Sai lầm lớn của Mỹ trong chiến tranh Việt Nam (tiếp theo và hết)

Người Mỹ nhìn về “Hà Nội-Điện Biên Phủ trên không”

“Giải mã” nguyên nhân thất bại của Mỹ

QĐND – Nhận xét về “Chiến dịch Linebacker II, tướng Gióoc-giơ I-đơ, cựu Phó tham mưu trưởng phụ trách kế hoạch và tác chiến của Không quân Mỹ đã viết trong tạp chí “Không quân” 6-1973, như sau: “Bắc Việt Nam có lực lượng phòng không dày dạn kinh nghiệm nhất thế giới, nhất là kinh nghiệm phóng tên lửa SAM để hạ máy bay. Về không chiến, các phi công Mỹ dựa vào hệ thống cảnh giới trên không tuy hiện đại song chắp vá nên hạn chế, trái với các máy bay MiG được ra-đa hoàn chỉnh điều khiển cho nên đa số máy bay Mỹ bị rơi vì đối phương đánh bất ngờ và chỉ khi một tên lửa lao đến ống thoát khí ở đuôi thì phi công mới biết là máy bay đang bị tiến công…”.

Tù binh Mỹ bị bắt trong chiến dịch “Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không”. Ảnh tư liệu.

Vì sao B-52 bị “hạ đo ván”?

Đại úy Phi công Mỹ Rô-bớt E Hon-phơ, người đã trực tiếp tham gia “Chiến dịch Linebacker II”, trong bài báo nhan đề “Cuộc hành quân Linebacker II theo nhận định của một phi công” đăng trên tạp chí “Không quân” tháng 9-1973, đã viết: “Không phải B-52 không được bảo dưỡng tốt (trong 729 phi vụ chỉ có một chiếc B-52 bị hỏng động cơ khi bay) mà một số máy bay chiến lược Mỹ bị rơi nhiều chính là vì mật độ vũ khí phòng không của Hà Nội, Hải Phòng tập trung cao buộc máy bay B-52 phải bay lên tầm cao và ở tầm này dễ bị tên lửa bắn hạ…”.

Trong cuốn sách nhan đề: “Người Mỹ ở Việt Nam” xuất bản năm 1980, Gu-en-tơ Le-vi viết: “Chiến dịch Linebacker II kéo dài 12 ngày đêm, mặc dù thời tiết chỉ cho phép hoạt động khoảng 12 giờ/ngày. Trong 12 ngày đã có 729 phi vụ hoạt động của B-52 và 1000 phi vụ của máy bay cường kích, 20.370 tấn bom được ném xuống Bắc Việt Nam. Mỹ bị tổn thất 26 máy bay, trong đó có 15 B-52. Các cuộc đánh phá chủ yếu tập trung vào các mục tiêu xung quanh Hà Nội, Hải Phòng bao gồm các nút giao thông, nhà ga xe lửa, kho tàng, nhà máy điện, sân bay… Việc ném bom đã gây ra tổn thất lớn cho Bắc Việt Nam, song lại không thể ngăn cản được Hà Nội tiến công Nam Việt Nam. Cả chiến dịch “Sấm rền” và “Linebacker II” đều không mang lại sự nhượng bộ quan trọng của Bắc Việt Nam. Cái giá mà Mỹ phải trả cho cuộc chiến tranh không quân ở Bắc Việt Nam là quá đắt về mặt tài chính và chính trị…”.

Khi phân tích nguyên nhân thất bại của chiến dịch Linebacker II, J.T Giôn-út viết trong cuốn “Cuộc chiến tranh Việt Nam”: “Những điểm yếu nghiêm trọng của việc vạch kế hoạch và thực hiện bộc lộ trong những cuộc oanh tạc ngày thứ nhất đã trở nên rõ rệt một cách bi thảm trong những ngày sau. Các chiến thuật áp dụng trong chiến dịch ném bom ở miền Nam không thích hợp với khu vực Hà Nội, nơi có hỏa lực phòng không mạnh”.

Trong bài viết nhan đề “Chiến dịch Linebacker II” đã đăng trên tạp chí “Không quân”, 11-1997, Oa-tơ Boi-nơ viết: “Vào thời điểm năm 1972, sau một thời gian xây dựng, Bắc Việt Nam đã có một hệ thống phòng không tích hợp mạnh nhất thế giới. Quy mô và sức mạnh của hệ thống phòng không-không quân này mạnh đến mức nhiều người tin rằng, các máy bay ném bom B-52, “át chủ bài” của lực lượng tiến công tầm xa của Mỹ khó mà sống sót… Có ba nguyên nhân dẫn đến tổn thất của B-52. Thứ nhất, các ra-đa của Bắc Việt Nam có thể vô hiệu hóa các biện pháp đối phó điện tử của B-52. Thứ hai, diện tích phản xạ hiệu dụng của B-52 quá lớn. Thứ ba, tốc độ gió quá lớn làm giảm tốc độ của máy bay”.

Nỗi sợ hãi của những phi công Mỹ

Rô-met Chan-đra, Tổng thư ký Hội đồng Hòa bình thế giới, trong bài đăng trên “Báo Cứu quốc” ngày 14-12-1973 đã viết: “Tại Hà Nội anh hùng… người ta đã thấy rõ một dân tộc không đầu hàng và không hề sợ sệt, quyết tâm làm theo di chúc thiêng liêng của Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại. Hà Nội anh hùng đã đập tan vĩnh viễn câu chuyện thần thoại của những B-52”. Hãng Roi-tơ ngày 29-12-2972 thì cho rằng “cái đà mất máy bay, phi công này nếu Mỹ còn tiếp tục ném bom thì chỉ đến ngày 28-4-1973, toàn bộ lực lượng không quân chiến lược của Mỹ ở Đông Nam Á sẽ hết nhẵn”.

Dưới đây là lời của các phi công Mỹ tham gia chiến dịch Linebacker II bị bắt làm tù binh:

“Ở sân bay U Ta-pao không khí bao trùm làm lo lắng và sợ hãi. Bởi vì chúng tôi phải đi vào những nơi nguy hiểm nhất. Bởi vì cứ như thế này thì ai cũng sẽ đến lượt phải chết. Chết trong đêm tối. Chết bi thảm. Chết vì mục đích không thể hiểu nổi”. (Giôn Ha-ri I-u-nin, trung tá, lái chính bị bắt tại Hải Hưng).

“Tôi có thể khẳng định rằng, nếu B-52 còn vào thì còn bị bắn rơi nhiều nữa. Các ông chiến đấu dũng cảm, mưu trí, có chính nghĩa. Tôi tin rằng nhất định các ông sẽ thắng vì lịch sử ở phía các ông, đạo lý cũng ở phía các ông”. (Uy-li-am Con-li).

“Máy bay chúng tôi trúng tên lửa SAM. Chỉ huy chẳng ra lệnh gì cả. Tôi nghe hai tiếng “búp”, “búp” biết rằng hai thằng ngồi trên ca bin nhảy dù rồi. Tôi liền nhảy dù theo, chẳng kịp gọi thằng ngồi sau. Vừa luống cuống cởi dù thì tôi bị bắt. Lạy Chúa, tất cả diễn ra chừng 15 phút, 15 phút kinh hoàng nhất đời tôi”. (R. Tô-mat Sim-xơn, đại úy bị bắt đêm 28-12-1972).

“Trước hôm tôi tham gia chuyến bay cuối cùng, trên báo quân đội Mỹ “Sao và Vạch” có đưa lên một số máy bay B-52 bị bắn hạ từ ngày 18 đến 24-12. Chuyến bay nào cũng có máy bay không trở về. Thật đáng sợ! Không khí bao trùm căn cứ An-đéc-xơn là không khí căng thẳng. Không cười, không đùa, không nói to… ai nấy đều lo lắng. Không khí căng thẳng này tăng lên từng ngày một”. (Giêm Côn-đân, thiếu tá, bị bắt ngày 27-12-2972).

Từ kinh nghiệm của chiến thắng “Hà Nội-Điện Biên Phủ trên không” tháng 12-1972, chúng ta có thể vận dụng vào xây dựng các khu vực phòng thủ, tìm tòi, sáng tạo nhiều cách đánh linh hoạt của chiến tranh nhân dân, trong đó có việc nghiên cứu hình thành và phát triển nghệ thuật chiến dịch phòng không chống tập kích đường không bằng vũ khí công nghệ cao của địch. Tuy chiến tranh đã lùi xa, nhưng những bài học của chiến dịch “Hà Nội-Điện Biên Phủ trên không” vẫn còn nguyên giá trị trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc ngày nay.

Đại tá, PGS, TS TRẦN NAM CHUÂN – Viện CLQP/BQP
qdnd.vn

Kỳ 1: Sai lầm lớn của Mỹ trong chiến tranh Việt Nam

Advertisements