Tag Archive | Văn hóa – Xã hội

“Cánh cụt cánh què” – kỷ niệm khó quên năm 1972

(VOV) – Bài hát có giai điệu, tiết tấu vui nhộn, vận dụng ngôn ngữ dân gian chế giễu, châm biếm không lực Hoa Kỳ.

Những ngày cuối năm 1972 không thể nào quên, người dân Hà Nội vợi đi nhiều vì sơ tán về các vùng lân cận. Nếu đứng ở ngã tư Quán Sứ – Tràng Thi (cạnh cơ quan Đài TNVN) thì nhìn rõ được nhà hát Lớn vì rất vắng người. Nhưng nếu ngước mắt nhìn lên cao thì thấy trên các nóc nhà cơ quan, bệnh viện, trường học… những chiến sĩ tự vệ và cả dân quân đang tập trung cao độ hướng tầm nhìn 8 hướng, cảnh giác với lũ giặc trời và sẵn sàng nhả đạn.

Các Ban Biên tập của Đài TNVN sơ tán về Quốc Oai (Hà Tây cũ), Đoàn Ca nhạc của Đài sơ tán lên Lương Sơn (Hòa Bình) chỉ để lại một số người trực chiến đấu và trực làn sóng phát thanh, nên càng vắng vẻ.

Bất chấp tiếng rít của máy bay và tiếng bom của Mỹ ném xuống bệnh viện Bạch Mai, khu dân cư Khâm Thiêm… trên nóc khu nhà 58 Quán Sứ, đội tự vệ vẫn căng mắt trực chiến ngày đêm, với nỗi căm thù và niềm tin tưởng nhân đôi. Sự “im lặng” ấy như báo hiệu một trận chiến căng thẳng sắp diễn ra.

Khi tiếng kẻng hối hả vang lên là tiếng “gừ gừ” nghe đều đều như tiếng xay lúa, càng lúc càng to dần. Rồi mặt đất bắt đầu rung lên, liên hồi, kéo theo những tiếng nổ rền. Đó là sự xuất hiện của máy bay B52.

Đêm nào cũng vậy, con “ngáo ộp” cứ lừ lừ đến và gây tội ác. Xen giữa những đợt ném bom đó, cứ khoảng 15 – 20 phút chúng lại cho 1 hoặc 2 chiếc máy bay F111, loại “cánh cụp cánh xòe” bay rất thấp, tiếng gầm rú man rợ. Chỉ một chiếc như thế cũng đủ cho cả thành phố phải thức giấc và lực lượng phòng không phải đánh trả.

Chúng cứ làm thế mãi, nên mọi người ngủ luôn dưới hầm. Đến sáng hôm sau, tin tức mà ai cũng muốn biết là chúng thả bom nơi nào? Điều quan trọng hơn nữa là có mấy chiếc B52 bị ta bắn rơi, bao nhiêu phi công Mỹ bị bắt. Bà con ta vui sướng hả hê vì chúng ta đã đứng vững và bắt giặc Mỹ phải đền tội, nhưng cũng đau xót vì bao nhiêu người vô tội bị sát hại, nhà cửa bị san bằng.

Những ngày ấy các nhạc sĩ Phạm Tuyên, Nguyễn An và tôi được phân công ở lại Hà Nội để thay đổi các chương trình ca nhạc và văn học nghệ thuật khi cần, phục vụ đồng bào và chiến sĩ ở cả hai miền Nam Bắc. Chúng tôi ăn ngủ và làm việc dưới căn hầm nhà hai tầng phía sau cơ quan.

Lúc nào cũng như con thoi chạy qua chạy lại giữa 58 Quán Sứ và 39 Bà Triệu, nơi biên tập và nơi truyền âm phát sóng. Tôi đã phóng xe đạp đến số 51 Trần Hưng Đạo để mời nhà văn Nguyễn Tuân đến đọc bài văn; hay đến số 4 Lý Nam Đế mời nhà thơ Thanh Tịnh đến đọc bài tấu vui…

Phòng thu “dã chiến” lúc đó đặt ở tầng 1 gần cổng chính của Đài. Đúng là “bận thì bận mà vui càng vui” như lời một bài dân ca thời ấy. Chứng kiến một không gian hào hùng đầy khí phách của Hà Nội, chúng tôi không ai bảo ai mỗi người đều cố gắng viết bài hát để thể hiện tình cảm của mình và đó cũng là trách nhiệm của một công dân với thời cuộc. Một cuộc thi đua thầm lặng nhưng không kém phần sôi nổi đã diễn ra.

Anh Phạm Tuyên viết rất nhanh bài “Hà Nội những đêm không ngủ” thể hiện tình cảm của người ở lại với người đi sơ tán đang tạm xa Thủ đô. Còn anh Nguyễn An cũng vừa hoàn thành xong bài “Tiếng hát của Hà Nội hôm nay” để báo tin với quân và dân cả nước rằng, mặc cho bom đạn Mỹ tàn phá Thủ đô ta, nhưng người Hà Nội vẫn vững vàng và luôn ngân vang tiếng hát chiến đấu và chiến thắng.

Cánh cụt cánh què
Nhạc và lời: Dân Huyền

Tối hôm 22/12, tôi đang ngồi nghe lại chương trình ca nhạc ngày thành lập quân đội thì Tổng biên tập Trần Lâm đến, ông hỏi đã xong được bài nào chưa? Anh Tuyên và anh An lần lượt khoe ngay và hát luôn. Ông Lâm rất vui và nhắc chúng tôi cần có thêm bài khái quát nói về trận “Điện Biên Phủ trên không” của Hà Nội ta và cũng đừng quên có thêm những bài “châm biếm” không lực Hoa Kỳ.

Các anh “phân công” luôn cho tôi viết. Tổng biên tập nói vui: “Đặt hàng đấy, cố lên nhé!”. Tôi đáp lễ bằng nụ cười “quyết tâm” nhưng không giấu được sự lo lắng về trình độ, bởi đây đâu phải là “đặt hàng” mà là “mệnh lệnh của trái tim”.

Viết châm biếm rất khó. Phải chọn được giai điệu, tiết tấu vừa vui nhộn vừa dễ hát. Phần lời cũng phải chế giễu chua cay, vận dụng được ngôn ngữ dân gian. Lúc đầu tôi định viết về B52, lấy chất liệu từ điệu “Bà Rí” (Bà rằng, Bà rí…), nhưng chất này tôi đã sử dụng trong bài “Voi nhiều, cỏ ít” rồi.

Lục lại trí nhớ hồi đi về Phú Thọ (đất Tổ Hùng Vương) thu thanh hát Xoan, hát Ghẹo, tôi bỗng nghĩ ngay đến điệu “Trống quân Đức Bác” (Trống quân, trống quýt, trống cò – Đứa nào lấy tớ, tớ cho quan tiền…). Tôi đang ngồi vào đàn để tìm những nốt nhạc dí dỏm nhất thì anh Tuyên bước vào nói như reo: “Ta bắn rơi F111 rồi!”.

Được dịp, tôi “bám” lấy nó rồi chạy vội lên phòng tin thời sự hỏi lại, mới biết tự vệ nhà máy xay Lương Yên trận địa dọc sông Hồng đã hợp đồng bắn hạ được máy bay “cánh cụp cánh xòe”. Thế là tôi “vớ” ngay bốn chữ ấy biến nó thành “cánh cụt, cánh què”. Như có động lực mới, cả lời và nhạc cùng lúc cứ thế mà “tuôn” ra:

“Cánh cụp, cánh cụp cụp với lại cánh xòe xòe
Bị đạn tầm thấp ta ghè hàng xâu
Mỹ khoe Mỹ mạnh Mỹ giàu (ái chà chà)
Cả cánh lẫn đầu xuống tận bùn đen
Giặc lái kinh hoàng mặt mũi nhọ nhem
Hễ đến đất này thì xác chúng bay nhiều thêm…”

Viết xong lời một, tôi vừa đàn vừa hát cho anh An nghe. Anh An nói nên thêm lời hai cho đủ ý và phong phú. Hễ “phang” thì phang cho “đã”. Viết mau lên để sáng mai xe giao liên đem cả 3 bài lên đoàn ca nhạc thu cho kịp. Thế là suốt đêm hôm ấy tôi hoàn thành xong lời hai:

“Cánh cụt, cánh cụt cụt với lại cánh què què
Kìa nhìn nó cháy bốn bề lửa vây
Đến đây vỡ mặt vỡ mày (ái chà chà)
Đã sẵn ruộng cày gốc rạ vùi thây
Còn đến nơi này còn chết lăn quay
Súng máy súng trường bủa lưới quyết tiêu diệt ngay!”

Tôi thở phào nhẹ nhõm, chép lại toàn bài và không quên ghi: Tốp nam hát. Sáng dậy nộp cho anh Tuyên để gửi lên Hòa Bình kịp dàn dựng.

Sáng 28/12 chúng tôi nhận được băng ghi âm 3 bài hát từ nơi sơ tán của đoàn ca nhạc gửi về. Trong chương trình ca nhạc 11h30 trưa hôm đó và các chương trình tiếp theo đã được truyền đi kịp thời trên làn sóng của Đài TNVN cùng những bài hát của các nhạc sĩ khác. Biết rằng bài hát “Cánh cụt cánh què” của tôi do nhạc sĩ Văn Cước phối khí, hai nghệ sĩ Đăng Khoa và Hữu Nội trình bày. Những mong muốn của tác giả đã được đáp ứng.

Sau chiến thắng “Điện Biên Phủ trên không” 20 ngày, tôi lại được lệnh cùng một bộ phận biên tập của Đài đi sơ tán cách Hà Nội hơn 300 km. Trong hành trang mang theo, tôi không quên những lá thư của thính giả đề nghị được nghe lại bài hát “Cánh cụt cánh què”. Họ động viên khích lệ, muốn tôi viết thêm những bài hát châm biếm bên cạnh những bài hát trữ tình ca ngợi.

Thấm thoắt đã 40 năm tròn sau trận “Điện Biên Phủ trên không” của quân và dân Hà Nội anh hùng, đã bắn rơi 32 máy bay của Mỹ có cả B52 và F111 trong 12 ngày đêm rực lửa.

Giữa những ngày kỷ niệm lịch sử này, xin được biết ơn những người đã ngã xuống vì Thủ đô, vì cả nước để chúng tôi được vinh dự có mặt trong ngày vui hôm nay./.

Nhạc sĩ Dân Huyền
vov.vn

Máy bay rơi… trên những con tem

QĐND – Có một bộ sưu tập tem đặc biệt về những chiếc máy bay Mỹ bị bắn rơi trên bầu trời miền Bắc của Trung tướng, Viện sĩ hàn lâm Xô-viết A.I. Khiu-lê-nhen. Xem bộ sưu tập của người bạn Xô-viết, người chơi tem được khám phá, cảm nhận rõ hơn về cuộc chiến đấu của quân và dân ta chống lại tội ác không lực Hoa Kỳ…

Con tem thứ hai trong bộ tem về sự kiện bắn rơi chiếc máy bay thứ 2.500. Ảnh chụp lại.

Trong những năm chiến đấu chống chiến tranh phá hoại miền Bắc của đế quốc Mỹ, quân và dân ta đã bắn hạ hơn 4000 máy bay Mỹ các loại. Đặc biệt, trong chiến dịch 12 ngày đêm “Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không” tháng Chạp năm 1972, hàng chục “Pháo đài bay” B -52 – biểu tượng uy lực của không quân Mỹ và các loại máy bay tiêm kích hiện đại bậc nhất của Mỹ, đã bị bắn tan xác. Là người có một thời gian dài giúp đỡ Việt Nam, Trung tướng, Viện sĩ hàn lâm Xô -viết A.I. Khiu -lê-nhen đã sưu tầm được bộ tem đặc biệt về sự thất bại của không quân Mỹ, giai đoạn từ năm 1964 đến năm 1973 trên bầu trời miền Bắc Việt Nam.

Bộ sưu tập tem gần như tái hiện đầy đủ từng giai đoạn lịch sử, từng chiến công tiêu biểu của quân và dân ta trong cuộc chiến đấu chống chiến tranh phá hoại miền Bắc của Mỹ. Từ sự kiện bắn rơi chiếc máy bay thứ 500 được in lên tem, đến con tem in sự kiện quân và dân ta bắn hạ chiếc máy bay thứ 4000. Trong đó con tem: O du kích nhỏ giương cao súng / Thằng Mỹ lênh khênh bước cúi đầu được phát hành năm 1967, ghi dấu chiến công của quân và dân ta bắn rơi chiếc máy bay thứ 2000, đã trở thành con tem được “đi” đến nhiều nước nhất. Đặc biệt, trong số máy bay Mỹ bị bắn hạ trên bầu trời miền Bắc, thì chiếc máy bay thứ 2.500 đã được phát hành tới 2 con tem. Một con tem mô phỏng chiếc máy bay đang tan rã rơi thẳng xuống mặt đất; con tem thứ hai là cảnh xác chiếc máy bay đang bốc cháy ngùn ngụt trên bầu trời… Con tem về chiến công tiêu diệt chiếc máy bay thứ 3.500 vẽ hình tên phi công Mỹ mặc trang phục tù binh bại trận gục mặt xuống nhìn xác chiếc máy bay tan nát thảm hại như một đống sắt vụn. Con tem phát hành nhân sự kiện bắn hạ chiếc máy bay thứ 4000 lại minh họa hình ảnh của những chiến sĩ pháo cao xạ ngước mắt bám sát máy bay địch trên bầu trời…

Những con tem in hình máy bay Mỹ bị bắn rơi trên miền Bắc, giai đoạn từ (1964- 1973). Ảnh chụp lại.

Được biết, bộ sưu tập tem quý giá này đang được trưng bày trang trọng trong “phòng truyền thống” tại nhà riêng của Trung tướng -Viện sĩ A.I. Khiu -lê-nhen, tại thành phố Xanh Pê -téc-bua của Liên bang Nga. Trong cuốn hồi ký “Những điều không thể quên ở Việt Nam” được xuất bản năm 2008, bộ sưu tập tem của ông đã được thể hiện khá đầy đủ và trang trọng trong cuốn sách. Cựu chiến binh Nguyễn Quang Hùng, nguyên là sĩ quan chỉ huy điều khiển, thuộc Trung đoàn Tên lửa 236 là người chỉ huy trực tiếp bắn rơi chiếc máy bay thứ 2.500 trên bầu trời Hà Nội ngày 6-11-1967. Được xem bộ sưu tập tem trên đây trong cuốn hồi ký “Những điều không thể quên ở Việt Nam”, ông Nguyễn Quang Hùng xúc động nói: “Bộ tem có giá trị đặc biệt với chúng ta, dù là hình ảnh thì đó là một kỷ vật, một tài sản tinh thần có ý nghĩa rất lớn”. Năm 2008, Trung tướng, Viện sĩ hàn lâm Xô -viết A.I. Khiu -lê-nhen đến thăm những người bạn Việt Nam, đã chia sẻ cùng cựu chiến binh Nguyễn Quang Hùng: Đã có nhiều nhà sưu tầm tem thích thú hỏi mua lại với giá cao, nhưng với ông, bộ sưu tập là tài sản vô giá, là kỷ vật, tinh thần, tình cảm của ông với quân và dân Việt Nam. Vì vậy, ông không thể bán với bất kỳ giá nào…

Thú vui chơi tem đã có từ rất lâu, nhưng với những con tem ghi dấu những chiến công bắn rơi máy bay Mỹ trên đây, thì không chỉ là sự thỏa mãn yêu cầu về thưởng thức nghệ thuật mà còn là sự khám phá, tìm hiểu về lịch sử của dân tộc Việt Nam “lấy nhỏ thắng lớn, lấy ít địch nhiều”. Với “nhà sưu tập” A.I. Khiu -lê-nhen, thì đây không đơn thuần chỉ là “sưu tập tem”, mà còn là tình cảm của một người bạn Nga đối với nhân dân Việt Nam anh hùng và nhân hậu.

NGUYỄN VĂN HẠNH
qdnd.vn

Đức “Chính” trong tư tưởng Hồ Chí Minh

“Cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư” là những chuẩn mực đạo đức cốt lõi trong tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh.

dưc chinhaThăm Bệnh xá Vân Đình, tỉnh Hà Tây ngày 20-4-1963, Bác Hồ căn dặn
cán bộ bệnh xá thực hiện “Lương y như từ mẫu”

Những chuẩn mực đạo đức tốt đẹp này đã tồn tại qua thời gian, qua các chế độ xã hội và đã được Bác Hồ tiếp thu, phát triển nội dung của những chuẩn mực ấy để rèn luyện chính mình và răn dạy chúng ta. Có người cho rằng: Giáo dục cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư thì e cổ quá. Bác đã ôn tồn giải thích: “Cái gì cũ mà tốt thì phải tiếp thu, phát triển lên”.

Hồ Chí Minh đã viết nhiều bài về cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư. Bản thân Người thực sự là tấm gương mẫu mực của cần, kiệm, liêm, chính. Bốn đức ấy, đức nào cũng quý, cũng cần, Bác Hồ đã ví như bốn mùa của trời, bốn phương của đất, thiếu một đức, thì không thành người. Với chữ “chính”, đức “chính”, Bác không phân tích nhiều, Người viết: “Chính nghĩa là không tà, nghĩa là thẳng thắn đứng đắn. Điều gì không thẳng thắn, đứng đắn, tức là tà”.

Cần, kiệm, liêm là gốc rễ của chính. Nhưng một cây cần có gốc rễ, lại cần có cành, lá, hoa, quả mới là cây hoàn toàn. Một người phải cần, kiệm, liêm nhưng còn phải chính mới hoàn toàn. Trên quả đất có hàng muôn triệu người. Số người ấy có thể chia làm hai hạng người thiện và người ác. Trong xã hội, tuy có trăm công nghìn việc. Song những công việc ấy có thể chia làm hai thứ: việc chính và việc tà. Làm việc chính, là người thiện. Làm việc tà, là người ác. Siêng năng (cần), tằn tiện (kiệm), trong sạch (liêm), chính là thiện. Lười biếng, xa xỉ, tham lam là tà, là ác.

Chữ “chính” của Bác là sự tiếp thu, phát triển chữ “chính” từ đạo Nho của Đức Khổng Tử. Đức Khổng Tử nêu học thuyết của mình cách đây khoảng 2.500 năm đòi hỏi xã hội phong kiến phải thực hiện cho được “chính danh”. Danh là tên gọi của con người hoặc sự vật. Danh có thể hiểu là do con người đặt tên cho sự vật và hiện tượng khi đã hiểu biết về bản chất của nó. “Chính danh” nghĩa là tên gọi của sự vật thế nào thì bản chất của sự vật như thế ấy. Vua phải thật sự xứng đáng là vua, có đầy đủ các tố chất về tài, đức, về trí tuệ. Các thứ bậc, quan tước được cất nhắc, bổ nhiệm cũng phải có đầy đủ những tiêu chí xứng đáng với chức vụ được bổ (những tiêu chí ấy bây giờ tương tự như chúng ta coi đó là các tiêu chuẩn cán bộ). Trong các mối quan hệ thì cha phải ra cha, con phải ra con, vợ phải ra vợ, chồng phải ra chồng, trên phải ra trên, dưới phải ra dưới… Đức Khổng Tử cho rằng danh có chính thì ngôn mới thuận. Ngôn là biểu hiện không chỉ của danh mà còn là biểu hiện của trí tuệ và các phẩm chất bảo đảm của chính danh. Học thuyết chính danh của Khổng Tử vô cùng sâu sắc và gần gũi với chúng ta hiện nay. Bác Hồ dạy cán bộ, đảng viên đạo làm gương, nêu gương: “Đảng viên đi trước, làng nước theo sau” cũng có cội nguồn sâu xa từ thuyết chính danh.

Đức Phật Thích Ca Mâu Ni quan niệm về cuộc đời là những chuỗi ngày đau khổ, là sự luân hồi, nhân – quả. Người đã tìm ra chân lý của sự khổ đau vô tận của con người do thập kết sử (mười điều) do chính con người tạo ra: tham lam, giận dữ, si mê, kiêu ngạo, nghi ngờ, thân kiến, biến kiến, tà kiến, kiến thủ, giới cấm thủ; trong đó đặc biệt có tam độc (ba điều): tham lam, giận dữ, si mê là nguyên nhân chính của sự đau khổ. Đức “chính” theo quan niệm của đạo Phật hết sức toàn diện cả tư duy đến hành động, cả lời nói đến việc làm trong mọi mối quan hệ của con người. Cái đích chữ chính của Đức Phật là cái đích hướng thiện, loại bỏ cái tà, cái ác…

Bác Hồ kính yêu tiếp thu những tinh túy cái thiện của Đức Khổng Tử, Đức Phật, Người định nghĩa: chính nghĩa là không tà, nghĩa là thẳng thắn, đứng đắn. Nội dung chữ chính của Bác có cả những điều trong chữ Chính của tinh hoa văn hóa nhân loại: nhân loại luôn có xu hướng hướng thiện, hướng tới cái chính, không chấp nhận cái tà, cái ác. Thực hiện chữ chính theo quan niệm của Chủ tịch Hồ Chí Minh, phải bắt đầu từ tâm và phải là sự tu dưỡng bền bỉ suốt đời. Trong mối quan hệ với “liêm”; có “liêm” thì mới có “chính”; có “cần”, “kiệm” thì có “liêm”; nhưng cũng có khi có “liêm” mà chưa thể có “chính” hoàn toàn. Ví dụ như có một người trong cuộc sống và quan hệ luôn liêm khiết, trong sáng, nhưng trước hành vi lũng đoạn, sa đọa của người khác lại không dám góp ý, không dám đấu tranh… thì người đó chưa chính tâm, chưa chính ngôn… Cho nên trong bốn đức: cần, kiệm, liêm, chính mà Bác dạy chúng ta đức nào cũng vô cùng cần thiết và thực hiện nó không hề dễ. Đức “chính” là kết quả của cần, kiệm, liêm nhưng không phải cứ thực hiện tốt cần, kiệm, liêm là có “chính”, phải thấy “chính” độc lập tương đối, đồng thời cũng là cái đức khó thực hiện nhất trong bốn đức. Trong đời sống “chính” có ý nghĩa vô cùng sâu rộng, vô cùng cần thiết, nhưng không phải ai cũng thực hiện được, nhất là trong quá trình phát triển nền kinh tế thị trường hiện nay ở nước ta.

Thực hiện tốt đức “chính” thật sự là niềm tin, là sự công bằng, văn minh và ổn định chính trị, xã hội. Những điều đó đòi hỏi ở mọi người, trước hết là ở Đảng, ở cán bộ, đảng viên, đặc biệt là những người đang giữ những cương vị, những trọng trách của Đảng và chính quyền các cấp, bởi vì, họ như những tấm gương cho cán bộ, đảng viên và nhân dân noi theo… Hiểu được và làm được chữ “chính” trong tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh không hề đơn giản mà nó là niềm tin, là cội nguồn của sự đoàn kết, là biểu hiện của một xã hội chân chính, một Đảng chân chính, một tương lai chân chính, bắt đầu từ mỗi con người chân chính..

CHÍNH

Chính nghĩa là không tà, nghĩa là thẳng thắn, đúng đắn. Điều gì không đúng đắn, thẳng thắn, tức là tà. CẦN, KIỆM, LIÊM, là gốc rễ của CHÍNH. Nhưng một cây cần có gốc rễ, lại cần có cành, lá, hoa, quả mới là hoàn toàn. Một người phải Cần, Kiệm, Liêm, nhưng còn phải CHÍNH mới là người hoàn toàn. Trên quả đất, có hàng muôn triệu người. Song số người ấy có thể chia làm hai hạng: người THIỆN và người ÁC.

Trong xã hội, tuy có trăm công, nghìn việc. Song những công việc ấy có thể chia làm 2 thứ: việc CHÍNH và việc TÀ.

Làm việc CHÍNH, là người THIỆN.

Làm việc TÀ, là người ÁC.

Siêng năng (cần), tằn tiện (kiệm), trong sạch (liêm), CHÍNH là THIỆN.

Lười biếng, xa xỉ, tham lam, là tà, là ác.

Bất kỳ ở tầng lớp nào, giữ địa vị nào, làm nghề nghiệp gì, sự hoạt động của một người trong xã hội có thể chia làm 3 mặt:

1. Mình đối với mình.

2. Mình đối với người.

3. Mình đối với công việc.

ĐỐI VỚI MÌNH

– Chớ tự kiêu, tự đại. Tự kiêu, tự đại là khờ dại. Vì mình hay, còn nhiều người hay hơn mình. Mình giỏi, còn nhiều người giỏi hơn mình. Tự kiêu, tự đại tức là thoái bộ. Sông to, biển rộng, thì bao nhiêu nước cũng chứa được, vì độ lượng của nó rộng và sâu. Cái chén nhỏ, cái đĩa cạn, thì một chút nước cũng đầy tràn, vì độ lượng của nó hẹp nhỏ. Người mà tự kiêu, tự mãn, cũng như cái chén, cái đĩa cạn.

– Luôn luôn cầu tiến bộ. Không tiến bộ thì là ngừng lại. Trong khi mình ngừng lại thì người ta cứ tiến bộ. Kết quả là mình thoái bộ, lạc hậu.

Tiến bộ không giới hạn. Mình cố gắng tiến bộ, thì chắc tiến bộ mãi.

– Luôn luôn tự kiểm điểm, tự phê bình, những lời mình đã nói, những việc mình đã làm, để phát triển điều hay của mình, sửa đổi khuyết điểm của mình.

Đồng thời phải hoan nghênh người khác phê bình mình. Cụ Tăng Tử là một vị đại hiền, là một tín đồ giỏi nhất của cụ Khổng Tử. Cụ Tăng đã làm kiểu mẫu cho chúng ta. Cụ nói: Mỗi ngày tôi tự kiểm điểm mấy lần: đối với người có thẳng thắn không? Đối với việc có chuyên cần không?

Cụ Khổng Tử nói: Mình có đứng đắn, mới tề được gia, trị được quốc, bình được thiên hạ.

Tự mình phải chính trước, mới giúp được người khác chính. Mình không chính, mà muốn người khác chính là vô lý.

ĐỐI VỚI NGƯỜI

Chữ người, nghĩa hẹp là gia đình, anh em, họ hàng, bầu bạn. Nghĩa rộng là đồng bào cả nước. Rộng nữa là cả loài người.

Trừ bọn Việt gian bán nước, trừ bọn phát xít thực dân, là những ác quỷ mà ta phải kiên quyết đánh đổ, đối với tất cả những người khác thì ta phải yêu quý, kính trọng, giúp đỡ.

Chớ nịnh hót người trên. Chớ xem khinh người dưới. Thái độ phải chân thành, khiêm tốn, phải thật thà đoàn kết. Phải học người và giúp người tiến tới.

Phải thực hành chữ Bác – Ái.

ĐỐI VỚI VIỆC

Phải để công việc nước lên trên, trước việc tư, việc nhà. Đã phụ trách việc gì, thì quyết làm cho kỳ được, cho đến nơi đến chốn, không sợ khó nhọc, không sợ nguy hiểm. Bất kỳ việc to, việc nhỏ, phải có sáng kiến, phải có kế hoạch, phải cẩn thận, phải quyết làm cho thành công. Việc THIỆN thì dù nhỏ mấy cũng làm. Việc ÁC thì dù nhỏ mấy cũng tránh.

Việc gì dù lợi cho mình, phải xét nó có lợi cho nước không? Nếu không có lợi, mà có hại cho nước thì quyết không làm.

Mỗi ngày cố làm một việc lợi cho nước (lợi cho nước tức là lợi cho mình), dù là việc nhỏ, thì một năm ta làm được 365 việc. Nhiều lợi nhỏ cộng thành lợi to.

Cả 20 triệu đồng bào đều làm như vậy, thì nước ta nhất định mau giàu, dân ta nhất định được nhiều hạnh phúc.

Ai chẳng muốn cho tự mình thành một người tốt.

Con cháu mình sung sướng,

Gia đình mình no ấm,

Làng xóm mình thịnh vượng,

Nòi giống mình vẻ vang,

Nước nhà mình mạnh giàu.

Mục đích ấy tuy to lớn, nhưng rất thiết thực.

Thiết thực, vì chúng ta nhất định đạt được.

Chúng ta nhất định đạt được, vì mỗi người và tất cả dân ta đều thi đua: Cần, Kiệm, Liêm, Chính.

“Cần, kiệm, liêm, chính”, tháng 6-1949.

Hồ Chí Minh: Toàn tập, t.5, tr. 631-645.

Theo Báo Hải Dương online
Huyền Trang
(st)
bqllang.gov.vn

Tư tưởng Hồ Chí Minh về công tác tư tưởng

Việt Nam - Hồ Chí MinhTuyên truyền là một bộ phận, một tác nghiệp của công tác tư tưởng có vị trí hết sức quan trọng, bởi vậy, Người định nghĩa và xác định rõ mục đích của tuyên truyền “Tuyên truyền là đem một việc gì nói cho dân hiểu, dân nhớ, dân theo, dân làm. Nếu không đạt được mục đích đó, là tuyên truyền thất bại”

Sinh thời Chủ tịch Hồ Chí Minh rất chăm lo đến công tác giáo dục chính trị tư tưởng, bởi theo Người “Tư tưởng không đúng đắn thì công tác ắt sai lầm”; rằng “Trong Đảng và ngoài Đảng có nhận rõ tình hình mới, hiểu rõ nhiệm vụ mới thì tư tưởng mới thống nhất, tư tưởng thống nhất thì hành động mới thống nhất”. Công tác tư tưởng tự bản thân nó đã hàm chứa những vấn đề nhạy cảm, phức tạp, đa chiều, liên quan đến tâm tư nguyện vọng của cán bộ, đảng viên, nhân dân; liên quan đến sự thành bại của sự nghiệp cách mạng. Người nói: “Lãnh đạo quan trọng nhất là lãnh đạo tư tưởng, phải hiểu tư tưởng của mỗi cán bộ để giúp đỡ thiết thực trong công tác; vì tư tưởng thông suốt thì làm tốt, tư tưởng nhùng nhằng thì không làm được việc”. Trong báo cáo tại Hội nghị lần thứ 6 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá II (15-7-1954), trong mười công tác được xác định thì công tác lãnh đạo tư tưởng là quan trọng nhất. Hồ Chí Minh luôn yêu cầu “Cán bộ lãnh đạo và cán bộ các ngành, tư tưởng phải thông, phải thật thông. Phải có quyết tâm khắc phục khó khăn, làm tròn nhiệm vụ”. “Phải đánh thông tư tưởng và động viên sáng kiến và lực lượng của toàn Đảng, toàn dân. Mọi người quyết tâm làm cho được và tin tưởng làm nhất định được”. Mỗi lần về thăm các nhà máy, công trường, hợp tác xã, Bác Hồ luôn nhắc nhở, động viên cán bộ, đảng viên, nhân viên “Muốn quản lý tốt thì cán bộ và công nhân phải thông suốt tư tưởng”.

Trên cơ sở quy luật của công tác tư tưởng, Người đã trù liệu hệ quả khi đảng viên chưa thông suốt tư tưởng sẽ dẫn tới những biến dạng khôn lường “Nếu đảng viên tư tưởng và hành động không nhất trí, thì khác nào một mớ cắt rời, “trống đánh xuôi, kèn thổi ngược”. Như vậy, thì không thể lãnh đạo quần chúng, không thể làm cách mạng”. Do đó mà Người luôn canh cánh kỳ vọng làm sao tư tưởng tiên tiến, tư tưởng xã hội chủ nghĩa phải trở thành chủ đạo, trường tồn cùng với Đảng, với cán bộ, đảng viên và nhân dân. Người chỉ rõ “Tư tưởng thông suốt thì mọi việc làm đều tốt. Phải làm cho tư tưởng xã hội chủ nghĩa hoàn toàn thắng, tư tưởng cá nhân hoàn toàn thất bại”.

Tuyên truyền là một bộ phận, một tác nghiệp của công tác tư tưởng có vị trí hết sức quan trọng, bởi vậy, Người định nghĩa và xác định rõ mục đích của tuyên truyền “Tuyên truyền là đem một việc gì nói cho dân hiểu, dân nhớ, dân theo, dân làm. Nếu không đạt được mục đích đó, là tuyên truyền thất bại”. Người nói “Người tuyên truyền bao giờ cũng phải tự hỏi: Viết cho ai xem? Nói cho ai nghe? Nếu không vậy, thì cũng như cố ý không muốn cho người ta nghe, không muốn cho người ta xem”. Do mục đích, yêu cầu của công tác tuyên truyền, nhất là tính chính xác và sức lay động lan toả đối với dân chúng nên Hồ Chí Minh đòi hỏi cán bộ tuyên truyền “Phải biết cách nói. Nói thì phải giản đơn, rõ ràng, thiết thực. Phải có đầu, có đuôi, sao cho ai cũng hiểu được, nhớ được”; rằng: Người tuyên truyền không điều tra, không phân tách, không nghiên cứu, không hiểu biết quần chúng, chỉ gặp sao nói vậy, bạ gì viết nấy, nhất định thất bại. Khi tuyên truyền vận động đồng bào dân tộc thiểu số, Người lưu ý: Phải nói thiết thực, rõ ràng để đồng bào dễ nghe, dễ hiểu và làm được tốt.

Với sự quan sát và thông qua nhiều kênh tiếp nhận, với tình cảm chân thành mà Người nhắc nhở, phê phán một số báo cáo viên thiếu chủ động, đầu tư trong việc chuẩn bị bài nói, thuyết trình “Nhiều người trước khi nói không sắp sửa kỹ càng. Lúc ra nói hoặc lắp lại những cái người trước đã nói. Hoặc lắp đi lắp lại cái mình đã nói rồi”; hoặc “Nhưng viết một cách cao xa, mầu mè, đến nỗi chẳng những quần chúng không hiểu, mà cả cán bộ cũng không hiểu”. Đặc biệt Người còn phê phán một số người sính dùng chữ, nhất là thích dùng chữ Hán “Tiếng ta có thì không dùng, mà cứ ham dùng chữ hán. Dùng đúng, đã là một cái hại, vì quần chúng không hiểu. Nhiều người biết không rõ, dùng không đúng, mà cũng ham dùng, cái hại lại càng to”. Vì vậy, Hồ Chí Minh mong muốn làm sao trong mỗi bài nói, bài viết phải thấu cảm được ý tưởng và mong ước của nhân dân. Người yêu cầu “Mỗi tư tưởng, mỗi câu nói, mỗi chữ viết, phải tỏ rõ cái tư tưởng và lòng ước ao của quần chúng”. Có như vậy công tác tư tưởng mới đạt được mục tiêu “được người, được việc, được tổ chức” như nguyên Tổng Bí thư Lê Khả Phiêu đã khẳng định. “Phải đạt được mục đích tăng cường đoàn kết nhất trí trong Đảng, trong quân đội”.

Hơn lúc nào hết đội ngũ cán bộ tuyên truyền “Phải có lòng tự tin, tin vào mình, tin Đảng, tin giai cấp, tin nhân dân mình”, thiếu nó thì khó có thể hoàn thành tốt các nhiệm vụ được giao trên mặt trận tư tưởng văn hoá. Xuất phát từ vai trò, tầm quan trọng của công tác tư tưởng nên Người luôn mong muốn “Người tuyên truyền cần phải chịu khó, chịu khổ, khéo ở, siêng làm. Chớ tưởng rằng: Đi phớt qua địa phương, diễn thuyết một hai giờ đồng hồ mà có kết quả. Đến một địa phương nào cần phải đi thăm các cụ phụ lão, các người phụ trách, rồi đi thăm các nhà đồng bào để gây cảm tình, và để hiểu biết tình hình địa phương”. Người còn chỉ giáo “Thấy dân làm việc gì, bất kỳ to nhỏ, ta cũng ra tay làm giúp. Đó là cách gây cảm tình tốt nhất, nó sẽ giúp cho việc tuyên truyền kết quả gấp bội”. Cán bộ tuyên truyền cần phải chủ động học tập nâng cao trình độ, kiến thức, nếu không sẽ lạc hậu, thoái bộ; luôn nắm vững chủ trương, nghị quyết của Đảng, pháp luật của Nhà nước, tập quán, sinh hoạt của nhân dân. Chú trọng “nâng cao trình độ lý luận, gắn liền công tác lý luận với thực tiễn cách mạng; phải đi sát thực tế, phải liên hệ mật thiết với quần chúng”. Đồng thời Người còn căn dặn: Cán bộ, đảng viên phải nâng cao chí khí chiến đấu, nâng cao lòng tin tưởng. Trong kháng chiến rất khó khăn nếu chí khí chiến đấu của bộ đội, cán bộ, nhân dân mà sụt thì sẽ thất bại.

Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đi xa chúng ta nhưng tư tưởng của Người nói chung, về công tác tư tưởng nói riêng vẫn còn sống mãi với thời gian, với Đảng ta, và đội ngũ những người làm công tác tuyên giáo hôm nay. Đó là hành trang, phương pháp luận quý báu để Đảng ta, đội ngũ làm công tác tuyên truyền vững tin hơn, trí tuệ sắc sảo hơn nhằm góp phần nâng cao chất lượng công tác tư tưởng của Đảng lên một tầm cao mới. Đặc biệt càng có ý nghĩa cấp bách khi Đảng ta thực hiện chủ trương mở cửa, hội nhập; khi các lực lượng thù địch chưa từ bỏ mưu toan chống phá cách mạng nước ta, hòng chia rẽ Đảng với nhân dân; khi “Công tác tư tưởng còn thiếu sắc bén, tính chiến đấu còn hạn chế…; chưa làm tốt công tác giáo dục chính trị, tư tưởng và đấu tranh chống chủ nghĩa cá nhân, tư tưởng cơ hội, những quan điểm mơ hồ, sai trái; thiếu quan tâm giáo dục lý tưởng, đạo đức, lối sống”. Khắc phục và thực hiện tốt các nhiệm vụ đó là nhân tố để “Đảng ta là một tập thể lớn, tư tưởng nhất trí, hành động nhất trí” trong tiến trình kiến tạo đất nước theo lý tưởng xã hội chủ nghĩa, đẩy nhanh công nghiệp hoá, hiện đại hoá vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh.

Theo  TS. Nguyễn Thế Tư, Học viện Chính trị-
Hành chính khu vực III
Tâm Trang
(st)

bqllang.gov.vn

Chuyện vui đời thường của Bác Hồ (phần 2)

Chuyện kể về Người5. “Hôn nó một cái thì có mất gì”

Năm 1946, Bác đi thăm Pháp trở về, đến Vịnh Hạ Long, Người có cuộc đàm phán trên tàu với Đô đốc Đắc Giăng-li-ơ. Khi gặp, Bác đã chủ động ôm hôn Đô đốc. Những người tháp tùng Bác tỏ ý thắc mắc, Bác nói:

– Đánh nhau thì đánh nhau, mình hôn nó một cái thì có mất gì!

Hôm sau báo chí đăng ảnh và bình luận: “Hồ Chủ tịch ôm hôn Đô đốc chính là ôm chặt để bóp chết…”

6. “Ông cụ thân sinh ra mình là”

Năm 1946, nhận lời mời của Chính phủ Pháp, Bác sang thăm Pháp với tư cách một thượng khách. Người phụ trách làm hộ chiếu xin phép Bác làm thủ tục. Bác nói:

– Chú cứ hỏi, mình sẽ khai đầy đủ.

Đến câu hỏi: “Tên cụ thân sinh ra Bác là gì ?”, Bác trả lời:

– Mình là Hồ Chí Minh thì cụ thân sinh ra mình là Hồ Chí Thông.

Mọi người nhìn nhau cười vui.

7. Bộ khung và bức họa

Sau chuyến thăm chính thức nước Pháp với tư cách là thượng khách của nước này năm 1946, Bác về nước bằng tàu thủy. Về đến vùng biển của Cam Ranh, Bác nhận được bức điện của Đô đốc Đắc Giăng-li-ơ, xin gặp Bác trong cảng, mục đích của chúng là diễu võ dương oai để uy hiếp tinh thần Bác. Trong bộ quần áo giản dị, Bác ngồi giữa một bên là Đô đốc Hải quân Pháp, bên kia là Thống soái lục quân Pháp ở Viễn Đông với những bộ quân phục sáng loáng các thứ bội tinh, quân hàm, quân hiệu. Đô đốc Đắc Giăng-li-ơ nói đùa nhưng đầy sự ám thị bóng gió:

– Thưa ông Chủ tịch, ông đã được đóng bộ khung rất đẹp của Hải quân và Lục quân đó.

Bác thản nhiên mỉm cười :

– Đô đốc biết đó, giá trị là ở bức họa chứ không phải ở bộ khung. Chính bức họa đem lại giá trị cho bộ khung.

8. Tài ứng khẩu của Bác

Có rất nhiều mẩu chuyện nói lên tài ứng khẩu của Bác, thể hiện một trí tuệ mẫn tiệp, sự phản xạ tuyệt vời và cũng nhiều khi rất dí dỏm. Có lần, một người nước ngoài hỏi Bác:

– Có phải Hồ Chí Minh là Nguyễn Ái Quốc không ?

Bác trả lời:

– Ông cứ đến Nguyễn Ái Quốc mà hỏi.

Một nhà báo nước ngoài xin phỏng vấn Bác, ông ta đặt câu hỏi :

– Thưa Chủ tịch, trước hoạt động ở nước ngoài vào tù ra khám, nay hoạt động ở trong nước, Chủ tịch có thấy gì thay đổi trong đời mình không?

Bác trả lời hóm hỉnh:

– Không, không có gì thay đổi cả, lúc bị tù ở Quảng Tây luôn luôn có hai lính gác giải đi, lúc trong tù mỗi ngày 5 phút được hai người lính bồng súng giải đi dạo chơi. Nay làm Chủ tịch nước, đi đâu cũng có hai người bảo vệ mang súng lục đi theo, ông thấy có gì thay đổi không nào?

9. Những đêm lửa trại

Một buổi chiều tại chiến khu Việt Bắc, Bác Hồ tìm ông Hoàng Đạo Thúy, bảo:

– Tối nay, Cụ tổ chức lửa trại nhé!

– Thưa Cụ, chỉ có mấy ông cụ già với mấy ông Bộ trưởng bận bịu, lửa trại khó vui được lắm!

– Có vui chứ!

Ông Hoàng Đạo Thúy nảy ra một ý tinh nghịch:

– Nếu tôi làm “trùm lửa” thì ai cũng phải nghe tôi đấy!

– Nhất định thế!

Bác Hồ vừa trả lời vừa tủm tỉm cười, chắc Người hiểu ý ông Hoàng Đạo Thúy.

Lửa bùng lên. Ngồi quanh có Bác Hồ, bác Tôn Đức Thắng, cụ Phan Kế Toại, cụ Phạm Bá Trực và mười ông Bộ trưởng. Ông Thúy chắp tay:

– Xin mời Cụ Chủ tịch hát mở lửa trại!

Chẳng ngần ngừ gì cả, Bác Hồ vừa bước quanh lửa trại vừa cất tiếng hát:

“Anh hùng xưa, nhớ hồi là hồi niên thiếu

Dấy binh, lấy lau làm cờ… ”

Ai cũng thấy lạ, vì sao Người biết bài hát ấy? Bác cười:

– Bọn hướng đạo nó dạy tôi đấy!

Một lần khác bác sĩ Trần Duy Hưng được Bác đề bạt làm “trùm lửa”. Bác sĩ Hưng cũng trêu Bác – trêu một cách kính mến thôi – chứ Bác không bao giờ bị bí cả.

Hai người ngồi bên Bác, giang tay làm tàu bay, mồm kêu “ ù, ù” bác sĩ Hưng gọi loa:

– “A lô, a lô! Đồng bào Thành phố Hồ Chí Minh, Cụ Chủ tịch vào thăm đồng bào! Cụ có huấn thị…”

– Bác đứng nhổm ngay dậy:

– “A lô đồng bào! Tôi vào thăm đồng bào. Đi tàu bay mệt quá, xin để bác sĩ Trần Duy Hưng nói với đồng bào thay tôi!”

Thế là Bác sĩ Trần Duy Hưng đâm ra cuống.

Tâm Trang(st)
bqllang.gov.vn

Chuyện vui đời thường của Bác Hồ (Phần 1)

Với danh dự và ý chí kiên quyết, Cụ Hồ đã bảo vệ quyền thiêng liêng của các dân tộc được sống trong độc lập tự do

Con người sống phải có mục tiêu, có lý tưởng và thời nào cũng vậy, những con người chân chính bao giờ cũng có một lý tưởng sống. Lý tưởng cao đẹp ấy, có lẽ nằm trong 4 chữ: “Vì nước vì dân”.

Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại là con người suốt đời vì nước vì dân.

Ngay từ nhỏ, Nguyễn Tất Thành đã được nghe những người bạn của bố mình như Phan Bội Châu, Vương Thúc Quý… nói về nỗi nhục mất nước. Tuổi trẻ của Nguyễn Tất Thành đã từng biết đến sự kiện Phan Đình Phùng chống Pháp, rồi mất ở trên núi khi mới 49 tuổi và Vua Thành Thái vì yêu nước đã bị Pháp đưa vào Ô Cấp, Vũng Tàu để mấy năm sau đưa đi đày ở nước ngoài.

Cụ Nguyễn Sinh Sắc người cha rất yêu quý của Nguyễn Tất Thành, khi đỗ Phó bảng, vua cho vinh quy về làng, đã nhất định không chịu nằm lên cái võng mà dân làng nô nức kéo nhau ra đón. Cụ chắp tay nói: Tôi đã làm được việc gì có ích cho dân làng đâu, mà dám nằm lên cái võng này! Rồi sau đó cùng bà con đi bộ về làng. Khi nhân dân làm cho ngôi nhà để ở, cụ Phó bảng đã viết lên xà nhà dòng chữ “Vật dĩ quan gia, vi ngô phong dạng” nghĩa là đừng lấy phong cách nhà quan làm phong cách nhà mình!

Quê hương, gia đình, đất nước… đã giúp Nguyễn Tất Thành nảy nở tấm lòng yêu nước thương dân và sớm nhận ra con đường cứu nước.

Năm 1923, khi ở Pháp, một hôm được Anbe Xarô, Bộ trưởng Thuộc địa mời đến. Mời đến để doạ nạt, nhưng khi thấy không thể doạ nạt được, hắn đã khéo léo phỉnh phờ: “Tôi rất thích những người như anh. Cần gì anh cứ nói với tôi…”. Và Nguyễn Ái Quốc đã nói: “Cái mà tôi cần nhất trên đời là đồng bào tôi được tự do, Tổ quốc tôi được độc lập”.

tranh son dau
Bác Hồ về nước – Tranh sơn dầu của Trịnh Phòng.

Có lẽ vì thế, khi Cách mạng Tháng Tám thành công, sau tên nước Bác Hồ đã ghi hai chữ Dân chủ: Việt Nam Dân chủ cộng hoà, tiếp theo đó là những tiêu chí cao cả: Độc lập – Tự do – Hạnh phúc. Suốt cuộc đời của Bác, những chữ nhân dân, tổ quốc, độc lập, dân chủ, tự do, hạnh phúc luôn luôn xuất hiện trong ngôn ngữ Hồ Chí Minh. Những ngôn ngữ ấy xuất hiện trong Lời kêu gọi Tổng khởi nghĩa, trong Tuyên ngôn Độc lập… Nhưng cảm động hơn, khiến ta phải suy ngẫm sâu sắc hơn, đó là câu nói này của Bác:

“Ngày nay chúng ta đã xây dựng nên nước Việt Nam Dân chủ cộng hoà. Nhưng nếu nước Độc lập, mà dân không được hưởng hạnh phúc – tự do thì độc lập cũng chẳng có nghĩa lý gì”.

Câu nói ấy Bác viết trong: “Thư gửi Uỷ ban nhân dân các Kỳ, Tỉnh, Huyện và Làng” ngay từ những ngày 17 tháng 10 năm 1945.

Ngày 16 tháng 7 năm 1947, trả lời một nhà báo nước ngoài, Bác nói:

“Cảm ơn ngài. Tôi vẫn mạnh khoẻ, mặc dầu tin Pháp mấy lần đồn rằng tôi đã chết rồi.

Ngài đã hỏi, tôi xin dẹp sự khiêm tốn lại một bên mà đáp một cách thực thà. Tôi không nhà cửa, không vợ, không con, nước Việt Nam là đại gia đình của tôi. Phụ lão Việt Nam là thân thích của tôi. Phụ nữ Việt Nam là chị em của tôi. Tôi chỉ có một điều ham muốn là làm cho Tổ quốc tôi được độc lập, thống nhất, dân chủ.

Bao giờ đạt được mục đích đó, tôi sẽ trở về làm một người công dân, du sơn ngoạn thuỷ, đọc sách làm vườn”.

Nghiên cứu về cuộc đời của Bác, Staley Karnow, giảng viên lịch sử Trường Đại học Harvard Mỹ đã viết: “Trong suốt cuộc đời mình, Hồ Chủ tịch chỉ ám ảnh một mục đích duy nhất, đó là nền độc lập cho đất nước”.

Ông Lê Hữu Lập, một trong những người đã có 12 năm giúp việc Bác Hồ từ 1958 đến 1969. Ông là người được vinh dự đứng tên trong sổ tiết kiệm của Bác gửi ở quầy tiết kiệm phố Hàng Gai, Hà Nội. Tiền tiết kiệm của Bác được dành dụm từ tiền lương hàng tháng còn lại ít ỏi, sau khi đã trừ mọi chi tiêu sinh hoạt, và nhiều hơn là tiền nhuận bút mà các báo trong và ngoài nước gửi cho Bác.

Dịp đi dự Đại hội Đảng Cộng sản Liên Xô, là đại biểu mời, Bác được Đảng bạn tặng một số tiền. Nhưng khi về, Bác không nhập số tiền này vào sổ tiết kiệm của mình, mà nhập vào quỹ Đảng. Bác coi số tiền đó là của chung, nên không dùng riêng cho mình.

ben cang sg
Bến cảng Sài Gòn ngày nay. Ảnh: Internet

Tiến sĩ A.Sacơrabôrôty, người Ấn Độ viết:

“Bác Hồ mặc bộ quần áo giản dị, nói giản dị, cách cư xử và tính nết giản dị, viết bằng thứ ngôn ngữ giản dị, xuất hiện một cách giản dị, với vẻ mặt tươi cười làm toả ra sự trong sáng của một tâm hồn giản dị…”.

Phải dùng đến 6 chữ giản dị để nói về Bác, trong một câu ngắn gọn, mà vẫn thấy như chưa đầy đủ.

Có thể nói, suốt đời Bác là sự nêu gương, nêu gương để xây dựng Đảng, xây dựng nước. Nguyên Thủ tướng Phạm Văn Đồng, một người học trò xuất sắc, một người cộng sự gần gũi lâu năm bên cạnh Bác đã viết: “Đời sống của Hồ Chủ tịch là một đời sống khắc khổ, cần lao và tranh đấu. Người lãnh tụ của một dân tộc mất nước không thể có một đời sống khác…”.

Những ngày sau Cách mạng Tháng Tám, Bác Hồ làm việc suốt ngày đêm, nhưng vẫn ăn chung với những người giúp việc. Một hôm Bác bận họp, anh em phải để phần cơm cho Bác. Bác về, đang ăn thì lại có người báo Cố vấn Vĩnh Thụy (tức vua Bảo Đại) muốn được gặp Bác. Bác đã đứng dậy, nhưng sau lại bảo chú cứ mời ông Cố vấn xuống đây cũng được. Ông Vĩnh Thuỵ xuống, thấy Bác đang ngồi trước cặp lồng cơm, một đĩa rau muống luộc, một bát nước mắm và quả trứng luộc… Ông Cố vấn cảm động nói:

– Thưa cụ, từ mai xin cụ cho phép tôi được cho người mang cơm đến hầu cụ.

Bác Hồ cảm ơn, rồi nói: Thôi, cứ để tôi ăn cơm với anh em cũng được. Tôi đã quen rồi.

Nhiều người nước ngoài đến Việt Nam đều nói, Việt Nam và Hồ Chí Minh là hai cái tên không thể tách rời nhau: Tên của một đất nước anh hùng và tên của người con vĩ đại nhất của đất nước đó. Người tượng trưng cho sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc và chính tấm gương đó của Việt Nam, của Cách mạng Tháng Tám đã cổ vũ các dân tộc thuộc địa vùng lên giành lại quyền sống, độc lập, tự do.

Khi tuổi đã cao, đã nghỉ những công việc của Đảng và Nhà nước, nhiều người nói với Thủ tướng Phạm Văn Đồng là ông nên viết một cuốn hồi ký về cuộc đời mình. Nhưng ông nói, tôi muốn dành những ngày còn lại, để nếu có thể viết được gì, thì đó là viết về Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Trong tác phẩm nổi tiếng “Hồ Chí Minh một con người, một dân tộc, một thời đại, một sự nghiệp” những trang về Cách mạng Tháng Tám, Thủ tướng Phạm Văn Đồng viết:

“Sau ngày 2 tháng 9 năm 1945 và cả năm 1946, Cách mạng Việt Nam đã trải qua một thời kỳ đầy sóng gió. Vận mệnh của Tổ quốc mong manh như “ngàn cân treo sợi tóc”. Trong những năm tháng gian lao chồng chất đó, Hồ Chí Minh là hiện thân của lòng dũng cảm, trí thông minh và tài năng sáng tạo, rất nhạy bén với tình thế, ứng phó rất kịp thời, vận dụng nhiều biện pháp khôn khéo để phân hoá kẻ thù. Lúc thì nhân nhượng với quân đội Quốc dân đảng Trung Hoa để tập trung sức đối phó với thực dân Pháp. Lúc thì tạm hoà với Pháp để đẩy nhanh quân Tưởng về nước và quét sạch bọn lâu la tay sai của Tưởng.

Dưới tay lái của Hồ Chí Minh, nhân dân ta đã làm thất bại mọi mưu đồ độc ác của giặc ngoài thù trong, giữ vững chính quyền cách mạng, tranh thủ thời gian chuẩn bị cuộc kháng chiến toàn quốc chống thực dân Pháp. Mỗi khi nhớ lại những năm tháng đó, một ý nghĩ luôn luôn đến với tôi: Nếu bấy giờ không có Hồ Chí Minh thì khó lường hết cái gì có thể xảy ra”.

Được nhân dân yêu kính, được thế giới tôn vinh, nhưng có lần Bác Hồ đã nói: “Nếu không có nhân dân thì cũng không có Hồ Chí Minh”. Cách mạng là sự nghiệp của quần chúng và cách mạng gắn liền với quần chúng, được nhân dân ủng hộ, được nhân dân đoàn kết, hy sinh, chiến đấu và đã làm nên thời đại Hồ Chí Minh.

Là người sáng lập và xây dựng Đảng, Chủ tịch Hồ Chí Minh nói: “Đảng không phải là một tổ chức để làm quan phát tài. Nó phải làm tròn nhiệm vụ giải phóng dân tộc, làm cho Tổ quốc giàu mạnh, đồng bào sung sướng”. Người luôn luôn nhắc nhở Đảng và các cấp chính quyền nhiệm vụ chăm lo đời sống nhân dân. Và Bác thường nhắc đến 4 chữ có: “Làm cho Dân có ăn, làm cho dân có mặc, làm cho dân có chỗ ở, có học hành”.

Đến dự Hội nghị chỉnh huấn cán bộ trung cao cấp ngày 26 tháng 1 năm 1965, Bác nói:“Có Đảng lãnh đạo, dân tộc ta đã trở thành một dân tộc anh hùng, được bè bạn khắp năm châu yêu mến và kính trọng. Cách mạng là sự nghiệp của quần chúng, thắng lợi của cách mạng là do sự phấn đấu hy sinh và trí thông minh sáng tạo của hàng triệu nhân dân. Mỗi chúng ta phải biết đặt lợi ích của dân tộc lên trên lợi ích cá nhân, phải biết quên mình vì nghĩa lớn”. Bác còn nhấn mạnh muốn đánh thắng kẻ thù bên ngoài thì trước hết phải chiến thắng kẻ thù bên trong của mỗi chúng ta, đó là chủ nghĩa cá nhân.

Ngày 2 tháng 9 năm 1969, Bác Hồ từ biệt chúng ta! 22.000 bức điện chia buồn trên toàn thế giới đã gửi đến Việt Nam. Báo Tin Tức, Cộng hoà Ả Rập thống nhất viết: “Sau 79 năm đấu tranh lâu dài và liên tục, trái tim vĩ đại, trái tim Cụ Hồ Chí Minh đã ngừng đập. Nếu ta nói rằng lịch sử loài người trước đây chưa từng biết đến một kiểu mẫu chiến sĩ nào như thế, thì chỉ riêng cuộc đời của Cụ cũng đã để xác nhận chân lý đó. Còn khi ta nói Cụ Hồ đã qua đời, thọ 79 tuổi, chính là ta muốn nói rằng suốt cả cuộc đời lâu dài đó, ngay từ khi còn trẻ cho đến những giờ phút cuối cùng, Cụ đã nắm chắc vũ khí trong tay, bảo vệ với danh dự và ý chí kiên quyết, quyền thiêng liêng của dân tộc mình cũng như các dân tộc khác trên thế giới, được sống trong độc lập, tự do”.

Còn ông Xanh-tơ-ni, Trưởng đoàn Phái đoàn nước Cộng hoà Pháp sang Hà Nội dự Lễ tang Bác Hồ đã viết: “Chúng tôi đi ngang qua trước quan tài bằng kính, ở đó thi hài mảnh khảnh của người chiến sĩ già đang yên nghỉ. Chúng tôi đã đưa thêm vào cả một biển hoa tràn ngập phòng lớn của Hội trường Ba Đình một vòng hoa đồ sộ, để chứng tỏ lòng ngưỡng mộ của nước Pháp đối với Người!”./.

Bùi Công Bính
Theo baonamdinh.net
Kim Yến (st)

bqllang.gov.vn

Tự phê bình và phê bình thật sâu sắc, cụ thể

Vừa qua, Bộ Chính trị, Ban Bí thư đã tiến hành kiểm điểm tự phê bình, phê bình theo tinh thần Nghị quyết Trung ương 4 về xây dựng Đảng. Tinh thần gương mẫu, nghiêm túc, kỹ lưỡng trong quá trình chuẩn bị và tổ chức kiểm điểm tập thể và cá nhân các đồng chí Ủy viên Bộ Chính trị, Ban Bí thư, được dư luận hoan nghênh. Bộ Chính trị, Ban Bí thư đã xác định rõ những việc cần làm tiếp sau khi kiểm điểm, trong đó đáng chú ý là, tháng 9 năm 2012, Bộ Chính trị, Ban Bí thư sẽ họp lại để thông qua Báo cáo kiểm điểm tự phê bình và phê bình của tập thể Bộ Chính trị, Ban Bí thư; Bản tiếp thu giải trình, đánh giá chính thức về kết quả kiểm điểm và xem xét kỷ luật (có hay không, đến mức nào đối với tập thể và cá nhân) để báo cáo với Trung ương.

tu phe binhHội nghị cán bộ toàn quốc hướng dẫn việc tiến hành kiểm điểm tự phê bình và phê bình theo Nghị quyết Trung ương 4 khóa XI về xây dựng Đảng.

Trong tháng 9, các Đảng bộ cấp tỉnh và tương đương sẽ tiến hành kiểm điểm tự phê bình và phê bình. Quá trình chuẩn bị ở các nơi nổi lên một vấn đề nổi bật là, ý kiến đóng góp của các tổ chức Đảng, của các đồng chí nguyên là cán bộ lãnh đạo đều đề nghị phải hết sức rõ ràng, thẳng thắn, liên hệ một cách cụ thể, sâu sắc vào từng nội dung, từng giải pháp, tránh tình trạng phê bình, góp ý chung chung.

Một điểm chung chung thường thấy là khi phê bình, góp ý, nhiều đồng chí thường nói công tác xây dựng Đảng còn có nhiều mặt hạn chế, thiếu sót; công tác chính trị tư tưởng chưa được quan tâm. Nhưng nội dung của những công tác đó là gì thì hiểu không đầy đủ và không dẫn chứng được những việc cụ thể, nguyên nhân do đâu. Nói xây dựng Đảng là nói tới xây dựng tổ chức và xây dựng con người. Vậy thì khi liên hệ tình hình đảng bộ phải có những ý kiến cụ thể, đối chiếu với Điều lệ Đảng, với Nghị quyết để kiểm điểm. Xây dựng tổ chức chưa được quan tâm đúng mức, cụ thể là gì? Chẳng hạn không chăm lo kiện toàn các chi bộ; năng lực cấp ủy còn hạn chế, còn vi phạm nguyên tắc tập trung dân chủ; nhiều năm không phát triển đảng viên, nhiều tháng không sinh hoạt chi bộ… Nguyên nhân khách quan, chủ quan, trách nhiệm thuộc về ai, biện pháp khắc phục như thế nào? Rồi nói về xây dựng con người: đảng viên trong chi bộ có thật sự gương mẫu, tiêu biểu cho phẩm chất, năng lực của tập thể đơn vị không; gia đình vợ con có liên quan đến tham nhũng, tiêu cực hay không. Liên hệ một cách cụ thể như vậy thì sẽ tránh được lối nhận xét chung chung, đúng mà không trúng, phê bình theo kiểu “ném cát bụi tre”, không chỉ ra được căn bệnh để bốc thuốc.

Tương tự như vậy, bây giờ đi đến đâu cũng thấy nhiều người nói về tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, suy thoái về đạo đức, lối sống. Nhưng hỏi một số đồng chí thì thấy chưa hiểu đúng về suy thoái tư tưởng chính trị. Có trường hợp nhầm lẫn với suy thoái về chính trị. Có trường hợp nhầm lẫn với suy thoái về tư tưởng văn hóa, tư tưởng pháp luật… Nói một cách nôm na rằng, tư tưởng chính trị thể hiện rõ nhất lợi ích dân tộc được đặt lên trên hết. Yêu nước, thương dân đặt lên trên hết. Vì vậy, trong tự phê bình mình và phê bình đồng chí, khi nói suy thoái tư tưởng chính trị chúng ta có thể nêu những biểu hiện cụ thể, không hề trừu tượng. Ai đó xa rời quyền lợi dân tộc, quyền lợi của cộng đồng, sa vào lợi ích nhóm. Ai đó bàng quan trước những sự kiện chính trị quan trọng trong đời sống xã hội, chỉ cốt lo cho riêng mình, gia đình mình, thờ ơ trước đời sống khó khăn, hoạn nạn của đồng bào, của bà con lối xóm, của những người chung quanh, chính là họ đã suy thoái về tư tưởng chính trị. Và điều này gần với suy thoái về đạo đức, lối sống.

Nói về kiểm điểm, liên hệ cụ thể, sâu sắc cũng cần chỉ rõ trách nhiệm của các đồng chí cấp ủy viên, lãnh đạo chính quyền, nhất là người đứng đầu, mà Nghị quyết Trung ương 4 đã nêu rõ về mối quan hệ này. Rằng đồng chí Bí thư, đồng chí Chủ tịch đã “vào vai” đúng chưa, hay còn bao biện, lấn sân, hoặc vừa đá bóng vừa thổi còi, ngược lại là khoán trắng cho cấp dưới? Rằng đồng chí Phó Bí thư, lãnh đạo các ban của cấp ủy đã nắm vững chức trách, nhiệm vụ chưa, hay lại sa vào công tác của chính quyền, của chuyên môn.

Trong quá trình kiểm điểm, một vấn đề đang có những ý kiến khác nhau, đó là những thiếu sót, khuyết điểm nào thì công bố trong nội bộ và công khai tới đâu. Có đồng chí cho rằng, phê bình là phải nghiêm túc, thẳng thắn, phân tích, mổ xẻ đến cùng, có cả những bí mật về đời tư của cán bộ, vì vậy cũng nên “đóng cửa bảo nhau”, không phải cái gì cũng “phơi” ra cả. “Phơi” ra thì dễ bị kẻ xấu, kẻ cơ hội chính trị lợi dụng. Chúng ta đều biết, dân chủ, công khai thể hiện trí tuệ và văn minh của Đảng. Nếu ở nơi nào thiếu dân chủ, dân chủ hình thức, sẽ dẫn đến cấp dưới xa cấp trên, quần chúng xa cán bộ, nội bộ Đảng thiếu đoàn kết thống nhất. Đương nhiên, công khai đòi hỏi phải theo đúng các quy định của Đảng, pháp luật hiện hành và phù hợp nhận thức của cán bộ, đảng viên, quần chúng, nhằm phát huy vai trò của tổ chức dân cử, Mặt trận, các đoàn thể và nhân dân tham gia giám sát cán bộ, đảng viên.

Có hai loại ý kiến khác nhau là, việc kiểm điểm, tự phê bình và phê bình lần này rất khó đạt yêu cầu như mong muốn, vì đây là công việc vô cùng khó khăn, phức tạp, liên quan sinh mạng chính trị của mỗi đảng viên và tổ chức Đảng; vì chúng ta đã từng có nhiều lần tiến hành chỉnh đốn Đảng, nhưng kết quả không vững chắc, những thiếu sót chậm được khắc phục, có khi ngày càng nghiêm trọng hơn. Ý kiến thứ hai là, sau khi kiểm điểm, tình hình sẽ chuyển biến mau lẹ và cuộc chỉnh đốn Đảng lần này sẽ kết thúc tốt đẹp vào tháng 12 năm 2012 (!). Tuy nhiên, ý kiến thứ hai này đòi hỏi phải xử lý thật nghiêm túc, phải có hình thức kỷ luật nghiêm khắc, phải kiên quyết đưa những cán bộ, đảng viên thoái hóa, biến chất ra khỏi bộ máy, bất kể người đó là ai, giữ cương vị gì, không có “vùng cấm”, “vùng tránh” trong Đảng. Cả hai loại ý kiến trên đều thể hiện sự quan tâm, mong muốn, ý thức trách nhiệm cao. Chỉ thị 15-CT/TƯ của Bộ Chính trị về thực hiện Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XI) về xây dựng Đảng đã nêu rõ: “Xây dựng Đảng là công việc hệ trọng, khi thực hiện phải bình tĩnh, tỉnh táo, không nóng vội, cực đoan; giữ đúng nguyên tắc, không để các thế lực thù địch, những phần tử cơ hội lợi dụng, kích động, xuyên tạc, đả kích gây rối nội bộ; đồng thời không được để rơi vào trì trệ, hình thức, không làm chuyển biến được tình hình”. Phát huy ưu điểm, khắc phục khuyết điểm, hạn chế, chuyển biến từng bước, tiến bộ từng bước, nhưng phải bảo đảm vững chắc – đó là hướng đi và cách làm cả trước mắt và lâu dài.

Trong quá trình chuẩn bị kiểm điểm, tự phê bình và phê bình, nhiều cấp ủy đã chú trọng công tác giáo dục chính trị, tư tưởng, coi đây là bước đột phá trong công tác chuẩn bị. Công tác giáo dục chính trị, tư tưởng nhằm tạo nên sự thống nhất cao về nhận thức, hành động của cán bộ, đảng viên và quần chúng trong thực hiện Nghị quyết. Trong lúc này càng cần phải đấu tranh mạnh mẽ trên lĩnh vực tư tưởng, lý luận, làm thất bại mọi âm mưu, thủ đoạn, mọi sự xuyên tạc của các thế lực thù địch; chủ động phòng ngừa, phê phán những biểu hiện sai trái, cực đoan, lợi dụng phê bình để kích động, gây rối, làm mất đoàn kết nội bộ. Việc thực hiện Nghị quyết phải gắn với thực hiện nhiệm vụ chính trị của các địa phương, đơn vị; gắn với việc đẩy mạnh học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh. Không làm tốt công tác tư tưởng sẽ dẫn đến việc kiểm điểm một cách hình thức, chiếu lệ, không liên hệ sâu sắc tình hình tập thể và đối chiếu với bản thân. Nếu ở đâu đó còn có biểu hiện coi đây là vấn đề đã làm thường xuyên, thậm chí đã “yên tâm” rồi thì dễ chủ quan, dễ người dễ ta, bắt tay thỏa hiệp với nhau, nương nhẹ, bỏ qua cho nhau; ngược lại là phê bình theo kiểu “cháy nhà”, bới lông tìm vết, mạt sát, xúc phạm nhau, không có tình đồng chí thương yêu nhau, như Bác Hồ đã căn dặn./.

Theo nhandan.com.vn
Kim Yến (st)

bqllang.gov.vn

Bác học tiếng Thái

Ảnh Tư liệu

“Bác tự học rất đều đặn. Ngày nào bận công tác đoàn thể thì hôm sau Bác kiên quyết học bù cho kì được.”

Khi đất nước ta còn chìm đắm trong vòng nô lệ, Bác phải sang Xiêm (Thái Lan bây giờ) với bí danh là Thầu Chín (Cụ Chín) để hoạt động cách mạng… Cán bộ khác theo Bác sang hoạt động bên đó thường trao đổi với nhau bằng tiếng Việt làm cho dân địa phương không hiểu và tỏ ra khó chịu. Biết vậy, Bác tập hợp cán bộ, bàn nhau cùng học tiếng tiếng Thái dễ hòa mình với dân địa phương. Mọi người nhất trí là sau 3 tháng phải nói thạo tiếng Thái để vừa dễ dân vận vừa dễ tuyên truyền cách mạng.

Người thì đề ra kế hoạch mỗi ngày phải thuộc 50 từ, người thì 40 từ… riêng Bác chỉ nhận mỗi ngày 20 từ. Mọi người nhất trí là sau 3 tháng đạt yêu cầu Bác thưởng, ai không đạt, chịu phạt. Mấy ngày đầu anh em hăm hở học, sau đó số lượng tụt dần dần, từ 50 xuống 40 từ, rồi 30, 20 thậm chí 10 hoặc 5… Có lúc lại học cách buổi, rồi cách tuần. Hôm nào hứng lên lại học ào ào, sôi nổi được vài ba ngày rồi tịt hẳn. Trong khi đó, Bác tự học rất đều đặn. Ngày nào bận công tác đoàn thể thì hôm sau Bác kiên quyết học bù cho kì được.

Sau 3 tháng, Bác đã thuộc gần 2000 từ. Đúng hạn 3 tháng, Bác đã tập hợp anh em lại để xem kết quả. Người thì ấp úng người thì đỏ tai và tất cả đều xin chịu bị phê bình vì chẳng ai học đến đầu đến đũa cả. Bác không phạt mà ôn tồn chỉ ra rằng học tiếng nước ngoài còn dễ hơn làm cách mạng rất nhiều. Học chữ mà còn không xong, thì liệu có kiên trì đeo đuổi nổi sự nghiệp cách mạng hay không?

Theo 120 chuyện kể về Bác
Kim Yến (st)

bqllang.gov.vn

Đại biểu dự Đại hội Đoàn toàn quốc lần thứ X báo công dâng Bác

Sáng ngày 11/12/2012, Đoàn đại biểu dự Đại hội Đoàn toàn quốc lần thứ X (nhiệm kỳ 2012-2017) đã tổ chức Lễ báo công và vào Lăng viếng Chủ tịch Hồ Chí Minh. 999 đại biểu, đại diện cho hơn 7 triệu Đoàn viên thanh niên trong cả nước đã thành kính, trang nghiêm báo công với Bác Hồ tại Quảng trường Ba Đình.

bao cong
Đại biểu dự Đại hội Đoàn toàn quốc lần thứ X báo công dâng Bác

Thay mặt cho tuổi trẻ cả nước, Bí thư Thứ nhất Trung ương Đoàn Nguyễn Đắc Vinh đã báo cáo với Bác những kết quả của công tác Đoàn và phong trào thanh niên nhiệm kỳ 2007-2012: Là tổ chức của thanh niên Việt Nam vinh dự được mang tên Bác kính yêu, Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh trong suốt chiều dài lịch sử đã luôn khẳng định được ý chí quật cường, bản lĩnh, trí tuệ, tính xung kích, sáng tạo của tuổi trẻ. Trên khắp mọi miền của Tổ quốc hôm nay, mỗi đoàn viên thanh niên luôn mang trong mình niềm tự hào về truyền thống anh hùng cách mạng của các thế hệ cha anh, ra sức học tập, tu dưỡng đạo đức trong sáng, rèn luyện phong cách giản dị, mẫu mực, ý chí vượt khó như lời dạy của Người. Trong nhiệm kỳ qua, với quyết tâm đổi mới về phương thức và nội dung, kiên trì phương châm giáo dục qua thực tiễn hành động cách mạng, nêu gương và nhân rộng điển hình tiên tiến, phát huy vai trò tự giáo dục, rèn luyện của thanh niên, công tác giáo dục của Đoàn đã góp phần quan trọng trong việc bồi dưỡng lý tưởng cách mạng, giáo dục truyền thống, đạo đức, lối sống, ý thức pháp luật cho đoàn viên thanh niên. Với những cố gắng nỗ lực của các thế hệ đoàn viên, thanh niên, Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh đã vinh dự được đón nhận Huân chương Sao Vàng lần thứ hai nhân kỷ niệm 80 năm Ngày thành lập Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh. Trong nhiệm kỳ qua, nhiều tập thể, cá nhân cũng đã được trao tặng các huân, huy chương cao quý của Đảng và Nhà nước.

hoa vao lang
Đoàn đại biểu vào Lăng viếng Chủ tịch Hồ Chí Minh

Sau Lễ báo công, Đoàn đại biểu dự Đại hội đã vào Lăng viếng Chủ tịch Hồ Chí Minh và dâng hương tưởng niệm các Anh hùng liệt sĩ tại Đài tưởng niệm các Anh hùng liệt sĩ. Đại hội được tổ chức tại Trung tâm Hội nghị Quốc gia Mỹ Đình trong 4 ngày, từ ngày 11/12/2012 đến ngày 14/12/2012.

tương đài
Đoàn đại biểu dự Đại hội dâng hương tưởng niệm các Anh hùng liệt sĩ

Duy Hưng
bqllang.gov.vn

Cụ Hồ thách đố

Cuộc sống của Bác Hồ bao giờ cũng giản dị vui tươi. Bác làm từ việc lớn, như lãnh đạo cách mạng, đến việc bình thường nhất như xay bột, giã gạo,vác gỗ…

Có lần Bác đang cặm cụi trồng cây khoai môn trước cửa nhà, thấy chúng tôi vào, Bác liền cười nói:

– “Trồng môn trước cửa nhà”, thử đối lại xem sao.

Câu đối cũng khá hóc búa vì “môn” tức là cửa, làm thế nào chọn được vế kia cho chọi.

– “Bắt ốc sau nhà”! – Chúng tôi cùng nhau cười thưa lại sau một lúc lâu suy nghĩ.

Bác cười một cách vui vẻ.

– Tạm cho được!

… … …

Một đêm trăng sáng. Đồng chí ông Ké cùng các đồng chí và tôi đi tắm đêm. Trông thấy bóng trăng sáng vằng vặc trong lòng suối, đồng chí ông Ké nói:

Tôi có một câu đối. Ai đối được tôi gả con gái cho.

Đồng chí ông Ké liền thong thả đọc vế đối:

– “Nguyệt chiếu khê tâm, tâm chiếu nguyệt”

(Mặt trăng soi xuống lòng khe, lòng khe soi lên trăng)

Ai cũng cố nghĩ để đối lại. Riêng đồng chí Hường đối:

– “Hoa sinh thạch diện, diện sinh hoa”

(Hoa nở trên mặt đá, mặt nở hoa)

Ông Ké thốt lên vui vẻ:

– Ô, thế hóa ra mặt rỗ rồi.

– Mọi người cùng phá lên cười vui vẻ. Nghĩ đến vế đối của ông Ké ra, lời lẽ thanh tao, ý tứ sâu sắc, đối được cũng khó. Nhân nhìn trước mắt có cái động núi đẹp đẽ, lúc trẻ tôi vẫn thường cùng bạn bè vào chơi, hét lên một tiếng có ngàn tiếng vọng lại. Tôi nói:

– “Lôi mình không cốc, cốc mình lôi”

(Sấm gọi hang không, hang gọi sấm)

Ông Ké khen:

– Được. Nhưng đồng chí không làm rể được mình vì đồng chí gần bằng tuổi mình rồi, lại đã có gia đình.

Mọi người cười ồ vui vẻ…

Theo 108 Chuyện vui đời thường của Bác Hồ
Tâm Trang (st)

bqllang.gov.vn

Chuyện vui đời thường của Bác Hồ (Phần 1)

421. Bác Hồ trong cuộc liên hoan bế mạc Đại hội Quốc dân Tân Trào

Tối hôm bế mạc Đại hội Quốc dân Tân Trào (họp vào năm 1945) có một cuộc liên hoan. Mọi người được dự bữa “tiệc” có cả rượu “con mèo” và đồ hộp do bộ đội ta đánh Pháp ở Tam Đảo lấy được. Cuộc liên hoan thật vui. Bác Hồ cũng rất vui. Người bảo Đoàn đại biểu Hà Nội hát một bài. Anh Vũ Quang, người phụ trách sinh hoạt của Đoàn, bắt nhịp hát bài “Quảng Châu công xã” của Đỗ Nhuận. Nhạc sĩ trẻ Nguyễn Đình Thi hát bài “Thanh niên cứu quốc”. Bài hát có câu: “Gươm đâu, gươm đâu, thời cơ đang đến – tiến lên, tiến lên theo cờ Việt Minh!”. Bác Hồ ngồi giữa các đại biểu bỗng nói:

– Bây giờ mà các chú còn hát gươm đâu, gươm đâu, thì không hợp nữa. Chú lên hát là gươm đây, gươm đây!

Các đại biểu reo lên vui cười.

2. Những kỷ niệm vui của bà Thanh Thủy

Ở Đại hội Quốc dân Tân Trào, công việc nhiều, thời gian ít, nhưng Bác Hồ vẫn dành thời gian tiếp xúc với những đại biểu và dường như ai cũng có kỷ niệm riêng với Người. Với bà Thanh Thủy (vợ ông Dương Đức Hiền), Người hỏi:

– Cô công tác ở đâu?

– Da thưa cháu công tác ở Hải Phòng, Kiến An và Quảng Yên ạ!

– Ba tỉnh kia à? Thế thì bằng Tổng đốc rồi còn gì!

– Hôm chia tay, một số người còn ở lại quây quần bên Bác Hồ trên nhà sàn. Người lần lượt chia quà. Đến lượt bà Thủy, Người hỏi:

– Cô chú đã có cháu chưa?

– Dạ, chưa ạ!

– Thế tôi tặng bánh xà phòng thơm này, mau có cháu, tắm cho bé nhé!

Mọi người cười ồ. Bà Thủy nắm chặt món quà quý vô cùng xúc động.

3. Thế có “Tính nhà quan” không?

Hồi đầu Cách mạng Tháng Tám năm 1945, Bác hỏi một Bộ trưởng đang mặc quần đùi âu phục:

– Chú mặc “soọc” cơ à?

– Dạ thưa cụ, mặc như thế này cho có vẻ con nhà lính ạ!

– Thế có “tính nhà quan” không? – Bác tiếp luôn rất nhanh.

Mọi người xung quanh cười ồ rất thoải mái.

4. Tôi sẽ vẽ râu cho chú

            Sau ngày 2/9/1945, nhà thơ Cù Huy Cận được giao chức trách Bộ trưởng Bộ Canh nông. Năm đó ông vừa tròn 26 tuổi, Bác Hồ gọi cho ông lên và nói:

– Tôi muốn giao cho chú thêm 1 việc nữa. Đó là làm trong Ban Thanh tra đặc biệt, gồm có 2 người: Chú và cụ Bùi Bằng Đoàn.

Huy Cận thưa với Bác :

– Cụ Bùi Bằng Đoàn là một vị quan có tiếng thanh liêm trong triều đình cũ, còn cháu trẻ quá, nên cháu xin được từ chối.

Bác ôn tồn giải thích :

– Chú sợ trẻ quá không đủ sức để làm thanh tra chứ gì? Vậy thì chiều nay chú mang bút lông và mực Tầu đến đây. Chú mài mực và tôi sẽ vẽ râu cho chú. Thế là chú sẽ thành thanh tra thôi.

Trước những lời chân tình và vui đùa thân mật của Bác như vây, Cù Huy Cận đã nhận lời Người.

Tâm Trang(st)
bqllang.gov.vn

Như giữ đồng bạc trắng

Chuyện kể về NgườiÔng Nguyễn Tiến Sự là người đầu tiên của tỉnh Tuyên Quang đón Bác Hồ về nhà mình ở.

Trở về thăm mái đình Hồng Thái cây đa Tân Trào, tuổi trẻ Tuyên Quang đã được nghe ông kể chuyện về Bác Hồ muôn vàn kính yêu của thế hệ trẻ Việt Nam

Một bữa chị em phụ nữ bản Tân Lập (Tân Trào, Tuyên Quang) tập trung xay thóc giã gạo chuẩn bị lương thực cho cán bộ, bộ đội thì Bác đi công tác qua, dừng lại hỏi chuyện:

– Chị em có biết mình xay thóc, giã gạo thế này là để làm gì không?

Mọi người chưa hiểu, nên đưa mắt nhìn nhau, Bác nói tiếp:

– Xay thóc, giã gạo để cán bộ và bộ đội có cơm ăn đánh Tây, đuổi Nhật. Như vậy là chị em ta cũng góp phần đánh Tây, đuổi Nhật đó.

Bác lại hỏi:

– Nếu chị em ta có đồng bạc trắng thì cất giấu ở đâu cho khỏi mất?

Chị em vui vẻ trả lời Bác. Người thì nói là cho vào hòm chắc khoá lại. Người thì cho là bỏ vào túi vải luôn luôn mang ở bên mình…

Đợi mọi người nói hết, Bác kết luận:

– Ai nói cũng đúng. Cất như vậy là kín. Bây giờ ở bản ta có cán bộ, bộ đội chúng ta cũng phải bí mật bảo vệ họ cẩn thận như giữ đồng bạc trắng. Vì nếu để lộ ra thì dễ hỏng mất việc nước.

Theo dulichtantrao.com.vn
Kim Yến (st)
bqllang.gov.vn