Tag Archive | Văn hóa – Xã hội

Nhận thức rõ để hành động tốt hơn theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh

Tổng kết 4 năm Cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh” không chỉ là dịp để chúng ta thống nhất đánh giá kết quả bước đầu sau gần 4 năm thực hiện Cuộc vận động, mà còn khẳng định thành tích, ưu điểm, chỉ rõ các hạn chế, thiếu sót và rút ra nhiều kinh nghiệm thiết thực cho những năm tiếp theo.

Bacho-GD-v11-1_53634074467037146059.jpgBác Hồ người Việt Nam đẹp nhất. Ảnh: Tuấn Anh

Triển khai Cuộc vận động là một quyết định đúng đắn, cần thiết; là sự tương hợp hài hòa giữa ý Đảng và lòng dân

Cách đây hơn 4 năm, tại Lễ kỷ niệm trọng thể 77 năm Ngày thành lập Đảng, Đảng ta đã phát động toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta tiến hành Cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”. Hôm nay, nhìn lại, chúng ta đã có thể khẳng định: đó là một quyết định đúng đắn, cần thiết; là sự tương hợp hài hòa giữa ý Đảng và lòng dân; thể hiện tình cảm kính trọng, biết ơn sâu sắc của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta đối với Bác Hồ muôn vàn kính yêu; nguyện kế thừa, phát huy di sản tư tưởng và tấm gương đạo đức vô giá mà Người để lại.

Cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh” mà chúng ta tiến hành trong 4 năm qua đã trở thành đợt sinh hoạt chính trị sâu rộng trong các tổ chức đảng, các cấp chính quyền, các ban, bộ, ngành, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các đoàn thể từ Trung ương đến các địa phương và toàn xã hội. Qua mỗi năm, Cuộc vận động có một chủ đề thiết thực, nội dung phong phú, bổ ích. Chúng ta đã thành lập và từng bước kiện toàn Ban chỉ đạo Cuộc vận động ở các cấp; xây dựng quy chế, chương trình, kế hoạch thực hiện cho toàn khóa và từng năm; hướng dẫn và cụ thể hóa các chuẩn mực hành động theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh với 5 nội dung chủ yếu.

Ban chỉ đạo các cấp ngay từ đầu đã coi trọng công tác tuyên truyền, vận động việc học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh qua các hội thi kể chuyện về tấm gương đạo đức của Người, qua các tác phẩm, các lời dạy, đặc biệt là qua rất nhiều việc làm bình dị mà cao đẹp của Người, làm nổi bật tư tưởng và tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh về “cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư”; “nâng cao đạo đức cách mạng, quét sạch chủ nghĩa cá nhân”; “sửa đổi lối làm việc”; “nâng cao ý thức trách nhiệm, hết lòng, hết sức phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân”; xây dựng Đảng ta thật sự trong sạch, vững mạnh, “là đạo đức, là văn minh”. Chúng ta đã tiến hành kiểm điểm 40 năm thực hiện Di chúc thiêng liêng của Người, đẩy mạnh phong trào thực hành tiết kiệm, phòng, chống tham nhũng, lãng phí, quan liêu; ngăn chặn, đẩy lùi suy thoái đạo đức và tiêu cực xã hội. Trong chỉ đạo, chúng ta đã gắn nội dung Cuộc vận động với việc thực hiện nhiệm vụ chính trị của đất nước, của mỗi ban, bộ, ngành, đoàn thể, địa phương, góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế – xã hội, giữ vững ổn định chính trị, củng cố quốc phòng, an ninh, tăng cường hoạt động đối ngoại phục vụ cho sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và hội nhập quốc tế.

BacHo.jpgTư tưởng, tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh muôn đời tỏa sáng. Ảnh: Tuấn Anh

Cuộc vận động sáng tác, quảng bá tác phẩm văn học, nghệ thuật, báo chí về chủ đề “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh” mà Ban Chỉ đạo Trung ương và các tỉnh, thành phố phát động đã nhận được sự hưởng ứng tự giác và sâu rộng của hàng vạn nhà văn, nhà báo, nghệ sĩ và những cây bút không chuyên. Chúng ta đã chú ý đúng mức tính đặc thù của các vùng, miền, các tôn giáo, dân tộc, các lứa tuổi; quan tâm đến nội dung “làm theo”; coi trọng việc phát hiện, biểu dương, cổ vũ, nhân rộng các tập thể, cá nhân gương mẫu, có thành tích xuất sắc trong thực hiện Cuộc vận động; tổ chức tốt các cuộc gặp mặt, giao lưu, tọa đàm, khen thưởng các điển hình tiên tiến; đưa nội dung “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh” vào chương trình giáo dục trong các nhà trường; đưa Cuộc vận động lan tỏa trong cán bộ, đảng viên, đoàn viên đang công tác, học tập ở nước ngoài và trong cộng đồng người Việt Nam sống xa Tổ quốc.

Qua 4 năm thực hiện Cuộc vận động, cán bộ, đảng viên và các tầng lớp nhân dân nhận thức sâu sắc hơn về tư tưởng và tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh; về vị trí, vai trò của đạo đức đối với sự phát triển của mỗi cá nhân, gia đình và xã hội; nhận rõ đạo đức là “gốc” mỗi con người, nhất là người cách mạng, từ đó nâng cao ý thức thường xuyên trau dồi, rèn luyện bản thân để cái gốc đó ngày một tươi tốt, vững bền. Cuộc vận động đã góp phần vào công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng; nâng cao phẩm chất, năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của tổ chức cơ sở đảng; ý thức và thái độ phục vụ của đội ngũ cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức; tăng cường mối quan hệ máu thịt giữa Đảng với nhân dân. Nội dung “cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư”, chống lãng phí, tham ô, chống thói quan liêu, vô trách nhiệm được nhiều cơ quan, đơn vị, địa phương thực hiện có hiệu quả. Qua thực hiện Cuộc vận động, công tác kiểm tra đảng, thanh tra nhà nước, bảo vệ pháp luật được đẩy mạnh, chúng ta đã phát hiện và xử lý kiên quyết, nghiêm minh các tập thể, cá nhân sai phạm.

Cuộc vận động lớn này đã gắn kết chặt chẽ với phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa”; phong trào chăm sóc, giúp đỡ gia đình liệt sĩ, thương binh, gia đình chính sách; xây dựng nhà tình nghĩa, Quỹ “Vì người nghèo”; các đợt quyên góp, giúp đỡ đồng bào bị lũ lụt, cuộc vận động “Người Việt Nam ưu tiên dùng hàng Việt Nam”; ủng hộ nạn nhân chất độc da cam; xây dựng Quỹ “Trái tim cho em”, Quỹ “Tấm lòng vàng”, Quỹ “Tấm lòng Việt”; hỗ trợ những người mắc bệnh hiểm nghèo… và nhiều phong trào, việc làm bổ ích khác.

Trong 4 năm qua, từ tác động tích cực của Cuộc vận động, công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng, xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của dân, do dân, vì dân được đẩy mạnh. Cải cách thủ tục hành chính có tiến bộ. Tinh thần, thái độ phục vụ nhân dân của đội ngũ cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức có một số chuyển biến. Điều lệ, nghị quyết của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, Quy chế Dân chủ ở cơ sở được thực hiện nghiêm túc hơn.

Trong bối cảnh cuộc khủng hoảng tài chính và suy giảm kinh tế thế giới tác động không thuận đến nước ta; ở trong nước, thiên tai, dịch bệnh xảy ra trên diện rộng, gây hậu quả nặng nề…, việc triển khai nghiêm túc chủ đề, nội dung của Cuộc vận động đã giúp các cấp, các ngành, địa phương, đơn vị có thêm động lực để thực hiện chủ trương, nghị quyết của Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, của Quốc hội và Chính phủ về triển khai các nhóm giải pháp ngăn chặn suy giảm kinh tế, duy trì tăng trưởng ở mức hợp lý, phòng ngừa lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô, bảo đảm an sinh xã hội.

Những thành tựu đạt được của đất nước, của mỗi ngành, địa phương, cơ quan, đơn vị trong 4 năm qua, có sự đóng góp quan trọng của Cuộc vận động. Đây là một thực tế, một điều cần được khẳng định. Tuy không thể thống kê, lượng hóa đầy đủ kết quả của Cuộc vận động, song xét trên tổng thể, những chuyển biến tiến bộ từ mỗi người, mỗi cơ quan, đơn vị đến sự phát triển chung của các ngành, các lĩnh vực và cả nước đã nói lên giá trị to lớn và hiệu quả thiết thực của Cuộc vận động trong sự nghiệp cách mạng của dân tộc ta.

Cần có sự vào cuộc hơn nữa của cả hệ thống chính trị và toàn dân, toàn xã hội

Bên cạnh nỗ lực và thành tích quan trọng ban đầu, quá trình thực hiện Cuộc vận động trong 4 năm qua cũng bộc lộ một số hạn chế, thiếu sót cần khắc phục. Một số nơi chưa quan tâm đúng mức đến việc quán triệt mục đích, yêu cầu, ý nghĩa, nội dung và tầm quan trọng của Cuộc vận động, chưa tạo được sự thống nhất cao trong nhận thức, hành động của cán bộ, đảng viên và nhân dân. Việc xây dựng chương trình, kế hoạch và hướng dẫn thực hiện Cuộc vận động của ban chỉ đạo các cấp có lúc, có nơi, có việc còn lúng túng, bị động. Sự phối hợp giữa một số ban, ngành, đoàn thể, địa phương, đơn vị chưa nhịp nhàng, hiệu quả chưa cao. Công tác lãnh đạo, chỉ đạo trên một số việc chưa sát hợp và kịp thời. Một bộ phận cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức kể cả cán bộ chủ chốt, còn thiếu tự giác, chưa gương mẫu trong việc thực hiện Cuộc vận động. Sự gắn kết, lồng ghép nội dung Cuộc vận động với thực hiện nhiệm vụ chính trị của ngành, địa phương, đơn vị ở một số nơi chưa tốt, chưa huy động được sức mạnh cả hệ thống chính trị hăng hái tham gia. Sự phối hợp giữa công tác tuyên giáo, công tác tổ chức – cán bộ, công tác kiểm tra, thanh tra, giám sát, thi đua, khen thưởng… chưa chặt chẽ, liên tục. Công tác tuyên truyền về Cuộc vận động còn có những hạn chế; nội dung, hình thức chưa thật phong phú, lôi cuốn.

Qua 4 năm thực hiện Cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”, chúng ta có thể rút ra một số kinh nghiệm thiết thực:

Trước hết, phải tạo được sự thống nhất cao về nhận thức tư tưởng và hành động trong toàn Đảng, toàn dân, toàn quân về ý nghĩa, tầm quan trọng, tác dụng to lớn, nhiều mặt của Cuộc vận động. Sự lãnh đạo, chỉ đạo của cấp uỷ, đặc biệt là vai trò, trách nhiệm, tính gương mẫu của người đứng đầu các cơ quan, đơn vị là yếu tố vô cùng quan trọng, có ý nghĩa quyết định trong việc huy động toàn Đảng, toàn quân, toàn dân tham gia.

Sự vào cuộc tích cực, chủ động của cả hệ thống chính trị, nhất là các cơ quan đảng, nhà nước, Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể chính trị có ý nghĩa, tác dụng to lớn đối với quá trình thực hiện Cuộc vận động. Đội ngũ cốt cán, trước hết là người đứng đầu cơ quan đảng, nhà nước, thủ trưởng mỗi cơ quan, đơn vị, doanh nghiệp cần nêu cao trách nhiệm, tâm huyết với sự nghiệp chung, gương mẫu đi đầu trong công tác tuyên truyền, chỉ đạo và thực hiện Cuộc vận động.

Phải làm cho Cuộc vận động lan tỏa, thấm dần, bám rễ vững chắc trong mọi lĩnh vực đời sống xã hội, mỗi gia đình, mỗi người dân, trở thành lối sống đẹp, nếp sống đẹp, lẽ sống cao quý.

Thứ hai, phải xây dựng chương trình, kế hoạch, nội dung và hướng dẫn thực hiện Cuộc vận động một cách khoa học, thiết thực, sát hợp với tình hình, với nhiệm vụ của ngành, địa phương, đơn vị trong từng giai đoạn và suốt cả nhiệm kỳ; quá trình thực hiện, cần tìm tòi và bổ sung các giải pháp, bước đi phù hợp. Gắn kết một cách khéo léo, nhuần nhuyễn việc thực hiện Cuộc vận động với các phong trào thi đua yêu nước, với nhiệm vụ phát triển kinh tế – xã hội, củng cố quốc phòng, an ninh, xây dựng hệ thống chính trị của các ngành, địa phương, đơn vị, doanh nghiệp. Sự lồng ghép này vừa nâng cao chất lượng, hiệu quả công việc, vừa tiết kiệm thời gian, công sức, chi phí.

Thứ ba, phải xây dựng chuẩn mực đạo đức, lối sống phù hợp với từng loại hình công việc, từng loại đối tượng; các chuẩn mực này dễ nhớ, dễ thực hiện; tránh ôm đồm, chung chung, kiên quyết loại bỏ bệnh hình thức, phô trương. Phải coi việc thực hiện Cuộc vận động trước hết là vì nhu cầu, quyền lợi tự thân của mỗi người, mỗi gia đình, cộng đồng, đoàn thể; không chỉ thuần túy về đạo đức, lối sống mà cao hơn, là phục vụ trực tiếp cho sản xuất, công tác học tập, rèn luyện, cho việc thực hiện nhiệm vụ chính trị của mỗi người, mỗi đơn vị.

Cần phát huy dân chủ thực sự, cải tiến nội dung, hình thức, phương pháp lấy ý kiến của quần chúng góp ý cho cán bộ, đảng viên, tạo điều kiện để quần chúng góp ý nhiều hơn, thẳng thắn, trách nhiệm hơn cho tổ chức, cho cán bộ và đảng viên.

Thứ tư, trong chỉ đạo và thực hiện, cần xác định quan điểm: đây là cuộc vận động lâu dài, tiến hành trong nhiều năm, cho nhiều thế hệ. Do đó, tránh tâm lý nôn nóng, chủ quan, kỳ vọng quá nhiều, quá sớm vào kết quả cuộc vận động trong khi cần phải có một thời gian và nỗ lực cần thiết. Mặt khác, khắc phục tư tưởng cầm chừng, hoài nghi, bàng quan, chưa thực sự quan tâm tới Cuộc vận động; cần điều chỉnh, bổ sung một số nội dung, giải pháp của công tác chỉ đạo, tổ chức thực hiện.

Hệ thống các văn bản hướng dẫn, đánh giá của Ban Chỉ đạo Trung ương và của ban chỉ đạo các cấp cần ngắn gọn, thống nhất, kịp thời, sát đúng với tình hình. Tiếp tục huy động các ban, ngành của Đảng, Nhà nước và cả hệ thống chính trị chủ động, tích cực tham gia Cuộc vận động. Tổ chức đảng các cấp cần đưa việc thực hiện Cuộc vận động vào nội dung sinh hoạt đảng hằng tháng, vào kiểm điểm cuối năm của tổ chức đảng và đảng viên. Các cơ quan nhà nước, đoàn thể chính trị – xã hội cũng cần quy định việc thực hiện Cuộc vận động là một tiêu chí bắt buộc với công chức, viên chức, đoàn viên, hội viên; coi đó là một trong những tiêu chuẩn bình xét thi đua, khen thưởng hằng tháng, hằng năm.

Thứ năm, về công tác chỉ đạo điểm: Trong chỉ đạo, tổ chức thực hiện Cuộc vận động, cần chọn đúng, trúng điểm chỉ đạo; tập trung xây dựng, phát huy vai trò, tác dụng của các đơn vị làm điểm; tăng cường kiểm tra, đôn đốc; đúc rút kinh nghiệm sâu sắc để nhân ra diện rộng. Quan tâm xây dựng các điển hình là cán bộ lãnh đạo, quản lý, những người thường xuyên tiếp xúc, phục vụ nhân dân, quản lý về tài chính, đất đai, công sản…

Qua việc tổng kết 4 năm triển khai thực hiện Cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”, chúng ta có đủ cơ sở thực tiễn, lý luận để báo cáo với Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng, xin ý kiến và quyết tâm chính trị của Đại hội XI của toàn Đảng, toàn dân và toàn quân về tiếp tục đẩy mạnh Cuộc vận động, đưa hoạt động học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh thành công việc thường xuyên của cán bộ, đảng viên, của các chi bộ, tổ chức đảng. Mỗi cán bộ, đảng viên phải không ngừng tu dưỡng, rèn luyện đạo đức cách mạng, thực sự là một tấm gương về phẩm chất, đạo đức, lối sống, cấp trên phải gương mẫu trước cấp dưới, đảng viên và nhân dân, từ đó mà lan tỏa, tác động đến toàn dân, toàn xã hội.

Nông Đức Mạnh
Nguyên Tổng Bí thư Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam
Theo Tạp chí Cộng sản

hochiminhhoc.com

Thương binh Đặng Sỹ Ngọc -Tấm gương học tập và làm theo lời Bác.

Sau năm tháng tham gia chiến tranh, trở về với cuộc sống đời thường với mức thương tật 1/4, ông Đặng Sỹ Ngọc ở khối Trung Đông, phường Hưng Dũng vẫn luôn phát huy phẩm chất anhBộ đội Cụ Hồ, thương binh tàn nhưng không phế.

Năm ấy, chàng thanh niên Đặng Sỹ Ngọc vừa tròn 18 tuổi, nghe theo tiếng gọi thiêng liêng của tổ quốc  đã viết đơn tình nguyện bằng máu để xung phong vào bộ đội. Tháng 6 năm 1967, Đặng Sỹ Ngọc được biên chế vào đơn vị Đại đội 2, Tiểu đoàn 9, Trung đoàn 90, Sư đoàn 324 chiến đấu tại chiến trường Quảng Trị. Những ngày lăn lộn trên chiến trường, ông thường ghi lại cuộc chiến tranh vĩ đại, những góc cạnh khốc liệt của chiến tranh. Trang nhật ký chiến trường của ông, đến năm 2006 đã được Nhà xuất bản Công an nhân dân cho ra mắt cuốn nhật ký “Trời xanh không biên giới”. Đây là một trong những cuốn nằm trong tủ sách “Mãi mãi tuổi 20”.

Trong 6 năm tham gia chiến đấu trên chiến trường Quảng Trị, có đến 7 lần ông bị thương có những lúc ông tưởng chừng như không sống nổi, nhưng bằng nghị lực phi thường của người lính Cụ Hồ, sau khi lành vết thương ông lại tiếp tục vào chiến trường tham gia chiến đấu. Đến lần bị thương thứ 7, ông bị thương nặng ở ổ bụng và chân, ông được đơn vị cho về điều trị và an dưỡng tại Trại điều dưỡng Thương binh nặng thuộc Đoàn 202 Quân khu IV. Tại đây, ông đã gặp bà Nguyễn Thị Vân và hai người nên duyên vợ chồng. Rồi ba đứa con lần lượt ra đời. Để nuôi dạy con khôn lớn, hai vợ chồng phải vật lộn với cuộc sống đời thường. Ông làm đủ nghề như tham gia vào tổ thương binh quản lý thu phí tại chợ, rồi chuyển sang nghề làm xe lai.

Ông Đặng Sỹ Ngọc – Thương binh 1/4 ở khối Trung Đông, Phường Hưng Dũng, thành phố Vinh tâm sự: Là người lính của Bác, sau khi bị thương được Bác nhắc nhủ thương binh tàn nhưng không phế bản thân không ngừng trau dồi đạo đức, phấn đấu trong công việc để góp phần xây dựng quê hương và gia đình…

Được trở về với cuộc sống đời thường, người thương binh ấy vẫn không nguôi khi nhớ đến đồng đội đã ngã xuống. Ông Đặng Sỹ Ngọc đã cùng đồng đội thăm lại chiến trường xưa, nơi mà ông đã xem như một phần máu thịt của mình. Trong sự xô bồ của cuộc sống đời thường, nhưng người thương binh ấy vẫn luôn phát huy phẩm chất anh Bộ đội Cụ Hồ. Ngày ngày không kể nắng hay mưa, ông Ngọc lại rong ruổi trên đường làm nghề xe lai. Sau một ngày làm việc mệt nhọc, việc đầu tiên khi ông trở về nhà là bỏ một ít tiền vào ống tiết kiệm. Với số tiền ông bỏ vào ống tiết kiệm, ông đã mua quần áo trực tiếp trao tận tay cho các hộ nghèo có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn, thăm lại chiến trường xưa và đi tìm mộ đồng đội. Mặc dù sức khỏe yếu, trong mỗi chuyến đi gặp nhiều khó khăn, vất vả. Nhưng cứ nghĩ đến đồng đội đã hy sinh xương máu cho tổ quốc, lại tiếp thêm sức mạnh trong mỗi lần ông đi tìm mộ liệt sỹ. Từ những trang nhật ký trong chiến trường ông đã tìm được ba liệt sỹ và một số đồng đội của mình. Đến nay, ông đã tìm được 6 mộ kiệt sỹ, tặng hàng trăm bộ quần áo cho hộ nghèo. Ở bất cứ hoàn cảnh nào, ông vẫn luôn là một con người mẫu mực, sống có nghĩa có tình. Noi theo tấm gương của cha, các con ông luôn chăm lo học tập. Giờ đây, các con của ông đều tốt nghiệp đại học và đã có việc làm ổn định.

Ông Nguyễn Đức Trung – Bí thư Đảng ủy, Chủ tịch Hội đồng nhân dân phường Hưng Dũng – thành phố Vinh cho biết: Thương binh, cựu chiến binh Ông Đặng Sỹ Ngọc, Đảng bộ và nhân dân Hưng Dũng đều biết đến. Bởi ở Đặng Sỹ Ngọc luôn toát một điều sâu sắc nhất đó là học tập và làm theo lời Bác. Mặc dù là thương binh trở về với đời thường với mức thương tật cao nhưng thương binh, cựu chiến binh Đặng Sỹ Ngọc luôn phấn đấu lao động, tham gia các hoạt động xã hội. Có thể nói bằng những việc làm cụ thể  thương binh Đặng Sỹ Ngọc luôn là tấm gương tiêu biểu trong cuộc vận động học tập và làm theo lời Bác.

Chiến tranh đã lùi xa nhưng ký ức về một thời khói lửa vẫn còn nguyên vẹn trong ông. Ông Đặng Sỹ Ngọc vẫn luôn lưu giữ trang viết, những tấm ảnh, Huy hiệu, Huy chương, mấy mảnh bom, viên đạn… Thấy những việc làm của ông, có thể có người sẽ cho ông Ngọc là gàn nhưng việc làm của ông chính là tấm lòng biết yêu thương, biết sẻ chia. Ghi nhận những việc làm ý nghĩa của ông, ông đã được tặng thưởng nhiều Bằng khen, đặc biệt là Bằng khen của Thủ tướng chính phủ vì đã có thành tích trong thực hiện cuộc vận động học tập và làm theo lời Bác.

Theo Lam Hà/vinhcty.gov.vn
Kim Yến
 (st)

 

 

 

Diễn vǎn tại lễ kỷ niệm Quốc khánh đầu tiên của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà (2-9-1946) tổ chức tại Pari

Thưa các ngài,

Thưa các bà, các ông,

Thưa đồng bào thân mến,

Việc có mặt của nhiều nhân vật nổi tiếng, với một cử toạ đông đảo như thế này, khiến cho buổi lễ trọng thể này có một ý nghĩa sâu sắc.

Hôm nay, nhân dân Việt Nam kỷ niệm lần thứ nhất bản Tuyên ngôn long trọng của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà.

Các bạn thân mến! Sự có mặt của các bạn bên chúng tôi hôm nay thể hiện tình cảm hữu nghị của các bạn đối với nhân dân và đối với nước Cộng hoà của chúng tôi.

Tôi xin bày tỏ sự biết ơn của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đối với những đại diện của nước Pháp, những đại diện của các quốc gia dân chủ khác, cũng như đối với những đại diện nhân dân các nước là thành viên tương lai của Liên hiệp Pháp. Các bạn hãy tin tưởng rằng, nhân dân Việt Nam đánh giá cao mối thiện cảm đã được thể hiện bằng hành động của các bạn và sẽ giữ mãi kỷ niệm về nó.

Trong ngày lễ kỷ niệm này, ý nghĩ của tôi hướng về đất nước của tổ tiên, hướng về Tổ quốc xa xôi với tất cả tấm lòng tôn kính và yêu mến.

Tôi xin long trọng bày tỏ sự kính trọng đối với nhân dân Việt Nam anh dũng của chúng ta, đã nêu cao lý tưởng dân chủ và đã không lùi bước trước bất kỳ sự hy sinh nào để bảo vệ tự do của mình.

Chính là sự đoàn kết, đoàn kết hoàn toàn và không gì phá vỡ nổi của toàn thể nhân dân chúng ta đã khai sinh ra nước Cộng hoà của mình.

Lòng dũng cảm và tinh thần hy sinh đã gắn bó ý chí của mọi người Việt Nam từ Bắc chí Nam thành một khối sức mạnh, bất kỳ nguồn gốc họ ở đâu, theo tôn giáo hay thuộc giai tầng xã hội nào.

Trong buổi tối hôm nay, làm sao chúng ta lại không nghĩ tới đồng bào Nam Bộ với một tình cảm trìu mến đặc biệt. Nguyện vọng tha thiết nhất của toàn thể nhân dân Việt Nam là Tổ quốc đang hồi sinh của chúng ta không bao giờ bị chia cắt và không gì chia cắt được.

Và, thưa đồng bào, tôi rất sung sướng nhận thấy rằng, đồng bào, những người đang sống trên đất Pháp, dù đến đây vì kế sinh nhai, để hoàn thành việc học hành hay để đóng góp cho cuộc kháng chiến của nước Pháp 1 , đồng bào đều biết xử sự như người con của một dân tộc đã có một nền vǎn hoá lâu đời, nhưng lại có đủ khả nǎng để trẻ lại. Tôi tin chắc rằng, với sự lịch thiệp và sự đối xử thân tình của mình, đồng bào có thể tranh thủ được sự quý mến và cảm tình của nhân dân Pháp đối với nước Việt Nam ta.

Tình hữu nghị Pháp – Việt là điều kiện cho sự chấn hưng nước ta, cũng như cho sự phát triển ảnh hưởng của nước Pháp ở châu á. Tôi tin chắc rằng một sự hợp tác chặt chẽ là có lợi cho cả hai bên. Chúng ta là hai dân tộc yêu chuộng công lý và tự do, quan tâm đến vǎn hoá, đến sự nảy nở của những tư tưởng đạo lý. Việc có chung những tình cảm trên làm hài hoà mối quan hệ của chúng ta, lý tưởng và lợi ích của chúng ta, tất cả đều khiến chúng ta xích lại gần nhau.

Nhưng tình hữu nghị chỉ là tình hữu nghị thực sự, thành thật và phong phú chừng nào nó hoàn toàn tự nguyện. Chúng ta giả thử tình hữu nghị giữa nhân dân hai nước chúng ta cũng là tự nguyện.

Tôi tin tưởng rằng nước Pháp đã kháng chiến và giành được giải phóng sẵn sàng công nhận nền độc lập của chúng tôi, điều cần thiết phải có để một dân tộc mong muốn kết bạn với các dân tộc khác.

Nước Pháp mới đặt ra cho mình mục đích là giải phóng các dân tộc. Tại sao nước Pháp mới lại vô tình trước số phận của nhân dân các nước đang đeo đuổi những lý tưởng của chính mình?

Vả lại, hoàn toàn độc lập quyết không có nghĩa là đoạn tuyệt. Nước Việt Nam đã long trọng cam kết tôn trọng những lợi ích vǎn hoá và kinh tế của Pháp trên đất nước Việt Nam; hơn thế nữa, Việt Nam còn sẵn sàng phát triển nó bằng sự hợp tác anh em và trung thực. Việt Nam độc lập, chẳng những không làm hại đến lợi ích của Pháp, mà còn tǎng cường vị trí và củng cố uy tín của Pháp ở châu á.

Sự đóng góp của Việt Nam cho sự vĩ đại của nước Pháp và cho sức mạnh của Liên hiệp Pháp, điều đó tất nhiên tuỳ thuộc mức độ phồn vinh của Việt Nam, mà sự chia rẽ và chia cắt không thể mang lại phồn vinh. Thật là phi lý nếu toan tính dựa vào nước Việt Nam suy yếu, chia rẽ và bị chia cắt để đạt được sự hùng mạnh của Liên hiệp Pháp. Liên hiệp Pháp chỉ có được vai trò với điều kiện nó giữ được sự vững chắc, thống nhất và gắn bó của nó; và điều kiện đó chỉ có thể thực hiện được khi mỗi thành viên của nó cũng giữ được sự vững chắc, thống nhất và gắn bó của mình.

Đó là cái giá phải trả cho tương lai của Liên hiệp Pháp. Chúng ta biết rằng nhân dân tất cả các nước ở Pháp quốc hải ngoại 1 đều quan tâm đến việc thực hiện điều này. Thực vậy, việc liên kết các dân tộc tự do, bình đẳng và bác ái, gắn bó bởi một trong những sợi dây mạnh mẽ nhất, một lý tưởng chung, đó là lý tưởng dân chủ; việc liên kết đó hấp dẫn biết bao.

Liên hiệp Pháp sẽ có vai trò to lớn trong việc tổ chức xã hội loài người. Là một nước dân chủ, thành viên của Liên hiệp Pháp, nước Việt Nam mong muốn được đóng góp vào việc thiết lập và duy trì hoà bình và dân chủ trên thế giới, bên cạnh Liên hợp quốc.

Để cho mọi hy vọng trở thành hiện thực, nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà có một nguyện vọng cháy bỏng là mong mỏi Hội nghị Phôngtennơblô nhanh chóng đưa đến những kết quả cụ thể. Xin nhắc lại lời lẽ hùng hồn của chính Chủ tịch Hội đồng Chính phủ Gioócgiơ Biđôn là: “… Chúng ta có thể chờ đợi một cách chính đáng một tương lai tốt đẹp hơn trong quan hệ giữa hai nước chúng ta như một tấm gương lớn trên thế giới”.

Mong sao tình hữu nghị giữa nước Pháp và nước Việt Nam độc lập và thống nhất trở thành sự thực! Một tương lai biết bao xán lạn lẽ nào lại không mở ra trước hai nước chúng ta. Một tình hữu nghị như vậy giữa hai nước chỉ có lợi cho sự phồn vinh của Liên hiệp Pháp và sự bừng nở lý tưởng dân chủ trên thế giới.

– Nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà muôn nǎm!

– Nước Pháp mới muôn nǎm!

– Tình hữu nghị chặt chẽ, lâu dài và phong phú giữa Pháp và Việt Nam muôn nǎm!

Tài liệu tiếng Pháp,
bản sao lưu tại Viện Hồ Chí Minh.
cpv.org.vn

———————————-

1. Tuyên ngôn Độc lập: Ngày 2-9-1945, tại Vườn hoa Ba Đình (Hà Nội), thay mặt Chính phủ lâm thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đọc bản Tuyên ngôn Độc lập do Người khởi thảo, tuyên bố trước đồng bào cả nước và nhân dân thế giới việc thủ tiêu chế độ thực dân phong kiến ở Việt Nam và thành lập nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà. Trong vǎn kiện lịch sử này, sau khi tố cáo những tội ác tầy trời của bọn thực dân và phong kiến tay sai trong gần một thế kỷ qua, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định những quyền dân tộc cơ bản của dân tộc Việt Nam và trịnh trọng tuyên bố với thế giới: “Nước Việt Nam có quyền hưởng tự do và độc lập, và sự thật đã thành một nước tự do độc lập. Toàn thể dân tộc Việt Nam quyết đem tất cả tinh thần và lực lượng, tính mạng và của cải để giữ vững quyền tự do, độc lập ấy”. Kết tinh truyền thống lịch sử kiên cường bất khuất của dân tộc ta, Tuyên ngôn Độc lập là tác phẩm bất hủ của Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại, là bản anh hùng ca mở đầu một kỷ nguyên mới của dân tộc – Kỷ nguyên độc lập, tự do và chủ nghĩa xã hội. Tr.1.

Trả lời phóng viên Hãng thông tấn A.F.P (1)

Chúng tôi muốn được độc lập trong khối Liên hiệp Pháp, và chúng tôi lại muốn rằng sự hợp tác đó phải chặt chẽ thân thiện và do ý muốn của chúng tôi. Vì lẽ đó mà chúng tôi không chịu nhận bị coi chỉ là một hội viên thường, bị hạn chế trong khối Liên hiệp Pháp. Sự cản trở chính trong cuộc đàm phán Việt – Pháp hiện nay là ở vấn đề trưng cầu dân ý ở Nam Bộ. Chúng tôi muốn rằng ngày giờ và phương thức của cuộc trưng cầu dân ý đó phải được định đoạt một cách nhanh chóng và phải có đủ các đảm bảo để dân chúng Nam Bộ được tự do phát biểu ý kiến của họ. Tôi rất lạc quan và rất hy vọng đi tới kết quả.

Tôi tin tưởng ở nước Pháp mới. Hai nước Việt và Pháp có thể đi đến sự thoả thuận vì cả hai nước đều cần phải tương trợ lẫn nhau vì quyền lợi chung của hai nước, cần phải đi đến một sự hiểu biết lẫn nhau càng nhanh chóng càng hay, để cùng có thể sẵn sàng bắt tay vào một công việc thiết thực.

Tôi muốn có thể sớm trở về nước Việt Nam được, để mang lại cho dân chúng Việt Nam bằng chứng mối cảm tình của nước Pháp đối với họ.

Trả lời ngày 2-9-1946.

Báo Cứu quốc, số 336, ngày 5-9-1946.
cpv.org.vn

————————————

1. Tuyên ngôn Độc lập: Ngày 2-9-1945, tại Vườn hoa Ba Đình (Hà Nội), thay mặt Chính phủ lâm thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đọc bản Tuyên ngôn Độc lập do Người khởi thảo, tuyên bố trước đồng bào cả nước và nhân dân thế giới việc thủ tiêu chế độ thực dân phong kiến ở Việt Nam và thành lập nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà. Trong vǎn kiện lịch sử này, sau khi tố cáo những tội ác tầy trời của bọn thực dân và phong kiến tay sai trong gần một thế kỷ qua, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định những quyền dân tộc cơ bản của dân tộc Việt Nam và trịnh trọng tuyên bố với thế giới: “Nước Việt Nam có quyền hưởng tự do và độc lập, và sự thật đã thành một nước tự do độc lập. Toàn thể dân tộc Việt Nam quyết đem tất cả tinh thần và lực lượng, tính mạng và của cải để giữ vững quyền tự do, độc lập ấy”. Kết tinh truyền thống lịch sử kiên cường bất khuất của dân tộc ta, Tuyên ngôn Độc lập là tác phẩm bất hủ của Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại, là bản anh hùng ca mở đầu một kỷ nguyên mới của dân tộc – Kỷ nguyên độc lập, tự do và chủ nghĩa xã hội. Tr.1.

Thư gửi kiều bào Việt Nam ở Pháp

Cùng tất cả kiều bào yêu quý,

Từ ngày Phái bộ và tôi đến nước Pháp, và trong ngày kỷ niệm Quốc khánh (ngày mồng 2 tháng 9), kiều bào ta, nơi thì phái người, nơi thì gửi điện ủng hộ Chính phủ và tôi, nhiều kiều bào lại quyên tiền hoặc thuốc giúp Tổ quốc.

Lòng thân ái đó rất là quý, chúng tôi rất cảm động và cám ơn. Nay tôi và Phái bộ sắp trở về nước, chúng tôi gửi lời chào và khuyên tất cả anh chị em kiều bào:

1- Phải triệt để đoàn kết,

2- Ra sức tuyên truyền và ủng hộ bằng mọi phương diện cho Tổ quốc,

3- Thực hành khẩu hiệu ĐờI SốNG MớI: CầN, KIệM, LIÊM, CHíNH,

4- Mỗi người cần biết thạo một nghề để mai sau về nước giúp ích cho cuộc xây dựng nước Việt Nam mới.

Lời chào đoàn kết và thân ái
Pari, ngày 12 tháng 9 nǎm 1946
Hồ Chí Minh

Bản chụp bút tích,
lưu tại Bảo tàng Cách mạng Việt Nam.
cpv.org.vn

Nói chuyện với các nhà báo Pháp tại biệt thự Roayan Môngxô

Tôi có vừa ý với kết quả của Hội nghị Phôngtennơblô không ? Có và không. Không, vì chúng tôi đến đây với hai vấn đề chính, nền độc lập của nước Việt Nam trong Liên hiệp Pháp, và vấn đề Nam Bộ thì chưa có vấn đề nào giải quyết cả. Có, vì ở đây tôi được thấy rõ một sự thân thiện thành thực của Chính phủ và dân chúng Pháp và đã có dịp gặp nhiều bạn Pháp và ngoại quốc. ở Phôngtennơblô, cũng đã đạt được một vài kết quả. Trước hết là cuộc hội nghị không tan vỡ hẳn mà chỉ gián đoạn vì điều kiện khó khǎn hiện thời, và chúng tôi đợi lại tiếp tục trong một thời gian rất ngắn. Tôi lạc quan và mong rằng chúng ta sẽ đi đến một kết quả vừa ý cả cho quyền lợi Pháp cũng như quyền lợi Việt Nam, và như vậy vì chúng tôi tin ở nước Pháp, nước Pháp mới đã là một trong những nước thực hiểu nền độc lập của các dân tộc và nền dân chủ. Tôi có thể nói xa hơn: không những số mệnh của khối Liên hiệp Pháp mà cả số mệnh của hoà bình thế giới sẽ do ở kết quả cuộc đàm phán Việt – Pháp. Chẳng có lý gì bi quan cả, nhất là hai dân tộc Việt và Pháp sinh ra để phải thoả thuận với nhau. Vậy về nước chúng tôi sẽ làm gì ? Chúng tôi sẽ gây một bầu không khí hoà bình và trật tự và thân thiện làm việc với người Pháp, vì người Pháp cũng như người Việt Nam, chúng ta đều cần bắt đầu một công việc có lợi. Một mặt khác, chúng tôi mong rằng người Pháp cũng sẽ có tình thân thiện và hoà bình như chúng tôi, và sau cùng, tôi muốn nói ở đây rằng dân tộc Việt Nam hết sức hy vọng rằng Hội nghị hoà bình sẽ đem lại hoà bình thế giới. Tôi tin ở sự khôn khéo và lòng nhân đạo của đại biểu các nước bạn chúng tôi. Đó, hy vọng của chúng tôi là như vậy trong lúc chờ đợi hội nghị lại tiếp tục một ngày gần đây.

Nói ngày 13-9-1946.

Báo Cứu quốc, số 346, ngày 15-9-1946.
cpv.org.vn

Lục quân ngày nay với các thứ binh khí

Đặc điểm của chiến tranh ngày nay là đánh thật nhanh để kết thúc những trận đánh trong một thời gian ngắn. Thứ binh khí thích hợp nhất cho lối đánh này là phi cơ, nên các nước đều hết sức khuếch trương không quân. Nhưng chỉ nhờ ở phi cơ đi ném bom hay dùng đại bác bắn phá không thể chiếm được thắng lợi trên mặt trận mà cần phải chú trọng đến lục quân. Dù đánh chớp nhoáng, dù đánh lâu dài, dù giữ thế công hay thế thủ, bao giờ cũng cần đến lục quân. Vì vậy, về quốc phòng, không thể không tổ chức lục quân được. Trong lục quân, người ta thường chia ra bộ binh, kỵ binh, pháo binh, công binh, chí trọng binh. Mỗi thứ binh ngũ ấy đều có binh khí riêng.

1. Bộ binh – Bộ binh ngoài súng trường, lưỡi lê, còn có súng máy hạng nhẹ, súng máy hạng nặng, súng bắn tạc đạn, đại bác bắn thẳng và đường queo, các máy thông tin, các tài liệu phòng hơi độc và hơi ngạt. Trước kia bộ binh thường áp dụng lối đánh tập đoàn hành động. Nhưng lối này đã bỏ từ lâu mà áp dụng lối đánh độc lập hành động để cho cá nhân được phép tuỳ cơ ứng biến. Lối đánh đã thay đổi, nên binh khí cũng tuỳ theo mà thay đổi. Người ta chia binh lực ra nhiều bộ đội nhỏ, trong đó mỗi binh sĩ đều có quyền sử dụng binh khí của mình, nên súng máy và súng bắn lựu đạn rất thích hợp cho những bộ đội độc lập tác chiến.

Trong bộ binh lại tổ chức thêm một bộ đội đặc biệt chuyên cầm máy xe tǎng, mạo hiểm xông vào tiến công bộ đội nào của bên địch không được địa hình tốt che chở.

Vì thế bộ binh ngày nay có thể vừa là kỵ binh, vừa là pháo binh được.

2. Kỵ binh – Kỵ binh xuất trận, lúc cần phải xung phong. Nhưng tự khi hoả khí phát triển, uy lực của kỵ binh đã giảm đi nhiều. Ngày nay, người ta chỉ lợi dụng sức hoạt động thần tốc của kỵ binh và uy lực của súng kỵ mã trong những trận đánh giáp lá cà.

Kỵ binh, ngoài súng trường, còn đem theo súng máy hạng nhẹ, súng máy hạng nặng và cả súng đại bác nữa. Để phòng ngự có hiệu quả, khi bên địch bắn dữ người ta đặt bên cạnh kỵ binh đoàn xe máy có lắp súng đại bác, và xe ô tô vận tải. Vì thế, kỵ binh cũng có thể độc lập chiến đấu được.

3. Pháo binh – Binh khí càng tiến bộ, chiến thuật càng đổi mới. Binh khí và chiến thuật bao giờ cũng đi đôi với nhau như hình với bóng. Từ sau cuộc Âu chiến, trước đến nay người ta đã phát minh ra rất nhiều các thứ súng đại bác, lòng rộng, bắn xa. Nào sơn pháo, dã pháo, nào bích kích pháo, cao xạ pháo, trọng pháo, không thiếu một thứ gì để tǎng gia uy lực của pháo binh.

Lại trên mặt trận phương pháp che giấu, phương pháp giả trang đã được nghiên cứu rất tinh xảo làm cho quân địch khó lòng mà tìm thấy đích để bắn. Vì thế trong pháo binh phải đặt thêm đội quan trắc chuyên xem xét mặt trận bên địch bằng những khí cụ rất tinh xảo như máy đo đạc, máy thu âm, máy tìm âm thanh phát ra từ đâu, đèn chiếu trên không, máy bay vô tuyến điện, máy chụp hình, v.v..

Trên mặt trận người ta còn thả hơi độc, hơi ngạt, nên thường lợi dụng đại bác để bắn những quả hơi sang mặt trận bên địch. Do đó trách nhiệm của pháo binh rất nặng nề.

4. Công binh – Nói đến công binh, có người cho là những người lính vác cuốc xẻng đi đào hào, đắp ụ, bắc cầu, xây cống. Đó là những công binh về thời trước. Còn công binh ngày nay phải hiểu biết những kỹ thuật về chiến tranh, phải là những đội quân cơ giới hoá biết dùng máy móc chạy bằng điện để kiến thiết trận địa, đào đường hầm, phá huỷ những chướng ngại vật trên cạn, dưới nước. Ngoài ra, công binh còn phải bắc dây điện tín, điện thoại, đặt máy vô tuyến điện, đặt đường sắt, bắc cầu qua sông, v.v..

Trong thời đại chiến tranh khoa học, nhất là từ khi phát minh ra nhiều binh khí chuyển vận bằng điện, công binh đã đóng vai tuồng quan trọng trong lục quân.

5. Chí trọng binh – Trước kia, chí trọng binh thường ở mặt sau quân đội, dùng lừa ngựa, xe cộ để vận tải lương thực, súng đạn và đi thành đội dài. Nhưng ngày nay, binh khí luôn luôn hoạt động trên mặt trận vừa xa, vừa rộng, vừa dài, nên việc vận tải binh khí, quân nhu, lương thực tiếp tế cho quân đội rất là vất vả, khó khǎn. Vì thế, chí trọng binh không thể đi đằng sau bộ đội như lúc hành quân mà phải tiến ra hoạt động tận phòng tuyến thứ nhất mới có thể cung cấp đầy đủ cho bộ đội về mọi phương tiện.

Q.Th.

Báo Cứu quốc, số 344, ngày 13-9-1946.
cpv.org.vn

Chủ tịch Hồ Chí Minh và Hoàng thân Xuphanuvông.

Tháng 8 năm 1945, cả Đông Dương thuộc Pháp sôi sục khí thế cách mạng. Nhân dân Việt Nam, Lào và Campuchia đứng dậy giành chính quyền sau 100 năm sống dưới ách nô lệ của thực dân Pháp. Lúc này Hoàng thân Xuphanuvông đang sống ở thành phố Vinh để xây dựng cầu Yên Xuân bắc qua sông Cả. Ngày 2-9-1945, Bác Hồ đã cử ông Lê Văn Hiến vào mời Hoàng thân ra Hà Nội để bàn việc Liên minh Việt – Lào trong tương lai nhằm chống thực dân Pháp đang âm mưu trở lại xâm lược Việt – Lào.

Đây là lần đầu tiên Hoàng thân được tiếp kiến vị Chủ tịch của nước Việt Nam. Nhưng trước đó, lúc đang là sinh viên của Trường Đại học Quốc gia cầu đường của Pháp ở Paris, Hoàng thân đã được nghe tên và đọc sách, báo cách mạng do lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc viết. Hoàng thân ngưỡng mộ và kính trọng vị lãnh tụ Việt Nam đó cho đến khi được tiếp kiến Bác Hồ, Hoàng thân đã vui mừng biết được Nguyễn Ái Quốc chính là Chủ tịch Hồ Chí Minh.

bh - hoanfg thnan
Chủ tịch Hồ Chí Minh và Hoàng thân Xuphanuvông.

Những ngày ở Hà Nội, Bác Hồ và Hoàng thân thân thiết như người nhà. Hai vị cùng ăn cơm rau muống, muối vừng ngay trong nhà bếp và trải chiếu nằm ngủ bên nhau giữa sàn nhà.

Khi hai vị đã bàn bạc xong xuôi việc chuẩn bị kháng chiến chống thực dân, đế quốc thì Hoàng thân được điện của người anh ruột là Hoàng thân Phếtxarạt gọi về Lào để tham gia vào chính quyền cách mạng Lào mới được thành lập.

Mặc dầu sau Lễ Quốc khánh đầu tiên của Việt Nam, Bác Hồ rất bận nhưng vẫn lo chu đáo việc tiễn Hoàng thân trở về Lào. Bác đã giao cho Bí thư Xứ ủy, Chủ nhiệm Việt Minh Trung bộ Nguyễn Chí Thanh lập một đội giải phóng quân để hộ tống, bảo vệ Hoàng thân về Lào.

Theo dõi những diễn biến ở mặt trận Lào, Bác Hồ đã chỉ thị cho ông Nguyễn Đức Quỳ, đại diện ngoại giao của Việt Nam ở Thái Lan hết lòng chuẩn bị đón tiếp Hoàng thân và Liên quân lánh nạn qua đất Thái. Trong trận này Lê Thiệu Huy, Thư ký của Hoàng thân cùng vài chiến sỹ Việt Nam bảo vệ Hoàng thân đã hy sinh. Hoàng thân cũng bị thương nặng. Được Chính phủ Thái Lan và Thủ tướng Priđi Phnômyong giúp đỡ, nhân dân và liên quân Việt – Lào được cư trú và được chăm sóc trên đất Thái. Hoàng thân được đưa về Băng Cốc cứu chữa…

Sau khi bình phục, Hoàng thân đã tập hợp lại lực lượng khẩn trương mua sắm vũ khí, luyện tập quân sự… Việc chuẩn bị trở về Lào chiến đấu đang diễn ra thì các thế lực phản động Thái Lan do Pháp và Mỹ xúi giục, đã lật đổ Priđi Phnômyong, đưa Phibun Sôngkham lên làm Thủ tướng phản động, chống cộng điên cuồng, khủng bố Việt kiều và từ chối ủng hộ phong trào kháng chiến của nhân dân Lào.

Trong bối cảnh khó khăn đó, Bác Hồ đã phái ông Nguyễn Tử Quỳ đem một đội quân đi đón Hoàng thân. Đêm 18-11-1949, Hoàng thân cùng các cộng sự bí mật vượt sông Mê Kông từ Thái trở về Lào, được đội quân của Nguyễn Tử Quỳ đón tiếp, bảo vệ và hộ tống Hoàng thân về chiến khu Việt Bắc.

Những ngày ở Việt Bắc, Bác Hồ lại tiếp đón Hoàng thân như người bạn tâm đắc, lại cùng nằm chung trên sạp lán, cùng ăn chung cơm rau gian khổ ở chiến khu. Sau những lúc bàn bạc chuyện đánh Pháp, chống Mỹ giúp Lào trong công cuộc kháng chiến cứu nước, Bác Hồ và Hoàng thân lại cùng nhau đánh bóng chuyền, cùng ra ngồi câu cá thư giãn ven bờ suối; cùng chân đất vác cuốc đi trồng rau, trồng khoai tăng gia sản xuất.

Lần này, từ Việt Bắc trở về Lào, Hoàng thân cùng Đảng Nhân dân cách mạng Lào mở Đại hội thành lập Chính phủ kháng chiến và Mặt trận Lào yêu nước. Đại hội đại biểu của nhân dân các bộ tộc Lào đã bầu Hoàng thân Xuphanuvông làm Thủ tướng Chính phủ kháng chiến Lào, kiêm Chủ tịch Mặt trận Lào yêu nước.

Từ đó, Bác Hồ đã cử quân tình nguyện và chuyên gia Việt Nam qua giúp Lào cùng đánh giặc. Hoàng thân đã cùng nhân dân Lào chiến đấu đánh Pháp, chống Mỹ cho đến ngày giành lại được độc lập tự do hoàn toàn cho đất nước Lào.

Trong hai ngày 1 và 2-12-1975, Đại hội đại biểu nhân dân toàn quốc Lào tuyên bố xóa bỏ vĩnh viễn chế độ phong kiến lỗi thời, tiếp nhận đơn xin thoái vị của vua Lào để thành lập nước Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào. Đại hội đã bầu Hoàng thân Xuphanuvông làm Chủ tịch nước kiêm Chủ tịch Hội đồng Nhân dân Tối cao và bầu ông Cayxón Phômvihãn làm Thủ tướng Chính phủ.

* * *

Mùa xuân năm 1990, tôi được Ủy ban Khoa học – Xã hội Lào mời đến Viêng Chăn để dịch cuốn sách “Hoàng thân Xuphanuvông – nhà lãnh đạo cách mạng” (do các lãnh tụ, chính khách, văn nghệ sĩ, trí thức trên thế giới viết về Hoàng thân Xuphanuvông) ra tiếng Việt.

Đây là những ngày tôi được sống gần gũi trong gia đình Hoàng thân, mới thấu hiểu tình cảm sâu đậm của Bác Hồ đối với Hoàng thân cũng như Hoàng thân và gia đình đối với Bác Hồ.

Sống trong nhà Hoàng thân, thường trong bữa cơm, lúc ngồi nghỉ ngơi bên bàn trà, Hoàng thân thường kể chuyện Bác Hồ cho chúng tôi nghe rằng, hồi ở chiến khu Việt Bắc, Hoàng thân đã cùng Bác Hồ chơi thể thao, tập thể dục, múa hát tập thể với cán bộ trong cơ quan; cùng tăng gia sản xuất, cuốc đất trồng rau.

Có một buổi sáng Hoàng thân dậy sớm và hỏi tiến sĩ Xinava (nay là Thứ trưởng Bộ Năng lượng – Khoáng sản) con út rằng: “Có nhớ hôm nay là ngày gì không?” Xinava thưa: “Ngày 19Tháng 5 – Ngày sinh của Bác Hồ”.

Con nhớ thế là tốt – Hoàng thân nói: Vậy thì các con đi mua trái cây ngon và hoa tươi về chúng ta cúng Bác Hồ.

* * *

Một hôm, Hoàng thân dẫn tôi vào phòng riêng chỉ tay vào bức tranh Bác Hồ ngồi với Lênin do ông tự tay vẽ bằng sơn dầu lên bức tường cạnh bàn viết của mình. Sau đó Hoàng thân xúc động chỉ từng món quà Bác Hồ tặng lúc ở Việt Bắc và Hà Nội, rồi lấy từ trong hòm ra từng thứ quà của Bác Hồ và nâng niu trên tay chiếc khăn phu-la len, xúc động nói: “Đây là chiếc khăn len Bác Hồ tặng trước khi Bác qua đời chưa đầy một tháng”.

Về sau này được gặp gỡ và làm việc với Bác Hồ nhiều lần, nhưng Hoàng thân vẫn nhắc lại cái buổi ban đầu bằng giọng bồi hồi: “Cuộc tiếp kiến lần đầu tiên với Chủ tịch Hồ Chí Minh đã giúp tôi khẳng định dứt khoát phải theo đuổi sự nghiệp cách mạng, đến với Đảng Cộng sản và dấn thân vào công cuộc chiến đấu cứu dân, cứu nước Lào”…

Nhà văn Trần Công Tấn
Theo 
www.sggp.org.vn

Kim Y
ến (st)

Điện gửi Chính phủ Việt Nam

Bản thoả hiệp tạm thời (Modus vivendi) đã ký ngày 14-9 với Chính phủ Pháp (42) . Bản sao sẽ gửi về bằng máy bay. Gửi lời chào thân ái cụ Huỳnh, các nhân viên trong Chính phủ, Quốc hội và đồng bào toàn quốc.

Hồ Chí Minh

Báo Cứu quốc,
số 355, ngày 24-9-1946.
cpv.org.vn

—————————-

42. Tạm ước 14-9: Sau khi Hội nghị Phôngtennơblô không đi đến kết quả, để kéo dài thêm thời gian hoà hoãn và để tỏ thiện chí của mình, Chủ tịch Hồ Chí Minh lúc đó đang có mặt ở Pháp với tư cách là thượng khách của Chính phủ Pháp, đã tranh thủ dàn xếp ký với Chính phủ Pháp bản Tạm ước ngày 14-9-1946, tại Pari. Nội dung của Tạm ước là sự thoả thuận tạm thời giữa ta và Pháp về một số vấn đề bức thiết có tính chất bộ phận: Chính phủ Pháp thi hành các quyền tự do, dân chủ và ngừng bắn ở Nam Bộ. Chính phủ ta nhân nhượng thêm cho Pháp một số quyền lợi về kinh tế và vǎn hoá của Pháp ở Việt Nam.

Tạm ước 14-9 là một sách lược ngoại giao tài tình của Chủ tịch Hồ Chí Minh, nhằm làm cho nhân dân ta có thêm thời gian để chuẩn bị lực lượng tiến hành cuộc kháng chiến lâu dài chống thực dân Pháp xâm lược. Tr.293.

Lời phát biểu với nhân dân Pháp qua đài phát thanh Pari

Bổn phận của tôi gọi tôi về nước để giữ nhiệm vụ của tôi. Trước khi rời đất Pháp, tôi muốn tuyên bố một lần nữa, lòng thân ái của tôi đối với nhân dân Pháp, lòng khǎng khít của tôi đối với lý tưởng dân chủ mà dân tộc Pháp là người tiên phong. Mối cảm tình ở xung quanh tôi trong thời kỳ tôi ở đất Pháp, làm cho tôi cảm thấy thấm thía đến tận thâm tâm. Những cử chỉ thân ái mà nhân dân Việt Nam, do tôi đại diện, nhận được của nhân dân Pháp, giúp rất nhiều vào việc xây đắp tình thân thiện giữa hai dân tộc.

Công việc ở Hội nghị Phôngtennơblô chưa đưa đến mục đích, chưa đưa đến kết quả cụ thể thật đấy, nhưng tôi hiểu biết nhân dân Pháp, tôi biết rằng lý tưởng thời 1789 lúc nào cũng vẫn mạnh mẽ trong nhân dân Pháp.

Tôi tin chắc rằng nhân dân Pháp rất muốn nối với Việt Nam, nước Cộng hoà chị em với nước Cộng hoà Pháp, những mối dây liên lạc chặt chẽ. Một khi những sự hiểu nhầm đã tiêu tan, hội nghị Việt- Pháp sẽ lại mở, không lâu nữa, tôi hy vọng rằng sẽ đi tới sự thoả thuận mà hai bên mong muốn. Nước Pháp, một nước chiến đấu cho tự do và dân chủ, đã tỏ rõ lòng tôn trọng chủ quyền và tư cách của Việt Nam trong Hiệp định 6-3-46.

Ngoài ra, không gì làm cho nước Pháp để nhiều tâm trí nghĩ tới bằng việc tìm cách làm bành trướng ảnh hưởng của nước Pháp trên thế giới. Thế mà phương tiện hoà bình dễ bành trướng ảnh hưởng đó chỉ có thể là khối Liên hiệp Pháp trong đó nước Việt Nam là một trong những hội viên đầu tiên.

Tất cả mọi điều đều làm cho hai dân tộc chúng ta thân ái nhau: lý tưởng chung và quyền lợi chung. Không có điều gì làm ngǎn cản sự tiến triển của lịch sử.

Tình thân thiện Việt – Pháp một ngày gần đây, do một hiệp ước công bằng định rõ, sẽ làm cho khối Liên hiệp Pháp có uy danh và thịnh vượng. Cả đến nền hoà bình thế giới cũng sẽ lợi rất nhiều do tình thân thiện bền chặt giữa chúng ta.

Một lần nữa, tôi thành thực cảm ơn Chính phủ Pháp và nhân dân Pháp.

Nói tối ngày 15-9-1946.

Báo Cứu quốc,
số 348, ngày 17-9-1946.
cpv.org.vn

Hình thức chiến tranh ngày nay

Chiến tranh ngày nay phức tạp vô cùng. Trước kia chỉ có quân đội đánh nhau ở tiền tuyến và trên mặt đất hay trên mặt nước, nên người ta gọi là bình diện chiến tranh. Ngày nay đánh nhau ở cả trên không và cả ở tiền tuyến cũng như ở hậu phương, nên người ta gọi là lập thể chiến tranh. Trước kia chỉ đánh nhau về một mặt quân sự, nhưng ngày nay đánh nhau về đủ mọi mặt quân sự, kinh tế, chính trị, tư tưởng nên người ta gọi là toàn diện chiến tranh.

I- VỀ QUÂN SỰ:

1. Đánh nhau trên mặt đất:

a- Dã chiến.- Hai bên đánh nhau ở ngoài mặt trận bằng súng ống, xe tǎng, đại bác.

b- Hoá học chiến. – Dùng súng bắn hay tàu bay thả các thứ hơi ngạt và hơi độc.

c- Gián điệp chiến.- Ngoài mặt trận phái gián điệp lẩn sang bên địch tuyên truyền hay dò xét tình hình.

d- Phá hoại các cơ quan trọng yếu của bên địch.

2. Đánh nhau trên mặt bể:

a- Hạm đội hai bên đánh nhau.

b- Dùng tàu chiến phong toả địch.

c- Cắt đứt đường giao thông của bên địch và tìm cách che chở đường giao thông của bên mình.

d- Phá hoại các cǎn cứ hải quân.

3. Đánh nhau trên không:

a- Phi cơ hai bên chiến đấu ở trên không.

b- Phái phi cơ đi ném bom những nơi quan trọng của bên địch.

c- Cho tàu bay đi dò xét tình hình các mặt trận và rải truyền đơn tuyên truyền.

d- Bay lên trên không để phòng vệ những nơi quan trọng dưới mặt đất.

II. VỀ KINH TẾ

1- Đảo loạn hay phá hoại kinh tế của bên địch.

2- Đối với bên địch, thi hành chính sách phong toả làm cho chúng bị cô lập về kinh tế, không thể mua bán với các nước ngoài.

3- Tìm mọi cách ngǎn cản bên địch không thể trù liệu được tiền tài hay phẩm vật để sung vào chiến phí.

4- Tổng động viên để có thể thu được hoặc giữ lấy tất cả các nguồn lợi.

5- Dùng mọi phương pháp để trù liệu chiến phí.

6- Thi hành mọi phương sách làm cho nhân dân được sống yên ổn, no đủ trong lúc có chiến tranh.

III- VỀ CHÍNH TRỊ, TỨC LÀ VỀ NGOẠI GIAO, NỘI CHÍNH VÀ TUYÊN TRUYỀN:

1- Nêu cao chính nghĩa và kêu gọi dư luận tán đồng lập trường của mình.

2- Đề phòng nước thứ ba đi về phe với địch.

3- Trên trường quốc tế, làm thế nào cho nước mình không bị cô lập mà vẫn giữ được địa vị ưu thắng.

4- Dùng mọi mánh khoé ngoại giao để chiếm được thắng lợi.

IV- TƯ TƯỞNG CHIẾN TRANH (1) TỨC LÀ GIÁN ĐIỆP CHIẾN HAY CÂN NÃO CHIẾN:

1- Dò xét tình hình bên địch về mặt chính trị, kinh tế, quân sự.

2- Xúi giục những phần tử bất bình hoặc những dân tộc khác ở nước địch nổi dậy phản kháng hay gây chuyện.

3- Ngǎn cản công cuộc tổng động viên của bên địch.

4- Phá hoại máy nước, máy đèn, dây điện, các đường giao thông.

5- Gây những cuộc bãi công của thợ thuyền hay cuộc bạo động của nông dân.

6- ám sát những người quan trọng của bên địch, ngầm mưu cuộc đảo chính để đánh đổ chính phủ.

7- Phao những tin tức hay những chuyện làm cho địch và dân bên địch bối rối, hoang mang, mất nhuệ khí, không còn tin tưởng về thắng lợi cuối cùng nữa.

8- Làm cho bên địch tê liệt không còn đủ sức gây chiến.

9- Đưa ngoại giao của bên địch đến chỗ bế tắc.

10- Gây nội chiến và phong trào cách mạng ở nước địch.

Nói tóm lại, chiến tranh ngày nay phức tạp và hết sức khó khǎn. Không dùng toàn lực của nhân dân về đủ mọi mặt để ứng phó, không thể nào thắng lợi được.

Q.Th.

Báo Cứu quốc,
số 351, ngày 20-9-1946
cpv.org.vn

——————————-

1. Tuyên ngôn Độc lập: Ngày 2-9-1945, tại Vườn hoa Ba Đình (Hà Nội), thay mặt Chính phủ lâm thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đọc bản Tuyên ngôn Độc lập do Người khởi thảo, tuyên bố trước đồng bào cả nước và nhân dân thế giới việc thủ tiêu chế độ thực dân phong kiến ở Việt Nam và thành lập nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà. Trong vǎn kiện lịch sử này, sau khi tố cáo những tội ác tầy trời của bọn thực dân và phong kiến tay sai trong gần một thế kỷ qua, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định những quyền dân tộc cơ bản của dân tộc Việt Nam và trịnh trọng tuyên bố với thế giới: “Nước Việt Nam có quyền hưởng tự do và độc lập, và sự thật đã thành một nước tự do độc lập. Toàn thể dân tộc Việt Nam quyết đem tất cả tinh thần và lực lượng, tính mạng và của cải để giữ vững quyền tự do, độc lập ấy”. Kết tinh truyền thống lịch sử kiên cường bất khuất của dân tộc ta, Tuyên ngôn Độc lập là tác phẩm bất hủ của Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại, là bản anh hùng ca mở đầu một kỷ nguyên mới của dân tộc – Kỷ nguyên độc lập, tự do và chủ nghĩa xã hội. Tr.1.

 

 

 

Thư gửi gia đình ông Raymông Ôbrắc

Cảng Xa-it, ngày 22 tháng 9 nǎm 1946

Các bạn thân mến của tôi,

Từ khi chúng tôi lên đường, biển lặng, thời tiết đẹp. Hàng ngày, chúng tôi ngắm mặt trời mọc và mặt trời lặn, quang cảnh thật hùng vĩ và tuyệt vời.

Trên tàu, chúng tôi không có nhiều việc để làm. Chúng tôi đọc sách báo, nói chuyện, nghỉ ngơi và chúng tôi nhớ đến các bạn. Những người bạn mới của chúng tôi, các sĩ quan và thuỷ thủ, đều rất dễ mến. Các đồng chí của tôi (Thiện 2 , Huỳnh 3 và bốn người nữa mà các bạn chưa quen biết) và tôi, chúng tôi đều mạnh khoẻ. Tôi gửi đến các bạn những tình cảm thân thiết nhất của tôi. Tôi ôm chặt Giǎng Pie, Catêrin và cô cháu bé nhỏ thân thiết của tôi. Tôi gửi

chiếc hôn yêu quý cho Ginét và gửi lời chào các bạn của chúng ta: Bi-u, Đaxchiê và các bạn khác.

Hồ Chí Minh

Thư tiếng Pháp,
bản chụp lưu tại Viện Hồ Chí Minh.
cpv.org.vn