Tag Archive | Phóng sự – Ký sự

Ký ức đón Tết bên Bác Hồ của người cảnh vệ già

(Nguoiduatin.vn) – Thật bất ngờ khi chúng tôi gặp lại đại tá Nguyễn Hữu Trực (ở thôn Giữa, xã Nghĩa Hưng, huyện Lạng Giang, tỉnh Bắc Giang). Cuộc sống, con người của đại tá vẫn “không thể giản dị hơn” như chính tính cách và con người ông.

Trong quá trình trò chuyện, tôi luôn cảm nhận được sự xúc động, tôn kính của đại tá mỗi khi nói về Bác và luôn gần gũi như thể ông vẫn đang là người vinh dự được phục vụ Bác vậy. Và trong không khí tết đang đến gần, kỷ niệm những cái tết được ở bên Bác lại sống động hơn cả.

“Thấm và ngấm” phong cách của Bác

Đại tá Trực sinh năm 1932 trong một gia đình bình thường như bao gia đình khác ở vùng quê bán sơn địa. Năm 18 tuổi (năm 1950), ông tham gia lực lượng Thanh niên xung phong và từng đi phục vụ Chiến dịch biên giới ở Tây Bắc, sau đó là các chiến dịch Trần Hưng Đạo, Hoàng Hoa Thám.

Đại tá Trực hiện nay

 Đại tá Trực kể: “Nhiệt huyết tham gia đánh đuổi thực dân, đế quốc, phát xít xâm lược của thanh niên ngày ấy luôn sục sôi. Song, khi đã được tham gia vào chiến dịch lớn, tôi vẫn bồi hồi, thoáng chút lo lắng với suy nghĩ, mình sẽ đóng góp phần việc nhỏ bé như thế nào?”.

Vì hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao, tháng 2/1955, ông Trực chính thức được nhận vào công tác tại ngành công an và tham gia một khoá huấn luyện nghiệp vụ. Theo đại tá Trực, đây là khoá huấn luyện rất lạ, thú vị đối với một thanh niên mới lớn như ông. Thời điểm đó, ông không biết rằng  được huấn luyện như vậy thì sẽ được phân công làm công tác gì? ông cùng một số anh em cứ âm thầm học, tập luyện, vậy thôi. Những tình huống, những giả định như thật trong bài tập nghiệp vụ đã cho ông cái nhìn lạc quan cũng như rất rõ ràng về công việc trước mắt cũng như sau này của người chiến sỹ công an.

Đại tá Trực kể: “Khi biết mình có tên trong danh sách được cùng với đội cảnh vệ tháp tùng Bác Hồ đi viếng nghĩa trang liệt sỹ vào ngày 2/9/1955 – ngày Quốc khánh lần thứ 10 thì tôi đã định nhảy và hét lên vì sung sướng. Song cảm xúc đó đã được kìm nén lại, đúng như những gì tôi được huấn luyện trước đó. Và trong suy nghĩ của tôi lúc đó xuất hiện chữ vinh dự kèm với trách nhiệm”.

Sau lần đó, ông được điều về làm cảnh vệ vòng ngoài của Phủ Chủ tịch. “Có nghĩa là được nhìn thấy Bác thường xuyên hơn, được thấy dáng Người hàng sáng tập thể dục, cho cá ăn, chăm sóc cây, nâng niu trái quả, ngồi trầm tư… Những cử chỉ, lời nói, việc làm đơn giản, bình dị, thường ngày đó cứ thấm, ngấm dần vào tính cách, cuộc sống của những chiến sỹ bảo vệ, phục vụ Bác như chúng tôi…” – vị đại tá già nhớ lại.

Qua tìm hiểu, tôi rất tâm đắc lời đại tá Trực nói về cái sự “thấm và ngấm” ấy. Hiện tại, cuộc sống của đại tá Trực cũng rất bình dị. Cả 5 người con của ông đã trưởng thành và ra ở riêng, hàng ngày ông vui với ngôi nhà nhỏ, đầy cây xanh và ao cá. Dù tuổi đã thượng thọ nhưng ông vẫn thích lội ao, vớt cái bèo, cho con cá ăn, quét dọn vườn tược, tỉa cây… Và có một thói quen ông chưa bao giờ không làm, đó là sáng sáng dậy tập thể dục và nghe chim hót.

“Các chú lại bố trí rồi!”

Đại tá Trực kể: “Trong sự nghiệp, tôi có 5 năm là bảo vệ và 2 năm được trực tiếp phục vụ Bác Hồ. Tất cả những gì liên quan đến 7 năm này là ký ức tôi không thể quên. Trong rất nhiều những sự kiện diễn ra trong thời gian đó, có những sự kiện là dấu ấn quan trọng.

Tháng 6/1957, lần đầu tiên Bác trở về thăm lại quê Nghệ An. Bác đã đau đáu mong chờ chuyến trở về quê sau bao năm bôn ba tìm đường cứu nước. Lần đó, tôi được tham gia bảo vệ Bác. Cũng năm đó, tôi được kết nạp Đảng. Kết nạp Đảng xong, tôi được ông Vũ Kỳ phân công nhiệm vụ là trực tiếp bảo vệ Bác trong Phủ Chủ tịch. Cảm xúc lúc nhận nhiệm vụ mới lạ lắm, vinh dự xen lẫn mơ hồ trong thoáng qua của sự lo lắng. Lúc đó, tôi hiểu nghiệp vụ mà mình được huấn luyện, luyện tập bắt đầu phải ứng dụng tối đa trong sự sáng tạo của cái chuẩn đến từng chi tiết nhỏ nhất”.

Theo Đại tá Trực, bảo vệ Bác trong Phủ Chủ tịch là việc thường ngày nhưng bảo vệ Bác ra ngoài thì phức tạp hơn nhiều. Khi ra khỏi Phủ Chủ tịch,  Bác luôn muốn tận mắt nhìn thấy mọi thứ, trực tiếp tiếp xúc, hỏi han mọi người. Phần lớn những sự bố trí của cảnh vệ đều bị Bác phát hiện và thay đổi lịch trình.

Lực lượng cảnh vệ đang hộ tống một đoàn đại biểu

Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ III thành công tốt đẹp, Bác muốn đi thăm bà con nông dân, muốn trực tiếp ngắm nhìn đồng lúa, nhìn bà con nông dân gặt lúa. Cánh đồng lúa ở khu vực tỉnh Hà Tây (cũ) được bố trí để đưa Bác đến thăm nhưng khi phát hiện ra, Bác đã yêu cầu lái xe tiếp tục chạy mà không dừng lại nơi cảnh vệ đã bố trí trước. Bác còn nói vui nhưng chứa đựng sự phê bình rằng: “Các chú lại bố trí rồi”!. Cả đoàn lo lắng nhưng Bác bình thản và vui lắm.

Xe chạy đến cánh đồng lúa ở huyện Đan Phượng, thấy nhiều bà con đang gặt lúa, nói chuyện rộn ràng, khuôn mặt ai cũng tươi rói vì mùa vụ bội thu, Bác yêu cầu dừng xe. Bác xuống xe, xuống ruộng, đến hỏi han người nông dân đang gặt lúa. Nhận ra Bác, mọi người đều vui, xúc động. Bác vui, người nông dân xúc động còn cảnh vệ và phục vụ như Đại tá Trực thì lo lắng…

Sau 7 năm vinh dự được phục vụ Bác, năm 1962, đại tá Trực đi học nghiệp vụ ở Liên Xô (cũ), rồi về làm giảng viên Học viện An ninh. Năm 1976, Đại tá được cử về giảng dạy tại Trường Đào tạo cán bộ cho nước bạn Lào.

Năm 1990, nghỉ hưu với quân hàm đại tá. Đại tá được Đảng và Nhà nước tặng thưởng Huân chương kháng chiến hạng nhất, Huân chương chiến công hạng nhất, và Huân chương tự do hạng nhì của nước bạn Lào.

Đại tá Trực thừa nhận: Bác ra ngoại ô, thăm nông dân, trẻ em, trí thức… phương án tác chiến của cảnh vệ, phục vụ nhẹ nhàng hơn. Bác đi thăm những nơi công cộng, chợ… quả thật, anh em cảnh vệ phải linh hoạt đến tối đa có thể. Cụ thể, chiều 30 Tết năm 1960, Bác quyết định đi thăm chợ Đồng Xuân xem bà con tiểu thương buôn bán, đồng bào mua hàng, sắm Tết thế nào. Kế hoạch của cảnh vệ đề xuất là có người sẽ đến giúp Bác cải trang nhưng Bác không đồng ý. Bác tự mặc áo bông, đội mũ và quàng khăn che bộ râu rồi đi. Bác đến khắp các dãy hàng trong chợ, qua từng cửa hàng, đứng nhìn, ngắm, thậm chí hỏi mua hàng thế mà không ai nhận ra Bác.

Khi đi đến dãy hàng cuối cùng của chợ, có một cháu thiếu niên theo mẹ đi chợ, nhận ra Bác. Có lẽ do bất ngờ và sung sướng nên cháu chỉ kịp thốt lên lời “A… Bác Hồ! “thì rất may cảnh vệ kịp phát hiện và yêu cầu giữ im lặng. Bác không biết chi tiết đó vẫn vừa đi vừa nhìn đồng bào mua sắm rồi đi thẳng ra xe. Trong những chuyến đi công tác, Bác thường đến thăm người lao động, thiếu niên, nhi đồng, thăm nơi họ làm việc, sinh hoạt trước khi đến trụ sở chính quyền, nhà máy. Bác muốn biết tình hình làm việc, sinh sống của đồng bào trước khi làm việc với chính quyền, với lãnh đạo nhà máy. Đặc biệt, Bác luôn ăn, ở, sinh hoạt cùng đội ngũ cán bộ đi cùng trong những chuyến công tác dài ngày và với tác phong giản dị, tiết kiệm…

“Được Bác quý mến, dạy bảo, uốn nắn… là phần thưởng lớn của anh em cảnh vệ và đội ngũ phục vụ” – Đại tá Trực bày tỏ. Vào ngày nghỉ, Bác luôn tổ chức và trực tiếp cùng cảnh vệ, đội ngũ phục vụ xem phim hoặc ngồi chơi trò gì đó. Có thể là đố vui; có thể là hỏi kiến thức địa lý, lịch sử; có thể là đặc tính của cây; của con cá… Rất vui và chứa đựng ý nghĩa giáo dục rất dễ nhớ. Ngày lễ, ngày Tết, Bác hầu như vẫn làm việc, vẫn tiếp khách, nhất là khách quốc tế vào dịp tết cổ truyền nên cảnh vệ, người phục vụ vẫn phân công thay nhau trực.

Vũ Hoàng Quế Ngân

nguoiduatin.vn

Gặp lại người tham gia xây dựng lăng Bác Hồ năm xưa

ANTĐ – Ngày 2/9/1969, Bác Hồ đột ngột ra đi để lại muôn vàn thương nhớ cho hàng triệu trái tim đồng bào cả nước. Những người con đất Việt nghẹn ngào nhớ thương vị Cha già của dân tộc đã vĩnh viễn đi xa

Nhiệm vụ thiêng liêng

Sau khi Bác Hồ vĩnh viễn ra đi, cả dân tộc Việt Nam quyết tâm “biến đau thương thành hành động cách mạng”, ra sức đánh Mỹ giải để phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước. Trong khí thế sục sôi đó, ở miền Bắc những kỹ sư người Việt Nam, kỹ sư Liên Xô cùng với hàng ngàn quân dân cũng đồng thời được huy động để xây dựng công trình lăng Bác Hồ.

Mỗi tỉnh thành lúc ấy đều cử người về Thủ đô để tham gia xây dựng lăng mộ Người. Huyện Vĩnh Linh, tỉnh Quảng Trị lúc ấy cũng được vinh dự cử người ra Bắc tham gia công trường xây dựng. Những người được ưu tiên chọn đi là người có thành tích chiến đấu tại địa phương, có đạo đức và sức khỏe tốt. Và 6 người thay mặt toàn thể quân dân “đất thép Vĩnh Linh” gồm các đồng chí: Lê Văn Bình (xã Vĩnh Giang); Nguyễn Thanh Tự (xã Vĩnh Lâm); Nguyễn Văn Thái (xã Vĩnh Trung); Lê Hữu Nam (xã Vĩnh Tú); Nguyễn Đức Sà (xã Vĩnh Long); Nguyễn Kim Sắc (xã Vĩnh Kim) ra thủ đô Hà Nội tham gia xây dựng lăng Bác Hồ.

Ông Bình và bà Hiên những năm tham gia xây dựng lăng Bác Hồ

Sau khi biết được những dòng tin khá mù mờ về những người cựu binh từng tham gia xây dựng lăng Bác Hồ năm xưa, chúng tôi quyết định lần tìm về Vĩnh Linh. Dò hỏi nhiều lần, cuối cùng chúng tôi cũng tìm được nhà ông Lê Văn Bình, người đội trưởng của những thanh niên Vĩnh Linh năm xưa tham gia xây dựng lăng của Người.

Căn nhà mái ngói đã ngả màu nắng mưa của gia đình ông Bình nằm khuất sau một ngõ xóm tại đội 7, thôn Cổ Mỹ, xã Vĩnh Giang. Khi chúng tôi đến, ông đang ngồi chẻ lạt cắt (lạt để bó lúa) dưới gốc cây na, còn giữa sân, bà Trần Thị Hiên (58 tuổi, quê Nam Định), vợ ông đang tranh thủ trời nắng trở lúa. Ông bà cho biết, đang là mùa gặt nên tranh thủ giúp con cháu chẻ lạt, phơi lúa. Nở nụ cười tươi, ông Bình rót nước chè mời khách. Sau dăm ba lời thăm hỏi, cuối cùng ông Bình cũng biết chúng tôi có ý trò chuyện với ông về những ngày ông cùng 5 thanh niên Vĩnh Linh ra thủ đô góp sức xây lăng Bác Hồ.

Ông Bình năm nay 67 tuổi, tóc đã bạc trắng nhưng vẫn còn khỏe mạnh và rất minh mẫn. Nhấp ngụm nước chè, ông Bình kể: “Hồi nớ tui và 5 anh em khác gồm anh Tự, Thái, Nam, Sà, Sắc cùng ở Vĩnh Linh bất ngờ được cấp trên điều ra thủ đô Hà Nội. Ban đầu tui và anh em không biết được điều ra đó làm chi, chỉ nghe nói là đi nhận công tác đặc biệt. Sau đó, tui được cho biết riêng là ra tham gia xây dựng lăng cho Bác Hồ”. Dường như vẫn chưa hết xúc động nhớ lại kỷ niệm đã qua 35 năm, ông bồi hồi cho biết thêm: “Lúc ấy biết mình được giao trọng trách ra tham gia góp sức xây dựng công trình thiêng liêng vậy nên tui đã không cầm được nước mắt, thấy lòng mình xúc động và tự hào lắm”.

Ông Lê Thanh Bình đang kể chuyện xây dựng lăng Bác năm xưa

Trong nhóm 6 thanh niên Vĩnh Linh được điều ra Hà Nội vào tháng 4/1973, ông Bình được phân về làm tại tổ tiếp nhận vật tư xây dựng như cát sạn, xi măng đồng thời quản lý một chiếc xe ủi. Ông Thái được phân làm thống kê công trường còn lại 4 người khác được phân vào tổ bê tông. Xác định lăng Bác là công trình cực kì quan trọng, có một không hai và rất đỗi thiêng liêng, và điều quan trọng là phải thi công trong thời gian nhanh nhất để sớm đưa thi hài của Bác Hồ vào an nghỉ nên toàn bộ khoảng 4.000 cán bộ, công nhân, kỹ sư tham gia công trình lúc ấy không ai bảo ai đều nguyện cố gắng hết sức mình. Xác định là làm gấp rút nhưng ai cũng cố gắng phải thi công công trình đảm bảo tuyệt đối an toàn, vĩnh cửu. Lúc ấy toàn bộ công nhân được huy động làm 24/24 giờ.

Ông Bình được phân về ở gần ngay sát căn nhà sàn mà Bác Hồ vẫn thường làm việc lúc còn sống trong Phủ Chủ tịch. “Mỗi lúc có dịp đi ngang qua căn nhà sàn đơn sơ, hay ngắm đàn cá trong ao mà Bác thường chăm bẵm anh em tui ai cũng trào nước mắt. Mỗi lúc như vậy anh em tui nắm chặt tay nhau quyết tâm cố gắng hoàn thành nhiệm vụ thiêng liêng”. Ông Bình cũng bồi hồi xúc động cho biết có lần Cố Tổng Bí thư Lê Duẩn nắm tay từng anh em người Quảng Trị căn dặn phải cố gắng khắc phục mọi khó khăn hoàn thành nhiệm vụ. Cùng với anh em cả nước, những thanh niên Vĩnh Linh lúc ấy hăng hái làm việc với quyết tâm cao nhất để báo công lên Bác Hồ.

Cưới vợ tại công trường

Có một câu chuyện mà sau một hồi trò chuyện thật lâu ông Lê Văn Bình mới cười tủm tỉm, cho biết: “Tui đã cưới được vợ cũng từ công trường xây dựng lăng Bác Hồ đó. Đó là kỷ niệm không bao giờ vợ chồng tui quên”. Vừa lúc ấy, bà Hiên vừa trở lúa đi vào mắng yêu ông Bình bằng chất giọng Bắc đặc sệt “Chuyện lâu rồi ông kể làm gì cho các cháu nó ngại”. Vừa nói bà vừa cười rạng ngời kéo ghế ngồi xích lại bên ông. Mấy đứa cháu ngoại cũng xúm xít sà vào lòng ông bà làm nũng.

Ông bà nói mối tình của mình là mối tình Trung- Bắc keo sơn. Ấy là khi đó ông làm ở tổ tiếp nhận vật tư nên công việc có phần nhàn nhã. Bà Hiên lúc ấy cũng là công nhân vận hành máy trộn bê tông trên dàn cao tại công trường xây dựng lăng Bác. Nhiều lần ông tìm cách trèo lên dàn trộn bê tông phụ giúp bà. Từ những lần như vậy, hai người đã quen nhau và càng trở nên thân thiết. Từ hai người xa lạ, cùng được điều về làm nhiệm vụ thiêng liêng, chàng trai miền Trung khói lửa, kiên trung đã đem lòng cô gái miền Bắc đảm đang, nết na lúc nào không hay.

Và rồi sau một thời gian tìm hiểu bà cũng chấp nhận tình yêu của chàng trai quê “lũy thép Vĩnh Linh”. Bà Hiên với mái tóc màu muối tiêu đã cắt ngắn, cho biết: “Cũng vì thương và cảm kích tấm lòng chân thật của ông ấy nên cuối cùng tui đã chấp nhận yêu và cưới ông ấy”. Ngồi bên vợ, ông Bình cười rổn rảng cho biết vì thấy bà đẹp người, đẹp nết nên đã để ý và yêu thầm bà từ những lần đầu gặp nhau.

Vợ chồng ông Lê Thanh Bình

Và kết quả mối tình của ông bà lúc ấy đã đơm hoa kết trái bằng một đám cưới đơn sơ mà ấm áp được tổ chức ngay tại công trường vào tháng 6/1974. Nghe tin ông bà đám cưới, hầu hết công nhân đang tham gia xây dựng ở công trường đều gửi lời chúc phúc, người nào được nghỉ ca thì tham dự đám cưới của ông bà. “Nói là tổ chức đám cưới vậy thôi, chứ hai ông bà tui lúc đó có chi mô. Thuốc lá Tam Đảo thì anh em trong công trường ủng hộ mỗi người một ít, bánh kẹo cũng vậy, hoa bát (hoa tươi cắm trong chiếc bát ăn cơm) cũng tranh thủ chuẩn bị lúc nghỉ ca. Vợ tui thì chỉ ôm một bó hoa huệ trắng xúng xính bên tui trong ngày hạnh phúc. Thế là nên tình vợ chồng đó cháu”, đôi mắt đã hằn nếp nhăn của ông Bình ánh lên niềm vui, kể.

Ông Bình, bà Hiên bảo rằng dù đám cưới đơn sơ vậy nhưng đó có lẽ là kỷ niệm lớn nhất đời ông bà, không bao giờ quên. Và có một niềm vinh dự nữa tại thời điểm xây dựng công trình lăng Bác Hồ là trong số 3 người được kết nạp Đảng  thì 2 trong số đó là người Vĩnh Linh (gồm anh Tự và anh Sà).

Vợ chồng ông Bình bên các cháu của mình

Vào tháng 10/1975 những thanh niên Vĩnh Linh tham gia xây dựng lăng Bác cũng hoàn thành nhiệm vụ thiêng liêng và trở về quê nhà. “Hàng năm vào mỗi ngày Sinh nhật Bác 19/5, 6 anh em tui thường tổ chức một buổi gặp mặt tại nhà tui để anh em có dịp gặp nhau hàn huyên chuyện xưa. Nhưng đã mấy năm nay nhóm 6 người chúng tôi chỉ còn 5, vì ông Sắc đã mất do tai nạn”, giọng ông Bình vừa chợt chùng xuống. Ông Bình cũng cho biết, hiện tại đời sống của ông và các anh em khác cũng khá khó khăn. “Vợ chồng tui ao ước được một lần đặt chân ra Hà Nội viếng lăng Bác. Từ ngày tham gia xây dựng lăng Bác đến giờ vợ chồng tui vẫn chưa có dịp trở lại tại vì điều kiện khó khăn quá”, ông bà bồi hồi cho biết.

35 năm sau ngày lăng Bác hoàn thành, những thanh niên Vĩnh Linh từng tham gia xây dựng ngày ấy bây giờ có người đã mất, có người thành đạt, có người vẫn làm nông dân, có người gắn bó với đời ngư dân nhưng mỗi lúc nhắc về nhiệm vụ thiêng liêng đó họ lại cùng dâng niềm xúc động khó tả. Với họ, nhiệm vụ thiêng liêng đó sẽ là một phần ký ức đẹp trong đời của mỗi người lính Cụ Hồ ngày ấy.

Thiên Thư

anninhthudo.vn