Tag Archive | Văn hóa – Xã hội

Nhật ký hành trình của Hồ Chủ tịch – Bốn tháng sang Pháp (XXV)

Hồ Chủ Tịch đến thăm Fontainebleau

Ngày 26 tháng 7

9 giờ sáng, Cụ Chủ tịch đi thǎm Fontainebleau, nơi khai hội Việt- Pháp. Đến nơi có các đại biểu ta, các đại biểu Pháp, ông Quận trưởng quận Seine và quận Marne, Ban chấp hành thành phố, và các ông giám đốc Cung Fontainebleau ra đón tiếp.

Đại biểu nhân dân và thanh niên đến chào và tặng Hồ Chủ tịch hai bó hoa.

Quận trưởng và Ban chấp hành thành phố đặt tiệc hoan nghênh Hồ Chủ tịch, có các đại biểu Việt và Pháp dự tiệc.

Kế đó, các ông giám đốc đưa Cụ Chủ tịch đi xem lâu đài và rừng Fontainebleau. Lâu đài kiến trúc cực kỳ xa hoa. Ngày trước các vua Pháp thường đến nghỉ ở đây. Khi vua Napoléon thứ nhất thất bại, khởi hành từ đây từ biệt nước Pháp đi đến chỗ bị đày. Vậy nên có một sân gọi là “sân từ biệt”. Trong lầu còn để những phòng sách, áo quần, giường nằm, những vật kỷ niệm, và một cái mặt nặn bằng sáp khi mới chết của vua Napoléon.

Chung quanh lầu có vườn rất rộng, rất đẹp. Chung quanh vườn có rừng. Trong rừng có nhiều nơi phong cảnh rất xinh đẹp. Đi dạo rừng về, Cụ Chủ tịch với tất cả anh em đại biểu ta ra ngoài vườn cỏ ngồi chơi nói chuyện. 6 giờ ra về Paris.

Từ ngày 30-6 đến nay, thiên hạ xôn xao về bom nguyên tử, 2 giờ chiều hôm qua (là 9 giờ sáng ở đảo Bikini), quả bom nguyên tử thứ nǎm nổ tại bể Bikini. Không trách thiên hạ xôn xao, bom nguyên tử thật là ghê gớm.

Quả thứ nhất:

Các nhà khoa học, nhất là khoa học Đức, tìm ra cách làm bom nguyên tử. Nhưng vì nguyên liệu khó và tốn kém nhiều, cho nên chưa làm được. Người Mỹ lấy được bí mật đó, đổ tiền ra làm. Cặm cụi mấy tháng trời, đến ngày 16-7-1945 đem quả bom đầu thử tại bãi cát New Mesico ở Mỹ.

Quả thứ hai:

Cách 20 ngày sau, là ngày 6-8, máy bay Mỹ ném một quả vào thành phố Hiroshima ở Nhật. Thành phố hoá ra tro, 8 vạn người thiệt mạng.

Quả thứ ba:

Ba hôm sau, máy bay Mỹ ném một quả nữa vào Nagasaki ở Nhật. Thành phố ấy có 26 vạn dân, 16 vạn người ở ngoại ô, hơn 10 vạn ở trong tỉnh. Bom nguyên tử rơi vào thành, 4 vạn người chết, nhà cửa tan tành, cầu cống sụp đổ. Vì hai quả bom đó mà Nhật vội đầu hàng.

Quả thứ tư:

Bom thả trên bờ sức mạnh như thế. Người Mỹ muốn biết nếu thả xuống nước, thì ra thế nào? Họ đem 73 chiếc tàu binh, to có, nhỏ có, đến bờ Bikini, sắp thành mấy vòng xa có, gần có. Ngày 30-6, máy bay Mỹ thả một quả cách trên mặt nước. Bom nổ. Lửa, nước và khói vun vút tung lên cao hơn ngàn thước. Ngọn lửa bắt đầu thì sắc vàng, rồi hoá ra đỏ chói, sau biến thành trắng xanh.

Kết quả là: 5 chiếc tàu chìm.

9 chiếc hỏng nhiều.

5 chiếc hỏng vừa.

9 chiếc hỏng ít.

20 chiếc bị dấu vết qua loa.

Quả thứ nǎm:

Lần này họ thử bom nổ dưới mặt nước. Họ sắp 77 chiếc tàu. Đắp 4 cái tháp để nghiệm xét bằng sắt và ciment. Dùng 26 máy chụp ảnh đặc biệt, hơn 10 chiếc máy bay do vô tuyến điện chỉ huy, không cần người cầm lái. Lại một đoàn máy bay có phi công. Họ thả một số lợn, dê và chuột trắng trên các tàu, để xem chúng sẽ chết hay là sống.

Những người đứng gần nhất cũng cách quả bom nổ 16 cây số.

Bom nổ, tiếng vang một góc trời. Cũng như lần trước, một vòi lửa và nước tròn gần 2.000 thước, cao hơn 1.500 thước vun vút toé lên giống như một cái nấm khổng lồ. Nhìn trong ảnh thì giống cái đầu một người đầm tóc quấn. Bỗng chốc mây khói mê man, mịt mù trời đất.

Kết quả là: 11 chiếc tàu chìm. Nhiều chiếc hỏng. Lợn, dê và chuột, con gần thì chết, con ở xa thì đau. Cách mấy hôm sau, không khí vùng đó còn độc, không ai dám đến gần.

Thử một quả bom mà tốn hơn 764 triệu bạc ta (110 triệu bạc Mỹ). Đó là còn tính rẻ, vì các chiếc tàu binh giá một trǎm phần, chỉ tính một phần.

Theo người Anh suy đoán, thì một quả bom nguyên tử có thể phá tan 3 vạn nóc nhà, làm hỏng 35.000 nóc nhà, làm hỏng vừa 5 vạn nóc nhà. Nghĩa là một quả bom có thể làm hư hỏng hơn 11 vạn toà nhà.

Trước ngày thử bom. Một bà người Mỹ, Chủ tịch “Hội bảo trợ súc vật” xin Chính phủ Mỹ chớ hy sinh những con lợn, dê và chuột. Nếu không, thì bà ấy tình nguyện đến Bikini để chết thay cho chúng nó.

Trong ngày thử bom, các hội viên “Hội bảo trợ súc vật” ở Cumberland nước Anh, gửi thơ cho Chính phủ, phản đối việc ngược đãi súc vật trong cuộc thử bom ở Bikini. Rồi kéo nhau đến nhà thờ tụng kinh cho linh hồn những con thú đó.

Khuya hôm đó ở Bruxelles là kinh đô nước Bỉ, mưa to gió lớn. Dân sự hoảng hồn hoảng vía, tưởng là bom nguyên tử đã làm bể quả đất, khiến cho nước Bỉ cũng bị vạ lây.

Buồn cười nhất là “Hội bảo trợ súc vật” ở Ferdinando Valley (Mỹ) đọc điếu vǎn các con thú chết ở Bikini. Ban đầu, họ đem âm nhạc nhà binh ra thổi, bị quân đội phản đối không cho thổi, vì lẽ rằng làm như vậy là khinh thường âm nhạc của nhà binh. Rồi họ muốn treo cờ rủ để chia buồn, lại bị dân chúng phản đối, vì lẽ rằng quốc kỳ là của người chứ không phải của súc vật. Tức mình, các hội viên ra lệnh cho chợ bán dê “mặc niệm” ba phút. Khi mặc niệm, dê kêu be be rầm cả chợ!

Đ.H

cpv.org.vn

Nơi phát tích Ngày Thương binh toàn quốc

Khu Di tích “ Nơi công bố Ngày Thương binh – Liệt sỹ toàn quốc” tại xóm Bàn Cờ, xã Hùng Sơn, huyện Đại Từ có một Cây đa cổ thụ, tốt tươi, được mọi người gọi là “Cây đa 27 tháng 7”.

noi phat tich ngay TB 1Khu Di tích 27 tháng 7, xã Hùng Sơn, huyện Đại Từ,
nơi công bố Ngày Thương binh –  Liệt sỹ toàn quốc 27/7/1947

Sau khi sáng lập “Hội giúp binh sỹ bị nạn” do Hồ Chí Minh làm Chủ tịch danh dự, Người phát động toàn dân tham gia hưởng ứng phong trào “Mùa đông binh sỹ”. Giữa bộn bề công việc lãnh đạo phá tan cuộc tấn công mùa đông của giặc Pháp lên Việt Bắc, tổ chức kháng chiến toàn dân, toàn diện suốt từ Bắc chí Nam… Bác Hồ cùng Trung ương vẫn có chủ trương, chính sách chăm lo đến thương binh, gia đình liệt sỹ. Chính phủ ban hành chế độ hưu bổng, thương tật và tiền tuất cho thân nhân tử sỹ, “ưu đãi các chiến sỹ bị thương và gia đình liệt sỹ”. Ngày 10/7/1947, cơ quan Thương binh và cựu binh, sau đổi là Bộ Thương binh được thành lập. Tháng 6 năm 1947, từ Phủ Chủ tịch đầu tiên ở “Thủ đô gió ngàn” tại đồi Khau Tý, ATK Định Hóa, Chủ tịch Hồ Chí Minh đề nghị với Chính phủ chọn một ngày trong năm là “Ngày Thương binh”.

noi phat tich ngày TB 2Ông Lê Thành Ân, Trưởng ban tổ chức Ngày Thương binh –  Liệt sỹ 27-7-1947

Bác Lê Thành Ân, nguyên Phó Phòng Thương binh của Cục Chính trị nhớ lại: Sau khi Ban Vận động tổ chức Ngày Thương binh toàn quốc được thành lập vào khoảng 7 giờ tối một ngày đầu tháng 7 năm 1947, khoảng hai chục người trong Ban họp tại Phú Minh, xã Phú Thịnh (Đại Từ) do anh Lê Tất Đắc, Cục phó Cục Chính trị chủ trì, dự họp có anh Trần Huy Liệu (Tổng bộ Việt Minh), Hoàng Tuấn (Nha Thông tin), chị Nguyệt Tú (vợ anh Lê Quang Đạo) đại diện Trung ương Hội Phụ nữ cứu quốc, Trung ương Đoàn có anh Đào Duy Kỳ… Sau khi họp bàn, thống nhất chọn ngày 27/7/1947 báo cáo lên Trung ương và Bác Hồ, anh Lê Tất Đắc cao hứng sáng tác:

“Dù ai đi ngược về xuôi

Hai bảy, tháng bảy nhớ ngày Thương binh”.

Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi thư cho Ban Tổ chức “Ngày Thương binh toàn quốc”…“Đang khi Tổ Quốc lâm nguy, giang san, sự nghiệp, mồ mả, đền chùa, nhà thờ của tổ tiên ta bị uy hiếp; cha mẹ, anh em, vợ con thân thích, họ hàng ta bị đe dọa; của cải ruộng nương, nhà cửa, ao vườn, làng mạc ta bị nguy ngập; ai là người xung phong trước hết để chống cự quân thù, để giữ gìn đất nước cho chúng ta? Đó là những chiến sỹ mà nay một số thành ra thương binh.

Thương binh là những người đã hy sinh gia đình, hy sinh xương máu để bảo vệ Tổ Quốc, bảo vệ đồng bào. Vì lợi ích của Tổ Quốc, của đồng bào, mà các đồng chí chịu ốm yếu…

Vì vậy, Tổ Quốc và đồng bào phải biết ơn, phải giúp đỡ những người con anh dũng ấy.

Trong lúc chống nạn đói kém, đồng bào ta đã từng mỗi tuần nhịn ăn một bữa, để giúp các đồng bào bị đói. Bây giờ chống giặc ngoại xâm, tôi chắc đồng bào ta sẽ vui lòng vài ba tháng nhịn ăn một bữa để giúp các chiến sỹ bị thương.

Ngày 27 tháng 7 là một dịp cho đồng bào ta tỏ lòng hiếu nghĩa bác ái, và tỏ lòng yêu mến thương binh.

…Luôn luôn tin vào lòng nhường cơm, sẻ áo của đồng bào ta, tôi chắc rằng “Ngày thương binh” sẽ có kết quả mỹ mãn.

Tôi xin xung phong gửi một chiếc áo lót lụa mà các em phụ nữ đã biếu tôi, một tháng lương của tôi, một bữa ăn của tôi và của các nhân viên tại Phủ Chủ tịch, cộng là một nghìn một trăm hai mươi bảy đồng  (1.127đ)

Ngày 27 tháng 7 năm 1947

       Hồ Chí Minh

Bác không chỉ khởi xướng, mà còn là vị Chủ tịch – công dân đầu tiên cùng các thành viên chính phủ “tỏ lòng hiếu nghĩa, bác ái, yêu mến” thương binh.

Cứ mỗi độ xuân về dân các làng xã Hùng Sơn lại tụ hội chơi cờ trên sân đất rộng cỡ 1500 m2 ở xóm Bàn Cờ, bên Cây đa cổ thụ. Khoảng sân đó nay vẫn còn rộng rãi, có ba đường từ ba hướng đến sân, bên cạnh là ao và đồng lúa, cách 80 – 150m các quả đồi thoai thoải xanh tốt rất tiện cho việc tập trung bảo vệ, giữ bí mật, lại dễ thoát ra các hướng khi có máy bay giặc Pháp bắn phá. Bên cạnh có nghè Ông, thời Tiến sỹ Đồng Doãn Giai (1736) và nghè Bà, thờ công chúa Mai Hoa. Do địa thế đẹp, xung quanh các quả đồi có đơn vị bộ đội và cơ quan Trung ương đóng nên được chọn là nơi mít tinh công bố Ngày Thương binh – Liệt sỹ toàn quốc.

noi phat tich ngày TB 3Lễ mít tinh công bố Ngày Thương binh – Liệt sỹ

Hồi năm 1997, ông Lê Tất Đắc cựu Thứ trưởng Bộ Lao động Thương binh – Xã hội, người chủ trì buổi lễ kể lại: Vào 6 giờ tối bắt đầu mít tinh, có khoảng 300 người dự, tôi thay mặt Ban Tổ chức đọc thư Bác Hồ gửi nhân “Ngày Thương binh – Liệt sỹ toàn quốc”, có đại biểu thương binh, đồng chí Lê Tỵ phát biểu, rồi bà Bá Huy (tức Nguyễn Thị Đích) Bí thư Hội Phụ nữ cứu quốc xã Lục Ba, nơi có Trại An dưỡng đường số 1 thành lập tháng 6 năm 1947 dành cho thương binh, người hăng say vận động phụ nữ giúp đỡ bộ đội, thương binh nói lên tình cảm, trách nhiệm của phụ nữ và nhân dân đối với thương binh. Sau này bà Bá Huy được Bác Hồ gửi thư khen… Buổi mít tinh kết thúc trong tiếng hô “Hồ Chủ tịch muôn năm”, “Trường kỳ kháng chiến, nhất định thắng lợi”. Ngày Thương binh – Liệt sỹ 27/7/1947 trở thành ngày mà tất cả mọi người dân, cơ quan, đoàn thể trong cả nước bày tỏ tình cảm “Uống nước nhớ nguồn”, “ Đền ơn đáp nghĩa” với thương binh, gia đình liệt sỹ.

Trong cuộc đời hoạt động cách mạng từng “vào sống ra chết” qua các nhà tù đế quốc ở Hồng Kông, của chế độ Tưởng Giới Thạch ở Quảng Tây, Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh đều vượt qua với một phong thái lạc quan, ung dung tự tại. Nhưng Người bao lần không cầm được nước mắt khi mất Phùng Chí Kiên – Trưởng ban Quân sự của Trung ương, Chỉ huy Trưởng căn cứ địa Bắc Sơn – Võ Nhai, hy sinh ở Ngân Sơn (Bắc Kạn); đồng chí Hoàng Văn Thụ – Ủy viên Ban Thường vụ Trung ương Đảng bị thực dân Pháp xử bắn năm 1944 ở Trường bắn Tương Mai; rồi Hoàng Văn Lộc, người bảo vệ, giúp việc Bác từ Xiêm (Thái Lan), đầu năm 1941 theo Bác về Pác Bó (Cao Bằng) mất tại Khuôn Tát (Định Hóa) 1948… Người đã biến nỗi đau thương, mất mát khơi dậy thành phong trào “đền ơn đáp nghĩa”, đẩy mạnh kháng chiến, kiến quốc mau tới thắng lợi.

Bác còn gửi thư cho các cháu thiếu nhi, nhi đồng tổ chức các “Đội Trần Quốc Toản” –“Từ 5 đến 10 cháu tổ chức thành một đội, giúp nhau học hành, khi học rảnh rang, cả đội đem nhau đi giúp đồng bào. Trước thì giúp các nhà chiến sỹ, các thương binh, lần lượt giúp các nhà ít người. Thí dụ: quét nhà, gánh nước, lấy củi, xay lúa, giữ em, dạy chữ quốc ngữ…”

Tháng 7 năm 1948, Bác gửi anh em thương binh và bệnh binh lời nhắn nhủ chí tình:“Các đồng chí sẽ trở nên người công dân kiểu mẫu ở hậu phương cũng như các đồng chí đã làm người chiến sỹ kiểu mẫu ngoài mặt trận”…

Vào tháng 7 năm 1953, Bác gửi thư cho Bộ trưởng Bộ Thương binh, cựu binh:

“…Nhân dịp “Ngày thương binh” tôi xin gửi một tháng lương của tôi và 50 cái khăn tay do đồng bào phụ nữ Thái biếu tôi, nhờ cụ chuyển cho anh em thương binh lời chào thân ái của tôi”.

Người tích cực tham gia, khen thưởng, tổ chức nhân rộng phong trào “Đền ơn đáp nghĩa” lên tầm cao mới.

Ngày nay du khách đến thăm Khu Di tích “Cây đa 27 tháng 7” có hai, ba nhánh cây cổ thụ tỏa bóng mát rượi một cây đa nhỏ cỡ gần 2 người ôm cách đó 30m vẫn được dân chăm bón, gìn giữ. “Địa điểm công bố Ngày Thương binh – Liệt sỹ toàn quốc 27/7/1947” được xếp hạng Di tích lịch sử, văn hóa cấp quốc gia đúng dịp kỷ niệm 50 năm.

Nhà Lưu niệm mới xây dựng, hòa quyện, nghè Ông, nghè Bà. Tảng đá vân mây trắng hình trụ, bia di tích cao 3m, rộng 3m, nặng gần 7 tấn ghi: “Nơi đây, ngày 27/7/1947, ba trăm cán bộ, bộ đội và đại diện các tầng lớp nhân dân địa phương họp mặt nghe công bố bức thư Bác Hồ, ghi nhận sự ra đời Ngày Thương binh – Liệt sỹ ở nước ta”. Ngày Bác Hồ về thăm Hùng Sơn (02/3/1958), Người nhắc đến niềm tự hào của mảnh đất quê hương Ngày Thương binh – Liệt sỹ, phải chăm lo đời sống nhân dân, nhất là gia đình thương binh, liệt sỹ, gia đình có công với nước…

(Trích bài Nơi phát tích Ngày thương binh toàn quốc in trong cuốn Bút ký – Tư liệu ATK in dấu lịch sử của tác giả Đồng Khắc Thọ)

Theo http://www.thainguyen.gov.vn
Thu Hiền (st)

 

 

 

Chủ tịch Hồ Chí Minh và “quan hệ đặc biệt” Việt Nam – Lào

“Việt – Lào hai nước chúng ta; tình sâu hơn nước Hồng Hà – Cửu Long” (Hồ Chí Minh).

Khi nói về mối quan hệ nghĩa tình giữa hai Đảng, hai nước, hai dân tộc Việt Nam và Lào, Bác Hồ kính yêu của chúng ta – Người đã dày công vun đắp cho mối quan hệ Việt – Lào đã nhấn mạnh, đó là mối “quan hệ đặc biệt”. Và đúng như vậy, để nói cho hết về mối “quan hệ đặc biệt” ấy cần phải ngược dòng lịch sử, để lịch sử chứng minh cái nghĩa, cái tình và tấm lòng thủy chung, son sắt, sát cánh bên nhau của hai Đảng, hai dân tộc Việt – Lào trong cuộc đấu tranh chống kẻ thù chung, giành độc lập cho dân tộc và cùng nhau xây dựng hòa bình, hướng tới tương lai hạnh phúc.

Chu tich HCM va quan hẹ VN-Lao

Chủ tịch Hồ Chí Minh và đồng chí Cay-xỏn Phôm-vi-hẳn

Nền tảng của quan hệ Việt – Lào xuất phát từ quan hệ truyền thống lâu đời giữa hai nước láng giềng gần gũi, cùng chung sống trên bán đảo Đông Dương. Mối quan hệ truyền thống ấy trở nên “đặc biệt” từ khi Đảng Cộng sản Đông Dương do Chủ tịch Hồ Chí Minh sáng lập và rèn luyện (sau này là Đảng Cộng sản Việt Nam và Đảng Nhân dân Cách mạng Lào) trở thành lực lượng lãnh đạo cách mạng của hai dân tộc Việt Nam và Lào, cùng sát cánh bên nhau chiến đấu chống kẻ thù chung, xây đắp nên tình đoàn kết keo sơn, thuỷ chung, son sắt Việt – Lào.

“Quan hệ đặc biệt” trên nền tảng của chủ nghĩa yêu nước và tinh thần cách mạng quốc tế cao cả.

Là một người yêu nước và là một người cộng sản với tinh thần quốc tế cao cả, ngay từ năm 1921, khi đấu tranh cho phong trào giải phóng “các dân tộc thuộc địa”, lên án chế độ hà khắc của các nước đế quốc đối với các dân tộc bị áp bức, Nguyễn Ái Quốc đã dũng cảm đứng lên tố cáo chế độ thực dân Pháp tại Đông Dương. Người đã mô tả nỗi khổ cực của nhân dân hai nước Việt – Lào trong chế độ bắt phu đi làm tạp dịch, làm đường tại Đông Dương của Pháp: Chúng không hề phân biệt ai là Việt, ai là Lào, mà chỉ coi là dân Đông Dương thuộc Pháp; nếu trốn đi phu hay nổi dậy chống lại đều bị bắn chết, những ai ốm đau đều phải gửi xác lại nơi “rừng xanh núi đỏ”. Trên các đoạn đường xuyên Đông Dương đều có xác phu Việt bên cạnh xác phu Lào. Người viết: “Ở Luông Pha-băng nhiều phụ nữ nghèo khổ thảm thương phải mang xiềng đi quét đường chỉ vì một tội không nộp nổi thuế”. Những tiếng nói đanh thép của Nguyễn Ái Quốc trong “Bản án chế độ thực dân Pháp” đã lột tả được cái tận cùng của sự tàn ác, vô lương tâm của chủ nghĩa đế quốc, lột tả nỗi đau đớn của những dân tộc bị áp bức và bị buộc làm nô lệ trong chế độ thực dân.

Trong những năm đầu thành lập Đảng và trong suốt cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc của cách mạng hai nước Việt – Lào, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn coi mối quan hệ đoàn kết Việt – Lào vừa là nghĩa vụ quốc tế, vừa là lợi ích sống còn của mỗi nước. Tại Hội nghị Trung ương tháng 10 năm 1930, Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng Cộng sản Đông Dương đã xác định đường lối cách mạng của ba nước Đông Dương và khẳng định: Ba nước Đông Dương cần phải đoàn kết chống ách thống trị của bọn thực dân Pháp, giành độc lập dân tộc… Sau Hội nghị, thực hiện tư tưởng chỉ đạo của Chủ tịch Hồ Chí Minh, một số đảng viên của Đảng từ Việt Nam và Thái Lan đã sang hoạt động xây dựng cơ sở cách mạng ở Lào, các Chi bộ cộng sản sau đó đã được thành lập ở Sa-va-na-khet, Tha-khek và Viêng Chăn. Tháng 9 năm 1934, Đảng bộ Đảng Cộng sản Đông Dương đã được thành lập tại Lào, chịu trách nhiệm lãnh đạo phong trào cách mạng Lào. Kể từ đó, cuộc đấu tranh cách mạng của nhân dân hai nước ngày càng phát triển trong tình đoàn kết chiến đấu, tạo nên sức mạnh chung để cùng tiến hành thắng lợi trong Cách mạng Tháng Tám (Cách mạng Lào cũng đồng thời thắng lợi vào tháng 8 năm 1945), giành độc lập cho nhân dân.

“Quan hệ đặc biệt” trên tinh thần “giúp bạn là tự giúp mình”, coi trọng quyền dân tộc tự quyết cũng như tính độc lập, tự chủ cách mạng của mỗi nước.

Hiểu rõ về tầm quan trọng của mối quan hệ Việt – Lào trong sự nghiệp cách mạng của hai nước, Chủ tịch Hồ Chí Minh thường xuyên căn dặn: “Cách mạng Lào không thể thiếu sự giúp đỡ của cách mạng Việt Nam và cách mạng Việt Nam cũng không thể thiếu sự giúp đỡ của cách mạng Lào” và “Ta phải nhận thức rõ rằng, hai dân tộc anh em Miên, Lào được giải phóng, thì nước ta mới được giải phóng thực sự và hoàn toàn”. Để từ đó, với tinh thần “giúp bạn là tự giúp mình”, Đảng, Chính phủ và nhân dân Việt Nam đã cử hàng chục vạn con em yêu quý của mình sang công tác và phối hợp với quân và dân Lào chiến đấu tại các chiến trường của Lào, máu của biết bao anh hùng, liệt sỹ Việt Nam hòa quyện với máu của quân và dân Lào để đem lại thắng lợi vẻ vang cho hai dân tộc. Cũng với tình cảm đặc biệt ấy, Đảng, Chính phủ và nhân dân Lào đã dành phần đất của mình cho Việt Nam mở tuyến đường vận tải chiến lược cho chiến trường miền Nam (Đường Hồ Chí Minh) và với ý chí “xẻ dọc Trường Sơn đi cứu nước”, lớp lớp các đoàn quân lên đường ra trận cùng nhân dân chiến đấu đến thắng lợi cuối cùng bằng chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử mùa Xuân 1975, giải phóng miền Nam thống nhất đất nước. Thắng lợi quyết định ấy đã tạo điều kiện thuận lợi cho cách mạng Lào giành thắng lợi hoàn toàn và lập nên nước Cộng hoà Dân chủ nhân dân Lào ngày 2-12-1975. Khi nhận định về ý nghĩa thắng lợi của cách mạng Việt Nam năm 1975, đồng chí Cay-xỏn Phôm-vi-hản, Tổng Bí thư Đảng Nhân dân cách mạng Lào khẳng định “Do mối quan hệ khăng khít giữa cách mạng ba nước Lào, Việt Nam, Căm-pu-chia và với tính chất Đông Dương là một chiến trường, thời cơ khách quan do thắng lợi hoàn toàn của nhân dân hai nước anh em đem lại, nhất là của cách mạng Việt Nam, có ý nghĩa cực kỳ quan trọng đối với cách mạng nước ta (Lào)”. Điều thần kỳ lịch sử đó còn phải kể đến một trong những nguyên nhân cơ bản là hai Đảng đã lãnh đạo nhân dân hai nước luôn trân trọng và biết phát huy mối quan hệ đặc biệt Việt – Lào.

Thực tế lịch sử cho thấy, quan hệ đặc biệt Việt – Lào là kết quả của việc vận dụng sáng tạo Chủ nghĩa Mác – Lênin của Chủ tịch Hồ Chí Minh vào hoàn cảnh thực tiễn của cách mạng Việt Nam và Lào, là sản phẩm của việc kết hợp đúng đắn chủ nghĩa yêu nước và chủ nghĩa quốc tế vô sản. Trong khi giải quyết đúng đắn và sáng tạo mối quan hệ đoàn kết dân tộc và đoàn kết quốc tế, đề cao tình đoàn kết, sự ủng hộ và tương trợ lẫn nhau giữa các dân tộc bị áp bức trong cuộc đấu tranh giành độc lập dân tộc, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn coi trọng quyền dân tộc tự quyết cũng như tính độc lập, tự chủ cách mạng của mỗi nước. Theo Người “kháng chiến Việt – Miên – Lào là chung của chúng ta, là bổn phận của chúng ta. Việt Nam kháng chiến có thành công thì kháng chiến Miên, Lào mới thắng lợi và kháng chiến Miên, Lào có thắng lợi thì kháng chiến Việt Nam mới hoàn toàn thắng lợi”. Người khẳng định “Chính phủ, mặt trận và nhân dân Việt Nam ra sức hết lòng, thành thực giúp đỡ mặt trận nhân dân Lào, Miên một cách không có điều kiện”; “Mà giúp nước bạn tức là tự giúp mình” nên “phải ra sức giúp đỡ một cách tích cực, thiết thực hơn”. Trong quá trình giúp cách mạng Lào, Người chỉ rõ, khi giúp bạn, phải nắm vững nguyên tắc dân tộc tự quyết. Việc gì cũng phải đựơc Đảng và nhân dân Lào đồng ý rồi mới làm. Bởi vì, người làm nên lịch sử Lào không ai khác chính là nhân dân Lào, cách mạng Lào phải do nhân dân Lào tự làm lấy, sự nghiệp cách mạng Lào phải do Đảng Nhân dân cách mạng Lào lãnh đạo. Tại Hội nghị Trung ương III (khóa II), Hồ Chủ tịch nêu rõ: “cho đến nay chúng ta phải cố gắng giúp đỡ hơn nữa” và cũng từ đó, nhiệm vụ giúp đỡ cách mạng Lào ngày càng được tăng cường, quan hệ đoàn kết Việt – Lào càng thêm gắn bó, mật thiết.

Theo thời gian, mối “quan hệ đặc biệt” Việt – Lào được Chủ tịch Hồ Chí Minh xây dựng và dày công vun đắp ngày càng được tăng cường và phát triển, trở thành động lực thúc đẩy quan hệ hợp tác toàn diện giữa hai nước. Đặc biệt từ khi hai nước thực hiện công cuộc đổi mới với nhiều khó khăn và thách thức, nhưng với truyền thống tốt đẹp của mối “quan hệ đặc biệt” và dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam và Đảng Nhân dân cách mạng Lào, quan hệ giữa hai nước ngày càng được tăng cường, mở rộng và giành được những thắng lợi to lớn. Đó cũng là thành quả được kết tinh từ lịch sử, từ sứ mệnh mà hai Đảng, hai dân tộc đã chung sức, chung lòng, chung vai gánh vác qua những chặng đường đầy khó khăn, gian khổ của cuộc đấu tranh giành độc lập và giải phóng đất nước./.

Theo Tạp chí Xây dựng Đảng
Huyền Trang (st)
bqllang.gov.vn

Nhật ký hành trình của Hồ Chủ tịch – Bốn tháng sang Pháp (VIII)

Đại biểu phụ nữ các nước đến thǎm Hồ Chủ Tịch – cụ tiếp đại biểu hội thanh niên thế giới.

Ngày 28 tháng 6

Sáng sớm, đi chơi vườn Saint Cloud, một thắng cảnh gần Paris.

12 giờ trưa, Đại tướng Juin và tướng Devèze đến chơi.

Chiều 8 giờ, đại biểu phụ nữ các nước đến thǎm Cụ Chủ tịch. Có: bà Sportisse, người Pháp làm nghị viên cho xứ Algérie, bà Barjonet, Trung ương uỷ viên Tổng hội phụ nữ Pháp, bà Kayser, bà Jacquier, luật sư, con gái cụ Cachin, bà Ricole, thư ký của Tổng hội phụ nữ Pháp; bà Passonaria, nghị viên Tây Ban Nha Cộng hoà, bà Hando, đại biểu ấn Độ trong Liên hiệp quốc, bà Mason, đại biểu phụ nữ người da đen ở Mỹ, bà Willish, đại biểu phụ nữ Mỹ, bà Alexandrovskaia, nghị viên Nga v.v.. Chị em phụ nữ Việt Nam thì có chị Châu.

Các bà nói chuyện về phụ nữ vận động ở các nước, rồi hỏi thǎm kỹ càng về sự sinh hoạt, tổ chức vận động của phụ nữ Việt Nam.

Hồ Chủ tịch trả lời, đại khái nói: Trong mấy mươi nǎm vận động độc lập, phụ nữ Việt Nam hy sinh khá nhiều. Chị Minh Khai là một người tiêu biểu trong thời kỳ đó. Đến lúc kháng chiến, chị em phụ nữ hǎng hái tham gia. Từ ngày dân Việt Nam tranh được chính quyền, phụ nữ đều ra sức gánh vác công việc. Nào giúp đỡ chiến sĩ, tǎng gia sản xuất. Nào chống nạn mù chữ, tham gia tuyển cử, Tuần lễ Vàng, Đời sống mới, v.v., việc gì phụ nữ cũng hǎng hái.

Các bà đại biểu nghe vậy, rất là vui lòng. Rồi ân cần gửi lời thân ái chúc phụ nữ Việt Nam gắng sức phấn đấu, và mong rằng phụ nữ ta sẽ giúp sức vào cuộc phụ nữ vận động thế giới. Các bà lại nói với Cụ Chủ tịch rằng: Liên đoàn Phụ nữ dân chủ thế giới trong cuộc khai hội hôm vừa rồi, đã công nhận đoàn thể phụ nữ Việt Nam làm hội viên.

Đó là một vinh hạnh lớn cho phụ nữ Việt Nam ta, nay đã có địa vị trong thế giới. Từ đây, phụ nữ ta cũng phải gắng sức làm thế nào để trong thì đoàn kết toàn thể chị em, đặng giúp việc xây dựng nước nhà; ngoài thì cộng tác với những đoàn thể dân chủ phụ nữ thế giới. Như thế mới xứng đáng địa vị của phụ nữ Việt Nam Dân chủ Cộng hoà.

Ngày 29 tháng 6

Sáng sớm, đi chơi rừng Vincennes. Cánh rừng đẹp này ở cạnh Paris, gần xóm lao động. Có thể nói rằng: Boulogne ở đầu Paris, là rừng của những người giàu có; Vincennes ở cuối Paris, là rừng của các lớp bình dân. ở đây có một toà pháo đài, trong mấy nǎm Pháp bị Đức chiếm, người Đức thường đem những người chí sĩ Pháp đến đó mà xử tử.

12 giờ, Thượng sứ D’ Argenlieu mời Cụ Chủ tịch ǎn cơm trưa. Có ông Đồng, ông Giám, ông Hà, và mấy người đại biểu Pháp cùng ǎn.

Chiều 8 giờ, Cụ Chủ tịch tiếp đại biểu Hội Thanh niên thế giới, có người Mỹ, người Anh, người ấn, người Đan Mạch, v.v. và đại biểu của các đoàn thể thanh niên Pháp, như Thanh niên Công giáo, Thanh niên Dân chủ, Thanh niên Cộng hoà, Thanh niên Hướng đạo, v.v..

Tất cả hơn 20 thanh niên, trai có, gái có. Họ ân cần hỏi: Thanh niên Việt Nam đoàn kết thế nào? Tranh đấu thế nào? Sinh hoạt thế nào? Giáo dục thế nào? Giúp công việc kiến thiết thế nào? Mấy phần trǎm thanh niên đã tổ chức? v.v..

Đ.H

cpv.org.vn

Nhật ký hành trình của Hồ Chủ tịch – Bốn tháng sang Pháp (VII)

Cụ chủ tịch tiếp các nhà báo, các nhà nhiếp ảnh và các nhà chiếu bóng –
những vị trọng yếu trong 3 chính đảng lớn nhất ở Pháp đến thǎm Hồ Chủ Tịch.

Ngày 25 tháng 6

6 giờ sáng, Cụ Chủ tịch và anh em tuỳ tùng đi thǎm mộ ông Khánh Ký.

Ông Khánh Ký là một người chụp ảnh có tiếng, trước có quen Cụ Phan Chu Trinh và nhiều nhà cách mạng Việt Nam ở Pháp. Tháng trước, ông Khánh Ký có gửi thơ tỏ ý muốn về nước và Cụ Chủ tịch cũng định giúp cho ông về. Chẳng may, trước mấy hôm phái bộ ta đến Pháp thì ông mất.

5 giờ chiều, Cụ Chủ tịch tiếp các nhà báo. Hơn 100 đại biểu các báo Pháp và báo ngoại quốc, nam có, nữ có, lại có nhiều nhà chụp ảnh và chiếu bóng. Có những người viết báo nổi tiếng như bà Tabouie Genevière, bà Simone Téry, ông Baillet, v.v..

Sau khi mời các nhà báo ǎn bánh và uống trà, Cụ Chủ tịch nói đại ý cảm ơn Chính phủ và nhân dân Pháp đã đón tiếp Cụ long trọng, thân mật; cảm ơn các báo tỏ tình thân thiện. Trước khi chưa chính thức gặp Chính phủ Pháp thì Cụ chưa tiện nói nhiều về chính trị. Chỉ có thể nói chung một câu là dân Việt Nam đòi thống nhất và độc lập.

Các nhà báo chuyện trò vui vẻ trong một tiếng đồng hồ.

Chiều 7 giờ, Cụ Chủ tịch tiếp các nhà lãnh tụ Đảng M.R.P (Đảng Cộng hoà bình dân, tức là Đảng của Thủ tướng Bidault): ông Francis Gay, Bộ trưởng, ông Michelet, Bộ trưởng, ông Schumann, Chủ tịch đảng và những uỷ viên Trung ương như: ông Collie, ông Gortès, ông Debay, ông Amaury, ông Terrenoire, ông Max André v.v..

Các báo đǎng tin rằng giấy bạc nước Hongrie mất giá đến nỗi người ta lấy giấy bạc 1000 làm đóm hút thuốc!

Vua Cao Mên là Sihanouk qua Pháp tháng trước, hôm nay từ giã Paris, trở về nước.

Ngày 26 tháng 6

7 giờ sáng, Cụ Chủ tịch đi thǎm anh em phái bộ ở lữ quán Sainte Anne và Louvre.

10 giờ, các đại biểu Liên đoàn ái hữu người Việt ở Marseille, Bordeaux, Toulouse và các tỉnh khác đến chào Hồ Chủ tịch và báo cáo tình hình của kiều bào ở Pháp.

5 giờ chiều, luật sư Bloncourt đến thǎm Cụ Chủ tịch. Ông Bloncourt là người da đen ở xứ Martinique. Tuy ông là dân Tây, có vợ Pháp, làm ǎn rất phát đạt, nhưng ông vẫn ra sức tranh đấu bênh vực cho các thuộc địa. Ông thường viết báo ủng hộ nước ta.

8 giờ, các vị lãnh tụ Xã hội Pháp đến thǎm Cụ Chủ tịch. Có bà Marty Capgras, Bộ trưởng Philip và Bộ trưởng Moutet, nghị viên Lussy, bác sĩ Boutbien, vǎn sĩ Rosenfeld, và những Trung ương uỷ viên Dechezelles, Roux, Stible, v.v.. Chuyện trò vui vẻ, 11 giờ khuya khách mới ra về.

Ngày 27 tháng 6

6 giờ sáng, đi dạo rừng Boulogne, quay về Trocadéro. Trocadéro xây đắp rất nguy nga. Một bên là Viện khảo cổ về loài người, một bên là Viện khảo cổ hải quân. Giữa là vườn rộng, có hồ nước. Đứng ở giữa sân trông thẳng ra thì thấy tháp sắt Eiffel và cả vùng chung quanh đó. Phong cảnh rất đẹp.

Trở về lữ quán, có mấy nhà báo đến xin chụp ảnh Hồ Chủ tịch.

1 giờ trưa, ông Sainteny mời Cụ Chủ tịch đến ǎn cơm ở nhà riêng ông ấy. Có 4-5 người Pháp chuyên môn về kinh tế ở nước ta, cũng đến ǎn cơm và nói chuyện. Họ đều tán thành hai bên Việt Pháp cộng tác một cách thật thà thì có ích cho cả đôi bên.

8 giờ chiều. Những vị trọng yếu trong Đảng cộng sản Pháp đại biểu cho 50 vạn đảng viên đến thǎm Hồ Chủ tịch.

Có các bà: Braun, Phó Chủ tịch Quốc hội, Jeannette, nghị viên, Vaillant Couturier, nghị viên, vợ chồng cụ Cachin.

Các ông: Thorez, Phó Chủ tịch Chính phủ Pháp, Duclos, Phó Chủ tịch Quốc hội, Marty, Trung ương uỷ viên, Mauvais, Trung ương uỷ viên, Billoux, Bộ trưởng Bộ Kiến thiết, Tillon, Bộ trưởng Bộ Quân khí.

Thế là trong mấy hôm nay, những người trọng yếu trong 3 đảng to nhất ở Pháp: Đảng Cộng hoà (M.R.P), Đảng Xã hội (S.F.I.O) và Đảng Cộng sản (P.C) đều có đến thǎm Hồ Chủ tịch.

Đ.H

cpv.org.vn

Nhật ký hành trình của Hồ Chủ tịch – Bốn tháng sang Pháp (VI)

Đại tướng Juin đến chào Chủ tịch – các cháu gặp Bác –
Ông thượng sứ D’argenlieu, ông Moutet và Hội Pháp – Việt đến chào Chủ tịch.

Ngày 23 tháng 6

Tất cả các báo Pháp đều đǎng lên trương nhất về cuộc đón tiếp Cụ Chủ tịch.

6 giờ 30, Cụ Chủ tịch và mấy anh em đi dạo rừng Boulogne. Tuy gọi là rừng nhưng kỳ thực là cái vườn rộng thênh thang, có non bộ, ao nước, hoa cỏ xinh tươi, cây cối um tùm, lại có sân đánh vợt, hồ bơi thuyền. Có hàng cơm quán rượu. Đây là một thắng cảnh ở Paris, nổi tiếng khắp thế giới.

12 giờ, Đại tướng Juin đến chào Cụ Chủ tịch. Ông Juin là một danh tướng, hiện nay giữ chức Tham mưu trưởng trong quân đội Pháp. Hồi tháng tư vừa rồi, ông ở Trung Hoa về có ghé xuống Hà Nội thǎm Cụ Chủ tịch. Ông là người có tài lớn nhưng tính tình lại rất giản dị.

Buổi trưa, anh em phái đoàn và ba đại biểu lính chiến Việt Nam ở lại ǎn cơm. Kế đó, các anh em trí thức ta ở Pháp đến chào Cụ Chủ tịch. Phần nhiều anh em là thầy thuốc, kỹ sư, trạng sư và một vài người hoạ sĩ, ai cũng náo nức muốn về ngay để giúp Tổ quốc.

5 giờ chiều, có 50, 60 trẻ em giai gái, lớn thì 13, 14 tuổi, bé thì chưa đầy nǎm. Có em thì cha mẹ là người Việt, em thì bố ta mẹ tây. Lắm em không hiểu tiếng ta, nhưng em nào cũng biết hát “Tiến quân ca” và “Hồ Chí Minh”.

Nhân dịp Cụ Chủ tịch qua Pháp, các em đều mặc áo ta. Các chị phụ nữ cũng vậy. Nhiều chị em Pháp cũng mặc áo ta.

Cụ Hồ trao lá cờ của nhi đồng Việt Nam ở Hà Nội tặng nhi đồng Việt Nam ở Pháp, rồi Cụ mời các em ǎn bánh, uống nước trà. Các em hát múa, chơi đùa rất là vui vẻ. Lúc nào cũng xúm xít ríu rít bên Cụ, em thì đòi Cụ ẵm, em thì nắm lấy tay. Chẳng những các em không biết lạ mà em nào cũng tỏ vẻ như biết Cụ đã lâu, rất mến yêu và thân thiết.

Trước khi các em về, Cụ Hồ và các em có chụp ảnh kỷ niệm.

Hai hôm nay, nhiều nhà báo Pháp và ngoại quốc đến phỏng vấn, nhưng Cụ Chủ tịch đều từ tạ, và hứa rằng mai kia sẽ gặp chung tất cả các báo.

Hôm nay, Chính phủ Pháp thành lập, có 30 Bộ trưởng và Thứ trưởng. Đảng M.R.P 10 người, Đảng Cộng sản 10 người, Đảng Xã hội 7 người. Các đảng nhỏ có 3 người.

Ngày 24 tháng 6

Sáng sớm, Cụ Chủ tịch và anh em cũng đi dạo rừng Boulogne, chừng một tiếng đồng hồ.

8 giờ 30, hơn 100 anh em đại biểu kiều bào Nam Bộ đến chào cụ Chủ tịch. Sau khi nghe Cụ giải thích tình hình ở nước nhà, anh em đồng thanh hứa trung thành với Tổ quốc và ra sức ủng hộ chính phủ, để làm cho nước nhà độc lập và thống nhất. Nhiều anh em cảm động ứa nước mắt.

Buổi trưa, Bộ trưởng Moutet và nhiều người tai mắt trong chính phủ Pháp đến chào Cụ Chủ tịch. Tiếp đó, Thượng sứ D’Argenlieu cũng đến chào Cụ.

7 giờ chiều, Ban trị sự Hội Pháp – Việt đến chào mừng Hồ Chủ tịch. Trong đó có các ông: Justin Godart, Cựu Bộ trưởng, nhà kiến trúc sư danh tiếng, Francis Jourdain, giáo sư và nghị viên Rivet, giáo sư Baillet, Tướng Petit, ông hội trưởng Liên đoàn báo giới Pháp, trạng sư Nordman, vǎn sĩ Bloch, nhà lãnh tụ phụ nữ vận động bà Cotton v.v..

Ngày hôm nay rất nhiều kiều bào suốt ngày đến thǎm Cụ. Các nơi gửi thơ, đánh điện tín về cũng nhiều.

Đ.H

cpv.org.vn

Nhật ký hành trình của Hồ Chủ tịch – Bốn tháng sang Pháp (V)

Đi thǎm suối nước nóng – từ biệt biarritz – chặng tiếp đón thứ nhất:
từ sân bay Bourget về khách sạn Royal monceau – các cháu bên Pháp gặp Bác.

Ngày 19 tháng 6

Đi thǎm xứ Dax. ở đây có suối nước nóng gần như nước sôi. Suối ấy mỗi ngày chảy gần triệu rưỡi lít, uống rất lành. Mùa rét có máy đem nước ấy vào nhà làm cho ấm. Người ta dùng bùn xứ Dax để chữa bệnh thấp. Có nhà tắm đặc biệt cho người có bệnh, họ lấy bùn phủ cả người hoặc nằm vào bùn nóng. Làm như thế ít lâu thì hết bệnh.

Đi thǎm Lourdes – Lourdes là một nơi phong cảnh rất đẹp. Có nhà thờ đạo nguy nga và có tiếng là thiêng. Hàng nǎm rất nhiều người đến cầu nguyện, nhất là cầu nguyện cho khỏi bệnh tật.

Ngày 20 tháng 6

Cụ Chủ tịch và mấy anh em tuỳ tùng đi câu cá thu với thuyền chài làng Handaye, gần Biarritz.

Thuyền ra cách bờ chừng 5 cây số thì bắt đầu câu. Cần câu dài như cây tre. Dây câu rất dài, mồi bằng vỏ bắp ngô, tước nhỏ như sợi tóc, cột vào lưỡi câu. Câu chừng 2 tiếng đồng hồ chẳng được gì. Đến khi gần trở về thì câu được 13 con, mỗi con cân nặng chừng 12 đến 15 cân tây.

Chiều nay, có ông Tillon, Bộ trưởng Bộ Quân giới và ba nghị viên Pháp đến Biarritz chào Chủ tịch. Mấy ông ǎn cơm chiều với Chủ tịch, rồi ngủ lại một đêm.

Ngày 21 tháng 6

Đi chơi quanh miền Biarritz. Trên bờ bể còn nhiều pháo đài do người Đức làm để đề phòng cuộc đổ bộ của các nước Đồng minh. Nhưng hiện nay đã bị phá huỷ hết.

Khắp vùng, đường sá thẳng thắn, rộng rãi, sạch sẽ, hai bên có giồng cây rất đẹp và mát mẻ. Tự vùng này trở lên phía Bắc có rất nhiều rừng thông. Những rừng thông giồng đã 150 nǎm nay, mục đích để che gió bể và ngǎn cát khỏi bay lấp ruộng nương. Đồng thời gỗ thông và nhựa thông bán được nhiều tiền. ở các rừng thông, người ta dùng lửa, củi phải rất cẩn thận, vì cây thông dễ cháy, và nếu không may mà cháy thì lửa chóng lan rộng ra ngay.

Ngày 22 tháng 6

Cụ Chủ tịch lên Paris.

12 giờ ở lữ quán ra đi. Các quan chức sở tại, đội cảnh sát và công an tề tựu tiễn Cụ. Trên sây trường bay có bộ đội bồng súng chào. Cụ Chủ tịch bắt tay mọi người và nói mấy câu cảm ơn, hết thảy đều tỏ tình quyến luyến.

Đúng 1 giờ trưa, máy bay cất cánh. Trên máy bay có cắm cờ Việt Nam, cờ Pháp. Trông xuống thấy phố xá, làng mạc, ruộng nương xanh, đỏ, man mác và phì nhiêu. Miền này không bị chiến tranh tàn phá mấy.

Gần đến Paris, máy bay liệng quanh một vòng ngắm thành phố Paris, và ngoại ô, to và rộng. Những cái dễ nhận nhất và thấy trước hết là tháp sắt Eiffel, lǎng vua Nã Phá Luân có nóc tròn và sơn bằng vàng, nhà thờ đạo “Sacré Coeur” trên gò Montmartre, Cửa Khải hoàn (Arc de Triomphe) có mười hai đường phố chầu lại, nhà thờ “Notre Dame” và nhiều ống khói của các nhà máy cao ngất, có cái đương nghi ngút toả khói.

Đúng 4 giờ 15, máy bay đỗ xuống trường bay Le Bourget. Khi tàu liệng thấp đã ngó thấy người đông như kiến trên sân.

Tàu vừa tắt máy đã thấy Bộ trưởng Bộ Hải ngoại, Bộ trưởng Bộ Nghi lễ đại biểu cho Chính phủ Pháp, các tướng, các đô đốc, đại biểu cho hải, lục, không quân ra đón Chủ tịch vào nhà ga. Từ trong nhà ga rải một đường thảm nhung đỏ dài ra đến chỗ lên xe ô tô. Khắp xung quanh và trong nhà ga, treo nhiều cờ Việt Nam và Pháp. Trên một đỉnh cột cao nhất trước ga, phấp phới một lá cờ đỏ sao vàng lớn. Ngoài thềm ga, có đại biểu các đảng, các đoàn thể Pháp và đại biểu kiều bào xúm lại hoan nghênh và hoan hô Chủ tịch. Một đại biểu phụ nữ Pháp tặng Cụ bó hoa và thân thiết hôn Cụ. Đại biểu kiều bào cũng tặng hoa.

Đội quân danh dự cử bài quốc ca Việt và Pháp. Cụ Chủ tịch và đại biểu Chính phủ Pháp đứng chào cờ, rồi đi duyệt binh. Hàng nghìn kiều bào, trí thức, lao động, binh lính, phụ nữ, nhi đồng, đủ mặt các giới hoan hô, mừng rỡ, tưng bừng rộn rã. Hàng trǎm người chụp ảnh và quay phim xúm xít chụp trước, quay sau.

Trước khi lên xe, đại biểu Hãng thông tấn Pháp đem máy truyền thanh lại xin Cụ nói mấy câu. Đại ý Cụ nói: Cảm ơn Chính phủ và dân chúng Pháp tiếp đãi một cách long trọng, mong sau này hai dân tộc Pháp và Việt cộng tác một cách bình đẳng, thật thà, và thân thiện.

Nói xong, Cụ Chủ tịch cùng đại biểu Pháp và ông trưởng đoàn phái bộ ta lên xe vào Paris. Trước sau, nhiều xe ô tô và mô tô của Công an cục Paris và Bộ Nội vụ đi hộ vệ và dẫn đường. Hai bên đường từ trường bay về lữ quán, cách mấy chục thước lại có một người cảnh binh đứng canh, cấm xe cộ và người không được đi lại. Dân chúng Paris đứng hai bên đường rất đông, nhiều chỗ xe Chủ tịch qua họ vỗ tay và hoan hô, tỏ tình hoan nghênh và thân thiện.

Ở lữ quán cũng có một bộ đội danh dự đứng chào và canh gác. Trên cửa lữ quán tung bay một lá cờ đỏ sao vàng rất lớn.

“Royal Monceau” là một lữ quán sang trọng ở Paris. Đã có sự sắp sửa trước phòng khách, phòng ǎn, phòng giấy, buồng ngủ, buồng tắm cho Cụ Chủ tịch và anh em tuỳ tùng. Chính phủ Pháp để 3 cái xe ô tô để Cụ dùng và mỗi khi đi đâu cũng có người theo hộ vệ.

Cuộc đón tiếp chính thức đến đây là một đoạn.

cpv.org.vn

Nhật ký hành trình của Hồ Chủ tịch – Bốn tháng sang Pháp (IV)

Phái đoàn từ giã Biarritz đi paris – đi thǎm phong cảnh trong xứ basque
và dự những cuộc vui nhà quê – Bộ trưởng bộ quân giới từ paris xuống thǎm chủ tịch.

Ngày 15 tháng 6

Được tin Thượng sứ D’Argenlieu từ Sài Gòn về đến Paris.

11 nghị viên Algériens lập thành phái dân chủ, tên là “Union démocratique du Manifeste Algérien”. Chủ tịch là ông Ferhat Abbas, Phó Chủ tịch Saadane và Nolefai, Thư ký Boutaren.

Ngày 16 tháng 6

Phái đoàn ta từ giã Biarritz đi Paris.

Hôm nay, Cụ Chủ tịch và mấy tuỳ viên đi xem làng mạc gần Biarritz, giáp giới Tây Ban Nha. Nước Pháp và Tây Ban Nha chỉ cách nhau một giòng suối nhỏ. Bên kia suối cách vài trǎm thước lại có chòi canh của Tây Ban Nha. Có một con đường xe lửa thông nước Pháp với Tây Ban Nha, nhưng vì tình thế chính trị, hiện nay hai bên đều đóng biên giới.

Ngày 17 tháng 6

Đi thǎm phong cảnh miền núi Pyrénée. Dân làng Sare đặc biệt tổ chức một cuộc múa và một trận đánh cầu “Pelote” để hoan nghênh Cụ Chủ tịch. 20 trẻ em gái và 20 cô thiếu nữ mặc áo quần địa phương, do một người thầy dậy múa chỉ huy múa theo nhịp âm nhạc. Pelote là một thứ cầu riêng của xứ Basque. Quả cầu giống quả cầu vợt (tennis) nhưng nặng hơn. Vợt thì đan bằng mây, dài hơn cánh tay, hình giống cái liềm, nòng vũm và rộng, đút tay vào được. Người đánh cầu chia làm hai phe, mỗi bên 4 người, đánh vào bức tường rất cao và rộng. Người phe A đánh vào tường, cầu nhảy ra, người phe B đón cầu đánh vào tường. Đánh đi đánh lại, bên nào đánh hụt bên ấy thua.

Người đến xem rất đông. Khi cuộc đánh cầu và cuộc múa xong, các chức việc trong làng mời Cụ Chủ tịch và anh em tuỳ viên đi uống rượu. Trẻ em xúm xít chung quanh. Cụ Chủ tịch chụp một bức ảnh với các em để làm kỷ niệm.

Trong khi chuyện trò, người làng nói một cách thật thà rằng: trong làng người nào cũng có buôn lậu, vì vùng này gần biên giới Tây Ban Nha.

Hôm nay các báo bắt đầu nói về việc nước ta.

Ở Pháp thì vấn đề tǎng lương 25% cho những người lao động đương là vấn đề chính và gay go.

Đời sống của dân Pháp còn hạn chế. Thí dụ: bánh mì mỗi người mỗi ngày được 300 gam, rượu vang mỗi tháng 2 lít. Bơ mỗi tháng 50 gam, đường mỗi tháng nửa cân, thịt mỗi tuần 100 gam. Thuốc lá mỗi tháng 6 gói thuốc (mỗi gói 20 điếu) và 1 gói thuốc rời. áo quần và giầy, theo người làm trong lữ quán nói thì từ lúc chiến tranh đến giờ, họ chỉ mua được một bộ quần áo và một đôi giầy.

Ngày 18 tháng 6

Dân Pháp kỷ niệm kháng chiến. Khắp cả nước đều có cuộc vui. Sáng sớm, Cụ Chủ tịch đặt vòng hoa trước Đài chiến sĩ trận vong. Buổi chiều, dân sự nhảy đầm, đồng thời có cuộc “Múa bò”. Người ta làm con bò giả bằng giấy, do hai người đội đi. Trên sừng bò cột các thứ pháo hoa. Khi pháo cháy thì bò xông vào những đám đông, mọi người đều reo cười, chạy tán loạn. Trò này giống trò múa sư tử ở ta.

Những việc chính trị trọng yếu trong ngày hôm nay:

Đại giáo chủ Hồi Hồi thân Đức mà từ trước đến nay bị giam lỏng ở Pháp, hôm vừa rồi trốn đi. Báo Pháp và báo thế giới ầm ĩ nói về việc đó.

Nước ý sắp sửa bỏ vua để lập chính phủ Cộng hoà.

Ở Palestine, dân Do Thái bạo động.

Các báo đều đǎng kết quả cuộc tuyển cử ngày 2 tháng 6 vừa qua, so với cuộc tuyển cử ngày 21 tháng 10 nǎm ngoái.

Tuyển cử ngày 21-10-45

Tuyển cử ngày 2-6-46

Số phiếu

Số nghị viên

Số phiếu

Số nghị viên

458 vạn

148

M.R.P

659

165

500 –

Cộng sản

414

50

419 –

137

Xã hội

418

123

288 –

1)

Cộng hoà tự do

252

63

201 –

39

Phái tả

229

40

cpv.org.vn

Nhật ký hành trình của Hồ Chủ tịch – Bốn tháng sang Pháp (III)

Một chặng bay dài nhất: 2613 cây số – biarritz, nơi cụ dừng chân trước khi đến paris –
kiều bào khắp thế giới đánh điện về biarritz.

Ngày 9 tháng 6

Sáng nay, được tin Paris nói: Chính phủ Pháp mời Hồ Chủ tịch đến Cannes (Pháp) tạm nghỉ, chờ Chính phủ mới thành lập, sẽ đón Cụ Chủ tịch về Paris.

Cụ Chủ tịch và mấy anh em trong phái đoàn đi xem Kim tự tháp Sekharat.

Tháp này lâu đời hơn tháp ở Le Caire. Và ở đây có những “mả chôn bò” đời xưa.

Mả ở trong một cái hầm sâu và rộng thênh thang. Vào xem phải có đèn đuốc. Cách một đoạn lại có một mả bò. Bây giờ chỉ còn hòm chứ bò không còn nữa. Hòm làm bằng đá, mài trơn lỳ hoặc có chạm trổ, dài hơn 3 thước tây, ngang chừng 2 thước, cao hơn 2 thước, đặt trên những bệ bằng đá. Đó cũng là những công trình to tát.

Vì tôn giáo đời xưa xem bò là một thứ súc vật thiêng liêng, cho nên kính trọng nó như thế. Bây giờ ở ấn Độ cũng vẫn còn kính trọng bò.

ở đây, đền chùa đời xưa di tích còn nhiều. Những di tích đó tỏ cho chúng ta biết rằng: nghề kiến trúc và chạm trổ hồi đó rất khéo. Nhiều tường vách trong đền chùa có những bức vẽ, tả đời sống của vua chúa đời đó, màu sắc vẫn còn tươi. Nhớ lại trong Viện khảo cổ có những cành lá và những xác người đã cách mấy ngàn nǎm vẫn còn nguyên vẹn, chứng tỏ rằng nghề chế thuốc đời xưa giỏi lắm.

Hiện nay có một nhà bác học người Pháp phụ trách xây dựng đắp lại những đền đài ở Sakharat.

Ngày 10 tháng 6

Hôm nay lại được điện Paris nói khác với điện hôm qua, mời Hồ Chủ tịch đến Biarritz, chứ không phải đến Cannes. Anh em có người đề nghị đi xem Ismalia ở trên kênh Suez. Có người lại đề nghị nghỉ cho khoẻ để mai đi.

Đi dạo các hàng bán sách. Người ta nói: ở đây có nhiều thứ sách Pháp mà bên Pháp không có bán, vì ở đây giấy rẻ, dễ in hơn. Cũng như xe hơi Pháp, ở Pháp lại khó mua hơn ở đây.

Khát nước, Cụ Chủ tịch vào hàng cà phê uống nước chanh. Hàng này cây nhiều, sân mát, khách ngồi đầy cả trong ngoài. Đương ngồi uống nước thì có một người đi lại, nói một cách rất lễ phép xin chụp ảnh Hồ Chủ tịch.

Anh em mỗi người mua một ít sách, rồi về soạn sửa để mai đi.

Ngày 11 tháng 6

Sáng sớm từ giã Le Caire, bay đến Bengasi, 1.090 cây số. Nghỉ lại ǎn cơm. Ǎn rồi lại bay. Bengasi thuộc xứ Tripolitaine, trước là thuộc địa ý, nay có quân đội Anh đóng. Có một ít tù binh Đức làm công tại trường bay.

Gần chiều thì bay đến Biskra, 1.523 cây số.

Thế là hôm nay bay xa nhất, cộng = 2.613 cây số.

Đến nơi thì có ông Tỉnh trưởng và ông Huyện trưởng người Pháp đón tiếp. Khí trời nóng nực, thành phố sơ sài. Nghỉ một lát, đi thǎm vườn cây chà là của ông Ben Ali, người Arabe, hội viên thành phố. Ông là nhà quý tộc bản xứ, có qua học ở Pháp.

Chiều tối, bên cạnh lữ quán có chiếu bóng ngoài sân, đứng trên hiên xem xuống cũng được. Đại khái chiếu truyện sau này:

“Nước quân chủ nọ có một ông vua trẻ con. Mẹ vua ở một nước bên Âu. Vua đi thǎm mẹ, theo trẻ con chơi đùa thích lắm. Lúc trở về nước, đi đến nửa đường thì được tin trong nước cách mệnh, lập nền cộng hoà. Vua bé chẳng những không buồn rầu mà lại vui mừng hớn hở, nói rằng: “Tôi không phải làm vua ngồi ngai vàng nữa! Tôi lại được chơi đùa vốc đất với trẻ con, sướng quá, sướng quá!”.

Tin tức: Báo “Rạng đông” (Aurore) đǎng: Đã mấy tháng nay, mấy vạn người trong thành phố này không được ǎn một miếng thịt tươi.

Ngày 12 tháng 6

Bay từ Biskra (Algérie) đến Biarritz, 1.525 cây số.

Vì chính phủ Pháp chưa thành lập, chưa có ai chính thức đón tiếp Hồ Chủ tịch, nên Cụ nghỉ lại ở Biarritz vài hôm.

Biarritz là một bãi bể nghỉ hè ở miền tây nam nước Pháp, gần Tây Ban Nha. Phong cảnh tuyệt đẹp. Lâu đài và lữ quán lịch sự rất nhiều.

Cụ Chủ tịch và phái đoàn ở lữ quán Carlton, là một lữ quán rất lịch sự ở Biarritz.

Ngày 13 tháng 6

Hôm nay nhiều đại biểu kiều bào ở khắp các nơi trong nước Pháp đến chào Cụ Chủ tịch. Nhiều anh em cùng vợ con đến chào Cụ. Lại rất nhiều kiều bào quyên tiền nhờ Cụ Chủ tịch đưa về cho Tổ quốc. Tuy số tiền không là bao, nhưng tấm lòng hǎng hái yêu nước thế thật là quý báu. Cụ Chủ tịch có gửi thơ cảm ơn các kiều bào đó.

Rồi kiều bào ở Pháp, ở Anh, ở Mỹ, ở Nouvelle Calédonie và các nơi khác khắp thế giới đều có gửi điện chúc mừng Cụ Chủ tịch và tỏ lòng yêu mến Tổ quốc.

Ngày 14 tháng 6

Hôm nay cũng như mọi ngày khác, sớm dậy thì Cụ Chủ tịch và anh em ra bãi bể chơi chừng một tiếng đồng hồ. Đến lúc về đã có kiều bào hoặc các nhân sĩ Pháp đến thǎm.

Các đoàn thể Pháp, như Tổng Công hội (C.G.T), Hội Pháp – Việt, v.v. có gửi điện chào mừng và hoan nghênh Cụ Chủ tịch.

Hội Pháp – Việt mới thành lập được mấy hôm trước. Mục đích của Hội là giúp cho Việt Nam độc lập. Trong Hội có tất cả các đảng phái. Trong Ban trị sự thì có những người danh tiếng như ông Justin Godart, ông Francis Jourdain, Tướng Petit, v.v.. Phụ nữ thì như bà Joliot Curie, một nhà khoa học nổi tiếng toàn thế giới, bà Braun đảng viên cộng sản, Phó Chủ tịch Quốc hội Pháp, bà Andrée Viollis, một nhà viết báo nổi tiếng khắp toàn cầu. Hội này mới ra một tờ báo hàng tuần nói về việc nước ta. Hội có giao thiệp mật thiết với kiều bào ta, nhưng hội viên toàn là người Pháp. Đã có một vài tỉnh lập ra Hội nhánh.

Về việc Hội nghị Việt – Pháp, chưa nhất định nơi nào. Các báo Pháp, báo thì nói sẽ khai tại Compiègne, báo thì nói sẽ khai tại Paris hoặc Chantilly, báo thì nói rõ sẽ khai tại Fontainebleau.

Đ.H

cpv.org.vn

Nhật ký hành trình của Hồ Chủ tịch – Bốn tháng sang Pháp (II)

Từ ấn độ sang miền tiểu Á – Ai Cập, đất Anh đóng quân, nhưng Ai Cập không dự chiến – đi xem “thành phố ma”.

Ngày 4 tháng 6

Bay từ Calcutta tới Agra. Chừng 1.630 cây số.

Khí trời rất nóng.

Buổi chiều, Cụ Chủ tịch và anh em phái đoàn đi xem mấy nơi cổ tích ở Agra:

1. Lâu đài Delhi Gate do vua ấn Độ là Schab Djihan xây đắp từ thế kỷ thứ 17. Lâu đài này làm toàn bằng đá, rất to lớn và rộng rãi; kiến trúc rất khéo.

2. Lǎng Taj Mahab của bà Noor Mahab, vợ vua Schab Djihan xây bằng đá trắng. Chung quanh có vườn rộng, cây cối um tùm. Trước cửa có đài vuông cũng xây bằng đá trắng, giữa đài có hồ nước. Từ đài vào đến lǎng, hồ nước dài hơn hai trǎm thước, bờ hồ cũng toàn bằng đá trắng. Nền lǎng rất cao. Bốn góc có bốn tháp tròn, cũng bằng đá trắng, trong có bực thang lên đến ngọn tháp. Lǎng to lớn như một toà nhà vuông, hai từng trên, một từng hầm. Chạm trổ tỷ mỷ. Đi vào xem phải tháo giầy hoặc mang dép vải của những người ấn Độ chực sẵn cho thuê nơi cửa. Từng trên thì để mả giả. Dưới hầm mới chính là mả thật. Đứng bên mả mà nói to thì có tiếng vang dội khắp cả lǎng. Thường ngày có nhiều người ấn Độ vào cầu nguyện.

Ngày 5 tháng 6

Từ Agra bay đến Karachi, 1.140 cây số.

Ông Tổng đốc người Anh là Sir Mudi mời Cụ Chủ tịch đến nghỉ tại Phủ tổng đốc. Anh em phái đoàn thì ngủ tại lữ quán. Buổi trưa, quan tuỳ tùng đưa Cụ Chủ tịch đi xem thành phố Karachi. Thành phố này buôn bán và công nghệ không có gì mấy.

Xem thành phố rồi đi xà lúp ra bể chơi.

Karachi tuy nóng nực, nhưng trong Phủ tổng đốc khá mát mẻ. Phòng ngủ có buồng tắm. Có sách vở, báo chí, giấy bút. Có đồng hồ. Có giấy in rõ cho khách biết giờ nào ǎn, giờ nào có xe đi đâu, muốn giặt quần áo thì nên thế nào, v.v..

Cách sắp đặt rất thanh nhã và tiện lợi cho khách. Ǎn uống thì giản đơn nhưng mà lịch sự. Trong lúc nói chuyện, ông Tổng đốc nói rằng: Chính phủ Anh ở Luân Đôn đã báo tin cho ông ấy biết có Hồ Chủ tịch đi qua đó và dặn ông tiếp đãi.

Chiều, lúc ǎn cơm có gặp Phó Toàn quyền người Hà Lan vừa ở Nam Dương về. Ông ấy tỏ ý vấn đề Nam Dương cũng còn khó khǎn.

Ngày 6 tháng 6

Từ Karachi bay đến Habagna. Đoạn này dài nhất: 2.610 cây số.

Trưa đỗ lại ở Schaba để ǎn cơm và lấy dầu. ở đây cũng rất nóng. Nóng đến nỗi không có cây cỏ gì hết. Trên tàu bước xuống, hơi nóng như lửa đốt. Mọi người phải vội vàng đến nấp dưới bóng cánh máy bay. Muốn cho có bóng mát, người Anh làm những cây và cỏ bằng kẽm, sơn màu xanh biếc. Đứng xa, trông thấy tưởng là cây cỏ thật. Một điều mà ai nấy đều nhận thấy là trường bay của người Anh tổ chức rất chu đáo. Khách muốn ǎn cứ việc qua bàn giấy lấy bông, rồi vào phòng ǎn thì liền có người nhận bông và đưa thức ǎn cho. Mỗi sân bay đều có một cửa hàng nhỏ bán các thứ cần dùng cho khách, như bàn chải rǎng, thuốc rǎng, kính, kẹo, thuốc lá, xi đánh giầy, các báo chí, v.v..

Habagna là đất xứ Irak; thành phố chưa có gì, chỉ có trường bay và những nhà cửa cho nhân viên và lữ quán cho khách qua lại, do người Anh quản lý.

Ngày 7 tháng 6

Từ Habagna bay đến Le Caire, 1.386 cây số.

Khi qua Jérusalem, máy bay có bay một vòng trên kinh thành để mọi người được xem lǎng chúa Jésus. Tiếc là không có địa đồ chỗ đó, nên chỉ thấy cây cối nhà cửa, không biết lǎng ở nơi nào.

Lúc đến, Le Caire có đại biểu sứ thần Pháp ra đón. Hồ Chủ tịch đến nghỉ tại sứ quán Pháp. (Sứ thần đi vắng). Các anh em Phái đoàn thì nghỉ tại lữ quán.

Nghỉ lại đây 3 hôm.

Ngày 8 tháng 6

Theo phép lịch sự, Cụ Chủ tịch cùng Tướng Salan và Đại biểu Pháp đi thǎm vua Ai Cập. Nhà vua đi vắng. Nội vụ đại thần là ông Mahmoud Siouf Bey thay mặt vua ra tiếp chuyện và mời uống cà phê, một thứ cà phê gọi là cà phê Ai Cập hoặc cà phê Turque, có tiếng là rất ngon, pha trong chén nhỏ xíu.

Quan nội vụ đại thần có thay mặt vua đến chào lại Hồ Chủ tịch. Nhưng Cụ Chủ tịch đi vắng. Ông ấy để thư và danh thiếp lại tỏ ý cảm ơn.

Le Caire là kinh đô nước Ai Cập, ở gần Địa Trung Hải, nằm trên bờ sông Nil. Dân số hơn 2 triệu. Thành phố đắp theo kiểu mới. Nhà cửa, phố xá nguy nga, trồng cây hai bên. Trên chợ dưới thuyền, cảnh thật sầm uất.

Mấy nǎm chiến tranh, tuy có quân Anh đóng trong nước, nhưng Ai Cập không tham chiến. Người Ai Cập lợi dụng dịp đó mà buôn bán trở nên giàu có khá nhiều.

Có các thứ báo bằng tiếng Ai Cập, tiếng Pháp và tiếng Anh.

Ai Cập tuy trong vòng ảnh hưởng của nước Anh, nhưng người Ai Cập lại ham vǎn hoá Pháp. Người Pháp có mở nhiều trường học ở đây.

Lúc này Ai Cập đương yêu cầu Anh rút quân đội đi. Cuộc đàm phán chưa có kết quả, cho nên không khí có vẻ nặng nề.

Hồ Chủ tịch và phái đoàn đi xem Viện khảo cổ Ai Cập.

Viện này nổi tiếng trong thế giới. Lúc đến, có ông Giám đốc Viện Prioton ra tiếp và dẫn đi xem. Ông là một nhà bác học Pháp, rất giỏi về khoa khảo cổ. Trong Viện này có những quý vật từ đời thượng cổ, cách đây đã 4, 5 nghìn nǎm. Những ngai, hòm toàn bằng vàng của các vua chúa đời đó. Những pho tượng bằng đá, những thứ vòng, xuyến, chén, đĩa bằng ngọc, bằng vàng, chạm trổ cực khéo. Nếu đem những thứ đó so với ngày nay thì thấy rằng: thủ công nghệ đời nay không hơn gì đời xưa.

Gần chiều, đi xem “Thành phố ma”.

Đó là một nghĩa địa. ở gần bên thành phố. Nhà cửa, đường sá không khác một thành phố cho người sống ở. Nhưng suốt ngày lặng ngắt vắng tanh. Chiều lại mới có người đến cúng vái.

Cách đó không xa, có một pháo đài to lớn có lính Anh đóng. Đứng trên có thể xem suốt thành phố Le Caire. Pháo đài này đắp theo kiểu Mông Cổ. Trong cuộc đàm phán, Chính phủ Anh hứa trong vài tháng nữa sẽ trả pháo đài ấy cho Ai Cập.

Xem pháo đài rồi, đi xem Kim tự tháp. Xung quanh tháp, toàn là bãi cát, không có cây cối gì. Hình tháp ba góc, như cái bánh ú. Dưới to trên nhỏ, cao như hòn núi, toàn xây bằng những hòn đá vừa vuông vừa dài chừng 3, 4 thước tây. Đá đó đem từ nơi khác đến, cách đây có hàng trǎm dặm. Đời xưa chưa có máy móc, mà lấy được những hòn đá to như thế, đắp được những cái tháp cao như thế, thật là một công trình to lớn.

Gần bên tháp có một con thú bằng đá, đầu thì như đầu đàn bà, mình thì như mình sư tử, nằm trên cái bệ. Riêng cái bàn chân nó đã cao quá đầu người đứng. Đêm trời sáng trǎng, trông vào tượng đá, đượm một vẻ nghiêm trang thần bí lạ!

Chiều hôm nay, Sứ quán Pháp làm tiệc hoan nghênh Hồ Chủ tịch. Đến dự tiệc có các ông: Đô đốc Amalrich, giáo sư Jouguet, Tướng Salan, Nhà bác học Brioton, Bà Camborde, Bà De Bataille…

Đ.H

cpv.org.vn

Nhật ký hành trình của Hồ Chủ tịch – Bốn tháng sang Pháp (I)

Chặng bay đầu tiên: Gia Lâm – Pégou 1.368 cây số – Phong cảnh thành phố Calcutta – Lòng yêu nước của kiều bào ta ở bên nước Ấn Độ

Ngày 31 tháng 5

Từ tờ mờ sáng, hai bên đường từ Hà Nội sang Gia Lâm, anh em tự vệ đã đứng gác, cách 10 thước một người. Quần chúng rất đông.

Trong trường bay Gia Lâm, bộ đội ta, bộ đội Pháp, các đoàn thể, các bà con và đại biểu Hoa kiều đã chờ sẵn để tiễn chân Hồ Chủ tịch và phái đoàn. Khi xe Cụ Chủ tịch tới, tiếng hoan hô nổi dậy không ngớt. Cụ Chủ tịch, ông Phạm Vǎn Đồng, tướng Valuy và tướng Salan đi duyệt qua hai đạo binh Việt và Pháp. Quốc ca hai nước nổi dậy hùng hồn. Sau đó, các đại biểu tặng hoa. Hồ Chủ tịch cùng mọi người bắt tay ân cần từ biệt, rồi bước lên máy bay.

Hai chiếc máy bay Dakota kiểu Mỹ từ từ mở máy. Trên máy bay và dưới đất, khǎn tay vẫy lên như bướm bay, giữa tiếng hoan hô và tiếng máy nổ ầm ầm. Máy bay lượn quanh vòng rồi vượt nghiêng về phía tây.

Một chiếc cho anh em phái bộ. Một chiếc trên có Hồ Chủ tịch với ông Phạm Vǎn Đồng, ông Hoàng Minh Giám, bác sĩ Nguyễn Vǎn Luyện, ông Nguyễn Đệ và hai tuỳ tùng của Cụ Chủ tịch là các ông Vũ Đình Huỳnh, Đỗ Đình Thiện, cùng với tướng Salan, ông Darcy, đại uý Cartier. Những người làm tàu, có trung uý Oignon, ông Sehacgla, thiếu uý Séguineau, thiếu uý Poicar coi vô tuyến điện, ông Dumas coi máy. Máy bay Dakota trung bình mỗi giờ bay chừng 280 cây số. Hôm nay bay từ Hà Nội đến Pégou, một trường bay gần Rangoon (kinh đô Diến Điện) đúng 1.368 cây số.

Khi gần đến Rangoon gặp cơn giông, phải bay cao hơn 4.000 thước tây. Vì vậy mà có người lạnh, mà khó thở, đau lỗ tai.

Trường bay cách thành phố Rangoon xa, đi lại không tiện. Phải ngủ lại ở Pégou. Nhà ngủ rộng rãi, thoáng mát, có đủ điện, nước. Sự ǎn uống thì do người Anh cung cấp. Họ tiếp đãi một cách rất lịch sự.

Sân trường bay này khác với những trường bay khác, toàn lót bằng những tấm sắt mỏng, lỗ chỗ những lỗ tròn to bằng cá ũi bát. Mỗi tấm sắt rộng chừng một thước, dài hai thước tây. Họ lót cặp díp trên một tấm, dưới một tấm. Sân bay xây bằng cách này thực tiện và mau chóng hơn làm bằng đá hoặc ciment.

Ngày 1 tháng 6

Sớm dậy, sau bữa lót dạ, bay đến Calcutta thì nghỉ lại. 1.093 cây số.

Khi đến trường bay, có một thiếu tá người Anh coi trường bay, cùng với đại biểu Toàn quyền Anh và lãnh sự Pháp đến đón chào Hồ Chủ tịch. Lãnh sự Pháp đưa Cụ đến nghỉ tại lữ quán lớn nhất ở Calcutta là lữ quán The Great Eastern. Sẽ nghỉ lại ở đó hai ngày.

Ngày 2 tháng 6

Cụ Chủ tịch đi thǎm vị Toàn quyền Anh, rồi đi xem thành phố Calcutta.

Thành phốalcutta rất rộng, hơn 4 triệu người. Trong lúc chiến tranh, quân đội Anh và Mỹ đóng ở đó rất đông. Bây giờ đã rút bớt nhiều. Có từng dãy phố cửa hàng vuông vắn chừng một thước tây, như một cái hòm. Hàng hoá sắp chung quanh, người chủ ngồi xếp bằng chễm chệ ngồi chính giữa tưởng như không bao giờ đứng dậy và cũng không có chỗ mà đứng dậy bước ra được nữa! Lại có 1 cửa hàng cũng vuông và to đúng như thế chồng trên cửa hàng đó.

Ngoài đường, từng lũ bò tự do đi nghênh ngang. Có lúc chúng nằm ngổn ngang giữa đường đi hoặc ngay trước hè phố. Người ta để mặc, không ai dám động đến, vì người ấn Độ xem bò là vật thiêng liêng.

Theo phong tục ở đây, đàn bà con gái rất ít đi ra ngoài. Buổi chiều gió mát, ngoài đường đông đặc đàn ông, nhưng không thấy đàn bà. Chiều hôm nay có cuộc đá bóng, hàng vạn người đi xem, mà không thấy một người đàn bà nào.

Tại các quán cơm, trong phòng đầy những người hầu. Một bàn 4, 5 người khách, cũng có đến 4, 5 người hầu.

Được tin Hồ Chủ tịch đến Calcutta, các báo ấn Độ và báo Anh đến phỏng vấn, và đǎng ảnh với tiểu sử của Hồ Chủ tịch. Họ mời Cụ Chủ tịch đến chơi, nhưng vì ít thì giờ Cụ chỉ đến thǎm được một báo. Cả toà soạn và công nhân xúm xít lại chào đón và tiếp đãi một cách thân mật. Các báo ấn Độ đều tỏ ý đồng tình với cuộc vận động độc lập của Việt Nam.

Có mấy kiều bào ta ở các tỉnh, nghe tin Hồ Chủ tịch đến Calcutta, cũng vội vã vượt mấy trǎm cây số về yết kiến. Nói chuyện mười phút đồng hồ, rồi lại vội vã ra về. Việc nhỏ mọn ấy cũng đủ tỏ tấm lòng yêu nước của đồng bào ta ở ngoại quốc.

Ngày 3 tháng 6

Hôm nay ông chủ tỉnh Chandernagor mời Hồ Chủ tịch đến chơi. Chandernagor là một thuộc địa của Pháp cách Calcutta chừng 60 cây số. Thật ra có thể nói thị trấn này là một bộ phận của Calcutta, vì từ Calcutta đến Chandernagor có nhà cửa phố xá liền nhau. ở Chandernagor rất yên tĩnh, buôn bán ít, không ồn ào như ở Calcutta. ở đây người ta cũng tiêu tiền ấn Độ, chứ không có tiền riêng.

Ông chủ tỉnh là một người thanh niên hoạt bát và nhã nhặn. Cả tỉnh chỉ có 4, 5 người Pháp. Hôm nay dân Chandernagor đang bầu cử một người nghị viên để tham gia quốc hội Pháp. Tất cả nǎm tỉnh thuộc địa Pháp ở ấn Độ được bầu một nghị viên. Ông nghị này là người ấn Độ.

ở Chandernagor, cũng có uớc 20 người kiều bào ta, vừa đàn ông, đàn bà và trẻ con. Trước kia ở Vân Nam, sau người Pháp đem về ở Chandernagor. Mọi người đều ở chung một nhà. Khi Cụ Chủ tịch đến thǎm, anh chị em vui mừng và cảm động lắm. Lúc Chủ tịch về, mấy chị phụ nữ cảm động khóc nức nở cố muốn giữ Cụ ở lại.

Buổi chiều, Cụ Chủ tịch thết tiệc Lãnh sự Pháp và những người tai mắt Pháp ở Calcutta và Chandernagor.

Đ.H

cpv.org.vn

Nhật ký hành trình của Hồ Chủ tịch – Bốn tháng sang Pháp

Bức thư gửi cho hai em

Đ.H.viết

Em Xuân và em Lan,

Chắc các em cũng như tất cả thanh niên, tất cả đồng bào. Các em yêu nước cho nên các em yêu mến Cụ Hồ. Vì Cụ Hồ chỉ biết có nước chứ không biết có mình. Vì nước có cụ Hồ mà làm cho chúng ta càng yêu mến nước.

Anh còn nhớ hôm nọ, cả ngày hai em tỏ vẻ bǎn khoǎn. Hỏi ra mới biết: hai em nghe nói Cụ Hồ ho. Hôm sau hai em vội vàng gửi gói thuốc ho biếu Cụ. Em Nhàn và mấy chị em khác cũng làm như các em.

Khi phái đoàn ta qua Pháp khai hội thì Chính phủ Pháp mời Cụ Hồ qua chơi. Thấy nói Cụ đi bằng tàu bay thì hai em tò mò hỏi han: Đi máy bay có nhọc mệt không? Mấy ngày đến nơi? Thậm chí có bạn em lại rủ nhau viết thơ cho Cụ, xin Cụ cho đi.

Ngày Cụ sắp lên đường, gió mưa như trút, và dù hai em ở xa, hai em cũng cố đi biểu tình cho được. Không khác gì cả, chỉ mong được đi đến Học xá, được trông thấy Cụ Hồ.

Các máy bay còn đương bǎng đường sang châu Âu mà anh đã tiếp được những bức điện của các em và các đoàn thể đánh theo hỏi thǎm tin của Cụ.

Những việc nhỏ đó tỏ cho anh biết rằng: hai em và các bạn luôn luôn nhớ Cụ Hồ, muốn biết Cụ mạnh giỏi thế nào ? Ǎn uống ra sao? Đi những đâu? Gặp những ai? Nói những chuyện gì? Người nước Pháp đối với Cụ thế nào? Người các nước khác đối với Cụ thế nào? Biết bao nhiêu là câu hỏi muốn được trả lời.

Mấy bạn anh và anh được cái may theo Cụ sang Âu châu. Cho nên muốn các em vui lòng – nhưng phải chǎm học nữa vào cơ!- chúng anh tặng các em món quà này. Chúng anh ghi chép hành trình và công việc mỗi ngày của Cụ gửi về cho các em xem. ồ như anh đã trông thấy Xuân và Lan cười, đòi xem ngay, đây các em đọc.

Đ.H.

cpv.org.vn

——————————–

1. Tuyên ngôn Độc lập: Ngày 2-9-1945, tại Vườn hoa Ba Đình (Hà Nội), thay mặt Chính phủ lâm thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đọc bản Tuyên ngôn Độc lập do Người khởi thảo, tuyên bố trước đồng bào cả nước và nhân dân thế giới việc thủ tiêu chế độ thực dân phong kiến ở Việt Nam và thành lập nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà. Trong vǎn kiện lịch sử này, sau khi tố cáo những tội ác tầy trời của bọn thực dân và phong kiến tay sai trong gần một thế kỷ qua, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định những quyền dân tộc cơ bản của dân tộc Việt Nam và trịnh trọng tuyên bố với thế giới: “Nước Việt Nam có quyền hưởng tự do và độc lập, và sự thật đã thành một nước tự do độc lập. Toàn thể dân tộc Việt Nam quyết đem tất cả tinh thần và lực lượng, tính mạng và của cải để giữ vững quyền tự do, độc lập ấy”. Kết tinh truyền thống lịch sử kiên cường bất khuất của dân tộc ta, Tuyên ngôn Độc lập là tác phẩm bất hủ của Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại, là bản anh hùng ca mở đầu một kỷ nguyên mới của dân tộc – Kỷ nguyên độc lập, tự do và chủ nghĩa xã hội. Tr.1.