Anh hùng Phạm Tuân kể về chuyến bay lịch sử

TP – Cách đây khoảng 1/4 thế kỷ  chàng trai Phạm Tuân  đã lập nên hai kỷ lục không bao giờ bị phá: Người lái máy bay chiến đấu đầu tiên bắn rơi B52 và cũng là người châu Á đầu tiên bay vào vũ trụ.

Trung tướng Phạm Tuân đang kể chuyện đời mình

Phía sau hai kỷ lục khiến cả thế giới ngỡ ngàng ấy là những nỗ lực phi thường của Phạm Tuân cùng với công lao của  đất nước Liên Xô, mà giờ đây nhắc lại hai từ đó, biết bao người vẫn bồi hồi xúc động.

Nhân kỷ niệm cách mạng tháng Mười Nga, Trung tướng Phạm Tuân đã kể lại quãng đời đầy sự kiện và cũng đầy ắp kỷ niệm với xứ sở bạch dương…

Kỳ I: Thi “trượt” thợ máy lên làm phi công

Ước mơ của cậu bé làng Quốc Tuấn

Người châu Á đầu tiên bay vào vũ trụ ấy sinh ra tại một làng nhỏ mang tên Quốc Tuấn thuộc tỉnh Thái Bình, trong một gia đình nông dân.

Tin tức về chuyến bay đầu tiên của con người vào vũ trụ vẫn được lan đi nhanh chóng với tốc độ âm thanh đến tất cả các vĩ tuyến và kinh tuyến trên thế giới. Tin tức ấy đến với ngôi làng Quốc Tuấn của Phạm Tuân qua đài phát thanh. Thời kỳ đó, chưa có vô tuyến truyền hình, và báo chí cũng chẳng mấy khi đến được với  làng Quốc Tuấn.

Những người biết chữ, nói chung là những người lớn đã giải thích cho những trẻ em nông thôn như Phạm Tuân biết rằng ở nước Liên Xô anh em đã có một con người dũng cảm bay lên cao hơn những tầng mây, rất cao và rất xa.

Trước đó, ở góc sân của mình, chú bé Phạm Tuân đã nhìn thấy những chiếc máy bay bay qua khoảng trời vùng quê. Bay ở phía dưới những lớp mây. Những đôi mắt trẻ thơ trầm trồ nhìn theo con chim sắt khổng lồ và kỳ diệu ấy mà không hình dung nổi về khả năng có thể bay cao hơn thế.

Vả lại, ở trường học các thầy giáo làng đã giải thích rằng Trái đất có hình tròn và rất lớn. Bằng cách nào mà có thể dùng máy bay – trên đài phát thanh người ta gọi là tên lửa – bay vòng quanh trái đất chỉ trong vòng 90 phút?

Đối với Phạm Tuân, ngày ấy mới 14 tuổi, thì ý nghĩa  lịch sử to lớn của sự kiện đó đã được minh chứng qua bài phát biểu của Chủ tịch Hồ Chí Minh trên đài phát thanh.

Người nói: Liên Xô đã mở đầu công tác to lớn trong lĩnh vực nghiên cứu khoa học về khoảng không vũ trụ. Tôi tin rằng không xa nữa sẽ đến giờ phút có một đại diện của thanh niên Việt Nam bay vào vũ trụ.

Phạm Tuân ghi nhớ mãi những lời Chủ tịch Hồ Chí Minh nhưng  không hề nghĩ rằng đến một ngày nào đó một chàng trai chất phác như mình lại trở thành người đại diện ấy.

Nhưng sự kiện chuyến bay của con người đầu tiên vào vũ trụ được cảm nhận một cách đặc biệt nhạy cảm vào những ngày đầu của cuộc chiến tranh chống xâm lược Mỹ ở Việt Nam.

Khi ấy cũng là những phi công, nhưng là phi công Mỹ, từ trên trời cao- khoảng trời chứa đựng đầy mơ ước và tưởng tượng của những chú bé như Phạm Tuân – đã thả hàng loạt bom chết chóc xuống các thành phố và xóm làng Việt Nam làm dâng lên làn sóng căm thù của người dân.

Sức mạnh của lòng căm thù ấy là vô hạn. Những người đến tuổi trưởng thành đã nhất loạt thẳng tiến ra trận tuyến tiền phương. Nhưng lá đơn tình nguyện của những cậu học trò lớp 10 như Phạm Tuân lúc ấy đã nhận được những câu trả lời đại thể như sau:

“Sự đóng góp của các bạn vào tư thế sẵn sàng chiến đấu của đất nước – đó là công việc học tập ở trường. Các bạn sẽ đứng trong hàng ngũ các lực lượng vũ trang bảo vệ đất nước khi nào trở thành người có kỹ năng, có kiến thức và nắm vững các phương tiện hiện đại”.

Vì vậy, mãi một năm sau, khi đã tốt nghiệp lớp 10, Phạm Tuân mới được gia nhập quân đội.

Phạm Tuân kể lại cái ngày mà cho đến bây giờ ông vẫn nhớ như in: “Khi gặp cán bộ quân sự, tôi đã đề nghị điều tôi đến phục vụ trong không quân. Trong lòng tôi có nỗi đau và tuyệt vọng vì sự bất lực của nhiều đồng bào cùng làng xóm trước những trận ném bom của Mỹ mà chúng không bị trừng phạt.

Khi được biết mình chỉ có thể học để trở thành thợ máy sửa chữa máy bay thì tôi vui mừng đồng ý ngay. Trong đầu tôi chỉ có một ý nghĩ – dù chỉ là thợ máy, kỹ thuật viên, nhưng phục vụ trong không quân là được.

Tôi sẽ được ở bên cạnh những người có thể trừng trị bọn Mỹ đã tiến hành những vụ đánh phá nhằm vào những người dân vô tội trên đất nước mình”.

“Trượt” thợ máy lên làm phi công

Phạm Tuân đến nước Nga đúng lúc mùa thu đang chuyển dần sang đông. Thiên nhiên như  bày ra như bức tranh “Mùa thu vàng” của Levitan, những chiếc lá đồng loạt chuyển sang màu vàng la đà rơi xuống .

Phạm Tuân trên chiếc máy bay chiến đấu

Nhưng chàng trai ấy chẳng có nhiều thời gian mà ngoạn cảnh vì phải bắt  tay vào học tiếng Nga còn  hết sức mới mẻ. Nhờ sự quan tâm đầy tình người của các bạn Liên Xô cộng với nỗ lực của bản thân, việc học tiếng Nga cũng trở nên trôi chảy.

Học nghiệp vụ cũng diễn ra dần dần. Tuy nhiên, chẳng bao lâu Phạm Tuân đã toàn tâm toàn ý hướng tới sân bay, nơi có tiếng gầm rít của động cơ những chiếc phản lực MIG do những người bạn đồng niên điều khiển. Trong đó có những người bạn đến từ Việt Nam.

Phạm Tuân khao khát được có mặt bên họ. Và số phận đã mỉm cười với anh. Một số học viên Việt Nam không theo nổi chương trình học hoặc sức khỏe kém nên bắt đầu bị sàng lọc.

Và nguồn bổ sung cho các học viên phi công có thể là các học viên thợ máy. Chàng trai đến từ  làng Quốc Tuấn là  một trong số mười người gặp vận may ấy. “Người ta trượt phi công xuống làm thợ máy, còn tôi “trượt” thợ máy lên làm phi công”, Phạm Tuân nhớ lại.

Ước mơ cháy bỏng được trở thành phi công  bay trên bầu trời với chiếc máy bay chiến đấu của Phạm Tuân đã được nhiều người thầy, người bạn Liên Xô “chắp cánh”. Đặc biệt  là vị huấn luyện viên đầu tiên mà các học viên đã  gọi bằng cái tên đơn giản: Misa.

Thế rồi trung tâm huấn luyện bay đã ở lại phía sau. Phạm Tuân cùng các học viên được tập trên các loại máy bay kiểu Iak -18, UTI – MIG 15 và bay trên loại máy bay MIG-17.

Trong số những người tốt nghiệp đó, có 10 phi công đạt trình độ kỹ thuật khá giỏi, được huấn luyện bay  ban đêm. Phạm Tuân là phi công tiêm kích đầu tiên được bay đêm trên MIG -17 ở Liên Xô.

Ra đi để học làm thợ máy nhưng khi về nước Phạm Tuân đã là một phi công được đào tạo cơ bản. Nhưng ở Việt Nam anh và các bạn đồng môn lại tiếp tục được đào tạo lại để điều khiển những chiếc máy bay MIG -21, một trong những loại máy bay tiêm kích hoàn hảo nhất thế giới.

Và một lần nữa những huấn luyện viên Liên Xô lại tận tình hướng dẫn. Họ làm công việc ấy không chỉ trên sa bàn mà còn bên cạnh những phi công Việt Nam trong các chuyến bay thật.

Cho đến bây giờ Phạm Tuân vẫn tin tưởng sâu sắc rằng các phi công không thể có được lớp học bay nào tốt hơn thế ở bất cứ  các trung tâm huấn luyện bay và sân bay thử nào khác.

Lúc ấy,  B52 của đế quốc Mỹ được coi là pháo đài bay bất khả xâm phạm. Nhưng trong một lần xuất kích, phi công Vũ Đình Rạng đã vượt qua được vành đai phòng thủ dày đặc của máy bay tiêm kích Mỹ để tấn công B52.

Chiếc pháo đài bay lừng danh bị trọng thương vội trút bom ở rừng rậm, buộc phải hạ cánh khẩn cấp xuống sân bay gần nhất ở Thái Lan. Điều đó khiến người ta đã nhận ra rằng có thể làm được điều không thể.

Bộ Chỉ huy Sư đoàn của Phạm Tuân, đứng đầu là Đại tá Trần Hanh – Anh hùng LLVT, đã bắt tay đào tạo một nhóm phi công để thực hiện nhiệm vụ đặc biệt quan trọng.

Họ phân tích chiến thuật của các máy bay ném bom Mỹ và của các máy bay tiêm kích yểm trợ ban ngày và ban đêm, trong những điều kiện thời tiết khác nhau. Phạm Tuân cùng các đồng chí trong đội bay đã nhiều lần cất cánh đi làm những nhiệm vụ như  vậy, nhưng chưa gặp thời cơ thuận lợi để bắn hạ B52.

Lần thoát chết khó tin

Nhờ có thiết bị ra đa tốt đặt trên các máy bay trinh sát nên phía Mỹ thường xuyên săn tìm được các địa điểm bố trí máy bay của ta. Ngày 18/12/1972, máy bay Mỹ bất ngờ tấn công sân bay của ta được bố trí khá xa và ngụy trang tốt.

Phạm Tuân là phi công đầu tiên cất cánh lên bầu trời sau khi có báo động. Chẳng mấy chốc, máy bay Mỹ đã phá hủy đường băng cất cánh, đài chỉ huy. Liên lạc bị cắt.

Sau khi hoàn thành nhiệm vụ, nhiên liệu trên máy bay sắp  cạn kiệt  do vậy cần hạ cánh khẩn cấp. Phạm Tuân đã quyết định vẫn hạ cánh ở sân bay vừa bị đánh bom.

Quyết định này được báo lên đài chỉ huy binh chủng không quân. Và được phép. Đêm tối, không hề có đèn pha trên sân bay, Phạm Tuân hạ cánh chỉ nhờ ánh sáng phát ra từ chiếc đèn pha máy bay.

Khi máy bay vừa chạm đất thì lập tức bị tụt xuống hố bom. Tốc độ hạ cánh của MIG – 21 khá cao và chiếc máy bay đã lộn nhào, rồi trượt đi khoảng 300 mét.

Bụng máy bay hướng lên trời và quay trở lại 180 độ. Chiếc máy bay  gần như đã bị phá hủy. May mắn là nó nhanh chóng dừng lại và không bốc cháy.

Phạm Tuân thoát ra khỏi buồng lái đã hư hỏng hoàn toàn. Sáng hôm sau, anh thấy đường băng cất cánh giống như bề mặt của mặt Trăng vẫn từng được miêu tả trong phim viễn tưởng, hết hố bom này đến hố bom khác.

Anh đã thoát chết nhờ một phép màu nào đó.  Nhưng sau đó chính anh đã tự mình làm nên một phép màu gây chấn động dư luận khi bắn hạ pháo đài bay B52.

“Vào ngày 27/12/1972, số phận đã dành cho tôi một cơ hội…”, Phạm Tuân kể…

———————–

(Còn nữa)

Phùng Nguyên
tienphong.com.vn

Advertisements