Tag Archive | Tư tưởng Hồ Chí Minh

“Nâng cao đạo đức cách mạng” – Vấn đề cơ bản, nhất quán trong Tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh

Là người mở đường xây nền độc lập, đem lại cuộc sống ấm no, hạnh phúc cho toàn dân, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn coi trọng việc giáo dục, rèn luyện, nâng cao đạo đức cách mạng cho mọi người Việt Nam yêu nước, đặc biệt là đội ngũ cán bộ đảng viên của Đảng. Người luôn coi đó là nền tảng gốc rễ của mỗi con người và của toàn xã hội, là cội nguồn thắng lợi của mọi sự nghiệp cách mạng, bảo đảm cho sự phát triển vững bền của quốc gia, dân tộc…

Trong suốt quá trình lãnh đạo cách mạng Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn chỉ rõ rằng: “Làm cách mạng để cải tạo xã hội cũ thành xã hội mới là một sự nghiệp rất vẻ vang, nhưng nó cũng là một nhiệm vụ rất nặng nề, một cuộc đấu tranh rất phức tạp, lâu dài, gian khổ. Sức có mạnh mới gánh được nặng và đi được xa. Người cách mạng phải có đạo đức cách mạng làm nền tảng, mới hoàn thành được nhiệm vụ cách mạng vẻ vang”; “Cũng như sông thì có nguồn mới có nước, không có nguồn thì sông cạn. Cây phải có gốc, không có gốc thì cây héo. Người cách mạng phải có đạo đức, không có đạo đức thì dù tài giỏi mấy cũng không lãnh đạo được nhân dân. Vì muốn giải phóng cho dân tộc, giải phóng cho loài người là một công việc to tát, mà tự mình không có đạo đức, không có căn bản, tự mình đã hủ hóa, xấu xa thì còn làm nổi việc gì?”; đạo đức cách mạng không phải là những thứ sẵn có ngay từ khi con người mới sinh ra, cũng “không phải trên trời sa xuống. Nó do đấu tranh, rèn luyện bền bỉ hằng ngày mà phát triển và củng cố cũng như ngọc càng mài càng sáng, vàng càng luyện càng trong”

Vì tầm quan trọng đặc biệt của vấn đề này, ngay từ những ngày đầu chuẩn bị cho sự ra đời của Đảng, bài học đầu tiên Người dạy trong các lớp huấn luyện, đào tạo đội ngũ cán bộ cho phong trào cách mạng Việt Nam ở Quảng Châu, Trung Quốc, những năm 1925 – 1927, là bài học về Tư cách một người cách mệnh. Trong bài học ấy, Người nêu 23 điều về tư cách của một người cách mệnh chân chính, tập trung vào ba mối quan hệ chính, đó là: đối với mình, đối với người và đối với việc. Từ đó, 23 điều về Tư cách một người cách mệnh đã đặt nền tảng cơ sở cho việc giáo dục, rèn luyện đạo đức cho đội ngũ cán bộ, đảng viên của Đảng trong suốt quá trình phát triển của cách mạng Việt Nam.

Cách mạng Tháng Tám thành công, Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ra đời, Đảng ta trở thành Đảng cầm quyền. Làm thế nào để cho đội ngũ cán bộ, đảng viên của Đảng hoàn thành tốt nhiệm vụ là những “công bộc” của dân, là điều Chủ tịch Hồ Chí Minh đặc biệt quan tâm. Một ngày sau khi nước nhà giành được độc lập, trong phiên họp đầu tiên của Hội đồng Chính phủ, ngày 3-9-1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nêu sáu nhiệm vụ cấp bách của Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà, trong đó nhiệm vụ thứ tư cần phải giải quyết ngay lúc bấy giờ là thực hiện cần, kiệm, liêm, chính. Người giải thích rõ: “Chế độ thực dân đã đầu độc dân ta với rượu và thuốc phiện. Nó đã dùng mọi thủ đoạn hòng hủ hoá dân tộc chúng ta bằng những thói xấu, lười biếng, gian giảo, tham ô và những thói xấu khác. Chúng ta có nhiệm vụ cấp bách là phải giáo dục lại nhân dân chúng ta. Chúng ta phải làm cho dân tộc chúng ta trở nên một dân tộc dũng cảm, yêu nước, yêu lao động, một dân tộc xứng đáng với nước Việt Nam độc lập”. Để làm được những điều đó, Người đề nghị “mở một chiến dịch giáo dục lại tinh thần nhân dân bằng cách thực hiện: CẦN, KIỆM, LIÊM, CHÍNH”.

Cũng ngay trong những ngày đầu lập nước này, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã sớm đã sớm nhận thấy những biểu hiện thoái hóa, biến chất trong một số đảng viên, cán bộ trong bộ máy chính quyền cách mạng. Trong Thư gửi các đồng chí tỉnh nhà (ngày 17-9-1945), sau khi khẳng định những to thắng lợi to lớn của cách mạng nước ta, Người nói rõ những khó khăn của việc xây dựng chế độ mới và những khuyết điểm của cán bộ địa phương như: lạm dụng hình phạt; kỷ luật không nghiêm; ức hiếp dân, xoáy tiền dân, lấy của dân; lên mặt quan cách mạng, độc hành, độc đoán, “dĩ công dinh tư” (lấy của chung làm của riêng); dùng pháp luật để báo thù tư… Những khuyết điểm đó, nhỏ thì làm cho dân chúng hoang mang, oán đến Chính phủ và Đoàn thể, lớn thì làm cho nền đoàn kết lay động. Vì vậy:

“Chúng ta phải lập tức sửa đổi ngay,
Chúng ta không sợ có khuyết điểm,
Chúng ta chỉ sợ không có quyết tâm sửa đổi…”.

Một tháng sau, trong Thư gửi Ủy ban nhân dân các kỳ, tỉnh, huyện và làng (ngày 17-10-1945), Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ: “Ngày nay, chúng ta đã xây dựng nên nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Nhưng nếu nước độc lập mà dân không hưởng hạnh phúc tự do, thì độc lập cũng chẳng có nghĩa lý gì”. Cùng với việc nêu rõ trách nhiệm của của chính quyền các cấp đều là công bộc của dân, việc gì lợi cho dân phải hết sức làm, việc gì hại cho dân phải hết sức tránh…, Người đã nghiêm khắc phê phán “những lầm lỗi rất nặng nề” trong một số cán bộ, đó là các căn bệnh như trái phép, cậy thế, hủ hóa, tư túng, chia rẽ, kiêu ngạo… và tỏ thái độ nghiêm khắc: “Chúng ta không sợ sai lầm, nhưng đã nhận biết sai lầm thì phải ra sức sửa chữa… Ai đã phạm những lầm lỗi trên này, thì phải hết sức sửa chữa; nếu không tự sửa chữa thì Chính phủ sẽ không khoan dung”.

Với tinh thần cách mạng ấy, dù trong kháng chiến gian khổ hay trong hòa bình xây dựng đất nước, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn đặt lên hàng đầu việc giáo dục, nâng cao đạo đức cách mạng cho đội ngũ cán bộ, đảng viên của Đảng. Những lời dạy tâm huyết của Người về vấn đề này được đề cập trong hầu hết các tác phẩm, bài viết, trong các bài nói chuyện, các cuộc gặp gỡ, trong các lớp chỉnh huấn, bồi dưỡng cán bộ, đảng viên mới… Đặc biệt là, trong bộ ba tác phẩm: “Sửa đổi lối làm việc”, “Đạo đức cách mạng” và “Nâng cao đạo đức cách mạng, quét sạch chủ nghĩa cá nhân”, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã bàn rất sâu về việc học tập và rèn luyện đạo đức cách mạng, nêu lên những giải pháp phòng chống chủ nghĩa cá nhân và phân tích sâu sắc vai trò gương mẫu của người cán bộ đảng viên. Những tác phẩm chuyên khảo ấy đã trở thành những cuốn sách gối đầu giường, những lời tâm sự, chỉ bảo của Người về đạo đức, trở thành mục tiêu, phương hướng phấn đấu, để mỗi cán bộ, đảng viên rèn luyện, sửa chữa những sai lầm, thiếu sót, khắc phục mọi tồn tại dù nhỏ, để không ngừng nâng cao đạo đức cách mạng, xứng đáng với lòng tin cậy và yêu mến của nhân dân…

Xuân này, toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta kỷ niệm 40 Xuân ngày Chủ tịch Hồ Chí Minh viết tác phẩm “Nâng cao đạo đức cách mạng, quét sạch chủ nghĩa cá nhân”. Một bài viết, một tác phẩm, vừa là những lời tâm sự, vừa là những lời căn dặn tâm huyết, thể hiện sự quan tâm sâu sắc của Người đối với Đảng, đối với tương lai của dân tộc và cuộc sống ấm no, hạnh phúc của nhân dân.

Đây là bài viết cuối cùng của Chủ tịch Hồ Chí Minh về đạo đức cách mạng. Một bài viết đăng báo chưa đầy 700 chữ, nhưng những luận điểm Người đề cập mang tính tổng kết thực tiễn sâu sắc, có ý nghĩa như một tác phẩm, một văn kiện quan trọng về xây dựng Đảng nói riêng, về giáo dục, rèn luyện, nâng cao đạo đức cách mạng nói chung – điều mà Người luôn quan tâm, trăn trở trong suốt quá trình xây dựng Đảng và lãnh đạo cách mạng Việt Nam.

Với lời lẽ, văn phong quen thuộc, mở đầu bài báo, chuyển lời khen ngợi của nhân dân đối với đội ngũ cán bộ, đảng viên gương mẫu của Đảng, Chủ tịch Hồ Chí Minh viết một cách giản dị nhưng đầy ý nghĩa: “Nhân dân ta thường nói: đảng viên đi trước, làng nước theo sau. Đó là một lời khen chân thành đối với đảng viên và cán bộ chúng ta”.

Tiếp đó, Người tỏ lời khen ngợi cán bộ, đảng viên ta trong suốt 39 năm đã tuyệt đối trung thành với Đảng và khẳng định: “Trong lịch sử đấu tranh của Đảng và trong mọi hoạt động hằng ngày, nhất là trên mặt trận chiến đấu và sản xuất, rất nhiều cán bộ, đảng viên ta tỏ ra anh dũng, gương mẫu, gian khổ đi trước, hưởng thụ đi sau và đã làm nên những thành tích rất vẻ vang… Đó là những bông hoa tươi thắm của chủ nghĩa anh hùng cách mạng. Nhân dân ta và Đảng ta rất tự hào có những người con xứng đáng như thế”.

Cùng với việc nêu bật những ưu điểm của đại đa số cán bộ đảng viên của Đảng, Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng không giấu giếm việc “còn có một số ít cán bộ, đảng viên mà đạo đức, phẩm chất còn thấp kém. Họ mang nặng chủ nghĩa cá nhân, việc gì cũng nghĩ đến lợi ích của riêng mình trước hết. Họ không lo “mình vì mọi người” mà chỉ muốn “mọi người vì mình”. Và Người đã thẳng thắn vạch ra cho mọi người thấy những bất cập, những nguy hại hết sức lớn do chủ nghĩa cá nhân gây ra: “Do cá nhân chủ nghĩa mà ngại gian khổ, khó khăn, sa vào tham ô, hủ hoá, lãng phí, xa hoa. Họ tham danh trục lợi, thích địa vị quyền hành. Họ tự cao tự đại, coi thường tập thể, xem khinh quần chúng, độc đoán, chuyên quyền. Họ xa rời quần chúng, xa rời thực tế, mắc bệnh quan liêu mệnh lệnh. Họ không có tinh thần cố gắng vươn lên, không chịu học tập để tiến bộ.

Cũng do cá nhân chủ nghĩa mà mất đoàn kết, thiếu tính tổ chức, tính kỷ luật, kém tinh thần trách nhiệm, không chấp hành đúng đường lối, chính sách của Đảng và của Nhà nước, làm hại đến lợi ích của cách mạng, của nhân dân.

Tóm lại, do cá nhân chủ nghĩa mà phạm nhiều sai lầm”.

Đây không phải lần đầu tiên Chủ tịch Hồ Chí Minh nói đến chủ nghĩa cá nhân. Đã rất nhiều lần Người nói với chúng ta về sự nguy hại của chủ nghĩa cá nhân: “Chủ nghĩa cá nhân là như một thứ vi trùng rất độc, do nó mà sinh ra các thứ bệnh rất nguy hiểm” như: tham lam, lười biếng, kiêu ngạo, hiếu danh, thiếu kỷ luật, óc hẹp hòi, óc địa phương, óc lãnh tụ và những bệnh khác như “hữu danh vô thực”, kéo bè kéo cánh, bệnh cận thị không trông xa thấy rộng, bệnh “cá nhân”…; “Chủ nghĩa cá nhân là việc gì cũng chỉ lo cho lợi ích của riêng mình, không quan tâm đến lợi ích chung của tập thể. “Miễn là mình béo, mặc thiên hạ gầy”. Nó là mẹ đẻ ra tất cả mọi tính hư nết xấu… Nó là kẻ thù hung ác của đạo đức cách mạng”, “Chủ nghĩa cá nhân là kẻ thù nguy hiểm mà mỗi người chúng ta phải luôn luôn tỉnh táo đề phòng và kiên quyết tiêu diệt”…

Để “đề phòng và kiên quyết tiêu diệt” chủ nghĩa cá nhân, làm cho tất cả cán bộ, đảng viên xứng đáng là những chiến sĩ cách mạng gương mẫu của Đảng, của nhân dân, Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ: “Đảng ta phải ra sức tăng cường giáo dục toàn Đảng về lý tưởng cộng sản chủ nghĩa, về đường lối, chính sách của Đảng, về nhiệm vụ và đạo đức của người đảng viên. Phải thực hành phê bình và tự phê bình nghiêm chỉnh trong Đảng. Phải hoan nghênh và khuyến khích quần chúng thật thà phê bình cán bộ, đảng viên. Chế độ sinh hoạt của chi bộ phải nghiêm túc. Kỷ luật của Đảng phải nghiêm minh. Công tác kiểm tra của Đảng phải chặt chẽ.

Mỗi cán bộ, đảng viên phải đặt lợi ích của cách mạng, của Đảng, của nhân dân lên trên hết, trước hết. Phải kiên quyết quét sạch chủ nghĩa cá nhân, nâng cao đạo đức cách mạng, bồi dưỡng tư tưởng tập thể, tinh thần đoàn kết, tính tổ chức và tính kỷ luật. Phải đi sâu đi sát thực tế, gần gũi quần chúng, thật sự tôn trọng và phát huy quyền làm chủ tập thể của nhân dân. Phải cố gắng học tập, rèn luyện, nâng cao trình độ hiểu biết để làm tốt mọi nhiệm vụ”… Người coi đó là một cách thiết thực để kỷ niệm ngày thành lập Đảng và cũng là một việc làm cần thiết để giúp tất cả cán bộ, đảng viên đều tiến bộ, góp sức nhiều hơn nữa cho sự nghiệp cách mạng của Đảng và dân tộc.

Tác phẩm“Nâng cao đạo đức cách mạng, quét sạch chủ nghĩa cá nhân” vốn chỉ là một bài viết đăng trên báo Nhân Dân của Chủ tịch Hồ Chí Minh nhân dịp kỷ niệm 39 năm ngày thành lập Đảng (3-2-1969), nhưng theo lời kể của đồng chí Vũ Kỳ (nguyên là thư ký riêng của Chủ tịch Hồ Chí Minh), Người đã chuẩn bị công phu và tích hợp nhiều ý kiến đóng góp. Khi chuẩn bị bài viết này, Chủ tịch Hồ Chí Minh nói rõ với những người giúp việc về mục đích, nội dung và nhấn mạnh yêu cầu: “Ngắn gọn, tập trung vào chủ đề “Quét sạch chủ nghĩa cá nhân, nâng cao đạo đức cách mạng”. Và đó cũng là tên của bài báo”.

Sau khi sửa lại bài viết, Chủ tịch Hồ Chí Minh cho “đánh máy thành nhiều bản và gửi đến từng đồng chí Ủy viên Bộ Chính trị đề nghị tham gia ý kiến”. Việc làm nhỏ nhưng cẩn trọng và có ý nghĩa sâu sắc này là thói quen làm việc hằng ngày của Người, thường xuyên trao đổi, tranh thủ ý kiến của mỗi cá nhân và tập thể Bộ Chính trị trong mọi công việc, nhằm tạo nên một không khí làm việc cởi mở, đoàn kết, chân thành… Nhưng lần này, theo đồng chí Vũ Kỳ: “Đây hẳn cũng không phải là việc ngẫu nhiên. Dưới hình thức tham gia một bài viết nhân dịp kỷ niệm thành lập Đảng, mỗi đồng chí Ủy viên Bộ Chính trị sẽ có trong tay một tài liệu mà ngay câu đầu tiên là: “Quét sạch chủ nghĩa cá nhân, nâng cao đạo đức cách mạng”. Thiện ý của Bác thật sâu sắc, tế nhị (!)

Không chỉ vậy, trước khi gửi đăng báo, Người còn trao đổi, tham khảo ý kiến của những người giúp việc. Khi những người giúp việc đề nghị cho đảo tên gọi của bài báo từ “Quét sạch chủ nghĩa cá nhân, nâng cao đạo đức cách mạng” thành “Nâng cao đạo đức cách mạng, quét sạch chủ nghĩa cá nhân”, với lý do “cán bộ đảng viên ta nói chung là tốt, ưu điểm là cơ bản”, Người đã lắng nghe, im lặng suy nghĩ một lúc rồi nêu ý kiến: “Ý kiến của các chú Bác thấy cũng có lý. Nhưng Bác vẫn còn phân vân điều này: Gia đình các chú tiết kiệm mua sắm được bộ bàn ghế, giường tủ mới. Vậy trước khi kê vào phòng, các chú có quét dọn nhà cửa sạch sẽ hay cứ để rác rưởi bẩn thỉu mà khiêng bàn ghế giường tủ vào…”. Mặc dù hỏi vậy nhưng tôn trọng ý kiến đóng góp của những người giúp việc, Người đồng ý cho đảo tên gọi của bài báo và đề nghị “ở trong bài thì dứt khoát phải giữ nguyên ý của Bác: “Quét sạch chủ nghĩa cá nhân, nâng cao đạo đức cách mạng”…

Thật kỳ diệu, ngay sau đó, bài báo đã trở thành tài liệu học tập, rèn luyện, nâng cao đạo đức cách mạng cho đội ngũ cán bộ, đảng viên của Đảng cũng như của mỗi người Việt Nam yêu nước suốt bốn thập kỷ qua. 40 năm sau ngày bài báo ra đời, đọc lại và suy ngẫm, thấy như Người đang nói với chính chúng ta hôm nay.

Thực hiện lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh, bốn mươi năm qua, trong những năm vừa kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, vừa xây dựng miền Bắc xã hội chủ nghĩa trước đây cũng như trong công cuộc đổi mới đất nước hiện nay, đã có nhiều tấm gương tiêu biểu về học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh: “Nâng cao đạo đức cách mạng, quét sạch chủ nghĩa cá nhân”. Họ là những con người luôn luôn gương mẫu, vượt qua mọi khó khăn, gian khổ, đi đầu trong chiến đấu, trong lao động sản xuất, và học tập, sống kham khổ, thiếu thốn, gom nhặt “từng hòn than, mẩu sắt, cân ngô”… để cùng góp sức xây dựng cơ đồ Việt Nam. Họ xứng đáng là những người con yêu của Tổ quốc. Tuy nhiên, bên cạnh đó còn có một số không ít cán bộ, đảng viên, đặc biệt là những cán bộ có chức, có quyền vẫn chưa thấm nhuần và làm theo những lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh, không chịu tu dưỡng, rèn luyện để nâng cao đạo đức cách mạng mà còn tự cho mình là “quan cách mạng” và trở thành “môn đồ” của chủ nghĩa cá nhân. Mỗi việc làm của họ đều mang nặng “chủ nghĩa cá nhân”, làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến lòng tin của các tầng lớp nhân dân vào sự lãnh đạo của Đảng… và đang trở thành một nguy cơ đối với sự phát triển vững bền của Đảng và dân tộc. Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X của Đảng đã đánh giá công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng chưa đạt yêu cầu và nêu rõ: “Tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, bệnh cơ hội, chủ nghĩa cá nhân và tệ quan liêu, tham nhũng, lãng phí trong một bộ phận cán bộ, công chức diễn ra nghiêm trọng”… Nguyên nhân của tình trạng nêu trên là do nhiều nguyên nhân khách quan và chủ quan, trong đó chủ yếu là: Tư duy của Đảng trên một số lĩnh vực chậm đổi mới, chưa nhận thức đầy đủ về những tác động phức tạp và nhiều mặt của cơ chế thị trường, kinh tế nhiều thành phần trong hội nhập để phát triển; Sự chỉ đạo tổ chức thực hiện chưa tốt, đặc biệt là chưa chú ý đúng mức đến vấn đề giáo dục, rèn luyện phẩm chất chính trị, đạo đức đối với cán bộ, đảng viên; Một bộ phận cán bộ, đảng viên, kể cả một số cán bộ chủ chốt, mang nặng chủ nghĩa cá nhân, không chịu tu dưỡng, rèn luyện về đạo đức, lối sống, vừa yếu kém về phẩm chất và năng lực, vừa thiếu tính tiên phong, gương mẫu, vừa không đủ trình độ hoàn thành nhiệm vụ… Trước tình hình đó, Đại hội chủ trương dành nhiều công sức để tạo được sự chuyển biến rõ rệt về xây dựng Đảng nhằm nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ đảng viên của Đảng và các tổ chức cơ sở Đảng, xây dựng Đảng thật sự trong sạch, vững mạnh cả về chính trị, tư tưởng và tổ chức, và coi đây là nhiệm vụ then chốt, có ý nghĩa sống còn đối với Đảng và sự nghiệp cách mạng của nhân dân ta…

Để thực hiện mục tiêu nêu trên, cùng với nhiều giải pháp đồng bộ, Đại hội yêu cầu: “lấy đạo đức làm gốc, đồng thời bồi dưỡng về kiến thức, trí tuệ, năng lực để làm tròn nhiệm vụ người lãnh đạo, người đi tiên phong trong các lĩnh vực công tác được giao”.

Với tinh thần ấy, tiếp theo Chỉ thị số 23-CT/TƯ của Ban Bí thư Trung ương Đảng, ngày 27-3-2003, về việc “Đẩy mạnh nghiên cứu, tuyên truyền, giáo dục tư tưởng Hồ Chí Minh trong giai đoạn mới”, trong đó xác định “việc tổ chức học tập tư tưởng Hồ Chí Minh là một nhiệm vụ mấu chốt của công tác tư tưởng của Đảng, cần được toàn Đảng thực hiện chặt chẽ, có chất lượng, hiệu quả”, ngày 27-11-2006, Bộ Chính trị Ban Chấp hành Trung ương Đảng ra Chỉ thị 06-CT/TƯ về tổ chức cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”, nhằm “Làm cho toàn Ðảng, toàn dân nhận thức sâu sắc về những nội dung cơ bản và giá trị to lớn của tư tưởng đạo đức và tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh. Tạo sự chuyển biến mạnh mẽ về ý thức tu dưỡng, rèn luyện và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh sâu rộng trong toàn xã hội, đặc biệt trong cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức, đoàn viên, thanh niên, học sinh… nâng cao đạo đức cách mạng, cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư; đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống và các tệ nạn xã hội, góp phần thực hiện thắng lợi Nghị quyết Ðại hội X của Ðảng”.

Hơn hai năm qua, cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh” đã trở thành phong trào quần chúng rộng lớn, thu hút sự tham gia sôi nổi của đông đảo cán bộ đảng viên và các tầng lớp nhân dân trong từng việc làm cụ thể. Để cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh” thiết thực và hiệu quả, góp phần đẩy mạnh hơn nữa công tác xây dựng Đảng ngày càng trong sạch, vững mạnh, theo chúng tôi, cần tổ chức thực hiện triệt để, từ Trung ương đến cơ sở, những giải pháp “Nâng cao đạo đức cách mạng mà Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ rõ trong tác phẩm “Nâng cao đạo đức cách mạng, quét sạch chủ nghĩa cá nhân” và trong lời căn dặn trước lúc đi xa của Người để “Mỗi đảng viên và cán bộ phải thật sự thấm nhuần đạo đức cách mạng, thật sự cần kiệm liêm chính, chí công vô tư”, “giữ gìn Đảng ta thật trong sạch… xứng đáng là người lãnh đạo, là người đầy tớ thật trung thành của nhân dân”.

Những lời dạy và mỗi việc làm của Chủ tịch Hồ Chí Minh về Nâng cao đạo đức cách mạng, quét sạch chủ nghĩa cá nhân, về thực hiện cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư…là lối sống, là đạo đức, là văn hóa và sự mẫu mực của Người trong việc thực hành đạo đức cách mạng mãi mãi là tấm gương sáng ngời để cán bộ, đảng viên và nhân dân ta học tập, noi theo. Với tinh thần đổi mới để phát triển, thực hành tốt những lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh về vấn đề này chính là một việc làm thiết thực, thể hiện lòng biết ơn của các thế hệ hôm nay và mai sau đối với Người, đồng thời góp phần làm tăng lòng tin của nhân dân với Đảng, với sự nghiệp cách mạng của dân tộc và góp phần thiết thực vào sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước hiện nay nhằm thực hiện thắng lợi mục tiêu Dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh – những điều Chủ tịch Hồ Chí Minh vẫn hằng mong muốn và căn dặn khi còn sống./.

TS. Chu Đức Tính
Giám đốc Bảo tàng Hồ Chí Minh

bqllang.gov.vn

Nguyên tắc đạo đức “Nói thì phải làm” của Bác Hồ

Cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”

Chủ tịch Hồ Chí Minh đi vào cõi vĩnh hằng gần 40 năm, nhưng Người đã để lại cho muôn đời con cháu mai sau một di sản tinh thần vô giá, đó là hệ thống tư tưởng Hồ Chí Minh về các vấn đề: Độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội; về Đảng Cộng sản Việt Nam; về đại đoàn kết; về quân sự; Nhà nước của dân, do dân,vì dân; về văn hoá và đạo đức…

Nghiên cứu tư tưởng Hồ Chí Minh, các nhà khoa học đã thống nhất và rút ra những nội dung cơ bản của văn hoá đạo đức Hồ Chí Minh, đó là: Trung với nước, hiếu với dân, phẩm chất đạo đức quan trọng nhất, bao trùm nhất là tình yêu thương đối với con người; là cần kiệm liêm chính, chí công vô tư và tinh thần quốc tế trong sáng, đồng thời cũng khẳng định ba nguyên tắc đạo đức của Người: Nói thì phải làm; xây đi cùng với chống và tu dưỡng đạo đức suốt đời. Trong bài viết này chúng tôi xin đi sâu vào nguyên tắc đầu tiên của đạo đức trong tư tuởng Hồ Chí Minh là “Nói thì phải làm”.

Ngay từ những năm 20, khi còn bôn ba hoạt động cách mạng ở nước ngoài, tại lớp huấn luyện chính trị ở thành phố Quảng Châu, tỉnh Quảng Đông, Trung Quốc, nơi đào tạo cán bộ cho cách mạng Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh (lúc ấy lấy bí danh là Lý Thuỵ) đã có bài giảng về “Tư cách một người cách mệnh”. Trong bài giảng của mình, Hồ Chí Minh đã nêu lên những đức tính cần phải có của một người cách mạng, đó là: Đối với mình, đối với người và đối với công việc, trong đó đối với mình được Người đặt lên hàng đầu, bởi cái khó nhất của con người là phải đấu tranh với chính bản thân mình. Từ cuối cùng của cả ba vấn đề mà Bác nêu lên trong bài giảng này đều là từ “phải”, một từ có ý nghĩa bắt buộc trong việc rèn luyện tư cách đạo đức, phong cách, lối sống và công việc của mỗi người. Bác viết:

“Tự mình phải: Cần kiệm. Hoà mà không tư. Cả quyết sửa lỗi mình. Cẩn thận mà không nhút nhát. Hay hỏi. Nhẫn nại (chịu khó). Hay nghiên cứu, xem xét. Vị công vong tư. Không hiếu danh, không kiêu ngạo. Nói thì phải làm. Giữ chủ nghĩa cho vững. Hy sinh. Ít lòng tham muốn về vật chất. Bí mật”(1).

Có thể nói đạo đức là một trong những vấn đề quan tâm hàng đầu của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Trong sự nghiệp cách mạng của mình, Bác có nhiều tác phẩm cũng như bài nói, bài viết về vấn đề này như: “Sửa đổi lối làm việc”, “Đạo đức cách mạng”, “Chớ kiêu ngạo, phải khiêm tốn”, “Cần kiệm liêm chính”, “cần tẩy sạch bệnh quan liêu mệnh lệnh” v.v…

Từ những ngày đầu cách mạng chuẩn bị cho công cuộc giải phóng dân tộc, giải phóng đất nước thì “Tư cách một người cách mệnh” tuy ngắn gọn nhưng đầy đủ về những chuẩn mực của tư cách đạo đức, tác phong lối sống, đối nhân xử thế và cách làm việc. Bài báo cuối cùng Bác viết về đạo đức là “Nâng cao đạo đức cách mạng, quét sạch chủ nghĩa cá nhân”, nhân dịp kỷ niệm ngày thành lập Đảng (3-2-1969) khi sức khỏe của Người đã giảm sút.

“Nói thì phải làm”, chỉ với bốn từ đơn giản tưởng chừng như rất dễ thực hiện ấy, nhưng suốt cả cuộc đời mình Chủ tịch Hồ Chí Minh đã không ngừng phấn đấu làm gương cho sự thống nhất giữa tư tưởng, lời nói với hành động và hiệu quả. Dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam quanh vinh và Bác Hồ vĩ đại, nhân dân ta đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác trong cuộc kháng chiến trường kỳ chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ xâm lược, giành độc lập tự do cho dân tộc, xây dựng một nước Việt Nam hoà bình, thống nhất, độc lập, dân chủ và giàu mạnh. Một trong những yếu tố quan trọng làm nên thắng lợi đó có vai trò to lớn của đạo đức cách mạng. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã viết: “Đại đa số chiến sỹ cách mạng là người có đạo đức: Cả đời hết lòng hết sức phục vụ nhân dân, sinh hoạt ngày thường thì làm gương mẫu: gian khổ, chất phác, kính trọng của công… Đạo đức ấy có ảnh hưởng lớn đến sự nghiệp đổi xã hội cũ thành xã hội mới và xây dựng mỹ tục thuần phong”(2). Và với bản thân mình, Bác đã làm đúng như khi trả lời các nhà báo nước ngoài năm 1946: “Tôi chỉ có một ham muốn, ham muốn tột bậc là làm sao cho nước ta được hoàn toàn độc lập, dân ta được hoàn toàn tự do, đồng bào ai cũng có cơm ăn áo mặc, ai cũng được học hành”(3).

Đối với mỗi người để thực hiện được việc thống nhất giữa lời nói với hành động, lời nói đi đôi với việc làm là điều không dễ, nó đòi hỏi cần phải có sự cố gắng, bền bỉ và một quyết tâm, bởi bất kỳ công việc nào, nhiệm vụ gì, dù lớn hay bé, khó hay dễ, phức tạp hay giản đơn, nhưng nếu không ra sức phấn đấu thì cũng không thể thành công được. Kết quả công việc là thước đo của mỗi người. Với các cán bộ, đảng viên và những người làm công tác lãnh đạo thì lời nói với việc làm lại càng quan trọng và cần thiết, vì cán bộ là gốc của mọi công việc, là những tấm gương để quần chúng noi theo. Trong đạo đức việc nêu gương là vô cùng cần thiết vì “… Một tấm gương sống còn có giá trị hơn một trăm bài diễn văn tuyên truyền”(4). Lời nói đi đôi với việc làm, nói được làm được, sẽ mang lại những hiệu quả lớn, được nhiều người hưởng ứng và làm theo. Để làm được điều đó, khi đề ra công việc tránh cách nói chung chung, đại khái và khó hiểu, cần phải cụ thể, thiết thực, từ nhỏ đến lớn, từ thấp đến cao, từ dễ đến khó. Ngược lại nói nhiều làm ít hoặc nói mà không làm thì sẽ chỉ mang lại những kết quả phản tác dụng. Nếu chính mình tham ô mà bảo người khác liêm khiết thì không được. Nếu rói rằng phải cần kiệm liêm chính, chí công vô tư, mà bản thân mình lại lười biếng, không hoàn thành những công việc được giao, không tiết kiệm, sống hoang phí, xa hoa trong khi cuộc sống của đại đa số nhân dân còn nhiều thiếu thốn , luôn tìm cách tham ô tiền của Nhà nước và nhân dân… thì những lời nói đó sẽ không có tác dụng giáo dục.

Với trình độ giác ngộ và dân trí ngày càng cao, không phải cứ nghe cán bộ nói là quần chúng sẽ làm theo mà họ xem việc cán bộ làm. Bác Hồ đã chỉ ra rằng nhân dân chỉ quý mến những người có phẩm chất và tư cách đạo đức tốt, vì vậy muốn hướng dẫn họ thì mình phải làm mực thước “Cần phải óc nghĩ, mắt trông, tai nghe, chân đi, miệng nói, tay làm. Chứ không phải chỉ nói suông, chỉ ngồi viết mệnh lệnh… Phải thật thà nhúng tay vào việc”(5).

Mỗi người, mỗi ngành, mỗi giới, mỗi tầng lớp nhân dân đều có những công việc, nhiệm vụ, cách làm và trách nhiệm riêng. Do đó khi gặp các đồng chí lãnh đạo của từng ngành Bác đều chỉ ra cách làm sao cho thiết thực, nhanh, gọn và đạt hiệu quả cao. Với cán bộ và chiến sỹ trong lực lượng vũ trang, Bác căn dặn: “Các đồng chí cán bộ của Đảng ở các cấp phải cố gắng tiến bộ hơn, để lãnh đạo bộ đội. Từ việc lớn đến việc nhỏ, cán bộ đều phải làm kiểu mẫu. Giữ gìn kỷ luật, học tập kỹ thuật, luyện quân lập công, xung phong hãm trận, thân ái đoàn kết, nói tóm lại, mỗi việc trong bộ đội, cán bộ đều phải làm gương. Như thế thì quân đội ta sẽ là một quân đội vô địch, và kháng chiến nhất định thành công”(6).

Còn với công nhân, những người trực tiếp làm ra của cải vật chất cho xã hội, thì Bác nhắc: “Phải nâng cao kỷ luật lao động. Tình trạng muốn làm thì làm, không muốn làm thì thôi, nghỉ sớm, không ốm cũng cáo ốm để nghỉ, đều là thiếu kỷ luật lao động. Bộ đội không có kỷ luật, đánh giặc nhất định thua; nhà máy không có kỷ luật lao động, không phải là nhà máy tốt. Kỷ luật lao động không phải Bác đưa ra hay ở đâu đưa đến, mà chính là các cô, các chú bàn bạc, thông qua, tự giác thi hành. Thông qua rồi, ai không theo không được”(7). Các cán bộ cần phải đi sâu đi sát, kiểm tra đôn đốc kết quả của việc thực hiện những công việc đã đề ra, không thể làm theo lối quan liêu, như cách “Tỉnh gửi giấy về huyện, huyện gửi giấy về xã. Giấy không thể che rét cho trâu bò được”(8).

Lực lượng thanh niên, những chủ nhân tương lai của nước nhà, những người có vai trò rất lớn trong sự thịnh vượng hay suy yếu của đất nước, Bác đã chỉ ra cho họ những việc cần phải làm, những đức tính tự mình phải rèn luyện để có thể đảm đương được các trọng trách đó. Theo Bác mỗi thanh niên, nhất là mỗi cán bộ phải kiên quyết làm cho bằng được những điều sau đây:

a) Các sự hy sinh khó nhọc thì mình làm trước người ta,còn sự sung sướng thanh nhàn thì mình nhường người ta hưởng trước…
b) Các việc đáng làm, thì có khó mấy cũng cố chịu quyết làm cho kỳ được.
c) Ham làm những việc ích quốc lợi dân. Không ham địa vị và công danh phú quý.
d) Đem lòng chí công vô tư mà đối với người, đối với việc.
e) Quyết tâm làm gương về mặt: siêng năng, tiết kiệm, trong sạch.
f) Chớ kiêu ngạo, tự mãn, tự túc. Nói ít làm nhiều, thân ái đoàn kết”(9).

Năm 1959, khi nói chuyện với giáo viên tại lớp học chính trị về nhiệm vụ vẻ vang của các thầy cô giáo trong công tác giáo dục đào tạo thế hệ trẻ, Bác nhấn mạnh: “Giáo viên phải chú ý cả tài, cả đức, tài là văn hoá, chuyên môn, đức là chính trị. Muốn cho học sinh có đức thì giáo viên phải có đức.Ví như bảo học trò phải dậy sớm mà giáo viên thì trưa mới dậy. Cho nên thầy giáo, cô giáo phải gương mẫu, nhất là đối với trẻ con”(10).

Cả cuộc đời mình Bác rất quan tâm đến việc rèn luyện tư cách đạo đức, tác phong của các cán bộ, đảng viên, đến lời nói phải đi đôi với việc làm và bản thân Bác là một tấm gương sáng ngời về đạo đức cách mạng, về kiệm liêm chính để chúng ta học tập và noi theo.

Sinh thời Bác sống rất giản dị, từ lời nói đến việc làm, tác phong làm việc, từ cách ăn mặc cho đến những sinh hoạt hàng ngày, ngay cả khi Người đã là Chủ tịch nước. Tác phong giản dị ấy mang lại một sự gần gũi, một ấn tượng khó quên với những ai đã được gặp Bác dù chỉ một lần. Vì Bác của chúng ta cao mà không xa, mới mà không lạ, lớn mà không làm ra vĩ đại, toả sáng mà không choáng ngợp, gặp lần đầu mà như thân thuộc từ lâu, bình dị, khiêm nhường trong công việc và trong khi giao tiếp với mọi người.

Bác ăn mặc rất giản dị và tiết kiệm: “Chỉ có hai bộ áo quần ka-ki, một cái khăn tay vải to và hai đôi bít tất. Khi ở Pa-ri về, người ta thấy Hồ Chủ tịch mặc một bộ ka-ki đã vá. Có người yêu cầu Chủ tịch thay bộ áo quần khác. Chủ tịch đáp: “Nhiều đồng bào ta, nếu được bộ áo quần như thế này cũng là tốt lắm. Thế thì việc gì tôi phải thay”(11). Đôi dép cao su của Bác, bộ quần áo ka ki sờn Bác vẫn dùng hàng ngày, khi biết các đồng chí phục vụ định thay, Bác không đồng ý. Chiếc bút chì mòn vẹt Bác dùng để theo dõi tin tức trên báo. Những trang bản thảo được Bác viết ở mặt sau của những tờ tin tham khảo của VNTTX. Chiếc ô tô Bác đi công tác, đi thăm đồng báo chiến sỹ trong cả nước cũng chỉ là loại xe bình thường, Bác không dùng điều hoà nhiệt độ do các đồng chí cán bộ ngoại giao đang công tác ở ngoài biếu, mặc dù ngôi nhà Bác đang ở lúc đó (nhà 54, lúc này Bác chưa chuyển sang nhà sàn) rất nóng. Bác đề nghị chuyển chiếc điều hoà nhiệt độ ấy cho các đồng chí thương bệnh binh đang điều trị tại các Trại điều dưỡng hoặc Quân y viện. Trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, trên Chiến khu Việt Bắc, Bác ở trong ngôi nhà sàn đơn sơ, giản dị và đến khi cách mạng thành công, trở về Thủ đô, Bác cũng chỉ ở trong ngôi nhà nhỏ của một người thợ điện, sau đó chuyển sang ở nhà sàn, chứ không ở ngôi nhà to, sang trọng của Toàn quyền Đông Dương. Bác dành ngôi nhà sang trọng đó làm nơi đón tiếp khách của Đảng và Nhà nước. Những bữa ăn thanh đạm của Người “Thường là dưa cà, đôi khi có thịt”.

Sự tiết kiệm của Bác không chỉ thể hiện ở tác phong hay lối sống mà còn thể hiện trong việc sử dụng đội ngũ cán bộ. Là Chủ tịch nước, nhưng những năm tháng sống trên Chiến khu Việt Bắc, đi theo Bác cũng chỉ là tổ công tác có ít người nhưng kiêm đủ mọi công việc. Cách mạng tháng Tám thành công, trở về Thủ đô, nhưng các đồng chí phục vụ Bác ở Phủ Chủ tịch cũng rất ít. Những khi đi công tác xa, Bác thường tạo điều kiện để các đồng chí phục vụ được về thăm gia đình, điều này thể hiện sự quan tâm của Bác và cũng là một hình thức tiết kiệm sức người, tiết kiệm thời gian. Bác luôn luôn đòi hỏi các cán bộ, đảng viên phải tin yêu, quý trọng con người, phải kính già yêu trẻ và Bác là tấm gương mẫu mực về tôn trọng con người. Với đồng bào, chiến sỹ cả nước và bạn bè quốc tế ở khắp năm châu Bác dành trọn vẹn những tình cảm thương yêu, tình đồng chí, tình bạn và tình người thân thiết. Bác đã từng khẳng định: Lòng thương yêu của tôi đối với nhân dân và nhân loại không bao giờ thay đổi.

Gần tám mươi năm trôi qua, bài giảng về tư cách một người cách mạng, về đạo đức cách mạng, về “Nói thì phải làm” của Chủ tịch Hồ Chí Minh vẫn còn nguyên giá trị. Trong kháng chiến cũng như trong công cuộc bảo vệ và xây dựng đất nước hôm nay, nhiều cán bộ, đảng viên, nhiều người đã làm tốt những lời Bác dạy, đã có rất nhiều tấm gương tiêu biểu về sự hy sinh, lòng nhân ái, về cần kiệm liêm chính, chí công vô tư… Đó là những con người luôn luôn đi đầu trong chiến đấu, lao động sản xuất và nghiên cứu khoa học. Họ đã biết mang đức và tài của mình ra để cống hiến cho đất nước ngày càng nhiều hơn về vật chất lẫn tinh thần. Song bên cạnh đó chúng ta cũng nhận thấy rằng còn có không ít những cán bộ, đảng viên, đặc biệt một số cán bộ có chức, có quyền vẫn chưa làm đúng những lời dạy của Bác. Nạn tham ô, tham nhũng, hối lộ, lãng phí, xa xỉ, quan liêu, công thần, cửa quyền… ngày càng nhiều. Một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên sa sút về tư tưởng, chính trị và đạo đức, bị tha hoá về lối sống. Tình trạng đạo đức giả, nói mà không làm, nói nhiều làm ít, nói một đằng làm một nẻo, không phải là ít. Tình trạng đó đã gây nên sự giảm sút lòng tin và uy tín của Đảng và Nhà nước trong cán bộ, đảng viên và nhân dân.

Để có một xã hội ngày càng tốt đẹp, nhân dân thực sự được hưởng một cuộc sống ấm no, hạnh phúc, đất nước ngày càng mạnh giàu, hơn lúc nào hết lối sống mình vì mọi người, mọi người vì mình, phương châm và nguyên tắc sống “Nói thì phải làm” cần phải được thực hiện rộng rãi trong cán bộ, đảng viên và nhân dân. Làm đựơc như vậy là chúng ta đã làm tốt những điều mà lúc còn sống Bác Hồ luôn mong muốn và căn dặn./.

——————————-

1. Hồ Chí Minh Toàn tập, Nxb. Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2000, t.2, tr.260.
2. Sdd, t.7, tr.568
3. Sdd, t.4, tr.161
4. Sdd, t.1, tr. 263
5. Sdd, t.5, tr. 699
6. Sdd, t.5, tr. 394
7. Sdd t.8, tr.341
8. Sdd, t.12, tr. 213
9. Sdd, t.5, tr.185-186.
10.Sdd, t.9, tr. 492
11. Trần Dân Tiên: Những mẩu chuyện về đời hoạt động của Hồ Chủ tịch, Nxb Sự thật, Hà Nội, 1975; tr: 148.

Theo Tiến Linh, Baotanghochiminh.vn
Tâm Trang (st)

bqllang.gov.vn

Quan điểm của Bác Hồ về tìm kiếm và trọng dụng nhân tài khoa học

Một trong những cơ sở hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh là các giá trị truyền thống tốt đẹp của dân tộc. Đề cao vai trò của nhân tài, tích cực tìm kiếm và trọng dụng nhân tài là một truyền thống tốt đẹp của dân tộc Việt Nam.

Lịch sử chứng tỏ ông cha sớm định hình một tư tưởng có ý nghĩa chiến lược: Hiền tài là nguyên khí quốc gia và rất đề cao vai trò của nhân tài trong xây dựng và bảo vệ tổ quốc. Năm 1484 và năm 1487, Thân Nhân Trung thừa lệnh nhà vua thảo bài văn bia, trong đó nêu rõ quan điểm cơ bản của nhà nước về hiền tài: “Hiền tài là nguyên khí quốc gia, nguyên khí thịnh thì đất nước càng mạnh và càng lớn lao, nguyên khí suy thì thế nước yếu và càng xuống thấp. Bởi vậy các bậc vua tài giỏi đời xưa chẳng có đời nào lại không chăm lo nuôi dưỡng và đào tạo nhân tài bồi đắp nguyên khí”[1].

Những thế kỷ sau đó truyền thống trên được tiếp tục giữ gìn và phát triển. Người anh hùng áo vải, cờ đào Nguyễn Huệ, thế kỷ XVIII cũng có “chiếu cầu hiền”. Ông viết: “Trẫm thường mong mỏi, lắng nghe và liên tục hỏi những người tài cao, học rộng sao chưa thấy đến? Phải chăng trẫm kém tài, ít đức chẳng đáng phò tá hay sao? Trẫm luôn lo lắng và nghĩ rằng cái nhà to sức một cây cột làm sao chống nổi, sự nghiệp dân an quốc thái sức một người sao có thể đảm đương”[2]. Đặc biệt những lời Nguyễn Huệ nói với La Sơn phu tử Nguyễn Thiếp rất đáng để đời sau suy nghĩ: “Quả đức sinh ra ở chốn binh đao, sự học hỏi chỉ ở sự nghe trông, nên trong đạo trị dân đã có nhiều điều thô lậu, phiền nhiễu, đó là cái tội bởi Quả đức chưa biết cầu hiền. Mong Phu tử nghĩ đến dân sinh, gắng sức giúp đời, cứu nước, để Quả đức có thầy mà thờ, cho đời này có người mà cậy, khỏi phụ ý trời sinh ra người tài giỏi cho dân. Quả đức xin nghe theo lời dạy bảo”.

Dân nhân văn hoá Hồ Chí Minh đã kế thừa và phát triển truyền thống trên đây của cha ông lên một tầm cao mới. Điều này thể hiện đặc biệt rõ từ khi Người sáng lập Nhà nước Việt Nam dân chủ Cộng hoà, 1945.

Lịch sử cho thấy đến ngày 1-3-1428 bóng dáng cuối cùng của quân xâm lược nhà Minh bị quét khỏi nước ta. Hơn một năm sau, 1429 Lê Lợi mới lệnh cho quan các nơi phải tiến cử người tài đức. Hồ Chí Minh đề xuất chủ trương tìm kiếm nhân tài sớm hơn rất nhiều. Hơn hai tháng sau Tuyên ngôn độc lập, ngày 14-11-1925, Hồ Chí Minh viết bài “Nhân tài và kiến quốc”. Tư tưởng nổi bật của bài viết là “kiến quốc cần có nhân tài. Nhân tài nước ta dù chưa có nhiều lắm nhưng nếu chúng ta khéo lựa chọn, khéo phân phối, khéo dùng thì nhân tài ngày càng phát triển, càng thêm nhiều”. Điều đặc biệt là một năm sau đó, 11-1946, Hồ Chí Minh lại viết “Tìm người tài đức”. Trong bài viết này, Hồ Chí Minh khẳng định trong số 20 triệu người Việt Nam “chắc không thiếu người có tài, có đức” nhưng vì Chính phủ “nghe không đến, thấy không khắp” nên những người tài đức chưa xuất hiện. Trên tư cách là người đứng đầu Chính phủ, Hồ Chí Minh khẳng định: “Khuyết điểm đó tôi xin thừa nhận”[3]. Để sửa chữa khuyết điểm, tỏ rõ quyết tâm của chính quyền cách mạng trọng dụng nhân tài, Hồ Chí Minh chỉ thị cho các địa phương phải lập tức điều tra nơi nào có người tài đức và phải báo cáo đầy đủ, rõ ràng lên chính phủ tên, tuổi, nghề nghiệp, tài năng, chỗ ở, nguyện vọng của người đó.

Có thể coi những văn kiện nêu trên là “chiếu cầu hiền, tài” đầu tiên của chính quyền cách mạng. Theo Hồ Chí Minh, việc sử dụng con người, nhất là những người tài không chỉ là khoa học mà còn là nghệ thuật – nghệ thuật của người lãnh đạo. Hồ Chí Minh nhấn mạnh: “Lãnh đạo khéo, tài nhỏ có thể hoá tài to. Lãnh đạo không khéo, tài to cũng hoá ra tài nhỏ”[4].

Phát hiện nhân tài đã khó nhưng việc khó hơn là làm thế nào để đức tài của họ được phát huy cao nhất trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Chính sự quan tâm sâu sắc và trọng dụng nhân tài của Hồ Chí Minh là động lực mạnh mẽ thôi thúc nhân tài cống hiến hết minh.

Một trong những minh chứng tiêu biểu cho vấn đề này là sự quan tâm sâu sắc, có thể nói đến mức tỷ mỉ của Hồ Chí Minh đối với Tôn Thất Tùng. Ngay sau Cách mạng tháng Tám Hồ Chí Minh đã gửi thư cho Tôn Thất Tùng. Bước ngoặt căn bản trong cuộc đời Tôn Thất Tùng xảy ra khi tổ chức bố trí ông “đến chữa bệnh cho một lão đồng chí”, người gầy xanh xao nhưng “có đôi mắt sáng”. Sau này, trong hồi ký của mình, Giáo sư Tôn Thất Tùng viết: “Từ cuộc gặp đầu tiên đó, tâm hồn tôi đã chuyển biến theo cách mạng Việt Nam, theo ánh sáng của đôi mắt Bác Hồ”. Hồ Chí Minh rất quan tâm tới cuộc sống của các chuyên gia, nhân tài. Đầu năm 1946, khi biết Tôn Thất Tùng mới sinh con trai, Hồ Chí Minh đề nghị với Tôn Thất Tùng: Chú để tôi đặt tên cho cháu. Người nói: Tên chú có bộ mộc nên đặt tên cho cháu là Bách. Điều kỳ lạ là đến năm 1968, Hồ Chí Minh vẫn hỏi thăm Tôn Thất Tùng về Tôn Thất Bách mà hơn 20 năm trước Người đã đặt tên.

Hồ Chí Minh đặc biệt quan tâm tới việc tạo điều kiện trang cấp thiết bị hiện đại cho các nhân tài hoạt động khoa học. Một lần Tôn Thất Tùng trực tiếp gặp Hồ Chí Minh đề đạt nguyện vọng cần vài trăm nghìn Phrăng Pháp để mua tài liệu và thiết bị mới. Hồ Chí Minh hỏi sao không nhờ Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa anh em giúp đỡ. Sau khi được biết những thiết bị đó các nước xã hội chủ nghĩa chưa có, Hồ Chí Minh nói: Nước ta còn nghèo nhưng việc cứu sống con người là quan trọng, không thể dè xẻn. Sau đó, Hồ Chí Minh đã chỉ thị cho các cơ quan chức năng đáp ứng yêu cầu của chuyên gia hàng đầu ngành y tế Việt Nam[5]. Chính sự quan tâm, chăm sóc đó của Hồ Chí Minh là nhân tố quan trọng nhất để không chỉ nhân dân Việt Nam mà cả thế giới biết đến Giáo sư Tôn Thất Tùng. Sự quan tâm đó quả thực có tác dụng lâu dài, sâu sắc. Bởi vì, không chỉ có Giáo sư, Viện sĩ Tôn Thất Tùng mà cả người con trai của ông, Phó Giáo sư, Viện sĩ, Nhà giáo nhân dân Tôn Thất Bách đã trọn đời đi theo “ánh sáng của đôi mắt Bác Hồ”. Nỗi tiếc thương vô hạn của đồng bào, đồng chí, đồng nghiệp và người bệnh trước sự ra đi của hai cha con ông đã nói lên điều đó.

Trong việc tìm kiếm và trọng dụng nhân tài phục vụ sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Hồ Chí Minh không chỉ chú ý đến nhân tài ở trong nước mà còn rất quan tâm tìm kiếm những cán bộ khoa học kỹ thuật là người Việt Nam định cư ở nước ngoài mời gọi, khuyến khích họ mang đức, mang tài phục vụ Tổ quốc, phục vụ nhân dân. Từ những năm 40. 50 thế kỷ XX những nhân tài Việt kiều sống tại Pháp, nơi cuộc sống vật chất và điều kiện cho hoạt động nghiên cứu khoa học thuận lợi hơn Việt Nam rất nhiều nhưng khâm phục đức độ, tài năng của Hồ Chí Minh và theo tiếng gọi của Tổ quốc nhiều người đã từ bỏ Pari hoa lệ phồn vinh theo Hồ Chí Minh lội suối, trèo đèo lên Việt Bắc mà không đòi hỏi một sự đãi ngộ đặc biệt nào cho riêng mình. Nhiều người trong số đó sau này đảm nhận những cương vị chủ chốt về các lĩnh vực khoa học kỹ thuật của đất nước và được nhận giải thưởng Hồ Chí Minh về những đóng góp khoa học cho đất nước ngay từ đợt đầu tiên.

Trước hết đó là Trần Đại Nghĩa tên thật là Phạm Quang Lễ. Khi Hồ Chí Minh sang Pháp năm 1946, ông đã là kỹ sư với mức lương hàng tháng quy ra vàng có thể tính bằng cây nhưng ông đã từ bỏ tất cả tình nguyện theo Hồ Chí Minh về nước. Ông là kỹ sư quân giới đầu tiên của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa. Trong kháng chiến chống thực dân Pháp, mặc dù đất nước còn rất nhiều khó khăn nhưng với tình yêu quê hương, đất nước và tài năng của mình ông là người có công đầu trong việc nghiên cứu, thiết kế và tổ chức sản xuất thành công nhiều loại vũ khí như lựu đạn, mìn đặc biệt là súng BaZôka, SKZ, những vũ khí này là nỗi kinh hoàng đối với thực dân Pháp trong kháng chiến. Trần Đại Nghĩa được tặng danh hiệu anh hùng lao động 1952, Viện sĩ Viện Hàn lâm khoa học Liên xô 1966, Viện trưởng Viện khoa học Việt Nam 1975 – 1983, giải thưởng Hồ Chí Minh 1996.

Có thể kể thêm một trí thức lơn mà cũng trở về từ Pháp tình nguyện theo kháng chiến, theo Hồ Chí Minh và cũng có những cống hiến xuất sắc đối với cách mạng. Đó là giáo sư Hồ Đắc Di. Năm 1918, tròn 18 tuổi Hồ Đắc Di sang Pháp học tại trường Đại học y khoa Pari. Tác động mạnh mẽ nhất đối với người sinh viên y khoa ngay từ năm đàu tiên ở Pháp năm 1919, nhân danh những người Việt Nam yêu nước ở Pháp, Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh đến Hội nghị Véc-xây đưa yêu sách 8 điểm của nhân dân An Nam, trong đó yêu sách thứ 6 là “Tự do học tập, thành lập trường kỹ thuật và chuyên nghiệp ở tất cả các tỉnh cho người bản xứ”[6]. Kể từ đó anh sinh viên Hồ Đắc Di cố gắng tìm đọc những tác phẩm, bài viết của Hồ Chí Minh đăng trên báo Người cùng khổ và hết lòng cổ vũ cho báo này. Một buổi sáng chủ nhật, tại câu lạc bộ của sinh viên Việt Nam ở số nhà 15 phố Xonmơra, phố Latinh Pari, Hồ Đắc Di nhận thấy ba thanh niên Việt Nam đang chụm đầu trao đổi với nhau. Trong số này Hồ Đắc Di chỉ biết người có chòm râu đen là Phan Châu Trinh – Người bạn đi cùng giải thích cho Hồ Đắc Di biết thêm: Người béo béo là luật sư Phan Văn Trường, còn người thanh niên trẻ tuổi, nước da hơi xanh, đôi mắt rực sáng, mảnh khảnh, gày gò chính là Nguyễn ái Quốc. Ba tiếng Nguyễn ái Quốc thực sự gây xúc động mạnh mẽ đối với Hồ Đắc Di, anh ngưỡng mộ và tình nguyện theo Nguyễn ái Quốc từ đấy mặc dù lúc đó người thanh niên này chưa có những ý niệm đầy đủ rõ ràng về cách mạng, về chủ nghĩa xã hội.

Sau khi tôi nghiệp Hồ Đắc Di về nước. Qua tìm hiểu ông biết thêm Việt minh do Nguyễn ái Quốc sáng lập, Thư kêu gọi tổng khởi nghĩa tháng Tám 1945 do Nguyễn ái Quốc viết. Đặc biệt khi ông biết người thanh niên mảnh khảnh, gày gò hay lui tới câu lạc bộ sinh viên Việt Nam tại Pari năm nào thì ngày 2-9-1945 lại xuất hiện trên trên quảng trường Ba Đình đọc Tuyên ngôn độc lập. Sự kiện đó giúp Hồ Đắc Di khẳng định chính nghĩa là đây, độc lập tự do, hạnh phúc là đây. Trong lĩnh vực y khoa Hồ Đắc Di là người sáng lập ngành ngoại khoa Việt Nam. Ông là giáo sư hiệu trưởng Trường đại học Y dược Hà Nội, Chủ tịch tổng hội Y học Việt Nam. Ông được tặng giải thưởng Hồ Chí Minh về y học năm 1996.

Trong số những trí thức lớn từ Pháp trở về nước phục vụ cách mạng có thể kể thêm Phan Huy Thông. Ông là người nhận 2 bằng tiến sĩ ở Pháp, tiến sĩ luật học, tiến sĩ văn chương. Khi Hồ Chí Minh sang Pháp năm 1946, ông là thư ký riêng của Người. Về nước ông không chỉ hoạt động trong lĩnh vực khoa học mà còn tham gia nhiều hoạt động chính trị xã hội như Phó Chủ tịch Uỷ ban bảo vệ hòa bình thế giới của Việt Nam, Chủ tịch Hội liên hiệp thanh niên Việt Nam, đại biểu quốc hội khoá II và III. ông là Viện sĩ Viện Hàn lâm khoa học cộng hòa dân chủ Đức, được truy tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh về khoa học xã hội năm 2000.

Trình bày vắn tắt một vài nhân vật và sự kiện liên quan đến việc Hồ Chí Minh tìm kiếm và trọng dụng nhân tài trong những nghành khoa học từ những người Việt Nam học tập và thành đạt ở nước ngoài, chúng tôi muốn nhấn mạnh rằng dưới thời Hồ Chí Minh số người thành danh ở nước ngoài không nhiều nhưng Người vẫn tìm mọi cách để tranh thủ sự đóng góp của họ đối với đất nước. Ngày nay chúng ta có hơn 3 triệu người Việt Nam định cư ở hàng chục nước trên thế giới trong đó nhiều người sinh sống và làm việc ở những nước phát triển như Mỹ, Anh, Pháp, Cộng hoà Liên bang Đức. Trong số họ có nhiều người thành đạt về khoa học, một số khác có vốn và kinh nghiệm của các nước tiên tiến. Vấn đề đặt ra cho Đảng và Nhà nước hiện nay là trên cơ sở quan điểm Hồ Chí Minh, chúng ta cần có chủ trương, giải pháp thông thoáng để thu hút ngày càng nhiều nhân tài người Việt định cư ở nước ngoài phục vụ đắc lực cho công cuộc đổi mới.

Càng cuối đời Hồ Chí Minh càng lo lắng đến công việc tìm kiếm và sử dụng nhân tài. Hồ Chí Minh viết trong Di chúc: Đảng và Nhà nước cần lựa chọn những người ưu tú nhất trong bộ đội, thanh niên xung phong đào tạo họ thành những cán bộ, công nhân kỹ thuật giỏi, những người vừa “hồng” vừa “chuyên” đó là “đội quân chủ lực trong công cuộc xây dựng thắng lợi chủ nghĩa xã hội ở nước ta”[7]. “Bồi dưỡng thế hệ cách mạng cho đời sau là công việc rất quan trọng rất cần thiết”.

Trung thành với tư tưởng Hồ Chí Minh, phù hợp với thời đại khoa học công nghệ, kinh tế tri thức trong sự nghiệp đổi mới Đảng và Nhà nước Việt Nam khẳng định giáo dục và đào tạo cùng với khoa học công nghệ là quốc sách hàng đầu, Đảng và Chính phủ đã đề ra chủ trương, biện pháp đề đào tạo, bồi dưỡng, sử dụng nhân tài. Trên một số lĩnh vực đã xuất hiện những nhân tài. Sự nghiệp đổi mới đang đòi hỏi ngày càng có nhiều nhân tài hơn nữa. Vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh phù hợp với điều kiện mới, Văn kiện Đại hội X viết: “Phát triển nhanh nguồn nhân lực chất lượng cao. Chú trọng phát hiện, bồi dưỡng, trọng dụng nhân tài”[8]. Việc thu hút trọng dụng nhân tài là người Việt Nam định cư ở nước ngoài, Văn kiện Đại hội X nhấn mạnh: “Có chính sách thu hút các nhà khoa học công nghệ giỏi trong cộng đồng người Việt Nam định cư ở nước ngoài”.

Hiện nay, hơn lúc nào hết đòi hỏi Đảng và Nhà nước ta cần phải trung thành, vận dụng, phát triển sáng tạo tư tưởng Hồ Chí Minh nói chung, quan điểm của Người về tìm kiếm, trọng dụng nhân tài nói riêng./.

PGS.TS Nguyễn Khánh Bật
Ditichhochiminhphuchutich.gov.vn
Tâm Trang (st)

____________________

Chú thích:
[1] Kỷ niệm 500 năm ngày mất Thân Nhân Trung: Hiền tài là nguyên khí quốc gia, Trung tâm UNéCO thông tin tư liệu lịch sử văn hoá Việt Nam và Bảo tàng tỉnh Bắc Giang, 1999, tr.10.
[2] Trần Thế Linh: Gương sáng người xưa, Nxb Thanh niên, H, 2003, tr.15.
[3] Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb CTQG, H 1995, tập 4, tr. 452.
[4] Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, tập 5, tr. 280.
[5] Bộ Y tế – Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh: Chủ tịch Hồ Chí Minh với công tác bảo vệ sức khoẻ, Nxb CTQG, H, 1997, tr. 215.
[6] Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, tập 1, tr 435.
[7] Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, tập 12, tr. 504.
[8] Đảng cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X, Nxb CTQG, H, 2006, tr. 96.

bqllang.gov.vn

Học và hành theo tư tưởng Hồ Chí Minh về văn hoá cầm quyền

Hồ Chủ tịch thăm nông dân xã Hùng Sơn, huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên đang thu hoạch vụ lúa đầu tiên sau cải cách ruộng đất (1954)

Nói văn hóa cầm quyền là nói tới cái đẹp, cái giá trị của Đảng cầm quyền, của Chính phủ và cá nhân nhà lãnh đạo, quản lý. Văn hóa cầm quyền là nguồn lực nội sinh vô tận, to lớn của Đảng và hệ thống chính trị, chìa khóa sự phát triển của Đảng, Nhà nước, thấm sâu và tạo dấu ấn khai sáng trong quá trình phát triển của Đảng, Nhà nước.

Hồ Chí Minh nói “Đảng ta là đạo đức, là văn minh”. Trong Di chúc, Người lại viết: “Đảng ta là một Đảng cầm quyền. Mỗi đảng viên và cán bộ phải thật sự thấm nhuần đạo đức cách mạng”… Đó là tư tưởng, tinh thần Hồ Chí Minh về văn hóa cầm quyền. Văn hóa cầm quyền bàn tới ở đây là nói tới văn hóa lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam khi Đảng đã trở thành Đảng cầm quyền. Đương nhiên, khi nói tới đảng cầm quyền thì không thể không nói tới chính quyền nhà nước mà trực tiếp là Chính phủ, cơ quan hành pháp với ý nghĩa “kéo dài” sự lãnh đạo của Đảng. Theo tinh thần của Lê-nin, khi Đảng trở thành Đảng cầm quyền thì văn hóa của đảng phải tương đối khác so với khi Đảng chưa cầm quyền. Văn hóa cầm quyền là biến lý luận thành thực tiễn, thông qua tổ chức, xây dựng, thể hiện mối quan hệ giữa Đảng với các thành tố trong hệ thống chính trị; đạo đức của đảng cầm quyền; văn hóa ứng xử của Đảng, Chính phủ với nhân dân và văn hóa dùng người.

1. Văn hóa cầm quyền – nguồn lực nội sinh vô tận, chìa khóa sự phát triển của Đảng

Nói văn hóa cầm quyền là nói tới cái đẹp, cái giá trị của Đảng cầm quyền, của Chính phủ và cá nhân nhà lãnh đạo, quản lý. Văn hóa cầm quyền là nguồn lực nội sinh vô tận, to lớn của Đảng và hệ thống chính trị, chìa khóa sự phát triển của Đảng, nhà nước, thấm sâu và tạo dấu ấn khai sáng trong quá trình phát triển của Đảng, nhà nước. Hồ Chí Minh nói “Văn hóa không thể đứng ngoài mà đứng trong kinh tế và chính trị”, điều đó có nghĩa là tổ chức chính trị, hoạt động chính trị, đảng chính trị và cá nhân nhà chính trị phải thấm nhuần văn hóa. Năng lực chính trị thực chất và cốt tủy là năng lực văn hóa.

Văn hóa cầm quyền thuộc dòng văn hóa chính trị. Trong những năm gần đây, dưới ánh sáng tư tưởng Hồ Chí Minh, trong khi khẳng định sự phát triển của xã hội dựa trên thế của “kiềng ba chân”: Gắn kết giữa nhiệm vụ phát triển kinh tế là trung tâm, xây dựng Đảng là then chốt và phát triển văn hóa – nền tảng tinh thần của xã hội”, Đảng ta “đặc biệt coi trọng nâng cao văn hóa lãnh đạo, quản lý”(1), “Nâng cao năng lực lãnh đạo, cầm quyền”(2). Nâng cao năng lực cầm quyền của Đảng, năng lực quản lý của nhà nước thực chất sâu xa và cốt tủy là nâng cao văn hóa cầm quyền của Đảng và văn hóa quản lý của nhà nước; đồng thời nâng cao văn hóa lãnh đạo, quản lý của từng cán bộ, đảng viên, nhất là người đứng đầu.

Trên nền tảng chủ nghĩa Mác – Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh, Đảng ta kiên trì mục tiêu vì dân giàu, nước mạnh, xã hội dân chủ, công bằng, văn minh.

Muốn thực hiện được mục tiêu đó, trước hết Đảng phải đề ra được một cương lĩnh cách mạng xuất phát từ thực tiễn Việt Nam, đáp ứng được nguyện vọng của nhân dân, phù hợp với xu thế vận động của thời đại. Điểm chung của thực tiễn Việt Nam từ xưa đến nay là văn hóa, lịch sử, con người Việt Nam. Đó là một thực tiễn hàng ngàn năm dựng nước và giữ nước với sự đắp bồi nhiều giá trị tinh thần truyền thống Việt Nam. Những giá trị đó là nguồn lực vô tận để nhân dân Việt Nam thực hiện khát vọng ngàn đời của mình là độc lập dân tộc và sống đời hạnh phúc. Việt Nam ngày nay đang trong quá trình hội nhập vào thế giới toàn cầu hóa với bao điều mới mẻ của cách mạng khoa học và công nghệ, kinh tế tri thức, kinh tế thị trường, biến đổi môi trường… Việt Nam phải phát triển bền vững trong quỹ đạo và xu thế của thế giới là hòa bình, hợp tác, dân chủ và đa dạng văn hóa. Xuất phát từ thực tiễn Việt Nam, sải bước cùng thời đại là một tiêu chí của văn hóa cầm quyền của Đảng Cộng sản Việt Nam.

Thước đo văn hóa cầm quyền của Đảng là lòng dân. Đảng cầm quyền nhưng dân là chủ. Đảng cầm quyền để dân làm chủ. Đảng cầm quyền nhưng dân là gốc. Trong bầu trời không gì quý bằng nhân dân; trong thế giới không gì mạnh bằng lực lượng đoàn kết của nhân dân. Bài học quý giá Hồ Chí Minh để lại cho Đảng ta ngày nay là: “Dân chúng đồng lòng, việc gì cũng làm được. Dân chúng không ủng hộ, việc gì làm cũng không nên”(3).

Trong đường lối lãnh đạo và cương lĩnh của Đảng, tức là về mặt lý thuyết, Đảng đã khẳng định rõ ràng, dứt khoát tất cả mọi hoạt động của Đảng là vì hạnh phúc của nhân dân. Nhưng cái khó nhất, cũng là văn hóa cao nhất của Đảng cầm quyền lại không phải nằm ở lý luận mà phải nằm ở thực tiễn. Hành động để đem lại hiệu quả thật sự cho dân chúng từ chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội đến “tương, cà, mắm, muối” và lấy hiệu quả đó làm thước đo mới là điều khó nhất của một đảng cầm quyền. Bác thường dạy: “Nói thì dễ, làm thì khó”. Cái khó trong khi làm không phải là khó khăn, vất vả, mệt nhọc mà cái chính là không vượt qua được chính mình để thực hiện quan điểm quần chúng. Ví dụ: “Miệng thì nói dân chủ nhưng làm việc thì họ theo lối “quan” chủ. Miệng thì nói “phụng sự quần chúng”, nhưng họ làm trái ngược với lợi ích của quần chúng”(4). “Làm theo lối “quan” chủ” tức là lãnh đạo thiếu văn hóa, lãnh đạo bằng quyền lực, “làm việc theo cách quan liêu. Cái gì cũng dùng mệnh lệnh. Ép dân chúng làm”(5). Làm như vậy thì dân oán. Mà “dân oán, dù tạm thời may có chút thành công, nhưng về mặt chính trị, là thất bại”(6) (người trích nhấn mạnh). Chính trị thất bại tức là không được lòng dân. Mà cái nguy hiểm nhất là mất lòng dân. Bởi vì, mất tiền và của cải thì còn làm lại được, còn đã mất lòng tin, đặc biệt là mất lòng tin của dân là mất tất cả. Nâng cao văn hóa cầm quyền là Đảng phải có sự lựa chọn sáng suốt, có tầm nhìn, trí tuệ và bản lĩnh văn hóa giữa việc lấy cái căn bản quy tụ của lòng dân và lợi ích lâu dài thay vì lợi ích và thành tích trước mắt mang mầm bệnh. Văn hóa cầm quyền là phải “sao cho được lòng dân”(7).

2. Đảng phải tôn trọng chính quyền, hoạt động trong khuôn khổ của Hiến pháp và pháp luật

Nói đến Đảng cầm quyền là phải nói tới quản lý của nhà nước. Trong văn hóa cầm quyền thì văn hóa lãnh đạo và văn hóa quản lý thâm nhập vào nhau. Giá trị, uy tín, quyền uy tạo sức mạnh của đảng cầm quyền không chỉ trong khuôn phép của Đảng mà được cân, đong, đo, đếm bằng văn hóa quản lý. Nói cách khác, văn hóa quản lý là một thước đo của văn hóa lãnh đạo của đảng cầm quyền, trong đó “Chính phủ là công bộc của dân” như Hồ Chí Minh dạy là tiêu chí hàng đầu.

Trên cơ sở nhận thức nhà nước là vấn đề cơ bản của mọi cuộc cách mạng, văn hóa của đảng cầm quyền là Đảng phải tôn trọng chính quyền, tôn trọng nhà nước. Đảng cầm quyền nhưng không thể và không được đứng trên nhà nước, đứng trên và đứng ngoài pháp luật. Xã hội xã hội chủ nghĩa mà chúng ta xây dựng là một xã hội có nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân do Đảng Cộng sản lãnh đạo. Đây là một nhận thức rất quan trọng trong cấu trúc quyền lực của hệ thống chính trị đương đại. Với nhà nước đó thì Quốc hội là cơ quan có quyền lực cao nhất của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Những việc quan hệ đến vận mệnh quốc gia sẽ đưa ra nhân dân phúc quyết. Nhân dân có quyền bãi miễn các đại biểu Quốc hội nếu những đại biểu ấy tỏ ra không xứng đáng với sự tín nhiệm của nhân dân. “Nếu Chính phủ làm hại dân thì dân có quyền đuổi Chính phủ”(8). “Bãi miễn các đại biểu” là tinh thần của “văn hóa từ chức” theo cách nói ngày nay. Nghĩa là, các vị đại diện khi được dân bầu – tức là dân ủy thác quyền lực – thì phải làm hết trách nhiệm “như một người lính vâng lệnh quốc dân ra trước mặt trận”; khi dân không còn tín nhiệm nữa thì phải vui vẻ từ chức theo lời dạy của Bác Hồ “khi nào đồng bào cho tôi lui thì tôi rất vui lòng lui”. Đảng cầm quyền, mọi tổ chức và cá nhân đều bình đẳng trước pháp luật và tuân thủ hiến pháp và pháp luật mà không có một ngoại lệ nào. Tất cả họ phải hành xử theo đúng hiến pháp và pháp luật.

Khi Đảng trở thành đảng cầm quyền, việc giải quyết mối quan hệ giữa Đảng với nhà nước là giá trị văn hóa hàng đầu, vì Đảng phải hoàn thành sứ mệnh “hai vai”. Là người lãnh đạo nhà nước, Đảng phải xứng danh lãnh đạo với một chiều sâu trí tuệ, một bề dày đạo đức, sự vững chắc về bản lĩnh chính trị và phương thức lãnh đạo trọng dân, tin dân, gần dân, hiểu dân, học dân, hỏi dân, theo đúng đường lối quần chúng. Là một thành tố của hệ thống chính trị, Đảng phải hành xử phù hợp với hiến pháp và luật pháp, không được lạm quyền, coi khinh dư luận.

3. Đảng, Chính phủ phải luôn luôn tự phê bình và hoan nghênh nhân dân phê bình mình

Đảng luôn luôn tự phê bình, hoan nghênh nhân dân và đảng viên phê bình mình. Đảng phải nâng cao dân trí, bồi dưỡng ý thức làm chủ, nâng cao tính tích cực công dân, tự do ngôn luận, khuyến khích nhân dân tham gia vào các công việc của nhà nước, khắc phục mọi thứ dân chủ hình thức.

Hồ Chí Minh nhấn mạnh: “Làm sao cho nhân dân biết hưởng quyền dân chủ, biết dùng quyền dân chủ của mình, dám nói, dám làm”(9). Phải khiến cho cán bộ cả gan nói, cả gan đề ra ý kiến. Nếu cán bộ không nói năng, không đề ý kiến, không phê bình, thậm chí lại tâng bốc mình, thế là một hiện tượng rất xấu. Thế là mất hết dân chủ trong Đảng. Thế là nội bộ của Đảng âm u, cán bộ trở nên những cái máy, trong lòng uất ức, không dám nói ra, do uất ức mà hóa ra oán ghét, chán nản. “Nếu đào tạo một mớ cán bộ nhát gan, dễ bảo “đập đi, hò đứng”, không dám phụ trách. Như thế là một việc thất bại cho Đảng”(10).

Văn hóa truyền thống, phía sau cái mạnh trọng tình, bộc lộ cái hạn chế duy tình, thiếu văn hóa tranh luận, mà thực chất là giấu giếm khuyết điểm và thích khen, không thích chê, trở thành bệnh thành tích. “Nếu ai nói chúng ta không dân chủ, thì chúng ta khó chịu. Nhưng nếu chúng ta tự xét cho kỹ, thì thật có như thế”(11). Nâng cao văn hóa của đảng cầm quyền là thể hiện một đảng văn minh như cách nói của Bác Hồ. Ngược lại, “một Đảng mà giấu giếm khuyết điểm của mình là một Đảng hỏng. Một Đảng có gan thừa nhận khuyết điểm của mình, vạch rõ những cái đó, vì đâu mà có khuyết điểm đó, xét rõ hoàn cảnh sinh ra khuyết điểm đó, rồi tìm kiếm mọi cách để sữa chữa khuyết điểm đó. Như thế là một Đảng tiến bộ, mạnh dạn, chắc chắn, chân chính”.

Trên nền tư duy “Chính phủ là công bộc, đầy tớ của dân”, Hồ Chí Minh chỉ ra rằng “khi dân dùng đày tớ làm việc cho mình, thì phải giúp đỡ Chính phủ. Nếu chính phủ sai thì phải phê bình, phê bình nhưng không phải là chửi… Xin đồng bào hãy phê bình, giúp đỡ giám sát công việc Chính phủ”(12).

Khuyết điểm, sai lầm là xấu, là phản văn hóa, nhưng nếu nhận ra khuyết điểm, sai lầm và tìm mọi cách khắc phục, sửa chữa sai lầm, khuyết điểm thì đó là một hành vi mang giá trị văn hóa. Nhân dân chính là người mang lại giá trị văn hóa lãnh đạo, văn hóa quản lý cho Đảng và Chính phủ. Nhận thức rõ điều đó, Hồ Chí Minh thường xuyên nhắc nhở “Chính phủ mong đồng bào giúp đỡ, đôn đốc, kiểm soát và phê bình để làm tròn nhiệm vụ của mình là người đầy tớ tận tụy của nhân dân”.

Tư duy Hồ Chí Minh là Đảng và Chính phủ phải luôn luôn tạo điều kiện để nhân dân phê bình mình. Bởi vì, dân chúng thông minh, sáng tạo “biết giải quyết nhiều vấn đề một cách giản đơn, mau chóng, đầy đủ, mà những người tài giỏi, những đoàn thể to lớn, nghĩ mãi không ra”.
“Dám nói” theo quan điểm Hồ Chí Minh là một giá trị văn hóa đỉnh cao. Chỉ có một đảng cách mạng chân chính, đạo đức, văn minh thì mới đủ trí tuệ, bản lĩnh tạo điều kiện cho dân dám nói. Và chỉ khi nào dân chúng và cán bộ đảng viên dám nói, dám phê bình, kiểm soát hoạt động của Đảng và Chính phủ thì Đảng và Chính phủ mới làm việc tốt hơn và cán bộ, viên chức các cơ quan chính phủ mới thật sự là công bộc của dân. Vì vậy, “cần phải có biện pháp khác, biện pháp nghiêm ngặt hơn, để trừng trị loại cán bộ tha hóa, biến chất. Phải gây nên một đạo đức để ngăn ngừa, gây nên một phong trào quần chúng gớm ghét, bao vây lũ giặc ấy. Biện pháp ấy là gây nên một cuộc vận động trong công nông chống tiêu cực, làm cho những kẻ “chạy” không sống còn được”(13).

4. Văn hóa cầm quyền – văn hóa dùng người

Văn hóa của đảng cầm quyền, văn hóa lãnh đạo đạo, quản lý có một nội dung căn cốt là văn hóa dùng người. Con người sáng tạo ra văn hóa và cũng là sản phẩm của văn hóa. Cán bộ là gốc của mọi công việc. Mọi việc thành hay bại đều liên quan tới cán bộ tốt hay kém.

Một trong những phương thức lãnh đạo của đảng cầm quyền là thông qua cán bộ và công tác cán bộ. Hiện nay chúng ta đang phải đối mặt với nhiều thách thức trong công tác cán bộ, đó là nạn chạy chức, chạy quyền, chạy tội, chạy dự án, chạy bằng cấp, chạy tuổi, chạy huân huy chương… Lại có một dạng thách thức khác, đó là năng lực, bản lĩnh, đạo đức, phương pháp công tác của cán bộ không tương xứng với vị trí, chức vụ quản lý, lãnh đạo. Một thực tế đáng buồn đang diễn ra ở những mức độ khác nhau ở tất cả các loại cán bộ, các ngành, các cấp, các địa phương là có một loại cán bộ không chịu rèn đức, luyện tài mà chỉ rèn “công nghệ” xu nịnh, luồn cúi, a dua, “đi nhẹ, nói khẽ, hay cười và chạy…”, “thấy xôi nói xôi ngọt, thấy thịt nói thịt bùi”, theo gió bẻ buồm, không có khí khái. Còn một bộ phận thuộc loại cán bộ được Đảng, nhà nước giao cho trọng trách làm công tác cán bộ lại thích người chạy và kẻ khéo nịnh hót mình, ghét người chính trực. Nhưng nguy hiểm nhất là những cái đó đang dần dần có xu hướng trở thành “giá trị” trong cơ cấu quyền lực của hệ thống chính trị, của xã hội và được một bộ phận xã hội đồng tình, chưa bị sức mạnh văn hóa, đạo đức của xã hội, của nhân dân đánh bại. Những ai chỉ chăm chú rèn đức, luyện tài, phát biểu trung thực thẳng thắn, vì sự thật thà đoàn kết và phát triển của đơn vị mà lại thiếu những “tố chất chạy”, lại thường bị coi là những người “xa lạ”, không thức thời. Nói tóm lại, một nguy cơ lớn là sự đảo lộn giá trị. Một đơn vị mà đa số cán bộ thuộc loại kém và trung bình, mang tư tưởng “dĩ hòa vi quý, chín bỏ làm mười”, còn thiểu số là tích cực, trung thực, thẳng thắn, thật sự tu dưỡng hồng, chuyên thì nguyên tắc “thiểu số phục tùng đa số” sẽ không mang lại kết quả tích cực như mong muốn.

Trước tình trạng đó, một đảng độc quyền lãnh đạo, nếu không có trí tuệ, tầm nhìn và bản lĩnh văn hóa trong việc dùng người thì nhất định thất bại. Đảng phải tìm thấy giá trị trong các mối quan hệ giữa người già và người trẻ; người trong Đảng và người ngoài Đảng; người có bằng cấp và không có bằng cấp, doanh nhân và trí thức, nhà lãnh đạo, quản lý và nhà khoa học… Trí tuệ văn hóa thể hiện bản lĩnh văn hóa của đảng cầm quyền là phải thấy thanh niên là người chủ tương lai của đất nước, thế hệ mới chắc chắn sẽ vượt thế hệ cũ (và có như thế thì đất nước và dân tộc mới có phúc). Có nhiều người không có bằng cấp nhưng có tài, có đức, cần phát hiện, trọng dụng và có chế độ đãi ngộ xứng đáng. Không phải đã lãnh đạo, quản lý là giỏi. Một người lãnh đạo, quản lý mất đi có người thay thế được ngay, còn một nhà khoa học, thật sự khoa học (đầu ngành hay chuyên ngành) mất đi, rất khó tìm người thay thế (thậm chí không có được người thay thế). Trong Đảng cũng có những người kém, người xấu. Hồ Chí Minh dạy: “Đảng ta không phải trên trời sa xuống. Nó ở trong xã hội mà ra. Vì vậy, tuy nói chung, thì đảng viên phần nhiều là những phần tử tốt, nhưng vẫn có một số chưa bỏ hết những thói xấu tự tư tự lợi, kiêu ngạo, xa hoa… Trong Đảng ta chưa hoàn toàn tránh khỏi một vài kẻ vu vơ, những việc không chính đáng”(14). Vì vậy, văn hóa của đảng cầm quyền là đủ khả năng phân định có chất lượng khoa học và cách mạng một cách rõ ràng thật – giả, vàng – thau, tốt – xấu, đúng – sai… Đảng không chọn được những người có đức, có tài, quyết tâm, suốt đời, hết lòng, hết sức phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân thì đó là thất bại cho Đảng, cũng là thất bại cho cách mạng.

5. Phải thật sự thấm nhuần văn hóa đạo đức

Trong điều kiện cầm quyền, cùng với việc Đảng xây dựng đường lối khoa học, đảng viên và cán bộ phải thật sự thấm nhuần đạo đức cách mạng. Nếu học và hành theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh không tốt thì đó là nguy cơ lớn của Đảng. Cuộc vận động xây dựng Đảng về đạo đức trong những năm qua chưa đạt yêu cầu đặt ra. “Có những tổ chức đảng tê liệt, mất sức chiến đấu… Bệnh cơ hội, chủ nghĩa cá nhân trong một bộ phận cán bộ, đảng viên có chiều hướng gia tăng; vẫn còn tình trạng “chạy chức”, “chạy quyền”, “chạy tội”, “chạy bằng cấp”. Thoái hóa biến chất về chính trị, tư tưởng, về đạo đức, lối sống; tệ quan liêu, tham nhũng, lãng phí, sách nhiễu dân trong một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên diễn ra nghiêm trọng, kéo dài chưa được ngăn chặn, đẩy lùi…, làm giảm lòng tin của nhân dân đối với Đảng. Đó là một nguy cơ lớn liên quan đến sự sống còn của Đảng, của chế độ(15). Như vậy là rất rõ ràng. Nếu Đảng cầm quyền thiếu văn hóa đạo đức thì Đảng sẽ mất lòng tin của dân, sẽ cô độc. Mà “cô độc thì nhất định thất bại”(16).

…Mấu chốt là ở chỗ, “Đảng có vững cách mạng mới thành công, cũng như người cầm lái có vững thì thuyền mới chạy” như Hồ Chí Minh đã dạy. Văn hóa chính trị mà cốt lõi là văn hóa cầm quyền sẽ thật sự đem lại cho Đảng những tố chất trong sạch, vững mạnh. “Đảng vững” theo tư tưởng Hồ Chí Minh là Đảng đạo đức, văn minh. Tăng cường xây dựng văn hóa cầm quyền, văn hóa lãnh đạo – quản lý là xây dựng năng lực, trí tuệ, đạo đức, bản lĩnh, phương pháp, phong cách của Đảng, Chính phủ, của đảng viên, cán bộ, nhất là người đứng đầu.

Người Trung Quốc quan niệm cầm quyền là sự nghiệp, ý nghĩa của sự nghiệp là cống hiến. Cầm quyền là khoa học, giá trị của khoa học là ở cầu sự chân thực. Cầm quyền là nghệ thuật, sức sống của nghệ thuật là ở sáng tạo. Cầm quyền là thách thức, mấu chốt của ứng đối là ở bản thân. Nếu nói rằng, địa vị cầm quyền của Đảng không phải sinh ra đã có thì chúng ta cũng có thể nói rằng, địa vị cầm quyền của Đảng luôn đi cùng với sự cống hiến và hy sinh. Nếu nói rằng, địa vị cầm quyền của Đảng không phải có rồi sẽ tồn tại mãi mãi, thì cũng có thể khẳng định rằng, chỉ cần Đảng một lòng vì công thì Đảng có thể đứng vững lâu dài; chỉ cần Đảng một lòng vì dân thì Đảng có thể cầm quyền tốt đẹp; chỉ cần Đảng kiên trì tôn chỉ và tính chất của mình, không ngừng tăng cường xây dựng mình, thì Đảng có thể vĩnh viễn đứng ở vị trí chiến thắng (17)./.

(1), (15) ĐCSVN: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X, Nxb CTQG, H, 2006, tr.213, 263-264.
(2) Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X, Sđd, tr.279.
(3), (5), (6), (8), (10), (11), (12), (14), (16) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb CTQG, H, 1995, t.5, tr.293, 293,293, 61, 281, 243, 60-61, 238.
(4), (13) Sđd, t.6, tr.292, 501
(7) Sđd, t.4, tr.47.
(9)Sđd, t.12, tr.223.
(17) Xem Tôn Chí Cương: Suy nghĩ về tăng cường xây dựng năng lực cầm quyền của Đảng, trong Những vấn đề chính trị- xã hội, Học viện CTQG Hồ Chí Minh, số 13, 2006, tr.1-13.

Theo tuyengiao.vn
Huyền Trang (st)

bqllang.gov.vn

Nguồn lực con người – từ tư tưởng Hồ Chí Minh đến quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam

(TCTG) – Trong sự nghiệp cách mạng từ ngày thành lập đến nay, Đảng ta đã nhiều lần khẳng định: Con người là vốn quý nhất, chăm lo cho hạnh phúc của con người là mục tiêu phấn đấu cao nhất của chế độ ta. Trên thực tế, Đảng ta đã luôn luôn cố gắng thực hiện mục tiêu đó. Sự nghiệp chăm lo cho hạnh phúc con người tuy chưa có nhiều thành công như mong muốn, song phần nào đã đáp ứng nguyện vọng của nhân dân.

Trong bối cảnh cuộc cách mạng khoa học – công nghệ phát triển như vũ bão, toàn cầu hoá trở thành xu thế tất yếu, kinh tế tri thức trở thành một đặc trưng của nền kinh tế thế giới thì vai trò động lực, vị trí trung tâm của con người trong quá trình phát triển đã thực sự được khẳng định. Con người và phát huy nhân tố con người thu hút sự quan tâm, chú ý, được thảo luận rộng rãi trên các diễn đàn trong nước và quốc tế. Trong tiến trình phát triển, cả lý luận và thực tiễn đều chứng minh: nhân tố con người đóng vai trò quyết định xu hướng vận động của thế giới đương đại. Luôn theo sát sự biến động của thời cuộc, đánh giá đúng đắn vị trí, vai trò của nhân tố con người, Nghị quyết Đại hội XI của Đảng chỉ rõ: “Phát triển, nâng cao chất lượng nguồn lực, nhất là nguồn nhân lực chất lượng cao là một trong những yếu tố quyết định sự phát triển nhanh và bền vững đất nước”(1); nâng cao dân trí, bồi dưỡng và phát huy nguồn lực to lớn của con người Việt Nam là nhân tố quyết định thắng lợi của cách mạng Việt Nam. “Con người là trung tâm của chiến lược phát triển, đồng thời là chủ thể phát triển”(2). Con người thực sự là nguồn lực của mọi nguồn lực, tài nguyên của mọi tài nguyên, là nguồn lực nội sinh quan trọng nhất quyết định thành công của sự nghiệp xây dựng và phát triển nền kinh tế thị trường định hướng XHCN ở nước ta.

Xây dựng và chăm lo cho con người ở nước ta trong những năm qua đã giành được những thắng lợi to lớn bước đầu, góp phần quan trọng thực hiện mục tiêu “Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”. Tuy nhiên, bên cạnh những thành tựu ấy, sự tác động của cơ chế thị trường đang bộc lộ nhiều bất cập có liên quan đến phát huy nhân tố con người, ảnh hưởng đến sự phát triển nhanh và bền vững của đất nước. Làm thế nào xây dựng nguồn lực con người trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam hiện nay là vấn đề lý luận và thực tiễn quan trọng đòi hỏi phải được nghiên cứu một cách cơ bản, có hệ thống, nhằm tìm kiếm những giải pháp kịp thời, phù hợp với yêu cầu của cuộc sống.

Kế thừa tinh hoa tư tưởng văn hoá dân tộc và nhân loại, tiếp thu, vận dụng, phát triển một cách sáng tạo học thuyết Mác – Lê-nin, Hồ Chí Minh đã nâng tư tưởng về con người lên một tầm cao mới, hình thành nên chủ nghĩa nhân văn Hồ Chí Minh. Tuy không có một tác phẩm nào bàn riêng về con người, nhưng tư tưởng về con người lại được hiểu thật đa dạng, phong phú, trở thành một tư tưởng xuyên suốt trong toàn bộ hệ thống tư tưởng Hồ Chí Minh. Vấn đề con người luôn luôn được nhắc đến như một mục tiêu thiêng liêng, cao cả nhất của sự nghiệp cách mạng mà Người theo đuổi. Nó trở thành mục tiêu, lý tưởng, được toả sáng trong từng suy nghĩ, cử chỉ, hành động của Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Từ hệ thống tư tưởng của Người, chúng ta thấy toát lên nội dung quan niệm về con người như sau:

Trong quan niệm của Hồ Chí Minh, con người là tổng hòa của các quan hệ xã hội từ hẹp đến rộng. Người từng khẳng định: “Chữ Người, nghĩa hẹp là gia đình, anh em, họ hàng, bầu bạn. Nghĩa rộng là đồng bào cả nước. Rộng nữa là cả loài người”(3). Hồ Chí Minh không bao giờ xem xét con người một cách trừu tượng mà luôn xuất phát từ hoàn cảnh con người hiện thực cụ thể trong các quan hệ xã hội với nhiều bình diện, nhiều chiều khác nhau. Đặc biệt ở Hồ Chí Minh, bên cạnh những khái niệm phổ quát như giai cấp công nhân, giai cấp vô sản, nhân dân lao động, chúng ta đã thấy xuất hiện thêm các khái niệm mới: “Người nô lệ mất nước”, “Người cùng khổ”. Theo nhận xét của nhiều nhà nghiên cứu, đấy là những khái niệm xuất hiện đầy ấn tượng và là một cách tiếp cận riêng của Hồ Chí Minh trong quan niệm về con người. Có thể khẳng định: cách tiếp cận cơ bản nhất của Hồ Chí Minh vẫn là đặt con người trong mối quan hệ với cộng đồng dân tộc. Bởi vì, hơn bất cứ ai, Hồ Chí Minh luôn luôn ở trong lòng nhân dân, mang cùng một truyền thống anh hùng, gắn bó với con người, với nhân dân từ trong khối óc, khát vọng và con tim, trọn vẹn suốt cuộc đời.

Con người là một chỉnh thể thống nhất giữa yếu tố sinh học và yếu tố xã hội. Vì vậy, Hồ Chí Minh luôn quan niệm con người, trong cấu trúc nhân cách, là một hệ thống bao gồm tổng hoà nhiều yếu tố hợp thành như: Thể xác và tâm hồn, thể lực và trí tuệ, cái sinh vật và cái xã hội… Con người ai cũng có chỗ hay chỗ dở, ai cũng có tính tốt tính xấu, có thiện có ác. Vấn đề là làm sao cho phần xấu mất dần đi, phần tốt nảy nở như hoa mùa xuân; con người ta sinh ra, ai cũng lớn lên, già đi rồi chết; người ta ai cũng muốn sung sướng, mạnh khoẻ… Cách quan niệm như thế cho phép Hồ Chí Minh đạt tới cái nhìn toàn diện về con người; là cơ sở để Người hiểu, cảm thông, lo lắng cho con người. Đây là tư tưởng chủ đạo, bao trùm và xuyên suốt, vừa có ý nghĩa như tiền đề xuất phát đồng thời lại là mục đích trong hệ thống tư tưởng Hồ Chí Minh. Nhân tố con người là vốn quý nhất, là động lực vĩ đại, nhân tố quyết định thắng lợi của cách mạng Việt Nam; dân là vốn quý nhất, có dân là có tất cả, nên phải bắt đầu từ nhân tố con người, vì con người, cho con người và trở về với con người.

1. Con người – nhân tố quý nhất, động lực quyết định mọi thắng lợi của cách mạng Việt Nam

Nhân tố con người là vốn quý nhất, quyết định thắng lợi được Hồ Chí Minh đề cập ở ba cấp độ là: Nhân dân nói chung; công nhân, nông dân, trí thức, bộ đội, cán bộ; mỗi một con người cụ thể – tức là nhân dân lao động (trừ bọn Việt gian, phản động). Hồ Chí Minh nói: “Nhân nghĩa là nhân dân. Trong bầu trời không gì quý bằng nhân dân”; “cán bộ là gốc của công việc”; “muôn việc thành công hay thất bại đều do cán bộ tốt hoặc kém”; “chúng ta phải biết quý trọng con người, nhất là công nhân, vì công nhân là vốn quý nhất của xã hội”…

Tư tưởng “Dân vi bản”, “Dân vi quý” đã được bàn nhiều trong lịch sử mà tiêu biểu nhất là trong Nho giáo. Nhưng đến Hồ Chí Minh, tư tưởng “Dân vi bản”, “Dân vi quý” đã thể hiện một sắc thái mới, với tư thế mới. Nói đến “Dân” trong tư tưởng Hồ Chí Minh là nói đến toàn thể nhân dân, nói đến dân chủ. Điều này được thể hiện rõ nét trong tác phẩm “Dân vận” (15-10-1949), Người viết:

“Nước ta là nước dân chủ.
Bao nhiêu lợi ích đều vì dân.
Bao nhiêu quyền hạn đều của dân.

Công việc đổi mới, xây dựng là trách nhiệm của dân. Sự nghiệp kháng chiến, kiến quốc là công việc của dân. Chính quyền từ xã tới chính phủ trung ương do dân cử ra. Đoàn thể từ trung ương đến xã do dân tổ chức nên.

Nói tóm lại, quyền hành và lực lượng đều ở nơi dân”(4).

Như vậy, Hồ Chí Minh luôn luôn đặt nhân dân vào địa vị cao nhất, địa vị làm chủ trong những vấn đề quan trọng nhất của cách mạng và xã hội: Lợi ích, quyền hạn, công việc, trách nhiệm, chính quyền, đoàn thể (tức là Đảng), quyền hành và lực lượng đều nhằm vào mục tiêu: vì dân, của dân, do dân, ở nơi dân. Nó xác định vai trò dân chủ: dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra. Dân vừa là chủ nhưng dân vừa thực hiện công việc làm chủ, vừa là chủ thể, vừa là khách thể, vừa là lực lượng, động lực vừa là mục tiêu của cách mạng Việt Nam. Theo Hồ Chí Minh, đấu tranh giải phóng dân tộc, thống nhất nước nhà, xây dựng đời sống mới, tiến lên xã hội chủ nghĩa đều phải bắt đầu từ vốn con người, từ việc phát huy nhân tố con người. Nếu khinh dân, xem khinh việc sử dụng và phát huy nhân tố con người sẽ là một sai lầm rất to, rất có hại, có quan hệ mật thiết đến thành hay bại của sự nghiệp cách mạng.

Vai trò con người chính là vai trò của quần chúng nhân dân, người sáng tạo chân chính ra lịch sử chứ không phải “vài ba cá nhân anh hùng nào”, thể hiện qua các hoạt động thực tiễn cơ bản nhất: Lao động sản xuất, đấu tranh chính trị – xã hội và sáng tạo các giá trị văn hóa – tinh thần.
Hồ Chí Minh nói: “Vì chúng ta quên một lẽ rất đơn giản dễ hiểu: tức là vô luận việc gì, đều do người làm ra, từ nhỏ đến to, từ gần đến xa, đều thế cả”. “Tất cả của cải vật chất trong xã hội đều do công nhân và nông dân làm ra. Nhờ sức lao động của công nhân và nông dân, xã hội mới sống còn phát triển”; quần chúng còn là người sáng tác nữa (các giá trị văn hóa – tinh thần). Hồ Chí Minh giải thích cơ sở khoa học cho vai trò đó xuất phát từ chỗ: “Lực lượng dân chúng nhiều vô cùng… dân chúng biết giải quyết nhiều vấn đề một cách đơn giản, mau chóng, đầy đủ, mà những người tài giỏi, những đoàn thể to lớn, nghĩ mãi không ra”(5).

Như vậy, trong tư tưởng Hồ Chí Minh, con người đóng vai trò là động lực to lớn, quyết định đối với mọi thắng lợi của cách mạng Việt Nam. Tư tưởng “dân là vốn quý nhất, có dân là có tất cả” cho thấy trong tư tưởng Hồ Chí Minh, nhân tố con người là nguồn lực quan trọng nhất, nguồn lực của mọi nguồn lực. Vai trò ấy được Người kế thừa từ tư tưởng: “Chở thuyền cũng là dân, lật thuyền cũng là dân” để rồi khái quát ở tầm chân ly:á “Dễ mười lần không dân cũng chịu; khó trăm lần dân liệu cũng xong”(6).

Trong quá trình giải quyết mối quan hệ biện chứng giữa động lực và mục tiêu, Hồ Chí Minh chú ý đến mức độ mục tiêu đạt được trong điều kiện, cụ thể của từng giai đoạn cách mạng. Mà mục tiêu tổng quát là: giải phóng dân tộc, giải phóng xã hội, giải phóng con người. Mục tiêu đó biểu hiện thành các mục tiêu cụ thể:

Giai đoạn trước khi giành được chính quyền thì mục tiêu cao nhất là độc lập dân tộc. Người nói: “Trong lúc này quyền lợi dân tộc giải phóng cao hơn hết thảy”. Sau khi giành được chính quyền, thì mục tiêu: Ăn, mặc, ở, học hành lại được ưu tiên hơn. Ngày 10-1-1946, tại cuộc họp của Ủy ban Nghiên cứu kế hoạch kiến quốc, Hồ Chí Minh yêu cầu chúng ta phải thực hiện ngay: “Làm cho dân có ăn. Làm cho dân có mặc. Làm cho dân có chỗ ở. Làm cho dân có học hành”.

Sau năm 1954, miền Bắc đi vào khôi phục nền kinh tế, hoàn thành cải cách ruộng đất, tiến hành tốt việc sửa sai, từng bước phát triển kinh tế tập thể. Giai đoạn này, Hồ Chí Minh nhấn mạnh vào việc phải “nâng cao dần mức sống của nhân dân… đồng thời giảm nhẹ sự đóng góp của nông dân”. Bước sang năm 1958, kết thúc thời kỳ khôi phục kinh tế, mở đầu thời kỳ cải tạo xã hội chủ nghĩa (1958-1960), Hồ Chí Minh nói nhiều về chủ nghĩa xã hội những mục tiêu cơ bản nhằm giải phóng con người. Trong bối cảnh tập trung mọi nhân tài, vật lực cho phát triển kinh tế và tiến hành đấu tranh vũ trang giải phóng miền Nam, Hồ Chí Minh vẫn luôn quan tâm đến con người. Tại Hội nghị của Bộ Chính trị, ngày 30-7-1962, Hồ Chí Minh đặt vấn đề: Ta phải tính cách nào, nếu cần có thể giảm bớt một phần xây dựng, để giải quyết vấn đề ăn và mặc của quần chúng được tốt hơn nữa, đừng để cho tình hình đời sống căng thẳng quá. Vấn đề con người là hết sức quan trọng. Nhà máy cũng cần có thêm, có sớm, nhưng cần hơn là con người, là sự phấn khởi của quần chúng. Làm tất cả là do con người… Làm cho quần chúng hiểu chủ nghĩa xã hội đúng hơn.
Vào thời điểm đó, cách đặt vấn đề như vậy cho thấy chiều sâu mục tiêu con người trong tư tưởng Hồ Chí Minh. Khi cuộc kháng chiến chống Mỹ bước vào giai đoạn quyết liệt, thì mục tiêu “Không có gì quý hơn độc lập, tự do” lại ở bậc cao của thang giá trị dân tộc. Mục tiêu con người gắn chặt với chủ quyền dân tộc. Tại kỳ họp Quốc hội khóa III, ngày 10-4-1965, Hồ Chí Minh kêu gọi: Lúc này, chống Mỹ, cứu nước là nhiệm vụ thiêng liêng nhất của mọi người Việt Nam yêu nước. Ngay trong thời điểm lịch sử vô cùng khó khăn đó, phát biểu tại phiên bế mạc Hội nghị lần thứ 12, khóa III Ban Chấp hành TW Đảng, tháng 12-1965, Hồ Chí Minh lưu ý: “Chúng ta phải hết sức chăm lo đến đời sống của nhân dân, nhất là đời sống của các cháu, của các gia đình thương binh, liệt sỹ, đời sống của nhân dân ở các vùng bị bắn phá nhiều… những gia đình thu nhập thấp, đông con”.

Nếu tờ báo Người cùng khổ, số 1, nêu mục tiêu là giải phóng con người thì sau này bản Di chúc của Người cũng nêu công việc đầu tiên là đối với con người. Điều đó cho thấy cái “bất biến” trong tư tưởng Hồ Chí Minh là tất cả vì con người để ứng với cái “vạn biến” của lịch sử đặt ra. Hồ Chí Minh nói: “Tất cả những người lao động trên thế giới đều có một mục đích chung là thoát khỏi áp bức, bóc lột, được sống sung sướng tự do, tức là thực hiện chế độ cộng sản. Nhưng để đi đến mục đích ấy, mỗi nước phải tùy theo điều kiện thiết thực của mình mà tiến dần”.

Mục tiêu giải phóng con người về mặt chính trị-xã hội cũng được Hồ Chí Minh chú ý, nhấn mạnh. Giá trị và chiều sâu tư tưởng Hồ Chí Minh chính là ở chỗ đã nhìn nhận và đánh giá vai trò của văn hóa-đạo đức-truyền thống trong tiến trình thực hiện mục tiêu phát triển con người.
Xét ở một khía cạnh nào đó, văn hóa-đạo đức-truyền thống là những yếu tố cấu thành đời sống tinh thần, tâm linh con người. Con người không chỉ tồn tại bằng đời sống vật chất, mà còn tồn tại cả trong đời sống tinh thần. Con người không chỉ chịu sự chi phối của các quy luật vật chất khách quan, mà còn chịu sự chi phối của các quy luật tình cảm, các chương trình kế thừa về văn hóa – đạo đức – truyền thống. Giải phóng con người về mặt chính trị-xã hội là điều kiện tiên quyết, nhưng mới chỉ là điều kiện cần, chưa phải là điều kiện đủ. Con người tồn tại hài hòa trong môi trường đã được nhân tạo hóa dưới dạng: đạo đức, pháp luật, khoa học, nghệ thuật, tôn giáo… gọi chung là văn hóa-đạo đức-truyền thống. Bản chất của nó được thể hiện trong các giá trị vật chất, tinh thần, tập trung nhất ở nhân cách và lối sống con người.

Lý tưởng mà suốt đời Hồ Chí Minh theo đuổi là mưu cầu độc lập cho dân tộc, người dân ai cũng có cơm ăn, áo mặc, ai cũng được học hành. Một xã hội mới theo Hồ Chí Minh quan niệm là một xã hội trong đó con người được tự do, bình đẳng, hạnh phúc. Con người có sự phát triển toàn diện về đức, trí, thể, mỹ, có những quan hệ với tự nhiên, xã hội… trong sự biểu hiện cao nhất về văn hóa-đạo đức-truyền thống. Do đó, Hồ Chí Minh quan niệm chủ nghĩa xã hội là một xã hội lý tưởng, không chỉ ở thể chế chính trị dân chủ, cơ cấu kinh tế, kỹ thuật hiện đại, mà còn là một cơ cấu có giá trị văn hóa-đạo đức nhân bản. Sự phát triển kinh tế nếu không chú ý đến văn hóa-đạo đức thì không đạt tới sự phát triển bền vững. Trong tư tưởng Hồ Chí Minh, việc nhấn mạnh:

Muốn xây dựng chủ nghĩa xã hội trước hết phải có những con người xã hội chủ nghĩa, muốn có những con người xã hội chủ nghĩa phải có tư tưởng xã hội chủ nghĩa, tức là con người có thể được phát triển sớm hơn so với sự phát triển kinh tế-xã hội. Xây dựng con người không chỉ bồi dưỡng về chính trị, văn hóa, chuyên môn kỹ thuật mà đặc biệt là đạo đức. Sự tiến bộ xã hội, sự tiến bộ của con người có thể dựa vào tiêu chí tiến bộ về văn hóa-đạo đức, coi như trình độ người trong phát triển. Ưu tiên văn hóa-đạo đức trong phát triển xã hội “là sự phát triển rút ngắn”, nhằm đạt tới mục tiêu con người, trong đó “phát triển tự do của mỗi người là điều kiện cho sự phát triển tự do của tất cả mọi người”. Con đường phát triển rút ngắn, theo Hồ Chí Minh, không chỉ là “cơ cấu lại” hệ thống các chuẩn mực văn hóa-đạo đức khách quan, mà ở chỗ, nó hướng vào sự tự nhận thức, tự đánh giá, tự hoàn thiện về lối sống, nhân cách của mỗi người. Hồ Chí Minh nhấn mạnh sự tu dưỡng đạo đức cá nhân, cải tạo cái cá nhân để từ đó cải tạo xã hội đồng thời với quá trình cải tạo xã hội để tạo điều kiện cho cải tạo cá nhân.

Như vậy, trong tư tưởng Hồ Chí Minh luôn có sự nhất quán coi con người vừa là động lực, vừa là mục tiêu của cách mạng Việt Nam theo tinh thần cách mạng và khoa học. Vấn đề con người gắn liền với cách mạng giải phóng dân tộc và cách mạng xã hội chủ nghĩa; mục tiêu giải phóng con người gắn liền với giải phóng dân tộc, giải phóng xã hội. Hồ Chí Minh kết luận “phải đem hết sức dân, tài dân, của dân làm lợi cho dân”; phải “dựa vào: lực lượng của dân, tinh thần của dân, để gây hạnh phúc cho dân” và “Chủ nghĩa xã hội là nhằm nâng cao đời sống vật chất và văn hóa của nhân dân và do nhân dân tự xây dựng lấy”.

2. Con người là trung tâm của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa

Trong công cuộc đổi mới ở nước ta hiện nay, phát huy nhân tố con người, phát triển nguồn nhân lực chính là đầu tư cho con người thông qua các hoạt động giáo dục, đào tạo, dạy nghề, chăm sóc sức khoẻ, tạo việc làm, an sinh xã hội… Đầu tư cho con người chính là nhằm phát triển thể lực, tri thức, khả năng nhận thức và tiếp thu kiến thức, tay nghề; tính năng động và sức sáng tạo của con người; phát huy bản sắc nền văn hoá, truyền thống lịch sử dân tộc để hun đúc thành bản lĩnh, ý chí của con người trong lao động. Đó chính là nguồn nội lực, là yếu tố nội sinh, nếu được phát huy và sử dụng có hiệu quả sẽ là động lực, nguồn sức mạnh để phục vụ cho chính con người và xã hội.

Với tinh thần “phát huy nhân tố con người”, “làm cho sản xuất bung ra”, “giải phóng mọi năng lực sản xuất” trong nhân dân… được khởi xướng từ Đại hội VI của Đảng (12-1986), đất nước đã từng bước thoát khỏi khủng hoảng kinh tế-xã hội. Nước ta từ thiếu đói đã tiến đến hoàn thành mục tiêu “ăn no, mặc ấm” và vươn tới những mục tiêu cao hơn.

Lại một lần nữa, thực tế cho chúng ta thấy, khi nào chúng ta biết tôn trọng, yêu thương, tin tưởng, dựa vào nhân dân, đường lối, chính sách của Đảng, Nhà nước phù hợp với lòng người, quan tâm tới quyền lợi của nhân dân, tạo ra động lực cho người lao động… thì lúc đó chúng ta phát huy được nhân tố con người, khai thác và huy động được năng lực, khả năng của mỗi cá nhân và toàn dân tộc vào tiến trình cách mạng.

Bên cạnh những mặt tích cực thì mặt trái của cơ chế thị trường đã làm cho không ít cá nhân, tập thể, doanh nghiệp bị chìm đắm vào những lợi ích cá nhân, vì đồng tiền, vì lợi ích mà đi ngược lại quyền lợi của nhân dân, của quốc gia dân tộc.

Trong sự hỗn độn giữa thiện và ác, giữa đúng và sai, giữa tích cực và hạn chế, ánh sáng tư tưởng Hồ Chí Minh như mặt trời soi sáng cho con đường chúng ta đi. Tư tưởng Hồ Chí Minh nói chung và tư tưởng Hồ Chí Minh về phát triển nguồn lực con người nói riêng vẫn nguyên giá trị. Tư tưởng Hồ Chí Minh về phát triển con người, coi con người vừa là động lực, vừa là mục tiêu của sự nghiệp cách mạng, những lời dạy về phát huy sức mạnh của phẩm chất và năng lực, những chỉ dẫn về cách dùng người, sử dụng cán bộ, những giải pháp để phát huy được nhân tố con người thực sự xứng tầm “là cái cẩm nang thần kỳ”, “bàn chỉ nam” cho sự nghiệp cách mạng nước ta hiện nay.

Mục tiêu xây dựng nước ta thành một nước công nghiệp có cơ sở vật chất-kỹ thuật hiện đại, cơ cấu kinh tế hợp lý, quan hệ sản xuất tiến bộ, phù hợp với trình độ của lực lượng sản xuất, đời sống vật chất và tinh thần cao, quốc phòng, an ninh giữ vững, dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh. Đó trước hết là cuộc cách mạng của con người, vì con người và do con người. Bởi, khi chúng ta nói về những ưu việt của chủ nghĩa xã hội thì những ưu việt đó không do ai đưa đến. Đó phải là kết quả những nỗ lực vượt bậc và bền bỉ của toàn dân ta với những con người phát triển cả về trí lực, cả về khả năng lao động và tính tích cực chính trị-xã hội và đạo đức, tình cảm trong sáng.

Trong sự nghiệp cách mạng từ ngày thành lập đến nay, Đảng ta đã nhiều lần khẳng định: Con người là vốn quý nhất, chăm lo cho hạnh phúc của con người là mục tiêu phấn đấu cao nhất của chế độ ta. Trên thực tế, Đảng ta đã luôn luôn cố gắng thực hiện mục tiêu đó. Sự nghiệp chăm lo cho hạnh phúc con người tuy chưa có nhiều thành công như mong muốn, song phần nào đã đáp ứng nguyện vọng của nhân dân. Phương châm của Chủ tịch Hồ Chí Minh là: “Việc gì có lợi cho dân, ta phải hết sức làm; việc gì có hại cho dân, ta phải hết sức tránh” đã được Đảng ta đặt lên vị trí hàng đầu và coi đó là nhiệm vụ trung tâm. Lời dạy của Bác – “Vì lợi ích mười năm thì phải trồng cây, vì lợi ích trăm năm thì phải trồng người” và “muốn xây dựng chủ nghĩa xã hội, trước hết cần có những con người xã hội chủ nghĩa” – đã trở thành tư tưởng xuyên suốt toàn bộ sự nghiệp cách mạng của Đảng ta với tư cách là Đảng cầm quyền.

Trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa ngày nay, Đảng ta tiếp tục khẳng định: lấy việc phát huy nguồn lực con người làm yếu tố cơ bản cho sự phát triển nhanh và bền vững; nâng cao dân trí, bồi dưỡng và phát huy nguồn lực to lớn của con người Việt Nam là nhân tố quyết định thắng lợi của cách mạng Việt Nam. Trong Chiến lược phát triển kinh tế – xã hội 2011-2015, Đảng ta xác định mục tiêu: tăng trưởng kinh tế nhanh và bền vững; nâng cao rõ rệt hiệu quả và sức cạnh tranh của nền kinh tế; con người là trung tâm của chiến lược phát triển, đồng thời là chủ thể phát triển; tạo chuyển biến mạnh về giáo dục và đào tạo, khoa học và công nghệ, phát huy nhân tố con người. Và trong Báo cáo Chính trị tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI (1-2011), Đảng ta đặt mục tiêu: Đổi mới căn bản và toàn diện giáo dục, đào tạo, phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao, đặc biệt là đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý giỏi; đội ngũ cán bộ khoa học, công nghệ, văn hóa đầu đàn, đội ngũ doanh nhân và lao động lành nghề”(7)./.

PGS, TS. PHẠM NGỌC ANH
Theo tuyengiao.vn
Thu Hiền (st)

————–

(1), (2), (7) ĐCSVN: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Nxb. CTQG, H, 2011, tr.41, 76, 216-217.
(3), (4), (5), (6) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. CTQG, H, 1995, t.5, tr.644, 698, 295, 293.

bqllang.gov.vn

Hồ Chí Minh kế thừa và phát triển giá trị văn hóa dân tộc và nhân loại

Đại hội IX của Đảng khẳng định: “Tư tưởng Hồ Chí Minh là một hệ thống quan điểm toàn diện và sâu sắc về những vấn đề cơ bản của cách mạng Việt Nam, là kết quả của sự vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác-Lênin vào điều kiện cụ thể của nước ta, kế thừa và phát triển các giá trị truyền thống tốt đẹp của dân tộc, tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại”. Ở đây, xin làm rõ phần nào nhận định đúng đắn của Đảng ta về tư tưởng vĩ đại của Người.

1-Tư tưởng Hồ Chí Minh kế thừa và phát triển những giá trị truyền thống tốt đẹp của dân tộc.

Tư tưởng Hồ Chí Minh có cội nguồn từ những giá trị truyền thống tốt đẹp của dân tộc. Khi tôn vinh Người là danh nhân văn hóa kiệt xuất và Anh hùng giải phóng dân tộc, tổ chức UNESCO đã ghi nhận: Nhà văn hóa kiệt xuất Hồ Chí Minh là kết tinh của truyền thống văn hóa ngàn năm của dân tộc Việt Nam và những tư tưởng của Người là hiện thân của những khát vọng của các dân tộc trong việc khẳng định bản sắc của mình và tiêu biểu cho việc thúc đẩy hiểu biết lẫn nhau… Dân tộc Việt Nam trải qua hàng nghìn năm lịch sử dựng nước và giữ nước đã tạo lập cho mình một nền văn hóa riêng, phong phú và bền vững với những giá trị truyền thống tốt đẹp và cao quý.

Trước hết đó là chủ nghĩa yêu nước và ý chí bất khuất đấu tranh để dựng nước và giữ nước. Đây là một trong những tài sản có giá trị nhất trong hành trang của Hồ Chí Minh lúc ra đi tìm đường cứu nước năm 1911. Nó là cơ sở xuất phát, là động lực, là sợi chỉ đỏ xuyên suốt cuộc đời hoạt động cách mạng của Người. Chủ nghĩa yêu nước Việt Nam đã có quá trình lịch sử hàng ngàn năm với nội dung phong phú và sâu sắc như: yêu nước gắn liền với yêu quê hương, yêu con người Việt Nam, yêu truyền thống văn hóa quý giá. Thời kỳ phong kiến, yêu nước có nội dung trung quân ái quốc, lợi ích giai cấp thống trị phù hợp với lợi ích của nhân dân lao động trong sự nghiệp chống xâm lược, bảo vệ Tổ quốc.

Hồ Chí Minh đã làm phong phú nội dung của chủ nghĩa yêu nước. Yêu nước đối với Người là gắn liền với yêu nhân dân. Người nói, lòng thương yêu nhân dân và nhân loại của Người không bao giờ thay đổi…Người có một ham muốn tột bậc là làm sao nước ta được độc lập, dân ta có cơm ăn, áo mặc và được học hành. Người đã nêu ra chuẩn mực “trung với nước, hiếu với dân” và phát triển những nội dung mới của chủ nghĩa yêu nước. Đó là yêu nước dựa trên quan điểm giai cấp công nhân, yêu nước mở rộng ra thành tình yêu vô cùng rộng lớn đối với nhân dân lao động, những người cùng khổ, đối với giai cấp công nhân các nước trên thế giới. Trên cơ sở tư tưởng của giai cấp công nhân, Người đã nêu ra nội dung mới: Yêu Tổ quốc, yêu nhân dân gắn liền với yêu chủ nghĩa xã hội, vì chỉ có chủ nghĩa xã hội thì nhân dân mình mới ngày một ấm no thêm, Tổ quốc ngày một giàu mạnh thêm.

Trong các giá trị truyền thống Việt Nam, tinh thần nhân nghĩa, truyền thống đoàn kết, tương thân, tương ái là những nét hết sức đặc sắc. Truyền thống này hình thành một lúc với sự hình thành dân tộc, từ hoàn cảnh và nhu cầu đấu tranh quyết liệt với thiên nhiên và giặc ngoại xâm. Người Việt Nam gắn bó với nhau trong tình làng, nghĩa xóm. Hồ Chí Minh đã kế thừa, phát huy sức mạnh bốn chữ “đồng” (đồng tình, đồng sức, đồng lòng, đồng minh). Người thường nhấn mạnh, nhân dân ta đã từ lâu sống với nhau có tình có nghĩa. Tình nghĩa ấy được Người nâng lên cao đẹp hơn, trở thành tình nghĩa đồng bào, đồng chí, tình nghĩa năm châu bốn biển một nhà. Ngay cả khi tiếp thu lý luận Mác-Lênin – đỉnh cao của trí tuệ nhân loại – cũng phải trên nền tảng của giá trị truyền thống. Người nhấn mạnh: Hiểu chủ nghĩa Mác-Lênin là phải sống với nhau có tình, có nghĩa. Nếu thuộc bao nhiêu kinh sách mà sống không có tình nghĩa thì sao gọi là hiểu chủ nghĩa Mác-Lênin được…Tư tưởng đại nhân, đại nghĩa ở Hồ Chí Minh là phấn đấu vì sự nghiệp giải phóng dân tộc, vì tự do, hạnh phúc của con người, là cứu nước, độc lập, tự do và chủ nghĩa xã hội, tạo mọi điều kiện cho con người phát triển. Trong văn hóa đạo đức Việt Nam, chữ “Nghĩa” có ý nghĩa là lẽ phải, ngay thẳng. Nguyễn Trãi đã từng nói: Phàm mưu việc lớn phải lấy nhân nghĩa làm gốc, nên “công to phải lấy nhân nghĩa làm đầu”, Hồ Chí Minh lấy chữ nghĩa để phân rõ bạn thù. Ai làm điều gì có lợi cho nhân dân, cho Tổ quốc đều là bạn. Bất kỳ ai làm điều gì có hại cho nhân dân và Tổ quốc đều là kẻ thù.

Trong những giá trị truyền thống cao đẹp của dân tộc, Hồ Chí Minh đã kế thừa tinh thần cộng đồng, một lối sống thành thực, thân ái, những thuần phong mỹ tục, trở thành những yếu tố đậm nét trong tư tưởng Hồ Chí Minh.

Ngay từ năm 1947, trong khi cuộc chiến chống thực dân Pháp đang diễn ra quyết liệt, người đã nói đến đời sống mới của một người, một nhà, một làng và khắp cả nước. Xoay quanh hạt nhân của đời sống mới là cần, kiệm, liêm, chính. Hồ Chí Minh đã nói đến thuần phong mỹ tục, không có cờ bạc, hút xách, bợm bài, trộm cắp. Người nhắc đến tục ngữ “lá lành đùm lá rách”, “đói cho sạch rách cho thơm”. Và, nếu một mình no ấm mà nỡ để đồng bào xung quanh đói rét…, thì dù giàu cũng không hưởng được. Người nói: Cách cư xử đối với đồng bào thì nên thành thực, thân ái, sẵn lòng giúp đỡ…Nhiều lần, Người nhấn mạnh đến việc xây dựng và phát triển thuần phong mỹ tục, tức là phát triển một trong những giá trị truyền thống. Mặt khác, khi trân trọng giữ gìn thuần phong mỹ tục, Hồ Chí Minh luôn gắn với việc phê phán, bài trừ đồi phong, bại tục. Người đã nói đến việc “khôi phục vốn cũ” với một tinh thần trân trọng các giá trị của người xưa để lại như: tương thân tương ái, tận trung với nước, tận hiếu với dân…Song, Người yêu cầu xóa bỏ cái xấu (tính lười biếng, tham lam…), sửa đổi các phiền phức (cúng bái, cưới hỏi quá xa xỉ).

2- Hồ Chí Minh tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại

Nói đến văn hóa nhân loại có tầm cỡ vĩ đại nhất và ảnh hưởng lớn nhất đối với Hồ Chí Minh là phải nói đến chủ nghĩa Mác-Lênin. Có thể nói, Hồ Chí Minh đã tiếp thu phát triển chủ nghĩa Mác-Lênin và ứng dụng sáng tạo vào điều kiện cụ thể của đất nước, đưa cách mạng Việt Nam giành nhiều thắng lợi vĩ đại và cống hiến nhiều vào kho tàng lý luận mác-xít cũng như phương pháp hoạt động sáng tạo của cuộc cách mạng vô sản.

Xuất thân trong một gia đình khoa bảng, với tư chất thông minh tuyệt vời, từ nhỏ, Hồ Chí Minh đã được giáo dục Hán học và đã tiếp thu nền văn hóa phương Tây tại trường Quốc học Huế. Khi bôn ba khắp năm châu, bốn bể, Người vừa hoạt động cách mạng, vừa học hỏi không ngừng. Người đã thông thạo các ngôn ngữ tiêu biểu cho nền văn minh của nhân loại, am tường các nền văn hóa Đông, Tây, kim, cổ. Khi tiếp thu các nền văn hóa, Người bao giờ cũng phân tích các yếu tố giá trị toàn nhân loại và vĩnh cửu. Người đã làm giàu trí tuệ của mình bằng tinh thần văn hóa nhân loại. Người là tượng trưng cho sự kết hợp hài hòa giữa các nền văn hóa và tỏa ra một nền văn hóa của tương lai.

Tiếp thu văn hóa phương Đông, trước hết là Nho giáo, Hồ Chí Minh đã đánh giá đúng đắn vai trò của Nho giáo và người sáng lập ra nó là Khổng Tử và đã đặc biệt khai thác những mặt tích cực của tư tưởng Nho giáo.

Hơn ai hết, Hồ Chí Minh hiểu rõ những mặt bất cập, hạn chế của Nho giáo. Đó là trong Nho giáo có những yếu tố duy tâm, lạc hậu, phản động như tư tưởng đẳng cấp, khinh lao động chân tay, khinh phụ nữ, khinh thường thực nghiệm, doanh lợi…Tuy nhiên, Hồ Chí Minh cũng thấy được những mặt tích cực của nó và khuyên chúng ta “nên học”. Theo Người, mặt tích cực của Nho giáo là nó đề cao văn hóa, lễ giáo, tạo ra truyền thống hiếu học với châm ngôn “Học không biết chán, dạy không biết mỏi”. Về điểm này, Nho giáo hơn hẳn các học thuyết cổ đại, bởi vì nhiều học thuyết cổ đại chủ trương ngu dân để dễ cai trị.

Hồ Chí Minh đã khai thác Nho giáo, lựa chọn những yếu tố tich cực, phù hợp để phục vụ cho nhiệm vụ cách mạng.

Tiếp thu tư tưởng vị tha ở Phật giáo, Hồ Chí Minh là hiện thân của lòng nhân ái, độ lượng, khoan dung – những nét đặc trưng của giáo lý đạo Phật.

Thứ nhất là, tư tưởng vị tha, từ bi, bác ái, cứu khổ cứu nạn, thương người như thể thương thân – một tình yêu bao la không chỉ dành cho con người mà dành cho cả chim muông, cây cỏ.

Thứ hai là, nếp sống có đạo đức, trong sạch, giản dị, chăm lo làm điều thiện.

Thứ ba là, tinh thần bình đẳng, tinh thần dân chủ chất phác chống lại mọi phân biệt đẳng cấp.

Thứ tư là, Phật giáo Thiền tông đề ra luật “chấp tác”: “nhất nhật bất tác, nhất nhật bất thực” (một ngày không làm, một ngày không ăn), đề cao lao động, chống lười biếng. Cuối cùng, Phật giáo vào Việt Nam, gặp chủ nghĩa yêu nước, tinh thần đấu tranh bất khuất chống ngoại xâm của dân tộc ta, đã hình thành nên Thiền phái Trúc lâm Việt Nam, chủ trương sống không xa rời, lẩn tránh mà gắn bó với đời sống của nhân dân, với đất nước, tham gia vào cộng đồng, vào cuộc đấu tranh của nhân dân, chống kẻ thù dân tộc.

Như thế, có thể nói, những mặt tích cực của Phật Việt Nam đã đi vào đời sống tinh thần dân tộc và nhân dân lao động. Gia đình Bác Hồ là gia đình nhà nho nghèo, gần gũi với nông dân, cũng thấm nhuần tinh thần đó và để lại dấu ấn trong tư tưởng Hồ Chí Minh.

Ngoài ra, còn có thể tìm thấy nhiều trích dẫn khác nữa về các nhà tư tưởng phương Đông như Lão Tử, Mặc Tử, Quản Tử… trong các bài nói, bài viết của Hồ Chí Minh. Cũng như sau này, khi đã trở thành người mác-xít, Nguyễn Ái Quốc vẫn tìm hiểu thêm về Chủ nghĩa Tam dân của Tôn Trung Sơn và tìm thấy trong đó “những điều thích hợp với điều kiện nước ta”. Các tiêu chí của chủ nghĩa Tam dân là dân tộc – độc lập; dân quyền – tự do; dân sinh – hạnh phúc đã được Hồ Chí Minh rút gọn trong quốc hiệu của Việt Nam “Độc lập – Tự do – Hạnh phúc”. Là người mác-xít tỉnh táo và sáng suốt, Hồ Chí Minh đã biết khai thác những yếu tố tích cực của tư tưởng và văn hóa phương Đông để phục vụ cho sự nghiệp cách mạng nước ta.

Lĩnh hội tư tưởng văn hóa phương Tây: Trong ba mươi năm hoạt động cách mạng ở nước ngoài, Hồ Chí Minh sống chủ yếu ở châu Âu nên cũng chịu ảnh hưởng rất sâu rộng của nền văn hóa dân chủ và cách mạng của phương Tây.

Khi xuất dương, Người đã từng sang Mỹ, đến sống ở Niu Oóc, làm thuê và thường đến thăm khu ở của người da đen. Trong các bài viết sau này, Người thường nhắc đến ý chí đấu tranh cho tự do, độc lập, cho quyền sống của con người được ghi lại trong Tuyên ngôn độc lập 1776 của nước Mỹ. Người đã tiếp thu giá trị của tư tưởng nhân quyền với nội dung là quyền tự do cá nhân thiêng liêng trong bản tuyên ngôn này. Sau này Người đã phát triển nó thành quyền sống, quyền độc lập, quyền tự do, quyền mưu cầu hạnh phúc của tất cả các dân tộc. Nội dung nhân quyền được Người nâng lên một tầm cỡ mới trong Tuyên ngôn độc lập của Việt Nam năm 1945.

Cuối năm 1917, Người từ Anh sang Pháp và quyết định sống và hoạt động ở thủ đô nước Pháp có ý nghĩa lịch sử rất lớn, mở ra một thời kỳ mới trong cuộc đời mình. Là Thủ đô của nước Pháp, Pa-ri cũng đồng thời là trung tâm văn hóa – nghệ thuật của Châu Âu. Các trào lưu triết học và các trường phái nghệ thuật nổi tiếng thế giới phần lớn đều được hình thành và ra mắt tại đây. Sống ở giữa nơi hợp lưu của các dòng văn hóa thế giới, Người đã có điều kiện thuận lợi để nhanh chóng chiếm lĩnh vốn tri thức của thời đại, đặc biệt là truyền thống văn hóa dân chủ và tiến bộ của nước Pháp.

Đến với quê hương của lý tưởng tự do, bình đẳng, bác ái, Hồ Chí Minh được tiếp xúc trực tiếp với tác phẩm của các nhà tư tưởng khai sáng: Von-te, Rút-xô, Mông-tét-xki-ơ, những lý luận gia của đại cách mạng Pháp 1789, như Tinh thần pháp luật của Mông-tét-xki-ơ, Khế ước xã hội của Rút-xô, v.v… tư tưởng dân chủ của các nhà khai sáng đã có ảnh hưởng tới tư tưởng của Người. Ngoài ra, Người còn hấp thụ được tư tưởng dân chủ và hình thành được phong cách dân chủ của mình từ trong cuộc sống thực tiễn. Rõ ràng là, ở Pháp, Người đã có thể hoạt động và đấu tranh cách mạng một cách tương đối tự do, thuận lợi hơn ở trên đất nước mình, dưới chế độ thuộc địa.

Nhờ được rèn luyện trong phong trào công nhân Pháp và sự cổ vũ, dìu dắt trực tiếp của nhiều nhà cách mạng và trí thức tiến bộ Pháp như M. Ca-sanh, P.V. Cu-tuya-ri-ê, G.

Mông-mút-xô…mà Hồ Chí Minh đã từng bước trưởng thành. Con người ấy, trên hành trình cứu nước, đã làm giàu trí tuệ của mình bằng vốn trí tuệ của thời đại, Đông và Tây, vừa thâu thái, vừa gạn lọc để có thể từ tầm cao của tri thức nhân loại mà suy nghĩ và lựa chọn, kế thừa và đổi mới, vận dụng và phát triển.

Kế thừa lòng nhân ái, đức hy sinh của Thiên chúa giáo: Nói đến việc kết hợp văn hóa Đông, Tây trong con người Hồ Chí Minh, không thể không đề cập đến sự kế thừa lòng nhân ái, đức hy sinh, những giá trị cơ bản của Thiên chúa giáo. Người đã cống hiến cả cuộc đời cho sự nghiệp giải phóng dân tộc, giải phóng nhân dân lao động khỏi ách áp bức, bóc lột; đã là hiện thân của lòng nhân ái và đức hy sinh cao cả. Sau này, Người luôn luôn giáo dục cán bộ, đảng viên về lòng thương người, thương dân, thương các chiến sỹ ngoài mặt trận – đó là những tư tưởng thấm đậm những giá trị cao cả mang tính nhân loại mà Thiên chúa giáo đã khởi xướng và răn dạy.

Người lên án gay gắt những kẻ “giả danh Chúa” để thực hiện những “hành vi ác quỷ”: dẫn đường cho đội quân viễn chinh; cướp của cải, đánh đập, bắt giết người (đặc biệt là trẻ em); chiếm ruộng đất canh tác, v.v…Người coi những hành động đó là sự đi ngược lại và phản bội lòng nhân ái cao cả của Chúa, làm hoen ố tư tưởng lớn của Ngài là muốn mưu cầu phúc lợi cho xã hội. Người viết: “Nếu Chúa bất hạnh đã chịu đóng đanh trên cây thánh giá trở về cõi thế này, thì chắc Ngài sẽ vô cùng ngao ngán khi thấy “các môn đồ trung thành” của mình thực hiện đức khổ hạnh như thế nào”.

Người lên án những giáo sĩ đại diện cho chủ nghĩa tư bản phương Tây, những kẻ nhân danh Chúa để quan hệ mật thiết với thế lực thực dân, tham gia vào guồng máy của chủ nghĩa thực dân, xâm nhập về kinh tế và quân sự, áp đặt nền văn hóa thực dân, làm xuất hiện nguy cơ bá quyền văn hóa, v.v…

Tóm lại, Hồ Chí Minh tiếp thu các tinh hoa văn hóa nhân loại một cách có chọn lọc rồi vận dụng tinh hoa đó một cách sát hợp vào những điều kiện cụ thể của đất nước, của dân tộc vì mục đích không chỉ cho sự nghiệp giải phóng dân tộc mình mà còn góp phần tích cực nhất vào sự nghiệp của các dân tộc khác trên thế giới./.

Theo TS. Hồ Văn Chiểu
Ban Tư tưởng – Văn hóa TW
Tâm Trang (st)

bqllang.gov.vn

Hồ Chí Minh là một trí thức lớn hoạt động thực tiễn

GS Đỗ Huy

Nhân sơ kết 4 năm hưởng ứng Cuộc vận động học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh, kỷ niệm 121 năm ngày sinh, 100 năm tìm đường cứu nước của Chủ tịch Hồ Chí Minh, VHNA đã có lời mời giáo sư Đỗ Huy (ViệnTriết học), người đã có nhiều năm nghiên cứu về Hồ Chí Minh làm khách tháng 4. Câu chuyện trao đổi tập trung về sự nghiệp và nhân cách văn hoá Hồ Chí Minh và ý nghĩa của nó với sự vận động của văn hoá nước nhà. Chúng tôi giới thiệu một số nội dung của cuộc trao đổi này.

Nhân cách văn hoá Hồ Chí Minh bắt nguồn từ cái đúng, cái tốt

Thưa GS, là người có nhiều năm nghiên cứu về văn hoá và Hồ Chí Minh, vậy theo GS ở Hồ Chí Minh những phẩm chất văn hoá nào là nổi trội và tiêu biểu nhất?

Nếu văn hoá là trình độ Người của các quan hệ xã hội, thì nhân cách văn hoá Hồ Chí Minh tiêu biểu cho một trình độ trí tuệ vô cùng mẫn cán và thông thái, một tầm nhìn rất xa, rất rộng, khoan dung và giàu năng lượng thực tiễn; một ý chí vô song biểu hiện thành những giá trị đạo đức vĩnh cửu và một tấm lòng yêu nước cháy bỏng, tinh thần tự hào dân tộc hoàn quyện với những giá trị văn minh tiến bộ của nhân loại. Theo tôi, phẩm chất văn hoá nổi trội và tiêu biểu nhất ở Hồ Chí Minh biểu hiện trong nhân cách văn hoá Hồ Chí Minh. Đó là một nhân cách của vĩ nhân thấu hiểu thực tế hơn mọi người, nhìn xa hơn mọi người, nhận thức đúng hơn mọi người và có ý chí mạnh mẽ hơn mọi người, đặc biệt là hoà quyện và thấu hiểu cuộc sống của bản thân mình với nhiều tầng lớp, giới tính, thế hệ khác nhau trong dân tộc và nhân loại. Nhân cách văn hoá Hồ Chí Minh đã kết tinh cái đúng, cái tốt và cái đẹp của dân tộc và loài người tiến bộ.

Văn hoá Hồ Chí Minh là một hệ thống thống nhất hài hoà các giá trị, chúng tôi nghĩ vậy. Theo GS thì hệ thống giá trị đó được kết tinh từ những nguồn gốc nào?  Và năng lượng, năng lực nào đã chọn lựa, thâu hoá và sắp xếp các giá trị từ các hệ thống khác nhau thành một hệ thống hoàn hảo, và hài hoà ở Hồ Chí Minh, thành văn hoá Hồ Chí Minh?

Hệ thống giá trị tạo nên nhân cách văn hoá Hồ Chí Minh bắt nguồn từ cái đúng. Những phẩm chất văn hoá ở Hồ Chí Minh luôn luôn gắn liền với các quy luật vận động khách quan, là sản phẩm lịch sử của quá trình hoạt động thực tiễn của Người trong các phong trào lớn của thế kỷ XX. Cái đúng thể hiện trong nhân cách văn hoá Hồ Chí Minh vừa gắn liền với các quy luật khách quan vừa gắn với tầm nhìn khoa học, với năng lượng trí tuệ, gắn lý luận với thực tiễn, gắn dân tộc với nhân loại, cá nhân với xã hội, gắn cái chung với cái riêng, gắn cái động với cái tĩnh…

Trong hệ thống giá trị tạo thành nhân cách văn hoá Hồ Chí Minh thì cái tốt được thể hiện thành ý chí và tư tưởng đạo đức của Người. Và tư tưởng đạo đức ấy có nguồn gốc rất xa từ những giá trị đạo đức của dân tộc. Chủ nghĩa nhân văn Hồ Chí Minh là hiện thân của tư tưởng hoà đồng, đoàn kết, yêu nước, thích ứng, tiết kiệm, giản dị của truyền thống dân tộc. Tuy nhiên, hệ thống giá trị tạo nên nhân cách văn hoá Hồ Chí Minh về phương diện đạo đức và tư tưởng đã gắn với thế giới quan khoa học của cái đúng. Hồ Chí Minh đã nâng các giá trị đạo đức của truyền thống dân tộc lên một tầm cao mới. Ý chí đạo đức, tinh thần yêu nước ở Hồ Chí Minh gắn với những thành tựu khoa học và thế giới quan biện chứng của thế kỷ XX. Vì thế, những giá trị và tư tưởng đạo đức trong nhân cách văn hoá Hồ Chí Minh đã vượt xa và cơ cấu lại những nội dung cơ bản của các giá trị đạo đức truyền thống.

Nhân cách văn hoá Hồ Chí Minh còn thể hiện mạnh mẽ sức sống trong hệ thống giá trị của cái đẹp. Về phương diện thẩm mỹ đặc trưng ở khả năng sáng tạo tuyệt vời trong mọi hoạt động của Người đều hướng tới cái hài hoà, cái đẹp. Mỹ cảm và lý luận về giáo dục thẩm mỹ trong nhân cách văn hoá Hồ Chí Minh luôn luôn đánh thức những khát vọng sâu thẳm của con người về một thế giới khoan dung và hoàn thiện. Chính hệ thống giá trị mỹ cảm này đã làm cho nhân cách văn hoá Hồ Chí Minh không chỉ sáng tạo nên các tác phẩm văn học nghệ thuật có giá trị thẩm mỹ cao mà còn tạo nên những chuyển biến lý luận căn bản của văn hoá nghệ thuật cách mạng ở Việt Nam.

Hệ giá trị ấy là thành quả của phương pháp khoa học ở Hồ Chí Minh trong mọi hoạt động sống. Phương pháp ấy gắn cái riêng với cái chung, cái dân tộc với cái quốc tế, cái dân tộc với các tộc người, các cá nhân với cái xã hội, con người với tự nhiên. Hệ giá trị ấy đồng thời cũng là thành quả của ý chí đạo đức Hồ Chí Minh.

Xét về mặt hình thức thì văn hoá Hồ Chí Minh gần hơn với hệ thống văn hoá nào theo cách phân loại giai cấp tính (phong kiến, tư sản, vô sản…), hoặc là theo địa lý nhân văn (phương Đông hay phương Tây, Khổng giáo hay Ki tô giáo…)?

Nhiều người nghĩ rằng, hình thức văn hoá mà Hồ Chí Minh lựa chọn là hình thức văn hoá Nho giáo. Sự thật thì ngay từ năm 1927, nhà cách mạng Nguyễn Ái Quốc đã phát hiện hệ thống giá trị Nho giáo duy trì rất nhiều bất công, bất bình đẳng xã hội. Vì thế, trên phương diện hệ thống, hình thức văn hoá Nho giáo không thể phù hợp với nền văn hoá mới ở Việt Nam. Tuy hệ thống Nho giáo có những yếu tố nhập thế, hành đạo giúp đời, mang thế giới đại đồng và có kỹ năng giáo dục đạo đức tỉ mỉ, nhưng nó là hình thức văn hoá duy trì một trật tự xã hội bình yên, không bao giờ thay đổi. Hồ Chí Minh trong các tư tưởng về văn hoá của mình có sử dụng nhiều khái niệm thuộc hệ thống giá trị văn hoá Nho giáo, nhưng Người đã đưa vào đó những nội hàm rất mới. Những nội hàm này hoàn toàn không nằm trong hệ thống giá trị văn hoá Nho giáo mà nó là một bộ phận hợp thành của hệ thống giá trị văn hoá Việt Nam mới của thời đại Hồ Chí Minh.

Cũng như vậy, cụ Hồ nói cụ cố gắng làm một người học trò nhỏ của Giêsu nói riêng và của đạo đức phương Tây nói chung vì ở đó tán dương lòng bác ái, cổ vũ lòng từ thiện. Song hình thức văn hoá mà Hồ Chí Minh lựa chọn lại không thể là hình thức văn hoá Thiên chúa giáo hay của phương Tây bởi vì hình thức văn hoá mà Hồ Chí Minh lựa chọn để xây dựng nền văn hoá Việt Nam mới phải gắn liền với việc giải phóng những người nghèo khổ ra khỏi mọi sự tha hoá, trong đó có sự tha hoá, sự ban ơn về mặt tinh thần. Hình thức văn hoá mà Hồ Chí Minh lựa chọn là một hình thức văn hoá gắn với những năng lượng giải phóng, đổi mới, phát triển của đại đa số nhân dân. Phải hành động để giải phóng giai cấp, giải phóng dân tộc, giải phóng xã hội, giải phóng con người lao động, người cùng khổ khỏi mọi tha hoá. Vì thế, hình thức văn hoá mà Hồ Chí Minh lựa chọn phải là thành quả của cuộc đấu tranh của tuyệt đại đa số nhân dân vì phẩm giá dân tộc và tự do của con người. Hình thức văn hoá ấy phải bắt nguồn từ truyền thống và những năng lượng tiềm ẩn của dân tộc.

Nhiều người cho rằng, học thuyết của Tôn Văn được Chủ tịch Hồ Chí Minh chú ý nhất để xây dựng nền văn hoá mới ở Việt Nam. Đúng là chủ nghĩa tam dân của Tôn Trung Sơn đã được Chủ tịch Hồ Chí Minh ngưỡng mộ khi ông chủ trương liên Nga, liên công và phù trợ công nông và phê phán đạo đức học của Hán và Tống Nho. Sự gặp gỡ giữa tư tưởng của Tôn Trung Sơn và Hồ Chí Minh là chủ nghĩa dân tộc. Ngay từ năm 1924, Hồ Chí Minh đã nhận định: “chủ nghĩa dân tộc là một động lực lớn của đất nước” (Hồ Chí Minh. Toàn tập, t.1, tr. 467). Tuy vậy, hình thức văn hoá mới ở Việt Nam mà Hồ Chí Minh lựa chọn không phải là hình thức văn hoá mà Tôn Văn đề xuất. Trước hết là chủ nghĩa dân tộc trong văn hoá Việt Nam không phải là chủ nghĩa dân tộc chật hẹp, một chủ nghĩa quốc gia. Trong văn hoá mới ở Việt Nam , Hồ Chí Minh đã lựa chọn một chủ nghĩa dân tộc gắn liền với tinh thần quốc tế, một hình thức văn hoá dân tộc khi thắng lợi nó sẽ gắn chặt với chủ nghĩa quốc tế. Trong hình thức văn hoá này mọi sự sáng tạo, hưởng thụ đều là do nhân dân quyết định. Phạm trù nhân dân tạo nên bản sắc, sức sống và hình thức văn hoá mới do Hồ Chí Minh lựa chọn.

Trong hình thức văn hoá mà Hồ Chí Minh hướng đến xây dựng, người ta thấy rõ nhất là những giá trị tinh thần truyền thống. Đó là chủ nghĩa yêu nước, tinh thần khoan dung, ý chí tự lực tự cường, ý thức đoàn kết; song những giá trị truyền thống này đã được Hồ Chí Minh gắn với tinh thần của thời đại mới, những mục tiêu phát triển đất nước theo hướng chủ nghĩa xã hội.

Nghiên cứu tư tưởng văn hoá Hồ Chí Minh, ta có thể thấy, ngoài tính dân tộc, tính nhân loại phổ biến của các hình thức văn hoá, còn có hình thức giai cấp, hình thức dân tộc, hình thức tộc người, hình thức vùng, hình thức miền, hình thức nhóm, hình thức liên văn hoá văn hoá cá nhân… Văn hoá mà Hồ Chí Minh lựa chọn là gắn truyền thống với hiện đại, dân tộc với quốc tế, cá nhân với xã hội vì một chủ nghĩa nhân văn cao cả. Sự đa dạng văn hoá là cội nguồn của sự phát triển văn hoá.

Văn hoá Hồ Chí Minh có những giá trị nào có ý nghĩa toàn nhân loại?

Nhân cách văn hoá Hồ Chí Minh đã cống hiến cho thời đại nhiều giá trị xuất sắc. Những kiệt tác của Người như Bản án chế độ thực dân Pháp, Đường kách mệnh, Tuyên ngôn độc lập… không chỉ có ý nghĩa cho công cuộc giải phóng dân tộc ở Việt Nam mà nó còn cổ vũ phong trào giải phóng nhiều dân tộc trên thế giới. Hồ Chí Minh đã được tổ chức UNESCO tôn vinh là anh hùng giải phóng dân tộc, nhà văn hoá kiệt xuất của Việt Nam.

Nhân cách văn hoá Hồ Chí Minh vừa là một nhà hoạt động cách mạng quốc tế vừa là một anh hùng giải phóng dân tộc. Những hoạt động văn hoá, những sản phẩm văn hoá của Hồ Chí Minh đều hướng tới chống cái xấu, cái ác, bảo vệ, cổ vũ cái tốt, cái đẹp. Hoạt động của Hồ Chí Minh mang lại ấm no, hạnh phúc cho dân tộc Việt Nam và góp phần bảo vệ hoà bình và tình hữu nghị giữa các dân tộc. Vì lý do đó, nhân cách văn hoá Hồ Chí Minh sống mãi không chỉ trong lòng dân tộc Việt Nam mà còn mãi trong lòng nhân dân nhiều dân tộc trên thế giới.

Như tôi đã nói ở trên, tính bất tử, tính nhân loại của những giá trị văn hoá của nhân cách văn hoá theo Hồ Chí Minh không phải ở chỗ nhà văn hoá đó hoạt động văn hoá ở ngoài dân tộc mà tính nhân loại phổ biến của văn hoá nằm ngay trong tính dân tộc của văn hoá. Nhiều nhà văn hoá tầm cỡ trên thế giới được toàn thể nhân loại tôn vinh do họ hoạt động văn hoá vì cái đúng, cái tốt, cái đẹp của dân tộc mình. Trong thế giới này, mỗi dân tộc đều là một bộ phận của cộng đồng quốc tế. Nhân cách văn hoá Hồ Chí Minh chống chủ nghĩa thực dân ở Việt Nam có ảnh hưởng mạnh mẽ đến phong trào giải phóng dân tộc trên thế giới. Nhân cách văn hoá Hồ Chí Minh mang lại độc lập tự do, quyền bình đẳng và công bằng cho nhân dân Việt Nam đều được nhân loại tôn vinh. Vì thế, nhân cách văn hoá Hồ Chí Minh vừa có giá trị dân tộc vừa có giá trị nhân loại.

Hồ Chí Minh là một trí thức lớn hoạt động thực tiễn

Hồ Chí Minh là một trí thức lớn của dân tộc. Đề nghị GS phân tích vai trò của Hồ Chí Minh với dân tộc trong tư cách một trí thức lớn?

Vâng, đúng, tôi cũng đồng ý với cách tiếp cận và nhận thức của anh khi nhận định Hồ Chí Minh là một nhà trí thức lớn, mặc dù cho đến nay rất ít công trình nghiên cứu chuyên biệt về nhà trí thức lớn Hồ Chí Minh. Sở dĩ ở Việt Nam và cả nhà nghiên cứu nước ngoài chưa có những công trình tầm cỡ nghiên cứu chuyên biệt về nhà trí thức Hồ Chí Minh bởi vì những chuẩn mực về trí thức, nhà trí thức, nhà trí thức lớn ở mỗi dân tộc, mỗi thời đại, mỗi giai cấp có sự khác nhau.

Tôi nghĩ cụ Hồ là một trí thức lớn trên cả lĩnh vực khoa học và lĩnh vực nghệ thuật. Mỗi lĩnh vực Cụ đều có sản phẩm có chất lượng cao và có ý nghĩa xã hội to lớn. Kiệt tác Bản án chế độ thực dân Pháp, Đường kách mệnh, Tuyên ngôn độc lập, Sửa đổi lối làm việc đều là những di sản tinh thần quý hiếm đặc trưng cho văn hoá Hồ Chí Minh, thời đại Hồ Chí Minh. Những bài thơ trong Ngục trung nhật ký, những bài thơ làm trong khi đi đánh trận, trên rừng Việt Bắc và hàng ngàn bài báo của Hồ Chí Minh chứa rất nhiều giá trị lịch sử, nghệ thuật mà nhiều đời sau còn phải nghiên cứu. Toàn tập Hồ Chí Minh, hàng vạn trang sách chứa đựng một trình độ tri thức uyên bác, chúng trở thành những cuốn sách kinh điển của cả dân tộc Việt Nam và loài người tiến bộ. Có nhà trí thức lớn nào ở Việt Nam đã có sản phẩm trí tuệ, sản phẩm văn hoá như thế!

Trong hoạt động thực tiễn truyền đạt tri thức, Hồ Chí Minh đã mở những lớp huấn luyện lý luận cách mạng cho những nhà hoạt động cách mạng, những nhà trí thứ lớn. Người đóng góp to lớn vào việc xây dựng hệ thống giáo dục nhân dân và những quan điểm giáo dục mới ở Việt Nam.

Hồ Chí Minh là một nhà trí thức hoạt động thực tiễn. Người đã đào tạo rất nhiều nhà trí thức kiểu mới. Với đường lối công – nông – trí đoàn kết thành một khối, Người đã đưa nhiều nhà trí thức từ nghiên cứu sách vở xuống hoạt động thực tiễn và nhiều người lao động chân tay đến lớp học cũng như tự học trở thành những trí thức thực tiễn của dân tộc.

Tôi đồng ý với anh, Cụ Hồ là một nhà trí thức lớn của Việt Nam. Cái tôi chú ý nhất ở nhà trí thức Hồ Chí Minh là Người luôn tìm cách nâng cao dân trí và đặc biệt là đào tạo thật nhiều trí thức cho đất nước. Cách mạng vừa thành công Cụ đã mở một mặt trận to lớn chống giặc dốt. Cuộc chiến đấu chống ngoại xâm rất ác liệt, Cụ vẫn cho mở rất nhiều trường học để đào tạo trí thức cho cuộc kháng chiến. Cụ đã gửi rất nhiều thanh niên sang nước ngoài để học tập kiến thức về kiến thiết đất nước.

Có thể nói, vai trò của nhà trí thức Hồ Chí Minh là nâng cao trình độ tri thức cho dân tộc, rèn tạo đội ngũ trí thức kiểu mới, gắn trí thức với mọi hoạt động thực tiễn của dân tộc, nâng dân tộc Việt Nam lên một tầm cao trí tuệ mới của thời đại, đặt cơ sở cơ bản cho một xã hội học tập và chuẩn bị tích cực cho nền kinh tế trí thức.

Trong bối cảnh hiện nay, theo GS thì giới trí thức nước ta cần học tập và làm theo những phẩm chất nào nhất của Hồ Chí Minh?

Nhân cách văn hoá Hồ Chí Minh hội tụ trí thông minh của một nhà minh triết, lòng dũng cảm phi thường của một anh hùng, ý chí mạnh mẽ của một nhà đạo đức, tài năng của nhà nghệ sĩ, sự mềm dẻo và khôn khéo của một nhà ngoại giao, sự kiên định của người cộng sản và lòng khoan dung vô bờ của một người mẹ hiền .

Anh hỏi chúng ta nên làm theo những phẩm chất nào ở Hồ Chí Minh? Câu trả lời không dễ, bởi vì tuỳ công việc của mỗi người, tuỳ trình độ của mỗi người, tuỳ hoàn cảnh của mỗi người, chúng ta coi tấm gương nhân cách văn hoá Hồ Chí Minh là nguồn cổ vũ và giáo dục. Tôi nghĩ rằng, Hồ Chí Minh là một vĩ nhân, có rất nhiều phẩm chất của một vĩ nhân mà ta muốn làm theo cũng rất khó, đấy là chưa nói đến không thể. Tôi nhớ đến hai sự việc. Một sự việc vào năm 1945, ngay khi cách mạng mới thành công, trong hàng ngũ cách mạng đã xuất hiện rất nhiều ông quan cách mạng. Nhiều người đọc bức thư của Cụ Hồ gửi cho uỷ ban nhân dân các làng, các xã, các huyện, các tỉnh, các kỳ và muốn làm theo để chống lại mấy ông quan cách mạng tham ô, hủ hoá, nhưng quan điểm giai cấp coi công nông là tốt đẹp, là trong sạch, những người trí thức không có phương tiện và phương thức gì để giúp đỡ cách mạng chống lại những “ông quan cách mạng” ấy. Vào những năm cuối của thập kỷ 60 của thế kỷ XX, trong Di chúc của Cụ Hồ có viết đến một cuộc chiến đấu khổng lồ dựa vào nhân dân để chống lại những hư hỏng của cán bộ đảng viên. Cụ nói, trước tiên là xây dựng và chỉnh đốn Đảng. Công việc lớn như vậy vào những năm 60 của thế kỷ trước trong cơ chế quan liêu bao cấp, giới trí thức cũng bất lực không đóng góp gì được trước cái hư hỏng của xã hội. Trên quan điểm giai cấp ấu trĩ, có thời kỳ trí thức đã trở thành đối tượng cần cải tạo trước tiên.

Vậy trí thức của nước ta cần thể hiện vai trò của mình với dân tộc như thế nào trong công cuộc xây dựng và bảo vệ đất nước hiện nay?

Bây giờ, vào thời kỳ đổi mới, nhưng đổi mới lại đẻ ra rất nhiều quyền lực. Quyền lực chính trị, quyền lực của đồng tiền, quyền lực thế hệ. Trong xã hội, sự phân tầng rất nhanh, đơn giá cho nhiều sản phẩm của người lao động trí óc rất rẻ, địa vị xã hội của họ không được những chuẩn mực bảo hộ đúng đắn. Tôi đơn cử: một giáo sư, một viện sĩ sản xuất một cuốn sách từ 5 năm đến 10 năm, đưa đến nhà xuất bản, khi sách ra, họ được tiền nhuận bút 10% theo giá bìa và số lượng in. Cuốn sách nào cũng in với số lượng rất ít, tiền nhuận bút vô cùng ít ỏi. Các trí thức muốn phục vụ Tổ Quốc cũng khó.

Theo ý tôi, hiện nay trong xã hội Việt Nam có rất nhiều lĩnh vực vô chuẩn tạo ra tình trạng thiếu công bằng, quy luật giá trị của thị trường bị vi phạm nghiêm trọng. Chúng ta chuyển từ cơ chế quan liêu bao cấp sang cơ chế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Cái cơ chế này tồn tại còn lâu dài nhưng hệ thống lý luận về nó, công cụ hành chính điều chỉnh nó đang có chỗ bất cập, chưa hoàn thiện. Tôi nghĩ, hãy tập trung giới trí thức có năng lực lý luận và thực tiễn xây dựng cho được một hệ thống lý luận phát triển đất nước theo cơ chế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa đủ sức thuyết phục là một công việc lớn hiện nay.

Phản biện với mục đích xây dựng có phải là yêu nước, là có trách nhiệm với đất nước không?

Rõ ràng xã hội của chúng ta đang có rất nhiều vấn đề cần phải bàn, phải phản biện để làm rõ những cản trở, những mâu thuẫn, những vấn đề cần giải quyết để thúc đẩy xã hội tiến lên. Những vấn đề đó có liên quan trực tiếp đến vấn đề tôi vừa trình bày ở trên. Đó là xây dựng nội dung lý luận có tính thuyết phục về lộ trình phát triển cơ chế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa gắn với thực tiễn ở nước ta. Tích tụ ruộng đất cho sản xuất lớn trong nông nghiệp theo cơ chế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa là thế nào? Vì sao đất đai nhà nước quản lý mà lại lộn xộn và khiếu kiện như vậy? Vì sao sự phân tầng xã hội ta lại nhanh và sâu đến như vậy? Những vấn đề ngân hàng, tài chính, môi trường, công nghiệp hoá, hiện đại hoá… phạm vi phản biện xã hội đến đâu? Phản biện xã hội có trách nhiệm rồi có thể thực hiện được không? Rất nhiều vấn đề lý luận, mục tiêu thì tốt đẹp nhưng thực hiện được trong thực tế là rất khó. Tôi nghĩ rằng cần thiết phải phản biện xã hội để thiết lập cho được một số hệ chuẩn cơ bản làm cho xã hội ổn định, sinh thành và phát triển theo cơ chế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa trong đó phải thiết lập được hệ thống hữu hiệu khắc phục rủi ro, đề phòng khủng hoảng, ngăn chặn cái dốt, cái xấu, cái ác.

Phản biện xã hội có trách nhiệm trong lúc này chính là thể hiện lòng yêu nước tích cực. Hãy phát huy tinh thần yêu nước, lòng tự hào dân tộc để những phản biện có ý nghĩa tích cực, đẩy xã hội tiến lên.

Cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh” đã được phát động hơn 4 năm. Chúng tôi thấy sự hưởng ứng rất rộng rãi và sôi nổi. Với tư cách một chuyên gia nghiên cứu về Hồ Chí Minh, theo ông, cuộc vận động đã đem lại những hiệu quả xã hội như thế nào? Nó đã có những tác động đến đời sống của đất nước ra sao?

Điểm nổi bật trong tấm gương và tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh là các quan hệ đạo đức mới phải gắn với khoa học và pháp luật. Nên tập trung vào tiêu điểm những giá trị đạo đức dựa trên khoa học và pháp luật để học tập, giáo dục và làm theo. Khoa học, pháp luật sẽ giúp chúng ta hiểu đúng đắn và nên làm theo nhân cách phẩm chất đạo đức nào ở Hồ Chí Minh. Gắn việc học tập và làm theo tấm gương cũng như tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh với những cơ sở khoa học và chuẩn mực pháp luật, người học tập và làm theo sẽ có ý thức tự chủ và tự giác rõ ràng hơn.

Cụ Hồ đã đi xa hơn 40 năm rồi. Các thế hệ cháu chắt của Cụ hôm nay vẫn thông cảm sâu sắc trước nỗi đau thống thiết của Cụ trước những sai phạm về đường lối cải tạo nông nghiệp, công nghiệp, thương nghiệp ở Việt Nam trong tình hình thế giới có cuộc đối đầu khốc liệt. Cơ chế đạo đức do Cụ thiết lập trong thời kỳ quan liêu, bao cấp khi chuyển sang cơ chế thị trường, dù là cơ chế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa cũng đã biến đổi và biến dạng rất nhiều và rất mau chóng; Nó đã làm lỏng lẻo, lay chuyển, khoả lấp rất nhiều quan hệ đạo đức trong gia đình và ngoài xã hội. Sự phân tầng xã hội rất mau và rất sâu làm đảo lộn rất nhiều quan hệ đạo đức tốt đẹp do Cụ Hồ xây dựng trước đây. Nhiều người tốt, người lao động trung thực bị cái xấu, cái ác lừa đảo, tấn công trở thành bi kịch. Lối sống thực dụng đang gia tăng mạnh mẽ. Nhiều quan hệ xã hội hiện nay đang được bôi trơn bằng tiền bạc. Sự huênh hoang về những giá trị vật chất đang lấn át những giá trị tinh thần… Trước tình hình như vậy, cần phải học tập và làm theo những tư tưởng và tấm gương đạo đức tốt đẹp của Người trên cơ sở khoa học và pháp luật./.

Cơ chế đạo đức do Bác thiết lập trong thời kỳ quan liêu, bao cấp khi chuyển sang cơ chế thị trường, dù là cơ chế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa cũng đã biến đổi và biến dạng rất nhiều và rất mau chóng. Sự phân tầng xã hội rất mau và rất sâu làm đảo lộn rất nhiều quan hệ đạo đức tốt đẹp do Bác Hồ xây dựng trước đây. Nhiều người tốt, người lao động trung thực bị cái xấu, cái ác lừa đảo, tấn công trở thành bi kịch. Lối sống thực dụng đang gia tăng mạnh mẽ. Nhiều quan hệ xã hội hiện nay đang được bôi trơn bằng tiền bạc. Sự huênh hoang về những giá trị vật chất đang lấn át những giá trị tinh thần… Trước tình hình như vậy, cần phải học tập và làm theo những tư tưởng và tấm gương đạo đức tốt đẹp của Bác trên cơ sở khoa học và pháp luật. Tôi thấy việc học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh trong thời gian vừa qua dù ít hay nhiều đã khơi dậy được tính thiện trong cộng đồng, hướng mọi người đến những điều tốt đẹp và qua đó ngăn chặn được phần nào tình trạng suy thoái đạo đức xã hội, nhất là trong cán bộ, đảng viên.

Theo GS thì đời sống văn hoá nước nhà hiện nay đang có những vấn đề, những biểu hiện nào là đáng lo ngại, đáng chấn chỉnh, điều chỉnh nhất? Căn nguyên của tình trạng sa sút, bất cập đó là gì? Và chúng ta phải bắt đầu từ đâu để “căn chỉnh” lại nền văn hoá của chúng ta?

Nền văn hoá mà chúng ta đang xây dựng là một nền văn hoá của cơ chế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Nó cùng với nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa tạo thành một chỉnh thể hữu cơ của thể chế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta hiện nay. Nó vừa là sản phẩm vừa là động lực của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Nó phát triển và tồn tại suốt thời kỳ đổi mới trong thể chế kinh tế thị trường.

Kể từ năm Bính Dần (1986) đến nay nền văn hoá này đã trải qua 2 Giáp Dần, 5 kỳ đại hội Đảng. Mỗi kỳ đại hội Đảng nó lại được đổi mới cho sát với thực tiễn của nền kinh tế thị trường hơn. Tuy nhiên, thực tiễn hơn hai thập kỷ qua đã cho người ta nhận thấy rằng rất nhiều vấn đề về văn hoá cần phải quan tâm hơn nữa thì thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa mới trở thành một chỉnh thể phát triển nhịp nhàng. Các làn sóng xuất khẩu, đầu tư, tin học, các quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá, đô thị hoá diễn ra cấp tập đẩy nền văn hoá tiến tới hiện đại trong khi đó chưa có một cơ chế tổng thể đủ mạnh để gìn giữ những giá trị truyền thống. Rõ ràng, căn nguyên nhãn tiền là ta phát triển những giá trị hiện đại mà không có cơ chế đủ mạnh gìn giữ, phát huy những giá trị truyền thống. Ta phát triển thị trường tự do ào ạt mà sung lực của định hướng xã hội chủ nghĩa lại chưa đủ mạnh. Đó là chưa nói tới một vấn đề quan trọng là chúng ta giải quyết vấn đề lợi ích tập thể, lợi ích cá nhân không nhất quán, thiếu cơ sở khoa học làm cho chủ nghĩa cá nhân phát triển rất mạnh trong nền văn hoá, sản sinh ra những lối sống thực dụng đề cao quá mức các giá trị vật chất, xem thường thậm chí không chú ý đến đạo đức, đến các giá trị tinh thần. Nền văn hoá tình nghĩa bị sa sút, nền văn hoá biết xấu hổ bị mai một. Các văn kiện của Đảng suốt 20 năm qua liên tục chỉ mặt, đặt tên cho những hiện tượng tham nhũng, sa sút lý tưởng… nhưng chúng vẫn còn đó!

Trong Di chúc, Bác đã chỉ rõ những hư hỏng trong xã hội và đề xuất một cuộc chiến đấu khổng lồ để chống lại những hư hỏng đó, để xây dựng những cái tốt đẹp trong nền văn hoá mới. Cuộc chiến đấu này phải dựa vào sức mạnh vĩ đại của nhân dân. Theo Bác Hồ trong Di chúc, thì việc trước tiên là xây dựng và chỉnh đốn Đảng và việc đầu tiên là quan tâm đến các vấn đề con người. Con người đầu tiên Bác Hồ quan tâm đó là người cộng sản. Nếu người cộng sản mà đánh mất lý tưởng, sa sút về đạo đức thì không thể trở thành người lãnh đạo nền văn hoá mới mà sự thật, nhân dân cũng không cần những người như họ là người đầy tớ trung thành của mình.

Chúng ta thường hay nói tới một giải pháp để phát triển mạnh mẽ nền văn hoá là Đảng lãnh đạo, nhà nước quản lý, nhân dân làm chủ. Nhưng mà Đảng muốn lãnh đạo tốt nền văn hoá mới thì phải nâng cao năng lực lãnh đạo, phải chỉnh đốn phương pháp làm việc. Cũng như vậy, nhà nước muốn quản lý tốt nền văn hoá mới thì các quan chức của nhà nước phải trong sạch và bộ máy phải tổ chức có hiệu lực. Còn nhân dân không thể làm chủ tốt được nếu trình độ dân trí thấp và thiếu hiểu biết về pháp luật.

Trong Di chúc, Bác Hồ đã chỉ ra rằng, để xã hội có một nền văn hoá tốt đẹp thì đầu tiên phải là vấn đề con người. Ngoài vấn đề người cộng sản ra, chúng ta phải quan tâm đến đất đai cho nông dân, tiền lương và chỗ ở cho công nhân, việc làm và định hướng giá trị cho thanh niên, giải phóng tiềm năng sáng tạo của phụ nữ, thực hiện chính sách ưu đãi đối với người có công và người cao tuổi… Khi thực hiện tăng trưởng kinh tế, phát triển văn hoá phải quan tâm quyết liệt đến tiến bộ và công bằng xã hội.

Rõ ràng là nguyên nhân căn bản của sự sa sút về văn hoá là do trình độ tổ chức xã hội của chúng ta yếu kém, hệ thống lý luận về phát triển xã hội theo cơ chế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa chưa chặt chẽ, thiếu đồng bộ và nó chưa phản ánh được những vấn đề sâu xa của cuộc sống… Chúng ta chưa tổ chức và quản lý tốt nguồn lực con người, không quản lý tốt nguồn tài nguyên của đất nước, chưa hiểu hết và làm chủ được nguồn lực tài chính. Nguồn nhân lực, nguồn tài nguyên, nguồn tài chính là linh hồn của một nền văn hoá. Làm chủ được nhân lực, tài nguyên, tài chính chúng ta có thể điều chỉnh được hầu hết các quan hệ văn hoá; chúng ta có thể gìn giữ các di sản quý hiếm và hiện đại hoá nền văn hoá, chúng ta có thể khắc phục được những yếu kém và nuôi dưỡng những cái tốt đẹp.

Từ năm 1923 đã có người nói rằng, Hồ Chí Minh là đại diện của nền văn hoá của tương lai. Liệu bây giờ chúng ta có thể căn cứ vào những giá trị Hồ Chí Minh để sửa, và xây nền văn hoá của chúng ta?

Vâng, đúng là từ năm 1923, ông Menđenxtam – một nhà nghiên cứu văn hoá người Nga có tiếp xúc với Nguyễn Ái Quốc/ Hồ Chí Minh. Lúc đó, ông nhìn thấy trong nhân cách văn hoá Hồ Chí Minh rất nhiều điểm mới lạ so với văn hoá phương Tây và ông cho rằng từ nhân cách văn hoá Hồ Chí Minh toả ra một ánh sáng văn hoá của tương lai. Đó là một lời khen rất tuyệt vời về văn hoá giàu bản sắc Việt Nam. Thực tế lúc đó, Hồ Chí Minh là một nhân cách văn hoá Việt Nam hiện hữu chứ không phải là tương lai Việt Nam hay thế giới ngày mai mới xuất hiện những giá trị văn hoá ấy.

Từ năm 1923 cho đến khi Chủ tịch Hồ Chí Minh qua đời, nhân cách văn hoá Hồ Chí Minh ngày càng được nhân dân Việt Nam, nhân dân thế giới yêu chuộng hơn. Thậm chí, khi Chủ tịch Hồ Chí Minh qua đời được hơn 20 năm sau, năm 1990, tổ chức UNESCO còn tôn vinh Người là một nhà văn hoá kiệt xuất của Việt Nam. Nhân cách văn hoá Hồ Chí Minh có một năng lượng kế thừa và toả sáng những nhân cách văn hoá lỗi lạc trong lịch sử dân tộc Việt Nam tạo thành cả một thời đại mang tên mình.

Trong lịch sử dân tộc Việt Nam, có nhiều nhà văn hoá là sản phẩm và mang dấu ấn của mỗi giai đoạn lịch sử nhất định. Nhà văn hoá Nguyễn Trãi, nhà văn hoá Nguyễn Bỉnh Khiêm, nhà văn hoá Nguyễn Du đều là sản phẩm của thời đại mà các ông sống. Nhà văn hoá Hồ Chí Minh đánh dấu thời đại giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp, giải phóng xã hội, giải phóng con người của Việt Nam trong thế kỷ XX. Những di sản văn hoá của Người hiện thân của những phẩm giá dân tộc, rất giàu sức sống, đang toả sáng ở những năm đầu của thế kỷ XXI này.

Tôi nghĩ, lịch sử phát triển của dân tộc Việt Nam sẽ xuất hiện những nhà văn hoá mới kế thừa những giá trị của nhà văn hoá Hồ Chí Minh khi họ hoàn thành xuất sắc những nhiệm vụ lịch sử mới của thời đại và dân tộc.

Nếu vậy thì, theo GS, chúng ta, nhà nước và mỗi người dân cần phải làm gì, đặc biệt là vai trò của giới trí thức trong công cuộc vĩ đại nhưng gian khó và phức tạp này?

Chúng ta đang sống trong một thế giới đa cực đầy biến động nhanh chóng. Việt Nam đang vươn lên để khoả lấp những mất mát của những năm dài chinh chiến, để sánh vai cùng với những cường quốc khác trên thế giới. Điểm bắt đầu vươn lên của chúng ta rất mệt nhọc và vô cùng khó khăn: ruộng đất manh mún, công nghiệp, nông nghiệp đều kém phát triển, cơ sở hạ tầng còn chắp vá. Một thập kỷ nữa chúng ta mới phấn đấu trở thành nước công nghiệp… Tôi nghĩ, hiện nay đất nước đang cần đến nhiều nhà trí thức để xây dựng nền kinh tế tri thức. Vấn đề chính như tôi đã trình bày là giải phóng tiềm năng của những nguồn lực. Làm thế nào để đào tạo và sử dụng tốt trí thức để xây dựng đất nước ta hiện nay không phải là dễ. Cơ sở vật chất để sáng tạo, điều kiện vật chất và tinh thần cùng với những quan hệ đồng sự trong lao động sáng tạo đều là những bài toán khó trong cơ chế thị trường đang từng ngày, từng ngày tạo ra sự phân tầng xã hội rất nguy hiểm.

Trong xã hội của chúng ta hiện nay, ngành sản xuất tinh thần còn chưa được chú ý thích đáng và đúng mức do đó nó ảnh hưởng rất nhiều đến việc phát huy các tiềm năng lao động của trí thức. Có lẽ người trí thức hiện nay đang chờ nhu cầu của thị trường để sáng tạo và chờ những chính sách đột phá khả thi để sẵn sàng lao động.

Dù trong tình hình khó khăn và phức tạp như thế nào, tôi vẫn tin tưởng lòng yêu nước tuyệt vời và sức chịu đựng phi thường của người trí thức Việt Nam. Họ luôn gìn giữ phẩm giá cá nhân và phẩm giá dân tộc.

Bản chất của sự phát triển văn hoá là phát triển tự do của con người. Cụ Hồ Chí Minh nói rằng: Không có gì quý hơn độc lập tự do. C.Mác và Ph.Ăngghen cũng nói: “Phát triển tự do của mỗi người là điều kiện cho sự phát triển tự do của tất cả mọi người”. Người trí thức Việt Nam có văn hoá là những người rất yêu tự do. Họ hướng đến những giá trị tự do do Cụ Hồ, C.Mác và Ph.Ăngghen đề xuất để lao động, để sáng tạo, để phục vụ Tổ quốc, để phát triển nền văn hoá tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc ở Việt Nam./.

Phan Thắng (Thực hiện)
Theo Văn hóa Nghệ An

tutuonghochiminh.vn

Học và làm theo gương Bác là nhiệm vụ thường xuyên của các cấp uỷ, của mỗi cán bộ, đảng viên*

(ĐCSVN)Ngày 17/8, đồng chí Lê Hồng Anh, Ủy viên Bộ Chính trị, Thường trực Ban Bí thư Trung ương Đảng đã tới dự và phát biểu khai mạc Hội nghị quán triệt, triển khai thực hiện Chỉ thị 03-CT/TW của Bộ Chính trị và Kế hoạch 03-KH/TW của Ban Bí thư về tiếp tục đẩy mạnh việc học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh (khu vực phía Bắc). Báo điện tử Đảng Cộng sản Việt Nam trân trọng giới thiệu toàn văn bài phát biểu.

Hôm nay, trong không khí cả nước chuẩn bị kỷ niệm 66 năm Cách mạng Tháng 8 và Quốc khánh 2/ 9, tôi rất vui mừng đến dự và khai mạc Hội nghị cán bộ chủ chốt các đảng ủy, đảng đoàn, ban cán sự đảng các bộ, ngành, đoàn thể Trung ương, các tỉnh ủy, thành ủy khu vực phía Bắc quán triệt, triển khai thực hiện Chỉ thị 03-CT/TW của Bộ Chính trị và Kế hoạch 03-KH/TW của Ban Bí thư về tiếp tục đẩy mạnh việc học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh. Thay mặt Bộ Chính trị, Ban Bí thư Trung ương Đảng, tôi xin gửi tới các đồng chí lời chúc sức khỏe, hạnh phúc và thành công.

Tư tưởng và đạo đức Hồ Chí Minh là kết tinh những truyền thống tốt đẹp của dân tộc ta và tinh hoa văn hóa của nhân loại, là tài sản tinh thần vô giá của Đảng và nhân dân ta, là tấm gương sáng để mọi người Việt Nam học tập và noi theo. Trong những năm qua, thực hiện Nghị quyết Đại hội X của Đảng, Bộ Chính trị (khóa X) đã phát động Cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh” trong toàn Đảng và toàn xã hội. Cuộc vận động đã nhận được sự hưởng ứng, sự tham gia tích cực của đông đảo cán bộ, đảng viên và nhân dân, nhờ đó đã đạt được kết quả bước đầu quan trọng. Kết quả thực hiện Cuộc vận động đã khẳng định: việc học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh vừa có ý nghĩa cấp bách, trước mắt, vừa có ý nghĩa cơ bản, lâu dài đối với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc của toàn Đảng, toàn quân, toàn dân ta. Trên cơ sở đó, Đại hội XI của Đảng đã quyết định đưa việc học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh thành nhiệm vụ thường xuyên trong Đảng và xã hội.

Thực hiện Nghị quyết Đại hội, ngày 14/5/2011, Bộ Chính trị (khóa XI) đã ban hành Chỉ thị 03-CT/TW về “Tiếp tục đẩy mạnh việc học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”. Chỉ thị xác định rõ mục đích của việc tiếp tục đẩy mạnh học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh là: Phát huy kết quả đã đạt được, khắc phục những hạn chế trong việc thực hiện Cuộc vận động Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh trong thời gian qua, tiếp tục làm cho toàn Đảng, toàn dân, toàn quân nhận thức sâu sắc những nội dung cơ bản và giá trị to lớn của tư tưởng, đạo đức và phong cách Hồ Chí Minh; tạo chuyển biến mạnh mẽ và sâu rộng hơn nữa về ý thức tu dưỡng, rèn luyện, nâng cao đạo đức cách mạng, đấu tranh chống chủ nghĩa cá nhân, cơ hội, thực dụng, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống và các tệ nạn tham nhũng, tiêu cực; góp phần thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội XI của Đảng. Chỉ thị yêu cầu tiếp tục đẩy mạnh việc học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh phải trở thành nhiệm vụ thường xuyên, là trách nhiệm của các cấp ủy, tổ chức đảng, của mỗi cán bộ, đảng viên.

Để đạt được mục đích, yêu cầu đó, Bộ Chính trị yêu cầu cấp ủy đảng, trực tiếp là ban thường vụ cấp ủy, đồng chí bí thư cấp ủy phải trực tiếp chỉ đạo thực hiện, không thành lập ban chỉ đạo như trước đây. Ở Trung ương, chỉ đạo việc học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh trong toàn Ðảng và xã hội là nhiệm vụ của Ban Bí thư Trung ương Ðảng và đồng chí Tổng Bí thư; trong công tác lãnh đạo, chỉ đạo đòi hỏi phải đồng bộ, chặt chẽ, kết hợp việc tổ chức học tập, làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh với công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng, các cuộc vận động và các phong trào đang triển khai trong Đảng và trong xã hội; kết hợp giữa xây và chống với đẩy mạnh thực hiện nhiệm vụ chính trị của từng ngành, địa phương, cơ quan, đơn vị, góp phần thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội XI của Đảng.

Căn cứ vào nội dung Chỉ thị của Bộ Chính trị, Ban Bí thư Trung ương đã ban hành Kế hoạch số 03-KH/TW, xác định các công việc cần thực hiện trong nhiệm kỳ khóa XI của Đảng, tập trung vào 8 nhóm công việc cụ thể:

Một là, tiếp tục tổ chức học tập tư tưởng và tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh, bao gồm cả việc học tập và làm theo tác phong, phong cách của Bác, thể hiện cụ thể trong công việc thường ngày, trong quan hệ với nhân dân, đồng chí, đồng nghiệp… Đặc biệt nhấn mạnh việc làm theo qua những hành vi thiết thực, cụ thể.

Hai là, tiếp tục xây dựng và tổ chức thực hiện những chuẩn mực đạo đức theo tư tưởng và tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh, phù hợp với đặc điểm hoạt động của từng ngành, từng địa phương, cơ quan, đơn vị trong giai đoạn hiện nay.

Ba là, quy định rõ trách nhiệm tự giác đi đầu, gương mẫu của cán bộ lãnh đạo chủ chốt, người đứng đầu các cấp, của cán bộ, đảng viên. Xây dựng cơ chế kiểm tra, giám sát của tổ chức đảng và nhân dân đối với việc tu dưỡng, rèn luyện đạo đức của cán bộ, đảng viên.

Bốn là, đưa việc học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh vào sinh hoạt thường xuyên của tổ chức đảng, chính quyền, đoàn thể. Xây dựng và tổ chức thực hiện tốt chương trình hành động của tổ chức đảng, cơ quan, đơn vị; chương trình tu dưỡng, rèn luyện của cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức. Lấy kết quả học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh là một trong những tiêu chuẩn đánh giá, bình xét, phân loại đảng viên, tổ chức đảng hằng năm.

Năm là, tiếp tục chỉ đạo việc biên soạn chương trình, giáo trình về đạo đức Hồ Chí Minh để giảng dạy ở các cấp học, bậc học thuộc hệ thống giáo dục quốc dân và đào tạo, bồi dưỡng cán bộ ở các học viện, trường chính trị, trường đào tạo, bồi dưỡng cán bộ các cấp.

Sáu là, coi trọng việc giáo dục đạo đức, lối sống cho thế hệ trẻ. Cấp ủy, chính quyền, Mặt trận Tổ quốc và đoàn thể các cấp có biện pháp cụ thể để tổ chức, chỉ đạo thực hiện tốt việc giáo dục đạo đức, lối sống cho thế hệ trẻ theo tấm gương đạo đức Bác Hồ.

Bảy là, định kỳ tổ chức kiểm tra, đôn đốc, sơ kết, tổng kết, phát hiện và biểu dương các điển hình tiên tiến trong học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh. Phê bình, uốn nắn các nhận thức lệch lạc, những việc làm thiếu gương mẫu, nói không đi đôi với làm. Đấu tranh với các quan điểm sai trái, các biểu hiện quan liêu, tham nhũng, lãng phí.

Tám là, tiếp tục đẩy mạnh việc tuyên truyền về tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh, về các điển hình tiên tiến trong học tập và làm theo tấm gương đạo đức Bác Hồ bằng nhiều hình thức phong phú và sinh động.

Ban Tuyên giáo Trung ương, cơ quan được Bộ Chính trị giao là thường trực thực hiện nhiệm vụ này, đã ban hành hướng dẫn số 12- HD/BTGTW để triển khai thực hiện Chỉ thị của Bộ Chính trị, Kế hoạch của Ban Bí thư. Sau đây, lãnh đạo Ban Tuyên giáo Trung ương sẽ trình bày cụ thể hơn với Hội nghị về những nội dung quan trọng của các văn bản, cũng như hướng dẫn về việc tổ chức triển khai thực hiện Chỉ thị của Bộ Chính trị, Kế hoạch của Ban Bí thư.

Thực hiện thắng lợi Chỉ thị của Bộ Chính trị, để đưa việc học tập và làm theo tấm gương đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh trở thành công việc thường xuyên trong Đảng và xã hội, có vai trò và tác động lớn trong sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta, trực tiếp góp phần thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội XI của Đảng trong những năm tới. Nhằm tạo sự thống nhất về nhận thức và triển khai thực hiện có kết quả Chỉ thị của Bộ Chính trị, Ban Bí thư tổ chức Hội nghị cán bộ chủ chốt các cơ quan, tổ chức đảng trực thuộc Trung ương để quán triệt và triển khai thực hiện, chia làm hai khu vực. Hội nghị khu vực phía Nam đã tổ chức ngày 12/8/2011 tại Thành phố Hồ Chí Minh. Hội nghị của chúng ta hôm nay là Hội nghị thứ hai dành cho các tỉnh, thành phố khu vực phía Bắc và các đảng ủy, đảng đoàn, ban cán sự đảng các bộ, ngành, Mặt trận, đoàn thể ở Trung ương.

Để hội nghị có kết quả thiết thực, tôi đề nghị các đồng chí nghiên cứu, quán triệt kỹ mục đích, yêu cầu và các nội dung cơ bản trong Chỉ thị của Bộ Chính trị và Kế hoạch thực hiện của Ban Bí thư; trao đổi, thảo luận về trách nhiệm của Ban cán sự đảng, đảng đoàn, thường vụ cấp ủy các cấp trong thực hiện Chỉ thị của Bộ Chính trị, Kế hoạch của Ban Bí thư; các nhiệm vụ, phương thức chủ yếu để triển khai Chỉ thị có hiệu quả; góp phần nâng cao nhận thức, củng cố niềm tin của cán bộ, đảng viên và nhân dân trong học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh.

Tôi tin rằng, với nhận thức sâu sắc về ý nghĩa, tầm quan trọng của việc “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”, với trách nhiệm trước Đảng và nhân dân, nhất định Chỉ thị của Bộ Chính trị, Kế hoạch của Ban Bí thư sẽ được các cấp ủy, tổ chức Đảng thực hiện có kết quả tốt./.

——————–
* Đầu đề do Báo điện tử Đảng Cộng sản Việt Nam đặt

cpv.org.vn

Tư tưởng Hồ Chí Minh về chiến tranh nhân dân, ngọn cờ chỉ đường chiến thắng của quân và dân ta trong sự nghiệp chống Mỹ, cứu nước

Ðại thắng mùa Xuân 1975 để lại những bài học sâu sắc về sức mạnh toàn dân đánh giặc, sức mạnh tổng hợp của chiến tranh nhân dân, được xây dựng theo tư tưởng Hồ Chí Minh. Càng lùi xa với thời gian, ý nghĩa tư tưởng đó của Người càng lung linh tỏa sáng.

Tư tưởng chiến tranh nhân dân là một bộ phận trong tư tưởng Hồ Chí Minh. Tư tưởng Hồ Chí Minh bao gồm hệ thống quan điểm toàn diện và sâu sắc về những vấn đề cơ bản của cách mạng Việt Nam, là kết quả sự vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Marx-Lenin vào điều kiện cụ thể của nước ta, kế thừa và phát triển các giá trị truyền thống tốt đẹp của dân tộc, tiếp thu tinh hoa trí tuệ của nhân loại. Ðó là tư tưởng về giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp, giải phóng con người; về độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội, kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại; về sức mạnh của nhân dân, của khối đại đoàn kết toàn dân tộc; về quốc phòng toàn dân, xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân…

Tư tưởng Hồ Chí Minh là ngọn cờ lãnh đạo, ngọn cờ tập hợp, ngọn cờ động viên, cổ vũ nhân dân ta, quân đội ta làm nên kỳ tích vĩ đại trong Cách mạng Tháng Tám, những chiến công lừng lẫy suốt 30 năm chiến tranh giải phóng dân tộc, bảo vệ Tổ quốc. Trong sự nghiệp chống Mỹ, cứu nước, tư tưởng Hồ Chí Minh về chiến tranh nhân dân được phát huy lên những đỉnh cao mới. Tư tưởng ấy xuất phát từ tính chất cuộc chiến tranh chống xâm lược, chiến tranh yêu nước, chính nghĩa, cách mạng của thời đại. Ðó là chiến tranh giải phóng dân tộc, giành độc lập, thống nhất cho Tổ quốc, tự do, dân chủ, hạnh phúc cho nhân dân, mở đường đưa đất nước tiến lên chủ nghĩa xã hội, dưới sự lãnh đạo của Ðảng CS Việt Nam.

Mở đầu cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, trong “Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến”, Bác Hồ viết: “Thà hy sinh tất cả chứ nhất định không chịu mất nước, nhất định không chịu làm nô lệ”. Bước vào cuộc chiến đấu chống đế quốc Mỹ, Chủ tịch Hồ Chí Minh và Ðảng ta đề ra hai chiến lược cách mạng là xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền bắc và giải phóng miền nam, thống nhất đất nước. Ở thời kỳ chống Mỹ, cứu nước, xây dựng quyết tâm giành độc lập cho dân tộc, giải phóng miền nam, thống nhất Tổ quốc là đặc điểm nổi bật trong tư tưởng Hồ Chí Minh về chiến tranh nhân dân. Trước tội ác “trời không dung, đất không tha” của giặc Mỹ – tay sai, Bác Hồ khẳng định: “Không có gì quý hơn độc lập, tự do”, “Lúc này chống Mỹ, cứu nước là nhiệm vụ thiêng liêng nhất của mọi người Việt Nam yêu nước”, “Hễ còn một tên xâm lược trên đất nước ta thì ta còn phải tiếp tục chiến đấu, quét sạch nó đi”, “Vì độc lập, Vì tự do,/ Ðánh cho Mỹ cút, đánh cho ngụy nhào”.

Với quyết tâm ấy, dưới ngọn cờ của Ðảng, tư tưởng Hồ Chí Minh, toàn Ðảng, toàn dân, toàn quân ta đã xốc tới cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân năm 1975 lịch sử.

Từ khái quát tư tưởng Hồ Chí Minh trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, chúng ta hiểu sâu hơn tư tưởng của Người về chiến tranh nhân dân. Trước hết, Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định vai trò to lớn của quần chúng trong chiến tranh nhân dân Việt Nam hiện đại. Trước thế kỷ 20, dân tộc Việt Nam đã từng tiến hành nhiều cuộc chiến tranh với sự tham gia của nhân dân ở mức độ khác nhau, đã đánh bại nhiều thế lực xâm lược hung bạo, trong đó có cả kẻ thù sừng sỏ Mông – Nguyên. Nhưng sau Cách mạng Tháng Tám thắng lợi, dân tộc ta lại phải lần lượt đương đầu với những kẻ thù hoàn toàn mới, khác hẳn với các kẻ thù thời trước. Ðiều kiện lịch sử mới phải có lý luận mới về chiến tranh nhân dân hiện đại, trong đó việc xác định đặc điểm thời đại, tính chất chiến tranh, nguồn lực cơ bản để tiến hành kháng chiến được đặt lên hàng đầu. Bởi vậy, ngay trong thời kỳ chuẩn bị cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp trong phạm vi cả nước, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ rõ sự khác nhau giữa chiến tranh hiện đại và chiến tranh trước đây, qua đó xác định vai trò và nguồn lực chủ yếu trong chiến tranh hiện đại.

Người viết “Trước kia, chỉ có quân đội đánh nhau ở tiền tuyến và trên mặt đất hay trên mặt nước, nên người ta gọi là bình diện chiến tranh. Ngày nay, đánh nhau ở cả trên không và cả ở tiền tuyến cũng như ở hậu phương, nên người ta gọi là lập thể chiến tranh. Trước kia, chỉ đánh nhau về mặt quân sự, ngày nay đánh nhau về đủ mọi mặt: quân sự, kinh tế, chính trị, tư tưởng nên người ta gọi là toàn diện chiến tranh. Chiến tranh ngày nay phức tạp và hết sức khó khăn. Không dùng toàn lực của nhân dân về đủ mọi mặt để ứng phó, không thể thắng lợi được”(1).

Bước sang thời kỳ chống Mỹ, cứu nước, Người phát triển quan điểm trên và nhấn mạnh: Phải nâng cao kiến thức quân sự cho toàn dân, “Giáo dục nhân dân từ các cháu đến ông già, bà cả về chiến tranh nhân dân và quân đội nhân dân”, tạo điều kiện cho nhân dân phát huy cao độ tinh thần yêu nước và mưu trí, sáng tạo trong chiến đấu. Người còn căn dặn: Nói giành thắng lợi quân sự, nhưng phải chú ý đến giữ sức dân, người của kiệt thì quân nhiều không đánh được.

Quán triệt tư tưởng của Người, trong suốt thời kỳ chống Mỹ, cứu nước, Ðảng và Nhà nước ta hết sức chăm lo cho nhân dân về đủ mọi mặt. Dưới sự lãnh đạo của Ðảng, nhân dân cả nước trở thành một khối thống nhất, cao trào cách mạng dâng cao trong mọi giới, mọi ngành. Ðó là phong trào hành động cách mạng: “Mỗi người làm việc bằng hai vì miền nam ruột thịt”, “Chắc tay súng, vững tay cày”, “Ba sẵn sàng”, “Ba đảm đang”, “Làm nghìn việc tốt”. Nhờ vậy, sức mạnh chiến đấu của toàn dân Việt Nam trên cả hai miền nam – bắc được nhân lên gấp bội, phát triển mạnh mẽ. Sự đóng góp sức của, sức người “thóc không thiếu một cân, quân không thiếu một người” của nhân dân miền bắc là tấm lòng, là quyết tâm của cả nước đối với sự nghiệp giải phóng miền nam.

Trong giai đoạn cuối chiến tranh “toàn lực của nhân dân về đủ mọi mặt” được phát huy cao độ, kết hợp với sức mạnh của thời đại, thực lực cách mạng ngày càng lớn mạnh. Nhờ có thực lực cách mạng mạnh, ta đã tạo ra thời cơ và khi thời cơ đến, ta nhanh chóng mở cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân 1975, kết thúc thắng lợi cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước.

Thứ hai, Người nhấn mạnh phát huy tinh thần độc lập, tự chủ, giữ vững chủ động trong chiến tranh: Ðộc lập, tự chủ và giữ vững chủ động là hai quan điểm nổi tiếng mà Người đã nêu ra. Từ quan điểm đó, Người xác định sức mạnh của công cuộc giải phóng: “Công cuộc giải phóng anh em chỉ có thể thực hiện được bằng nỗ lực của bản thân anh em.”

Quán triệt sâu sắc tư tưởng đó của Người, trong các chặng đường cách mạng, Ðảng ta luôn luôn chủ động, độc lập, tự chủ trong việc hoạch định đường lối cách mạng cũng như trong việc tổ chức lực lượng và chỉ đạo thực tiễn sắc bén để giải quyết các vấn đề trọng đại của đất nước.

Ngay sau khi cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp kết thúc thắng lợi, phát biểu tại Hội nghị Trung ương Ðảng lần thứ sáu (7-1954), Người khẳng định: “Bất kỳ hòa bình hoặc chiến tranh, ta cũng phải nắm vững chủ động, phải thấy trước, chuẩn bị trước”(2). Năm 1956, viết bài đăng trên báo Sự Thật (Liên Xô) Người nêu rõ là trong tình hình quốc tế hiện nay, những đặc điểm dân tộc và những điều kiện riêng biệt ở từng nước ngày càng trở thành nhân tố quan trọng trong việc vạch ra chính sách của mỗi Ðảng cộng sản. Người giải thích với bạn bè quốc tế: “Dân tộc Việt Nam phải vạch ra những phương pháp và biện pháp riêng của mình để chống âm mưu của đế quốc Mỹ và chính quyền tay sai hòng vĩnh viễn chia cắt đất nước cũng như để quá độ dần dần lên chủ nghĩa xã hội là điều thật rõ ràng…”(3).

Cân nhắc tất cả những nhân tố liên quan, theo định hướng lớn mà Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định là con đường giải phóng miền nam chỉ là con đường cách mạng, đầu năm 1959, Hội nghị Trung ương Ðảng lần thứ 15 đã xác định con đường phát triển cơ bản của cách mạng Việt Nam ở miền nam là khởi nghĩa giành chính quyền về tay nhân dân. Dưới ánh sáng Nghị quyết của Ðảng, phong trào “đồng khởi” của nhân dân đã nổ ra, phát triển thành chiến tranh cách mạng; vừa đấu tranh chính trị vừa đấu tranh quân sự, làm phá sản chiến lược “chiến tranh đặc biệt” của đế quốc Mỹ.

Hòng cứu vãn tình thế thất bại, đầu năm 1965, đế quốc Mỹ ồ ạt đưa quân viễn chinh vào trực tiếp tham chiến ở miền nam, đồng thời dùng không quân, hải quân mở rộng chiến tranh phá hoại ra miền bắc. Cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của nhân dân ta đứng trước thử thách nghiêm trọng chưa từng thấy. Nhiều nước lo ngại Việt Nam khó có thể đương đầu nổi với Mỹ. Song, với tư duy biện chứng, khoa học, Ðảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh đánh giá đúng sức mạnh của Mỹ, đồng thời cũng nhận rõ những hạn chế và chỗ yếu của đối phương, nên đã nhận định: Ðế quốc Mỹ đưa vào miền nam hàng chục vạn quân viễn chinh, nhưng lực lượng so sánh giữa ta và địch vẫn không thay đổi lớn. Từ nhận định đó, Ðảng ta chủ trương động viên lực lượng cả nước kiên quyết đánh bại cuộc chiến tranh xâm lược của đế quốc Mỹ trong bất cứ tình huống nào.

Sau thắng lợi to lớn của cuộc Tổng tiến công chiến lược năm 1972 và chiến công vang dội của quân và dân ta đập tan cuộc tập kích chiến lược bằng máy bay B52 vào Hà Nội, Hải Phòng, giới cầm quyền Mỹ buộc phải ký Hiệp định Paris về Việt Nam, rút hết quân Mỹ về nước. Tuy nhiên, với bản chất cực kỳ tàn bạo và ngoan cố, đối phương đã phá hoại Hiệp định Paris một cách hệ thống. Trước tình hình đó, quán triệt sâu sắc tư tưởng Hồ Chí Minh, Hội nghị lần thứ 21 BCH T.Ư Ðảng (10-1973) khẳng định: “Bất kể trong tình hình nào ta cũng phải nắm vững thời cơ, nắm vững đường lối chiến lược tiến công”.

Với tư tưởng chỉ đạo đó, từ cuối năm 1973, Quân khu 9 đã phản công địch lấn chiếm và đầu năm 1975, ta chủ động tiến công và giải phóng hoàn toàn tỉnh Phước Long, một tỉnh có vị trí chiến lược quan trọng gần Sài Gòn. Thắng lợi đó giúp cho ta có thêm căn cứ thực tiễn quyết định mở chiến dịch Tây Nguyên. Tây Nguyên thắng lợi tạo thời cơ thuận lợi cho quân dân ta giải phóng Huế – Ðà Nẵng và hội tụ lực lượng giải phóng Sài Gòn.

Sau này, trên cơ sở phân tích những tài liệu thu thập được, giới nghiên cứu chiến lược Mỹ đã phải chua chát thừa nhận: “Ưu thế hơn hẳn của chiến tranh cách mạng Việt Nam là nằm trong thế chiến lược chủ động. Mỹ như phải nhảy theo điệu nhạc chiến lược của Bắc Việt Nam. Chiến lược chủ động của Bắc Việt có một giá trị đặc biệt. Chúng ta thừa nhận chiến lược chủ động của Việt cộng”(4).

Chiến lược chủ động của chiến tranh cách mạng Việt Nam “có giá trị đặc biệt” như đối phương thừa nhận, có cơ sở tư tưởng là quan điểm về tính chủ động “nắm vững chủ động” của Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Thứ ba, Người khẳng định rằng chiến tranh nhân dân phải có lực lượng vũ trang ba thứ quân làm nòng cốt, có hậu phương vững mạnh. Căn cứ vào mục tiêu và động lực của cuộc chiến tranh nhân dân Việt Nam hiện đại, tư tưởng chiến tranh nhân dân của Người đã đề cập một cách hệ thống các quan điểm về đoàn kết toàn dân, động viên sức mạnh toàn dân đánh giặc; vũ trang toàn dân đi đôi với việc xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân ba thứ quân; phát huy ưu thế của chế độ mới và mọi nguồn lực của quốc gia, tranh thủ các nguồn lực quốc tế… Với hệ thống các quan điểm đó, dưới sự lãnh đạo của Ðảng, cuộc chiến tranh nhân dân Việt Nam trong thời kỳ chống thực dân Pháp  phát triển mạnh.

Ðến thời kỳ chống Mỹ, do đặc điểm đất nước ta tạm thời chia làm hai miền, do đối tượng của cách mạng khác trước, Chủ tịch Hồ Chí Minh phát triển thêm các quan điểm ở những khâu chủ yếu như: phát huy cao độ tinh thần quyết chiến, quyết thắng giặc Mỹ xâm lược; xây dựng lực lượng chính trị, lực lượng du kích và các hình thức đấu tranh của các lực lượng đó ở miền nam; sự phối hợp chiến đấu giữa các lực lượng chống chiến tranh phá hoại của Mỹ ở miền bắc, Người quan tâm nhiều đến hai khâu then chốt. Một là, phải xây dựng quân đội vững mạnh toàn diện. Hai là, phải xây dựng hậu phương thật vững chắc.

Ở hai khâu then chốt này, Người lưu tâm việc xây dựng và phát triển các quân chủng, binh chủng kỹ thuật, nhất là không quân để “mở mặt trận trên không”, đến lực lượng cơ động và bộ đội tinh nhuệ, đến đội ngũ cán bộ cấp cao quân đội và cử những cán bộ có kinh nghiệm tác chiến tập trung vào chiến trường “cùng đồng bào miền nam đánh Mỹ cho kỳ thắng lợi”. Người nhiều lần dặn dò các đồng chí lãnh đạo, chỉ huy chủ chốt ở chiến trường ra bắc họp là phải hết sức chăm lo xây dựng hậu phương tại chỗ ở miền nam. Người căn dặn các đồng chí hoạt động đối ngoại, nêu rõ là ta cần phát huy ưu thế chiến tranh chính nghĩa của ta, làm cho bạn tin vào cuộc chiến đấu của ta nhất định thắng lợi, để qua đó tranh thủ sự ủng hộ vật chất, tinh thần cao hơn trước. Người nhắc nhở các cấp ủy Ðảng phải quan tâm đến giao thông vận tải. Bởi vì, giao thông vận tải thắng lợi, tức là chiến tranh đã thắng lợi một phần rồi.

Quán triệt sâu sắc tư tưởng của Người, Ðảng ta đã đưa cuộc chiến tranh nhân dân trong thời kỳ chống Mỹ, cứu nước phát triển nhảy vọt chưa từng thấy với nhiều nội dung và hình thức mới. Thêm vào đó, qua thực tiễn chiến đấu, quần chúng lại sáng tạo thêm nhiều  cách đánh hay, thắng gọn, làm cho cuộc chiến đấu của quân dân ta càng đa dạng về loại hình tác chiến, sâu đậm về tính nhân dân, phong phú về sự kết hợp giữa thô sơ với hiện đại. Quân Mỹ rơi vào thế trận đó, bị tiêu hao, bị tiêu diệt ngày càng nhiều, ý chí ngày càng suy sụp. Giới cầm quyền Mỹ, mặc dù nhiều cuồng vọng và mưu đồ, nhưng cuối cùng cũng nhận thấy Mỹ không thể thắng nổi đối phương, buộc phải rút quân về nước. Rơi vào thế trận chiến tranh nhân dân, quân ngụy bị đánh từ mọi phía, mọi nơi, tinh thần chiến đấu ngày càng giảm sút. Trong khi đó, ta càng đánh càng mạnh. Giai đoạn cuối chiến tranh, thế và lực của ta phát triển mạnh mẽ. Ðiều quan trọng là chất lượng chiến đấu của quân ta hơn hẳn quân địch. Các quân đoàn chủ lực cơ động chiến lược của ta đã đứng chân ở những địa bàn trọng yếu. Hệ thống đường giao thông vận tải, đường ống xăng dầu được nối thông suốt từ hậu phương đến tiền tuyến, đáp ứng nhu cầu chiến tranh hiện đại.

Xây dựng hậu phương theo tư tưởng Hồ Chí Minh, miền bắc đã phát huy sức mạnh to lớn của mình trong chiến tranh cách mạng. Vượt qua hai lần chiến tranh phá hoại khốc liệt của quân thù, miền bắc vẫn đứng vững và có bước phát triển mới. Trong chặng đường chống Mỹ, cứu nước, hợp tác xã nông nghiệp ở miền bắc giữ vững sản xuất và cung cấp hai triệu lao động cho lực lượng vũ trang và phục vụ chiến đấu. Trước khi vào Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân 1975, theo kế hoạch Bộ Chính trị thông qua, hậu phương lớn chi viện cho tiền tuyến lớn 56 vạn tấn vật chất. Bằng sự cố gắng cao độ, hậu phương miền bắc đã hoàn thành vượt chỉ tiêu đó.

Bước vào Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử, các đơn vị bộ đội chủ lực đã được trang bị đầy đủ về mọi mặt. Các trang bị chủ yếu như: vũ khí, xe cộ, lương thực, thực phẩm… đều vượt mức yêu cầu. Ðược như thế là do miền bắc đã dốc vào chiến tranh cứu nước và giữ nước toàn bộ sức mạnh của chế độ xã hội chủ nghĩa và đã làm tròn một cách xuất sắc nghĩa vụ căn cứ địa cách mạng cả nước. Từ sức mạnh đó, quân dân ta đánh địch trên thế mạnh, áp đảo, kết thúc chiến tranh hợp với quy luật mạnh thắng, yếu thua.

Ðại thắng mùa Xuân 1975 để lại những bài học sâu sắc về nguồn sức mạnh vô địch của chiến tranh nhân dân chống xâm lược. Ðó là sức mạnh toàn dân đánh giặc, sức mạnh tổng hợp của chiến tranh nhân dân được xây dựng theo tư tưởng Hồ Chí Minh. Càng lùi xa với thời gian, ý nghĩa tư tưởng đó của Người càng lung linh tỏa sáng.

Dưới ánh sáng tư tưởng chiến tranh nhân dân Hồ Chí Minh, dân tộc Việt Nam đã làm nên chiến thắng vĩ đại mùa Xuân 1975, giải phóng hoàn toàn miền nam, thống nhất đất nước, đưa cả nước đi lên chủ nghĩa xã hội, từng bước xây dựng Tổ quốc Việt Nam giàu mạnh như lời dặn của Bác Hồ kính yêu.

———————-

1. Q.Th: “Hình thức chiến tranh ngày nay”. Báo Cứu quốc ngày 20-09-1946.

2. Hồ Chí Minh, Toàn tập, Tập 7, Sdd, 1996, trang 317.

3. Nghiên cứu Văn kiện Ðảng về chống Mỹ, cứu nước, Nxb Sự Thật, H, 1986, trang 325.

4. Davidson, Những bí mật của chiến tranh Việt Nam, Tạp chí Quốc phòng toàn dân, tháng 12-1994, trang 46.

LÊ VĂN THÁI
(Viện Lịch sử Quân sự Việt Nam)

nhandan.com.vn

Tư tưởng Hồ Chí Minh quy tụ mọi lực lượng để dựng nước và giữ nước

Nếu nghe ai ca tụng cái vĩ đại của Bác thì được Bác trả lời: một mình tôi thì làm được cái gì? Thiên tài của Bác chính là biết tập hợp lực lượng, biết quy tụ mọi sức mạnh có thể quy tụ được để dựng nước và giữ nước.

"Các vua Hùng đã có công dựng nước, Bác cháu ta phải cùng nhau giữ lấy nước" - Ảnh tư liệu.

Trong lịch sử dân tộc, cũng có thời kỳ chia rẽ nội bộ như “Thập nhị sứ quân”, Trịnh – Nguyễn phân tranh, “Nam Kỳ quốc” v.v… nhưng quy luật chung của sự phát triển vẫn là sự đồng tâm nhất trí, sự quy tụ lực lượng với hình tượng “bó đũa”, “Một cây làm chẳng nên non, ba cây chụm lại nên hòn núi cao”. Nguyên lý đó dựa trên thực tế xã hội Việt Nam: sự phân hóa và đấu tranh giai cấp trong nội bộ xã hội bị chi phối và phụ thuộc vào mâu thuẫn lớn hơn: giữa dân tộc Việt Nam và giai cấp thống trị ngoại bang – mâu thuẫn đối kháng cao nhất.

Vốn mang truyền thống đại đoàn kết dân tộc, người thanh niên yêu nước Nguyễn Tất Thành trên lộ trình tìm đường cứu nước, nắm được học thuyết Mác–Lênin, phân tích rõ thực trạng xã hội Việt Nam, giải quyết chính xác mối quan hệ giữa giai cấp và dân tộc trong cách mạng Việt Nam.

Nếu trước kia Mác cho rằng giai cấp vô sản trước hết phải trở thành dân tộc, rằng đấu tranh để giải phóng nhân loại là tiền đề để giải phóng giai cấp vô sản thì Bác Hồ coi giải phóng dân tộc là tiền đề để giải phóng giai cấp bị áp bức bóc lột trong xã hội Việt Nam. Nếu dân tộc không được giải phóng khỏi ách áp bức bóc lột của giai cấp tư bản đế quốc thì muôn đời cũng không giải phóng được nhân dân lao động.

Sự sáng tạo của tư tưởng Hồ Chí Minh được thể hiện trên hai mặt. Một mặt phải tìm mọi khả năng quy tụ nhân dân thuộc mọi tầng lớp xã hội có lòng yêu nước thương nòi vào một mặt trận rộng lớn, chống quan điểm biệt phái, quan điểm giai cấp cực đoan có hại cho cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc. Mặt khác, phải từng bước giải quyết mâu thuẫn giai cấp trong nội bộ xã hội Việt Nam, chủ yếu là giữa nông dân với địa chủ, bằng những biện pháp thích hợp (hiến điền, giảm tô, tức, tạm cấp ruộng đất v.v…) để tăng cường sức dân nhưng không phá vỡ mặt trận đoàn kết dân tộc. Sự quy tụ lực lượng rộng rãi đó đã tạo nên sức mạnh quyết định thắng lợi của sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc. Và cũng nhờ đó làm thất bại chính sách chia để trị của kẻ thù trong bất cứ giai đoạn nào.

Sau khi giành được độc lập, thống nhất Tổ quốc chuyển sang xây dựng xã hội mới, phải chăng chúng ta đã coi nhẹ sự quy tụ lực lượng toàn dân tộc theo mục tiêu “Dân giàu, nước mạnh” và quá lo sợ, đề cao việc xóa bỏ ngay mâu thuẫn giai cấp trái quy luật lịch sử – tự nhiên, đốt cháy những giai đoạn quá độ cần thiết và lâu dài. Bị ám ảnh bởi những mô hình cải tạo xã hội chủ nghĩa, công nghiệp hóa và quản lý kinh tế, quản lý xã hội của Liên Xô, chúng ta đã bỏ mất thời cơ lớn để tập hợp lực lượng, phát triển mạnh sản xuất và nâng cao đời sống nhân dân, dẫn đến khủng hoảng kinh tế – xã hội.

Từ khi tiến hành đổi mới, chuyển sang kinh tế thị trường với sự phát triển của nhiều thành phần kinh tế, quan trọng nhất là sự giải phóng lực lượng sản xuất trong nông nghiệp quan hệ đến hàng chục triệu lao động cùng với sự khai thác khả năng tiềm tàng của các tầng lớp xã hội khác, bộ mặt kinh tế – xã hội của đất nước đã có nhiều thay đổi lớn.

Tuy nhiên, cũng phải từng bước giải quyết những mâu thuẫn giai cấp, đảm bảo lợi ích của nhân dân lao động nhưng không làm tổn hại đến sự quy tụ lực lượng rộng rãi. Chính sách của Đảng và luật pháp của Nhà nước phải đồng thời giải quyết tốt nhất cả hai mặt đó. Vừa qua, về mặt kinh tế, chúng ta chậm ban bố các luật đầu tư trong nước, luật chống độc quyền, luật lao động v.v… có liên quan đến việc quy tụ lực lượng và giải quyết mâu thuẫn giai cấp.

Tư tưởng Hồ Chí Minh cũng đã chỉ rõ nguyên lý phải biết kết hợp chặt chẽ sự quy tụ lực lượng trong nước với lực lượng tiến bộ trên thế giới để đấu tranh và xây dựng Tổ quốc. Ngay từ buổi ban đầu cách mạng cho đến lúc hoàn thành giải phóng dân tộc, tư tưởng Hồ Chí Minh luôn nhất quán đề cao ngọn cờ chính nghĩa của dân tộc Việt Nam để tranh thủ rộng rãi sự đồng tình và giúp đỡ của cả nhân loại tiến bộ. Không chỉ riêng các nước xã hội chủ nghĩa mà cả các nước dân tộc chủ nghĩa, các chính phủ tiến bộ, các tầng lớp xã hội, nhân sĩ, một số nhân vật trong giới cầm quyền không tán thành chiến tranh xâm lược v.v… đã đồng tình, ủng hộ và giúp đỡ nhân dân Việt Nam.

Bước vào thời kỳ xây dựng đất nước, chúng ta đã đánh mất một phần sự ủng hộ quốc tế đó, mà đáng ra phải được tăng cường hơn trước. Cũng giống như tình trạng quy tụ lực lượng trong nước, chúng ta đã muốn làm trong sạch ngay các quan hệ kinh tế đối ngoại, quá lo sợ về sự xâm nhập của chủ nghĩa thực dân mới trong khi đã nắm vững chính quyền cả nước.

Từ một nước chậm phát triển, chúng ta bị cô lập với thế giới tư bản đang nắm khoa học kỹ thuật, công nghệ tiên tiến nhất cùng với vốn đầu tư và thị trường rộng lớn. Điều kiện quốc tế của sự phát triển đất nước bị hạn hẹp và chịu chung số phận khủng hoảng cùng với các nước xã hội chủ nghĩa trước những cú sốc của thế giới và nội địa.

Chuyển sang thời kỳ đổi mới, nhất là từ sau khi Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa Đông Âu tan rã, chúng ta đã điều chỉnh lại quan hệ đối ngoại, “làm bạn với tất cả các nước trên thế giới”, nhất là các nước trong khu vực.

Muốn quy tụ lực lượng trong điều kiện quốc tế ngày nay, phải tìm được những mục tiêu chung với các đối tác, tạm gác những nét khác biệt, thậm chí cần phải bắt tay với những kẻ thù cũ đã biết tôn trọng lợi ích đôi bên. Cửa phải mở rộng nhưng phải thường xuyên quét sạch rác rưởi, vi trùng, đảm bảo môi trường trong sạch. Yếu tố quyết định thắng lợi của sự quy tụ lực lượng trên thế giới vẫn là sự lớn mạnh, trưởng thành của bản thân nhân dân ta.

Những thành tựu đạt được trong mấy năm qua là kết quả tổng hợp của sự quy tụ lực lượng trong nước và trên thế giới. Tư tưởng Hồ Chí Minh sẽ tiếp tục soi sáng cho chúng ta trong một thời kỳ phát triển mới: công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước theo lời dặn của Bác:

Dân ta nên nhớ chữ đồng
Đồng tình, đồng sức, đồng lòng, đồng minh.

TRẦN BẠCH ĐẰNG
5-1994
(theo Đến với Tư tưởng Hồ Chí Minh – NXB Trẻ, 2-2007)

Tuổi trẻ Online

Tuyên ngôn độc lập và những tư tưởng mang tính thời đại

Quảng trường Ba Đình ngày 2-9-1945 - Ảnh tư liệu

Bản Tuyên ngôn Độc lập do Chủ tịch Hồ Chí Minh khởi thảo và tuyên đọc trước quốc dân đồng bào tại Quảng trường Ba Đình lịch sử ngày 2-9-1945 thực sự là một áng văn bất hủ trong di sản văn hóa và tư tưởng Việt Nam để khẳng định quyền tự chủ của dân tộc.

>> Nghe Hồ chủ tịch đọc Tuyên ngôn độc lập

Nó có thể sánh với những áng “thiên cổ hùng văn” mà ông cha ta đã để lại trong sự nghiệp dựng nước và giữ nước của cả ngàn năm tồn tại trong mối quan hệ với phương Bắc như “áng thơ thần bên sông Như Nguyệt”gắn với cuộc kháng chiến chống Tống của Lý Thường Kiệt, như Hịch tướng sĩ văn thời Trần Hưng Đạo thống lĩnh toàn dân ba lần đánh bại giặc Nguyên – Mông, hay Đại cáo Bình Ngô của Nguyễn Trãi tuyên cáo về chiến thắng vẻ vang của cuộc kháng chiến trường kỳ đánh đuổi giặc Minh đô hộ dưới ngọn cờ của minh quân Lê Lợi…

Một văn bản pháp lý rất hiện đại

Nhưng với Tuyên ngôn Độc lập ra đời vào một thời điểm có ý nghĩa lịch sử đối với toàn thế giới khi cuộc đại chiến lần thứ hai kết thúc lại mang một giá trị đặc biệt. Nó không còn trong giới hạn của khẳng định về quyền tự chủ của dân tộc ta đối với nước láng giềng phương Bắc của “Nam quốc sơn hà Nam đế cư” mà còn khẳng định được với toàn thế giới về sự ra đời một nước Việt Nam hiện đại, không chỉ thoát ly chế độ thuộc địa của thực dân Pháp đã đầu hàng, từ tay chủ nghĩa phát xít Nhật đã bại trận, mà còn chấm dứt luôn cả chế độ quân chủ từng tồn tại cả ngàn năm bằng sự thoái vị của ông vua cuối cùng của triều Nguyễn. Hơn thế nữa, nhà nước này lại là thành quả của “một dân tộc gan góc đứng về phe Đồng Minh chống phát xít mấy năm nay” do vậy mà “dân tộc đó phải được tự do. Dân tộc đó phải được độc lập”.

Chúng ta đều biết rằng Chủ tịch Hồ Chí Minh bắt tay vào việc soạn thảo văn kiện này vào đêm 28-8-1945, ngay sau khi Chính phủ lâm thời của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ra tuyên cáo “là một chính phủ quốc gia thống nhất giữ trọng trách là chỉ đạo cho toàn thể, đợi ngày triệu tập được Quốc hội để cử ra một Chính phủ Dân chủ Cộng hòa chính thức”. Và ai cũng biết rằng chính phủ lâm thời này được thành lập trên cơ sở cải tổ Ủy ban Dân tộc Giải phóng được thành lập tại Quốc dân Đại hội Tân Trào trước đó hơn mười ngày (17-8). Việc cải tổ này lại được thực hiện bởi một hành vi rất cao cả là nhiều ủy viên Việt Minh tự rút lui nhường chỗ cho các nhân sĩ ngoài Việt Minh vào tham chính. “Đó là một cử chỉ vô tư, tốt đẹp, không ham chuộng địa vị, đặt lợi ích của dân tộc, của đoàn kết toàn dân lên trên lợi ích cá nhân” (Hồ Chí Minh).

Bản Tuyên ngôn Độc lập cũng được khởi thảo khi những đại diện của Việt Minh đã lên đường vào Huế để 2 hôm sau (30-8) nhận lễ thoái vị của vua Bảo Đại. Tại buổi lễ đó, vị hoàng đế cuối cùng của chế độ phong kiến Việt Nam đã có lời tuyên cáo mang ý nghĩa thật sâu sắc: “Sau hai mươi năm ngai vàng bệ ngọc, ngậm đắng nuốt cay, từ nay trẫm lấy làm vui được làm dân tự do của một nước độc lập”…

Tất cả những diễn tiến sự kiện ấy đã làm nên một nét đặc sắc mà Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nhận xét: “Cách mạng ở đâu thành công cũng phải đổ máu nhiều, có nước phải chặt đầu vua… Nước ta, vua tự thoái vị, các đảng phái không có mấy. Trong một thời gian ngắn, các giai cấp đoàn kết thành một khối, muôn dân đoàn kết để mưu hạnh phúc chung là nước được hoàn toàn độc lập và chống giặc xâm lăng, đuổi bọn thực dân tham ác ra khỏi bờ cõi”.

Do vậy, cũng có thể thấy được một giá trị rất quan trọng của Tuyên ngôn Độc lập là một văn bản pháp lý rất hiện đại phù hợp với tập quán chính trị của nhiều quốc gia nhằm khẳng định địa vị pháp lý của nền độc lập và chủ quyền một quốc gia với toàn thể cộng đồng các quốc gia trên thế giới. Đánh giá về quá trình khởi thảo bản Tuyên ngôn Độc lập, A.Patti, viên sĩ quan tình báo Hoa Kỳ phụ trách đơn vị OSS đang cộng tác với Việt Minh, cho rằng ngay sau khi nhận được tin phát xít Nhật đầu hàng, nhận thấy thời cơ đã tới, Hồ Chí Minh “đã hành động một cách kiên quyết và nhanh chóng, vì ông phải bảo đảm chiếm được một chỗ đứng vững chắc ở Hà Nội, Huế, Sài Gòn. Ông Hồ biết rằng, ông phải làm cho mọi người thấy rõ cả tính hợp pháp lẫn sức mạnh để giữ vai trò lãnh đạo và phát triển phong trào…”.

Tiếp nối sự tiến hóa của nhân loại

Bản Tuyên ngôn Độc lập đã được vị Chủ tịch nhà nước lâm thời soạn thảo ngay giữa lòng TP Hà Nội, ngôi nhà phố 48 Hàng Ngang của một nhà tư sản dân tộc. Văn bản này đã được tác giả trao đổi để lấy ý kiến không chỉ đối với các đồng chí trong đoàn thể của mình mà còn đọc cho những người dân bình thường nghe, với lòng mong muốn nó đến được với mọi đồng bào của mình để làm cho họ có ý thức về một biến cố lịch sử rất to lớn đối với vận mệnh của cả dân tộc nhưng cũng gần gũi với vận mệnh của mỗi con người, nay đã được gọi là công dân của một nước độc lập theo thể chế Dân chủ, Cộng hòa…

Hơn thế nữa, người đứng đầu cuộc cách mạng cũng là đứng đầu của Nhà nước Việt Nam còn tham khảo cả những người đồng minh khi mời Patti tới ngôi nhà 48 Hàng Ngang để trao đổi về bản thảo Tuyên ngôn Đôc lập Việt Nam. Hai người tranh luận về nguyên văn một đoạn trích từ Tuyên ngôn Độc lập của Hoa Kỳ mà cuối cùng người công dân Hoa Kỳ phải nhận rằng mình đã sai khi biết rằng từ 20 năm trước đó (1925) trên Báo Thanh Niên xuất bản ở Quảng Châu, Nguyễn Ái Quốc đã dịch và trước đó không lâu Hồ Chí Minh đã yêu cầu các phi công Mỹ thả dù xuống chiến khu Việt Bắc một nguyên bản của văn kiện lịch sử này.

Có người khi đọc văn bản lịch sử này đặt ra câu hỏi vì sao tác giả lại trích hai bản tuyên ngôn của hai quốc gia Âu Tây, trong đó lại có cả nước Pháp mới đây đô hộ nước mình? Hoàn toàn không phải là sách lược để ứng phó với hai cường quốc lớn tiềm tàng những mưu đồ thực dân cũ và mới. Sử dụng những trích dẫn ấy, vị Chủ tịch của Nhà nước Việt Nam độc lập còn muốn khẳng định rằng ngay cách mạng Việt Nam cũng là sự nối tiếp của con đường tiến hóa mà nhân loại đã và sẽ đi. Tuyên ngôn Độc lập của Hoa Kỳ năm 1776 và Tuyên ngôn Nhân quyền và Dân quyền của Pháp năm 1892 là những mốc son của sự nghiệp giải phóng con người thì chính cuộc Cách mạng Tháng 8-1945 của Việt Nam cũng là bước đi tiếp theo của quá trình ấy.

Những gì đã diễn ra sau cuộc Cách mạng Tháng 8-1945 đã chứng thực một sự thực về nguyện vọng giải phóng của các dân tộc nhỏ khỏi sự đè nén của các nước lớn, sản phẩm của chế độ thực dân, đã lần lượt tan rã sau năm cuộc cách mạng của Việt Nam khởi đầu cho các phong trào giải phóng các thuộc địa.

Sự sáng tạo tầm vóc 

Trong chuyến đi thăm Hoa Kỳ của Thủ tướng Phan Văn Khải (2005), tại cuộc tiếp xúc ở thành phố Boston, mọi người đã được nghe một bài phát biểu nồng nhiệt của một chính khách lão thành của Hoa Kỳ. Đó là nguyên thượng nghị sĩ McGovern, người luôn có tiếng nói chống cuộc chiến tranh của Mỹ ở Việt Nam và năm 1972 đã từng tranh cử chức tổng thống với R.Nixon. Ông đã đưa ra nhận xét rằng: “Trong Tuyên ngôn Độc lập của Việt Nam. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nhắc lại cuộc kháng chiến giành độc lập của Hoa Kỳ, do Thomas Jefferson soạn thảo. Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ thay đổi một ý so với bản tuyên ngôn của Th. Jefferson. Câu “Chúng tôi ủng hộ một sự thật hiển nhiên rằng mọi người đều sinh ra bình đẳng” thì Chủ tịch Hồ Chí Minh lại nói rằng: “Mọi dân tộc sinh ra đều bình đẳng”. Quả là một sự thay đổi khéo léo và sáng suốt”…

Nguyên văn trong Tuyên ngôn Độc lập, Bác Hồ dùng cách diễn đạt “Suy rộng ra, câu ấy có nghĩa là tất cả các dân tộc trên thế giới đều sinh ra bình đẳng; dân tộc nào cũng có quyền sống, quyền sung sướng và quyền tự do”.

Cũng bình luận về đoạn trích dẫn này, một nhà nghiên cứu văn hóa Việt Nam người Hoa Kỳ, bà Lady Borton, còn đưa ra nhận xét rằng khi dịch chữ “all men” trong văn bản của Th. Jefferson vào thời được viết, thế kỷ XVIII, chỉ bao hàm những người đàn ông (đương nhiên là da trắng và có tài sản) đã được Chủ tịch của nước Việt Nam độc lập diễn dịch thành: “Tất cả mọi người” mà trên thực tế được thể hiện trong Hiến pháp Việt Nam bao gồm tất thảy các công dân không phân biệt giới tính, tôn giáo, sắc tộc hay chính kiến. Đó chính là một sự “suy rộng” nữa mà Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đem lại cho Tuyên ngôn Độc lập của Hoa Kỳ những tiến bộ của nhân loại gần 2 thế kỷ sau đó.

Tuyên ngôn Độc lập Việt Nam không chỉ là tấm giấy khai sinh cho một Nhà nước Việt Nam theo thể chế Dân chủ – Cộng hòa theo đuổi mục tiêu Độc lập – Tự do – Hạnh phúc mà còn đóng góp cho sự nghiệp giải phóng nhân loại bằng một sự “suy rộng ra” thành một chân lý mang tầm thời đại.

Theo Dương Trung Quốc – Người Lao Động

Tuổi trẻ Online