Tag Archive | Văn hóa – Xã hội

Hà Nội 12 ngày đêm – Bản Anh hùng ca Máu và Hoa – Bài 3: Hà Nội quật cường

Trong những ngày cuối tháng 12-1972, quân và dân Thủ đô đã anh dũng, kiên cường chống trả lại một đội quân mạnh gấp nhiều lần với những loại vũ khí tối tân, hiện đại vào bậc nhất như: “Thần sấm”, “Con ma”, “Siêu pháo đài bay- B52”… Tuyên bố đưa Hà Nội quay trở về thời kỳ đồ đá của Mỹ đã phá sản hoàn toàn trước tinh thần quật cường của người Hà Nội.

Một trong những máy bay của Đoàn 921 anh hùng,
đơn vị đã bắn rơi 137 máy bay Mỹ

Ảnh: HOÀNG LONG

Tương quan lực lượng

Trao đổi với Đại Đoàn Kết, Trung tướng Phạm Tuân – Anh hùng lực lượng vũ trang, người trực tiếp chiến đấu trong 12 ngày đêm Điện Biên Phủ trên không cho biết, do liên tiếp thất bại tại chiến trường miền Nam, giặc Mỹ đã leo thang bắn phá miền Bắc với ý định đưa Hà Nội trở về thời kỳ đồ đá. Để đạt được mục đích san phẳng Hà Nội, Mỹ đã huy động tất cả những vũ khí tối tân nhất mà họ có lúc bấy giờ như F105 (Thần sấm), F4 (Con ma), F100, F111 và đặc biệt là “Siêu pháo đài bay – B52”, dồn dập dội bom Hà Nội.

“Siêu pháo đài bay – B52” là loại máy bay ném bom chiến lược có khả năng mang bom hạt nhân và bom thông thường với số lượng lớn (khoảng 30-40 tấn). B52 là niềm kiêu hãnh của không lực Hoa Kỳ, họ rêu rao dưới cánh B52 không một sinh vật nào có thể tồn tại được. Không chỉ vậy, mỗi lần phi đội B52 cất cánh vào Hà Nội oanh tạc là có hàng đàn “Thần sấm”, “Con ma” mang theo bom, tên lửa không đối đất, không đối không bay theo hộ tống, đánh phá các trận địa phòng không (pháo cao xạ, tên lửa), đồng thời đánh chặn máy bay tiêm kích của ta để bảo vệ B52. Đó là chưa kể trước khi phi đội B52 vào đã có rất nhiều máy bay chiến thuật F111 vào trinh sát, RB66 gây nhiễu sóng ra đa.

Trong khi đó, không quân ta chỉ gồm những chiếc Mig 17, Mig 19 và thêm vài chiếc Mig 21 để đối đầu với các loại máy bay tiêm kích, cường kích vô cùng tối tân của Mỹ. Lực lượng phòng không của ta lúc đó chủ yếu là trọng liên và pháo cao xạ: 14,5 ly; 23 ly; 40 ly; 57 ly; 85 ly và lớn nhất là 100 ly. Tên lửa của ta lúc đó chỉ có Sam 2.

Tìm cách đánh

Trung tướng Phạm Tuân hồi tưởng: “Từ năm 1967, Bác Hồ đã dự đoán: “Sớm muộn rồi đế quốc Mỹ cũng đưa B52 ra đánh phá Hà Nội rồi có thua nó mới chịu thua. Phải dự kiến trước tình huống này càng sớm càng tốt, để có thời gian mà suy nghĩ chuẩn bị…. Ở Việt Nam, Mỹ nhất định thua nhưng nó chỉ chịu thua sau khi thua trên bầu trời Hà Nội”. Do vậy, quân đội ta đã có sự chuẩn bị cho những trận chiến khốc liệt nhất khi đối đầu với máy bay ném bom chiến lược B52…”. Trận quyết chiến trên bầu trời Hà Nội có sự đồng tâm hiệp lực của cả 3 thứ quân: Dân quân tự vệ, bộ đội địa phương và quân chủ lực, quyết tâm đánh thắng kẻ thù ngay từ khi chúng tới. “Người Hà Nội lúc đó, từ dân thường đến cán bộ, chiến sĩ phòng không – không quân đều hừng hực khí thế quyết tâm đánh tan âm mưu rải thảm Hà Nội của đế quốc Mỹ. Mỗi người một việc, tất cả sẵn sàng cho trận quyết chiến chiến lược trên bầu trời Thủ đô…”, Trung tướng Phạm Tuân kể lại.

Anh hùng Phạm Tuân

Theo Trung tướng Trần Hanh – Anh hùng Lực lượng vũ trang, Chủ tịch Hội Cựu chiến binh Việt Nam, ngày đó, để có thể chắc thắng khi B52 vào ném bom Hà Nội, phi công ta phải rèn luyện kỹ năng cất và hạ cánh ở những điều kiện địa hình hết sức phức tạp: Đường băng chỉ rộng 15m, trong khi đường băng chính rộng 60m (phòng trường hợp đường băng bị đánh phá không cất cánh được), đường đất nện (được “lu” qua vài lần bằng xe tải) tại các sân bay dã chiến… Lực lượng phòng không thì được đưa vào “thử lửa” với B52 tại các chiến trường khốc liệt như Quảng Bình, Quảng Trị. Ngày 17-9-1967, Tiểu đoàn 84, Trung đoàn tên lửa 238 đã bắn rơi 2 chiếc B52 đầu tiên trên chiến trường Vĩnh Linh. Trận đánh đã giúp cho bộ đội tên lửa có được kinh nghiệm bước đầu về nhận biết tín hiệu B52 trên màn hiện sóng qua bản vẽ, những quy luật hoạt động của máy bay chiến thuật trong điều kiện nhiễu điện tử.

Mưu trí, quật cường

Từ kinh nghiệm có được khi đối đầu với B52 trước đó, lực lượng phòng không đã có cách bố trí trận địa xung quanh Hà Nội hết sức khoa học để đạt được hiệu quả cao nhất khi B52 xâm phạm bầu trời Thủ đô. Ngoài tập trung bố trí các trận địa trong nội đô lấy hạt nhân là trung tâm Hà Nội, nhằm đảm bảo an toàn cho người dân, trung tâm chỉ huy… lực lượng phòng không còn bố trí các trận địa vòng ngoài để bảo vệ các kho xăng, sân bay, đảm bảo cho không quân có thể cất cánh bất cứ lúc nào. Về phía không quân cũng đã có sự chuẩn bị, bố trí hết sức mưu trí, tài tình cả xung quanh Thủ đô (Đa Phúc, Gia Lâm) và các vùng phụ cận (Yên Bái, Thọ Xuân, Anh Sơn, Kiến An) để có thể vừa bảo vệ bầu trời Hà Nội, vừa có thể đánh chặn máy bay Mỹ từ xa, không cho chúng vào ném bom Hà Nội.

Trung tướng Trần Hanh kể: “22 giờ ngày 27-12-1972, Phạm Tuân được lệnh xuất kích tại sân bay Yên Bái. Sở chỉ huy tại Chùa Trầm dẫn đường cho anh bay thấp vượt qua nhiều “hàng rào” tiêm kích F4, gần đến đội hình B52 đang bay từ hướng Sơn La về Hòa Bình thì vọt lên độ cao trên 11km (bay trên đội hình B52), mở đến tốc độ 1.600km/h tiếp cận rất nhanh máy bay địch. Còn cách khoảng 3km, nhận lệnh từ Sở chỉ huy: “Uống cả 2 chai”, Phạm Tuân phóng cả 2 quả tên lửa vào một chiếc B52 rồi vọt lên cao. Một quầng lửa bùng lên, vậy là lực lượng không quân đã bắn rơi chiếc B52 đầu tiên. Hôm sau, cũng vào giờ đó, phi công trẻ Vũ Xuân Thiều được lệnh cất cánh. Tuy nhiên sau khi bắn hạ được một chiếc B52 anh đã hy sinh cùng với chiếc Mig 21.

Trung tướng Trần Hanh còn kể nhiều câu chuyện hết sức cảm động về những người anh hùng khác trong trận chiến 12 ngày đêm Điện Biên Phủ trên không. Từ những dân quân tự vệ tại các nhà máy, từ các anh bộ đội địa phương với những vũ khí thô sơ như súng cối, súng trung liên… đến lực lượng chủ lực là bộ đội phòng không – không quân, đều không ngại hy sinh xương máu để bảo vệ bầu trời Hà Nội. Như phi công trẻ Hoàng Tam Hùng – con trai của một Phó Thủ tướng – xung phong xuất kích chiến đấu với các loại “Thần sấm”, “Con ma”, “Siêu pháo đài bay – B52”… để rồi hy sinh anh dũng, góp phần bảo vệ Thủ đô. Với những con người mưu trí, dũng cảm như thế, với tinh thần quật cường của quân và dân Thủ đô nói riêng, dân tộc Việt Nam nói chung, việc đế quốc Mỹ thua đau trên bầu trời Hà Nội là điều tất yếu.

Không thể nào tin được…

“Vận mệnh của Tổ quốc đang nằm trong tay các chiến sĩ phòng không bảo vệ Hà Nội” – Đại tướng Tổng Tư lệnh Võ Nguyên Giáp trực tiếp gọi điện thoại xuống các sư đoàn biểu dương bộ đội Phòng không Hà Nội vào những ngày này cách đây vừa tròn 40 năm. “Cả nước đang hướng về. Toàn thế giới đang hướng về Hà Nội. Từng giờ, từng phút, Bộ Chính trị và Quân ủy Trung ương theo dõi chặt chẽ cuộc chiến đấu của Hà Nội” – Đại tướng nhấn mạnh. Chưa bao giờ sứ mệnh của các anh lại cao cả, thiêng liêng đến vậy. Bởi vì, cũng đêm 21, rạng sáng 22 tháng 12 cách đây 40 năm, đúng 21 giờ 37 phút đêm, địch huy động 24 lần chiếc máy bay B – 52 và 36 lần chiếc máy bay chiến thuật hộ tống vào đánh sân bay và Bệnh viện Bạch Mai, Giáp Bát, Văn Điển… Ngoài ra, 30 lần chiếc F4, F105 vào đánh phá các khu vực Bắc Giang, ga Kép, sân bay Yên Bái, cảng Hải Phòng, Cát Bi và An Lão (Kiến An). Bây giờ, nhìn phố xá sầm uất, ít ai có thể hình dung ngày ấy Bệnh viện Bạch Mai bị đánh bom B52 thế nào. Nếu chỉ là 1,2 lần thì còn có thể nghĩ là chúng ném bom nhầm mục tiêu nhưng đằng này lại là 4 lần. Không thể tin được đế quốc Mỹ lại dã man như thế. Bây giờ, những nhân chứng còn sống như BS Đỗ Doãn Đại, nguyên Giám đốc Bệnh viện này, giai đoạn 1969-1982, vẫn còn ám ảnh về những ngày tháng đó. Đau thương, oanh liệt mà cũng thật là đẹp tình người. “Chưa bao giờ Bạch Mai có một tập thể đoàn kết, hết mình như thế” – ông nhớ lại. Ngày này các đây 40 năm, 27 bác sĩ, y tá, hộ lý và cán bộ của Bệnh viện này bị bom Mỹ sát hại, cùng 1 bệnh nhân. Khi có báo động, các bệnh nhân được ưu tiên chuyển vào hầm trú ẩn trước. Các bác sĩ, y tá , hộ lý ở lại phía cửa hầm. Mới hay chính vào những tháng ngày đau thương nhất của Hà Nội, của cả nước, Máu và Hoa hòa quện vào nhau, dệt nên bản anh hùng ca bất diệt.

Trần Ngọc Kha

Lê Anh Đức
daidoanket.vn

Hà Nội 12 ngày đêm – Bản Anh hùng ca Máu và Hoa – Bài 2: Hà Nội đau thương

“Cha khóc con bằng máu trái tim/ Sao nó lại giết con/ Hà ơi! Sao thế?Dấu hỏi lớn xoáy vào lòng cha, đau xé!” Đó là những lời thống thiết trong bài thơ khóc con của ông Đặng Văn Phúc – bố em Đặng Thị Hà (16 tuổi, học sinh lớp 10 ở Gia Lâm) bị bom Mỹ giết hại ngay trong đêm 18-12-1972, đêm đầu tiên máy bay B-52 đánh phá, hòng đưa Hà Nội về “thời kỳ đồ đá”.

Bệnh viện Bạch Mai bị bom B52 Mỹ hủy diệt
ảnh: Tư Liệu

Cho đến nay, bài thơ khóc con của ông Đặng Văn Phúc đã trở thành bản cáo trạng dành cho Níchxơn – kẻ đích thân ra lệnh tiến hành cuộc ném bom lớn nhất xuống các mục tiêu ở Hà Nội, Hải Phòng, hòng đem ưu thế của sức mạnh không quân, giội đau thương tang tóc lên đầu biết bao người dân vô tội của một dân tộc anh hùng.

Từ đêm 18-12-1972, đế quốc Mỹ bắt đầu tiến hành cuộc ném bom hủy diệt vô cùng man rợ bằng máy bay B52 vào Hà Nội, Hải Phòng và một số nơi khác trên miền Bắc nước ta. Hà Nội – trái tim của cả nước suýt bị biến thành một “Hirôsima không cần bom nguyên tử”. Chỉ trong đêm 26-12-1972, tốp B52 đã rải gần 90 tấn bom xuống Khâm Thiên – một trong những khu phố sầm uất và trù phú nhất Hà Nội – biến nơi đây thành bình địa dài hàng kilômét khiến 2.265 ngôi nhà bị phá sập, 287 người chết và 290 người bị thương, trong đó phần lớn là phụ nữ và trẻ em. Trong nháy mắt, nhà trẻ, trạm y tế, cửa hàng lương thực, đình Tương Thuận và nhà hàng ngàn hộ dân đã bị bom B52 tàn phá thành đống tro tàn và những “ngôi mộ phố”.

Sau ngày Mỹ ngừng ném bom Miền Bắc, ông Romesh Chandra – Tổng Thư ký Hội đồng Hòa bình thế giới đã đến thăm Việt Nam. Chứng kiến cảnh tượng hoang tàn của bệnh viện Bạch Mai, ông Romesh Chandra đã phát biểu: “Chúng ta bày tỏ lòng biết ơn của chúng ta về những gì mà họ đã cống hiến cho thế giới. Cuộc chiến tranh ở Việt Nam đã trở thành cuộc chiến tranh mới trong lịch sử, trong từ điển của tất cả các thứ tiếng và nó có nghĩa là lòng dũng cảm vô song, lòng quyết tâm và chủ quyền của một dân tộc…”.

Nữ diễn viên điện ảnh Hollywood Jane Fonda (người đoạt giải Oscar 1971) đã từng khóc như mưa trước tội ác của Mỹ ở Việt Nam: “Tôi đau cho nỗi đau mất mát của nhân dân Việt Nam, cho nỗi đau mất mát của chính đất nước tôi, một nước tự cho là văn minh giờ đây có nguy cơ trở lại thời kỳ hoang dã

Văn Úc (TH)

Có mặt tại Khâm Thiên vào buổi chiều hôm sau (19-12), đại tá Lưu Trọng Lân – khi đó là Phó Trưởng Phòng Tác huấn, Bộ Tham mưu Quân chủng Phòng không – Không quân kể rằng: Ở phía ngoài, con đường lớn chỉ bị nứt nẻ vài đoạn với ba căn nhà bị sập. Nhưng ở bên trong, đằng sau dãy phố chính ấy là cả một vùng trải dài hàng cây số đổ nát tan hoang. Những hình ảnh thương đau đập vào mắt tôi, nhức nhối. Khu phố đông dân gốm phần lớn là nhà ở của bà con lao động nghèo, đã bị một loạt bom rải thảm của B52 Mỹ biến thành bình địa. Hố bom chi chít, cùng với gỗ, đá, gạch, ngói vụn nát ngổn ngang. Một cụ già tóc bạc trắng, hai tay ôm đầu, ngồi yên lặng trước ngôi nhà thân yêu, kết quả của một đời chắt chiu, dành dụm, giờ dây chỉ còn mấy cây cột gãy đổ. Một bà mẹ, đôi mắt mọng sưng, lôi ra từ trong đống đổ nát những vật kỷ niệm còn sót lại của đứa con trai vừa bị bom Mỹ cướp đi mạng sống. Trong khói lửa chưa tan, nhiều nhóm người hối hả đào bới, tìm kiếm thi thể người thân. Đây đó vang lên những tiếng than khóc não ruột, xé lòng.

Căn nhà số 22 Khâm Thiên bị biến thành một hố sâu, không còn gì hết ngoài một tập sách cháy dở và một vài mảnh áo bông thấm máu của hai chị em Lan và Phượng – 2 nữ sinh viên ở lại Hà Nội khi cả gia đình đã đi sơ tán.

Gia đình ông Đoan (số 49 Khâm Thiên) có 4 người, khi bom B52 nổ, ông bà bị chết vùi ngay dưới chân cầu thang. Hai cô con gái của ông bà kịp chạy xuống hầm, nhưng cửa hầm sập và một ống nước gần đó bị vỡ. Nước tuôn như xối vào căn hầm nhỏ. Hai chị em thét lên kinh hãi và bằng đôi tay nhỏ yếu của mình, cuống cuồng đào bới. Nhưng khối nước vô tình cứ dâng lên, dâng lên mãi cho đến khi toàn bộ căn hầm bị nước ngập đầy.

Ở ngôi nhà số 47 Khâm Thiên, có hai mẹ con không may bị sức ép của bom B52 cướp đi sinh mạng. Người mẹ ấy đã chết nhưng vẫn giữ nguyên tư thế đứng ôm chặt đứa con, che chở cho con. Và người con của bà tuy không còn sống nhưng tấm thân còn mềm, cánh tay vẫn bám chặt vào chân mẹ như muốn bấu víu vào cuộc sống mỏng manh. Đó là nguyên mẫu của “Tượng Khâm Thiên” của họa sĩ Nguyễn Tự được đặt tại khu tưởng niệm Khâm Thiên, nơi trước đó có ba ngôi nhà số 47, 49 và 51 bị bom Mỹ phá hủy hoàn toàn.

Những chùm bom ác nghiệt không chỉ gieo tai ương thảm khốc xuống “phố vắng 3 số nhà” Khâm Thiên mà còn xuống các khu dân cư yên lành như Yên Viên, Gia Lâm, Uy Nỗ… và Bệnh viện Bạch Mai. Ở thôn Gia Thụy (Gia Lâm) có gia đình bác Hiển, chỉ trong một trận bom, cả nhà có 10 người thì có tới 9 người thiệt mạng. Gia đình bác Quốc bị một quả bom cướp đi sinh mạng của bà mẹ già cùng đàn cháu thơ.

Xót xa nhất là câu chuyện ở thị trấn Yên Viên. Bom B52 đã biến một chiếc xe ca đang chở khách thành một đống sắt bẹp dúm. Những người chết và bị thương nặng lần lượt được đưa ra khỏi xe. Chỉ còn một cô gái trẻ bị thương ở cánh tay, máu chảy lênh láng, trong khi đôi chân thì bị kẹp cứng giữa hai chân ghế, không sao rút ra được. Nhiều chiến sĩ công an, dân phòng đã tìm mọi cách nhưng lực bất tòng tâm, vẫn không thể cứu được cô gái. Để rồi, giữa cảnh đêm khuya rùng rợn ấy, tiếng kêu la đau đớn, tuyệt vọng của cô gái trẻ còn kẹt lại trong xe, cứ vang lên não nuột từng hồi cho đến khi hoàn toàn lịm tắt.

Trước đó 4 hôm, đêm 21 rạng sáng 22-12-1972, hơn 100 quả bom từ máy bay B52 của không quân Mỹ được ném xuống bệnh viện Bạch Mai làm 28 y, bác sĩ của bệnh viện thiệt mạng. GS Đỗ Doãn Đại – Giám đốc bệnh viện Bạch Mai giai đoạn 1969 – 1982 cho biết: Toàn bộ Bệnh viện Bạch Mai như một bãi hoang tàn. Nhà sập, cây đổ, gạch nát, nhiều người đã phải hy sinh. Tòa nhà chính của bệnh viện đổ sập, đè lên những căn hầm, trong đó có rất nhiều bệnh nhân và nhân viên y tế đang ẩn nấp. Ban lãnh đạo bệnh viện đã làm đủ mọi cách mà đành bất lực. Không có chiếc xe cẩu nào đủ sức nhấc nổi khối bê tông và gạch đá khổng lồ ấy. Tiếng kêu khóc từ trong lòng đất vang lên yếu ớt, nghe như từ cõi xa xăm vọng về. Các bác sĩ, y tá đã phải dùng những ống cao su nhỏ, luồn qua những khe nứt để bơm sữa xuống cho những người bị nạn. Sau đó nhiều người đã chết vì ngạt, vì đói hoặc vì chấn thương.

Tại Khu nhà B, các mảng bê tông chặn cửa xuống hầm, các y, bác sĩ của khoa Da liễu bị kẹt bên trong. Có những lối vào hầm quá nhỏ hẹp, các bác sĩ phải bò vào hầm để xem xét tình hình. Ở đoạn đầu ngách hầm một tấm bê tông đè chết hộ lý Hoàn Kim Thoa (39 tuổi). Thi thể của chị chắn ngang lối vào hầm, những người bị kẹt trong hầm kêu gào: “Các anh ơi, cứu chúng em với, cứu chúng em với”. Để nhanh chóng cứu được những người phía trong, các bác sĩ và những cứu hộ đành nén đau thương chọn phương sách cắt thi thể người hộ lý làm ba phần rồi dùng dây thừng kéo ra ngoài sau đó khâu lại. Cô Đỗ Thị Thanh Nhàn, điều dưỡng ở khoa Nhi cho biết: Trong số các nạn nhân còn có chị Diên đang mang bầu ba tháng, em Liên, em Thạch mới có người yêu. Đêm ấy, em của Liên vào bệnh viện cùng chị và cũng gặp nạn”. Tất cả những thi thể tìm thấy được đặt cạnh nhau trên cáng và chuyển xuống nhà xác để khâm liệm. Lễ khâm liệm cũng diễn ra đơn giản, chóng vánh vì lo sợ sẽ lại có những đợt đánh bom mới.

Đại tá Lưu Trọng Lân cho biết: Có một câu chuyện đau lòng mà báo chí hồi đó đã đưa tin. Một đôi trai gái, đều là bác sĩ của bệnh viện Bạch Mai, đã chuẩn bị ngày hôn lễ. Thiếp mời dự tiệc cưới đã gửi đến tất cả bè bạn. Vậy mà, đêm nay, những quả bom độc ác của Nichxơn đã cướp đi mạng sống và hạnh phúc của hai người.

Và còn biết bao chuyện thương tâm khác nữa. Nhưng, trái ngược với ý đồ đen tối của đế quốc Mỹ, cầm đầu là “kẻ mất trí” R.Nixon, những tổn thất, thương vong lớn về sinh mạng không hề làm cho tinh thần dân ta khiếp đảm, lòng dân ta hoang mang, nao núng, mà chỉ làm tăng thêm lòng căm thù và quyết tâm chiến đấu của quân dân ta mà thôi. Không chỉ có “Khâm Thiên khắc sâu căm thù giặc Mỹ” mà tấm “Bia căm thù” đã được dựng lên trong tâm trí hơn 30 triệu con dân đất Việt đương thời. Thực tế diễn ra trong chiến dịch 12 ngày đêm đã chứng minh điều đó.

Ngô Quang Chính
daidoanket.vn

Sách mới “Thắng B52 trên bầu trời Hà Nội”

Nhân dịp kỷ niệm 40 năm chiến thắng “Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không”, NXB QĐND ra mắt cuốn sách “Thắng B52 trên bầu trời Hà Nội” của tác giả Đoàn Hoài Trung – Trưởng đại diện Trung tâm Phát thanh – Truyền h́nh Quân đội tại TP. Hồ Chí Minh. Cuốn sách “Thắng B52 trên bầu trời Hà Nội” là tập hợp những bài viết của tác giả Đoàn Hoài Trung về các tướng lĩnh, sĩ quan chỉ huy và những người lính trực tiếp tham gia chiến đấu trong chiến dịch 12 ngày đêm tháng Chạp năm 1972.

Cuốn sách có những câu chuyện hay như Bác Hồ đặt tên cho Quân chủng Phòng không – Không quân; chiến công của Tiểu đoàn 57 (đoàn tên lửa Thành Loa – Bộ đội Pḥng không Hà Nội) diễn ra vào đêm 20 rạng ngày 21-12-1972, tức là vào đêm thứ 3 cuộc tập kích đường không chiến lược bằng máy bay B52 của giặc Mỹ vào Thủ đô Hà Nội, Hải Phòng và các vùng lân cận.

Trong trận “Điện Biên Phủ trên không” cuối năm 1972, vai trò của bộ đội rađa rất quan trọng trong việc phát hiện đường bay B52 vào Hà Nội. Thật thú vị, một trong những Trung đoàn trưởng rađa ngày ấy lại là người Thành phố Hồ Chí Minh. Cuốn sách ghi lại cuộc trò chuyện với Đại tá Đỗ Văn Năm – nguyên Trung đoàn trưởng Trung đoàn rađa đầu tiên phát hiện B52 bay vào Hà Nội, đêm ngày 18-12-1972.

Phạm Xuân Trường

Hà Nội 12 ngày đêm – Bản Anh hùng ca Máu và Hoa – Bài 1: Hà Nội chờ giặc tới

Ý nghĩa quan trọng của trận “Điện Biên Phủ trên không” là rõ ràng. Nhưng vẫn có ý kiến cho rằng chúng ta bị bất ngờ trước cuộc không kích bằng pháo đài bay B52 của không quân Mỹ vào Hà Nội, cho đến ngày 18-12-1972. Nhưng đó chỉ là ý kiến đơn lẻ, bởi chúng ta đã chờ giặc tới để tiêu diệt, cho dù đó là B52 – phương tiện chiến tranh hiện đại nhất.

Thế hệ trẻ Thủ đô thăm quan Bảo tàng Phòng không Không quân,
khâm phục chiến công của cha ông

Ảnh: Hoàng Long

Sẵn sàng đánh khi B52 vào bầu trời Hà Nội

Ra đời từ năm 1952, là trụ cột của không quân Mỹ, B52 được mệnh danh là “siêu pháo đài bay”, vũ khí cuối cùng kết thúc chiến tranh – theo cách nói của giới quân sự Mỹ. Ngày 10-4-1972 được ghi nhận là lần đầu tiên B52 đánh phá thành phố Vinh (Nghệ An). Sau đó là đánh phá Hải Phòng (ngày 16-4-1972). Sự hủy diệt của nó là hết sức lớn.

Trong cuốn hồi ký nhan đề “Những năm ở Nhà Trắng” (Nxb Fayard, Paris, 1979), Henri Kítxinhgiơ – cố vấn an ninh của Tổng thống Mỹ, cố vấn đặc biệt đoàn đàm phán của Chính phủ Hoa Kỳ tại hội nghị Pari, kể về sự phẫn nộ của mọi người trên thế giới và trong nước Mỹ đối với Níchxơn và ông ta. Trong số đó có các nghị sĩ quốc hội. Thượng nghị sĩ Maxki nhận xét: “Chiến dịch ném bom là sai lầm và nguy hại”. Nghị sĩ Đavít đe dọa: “Sẽ kêu gọi Quốc hội cắt ngân sách”. Nghị sĩ Sácbơ nguyền rủa: “Níchxơn là kẻ không còn lý trí”. Nghị sĩ Menxphin lên án: “Đây là chiến thuật man rợ của thời kỳ đồ đá”. Nghị sĩ Lexta ví: “Cuộc ném bom bằng B52 là cuộc truy lùng của ma quỷ”. Còn nghị sĩ Kennơđi thì khẳng định: “Chiến dịch ném bom dịp Nôen làm nổi giận lương tâm tất cả mọi người”.

Văn Úc (st)

Trước đó, đầu năm 1968, Bác Hồ đã nhận định: “Sớm muộn rồi đế quốc Mỹ cũng sẽ đưa B52 ra đánh Hà Nội, rồi có thua nó mới chịu thua. Phải dự kiến trước tình huống này càng sớm càng tốt, để có thời gian mà suy nghĩ, chuẩn bị… Ở Việt Nam, Mỹ sẽ nhất định thua, nhưng nó chỉ thua sau khi thua trên bầu trời Hà Nội”.

Theo lời Bác, chúng ta đã lên kế hoạch chiến thắng B52, kể cả việc chúng dám vào Hà Nội. Thiếu tướng Nguyễn Văn Ninh, lúc bấy giờ là Cục phó Cục Tác chiến Bộ Tổng Tham mưu cho biết, sau vụ B52 Mỹ ném bom Hải Phòng, một cuộc họp mở ra với những câu hỏi rất quan trọng: Mỹ có đưa B52 ném bom Hà Nội và vùng lân cận không? Nếu đưa thì thời điểm nào? Ta có đánh rơi được B52 không? Cách đánh ra sao?

Cuối tháng 10-1972, tài liệu về cách đánh B52 đã được phổ biến trong toàn quân chủng Phòng không- Không quân. Tuy nhiên, để đánh được B52 không đơn giản. Nói như Chủ nhiệm Ủy ban Khoa học – Kỹ thuật Nhà nước Trần Đại Nghĩa lúc ấy, trước hết phải khắc phục các loại nhiễu điện từ. Tổng Tham mưu phó Phùng Thế Tài chỉ thị, phải chuẩn bị đầy đủ phương tiện, nghiên cứu kĩ, Quân chủng Phòng không – Không quân phải được chuẩn bị chi tiết cả về con người và vũ khí cho chiến thắng B52. Đại tướng Võ Nguyên Giáp liên tục làm việc với Quân chủng Phòng không – Không quân, Tư lệnh các Binh chủng radar, tên lửa, không quân, Sư đoàn trưởng Sư đoàn Phòng không Hà Nội để xác định phương hướng tác chiến chiến dịch phòng không đánh B52, bảo vệ Hà Nội.

Tháng 9-1972, Bộ Tổng tham mưu và Bộ Tư lệnh Quân chủng Phòng không – Không quân bổ sung và hoàn thiện phương án mới đánh B52, được gọi là “Phương án tháng 9”; trong đó xác định trọng điểm vào hai khu vực Hà Nội và Hải Phòng. Ngày 24-11, Tổng Tham mưu trưởng Văn Tiến Dũng phê chuẩn kế hoạch và lệnh cho Quân chủng Phòng không- Không quân tiếp tục hoàn thiện công tác chuẩn bị chiến đấu trước ngày 3-12-1972.

Về phía Mỹ, ngày 14-12-1972, Tổng thống Mỹ R.Nixon chính thức thông qua kế hoạch tập kích chiến lược bằng B52 vào Hà Nội và Hải Phòng. Đây là kế hoạch tiếp nối từ thời Tổng thống tiền nhiệm LB. Johnson với mong muốn hủy diệt nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, tham vọng “đưa Bắc Việt Nam trở về thời kỳ đồ đá”. Các thế lực hiếu chiến Mỹ tin tưởng chắc chắn rằng, với vũ khí tối tân bậc nhất là pháo đài bay B52, thì mọi sự sẽ bị san phẳng, hủy diệt và đối phương sẽ phải quy hàng. Nhưng chúng đã lầm. Bom đạn không khuất phục được ý chí con người Việt Nam. Và trong tình thế nguy nan ấy, chúng ta đã chuẩn bị chờ giặc tới.

Ga Hàng Cỏ, bệnh viện Bạch Mai bị bom Mỹ tàn phá
ảnh tư liệu

18-12-1972, đêm đầu tiên “rồng lửa Thăng Long” quật ngã pháo đài bay B52

Ngày 17-12-1972, Bộ Tổng Tư lệnh ra lệnh cho Bộ đội Phòng không – Không quân chuyển vào trạng thái sẵn sàng chiến đấu cao nhất. 19h10 ngày 18-12-1972, Trung đoàn radar 291 ở Nghệ An phát hiện được nhiều tốp B52 đang bay trên không phận Lào về phía Bắc Việt Nam. Ngay lập tức, vào lúc 19h15, Tổng Tư lệnh Võ Nguyên Giáp, Tổng Tham mưu trưởng Văn Tiến Dũng, Tổng Tham mưu phó Phùng Thế Tài, Cục trưởng Cục Tác chiến Vũ Lăng có mặt tại Sở Chỉ huy Tổng hành dinh.

B52 là loại máy bay ném bom chiến lược hạng nặng, tầm xa do hãng Boeing sản xuất từ năm 1952, có thể mang vũ khí hạt nhân và vũ khí thông thường, khả năng hủy diệt lớn.

Cho đến nay máy bay ném bom B52 vẫn là máy bay ném bom chủ lực của lực lượng không quân chiến lược Hoa Kỳ. Lực lượng không quân chiến lược là 1 trong 3 nền tảng trụ cột của sức mạnh quân sự Hoa Kỳ, đó là: tên lửa hạt nhân chiến lược, tầu ngầm mang đầu đạn hạt nhân và không quân chiến lược – được xem là “át chủ bài” trong các cuộc chiến tranh mà quân đội Mỹ tham gia.

19h40 phút ngày 18-12-1972, thực hiện chiến dịch Linebacker II, 90 lần chiếc B52 và 135 lần máy bay chiến thuật Mỹ đánh liên tiếp 3 đợt vào các mục tiêu ở Hà Nội và vùng phụ cận. Do đã có phương án đánh giặc, ngay đêm đầu tiên B52 Mỹ rải thảm Hà Nội, mở đầu chiến dịch tàn sát, chúng ta đã bắn rơi 3 pháo đài bay B52. Đây là chiến công tuyệt vời của Quân đội nhân dân Việt Nam anh hùng, mà trực tiếp là của Quân chủng Phòng Không- Không quân. Cụ thể, ngày 18-12 và rạng sáng 19-12: D59, E261 tên lửa bằng 2 quả đạn đã bắn rơi 1 B52 – chiếc B52 đầu tiên bị bắn rơi trên bầu trời Hà Nội. Đêm đầu tiên ấy ta bắn rơi 6 máy bay các loại trong đó có 2 B52 rơi tại chỗ.

Sau đêm không kích đầu tiên, phía Mỹ nhận ra rằng, họ đã gặp phải một đối thủ kiên cường và tài giỏi. B52 bay tầm cao, được hộ tống bởi rất nhiều máy bay chiến thuật các loại hiện đại, được che đậy bởi tầng tầng lớp lớp sóng nhiễu radar nhưng vẫn bị bắn hạ. Người Mỹ bàng hoàng, giới chóp bu điên cuồng, phi công lái B52 hoảng loạn. Họ không ngờ quân đội nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa chuẩn bị kĩ lưỡng đến thế, tốt đến thế và càng không ngờ “con ma” B52 tối tân đã không đe dọa được những người lính quyết tử bảo vệ Tổ quốc.

BẮC PHONG
daidoanket.vn

Tương quan lực lượng cuộc chiến Hà Nội 12 ngày đêm

– Phía Mỹ: 1.192 máy bay, gồm 193 B52 và 250 tổ lái; 999 máy bay chiến thuật, trong đó có 50 máy bay F111. Tổng số lần xuất kích: B52 là 663 lần, riêng ở Hà Nội 444 lần; Máy bay chiến thuật: 3.920 lần chiếc.

– Phía Việt Nam Dân chủ Cộng hòa: 3 Sư đoàn phòng không. Tại Hà Nội, từ 18 đến 24-12-1972 có 9 tiểu đoàn tên lửa tham gia chiến đấu; còn từ 26 đến 29-12 là 13 tiểu đoàn. Pháo cao xạ: 16 trung đoàn. Không quân: 4 Trung đoàn tiêm kích MIG-21, MIG-19, MIG-17. Radar: 4 trung đoàn và 1 tiểu đoàn cảnh giới, dẫn đường.

(Nguồn: “Đối mặt với B52”, NXB Trẻ, 2012)

Triển lãm Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không

Hôm nay (18-12), Bảo tàng Lịch sử quân sự Việt Nam khai mạc triển lãm “Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không”, nhân dịp kỷ niệm 40 năm chiến thắng giặc Mỹ trên bầu trời Hà Nội. Triển lãm gồm 4 phần: Phần mở đầu khái quát cho người xem triển lãm hình dung một cách chung nhất “chủ trương và quyết tâm chiến lược của Đảng, Chủ tịch Hồ Chí Minh đánh bại cuộc tập kích bằng máy bay B52 của đế quốc Mỹ vào Hà Nội, Hải Phòng”. Bước vào phần thứ nhất, tác giả tái hiện lại “những âm mưu và tội ác của đế quốc Mỹ trong cuộc tập kích bằng máy bay chiến lược B52 và Hà Nội, Hải Phòng”, phần thứ hai “Hà Nội chiến đấu và chiến thắng”, phần thứ ba gợi lại khí thế hào hùng và những bài học rút ra được qua chiến thắng quan trọng này: “Viết tiếp bản hùng ca “Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không”.

Lê Anh Đức

Sai lầm lớn của Mỹ trong chiến tranh Việt Nam (tiếp theo và hết)

Người Mỹ nhìn về “Hà Nội-Điện Biên Phủ trên không”

“Giải mã” nguyên nhân thất bại của Mỹ

QĐND – Nhận xét về “Chiến dịch Linebacker II, tướng Gióoc-giơ I-đơ, cựu Phó tham mưu trưởng phụ trách kế hoạch và tác chiến của Không quân Mỹ đã viết trong tạp chí “Không quân” 6-1973, như sau: “Bắc Việt Nam có lực lượng phòng không dày dạn kinh nghiệm nhất thế giới, nhất là kinh nghiệm phóng tên lửa SAM để hạ máy bay. Về không chiến, các phi công Mỹ dựa vào hệ thống cảnh giới trên không tuy hiện đại song chắp vá nên hạn chế, trái với các máy bay MiG được ra-đa hoàn chỉnh điều khiển cho nên đa số máy bay Mỹ bị rơi vì đối phương đánh bất ngờ và chỉ khi một tên lửa lao đến ống thoát khí ở đuôi thì phi công mới biết là máy bay đang bị tiến công…”.

Tù binh Mỹ bị bắt trong chiến dịch “Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không”. Ảnh tư liệu.

Vì sao B-52 bị “hạ đo ván”?

Đại úy Phi công Mỹ Rô-bớt E Hon-phơ, người đã trực tiếp tham gia “Chiến dịch Linebacker II”, trong bài báo nhan đề “Cuộc hành quân Linebacker II theo nhận định của một phi công” đăng trên tạp chí “Không quân” tháng 9-1973, đã viết: “Không phải B-52 không được bảo dưỡng tốt (trong 729 phi vụ chỉ có một chiếc B-52 bị hỏng động cơ khi bay) mà một số máy bay chiến lược Mỹ bị rơi nhiều chính là vì mật độ vũ khí phòng không của Hà Nội, Hải Phòng tập trung cao buộc máy bay B-52 phải bay lên tầm cao và ở tầm này dễ bị tên lửa bắn hạ…”.

Trong cuốn sách nhan đề: “Người Mỹ ở Việt Nam” xuất bản năm 1980, Gu-en-tơ Le-vi viết: “Chiến dịch Linebacker II kéo dài 12 ngày đêm, mặc dù thời tiết chỉ cho phép hoạt động khoảng 12 giờ/ngày. Trong 12 ngày đã có 729 phi vụ hoạt động của B-52 và 1000 phi vụ của máy bay cường kích, 20.370 tấn bom được ném xuống Bắc Việt Nam. Mỹ bị tổn thất 26 máy bay, trong đó có 15 B-52. Các cuộc đánh phá chủ yếu tập trung vào các mục tiêu xung quanh Hà Nội, Hải Phòng bao gồm các nút giao thông, nhà ga xe lửa, kho tàng, nhà máy điện, sân bay… Việc ném bom đã gây ra tổn thất lớn cho Bắc Việt Nam, song lại không thể ngăn cản được Hà Nội tiến công Nam Việt Nam. Cả chiến dịch “Sấm rền” và “Linebacker II” đều không mang lại sự nhượng bộ quan trọng của Bắc Việt Nam. Cái giá mà Mỹ phải trả cho cuộc chiến tranh không quân ở Bắc Việt Nam là quá đắt về mặt tài chính và chính trị…”.

Khi phân tích nguyên nhân thất bại của chiến dịch Linebacker II, J.T Giôn-út viết trong cuốn “Cuộc chiến tranh Việt Nam”: “Những điểm yếu nghiêm trọng của việc vạch kế hoạch và thực hiện bộc lộ trong những cuộc oanh tạc ngày thứ nhất đã trở nên rõ rệt một cách bi thảm trong những ngày sau. Các chiến thuật áp dụng trong chiến dịch ném bom ở miền Nam không thích hợp với khu vực Hà Nội, nơi có hỏa lực phòng không mạnh”.

Trong bài viết nhan đề “Chiến dịch Linebacker II” đã đăng trên tạp chí “Không quân”, 11-1997, Oa-tơ Boi-nơ viết: “Vào thời điểm năm 1972, sau một thời gian xây dựng, Bắc Việt Nam đã có một hệ thống phòng không tích hợp mạnh nhất thế giới. Quy mô và sức mạnh của hệ thống phòng không-không quân này mạnh đến mức nhiều người tin rằng, các máy bay ném bom B-52, “át chủ bài” của lực lượng tiến công tầm xa của Mỹ khó mà sống sót… Có ba nguyên nhân dẫn đến tổn thất của B-52. Thứ nhất, các ra-đa của Bắc Việt Nam có thể vô hiệu hóa các biện pháp đối phó điện tử của B-52. Thứ hai, diện tích phản xạ hiệu dụng của B-52 quá lớn. Thứ ba, tốc độ gió quá lớn làm giảm tốc độ của máy bay”.

Nỗi sợ hãi của những phi công Mỹ

Rô-met Chan-đra, Tổng thư ký Hội đồng Hòa bình thế giới, trong bài đăng trên “Báo Cứu quốc” ngày 14-12-1973 đã viết: “Tại Hà Nội anh hùng… người ta đã thấy rõ một dân tộc không đầu hàng và không hề sợ sệt, quyết tâm làm theo di chúc thiêng liêng của Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại. Hà Nội anh hùng đã đập tan vĩnh viễn câu chuyện thần thoại của những B-52”. Hãng Roi-tơ ngày 29-12-2972 thì cho rằng “cái đà mất máy bay, phi công này nếu Mỹ còn tiếp tục ném bom thì chỉ đến ngày 28-4-1973, toàn bộ lực lượng không quân chiến lược của Mỹ ở Đông Nam Á sẽ hết nhẵn”.

Dưới đây là lời của các phi công Mỹ tham gia chiến dịch Linebacker II bị bắt làm tù binh:

“Ở sân bay U Ta-pao không khí bao trùm làm lo lắng và sợ hãi. Bởi vì chúng tôi phải đi vào những nơi nguy hiểm nhất. Bởi vì cứ như thế này thì ai cũng sẽ đến lượt phải chết. Chết trong đêm tối. Chết bi thảm. Chết vì mục đích không thể hiểu nổi”. (Giôn Ha-ri I-u-nin, trung tá, lái chính bị bắt tại Hải Hưng).

“Tôi có thể khẳng định rằng, nếu B-52 còn vào thì còn bị bắn rơi nhiều nữa. Các ông chiến đấu dũng cảm, mưu trí, có chính nghĩa. Tôi tin rằng nhất định các ông sẽ thắng vì lịch sử ở phía các ông, đạo lý cũng ở phía các ông”. (Uy-li-am Con-li).

“Máy bay chúng tôi trúng tên lửa SAM. Chỉ huy chẳng ra lệnh gì cả. Tôi nghe hai tiếng “búp”, “búp” biết rằng hai thằng ngồi trên ca bin nhảy dù rồi. Tôi liền nhảy dù theo, chẳng kịp gọi thằng ngồi sau. Vừa luống cuống cởi dù thì tôi bị bắt. Lạy Chúa, tất cả diễn ra chừng 15 phút, 15 phút kinh hoàng nhất đời tôi”. (R. Tô-mat Sim-xơn, đại úy bị bắt đêm 28-12-1972).

“Trước hôm tôi tham gia chuyến bay cuối cùng, trên báo quân đội Mỹ “Sao và Vạch” có đưa lên một số máy bay B-52 bị bắn hạ từ ngày 18 đến 24-12. Chuyến bay nào cũng có máy bay không trở về. Thật đáng sợ! Không khí bao trùm căn cứ An-đéc-xơn là không khí căng thẳng. Không cười, không đùa, không nói to… ai nấy đều lo lắng. Không khí căng thẳng này tăng lên từng ngày một”. (Giêm Côn-đân, thiếu tá, bị bắt ngày 27-12-2972).

Từ kinh nghiệm của chiến thắng “Hà Nội-Điện Biên Phủ trên không” tháng 12-1972, chúng ta có thể vận dụng vào xây dựng các khu vực phòng thủ, tìm tòi, sáng tạo nhiều cách đánh linh hoạt của chiến tranh nhân dân, trong đó có việc nghiên cứu hình thành và phát triển nghệ thuật chiến dịch phòng không chống tập kích đường không bằng vũ khí công nghệ cao của địch. Tuy chiến tranh đã lùi xa, nhưng những bài học của chiến dịch “Hà Nội-Điện Biên Phủ trên không” vẫn còn nguyên giá trị trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc ngày nay.

Đại tá, PGS, TS TRẦN NAM CHUÂN – Viện CLQP/BQP
qdnd.vn

Kỳ 1: Sai lầm lớn của Mỹ trong chiến tranh Việt Nam

Tư tưởng Hồ Chí Minh về quốc phòng toàn dân – Bài 2

Suốt cuộc đời hoạt động cách mạng, Chủ tịch Hồ Chí Minh – vị cha già của lực lượng vũ trang nhân dân luôn chăm lo đến sự trưởng thành, vững mạnh của Quân đội nhân dân. Với đường lối chính trị đúng đắn, sự mềm dẻo, linh hoạt trong chỉ đạo, Người đã thực hiện thành công việc tập hợp toàn dân vào các hình thức mặt trận, phát huy đến cao độ khả năng của dân trong cuộc kháng chiến toàn dân toàn diện, trường kỳ để rồi bằng chính sức mạnh của mình giành thắng lợi.Tư tưởng quốc phòng toàn dân của Hồ Chí Minh được biểu hiện trước tiên bằng việc phát động một cuộc chiến tranh nhân dân, dùng sức mạnh của toàn dân để đánh thắng kẻ thù.

Kế thừa truyền thống “giặc đến nhà đàn bà cũng đánh” của dân tộc, vận dụng quan điểm “cách mạng là sự nghiệp của quần chúng” của Chủ nghĩa Mác-Lênin, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định: Dân là chủ, kháng chiến kiến quốc là sự nghiệp của dân; có dân là có tất cả; khởi nghĩa toàn dân để giành lại nền độc lập cho dân tộc, kháng chiến toàn dân để giữ vững nền độc lập ấy. Trong Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến chống thực dân Pháp, Hồ Chí Minh viết: “Bất kỳ đàn ông, đàn bà, bất kỳ người già, người trẻ, không chia tôn giáo, đảng phái, dân tộc. Hễ là người Việt Nam thì phải đứng lên đánh thực dân Pháp để cứu Tổ quốc. Ai có súng dùng súng. Ai có gươm dùng gươm, không có gươm thì dùng cuốc, thuổng, gậy gộc. Ai cũng phải ra sức chống thực dân Pháp để cứu nước”.

Trong quá trình kháng chiến, Người đã nhiều lần khẳng định: 20 triệu đồng bào Việt Nam quyết đánh tan mấy vạn quân thực dân phản động. Bước vào cuộc kháng chiến chống đế quốc Mỹ, Người kêu gọi toàn dân với tinh thần: mỗi làng xóm là một pháo đài, mỗi người dân là một chiến sĩ, quyết tâm “đánh cho Mỹ cút, đánh cho ngụy nhào”.

Từ khi Đảng ta ra đời vào ngày 3-2-1930, dưới sự chỉ đạo của Hồ Chí Minh, Đảng đã chú ý xây dựng các hình thức mặt trận. Đây chính là tổ chức nhằm tập hợp đông đảo, rộng rãi các tầng lớp nhân dân, là cơ sở để xây dựng một đội quân chính trị rộng khắp.

Trong xây dựng lực lượng vũ trang, Hồ Chí Minh chú ý đến việc giáo dục tư tưởng chính trị và nhiệm vụ chính trị cho họ. Đội quân chủ lực đầu tiên của cách mạng là Đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân. Ở Hồ Chí Minh, giữa chính trị và quân sự có mối quan hệ mật thiết. Dùng chính trị để phục vụ cho quân sự, dùng quân sự để xây dựng chính trị và kết hợp chính trị với quân sự để xây dựng và bảo vệ Tổ quốc bằng tinh thần và sức mạnh của toàn dân.

Hồ Chí Minh đã chỉ rõ: xây dựng lực lượng quân sự bao gồm ba thứ quân, kết hợp xây dựng lực lượng chính trị rộng khắp và chặt chẽ giữa đấu tranh vũ trang và đấu tranh chính trị, sử dụng linh hoạt các phương pháp tiến công.

Trong hai cuộc kháng chiến, Tư tưởng Hồ Chí Minh được thể hiện rất rõ trong kết hợp giữa kháng chiến và kiến quốc, giữa mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội. Ở kháng chiến chống thực dân Pháp, Người chủ trương “vừa kháng chiến vừa kiến quốc”, khẩn trương xây dựng chính quyền và Mặt trận Liên Việt, kêu gọi toàn dân thi đua ái quốc “chống giặc đói, chống giặc dốt, chống giặc ngoại xâm”, “hậu phương thi đua với tiền phương”, “tất cả cho tiền tuyến, tất cả để chiến thắng”, thi đua thực hành cần, kiệm, liêm, chính, thi hành đúng chính sách của Đảng và Chính phủ, thực hiện các chính sách bồi dưỡng sức dân để kháng chiến lâu dài.

Trong kháng chiến chống Mỹ, Người chủ trương xây dựng miền Bắc làm hậu phương vững chắc cho tiền tuyến miền Nam và là cơ sở vững chắc cho công cuộc đấu tranh thống nhất nước nhà. Người đã động viên quân và dân miền Bắc ra sức xây dựng chủ nghĩa xã hội trong điều kiện cả nước có chiến tranh, phát triển kinh tế, văn hóa, xây dựng quân đội, củng cố quốc phòng, đánh bại chiến tranh phá hoại của địch và chi viện cho miền Nam, với tinh thần “Tất cả vì miền Nam ruột thịt”.

Tiếp nối Tư tưởng Hồ Chí Minh về quốc phòng toàn dân, hiện nay, Đảng ta rất coi trọng việc giáo dục ý thức quốc phòng cho các tầng lớp nhân dân, kêu gọi nhân dân đề cao cảnh giác, chống các âm mưu và thủ đoạn của địch. Cùng với chiến lược phát triển kinh tế, Đảng ta đề ra chiến lược về quốc phòng và an ninh quốc gia; kết hợp kinh tế với quốc phòng; kết hợp giữa xây dựng lực lượng vũ trang chính quy với các lực lượng tự vệ ở các địa phương, tạo nên thế trận quốc phòng toàn dân nhằm xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.

Để động viên, phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc vào xây dựng nền quốc phòng toàn dân vững mạnh trong thời kỳ mới, ngày 17-10-1989, Ban Bí thư Trung ương Đảng đã ra Chỉ thị tổ chức ngày Hội “Quốc phòng toàn dân” trong phạm vi cả nước, nhân dịp kỷ niệm 45 năm Ngày thành lập Quân đội nhân dân Việt Nam. Thực hiện chủ trương đó, hơn 20 năm qua, các cấp, các ngành từ Trung ương đến địa phương đã thường xuyên chăm lo củng cố, xây dựng nền quốc phòng toàn dân vững mạnh; nâng cao nhận thức và phát huy trách nhiệm của cả hệ thống chính trị, của toàn dân trong xây dựng thế trận quốc phòng toàn dân gắn với thế trận an ninh nhân dân trên từng địa bàn, nhất là xây dựng thế trận lòng dân vững chắc, góp phần quan trọng vào việc ổn định chính trị, tạo môi trường thuận lợi để phát triển đất nước.

Trong những năm tới, chúng ta đang đứng trước những thuận lợi to lớn để phát triển toàn diện đất nước. Song, chúng ta cũng đang phải đối mặt với nhiều khó khăn, thách thức. Nhiệm vụ củng cố quốc phòng, bảo vệ Tổ quốc trong thời kỳ mới có vị trí hết sức quan trọng, với những yêu cầu và nội dung rất toàn diện; đòi hỏi chúng ta phải phát huy tốt sức mạnh tổng hợp của toàn dân, toàn quân, của cả hệ thống chính trị, dưới sự lãnh đạo của Đảng và sự quản lý, điều hành của Nhà nước.

Văn kiện Đại hội XI của Đảng nhận định: Phát huy mạnh mẽ sức mạnh tổng hợp toàn dân tộc, của cả hệ thống chính trị, thực hiện tốt mục tiêu, nhiệm vụ quốc phòng, an ninh là bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ; giữ vững chủ quyền biển đảo, biên giới, vùng trời; bảo vệ Đảng, Nhà nước, nhân dân và chế độ xã hội chủ nghĩa; giữ vững ổn định chính trị, trật tự, an toàn xã hội; chủ động ngăn chặn, làm thất bại mọi âm mưu, hoạt động chống phá của các thế lực thù địch và sẵn sàng ứng phó với các mối đe dọa an ninh phi truyền thống mang tính toàn cầu, không để bị động, bất ngờ trong mọi tình huống. Tiếp tục mở rộng quan hệ hợp tác quốc tế trong lĩnh vực quốc phòng, an ninh. Tăng cường sức mạnh quốc phòng, an ninh cả về tiềm lực và thế trận; xây dựng khu vực phòng thủ tỉnh, thành phố vững mạnh; xây dựng thế trận lòng dân vững chắc trong thực hiện chiến lược bảo vệ Tổ quốc.

Có thể nói, “dựng nước phải đi đôi với giữ nước”, xây dựng chủ nghĩa xã hội gắn chặt với bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Thấm nhuần tư tưởng đó, chúng ta phải tiếp tục quán triệt sâu sắc quan điểm, đường lối quốc phòng toàn dân của Đảng; phát huy sức mạnh tổng hợp của các cấp, các ngành, các đoàn thể, của cả hệ thống chính trị và của toàn dân, đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng; đẩy mạnh thực hiện “Ngày hội Quốc phòng toàn dân” lên tầm cao mới, trong đó Quân đội là lực lượng nòng cốt xây dựng nền quốc phòng toàn dân vững mạnh, làm cho sự nghiệp củng cố quốc phòng, bảo vệ Tổ quốc thực sự là sự nghiệp của toàn dân, toàn quân ta.

Nguyễn Thanh Hoàng
xaydungdang.org.vn

————————-

Tư tưởng Hồ Chí Minh về quốc phòng toàn dân – Bài 1

Những bức ảnh kể chuyện

“Bình thường ai cũng sợ chết cả. Nhưng lúc đó thật sự chúng tôi không sợ chết. Đó là điều rất lạ” – nhà báo Chu Chí Thành vừa lật mở những tấm ảnh mình đã chụp trong 12 ngày đêm “Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không” vừa nói. Những bức ảnh chớp ghi khoảnh khắc lịch sử của Hà Nội một thời bom rơi đạn lạc, không bao giờ chúng ta mong phải chứng kiến một lần nữa.

Máy bay B-52 của Mỹ rơi ở cánh đồng
làng Định Công (Hà Nội) ngày 26-12

Tháng 12-1972, khi đó Chu Chí Thành mới 28 tuổi, chưa vợ, là phóng viên của tổ ảnh quân sự – TTXVN. Trong khi cả Hà Nội phải đi sơ tán, thì các phóng viên ảnh của TTXVN được ở lại để làm nhiệm vụ, chụp ảnh chiến đấu và chiến thắng của quân dân ta. “Ông Đỗ Phượng khi đó là Phó tổng biên tập TTX bảo chúng tôi: Các đồng chí ở lại làm nhiệm vụ nếu hi sinh sẽ được phong là liệt sĩ”. Chúng tôi cũng chỉ nghe để biết thế, còn có thể nói phóng viên ảnh rất lạc quan, không hề sợ bom Mỹ, không hề sợ hi sinh”, nhà báo Chu Chí Thành kể lại.

Cùng với các tay máy đàn anh như Văn Bảo, Lâm Hồng Long, Minh Trường, Minh Lộc,… Chu Chí Thành đã có những ngày đối mặt với thần chết để có được những khoảnh khắc quý giá để đời. Bởi, ngày ấy, khắp phố phường Hà Nội khi còi báo động hú lên, tiếng loa “Đồng báo chú ý! Đồng báo chú ý! Máy bay địch cách Hà Nội ba mươi cây số” người dân chạy xuống các hầm để trú bom thì các phóng viên ảnh nhao ra trận địa để chụp ản. Nhà báo Chu Chí Thành nhớ lại: “Tôi vọt lên tầng thượng các tọa nhà, trèo lên các điểm cao để chờ chụp các máy bay rơi hay các cảnh chiến đấu của bộ đội cao xạ, dân quân tự vệ,… trên các trận địa. Chính trong đêm 26-12, nhà nhiếp ảnh Lâm Hồng Long đã chụp được bức ảnh B-52 cháy trên bầu trời Hà Nội, ngay trên nóc nhà 18 Trần Hưng Đạo. Hồi đó chúng tôi chỉ chú trọng chụp cảnh đổ nát, tình quân dân, những sinh hoạt của người dân… chứ ít khi chụp những hình ảnh về người bị thương, bị chết. Những bức ảnh về mất mát, hi sinh cũng có nhưng chủ yếu để lưu, để tham khảo, để cung cấp cho Ủy ban điều tra tội ác đế quốc Mỹ ở Việt Nam làm việc”.

Các bác sĩ, y tá Bệnh viện Bạch Mai bàn cách
cứu người bị kẹt trong hầm sau trận bom B-52

Giờ đây, mỗi bức ảnh với ông vẫn là một câu chuyện găm sâu vào kí ức. Đó là bức ảnh chụp khẩu đội pháo bên hồ Trúc Bạch ông vừa thực hiện được mấy ngày, khi quay lại thì toàn bộ những chiến sĩ chiến đấu ở đó và những kĩ sư Bách khoa vừa mới ra trường đã không còn một ai. Sự khốc liệt của cuộc chiến hiện ra cả ở những bức ảnh chụp B-52 tan xác ở cánh đồng Định Công cùng với viên phi công Mỹ, trong túi còn bức ảnh vợ và con gái chừng hơn 1 tuổi tươi cười. Hay cảnh bệnh viện Bạch Mai bị tàn phá sau đêm ném bom kinh hoàng 22-12 và đặc biệt là ở Khâm Thiên đêm 26-12, làm chết 287 người trong đó có 40 cụ già và 55 em nhỏ của 6 khối phố Khâm Thiên. Tờ mờ sáng ngày 27-12, Chu Chí Thành đã có mặt và ghi lại được nhiều hình ảnh nhà cửa đổ nát, những người về tìm lại người thân, lật bê tông tìm lại đồ vật gia đình: túi gáo, bức ảnh, cái mâm nhôm bẹp… Đặc biệt, có nhiều hình ảnh ngày nay các báo vẫn dùng nhưng thường “quên” đi tác giả, đó là hình ảnh một cụ già tóc bạc phơ chìm lút sau đống đồ đạc lỉnh kỉnh những chăn chiếu, nón lá, bu gà và mấy bó củi…

Đường phố Khâm Thiên sáng 27-12-1972

Bên cạnh đó, Chu Chí Thành còn chụp được những bức ảnh bạn bè quốc tế đã đến thăm và chia sẻ những đau thương mất mát của Việt Nam trong những ngày bom Mỹ tàn phá miền Bắc. Đó là các bức “Đứng trước nỗi đau” chụp bà Phanien Đenman Tổng thư ký Liên hiệp phụ nữ dân chủ quốc tế thăm Bệnh viện Bạch Mai, đó là Bộ trưởng Bộ Ngoại thương Úc Giêm Kensơ thăm bệnh viện Bạch Mai sau trận bom ngày 10-12-1972 và ảnh một sinh viên Mỹ muốn trở thành pháo thủ Việt Nam…

Nhất là Jane Fonda, một minh tinh màn bạc, “trái tim của nước Mỹ” hiện lên trong ảnh của ông như một sứ giả của hòa bình khi chị đến thăm những thương binh Việt Nam, cầm tay họ, an ủi họ, chị gặp gỡ những tù binh Mỹ, gặp gỡ những nghệ sĩ của Đoàn Văn công Hà Nội, và chị cũng đã trực tiếp cầm máy quay, máy ghi âm để ghi lại tội ác của giặc Mỹ đối với nhân dân Việt Nam. Những bức ảnh này nói lên một điều rằng ngay cả nhân dân Mỹ cũng phản đối cuộc chiến tranh phi nghĩa này.

Người Hà Nội đi sơ tán (Khâm Thiên 27-12)

Ảnh Chu Chí Thành

“Pháo hoa” B-52 rơi trên bầu trời Thủ đô

Trong số những bức ảnh quân dân ta bắn rơi B-52, có một bức ảnh của phóng viên ảnh báo Phòng Không – Không quân Nguyễn Xuân Át. Đó là bức ảnh B-52 cháy rơi trên bầu trời Hà Nội như một rải pháo hoa. Ông Nguyễn Xuân Át sinh năm 1942, vẫn còn nhớ rất rõ: Nhà tôi ở phố Khâm Thiên, phía bên kia rạp Dân Chủ bây giờ. Đêm 26-12, khoảng 22h15 phút thì có báo động… Lúc nghe loa báo, tôi đang ở giữa phố, chạy về nhà, xách máy ảnh ra sân đứng “trực chiến”. Rồi thấy bừng sáng, tôi chụp được 2 kiểu B-52 cháy. Trong hai tấm ảnh đó, có một kiểu trông như pháo hoa. Đây là một ảnh ghi nhận về 12 ngày đêm mà tôi thích nhất, và cũng là tài liệu chứng minh chiến thắng của quân dân ta, bắn rơi pháo đài bay ngay trên bầu trời Hà Nội.

Hoàng Thu Phố
daidoanket.vn

Anh hùng Phạm Tuân kể về chuyến bay lịch sử

TP – Cách đây khoảng 1/4 thế kỷ  chàng trai Phạm Tuân  đã lập nên hai kỷ lục không bao giờ bị phá: Người lái máy bay chiến đấu đầu tiên bắn rơi B52 và cũng là người châu Á đầu tiên bay vào vũ trụ.

Trung tướng Phạm Tuân đang kể chuyện đời mình

Phía sau hai kỷ lục khiến cả thế giới ngỡ ngàng ấy là những nỗ lực phi thường của Phạm Tuân cùng với công lao của  đất nước Liên Xô, mà giờ đây nhắc lại hai từ đó, biết bao người vẫn bồi hồi xúc động.

Nhân kỷ niệm cách mạng tháng Mười Nga, Trung tướng Phạm Tuân đã kể lại quãng đời đầy sự kiện và cũng đầy ắp kỷ niệm với xứ sở bạch dương…

Kỳ I: Thi “trượt” thợ máy lên làm phi công

Ước mơ của cậu bé làng Quốc Tuấn

Người châu Á đầu tiên bay vào vũ trụ ấy sinh ra tại một làng nhỏ mang tên Quốc Tuấn thuộc tỉnh Thái Bình, trong một gia đình nông dân.

Tin tức về chuyến bay đầu tiên của con người vào vũ trụ vẫn được lan đi nhanh chóng với tốc độ âm thanh đến tất cả các vĩ tuyến và kinh tuyến trên thế giới. Tin tức ấy đến với ngôi làng Quốc Tuấn của Phạm Tuân qua đài phát thanh. Thời kỳ đó, chưa có vô tuyến truyền hình, và báo chí cũng chẳng mấy khi đến được với  làng Quốc Tuấn.

Những người biết chữ, nói chung là những người lớn đã giải thích cho những trẻ em nông thôn như Phạm Tuân biết rằng ở nước Liên Xô anh em đã có một con người dũng cảm bay lên cao hơn những tầng mây, rất cao và rất xa.

Trước đó, ở góc sân của mình, chú bé Phạm Tuân đã nhìn thấy những chiếc máy bay bay qua khoảng trời vùng quê. Bay ở phía dưới những lớp mây. Những đôi mắt trẻ thơ trầm trồ nhìn theo con chim sắt khổng lồ và kỳ diệu ấy mà không hình dung nổi về khả năng có thể bay cao hơn thế.

Vả lại, ở trường học các thầy giáo làng đã giải thích rằng Trái đất có hình tròn và rất lớn. Bằng cách nào mà có thể dùng máy bay – trên đài phát thanh người ta gọi là tên lửa – bay vòng quanh trái đất chỉ trong vòng 90 phút?

Đối với Phạm Tuân, ngày ấy mới 14 tuổi, thì ý nghĩa  lịch sử to lớn của sự kiện đó đã được minh chứng qua bài phát biểu của Chủ tịch Hồ Chí Minh trên đài phát thanh.

Người nói: Liên Xô đã mở đầu công tác to lớn trong lĩnh vực nghiên cứu khoa học về khoảng không vũ trụ. Tôi tin rằng không xa nữa sẽ đến giờ phút có một đại diện của thanh niên Việt Nam bay vào vũ trụ.

Phạm Tuân ghi nhớ mãi những lời Chủ tịch Hồ Chí Minh nhưng  không hề nghĩ rằng đến một ngày nào đó một chàng trai chất phác như mình lại trở thành người đại diện ấy.

Nhưng sự kiện chuyến bay của con người đầu tiên vào vũ trụ được cảm nhận một cách đặc biệt nhạy cảm vào những ngày đầu của cuộc chiến tranh chống xâm lược Mỹ ở Việt Nam.

Khi ấy cũng là những phi công, nhưng là phi công Mỹ, từ trên trời cao- khoảng trời chứa đựng đầy mơ ước và tưởng tượng của những chú bé như Phạm Tuân – đã thả hàng loạt bom chết chóc xuống các thành phố và xóm làng Việt Nam làm dâng lên làn sóng căm thù của người dân.

Sức mạnh của lòng căm thù ấy là vô hạn. Những người đến tuổi trưởng thành đã nhất loạt thẳng tiến ra trận tuyến tiền phương. Nhưng lá đơn tình nguyện của những cậu học trò lớp 10 như Phạm Tuân lúc ấy đã nhận được những câu trả lời đại thể như sau:

“Sự đóng góp của các bạn vào tư thế sẵn sàng chiến đấu của đất nước – đó là công việc học tập ở trường. Các bạn sẽ đứng trong hàng ngũ các lực lượng vũ trang bảo vệ đất nước khi nào trở thành người có kỹ năng, có kiến thức và nắm vững các phương tiện hiện đại”.

Vì vậy, mãi một năm sau, khi đã tốt nghiệp lớp 10, Phạm Tuân mới được gia nhập quân đội.

Phạm Tuân kể lại cái ngày mà cho đến bây giờ ông vẫn nhớ như in: “Khi gặp cán bộ quân sự, tôi đã đề nghị điều tôi đến phục vụ trong không quân. Trong lòng tôi có nỗi đau và tuyệt vọng vì sự bất lực của nhiều đồng bào cùng làng xóm trước những trận ném bom của Mỹ mà chúng không bị trừng phạt.

Khi được biết mình chỉ có thể học để trở thành thợ máy sửa chữa máy bay thì tôi vui mừng đồng ý ngay. Trong đầu tôi chỉ có một ý nghĩ – dù chỉ là thợ máy, kỹ thuật viên, nhưng phục vụ trong không quân là được.

Tôi sẽ được ở bên cạnh những người có thể trừng trị bọn Mỹ đã tiến hành những vụ đánh phá nhằm vào những người dân vô tội trên đất nước mình”.

“Trượt” thợ máy lên làm phi công

Phạm Tuân đến nước Nga đúng lúc mùa thu đang chuyển dần sang đông. Thiên nhiên như  bày ra như bức tranh “Mùa thu vàng” của Levitan, những chiếc lá đồng loạt chuyển sang màu vàng la đà rơi xuống .

Phạm Tuân trên chiếc máy bay chiến đấu

Nhưng chàng trai ấy chẳng có nhiều thời gian mà ngoạn cảnh vì phải bắt  tay vào học tiếng Nga còn  hết sức mới mẻ. Nhờ sự quan tâm đầy tình người của các bạn Liên Xô cộng với nỗ lực của bản thân, việc học tiếng Nga cũng trở nên trôi chảy.

Học nghiệp vụ cũng diễn ra dần dần. Tuy nhiên, chẳng bao lâu Phạm Tuân đã toàn tâm toàn ý hướng tới sân bay, nơi có tiếng gầm rít của động cơ những chiếc phản lực MIG do những người bạn đồng niên điều khiển. Trong đó có những người bạn đến từ Việt Nam.

Phạm Tuân khao khát được có mặt bên họ. Và số phận đã mỉm cười với anh. Một số học viên Việt Nam không theo nổi chương trình học hoặc sức khỏe kém nên bắt đầu bị sàng lọc.

Và nguồn bổ sung cho các học viên phi công có thể là các học viên thợ máy. Chàng trai đến từ  làng Quốc Tuấn là  một trong số mười người gặp vận may ấy. “Người ta trượt phi công xuống làm thợ máy, còn tôi “trượt” thợ máy lên làm phi công”, Phạm Tuân nhớ lại.

Ước mơ cháy bỏng được trở thành phi công  bay trên bầu trời với chiếc máy bay chiến đấu của Phạm Tuân đã được nhiều người thầy, người bạn Liên Xô “chắp cánh”. Đặc biệt  là vị huấn luyện viên đầu tiên mà các học viên đã  gọi bằng cái tên đơn giản: Misa.

Thế rồi trung tâm huấn luyện bay đã ở lại phía sau. Phạm Tuân cùng các học viên được tập trên các loại máy bay kiểu Iak -18, UTI – MIG 15 và bay trên loại máy bay MIG-17.

Trong số những người tốt nghiệp đó, có 10 phi công đạt trình độ kỹ thuật khá giỏi, được huấn luyện bay  ban đêm. Phạm Tuân là phi công tiêm kích đầu tiên được bay đêm trên MIG -17 ở Liên Xô.

Ra đi để học làm thợ máy nhưng khi về nước Phạm Tuân đã là một phi công được đào tạo cơ bản. Nhưng ở Việt Nam anh và các bạn đồng môn lại tiếp tục được đào tạo lại để điều khiển những chiếc máy bay MIG -21, một trong những loại máy bay tiêm kích hoàn hảo nhất thế giới.

Và một lần nữa những huấn luyện viên Liên Xô lại tận tình hướng dẫn. Họ làm công việc ấy không chỉ trên sa bàn mà còn bên cạnh những phi công Việt Nam trong các chuyến bay thật.

Cho đến bây giờ Phạm Tuân vẫn tin tưởng sâu sắc rằng các phi công không thể có được lớp học bay nào tốt hơn thế ở bất cứ  các trung tâm huấn luyện bay và sân bay thử nào khác.

Lúc ấy,  B52 của đế quốc Mỹ được coi là pháo đài bay bất khả xâm phạm. Nhưng trong một lần xuất kích, phi công Vũ Đình Rạng đã vượt qua được vành đai phòng thủ dày đặc của máy bay tiêm kích Mỹ để tấn công B52.

Chiếc pháo đài bay lừng danh bị trọng thương vội trút bom ở rừng rậm, buộc phải hạ cánh khẩn cấp xuống sân bay gần nhất ở Thái Lan. Điều đó khiến người ta đã nhận ra rằng có thể làm được điều không thể.

Bộ Chỉ huy Sư đoàn của Phạm Tuân, đứng đầu là Đại tá Trần Hanh – Anh hùng LLVT, đã bắt tay đào tạo một nhóm phi công để thực hiện nhiệm vụ đặc biệt quan trọng.

Họ phân tích chiến thuật của các máy bay ném bom Mỹ và của các máy bay tiêm kích yểm trợ ban ngày và ban đêm, trong những điều kiện thời tiết khác nhau. Phạm Tuân cùng các đồng chí trong đội bay đã nhiều lần cất cánh đi làm những nhiệm vụ như  vậy, nhưng chưa gặp thời cơ thuận lợi để bắn hạ B52.

Lần thoát chết khó tin

Nhờ có thiết bị ra đa tốt đặt trên các máy bay trinh sát nên phía Mỹ thường xuyên săn tìm được các địa điểm bố trí máy bay của ta. Ngày 18/12/1972, máy bay Mỹ bất ngờ tấn công sân bay của ta được bố trí khá xa và ngụy trang tốt.

Phạm Tuân là phi công đầu tiên cất cánh lên bầu trời sau khi có báo động. Chẳng mấy chốc, máy bay Mỹ đã phá hủy đường băng cất cánh, đài chỉ huy. Liên lạc bị cắt.

Sau khi hoàn thành nhiệm vụ, nhiên liệu trên máy bay sắp  cạn kiệt  do vậy cần hạ cánh khẩn cấp. Phạm Tuân đã quyết định vẫn hạ cánh ở sân bay vừa bị đánh bom.

Quyết định này được báo lên đài chỉ huy binh chủng không quân. Và được phép. Đêm tối, không hề có đèn pha trên sân bay, Phạm Tuân hạ cánh chỉ nhờ ánh sáng phát ra từ chiếc đèn pha máy bay.

Khi máy bay vừa chạm đất thì lập tức bị tụt xuống hố bom. Tốc độ hạ cánh của MIG – 21 khá cao và chiếc máy bay đã lộn nhào, rồi trượt đi khoảng 300 mét.

Bụng máy bay hướng lên trời và quay trở lại 180 độ. Chiếc máy bay  gần như đã bị phá hủy. May mắn là nó nhanh chóng dừng lại và không bốc cháy.

Phạm Tuân thoát ra khỏi buồng lái đã hư hỏng hoàn toàn. Sáng hôm sau, anh thấy đường băng cất cánh giống như bề mặt của mặt Trăng vẫn từng được miêu tả trong phim viễn tưởng, hết hố bom này đến hố bom khác.

Anh đã thoát chết nhờ một phép màu nào đó.  Nhưng sau đó chính anh đã tự mình làm nên một phép màu gây chấn động dư luận khi bắn hạ pháo đài bay B52.

“Vào ngày 27/12/1972, số phận đã dành cho tôi một cơ hội…”, Phạm Tuân kể…

———————–

(Còn nữa)

Phùng Nguyên
tienphong.com.vn

Thượng tướng Phùng Thế Tài: Ký ức “Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không”

Ngày 18-12-1972, đế quốc Mỹ dùng máy bay B-52 ném bom hủy diệt thủ đô Hà Nội, mở đầu cuộc tập kích đường không chiến lược quy mô lớn đối với miền Bắc nước ta. Trong 12 ngày đêm đó, Tổng thống Mỹ Nixon đã ra lệnh cho toàn bộ máy bay chiến lược B-52 và các loại máy bay chiến thuật ở khu vực Ðông – Nam Á tiến công, trút xuống miền Bắc nước ta khối lượng bom đạn khổng lồ, hòng đè bẹp ý chí chiến đấu của quân và dân ta. Nhưng với tinh thần chiến đấu kiên cường, quả cảm, mưu trí, sáng tạo, quân và dân ta đã đánh bại hoàn toàn cuộc tập kích đường không chiến lược bằng B-52 của Mỹ, làm nên chiến thắng lẫy lừng “Hà Nội – Ðiện Biên Phủ trên không”, buộc Mỹ phải ký Hiệp định Paris, tạo bước ngoặt lịch sử cho cuộc cách mạng giành thắng lợi hoàn toàn. Đóng góp vào thắng lợi này là tâm sức của toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta. Trong đó, có không ít những cá nhân trực tiếp tham gia và sau này đã là những nhân chứng của lịch sử. Một trong những người đó là Thượng tướng Phùng Thế Tài.

Thượng tướng Phùng Thế Tài

Thượng tướng Phùng Thế Tài năm nay đã 93 tuổi. Trời cho ông một sức khỏe hiếm thấy và sự minh mẫn, tinh tường cũng vào loại hiếm. Ngay năm 1944, khi ấy, chàng thanh niên họ Phùng vừa tốt nghiệp trường Sĩ quan Hoàng Phố với quân hàm trung úy đã nhận nhiệm vụ tháp tùng Hồ Chủ tịch sang thăm và làm việc tại Trung Quốc với cương vị bảo vệ. Nhắc đến Bác Hồ, đôi mắt “Phùng tướng quân” linh động hẳn. Ông là người có thời gian làm công tác bảo vệ Hồ Chủ tịch. Cái tên Phùng Thế Tài cũng là do Bác đặt. Ông tên thật là Phùng Văn Thụ, quê gốc tại xã Văn Nhân, huyện Phú Xuyên, tỉnh Hà Tây (cũ). Nhà nghèo, thuở nhỏ cậu bé Phùng Văn Thụ đã sớm lưu lạc sang tận Vân Nam (Trung Quốc) mưu sinh rồi được vận động tham gia tổ chức Việt Nam độc lập đồng minh hội ở hải ngoại. Chính tổ chức này cử ông đi học trường Sĩ quan Hoàng Phố và ông đã sớm bộc lộ một thiên hướng quân sự bẩm sinh. Thông minh đĩnh ngộ, đặc biệt là có sức khỏe dẻo dai nên tổ chức phân công ông làm công tác bảo vệ Bác những năm cách mạng còn trứng nước.

Thượng tướng Phùng Thế Tài cho biết: Trong cuộc đời ông có rất nhiều sự kiện đáng nhớ liên quan tới Hồ Chủ tịch. Trong ấy phải kể đến sự nhìn xa trông rộng của Bác Hồ trong chiến dịch “Điện Biên Phủ trên không”.

Trận “Ðiện Biên Phủ trên không” là chiến thắng có ý nghĩa quân sự, chính trị lịch sử. Chiến thắng đã làm sụp đổ sức mạnh vô địch của “không lực Hoa Kỳ”, làm thất bại chiến lược “Việt Nam hóa chiến tranh” và âm mưu “đưa miền Bắc Việt Nam trở về thời kỳ đồ đá” của Tổng thống Mỹ Nixon, tạo cục diện mới để quân và dân cả nước ta thực hiện lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh kính yêu “Ðánh cho Mỹ cút”, làm cơ sở để “đánh cho ngụy nhào”, tiến tới giành thắng lợi trọn vẹn cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước vĩ đại.

40 năm đã trôi qua, nhưng chiến thắng “Hà Nội – Ðiện Biên Phủ trên không” những ngày cuối tháng 12-1972 mãi mãi là biểu tượng của ý chí kiên cường bất khuất của dân tộc, của trí tuệ và nghệ thuật quân sự Việt Nam.

Ngay từ năm 1962, khi Đại tá Phùng Thế Tài vừa nhận chức vụ Tư lệnh Phòng không, Bác Hồ đã gọi ông lên và hỏi, đại ý: “Bây giờ chú là Tư lệnh Phòng không, vậy chú đã biết gì về B-52 chưa?”.

Bộ đội tên lửa chuẩn bị chiến đấu

Ảnh: T.L

Đầu năm 1968, Bác gọi Phùng Thế Tài – lúc đó trên cương vị Phó Tổng Tham mưu trưởng Quân đội nhân dân Việt Nam và đồng chí Đặng Tính – Chính ủy kiêm Tư lệnh Quân chủng Phòng không – Không quân đến báo cáo tình hình. Bác đã nói lời tiên tri mà sau này đã trở thành sự thật: “Sớm muộn rồi đế quốc Mỹ cũng sẽ đưa B-52 ra đánh Hà Nội rồi có thua nó mới chịu thua. Phải dự kiến trước tình huống này càng sớm càng tốt, để có thời gian mà suy nghĩ chuẩn bị… Ở Việt Nam, Mỹ sẽ nhất định thua, nhưng nó chỉ thua sau khi thua trên bầu trời Hà Nội”.

Tháng 9-1971, Bộ Chính trị và Quân ủy Trung ương đã nhận định: “Năm 1972 hoặc là địch sẽ rút nếu đạt được giải pháp, nếu chưa được có thể tập trung không quân đánh phá. Ta cần có biện pháp đề phòng”. Ngày hôm sau Đại tướng Võ Nguyên Giáp chỉ thị: “B-52 không chỉ đánh ở miền Nam. Đến mức độ nào đó cũng có thể đánh vào Thủ đô Hà Nội. Quân chủng Phòng không – Không quân phải nghiên cứu kỹ đối tượng này”. Đến 5-4-1972 khi tình hình chiến sự ở miền Nam đang diễn ra sôi sục, Quân ủy Trung ương đã chỉ thị cho Quân chủng Phòng không – Không quân và các Quân khu: “Phải sẵn sàng đối phó với khả năng Mỹ cho không quân, kể cả không quân chiến lược đánh phá trở lại miền Bắc”. Trong một buổi họp quan trọng của Bộ Quốc phòng tháng 11 năm 1972, Đại tướng Võ Nguyên Giáp – Tổng tư lệnh đã khẳng định: “Âm mưu của Mỹ cho B-52 đánh Thủ đô Hà Nội, linh hồn của cuộc kháng chiến sẽ là hành động gây sức ép cuối cùng để buộc chúng ta phải nhân nhượng. Vì vậy, chúng ta phải kiên quyết đánh thắng chúng trên bầu trời Thủ đô”.

Tháng 11 năm 1972, Tổng Tham mưu trưởng Văn Tiến Dũng cùng các Tổng tham mưu phó Trần Quý Hai, Vương Thừa Vũ, Cao Văn Khánh, Phùng Thế Tài đã thông qua và phê chuẩn kế hoạch đánh B-52 bảo vệ Hà Nội, Hải Phòng của Quân chủng Phòng không – Không quân. Đây là kế hoạch mang tầm vóc chiến dịch, một chiến dịch phòng không được tiến hành chủ yếu bằng lực lượng phòng không ba thứ quân trên miền Bắc, lấy Quân chủng Phòng không – Không quân làm nòng cốt. Sau khi ký duyệt, Tổng Tham mưu trưởng trực tiếp ra lệnh: “Phải hoàn thành nhiệm vụ công tác chuẩn bị trước ngày 3-12-1972” và còn dặn thêm: “Trước ngày Ních-xơn nhậm chức, Mỹ có thể mở đợt tập kích bằng không quân chiến lược ra Hà Nội, Hải Phòng, các đồng chí phải nắm địch thật chắc. Tuyệt đối không để bị bất ngờ… phải tập trung mọi khả năng nhằm đúng đối tượng B-52 mà tiêu diệt”.

Đầu tháng 12-1972, Tổng Bí thư Lê Duẩn đã xuống Sở chỉ huy Quân chủng Phòng không – Không quân, trực tiếp nghe Tư lệnh Lê Văn Tri trình bày kế hoạch đánh B-52 của Quân chủng. Đồng chí đã nhấn mạnh: “Để gây sức ép với ta trước sau Mỹ cũng sẽ đưa B-52 ném bom Hà Nội. Quân dân ta, mà nòng cốt là Quân chủng Phòng Không – Không quân, phải kiên quyết làm thất bại âm mưu này của chúng”.

Vị tướng ngồi trầm ngâm một lúc sau những hồi nhớ xúc động một thời như vẫn còn quá gần gũi. Bác Hồ cũng là người rất yêu mến Phùng Thế Tài và phải nói là đã tạo nhiều điều kiện để ông trở thành vị tướng giữ các trọng trách trong quân đội. Được đánh giặc, được lập công cũng là chí nguyện của vị tướng họ Phùng.

Chúng tôi ngồi lặng trước ký ức xúc động của vị tướng trận một thời từng là cận vệ của Bác Hồ. Nhắc đến Bác, lão tướng quân vẫn nhớ được từng chi tiết nhỏ dù câu chuyện xảy ra cách đây đã mấy chục năm. Người cận vệ của Bác Hồ ngồi đó, thâm trầm như một trái núi mà ẩn chứa những tâm tư, kỷ niệm, niềm tin và lẽ sống đã lặng lẽ ngấm sang từ một con người vĩ đại – Hồ Chí Minh.

Phùng Văn Khai
daidoanket.vn

Kiểm tra như ngọn đèn pha

Hồ Chủ tịchBác Hồ chỉ rõ: “Nếu tổ chức sự kiểm tra được chu đáo, thì công việc của chúng ta nhất định tiến bộ gấp mười gấp trăm”

Ngày 30-11-1948, trên Báo Sự thật số 103, với bút danh X.Y.Z, Bác Hồ đăng bài “Một việc mà các cơ quan lãnh đạo cần thực hành ngay”. Người chỉ rõ: “Chín phần mười khuyết điểm trong công việc của chúng ta là vì thiếu sự kiểm tra”. Và “Nếu tổ chức sự kiểm tra được chu đáo, thì công việc của chúng ta nhất định tiến bộ gấp mười gấp trăm”.

Trong bài viết, Bác cho rằng: Chính sách đúng là nguồn gốc của thắng lợi. Khi đã có chính sách đúng thì sự thành công hoặc thất bại của chính sách đó là do nơi cách tổ chức công việc, nơi lựa chọn cán bộ và do nơi kiểm tra. Nếu ba điều ấy sơ sài thì chính sách đúng mấy cũng vô ích.

Theo Người, mục đích sự tổ chức công tác là: Động viên toàn thể nhân dân hăng hái thi hành chính sách đã định. Mục đích lựa chọn cán bộ là dùng nhân tài phải hợp lý, chớ “dùng thợ mộc làm nghề thợ rèn” và cho họ hiểu rõ mọi mặt các công việc họ phải phụ trách. Mà muốn biết sự động viên ấy và sự thực hành ấy đã đến mức nào thì phải có kiểm tra. Có kiểm tra mới huy động được tinh thần tích cực và lực lượng to tát của nhân dân, mới biết rõ năng lực và khuyết điểm của cán bộ, mới sửa chữa và giúp đỡ kịp thời.

Bác nêu rõ, hiện nay, nhiều nơi cán bộ lãnh đạo chỉ lo khai hội và thảo nghị quyết, đánh điện và gửi chỉ thị, sau đó thì họ không biết gì đến những nghị quyết đó đã thực hành đến đâu, có những sự khó khăn trở ngại gì, dân chúng có ra sức tham gia hay không. Họ quên mất kiểm tra. Đó là một sai lầm rất to. Vì thế mà “đầy túi quần thông cáo, đầy túi áo chỉ thị” mà công việc vẫn không chạy.

Về cách kiểm tra, theo Bác, phải có hệ thống nghĩa là khi đã có nghị quyết thì phải lập tức đốc thúc sự thực hành nghị quyết ấy, phải biết rõ sự sinh hoạt và cách làm việc của cán bộ và nhân dân địa phương ấy. Kiểm tra không nên chỉ bằng cứ vào các tờ báo cáo mà phải đi đến tận nơi. Người lãnh đạo phải tự mình làm việc kiểm tra và cần có một nhóm cán bộ nhiều kinh nghiệm, năng lực để giúp mình đi kiểm tra. Nếu tổ chức việc kiểm tra cho chu đáo thì cũng như có ngọn đèn pha. Bao nhiêu tình hình, bao nhiêu ưu điểm và khuyết điểm, bao nhiêu cán bộ chúng ta đều thấy rõ.

Công tác kiểm tra là công cụ phục vụ sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lý của Nhà nước. Qua công tác kiểm tra đã phát huy những ưu điểm, khắc phục kịp thời những hạn chế, yếu kém trong thực thi chủ trương, chính sách; lấy đó làm cơ sở kiến nghị với các cơ quan chức năng sửa đổi, bổ sung, hoàn thiện cơ chế chính sách chung của Đảng và pháp luật của Nhà nước.

Theo Báo Hải Dương online
Huyền Trang (st)

bqllang.gov.vn

Cán bộ phải biết so sánh

Lời của Bác - Lời của non sôngTrong Tiết 3, Chương V của sách “Cách lãnh đạo” được Bác đặt tên “Học hỏi quần chúng nhưng không theo đuôi quần chúng”.

Trong bài có đoạn Bác nhấn mạnh rằng “Dân chúng đồng lòng, việc gì cũng làm được”. “Dân chúng không ủng hộ, việc gì làm cũng không nên”. “Mà muốn hiểu biết, học hỏi dân chúng, thì ắt phải có nhiệt thành, có quyết tâm, phải khiêm tốn, phải chịu khó. Nếu không vậy, thì dân chúng sẽ không tin chúng ta. Biết, họ cũng không nói. Nói, họ cũng không nói hết lời”.

Đề cập đến đặc điểm rõ nhất trong tư tưởng của dân chúng là họ hay “so sánh”, Bác viết rất cụ thể: “Họ so sánh bây giờ và họ so sánh thời kỳ đã qua. Họ so sánh từng việc và họ so sánh toàn bộ phận. Do sự so sánh, họ thấy chỗ khác nhau, họ thấy mối mâu thẫu. Rồi lại do đó, họ kết luận, họ đề ra cách giải quyết.

Dân chúng so sánh đúng, giải quyết đúng, là vì tai mắt họ nhiều, việc gì họ cũng nghe, cũng thấy. Vì sự so sánh kỹ càng đó, mà cách giải quyết của dân chúng bao giờ cũng gọn gàng, hợp lý, công bình”. “Dân chủ cũng do cách so sánh mà họ biết rõ ràng (cán bộ)…”.

Bác còn dặn: “Trong dân chúng, có nhiều tầng lớp khác nhau, trình độ khác nhau, ý kiến khác nhau”, “cố nhiên, không phải dân chúng nói gì, ta cũng cứ nhắm mắt theo”.

Và Bác Hồ dạy cán bộ cũng phải biết so sánh. “So đi sánh lại, sẽ lòi ra một ý kiến mà mọi người đều tán thành, hoặc số đông người tán thành”, “thành một ý kiến đầy đủ, ý kiến đó tức là cái kích thước nó tỏ rõ sự phát triển trình độ của dân chúng trong nơi đó, trong lúc đó. Theo ý kiến đó mà làm, nhất định thành công”.

“So đi sánh lại, phân tích rõ ràng là cách làm việc có khoa học”. Cuối cùng Bác Hồ căn dặn và mong muốn: “Làm như thế mới tránh khỏi cái độc đoán, mới tránh khỏi sai lầm”.

Bác kết luận: Cán bộ là “Trung tâm của vấn đề”, rường cột của tổ chức, “cán bộ quyết định tất cả”. Cần phải “so sánh lại” để chọn đúng cán bộ cần cho Đảng, cho quân đội. “Làm như thế, chính sách, cán bộ và nhân dân sẽ nhất trí, mà Đảng ta sẽ phát triển rất mau chóng và vững vàng”.

Theo Báo Hải Dương online
Huyền Trang (st)

bqllang.gov.vn

Kỷ niệm 40 năm chiến thắng “Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không”: 40 năm – nhớ lại…

LTS: 40 năm trước, vào thời khắc 12 ngày đêm Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không, nhà báo Trần Thanh Phương – nguyên Phó Tổng Biên tập báo Đại Đoàn Kết, đang là phóng viên báo Nhân Dân. Bài viết dưới đây là những ký ức vô cùng xúc động và không thể nào quên về những ngày Hà Nội đau thương, anh hùng và kiêu hãnh mà ông được trực tiếp chứng kiến với tư cách một phóng viên “mặt trận”. Xin trân trọng giới thiệu cùng bạn đọc!

Tượng Khâm Thiên ghi dấu tội ác của đế quốc Mỹ
với nhân dân Hà Nội năm 1972

Ảnh Hoàng Long

Đó là 12 giờ trưa ngày 21-12-1972, hệ thống loa phóng thanh công cộng Hà Nội đang truyền đi bản nhạc du dương, bỗng ngừng đột ngột. Một hồi còi báo động vang lên, kéo dài. Tiếng cô phát thanh viên dõng dạc: “Máy bay địch cách Hà Nội… Máy bay địch cách Hà Nội… Những người tại khu tập thể báo Nhân Dân (gồm 15 hộ, ở ngõ Lý Thường Kiệt, sau Đại sứ quán CuBa) lần lượt xuống hầm. Hầm được xây khá kiên cố trong một căn phòng khoảng 20m2 ở tầng trệt của gia đình nhà báo Đức Thi. Trong căn hầm thiếu ánh sáng, không trông rõ mặt người, nhưng qua tiếng cười, tiếng nói chộn rộn, mọi người đều biết có những ai.

Mặt đất đang yên lặng bỗng có tiếng máy bay rít ầm ầm xẹt qua, rồi lại yên lặng bao trùm. Mọi người ngồi lâu thấy mỏi định ra khỏi hầm thì tiếng cô phát thanh viên dồn dập: “Máy bay địch đang bay trở lại Hà Nội…”. Tất cả yên lặng. Bỗng một loạt tiếng nổ ầm! ầm! ầm! căn hầm rung chuyển mù mịt cát bụi. Mọi người nín thở rồi như đồng thanh thét lên: “Khu tập thể ta bị bom rồi!”. Im lặng bao trùm. Rồi còi báo yên. Tiếng cô phát thanh viên thong thả: “Máy bay địch đã bay xa!..”.

Chui ra khỏi hầm. Mọi người thảng thốt trước cảnh đổ nát ngổn ngang của hai dãy nhà từ đầu đến cuối ngõ. Phía sau là khu nhà của Bộ Giao thông Vận tải cũng bị bom. Ga Hàng Cỏ cách đó gần một cây số bị đánh sập phần ga chính. Sau đó mươi phút, anh chị em trong đội tự vệ báo Nhân Dân từ 71 phố Hàng Trồng, tay mang cuốc xẻng… chạy sang. Lúc này, chúng tôi mới nhận ra sự tàn phá khủng khiếp của bom Mỹ. Nhà của nhà báo Quang Đạm có tủ sách quý bị hất bay sang phố Dã Tượng, sau đó chỉ tìm được vài cuốn. Giá sách và “kho” tư liệu của vợ chồng tôi bị gạch ngói vùi lấp. Nhà báo Lê Điền (sau này là Tổng Biên tập báo Đại Đoàn Kết), đêm hôm trước trực ở cơ quan báo Nhân Dân, sáng hôm sau vẫn tiếp tục làm việc, trưa tranh thủ về nhà nghỉ ngơi. Lúc báo động ông chỉ kịp xuống hầm cá nhân ở gầm cầu thang nhà ông. Cái hầm kiên cố đã cứu nhà báo Lê Điền – người có cái đầu bạc trắng như cước. Đối diện là nhà ông Nguyễn Thành Lê – nguyên Tổng Biên tập báo Giải Phóng (một nhánh của Đại Đoàn Kết ngày nay), Người phát ngôn của Đoàn đại biểu Chính phủ ta tại hội nghị Paris, hư hại nặng. Các căn nhà của nhà báo Hà Đăng, Hà Hoa, Hùng Lý… bị phá hủy hoàn toàn. Từ đầu ngõ, nhà nghệ sĩ cải lương Lệ Thanh và đạo diễn Đức Dư, nhà ông Minh Đạo – phát thanh viên Đài Tiếng nói Việt Nam và nhiều nhà kiên cố khác đều bị bom đánh sập hoặc hư hại nặng. Nhưng tất cả mọi người điều an toàn.

Ngày hôm sau, cơ quan báo Nhân Dân “bắt” tôi tạm đi sơ tán vài ngày tại huyện Thạch Thất (Hà Tây cũ). Mấy hôm sau tôi nhận được thư của vợ tôi, thư có đoạn: “Anh ơi, em báo anh việc này nhé: Sáng hôm qua, em đi dạy về nhìn cái nền nhà đầy gạch vụn mà thắt ruột thắt gan. Em bới tìm được quyển sổ ghi địa chỉ của người thân, bạn bè mình. Cái thau cũ cùng với cái áo của em nó nằm đúng dưới gầm bàn mà chúng ta thường ngồi làm việc, còn mặc được. Đến chiều em bới tiếp bắt đầu từ cửa vào thì được cả hai đôi guốc. Bới tiếp nữa, được hai cái xoong (mấy ngày nay, em tưởng nó đã bay đi). Cả hai cái vẫn còn nguyên. Em mừng quá! Chỉ cái nắp xoong con bị bẹp dúm lại, nhưng nó mềm nên em sửa qua, dùng được. Em tiếp tục bới tìm được cái nắp ca, cái nắp ấm đun nước, cái đèn dầu hỏa còn nguyên, chỉ vỡ bóng. Bới tiếp em nhặt được cái cắt móng tay. Tiếp nữa, em tìm được chiếc gương soi, chân xếp lại và vẫn lành lặn. Nhưng cảm động nhất là em bới được chiếc đồng hồ báo thức hiệu Slavơ của Liên Xô. Chiếc đồng hồ chỉ vỡ mặt kính. Anh biết không, khi em chạm vào không hiểu sao nó “reo” một hồi dài. Trời ơi, giữa đống gạch đổ nát, hầu như không có bóng người ở chung quanh, vậy mà có một hồi chuông của chiếc đồng hồ quen thuộc của vợ chồng mình, em không cầm được nước mắt…”.

5 ngày sau, ngày 26-12-1972, từ nơi sơ tán, tôi về báo Nhân Dân làm việc bình thường. Chúng tôi đang dùng bữa tối có tính “dã chiến” tại cơ quan thì điện cúp. Tòa soạn nổi đèn dầu, tiếp tục lo bài vở cho số báo ngày mai. Đêm hôm ấy, Hà Nội rét căm căm. Mặt hồ Hoàn Kiếm lờ mờ hơi nước, hơi sương. Bỗng các loa phóng thanh thông báo: Máy bay địch cách Hà Nội 100 cây số, 80 cây số, rồi 60 cây số… loa phóng thanh lại truyền đi mệnh lệnh: “Địch có âm mưu đánh phá ác liệt Thủ đô Hà Nội. Các lực lượng vũ trang hãy sẵn sàng chiến đấu, tiêu diệt địch. Các đồng chí công an, dân quân, tự vệ hãy kiên quyết làm nhiệm vụ! Tất cả mọi người phải xuống hầm. Không ai được đi lại ngoài phố…”. Rồi tiếng còi báo động vang lên. Tất cả cán bộ, phóng viên, công nhân viên báo Nhân Dân làm việc đêm hôm ấy đều xuống hầm. Hầm nơi tôi trú, nghe nói là một hầm rượu của tướng Pháp Cônhi. Chính tại nơi đây, Cônhi đã điện cho Đờ Cát ở Điện Biên Phủ “tùy nghi di tản”. Sau khi Pháp rút quân, báo Nhân Dân về Hà Nội, chọn nơi đây làm trụ sở của Bộ Biên tập. Những năm Mỹ leo thang đánh phá miền Bắc, hầm rượu được xây thành hầm trú ẩn khá kiên cố. Hầm nằm bên đường Lê Thái Tổ, chỉ cách mép nước Hồ Gươm chừng vài bước chân. Bên cạnh cây đa cổ thụ còn có một căn hầm đào sâu trong lòng đất dành cho Tổng Biên tập, Phó Tổng biên tập và các cán bộ biên tập làm việc, trình bày báo nếu chiến sự xảy ra ác liệt. Chính tại căn hầm này, nhà báo Thép Mới đã viết một bài xã luận nổi tiếng đăng trên báo Nhân Dân số ra ngày 26-12-1972 với nhan đề “Hà Nội, thủ đô của phẩm giá con người”.

Một góc phố Khâm Thiên bị bom Mỹ tàn phá
(Ảnh tư liệu do Hoàng Long chụp lại)

Cả phố Khâm Thiên chạy dài từ ngã tư đường Nam Bộ (nay là đường Lê Duẩn) – Nguyễn Thượng Hiền đến Ô Chợ Dừa, bỗng rung lên bởi hàng loạt quả bom tạ từ máy bay B52 phóng xuống, ánh chớp lóe lên, tiếng nổ kéo dài, những gì trên mặt đất đều có thể bốc lên, đổ sụp, tan nát. Chúng ta có thể hình dung, những tấn bom B52 rải xuống dọc một dãy phố đông dân vào đêm tối thì cảnh tượng ấy bị nhào lộn, hoang tàn đến nhường nào? Và tất nhiên cho đến hôm nay, ai cũng hiểu rằng ở phố Khâm Thiên không hề có một căn cứ quân sự nào.

Ngay sau trận bom, phóng viên báo Nhân Dân và nhiều báo, đài khác đến Khâm Thiên ngay lập tức. Tôi xin đi, các anh không cho, vì có tin, sau đó chúng có thể đánh tiếp dãy phố Hàng Đào, Hàng Ngang, chợ Đồng Xuân, cầu Long Biên… Hãy dành lực lượng cho các “mặt trận” khác.

Quãng đường rộng trước cửa Nhà thờ Lớn ở phố Nhà Chung tự dưng không biết cơ man nào xe tải, xe ôtô lớn nhỏ và người tập trung về nơi ấy. Người ta đứng giữa trời lạnh, bàn chuyện chiến sự trong đêm và những ngày sắp tới. Không mấy ai tỏ ra sợ hãi. Họ chỉ căm giận giặc Mỹ và mừng reo chiến thắng vì ta liên tiếp hạ được nhiều pháo đài bay B52 của không lực Hoa Kỳ.

Vụ B52 ở Khâm Thiên có một câu chuyện thương tâm mà báo chí lúc bấy giờ có nói tới, làm xúc động lòng người. Đêm ấy, những quả bom dội xuống khối phố 41, đánh sập một ngôi nhà, gạch ngói đè lên căn hầm có bé Hà. Cháu không ra được, ở trong đó cứ gọi: “Mẹ ơi, bế con ra với! Mẹ ơi!”. Chị Liên – mẹ cháu Hà lao tới không làm sao lật được cái khối gạch nặng lớn ấy ra. Bên trong, cháu vẫn gọi: “Mẹ ơi, bế con ra với!”. Những người chung quanh nghe tiếng kêu của bé liền chạy lại. Tất cả lao vào cứu cháu. “Mẹ ơi, cứu con ra với!”. Tiếng cháu Hà đuối dần, đuối dần. Người đào bới mang hết sức mình để bật bằng được những khối gạch ngổn ngang kia. Khi moi được lên thì cháu Hà đã tắt thở. Người mẹ đỡ xác con trên tay và òa khóc. Những người chung quanh cắn chặt răng chịu đựng… Cho đến buổi chiều, tại ngõ Tô Tiền vẫn còn những xác người được đào bới lên. Ôtô tải chở quan tài đến. Những dải khăn sô trên đầu nhiều người đây đó bên đống gạch, bên mảng tường sụp đổ.

Tin Khâm Thiên bị máy bay B52 hủy diệt được truyền đi rất nhanh chóng trong thành phố. Cả Hà Nội đêm đông ấy không ai ngủ. Hai giờ đêm, Đài Phát thanh Hà Nội truyền đi tin chiến thắng: Ta hạ máy bay B52, bắt sống giặc lái. Bài hát “Người Hà Nội” của Nguyễn Đình Thi vang lên trong đêm khuya. Ai cũng thức, cũng nghe, cũng tự hào. Chưa bao giờ Hà Nội được thức, được sống một đêm bi tráng như thế. Trước đây Hà Nội chỉ có mútcơtông, có bom ba càng, có lựu đạn chai. Hôm nay, Hà Nội đã đánh thắng quân xâm lược bằng tên lửa, bằng pháo tầm cao và bằng máy bay MIG cánh én hiện đại. Hà Nội đã tỏ ra rất xứng đáng với niềm tin yêu của Sài Gòn và Huế. Hà Nội đã không hoảng loạn, không thành thành phố chết như bọn xâm lược tưởng. Hà Nội vẫn nguyên thế đứng “rất Hà Nội” của mình. Hà Nội lại trở thành tọa độ lửa giặc lái Mỹ. Chúng nó bay vào, Hà Nội đã chia ô bắn, đã chia vùng trời cho các cỡ súng.

Năm 1973, nhà thơ Thu Bồn từ chiến trường miền Nam được đi nhận giải thưởng quốc tế của Hội Nhà văn Á-Phi, giải thưởng Lotus (giải Bông Sen) tặng cho trường ca “Bài ca chim Chơrao”. Trong đêm trao giải, bà Imdira Gandi – Thủ tướng, Ấn Độ gửi Thu Bồn một số máu khô của nhân dân Ấn Độ tặng các chiến sĩ và đồng bào miền Nam. Còn nhà thơ Thu Bồn – tác giả trường ca “Bài ca chim Chơrao” nổi tiếng đã nhờ nhà văn Tô Hoài mang 2.000 USD tiền thưởng của mình tặng cho đồng bào phố Khâm Thiên bị bom B52 tàn phá đêm 26-12-1972.

Trần Thanh Phương
daidoanket.vn

Hồi ức về Hà Nội những ngày đêm bi tráng

Nằm trong số nhiều hoạt động kỷ niệm sự kiện 40 năm Hà Nội – Điện Biên phủ trên không 1972, tối 8-10, Trung tâm Văn hóa Pháp tại Hà Nội đã tổ chức tọa đàm “Năm 1972 – Tư liệu và ký ức của người Hà Nội về chiến tranh phá hoại của đế quốc Mỹ”. Trước đó, tại Trung tâm Văn hóa Pháp, một triển lãm ảnh với chủ đề “Hà Nội – Những ngày đêm năm 1972” đã thực sự khiến người xem xúc động.

Cuốn sách Đối mặt với B52 – Hồi ức Hà Nội

1. Cùng với triển lãm ảnh “Hà Nội – Những ngày đêm năm 1972”, cuộc tọa đàm “Năm 1972 – Tư liệu và ký ức của người Hà Nội về chiến tranh phá hoại của đế quốc Mỹ” đã tái hiện những khoảnh khắc đáng nhớ nhất về Thủ đô cách đây 40 năm về trước. Qua những tư liệu lịch sử, những ký ức của các nhân chứng sống, công chúng có dịp nhìn lại Hà Nội những ngày đêm bi tráng năm 1972.

Theo nhân chứng Phùng Tiểu Bôi (Cán bộ Lâm nghiệp Hà Nội), thời đó ông vẫn làm việc ở Hà Nội trong khi gia đình sơ tán ở xa. Đi sơ tán thì ai cũng phải đi, nhưng hằng ngày vẫn về Hà Nội thăm nhà, thăm bạn bè, người thân. Hình ảnh chiếc xe đạp gắn bó với cuộc sống, sinh hoạt của mỗi gia đình, chiếc xe đạp phải chở đến 3 – 4 người, 2 chiếc xe đạp giáp vào với nhau có thể chở được một người bị thương… Sơ tán xa Hà Nội nhưng trong lòng mỗi người nỗi nhớ Hà Nội luôn túc trực. Và khi ấy, tình cảm con người thật ấm áp.

Ông Nguyễn Xuân Mai (nguyên Trưởng Ban Biên tập báo Phòng không không quân) – người trực tiếp đưa tin về cuộc chiến 12 ngày đêm, là đồng tác giả của cuốn sách “Đối mặt với B52 – Hồi ức Hà Nội” chia sẻ: Chúng tôi phản ánh cuộc chiến đấu và kết quả của nó chứ không có thời gian để phản ánh cuộc sống của người dân. Sở dĩ ví Hà Nội 12 ngày đêm năm 1972 là trận Điện Biên Phủ trên không cũng là xuất phát từ bài hát Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không của nhạc sĩ Phạm Tuyên. Từ đó nó trở thành câu nói quen thuộc của những người tham gia chiến đấu. Trận chiến này là chiến thắng rất lớn. Ta đương đầu với một lực lượng mạnh nhất về không quân lúc đó. Dù còn rất nhiều khó khăn, thiếu thốn nhưng chúng ta vẫn chiến thắng.

2. Cũng trong cuộc tọa đàm, nhóm tác giả Huyền Mermet, Đặng Đức Tuệ, Nguyễn Xuân Mai và nhiếp ảnh gia Phạm Hoài Thanh đã giới thiệu cuốn sách “Đối mặt với B-52 – Hồi ức Hà Nội” dự kiến phát hành ngày 4-12 tới. Cuốn sách đặt ra một cách nhìn mới về 12 ngày đêm năm 1972 tại Hà Nội.

Tác giả Huyền Mermet chia sẻ: Khi bắt tay vào cuộc điều tra để thực hiện cuốn sách, chúng tôi nghĩ rằng: liệu có một điều gì đó có thể làm khác đi với những hình ảnh mà chúng ta đã chứng kiến, đã nhìn thấy sự đổ nát, về nạn nhân, và một bên là sự chiến thắng. Và một câu hỏi, 12 ngày đêm chỉ gói gọn trong những thứ đó thôi sao?… Bên cạnh đó, vẫn có những người dân Hà Nội trụ lại ở Hà Nội hằng ngày, có những người tiếp tục tham gia sản xuất và tham gia chiến đấu. Và tôi còn nghe kể, thời sơ tán, nhà văn Nguyễn Tuân thi thoảng lại đạp xe về Hà Nội chỉ là để… uống cốc bia cho vơi nỗi nhớ Hà Nội. Rồi Noel năm 1972, lúc tình hình chiến sự đang căng thẳng tới cao điểm thì người Hà Nội vẫn từ nơi sơ tán đổ về Nhà thờ Lớn, nhà thờ Hàm Long… hưởng một lễ Noel tại Hà Nội… Hay mặc chiến tranh cày xới, những làng hoa Ngọc Hà, Nhật Tân, Quảng Bá vẫn đua nhau khoe sắc, những dòng tranh dân gian vẫn được bày bán ở những phố nghề.

Theo nhà báo Đặng Đức Tuệ, cuốn sách mang tên “Đối mặt với B-52 – Hồi ức Hà Nội (18-12-1972 – 29-12-1972)” có thể sẽ mang tới cho công chúng những góc nhìn mới mẻ về thời khắc lịch sử của dân tộc cách đây hơn 40 năm. Đây là cuốn sách tư liệu lịch sử pha lẫn với những lời nhân chứng trực tiếp đầu tiên về Điện Biên Phủ trên không. Nhóm tác giả đã bỏ ra 2 năm để đi tìm những nhân chứng, những hồi ức và kỷ vật cách đây 40 năm để kết nối và làm thành cuốn sách.

3.Khi được hỏi cuốn sách ra có làm thay đổi cách nhìn của giới trẻ về chiến tranh, tác giả Huyền Mermet cho rằng: “Chúng ta nên có cái nhìn chân thực hơn, sâu sắc hơn về trận chiến 12 ngày đêm Điện Biên Phủ trên không. Đó không còn là một trận chiến với những con số thống kê, với sự mất mát, đau thương, với sự kiên cường của dân tộc. Đó còn là những cảm nhận sâu sắc, những phát biểu bình dị, những hồi ức cá nhân của những người đã đi qua cuộc chiến”. Nhóm tác giả muốn tiếp cận lịch sử từ một khía cạnh khác, gần gũi hơn, nhân văn hơn qua chính lời kể của các nhân chứng. Qua đó, họ hi vọng, độc giả có thể có cái nhìn toàn diện hơn về cuộc chiến đã đi qua.

Tuấn Kiệt
daidoanket.vn