! Nước Việt Nam có quyền hưởng tự do và độc lập, và sự thật đã thành một nước tự do độc lập. Toàn thể dân tộc Việt Nam quyết đem tất cả tinh thần và lực lượng, tính mạng và của cải để giữ vững quyền tự do và độc lập ấy”.

Đó là đoạn kết bản Tuyên ngôn Độc lập mà Chủ tịch Chính phủ Lâm thời Hồ Chí Minh đã tuyên đọc tại Quảng trường Ba Đình ngày 2/9/1945.

ádNgày 2/9/1945, Bác Hồ tại lễ Độc Lập, Hà Nội

“Chính là sự đoàn kết, đoàn kết hoàn toàn và không gì phá vỡ nổi của toàn thể nhân dân chúng ta đã khai sinh ra nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà. Lòng dũng cảm và tinh thần hy sinh đã gắn bó ý chí của mọi người Việt Nam từ Bắc chí Nam thành một khối sức mạnh, bất kỳ nguồn gốc họ ở đâu, theo tôn giáo hay thuộc các giai tầng xã hội nào.

Trong buổi tối hôm nay, làm sao chúng ta lại không nghĩ tới đồng bào Nam Bộ với một tình cảm trìu mến đặc biệt. Nguyện vọng tha thiết nhất của toàn thể nhân dân Việt Nam là Tổ quốc đang hồi sinh của chúng ta không bao giờ bị chia cắt và không gì chia cắt được… Nước Pháp mới đặt ra cho mình mục đích là giải phóng các dân tộc…Mong sao tình hữu nghị giữa nước Pháp và nước Việt Nam độc lập và thống nhất trở thành sự thực …Một tình hữu nghị như vậy giữa hai nước chỉ có lợi cho sự phồn vinh của Liên hiệp Pháp và sự bừng nở  lý tưởng dân chủ trên thế giới”.

Phát biểu bằng tiếng Pháp tại cuộc gặp mặt Việt kiều, các bạn bè người Pháp và Đoàn đại bieeru Việt Nam đang dự Hội nghị Fontainebleau,  tại Paris ngày 2/9/1946, nhân lễ Quốc khánh đầu tiên của Chủ tịch Hồ Chí Minh đang thăm nước Pháp.

“Cách mạng giải phóng Mỹ 8 năm mới thành công. Cách mạng Pháp 5  năm. Cách mạng Nga 6 năm. Cách mạng Tàu 15 năm mới thành công. Tổ tiên ta chống ngoại xâm đời Trần 5 năm, đời Lê 10 năm mới thắng lợi… Hãy tin tưởng vào vận mệnh vẻ vang của Tổ quốc, tin tưởng vào sức đoàn kết và chiến đấu của chúng ta. Chúng ta hãy cắn răng chịu khổ, ra sức chiến đấu. Chịu khổ chiến đấu mấy năm để đánh tan ách nô lệ hơn 80 năm vừa qua để xây nền tự do muôn ngàn đời sắp tới, thì cũng bõ công. Tướng sĩ trước mặt trận, đồng bào ở hậu phương, ai nấy đều đoàn kết chặt chẽ, cố gắng làm đúng 4 chữ Cần, Kiệm, Liêm, Chính, thì cuộc trường kỳ kháng chiến của ta nhất định thắng!” .

Đoạn trích trong lời kêu gọi của Bác Hồ nhân ngày Quốc khánh đầu tiên tổ chức trong hoàn cảnh cả nước kháng chiến chống thực dân Pháp (2/9/1947), thực hiện lời thề trong Ngày Độc lập.

Cũng trong ngày 2/9/1947, trên báo “Sự Thật”, Bác viết bài “Cán bộ và Đời sống mới” đưa ra nguyên lý: “Cán bộ muốn cho xứng đáng, phải làm được việc. Muốn làm được việc, thì phải được dân tin, dân phục, dân yêu. Muốn đựoc dân tin, dân phục, dân yêu, cán bộ phải tự mình làm đúng đời sống mới. Nghĩa là phải siêng năng, tiết kiệm, trong sạch, chính đáng. Nếu không thực hành bốn điều đó, mà muốn được lòng dân, thì cũng như bắc giây leo trời”.

Quảng cảnh quảng trường Ba ĐìnhQuang cảnh quảng trường Ba Đình

Ngày 2/9/1950, Bác lại nhắc nhở “Phải tẩy sạch bệnh quan liêu” đăng trên báo “Sự Thật” và “chỉ ra thang thuốc chữa bệnh quan liêu là: Phải đặt lợi ích của dân chúng lên trên hết, trước hết. Phải gần gũi dân, hiểu biết dân, học hỏi dân. Phải thật thà thực hành phê bình và tự phê bình. Phải làm kiểu mẫu: Cần, Kiệm, Liêm, Chính, Chí công vô tư”.

Ngày 2/9/1969, sau một thời gian lâm bệnh nặng, mặc dù được tập thể các thầy thuốc tận tình cứu chữa, nhưng vào lúc 9h47, Chủ tịch Hồ Chí Minh từ trần, hưởng thọ 79 tuổi.

X&N
bee.net.vn

Những lời tâm sự

– Ngày 1/9/1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh mời A.Patty, người đứng đầu cùng một vài thành viên của cơ quan tình báo chiến lược OSS của Mỹ đang có mặt tại Hà Nội, đến Bắc Bộ phủ để đàm đạo và dự bữa cơm trước Ngày Lễ Độc lập.

Hồi ức của Patty ghi lại: “Chủ tịch Hồ, có (Hoàng Minh) Giám và (Võ Nguyên) Giáp bên cạnh”.Câu chuyện xoay quanh những đánh giá của người Việt Nam về các cường quốc như Trung Hoa, Pháp và Mỹ đối với nền độc lập của Việt Nam.

Ngày 1/9/1955 Chủ tịch Hồ Chí Minh viếng các anh hùng liệt sĩ tại đài tưởng niệm Hà Nội.Ngày 1/9/1955 Chủ tịch Hồ Chí Minh viếng các anh hùng liệt sĩ tại đài tưởng niệm Hà Nội.

“Ông Hồ giữ vững quan điểm là trong thời điểm đặc biệt này, Việt Minh là một phong trào dân tộc, bao gồm một cách dân chủ tất cả các đảng phái cách mạng Việt Nam. Tất nhiên ông công nhận, Đảng Cộng sản Đông Dương là một nhân tố lãnh đạo trong phong trào giành độc lập dân tộc, nhưng các đảng viên của họ “trước hết phải là người dân tộc chủ nghĩa, sau đó mới là đảng viên của đảng”…

Ông Hồ tiếp tục nói rằng ông muốn Mỹ biết các yêu cầu của ông cho nhân dân Việt Nam rất nhỏ nhặt và giản đơn. Họ muốn có, một nền độc lập hạn chế, không có sự cai trị của Pháp, có quyền sống tự do trong gia đình các nước… Ông Hồ muốn được các chuyên gia kỹ thuật Mỹ giúp thiết lập một số công nghiệp mà Việt Nam có khả năng đảm đương được… Ông Hồ nêu lên ngay một vấn đề hết sức cấp bách, tình hình nguy ngập về lương thực. Ông nói về nạn đói khủng khiếp năm 1944” và nguy cơ quân đội Trung Hoa tiến vào sẽ làm cho tình hình trầm trọng hơn và đề nghị chuyển lời tới Chính phủ Mỹ đề nghị cần kiểm soát tình hình này.

Ngày 1/9/1961, nói chuyện với Hội nghị chuyên đề sinh viên quốc tế đang họp tại Việt Nam, Bác lấy mình làm dẫn chứng “Tôi chỉ học hết lớp tiểu học. Vì chế độ thực dân và phong kiến đã kìm hãm giáo dục… Về hiểu biết phổ thông, năm tôi 17 tuổi tôi mới thấy ngọn đèn điện lần đầu tiên, 29 tuổi mới nghe rađiô lần đầu tiên” để so sánh với những tiến bộ xã hội mà thế hệ thanh niên ngày nay đang được hưởng.

Về Cách mạng Việt Nam, Bác nói: “Cách mạng tháng Mười Nga đã soi đường chúng tôi. Chúng tôi đã không sợ thực dân và phong kiến mà hăng hái hoạt động cách mạng và cuối cùng cách mạng đã thắng lợi”.

Về trách nhiệm của thế hệ trẻ đối với thời đại, Bác nêu rõ: “Một nhiệm vụ quan trọng nữa của thanh niên trí thức là phát triển giáo dục, trước hết là xoá nạn mù chữ…Trong cuộc đấu tranh diệt giặc dốt, quân chủ lực phải là thanh niên trí thức, dựa vào lực lượng to lớn của nhân dân”. Và trong lời kết thúc, Bác nói “đó là tâm sự của một người thanh niên già đã có một ít kinh nghiệm, thật thà bày tỏ với các bạn thanh niên yêu quý của tôi”.

Một việc làm đã thành lệ, ngày 1/9 hàng năm, trước ngày Quốc khánh, Chủ tịch Hồ Chí Minh cùng các nhà lãnh đạo Đảng và Nhà nước đều đến Nghĩa trang Mai Dịch (Hà Nội) đặt vòng hoa tưởng niệm anh hùng liệt sĩ. Ngày 1/9/1968 là lần cuối cùng Bác thực hiện nghi thức này và 1/9/1969…

X&N
bee.net.vn

“Giành chính quyền đã khó, giữ chính quyền còn khó hơn”

 -Ngày 20/8/1945, trước lúc rời Tân Trào về Thủ đô, Bác mời một số nhà lãnh đạo như Phạm Văn Đồng, Hoàng Văn Thái… căn dặn: “Bây giờ có chính quyền, chắc các cô, các chú cũng muốn về Hà Nội. Nhưng chưa được đâu. Lênin đã nói: giành chính quyền đã khó, giữ chính quyền còn khó hơn. Bởi vậy một số các cô, các chú còn ở lại địa phương đây, giúp đỡ đồng bào, tổ chức cuộc sống sao cho tươi đẹp hơn, ấm no, văn minh hơn… Biết đâu, chúng ta còn trở lên đây nhờ cậy đồng bào lần nữa?”.

Thực tiễn lịch sử đã diễn ra đúng như những tiên liệu của người đứng đầu nhà nước cách mạng!

Ngày 20/8/1946, tại Paris, Chủ tịch Hồ Chí Minh tiếp nhiều nhà tư bản đáng đầu tư tại Mỏ than Hòn Gai, giám đốc Công ty Điện và Nước Đông Dương. Đồng thời, người đứng đầu nhà nước Việt Nam cũng tiếp tục thuyết phục Bộ trưởng Pháp quốc Hải ngoại Marius Moutet cần phải tiến hành tổ chức trưng cầu dân ý ở Nam Bộ, thành lập cơ quan hỗn hợp Việt-Pháp để tổ chức việc bỏ phiếu, trên nguyên tắc cơ bản là nước Pháp phải công nhận nền độc lập của Việt Nam và Việt Nam bảo đảm những quyền lợi kinh tế và văn hoá của Pháp.

fNgày Tổng khởi nghĩa giành chính quyền ở Hà Nội.

Trong  văn bản “ghi nhớ” được soạn thảo ngay trong ngày, Chủ tịch Hồ Chí Minh nêu rõ: “Vì Việt Nam và Pháp đã từng chịu đựng nhiều đau thương rồi, hai bên cần thiết phải trở lại với công việc. Muốn vậy, hai chính phủ cần phải làm dịu bớt tinh thần dân chúng bằng một hiệp định…Hai dân tộc chúng ta cần hợp tác thân ái với nhau như anh em để bình phục trở lại sau bao nhiêu năm đau khổ…Những lời hứa hẹn chung chung và những bản tuyên bố vô hiệu đều là những lời nói suông và lâu ngày nó sẽ làm nản lòng nhân dân cả hai dân tộc”.

Tháng 8/1962, Bác đến nói chuyện với lớp bồi duỡng cán bộ về công tác Mặt trận và căn dặn: “Chính sách Mặt trận là một chính sách rất quan trọng. Công tác Mặt trận là một công tác rất quan trọng trong toàn bộ công tác cách mạng. Phải đi đường lối quần chúng, không được quan liêu, mệnh lệnh và gò ép nhân dân. Nhiệm vụ của chính quyền dân chủ là phục vụ nhân dân; tổ chức, giáo dục, động viên nhân dân xây dựng cuộc sống mới.

Chúng ta phải thật sự dân chủ với nhân dân và chuyên chính với bọn phản cách mạng, bọn phá hoại lợi ích của nhân dân. Phải thành thực lắng nghe ý kiến của người ngoài Đảng. Cán bộ và đảng viên không đựợc tự cao tự đại, cho mình là tài giỏi hơn mọi người; trái lại, phải học hỏi điều hay điều tốt cuả mọi người. Cuối cùng, Bác thân ái chúc các cô các chú nhiều thắng lợi trong công tác và thực hiện đúng khẩu hiệu: “Đoàn kết, đoàn kết, đại đoàn kết/ Thành công, thành công, đại thành công”.

X&N
bee.net.vn

Ngày 19/8

 – Ngày 19/8/1947, Nhân dịp lần đầu tiên kỷ niệm Cách mạng tháng Tám trong khung cảnh kháng chiến, Chủ tịch Hồ Chí Minh viết “Thư gửi đồng bào toàn quốc” và “Thư gửi đồng bào Việt Bắc”. 

Với đồng bào cả nước, Bác phân tích ích nghĩa lớn lao của sự kiện: “Cách mạng tháng Tám đã giải phóng đồng bào ta ra khỏi chế độ quân chủ chuyên chế và xiềng xích của thực dân… đã xây dựng cho nhân dân ta cái nền tảng Dân chủ Cộng hoà và thống nhất độc lập. Noi gương Cách mạng 1776 của Mỹ, Cách mạng đấu tranh tự chủ chống ngoại xâm. Cũng như Cách mạng 1789 của Pháp, Cách mạng Tháng Tám thực hành lý tưởng: Tự do-Bình đẳng-Bác ái. Theo gót Cách mạng 1911 của Tàu, cách mạng tháng Tám thực hiện chủ nghĩa: Dân tộc, dân quyền, dân sinh”.

dNgày 19/8/1945 ở Hà Nội.

Lá thư cổ vũ: “Nay cuộc trường kỳ kháng chiến phải tiếp tục cái nhiệm vụ vẻ vang của cách mạng tháng Tám: phải làm cho nền Dân chủ Cộng hoà chắc chắn, phải làm cho quyền thống nhất độc lập vững vàng…Chúng ta có cái chí quật cường không núng của dân tộc, chúng ta có sự đoàn kết của toàn dân. Chúng ta có cái lòng hy sinh cảm tử của chiến sĩ ở tiền tuyến. Chúng ta có cái sức nhẫn nại của đồng bào ở hậu phương. Đó là những vũ khí luôn luôn chiến thắng quân thù, không lực lượng nào chiến thắng được những vũ khí đó. Chúng ta dám trả cái giá cho thắng lợi, thì chúng ta nhất định thắng lợi”.

Còn trong thư gửi đồng bào của căn cứ địa cách mạng được phân định hành chính là Khu I (Cao Bằng, Bắc Kạn, Thái Nguyên và Phúc Yên), Bác biểu dương: “Đồng bào Việt Bắc đã có một lịch sử cách mạng rất vẻ vang. Xưa kia cụ Hoàng Hoa Thám và những vị anh hùng khác đã dựng cờ khởi nghĩa chống Pháp suốt mấy mươi năm. Gần đây Việt bắc là căn cứ địa oai hùng của Quân giải phóng để chống Nhật, kháng Pháp. Tên Việt Bắc đã lừng lẫy khắp cả nước, khắp thế giới. Có sự vẻ vang đó là vì toàn thể đồng bào Việt Bắc: Kinh, Thổ, Mán, Nùng, Mèo, v.v…ai cũng yêu nước, ai cũng không chịu làm nô lệ, ai cũng đoàn kết, ai cũng hăng hái ủng hộ cách mạng”.

Cũng trong thời gian này, Bác Hồ còn viết “Thư gửi Nhi đồng toàn quốc” căn dặn: “Việc gì có ích cho kháng chiến, cho Tổ quốc thì các cháu nên gắng sức làm. Làm được bao nhiêu tốt bấy nhiêu. Tuổi các cháu còn nhỏ, thì các cháu làm những công việc nhỏ. Nhiều công việc nhỏ cộng lại thành công việc to. Bác mong các cháu làm việc, học hành, cho xứng đáng là nhi đồng của nước Việt Nam Dân chủ Cộng Hòa, thống nhất và độc lập”. 

Ngày 19/8/1948, trong lời kêu gọi nhân ngày kỷ niệm Cách mạng tháng Tám, Bác nhắc lại tinh thần:“Noi gương Cách mạng 1776 của Mỹ cũng như Cách mạng 1789 của Pháp, theo gót Cách mạng 1911 của Tàu, nay cuộc trường kỳ kháng chiến phải tiếp tục cái nhiệm vụ vẻ vang của Cách mạng tháng Tám”.

Ngày 19/8/1949, trong “Lời kêu gọi nhân dịp kỷ niệm cách mạng tháng Tám và Ngày Độc lập 2/9”, Bác viết: “Nước ta vừa độc lập được 5 năm, đã 5 năm nhân dân ta kháng chiến. Chúng ta quyết hy sinh cực khổ để cho nước nhà độc lập, thống nhất và con cháu ta được hưởng tự do, hạnh phúc muôn nghìn đời về sau”.

Còn trong “Thư gửi các cháu nhi đồng”, bác Hồ nêu rõ: “Ngày nay, người lớn kháng chiến để tranh độc lập thì mai sau các cháu phải giữ vững nền độc lập của ta. Vì vậy, các cháu phải cố gắng thi đua học tập và làm việc hơn nữa”.

Cùng ngày, trong bài báo “Thất bại và Thành công”, dưới bút danh “Lê Nhân”, Bác khẳng định cái nguyên lý: “Cán bộ được dân tin, dân phục, dân yêu, thì việc gì cũng thành công”..

X&N
bee.net.vn

Thư kêu gọi Tổng khởi nghĩa

 – Ngày 18/8/1945, trước tình thế cách mạng đã cấp bách Chủ tịch Hồ Chí Minh viết “Thư kêu gọi Tổng khởi nghĩa” nhắc lại “Bốn năm trước đây (1941), tôi có thư kêu gọi đồng bào ta đoàn kết. Vì có đoàn kết mới có lực lượng, có lực lượng mới giành được Độc lập, Tự do…Vừa đây, Việt Minh lại triệu tập Việt Nam Quốc dân đại biểu Đại hội bầu ra Uỷ ban Dân tộc Giải phóng Việt Nam để lãnh đạo toàn quốc nhân dân kiên quyết đấu tranh cho nước được độc lập… Uỷ ban Dân tộc Giải phóng Việt Nam cũng như Chính phủ Lâm thời của ta lúc này.

Hãy đoàn kết chúng quanh nó, làm cho chính sách và mệnh lệnh của nó được thi hành khắp nước. Như vậy thì Tổ quốc ta nhất định mau được độc lập, dân tộc ta nhất định mau được tự do. Hỡi đồng bào yêu quý! Giờ quyết định cho vận mệnh dân tộc ta đã đến. Toàn quốc đồng bào hãy đứng dậy đem sức ta mà tự giải phóng cho ta. Nhiều dân tộc bị áp bức trên thế giới đang ganh nhau tiến bước giành quyền độc lập. Chúng ta không thể chậm trễ. Tiến lên! Tiến lên! Dưới lá cờ Việt Minh, đồng bào hãy dũng cảm tiến lên!” 

fKhông khí Tổng khởi nghĩa ở Hà Nội hưởng ứng lời kêu gọi của Bác.

Cùng ngày 18/8/1945 thông qua cơ quan tình báo Chiến lược của Mỹ OSS, Chủ tịch Uỷ ban Giải phóng Dân tộc Hồ Chí Minh gửi thông điệp đến Chính phủ Pháp với đề nghị 5 điểm nhằm xác lập quan hệ Việt Pháp sau khi Nhật đầu hàng Đồng Minh: “1. Chính phủ Pháp công nhận Chính phủ Việt Minh; 2.Việt Minh công nhận quyền của Pháp trong vòng từ 5 đến 10 năm, sau đó Chính phủ Pháp trao trả độc lập cho Việt Nam; 3. Trong 10-19 năm sau đó, Việt Nam hưởng quyền tự trị đối nội; 4. Chính phủ Pháp hưởng quyền ưu đãi trong kỹ nghệ và thương mại ở Việt Nam;  5. Người Pháp có thể làm cố vấn về ngoại giao”.

Cũng với phương thức này Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi thông điệp cho các nước Đông Minh.

Cũng vào thời điểm này, Chủ tịch Hồ Chí Minh viết thư cho Charles Fenn, sĩ quan OSS ở Côn Minh (Trung Quốc) người đã chắp nối quan hệ với người đứng đầu quân Đồng Minh ở vùng Hoa Nam, trong thư viết: “Chiến tranh đã kết thúc. Đây là điều tốt cho mọi người…Chiến tranh đã kết thúc thắng lợi. Nhưng chúng tôi, những nước nhỏ và phụ thuộc, không có phần đóng góp hoặc đóng góp rất ít vào thắng lợi của tự do, của dân chủ. Nếu muốn đóng góp một phần xứng đáng, chúng tôi phải tiếp tục chiến đấu. Tôi tin rằng Ông và nhân dân Mỹ vĩ đại sẽ luôn ủng hộ chúng tôi. Tôi cũng tin rằng sớm hay muộn chúng tôi cũng sẽ đạt được mục đích của mình. Mục đích đó là chính nghĩa. Và đất nước chúng tôi sẽ độc lập. Tôi trông chờ ngày hạnh phúc sẽ được gặp ông và những người bạn Mỹ của chúng ta ở Đông Dương hay trên đất Mỹ”.

Trong thư gửi cho người báo vụ viên OSS Frank Tan với nội dung tương tự, Hồ Chí Minh còn viết: “Ngày mai tươi sáng chúng ta sẽ gặp nhau, chúng ta trông chờ ngày đó”.

X&N
bee.net.vn