| STT | Tên bài viết – Thư của Bác Hồ với tuổi trẻ Việt Nam |
| 1 | Bài nói tại Đại hội Thanh niên cứu quốc toàn xứ |
| 2 | Bài nói tại trường Cán bộ tự vệ |
| 3 | Thế giới với Việt Nam |
| 4 | Các tướng sĩ yêu mến tiến lên |
| 5 | Lời căn dặn anh chị em giáo viên bình dân học vụ |
| 6 | Lời căn dặn học viên trong lễ khai trường – Trường võ bị Trần Quốc Toản |
| 7 | Các nhà văn hoá Việt Nam hãy chú ý đặc biệt đến nhi đồng |
| 8 | Thư chúc mừng năm mới |
| 9 | Thư gửi anh em thương binh trại an dưỡng liên khu X |
| 10 | Gửi Ủy ban Trung ương thiếu nhi |
| 11 | Thư gửi các cháu thiếu nhi |
| 12 | Thư gửi chị Phạm Thị Phượng |
| 13 | Bức thư gửi cho hai em |
| 14 | Gửi các chiến sĩ miền Nam |
| 15 | Thư gửi đồng chí Zao và các học sinh Việt Nam đang học ở Liên Xô |
| 16 | Gửi Đoàn Chủ tịch Quốc tế Cộng sản |
| 17 | Thư gửi đồng bào toàn quốc nhân dịp đầu năm mới |
| 18 | Thư gửi anh chị em giáo viên bình dân học vụ |
| 19 | Thư gửi các học sinh |
| 20 | Thư gửi nam nữ chiến sĩ bình dân học vụ |
| 21 | Thư gửi nhi đồng Yên Bái |
| 22 | Thư gửi các cháu nhi đồng nhân tết trung thu 1948 |
| 23 | Gửi nhi đồng xã Ba, Lào Cai |
| 24 | Thư gửi Nguyễn Hải Thần, Vũ Hồng Khanh |
| 25 | Thư gửi nam, nữ thanh niên và nhi đồng Nam Bộ |
| 26 | Thư gửi phụ nữ Việt Nam nhân nhịp xuân Bính Tuất (1946) |
| 27 | Thư gửi anh em thương binh và bệnh binh |
| 28 | Thư gửi thiếu nhi Việt Nam – Đêm Trung thu đầu tiên của nước Việt nam DCCH |
| 29 | Gửi Thanh niên và Nhi đồng nhân nhịp tết sắp đến |
| 30 | Thư gửi trại nhi đồng nghệ thuật I |
| 31 | Thư gửi Trung đoàn 101 Thừa Thiên |
| 32 | Thư gửi tướng Trần Tu Hoà |
| 33 | Thư khen chị Phạm Thị Tỵ |
| 34 | Thư khen chiến sĩ Trần Văn Diên |
| 35 | Thư khen cháu Đặng Phúc Hải |
| 36 | Thư khen gợi anh em du kích Kim Thành, Hải Dương |
| 37 | Lời khuyên sinh viên trường Quân y |
| 38 | Lời dặn các cán bộ tuyên truyền |
| 39 | Lời dặn các đội viên tuyên truyền xung phong |
| 40 | Lời kêu gọi sau việc tàu bay địch tàn sát đồng bào Nam Bộ |
| 41 | Lời kêu gọi thanh niên Nam Bộ |
| 42 | Lời khuyên anh em viên chức |
| 43 | Thơ tặng các cháu nhi đồng |
| 44 | Trả lời thư của nhi đồng cứu quốc Phước Diên (Q.Ninh) và Cẩm Giàng (H.Hưng) |
Tag Archive | Tin tức
Nói và viết với phong cách Bác Hồ
Cứ mỗi lần đến ngày kỷ niệm báo chí cách mạng Việt Nam, tất cả những người làm báo, những người đọc báo, quan tâm đến báo chí Việt Nam đều nhớ đến một con người, một cái tên – vĩ đại mà thân quen – Hồ Chí Minh – người đã khai sinh ra nền báo chí cách mạng Việt Nam. Cho đến hôm nay, chúng ta vẫn có thể học tập từ nhiều điều từ sự nghiệp làm báo – làm cách mạng của Bác; vẫn còn cảm nhận được hơi ấm của tình người và ánh sáng của những tinh hoa văn hoá toả ra từ khối lượng đồ sộ những tác phẩm, bài nói, bài viết của Người…
Học viết và học nói
Trong rất nhiều điều Bác Hồ mong muốn các cán bộ cách mạng phải rèn luyện, có điều Bác mong muốn mỗi người đều phải học viết; học nói. Đối với Bác, tiếng Việt là của cải lâu dài và vô cùng quý báu của dân tộc, “chúng ta phải giữ gìn nó, Quý trọng nó, làm nó phát triển ngày càng rộng khắp”. Học viết học nói cũng không chỉ giới hạn trong đội ngũ cán bộ tuyên truyền, trong đội ngũ những người cầm bút mà cũng là điều cần thiết đối với mọi người, từ các em học sinh còn đang ngồi trên ghế nhà trường…
Trong sự đa dạng và phong phú của những bài nói, bài viết của Hồ Chí Minh, có thể rút ra những nét chung nổi bật nhất của phong cách diễn đạt mà Người đã thể hiện suốt cuộc đời mình, một phong cách mẫu mực cho cả hiện tại và tương lai.
Đối với “nhà báo” Hồ Chí Minh trước hết cần xác định rõ chủ đề đối tượng, mục đích của việc nói và viết từ đó mới có thể tìm cách nói, cách viết cho phù hợp nhất mới chủ đề, với đối tượng để đạt được mục đích đề ra. Trong tác phẩm Sửa đổi lối làm việc, trong bài Cách viết; trong bài nói tại Đại hội Hội Nhà báo Việt Nam lần thứ hai; bài nói tại Hội nghị tuyên truyền miền núi (1958), cũng như trong toàn bộ các bài nói, bài viết của Hồ Chí Minh chúng ta đều thấy Người nhấn mạnh bốn vấn đề liên quan chặt chẽ với nhau: Nói, viết cái gì? Nói, viết như thế nào? Chủ đề, đối tượng, Mục đích quyết định cách thể hiện, cách thể hiện tốt làm cho nội dung nói và viết đúng với chủ đề, đúng đối tượng và đạt được mục đích của việc nói và viết.
Giản dị và sâu sắc
Bác Hồ đã nói và viết về rất nhiều chủ đề khác nhau của cách mạng Việt Nam, của phong trào giải phóng dân tộc, phong trào cộng sản và công nhân quốc tế… trong chủ đề bao trùm là độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội. Người nói và viết cho rất nhiều đối tượng khác nhau, từ những đại biểu cao nhất của chủ nghĩa thực dân đề quốc; nhân dân các nước thuộc địa; nhân dân và Đảng Cộng sản các nước anh em; những người có lương tri tiến bộ trên khắp thế giới… và nhiều nhất là cho đông đảo các tầng lớp nhân dân Việt Nam với dân tộc, tôn giáo, trình độ khác nhau. Với mỗi đối tượng cụ thể, trong những văn cảnh cụ thể, Bác Hồ đều tìm ra những cách nói cách viết phù hợp nhất. Nếu đối tượng là người phương tây, Bác có cách viết rất “Tây”, sâu xa, châm biếm, hài hước, ý nhị…Với nhân dân Việt Nam, Bác lại nói và viết rất giản dị, Mộc mạc, nhiều khi có vần, có đối như ca dao tục ngữ rất quen thuộc với số đông mọi người. Với những nhà tri thức uyên bác, Người lại bàn về những lời răn dạy của các bậc tiên hiền, bàn về những vấn đề sâu sắc của khoa học, của thơ ca và nghệ thuật…
Chủ tịch Hồ Chí Minh có thể xướng hoạ thơ đường với các vị khoa bảng hay với các đồng chí Trung Quốc nhưng khi nói, khi viết cho đồng bào chưa có điều kiện học nhiều chữ, Người không dùng bất cứ một từ ngữ khó hiểu nào…Chân biếm kẻ thù thì sâu cay “như những ngon roi quất mạnh vào mặt bọn chúa tể ở pháp và các nơi khác…Đối với các đồng chí cán bộ đảng viên, bác lại hài hước nhắc nhở nhẹ nhàng bằng những hình ảnh quen thuộc để mọi người nhớ mãi như nhắc nhở mọi người tiết kiệm mà lẫn lôn chữ nghĩa để tiết kiệm biến thành tiết canh…
Người làm tiếng Việt thêm phong phú
Đồng chí Trường Chinh nhận xét: “Hồ Chủ Tịch nói tiếng nói của dân tộc, của nhân dân Việt Nam, Nhiều từ ngữ dân gian được bác đưa vào ngôn ngữ của mình rất tự nhiên, hợp lý, sãng tạo… “Người còn làm giàu thêm cho kho tàng ngôn ngữ dân tộc bằng nhiều từ mới, từ rút ngắn như Vùng trời, Giặc đói, giặc dốt…
Nhà báo nổi tiếng U.Bơcset lại nhận xét: “nét điển hình ở Hồ Chí Minh là chỉ với một vài từ hoặc một vài hình ảnh, Người có thể trình bầy được những vấn đề phức tạp”. Hình ảnh đoàn quân đội viễn chinh Pháp bị nhốt váo đáy mũ của Người minh hoạ cho cuộc chiến đấu ở Điện Biên Phủ lúc nên đến đỉnh cao là một ví dụ rõ nét nhất…
Một nhà báo, nhà sử học Pháp còn phát hiện: “Hồ Chí Minh đã gạch tất cả những công thức tiêu cực để thay bàng những công thức tiêu cực cùng nghĩa. Người không đồng ý câu tôi viết trong đề cương là: Không có chủ nghĩa xã hội thì các dân tộc không thể đi đến giải phóng hoàn toàn, mà đề nghị sửa lại là: Chỉ có chủ nghĩa xã hội mới có thể đảm bảo cho các dân tộc giải phóng hoàn toàn”.
Sự phong phú trong cách thể hiện của Bác Hồ khi nói và viết làm chúng ta nhận ra những đặc trưng trong cách nói, cách viết Hồ Chí Minh. Đó là:
– Chân thực. Mỗi bài nói, bài viết của Bác Hồ đều bắt nguồn từ thực tế cuộc sống với những con số, những sự kiện đã được xem xét, kiểm tra, chọn lọc. Bao giờ Người cũng đem lại cho người đọc, người nghe lượng thông tin cao và chính xác. Chính tính chân thực đã làm nên sức thuyết phục cao của những bài nói, bài viết của người đối với người nghe, người đọc. Chân thực cũng là yêu cầu đầu tiên của Bác Hồ đặt ra đối với cán bộ, đảng viên khi nói, khi viết. Bác thường nhắc nhở: “Viết phải đúng sự thật, không được bịa ra”; không nên nói ẩu”; “Chưa điều tra, chưa nghiên cứu, chưa biết rõ, chớ nói chớ viết”…
– Ngắn gọn là một đặc trưng rất nổi bật trong cách nói, cách viết Hồ Chí Minh, “ngắn gọn có nghĩa là gọn gàng, rõ ràng, có đầu, có đuôi, có nội dung thiết thực, thấm thía, chắc chắn”. Ngắn gọn trong cách nói cách viết Hồ Chí Minh là cô đọng, hàm súc, ý nhiều lời ít, không có lời thừa, chữ thừa. Đặc tính ngắn gọn, hàm súc trong các bài nói, bài viết của Bác Hồ là sự kế thừa và phát triển phong cách phương Đông. Đó cũng là kết quả công phu rèn luyện của Bác từ những ngày đầu tham gia hoạt động chính trị, tham gia làm báo cách mạng.Người nhiều lần phê bình nhắc nhở cán bộ về mặt ba hoa, viết vừa dài vừa rỗng. Người thường khuyên cán bộ nói viết đều phải ngắn gọn, thiết thực, đi thẳng vào vấn đề. Nói dài, viết dài và sáo rỗng đều hoàn toàn xa lạ với phong cách Hồ Chí Minh.
– Trong sáng, giản dị, dễ hiểu. Toàn bộ các bài nói, bài viết của Bác Hồ đều rất trong sáng về ý tưởng và văn phong, giản dị trong cách trình bầy và dễ hiểu với người nghe, người đọc. Tư tưởng Hồ Chí Minh đến với mọi người bằng những ngôn từ quen thuộc – dù đó là những vấn đề của cuộc sống chiến đấu, lao động hàng ngày hay những vấn đề lớn của đất nước, của thời đại.
Muốn nói, muốn viết được trong sáng, giản dị, dễ hiểu, theo Bác Hồ, trước hết phải học cách nói của quần chúng. Phải thực sự học quần chúng để có cách nói, cách viết được quần chúng chấp nhận như những gì của chính họ. Bác Hồ phê phán rất gay gắt những cán bộ đem “thặng dư giá trị” ra nhồi sọ cho ba con nông dân; có cán bộ đem “tân dân chủ nghĩa” ra giáo dục các em nhi đồng; mang “biện chứng pháp” ra nói với anh em công nhân đang học chữ quốc ngữ…(!). Trong cách nói cách viết của mình, bác thường giản dị hoá mọi vấn đề khó hiểu mà không phải là sự đơn giản tầm thường, Sự giản dị, trong sáng của Người bắt đầu từ sự hiểu biết thấu đáo bản chất của sự vật, từ sự gắn bó với truyền thống dân tộc trong nếp cảm, nếp nghĩ…
Để viết và nói được trong sáng giản dị, dễ hiểu, Bác Hồ còn chỉ ra rằng phải chống lại căn bệnh hay nói chữ, ham dùng chữ, bệnh sính dùng chữ nước ngoài nào đã quen thuộc, đã “hoá thành chữ ta” mà không dùng thì không đúng. Bác Hồ đã nêu ví dụ: ta nói độc lập chư không nói đứng một, nói du kích chứ không nói đánh chơi.. Còn đối với bệnh lạm dụng chữ nước ngoài thì dù dùng đúng cũng đã có hại, nếu dùng sai theo kiểu dốt hay nói chữ thì cái hại lại càng to….
Sinh thời Bác Hồ đã căn dặn chúng ta nhiều điều khi học viết, học nói. Văn không chỉ là văn. Văn cũng chính là người. Học nói, học viết cũng là từng bước hoàn thiện những phẩm giá của mình.
Trọng dân – Một tư tưởng lớn của Bác Hồ
Trong báo cáo chính trị tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ hai của Đảng ngày 11-2-1951, Chủ tịch Hồ Chí Minh nêu rõ: “Phải củng cố mối quan hệ giữa Đảng và quần chúng”. Người chỉ rõ sự cần thiết phải củng cố mối quan hệ giữa Đảng và quần chúng: Không có quần chúng thì không có lực lượng. Không có Đảng thì không có người lãnh đạo, hướng dẫn, chỉ đường. Người nhấn mạnh: “Cách mạng là sự nghiệp của quần chúng chứ không phải là sự nghiệp của cá nhân anh hùng”. “Lực lượng của giai cấp công nhân và nhân dân lao động là rất to lớn”.
Nói về trách nhiệm của Đảng đối với Tổ quốc và nhân dân, Chủ tịch Hồ Chí Minh nêu rõ: “Hễ còn một người Việt Nam bị bóc lột, bị nghèo nàn, thì Đảng vẫn đau thương, cho đó là vì mình chưa làm tròn nhiệm vụ. Cho nên Đảng vừa phải lo tính công việc lớn như đổi mới nền kinh tế và văn hóa lạc hậu của nước ta thành nền văn hóa tiên tiến, đồng thời luôn luôn quan tâm đến những công việc nhỏ như tương, cà mắm, muối cần thiết cho đời sống hàng ngày của nhân dân”.
Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, sức mạnh của Đảng nằm ngay trong mối quan hệ giữa Đảng với dân và dân với Đảng. Người khẳng định: “Trong bầu trời không có gì quý bằng nhân dân, trong thế giới không gì mạnh bằng lực lượng đoàn kết của nhân dân. Khi sức dân được huy động, được tổ chức, được tập hợp dưới sự lãnh đạo của Đảng thì thành vô địch”. “Làm việc gì cũng phải có quần chúng. Không có quần chúng thì không thể làm được… Việc gì có quần chúng tham gia bàn bạc, khó mấy cũng trở nên dễ dàng và làm được tốt”. “Dễ trăm lần không dân cũng chịu. Khó vạn lần dân liệu cũng xong”. Mối quan hệ giữa Đảng và quần chúng được thể hiện rất cụ thể ở đạo đức, thái độ, tác phong trong quan hệ với dân ở từng cán bộ đảng viên. Chủ tịch Hồ Chí Minh căn dặn: “Cán bộ đảng viên phải nâng cao tinh thần phụ trách trước Đảng và trước quần chúng, hết lòng hết sức phục vụ nhân dân. Phải kính yêu nhân dân. Phải tôn trọng thật sự quyền làm chủ của nhân dân. Tuyệt đối không được lên mặt “quan cách mạng”, ra lệnh, ra oai… phải khiêm tốn, gần gũi quần chúng, không được kiêu ngạo. Khi chọn cán bộ, Chủ tịch Hồ Chí Minh yêu cầu phải lựa chọn “những người liên lạc mật thiết với dân chúng, hiểu biết dân chúng. Luôn chú ý đến lợi ích của dân chúng. Như thế, thì dân chúng mới tin cậy cán bộ và nhận cán bộ là người lãnh đạo của họ”. Chủ tịch Hồ Chí Minh lên án gay gắt chủ nghĩa cá nhân. Người nói: “Hiện nay chủ nghĩa cá nhân đang ám ảnh một số đồng chí. Họ tự cho mình là cái gì cũng giỏi, họ xa rời quần chúng, không muốn học hỏi quần chúng, mà chỉ muốn làm thầy quần chúng. Họ ngại làm việc tổ chức, tuyên truyền giáo dục quần chúng. Họ mắc bệnh quan liêu, mệnh lệnh. Kết quả là quần chúng không tin, không phục, càng không yêu họ. Chung quy là họ không làm nên trò trống gì”.
Theo Bác Hồ, Đảng phải liên hệ chặt chẽ với nhân dân, tôn trọng nhân dân và hướng dẫn nhân dân, tổ chức thành lực lượng, thành phong trào hành động cách mạng trên các lĩnh vực kinh tế – xã hội, an ninh – quốc phòng, có kế hoạch thật tốt để phát triển kinh tế và văn hóa, nhằm không ngừng nâng cao đời sống của nhân dân. Còn các tầng lớp của nhân dân phải tham gia xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh về chính trị tư tưởng và tổ chức. Nhân dân là nguồn bổ sung vô tận cho Đảng và luôn luôn tràn trề sức xuân. Trọng dân là thương dân, vì nhân dân mà phục vụ và biết coi trọng sức mạnh vĩ đại của nhân dân. Biết bao những phần tử ưu tú trong giai cấp công nhân, giai cấp nông dân, đội ngũ trí thức và các tầng lớp nhân dân lao động khác, đã trở thành đảng viên của Đảng. Quần chúng còn tham gia góp ý, phê bình sự lãnh đạo của Đảng với mong muốn Đảng luôn luôn trong sạch và vững mạnh để lãnh đạo sự nghiệp cách mạng đến đích cuối cùng.
Khi Quốc hội tín nhiệm bầu Người làm Chủ tịch nước – Người trả lời các nhà báo: “Tôi tuyệt nhiên không ham muốn công danh, phú quý chút nào. Bây giờ gánh vác chức Chủ tịch là vì đồng bào ủy thác thì tôi phải gắng làm, cũng như một người lính vâng lệnh quốc dân ra trước mặt trận” (1). Người căm ghét thói cậy quyền, cậy thế, chia rẽ, kiêu ngạo, tham ô, lãng phí, quan liêu, móc ngoặc, tham nhũng… vì nó “là kẻ thù của nhân dân, của dân tộc, của Chính phủ. Nó là kẻ thù khá nguy hiểm, vì nó không mang gươm, mang súng, nó nằm trong tổ chức của ta, nó là giặc nội xâm để làm hỏng công việc của ta. Người dạy: “Cơm của chúng ta ăn, áo của chúng ta mặc, vật liệu chúng ta dùng đều là mồ hôi nước mắt của nhân dân mà ra. Vì vậy chúng ta phải đền ơn xứng đáng cho nhân dân. Chớ vác mặt làm quan cách mạng để dân ghét, dân khinh, dân không ủng hộ”(2). Trước lúc đi xa Bác Hồ đã căn dặn toàn Đảng cũng như mỗi cán bộ, đảng viên rằng: Phải giữ gìn Đảng ta thật trong sạch, phải xứng đáng là người lãnh đạo, người đầy tớ trung thành của nhân dân. Đảng coi việc “làm đầy tớ” của nhân dân, phục vụ nhân dân, chăm lo cuộc sống vật chất, tinh thần của nhân dân là trách nhiệm, là vinh dự và niềm hạnh phúc.
Bác Hồ từng nói: Chúng ta có trọng dân, yêu dân, kính dân thì dân mới yêu ta, kính ta. Tôn trọng và tin tưởng nhân dân là tôn trọng và tin tưởng những người làm ra lịch sử, những người sáng tạo ra của cải, vật chất, những người được sánh với Trời, Đất theo triết học phương Đông như Bác Hồ khẳng định: “Trong bầu trời không có gì quý bằng nhân dân”.
Những lời dạy của Bác Hồ: “Cách mạng là sự nghiệp của quần chúng…”, “Cán bộ, đảng viên là người đầy tớ trung thành của nhân dân…” là một tư tưởng lớn của Bác Hồ về trọng dân xuyên suốt từ ngày thành lập Đảng đến nay. Tư tưởng yêu nước, thương dân, trọng dân, suốt đời vì cách mạng, vì nhân dân mà hy sinh phấn đấu, không ham danh lợi, với một lối sống chân thực, giản dị, khiêm nhường của Bác Hồ là tấm gương đạo đức vô cùng trong sáng để toàn Đảng, toàn dân, toàn quân chúng ta học tập và noi theo.
Tô Phương
Thư của Bác Hồ gửi ngành y tế – 27/02/1955

Bác Hồ với cán bộ y tế
Gửi Hội nghị Cán bộ Y tế
Bác thân ái chúc các cô (nghe nói có nữ bác-sĩ ở Nam về?) các chú vui vẻ mạnh khỏe, hăng hái trao đổi kinh nghiệm, bàn định kế hoạch cho thiết thực, và làm việc cho tiến bộ.
Bác góp vài ý kiến sau đây để giúp các cô các chú thảo luận:
– Trước hết là phải thật thà đoàn kết. Đoàn kết là sức mạnh của chúng ta. Đoàn kết thì vượt được mọi khó khăn, giành được nhiều thành tích. Đoàn kết giữa cán bộ cũ và cán bộ mới. Đoàn kết giữa tất cả những người trong ngành y tế từ các bộ trưởng, thứ trưởng, bác sĩ, dược sĩ cho đến các anh chị em giúp việc. Bởi vì công việc và địa vị tuy có khác nhau, nhưng người nào cũng là một bộ phận cần thiết trong ngành y tế, trong việc phục vụ nhân dân.
– Thương yêu người bệnh. Người bệnh phó thác tính mệnh của họ nơi các cô các chú. Chính phủ phó thác cho các cô các chú việc chữa bệnh tật và giữ sức khỏe của đồng bào. Đó là một nhiệm vụ rất vẻ vang. Vì vậy, cán bộ cần phải thương yêu săn sóc người bệnh như anh em ruột thịt của mình, coi họ đau đớn cũng như mình đau đớn. “Lương y phải như từ mẫu”, câu nói ấy rất đúng.
-Xây dựng một nền y học của ta. Trong những năm nước ta bị nô lệ, thì y học cũng như các ngành khác đều bị kìm hãm. Nay chúng ta đã độc lập tự do, cán bộ cần giúp đồng bào, giúp Chính phủ xây dựng một nền y tế thích hợp với sự nhu cầu của nhân dân ta. Y học càng phải dựa trên nguyên tắc: khoa học, dân tộc và đại chúng.
Ông cha ta ngày trước có nhiều kinh nghiệm quý báu về cách chữa bệnh bằng thuốc ta, thuốc bắc. Để mở rộng phạm vi y học, các cô các chú cũng nên chú trọng nghiên cứu và phối hợp thuốc “đông” và thuốc “tây”.
Mong các cô các chú cố gắng thi đua, làm tròn nhiệm vụ.
Chào thân ái và thành công.
Tháng 2 – 1955
HỒ CHÍ MINH
Bác Hồ với chống bệnh quan liêu
Bệnh quan liêu, dân chủ hình thức, thái độ quan cách, hách dịch, xa rời quần chúng… gây phiền hà cho nhân dân, cản trở sản xuất và công tác là hiện tượng đang có tính phổ biến, kể cả ở cơ sở.
Tệ quan liêu còn biểu hiện ở bệnh phô trương, hình thức, coi nhẹ tính hiệu quả, nặng về giấy tờ, thói thụ động…
Đã là cán bộ thì ít nhiều đều có quyền hành. Quyền hành là môi trường khách quan làm cho người cán bộ nếu không tỉnh táo dễ quên vai trò của quần chúng. Những cán bộ kém năng lực thường dùng quyền lực thay cho năng lực. Cán bộ quan liêu thường chỉ ngồi bàn giấy, ra chỉ thị cho cấp dưới và thường có “sáng kiến” đề ra nhiều cuộc vận động với tên gọi rất kêu, nhưng chỉ dừng ở khẩu hiệu suông.
Thói thụ động là một dạng cụ thể của bệnh quan liêu. Người cán bộ cấp dưới chỉ biết ngồi chờ mệnh lệnh cấp trên là hiện tượng không hiếm của công chức. Thói thụ động bỏ lỡ những cơ hội có thể đem lại lợi ích lớn cho Nhà nước, cho tập thể và né tránh những vấn đề cấp bách đòi hỏi phải có nhiều cố gắng để thực hiện.
Chủ nghĩa quan liêu, về mặt tổ chức, tạo dựng ra một hệ thống tổ chức quản lý dựa trên quyền lực. Điều đặc biệt nguy hại là chủ nghĩa quan liêu khéo núp dưới cái vỏ dân chủ – dân chủ hình thức – để lẩn tránh mọi sự lên án và trừng phạt.
V.I.Lênin đã phân biệt hai kiểu quan liêu: Kiểu thứ nhất thể hiện trong tác phong hoạt động của cán bộ và các cơ quan quản lý. Kiểu thứ hai là ở trong sự quản lý tồi.
Chủ nghĩa quan liêu có nguồn gốc sâu xa từ lịch sử, từ tư tưởng, nhận thức, tổ chức và tác phong.
Chủ nghĩa quan liêu tồn tại là vì còn cơ chế quan liêu và nhất là còn đội ngũ đông đảo cán bộ quan liêu. Cơ chế quan liêu là cái nôi làm nảy nở đội ngũ cán bộ quan liêu. Cán bộ quan liêu ra sức củng cố, bảo vệ cơ chế quan liêu để duy trì địa vị và quyền lợi của mình. Chủ nghĩa quan liêu là mảnh đất tốt sản sinh và dung dưỡng bệnh chủ quan, nóng vội, giản đơn, duy ý chí, giáo điều.
Thật không sai nếu nói rằng: Tệ quan liêu đem lại lợi ích cho những kẻ mắc bệnh đó. Chính lợi ích vị kỷ này là lý do làm cho một số dạng của tệ quan liêu sống dai dẳng và trở thành căn bệnh mãn tính rất khó chữa.
Phong cách làm việc quan liêu làm cho cán bộ bảo thủ, trì trệ, thiếu năng động và sáng tạo, thậm chí còn cản trở và chống lại sự năng động, sáng tạo.
Tệ quan liêu gây ra hệ quả tiêu cực là có một số nghị quyết, kế hoạch, chính sách, dự án được xây dựng thiếu căn cứ khoa học, tách rời khả năng và hiện thực.
Quan liêu và dân chủ đối lập với nhau như lửa với nước. Có cái này sẽ không có cái kia. Cho nên, không thể tiến hành cuộc đấu tranh chống bệnh quan liêu mà không dựa vào quần chúng trên cơ sở mở rộng dân chủ và công khai hóa, huy động quần chúng tham gia mọi hoạt động chính trị, kinh tế, xã hội, công khai thông tin, tạo mọi thuận lợi để dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra.
Chủ nghĩa quan liêu không tự thủ tiêu. Nó chỉ biến dạng, thậm chí, dù có đặt ra thể lệ, quy chế, nó cũng tìm cách làm cho mất hiệu lực, nếu không có phong trào đấu tranh mạnh mẽ của quần chúng.
Nguyên nhân của bệnh quan liêu đã được Bác Hồ chỉ rõ: “Xa nhân dân: Do đó, không hiểu tâm lý, nguyện vọng của nhân dân.
Khinh nhân dân: Cho là “dân ngu khu đen”, bảo sao làm vậy, không hiểu được chính trị, lý luận cao xa như mình.
Sợ nhân dân: khi có sai lầm, khuyết điểm thì sợ nhân dân phê bình, sợ mất thể diện, sợ phải sửa chữa.
Không tin cậy nhân dân: Họ quên rằng không có lực lượng nhân dân, thì việc nhỏ mấy, dễ mấy, làm cũng không xong, có lực lượng nhân dân, thì việc khó mấy, to mấy, làm cũng được.
Không hiểu biết nhân dân: Họ quên rằng nhân dân cần trông thấy lợi ích thiết thực (lợi ích gần và lợi ích xa, lợi ích riêng và lợi ích chung, lợi ích bộ phận và lợi ích toàn cuộc). Đối với nhân dân, không thể lý luận suông, chính trị suông.
Không yêu thương nhân dân: Do đó, họ chỉ biết đòi hỏi nhân dân, không thiết thực giúp đỡ nhân dân…”(1).
Theo Bác Hồ, chứng bệnh quan liêu tỏ ra bằng nhiều vẻ:
“Đối với người:
Cấp trên đối với cấp dưới, cán bộ đối với nhân dân, quân quan đối với binh sĩ, bộ đội đối với dân chúng – chỉ biết dùng mệnh lệnh. Không biết giải thích, tuyên truyền. Không biết làm dân chúng tự giác và tự động.
Đối với việc:
Chỉ biết khai hội nghị, viết nghị quyết, ra chỉ thị. Chứ không biết điều tra, nghiên cứu, đôn đốc, giúp đỡ, khuyến khích, kiểm tra.
Đối với mình:
Việc gì cũng kềnh càng, chậm rãi, làm cho qua chuyện. Nói một đường làm một nẻo.
Chỉ biết lo cho mình, không quan tâm đến nhân dân, đến đồng chí.
Một vẻ quan liêu nữa là: Chỉ biết ăn sang, diện cho kẻng; chẳng những không lo phụng sự nhân dân, mà còn muốn nhân dân phụng sự mình.
Tham ô, hủ hóa. Trước mặt dân chúng thì lên mặt “quan cách mạng”(2).
Người khẳng định: “Nếu không lo chữa, thì bệnh quan liêu sẽ đưa bệnh nhân đến chỗ hoàn toàn bị đào thải.
Thang thuốc chữa bệnh quan liêu:
– Phải đặt lợi ích dân chúng lên trên hết, trước hết.
– Phải gần gũi dân, hiểu biết dân, học hỏi dân.
– Phải thật thà thực hành phê bình và tự phê bình.
– Phải làm kiểu mẫu: Cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư.
Mong rằng toàn thể cán bộ ta, ai không mắc bệnh quan liêu thì phải giữ gìn, tránh nó. Ai đã mắc bệnh ấy, thì phải cố gắng mà chữa cho khỏi đi, cho xứng đáng là người cán bộ cách mạng, chớ để bị đào thải”(3).
_____
(1) Hồ Chí Minh toàn tập, NXBCTQG, H.2002, tập 6, tr.292-293. (2,3) Sđd, tập 6, tr.89-90.
Nguyễn Xuyến
Hồ Chí Minh với hội nhập quốc tế
Chủ tịch Hồ Chí Minh là lãnh tụ chính trị, nhà văn hoá kiệt xuất của thế giới ở thế kỷ XX. Tư tưởng, sự nghiệp, ham muốn tột cùng của Người là:
Giành độc lập, thống nhất cho đất nước, qua đó góp phần vào cuộc đấu tranh chống chủ nghĩa thực dân, chủ nghĩa đế quốc của các dân tộc bị áp bức.
Xây dựng một nước Việt Nam hoà bình, dân chủ, giàu mạnh mang lại tự do, hạnh phúc cho nhân dân.
Với Người, ý nghĩa của việc giành độc lập là để cho mọi người dân Việt Nam ai cũng có cơm ăn, áo mặc, ai cũng có nhà ở và được học hành. Đời sống vật chất ngày càng đầy đủ, đời sống tinh thần, văn hoá ngày một cao.
Ngay sau lễ Tuyên ngôn độc lập (2-9-1945), Chủ tịch Hồ Chí Minh đã có công thư gửi UBND các địa phương trong cả nước, nói rõ: “Ngày nay, chúng ta đã xây dựng nên nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà. Nhưng nếu nước độc lập mà dân không hưởng hạnh phúc tự do, thì độc lập cũng chẳng có nghĩa lý gì”(1). Nhưng muốn có tự do, hạnh phúc thì không phải giành được độc lập là có ngay tất cả mà phải ra sức xây dựng, kiến tạo, mở mang, phát triển kinh tế – xã hội theo hướng CNH, HĐH một cách bền vững. Dựa vào sức mạnh dân tộc là chính nhưng với xu thế chung của nhân loại, không một quốc gia nào tự mình đóng cửa mà có thể nhanh chóng tiến lên phồn thịnh, giàu có, văn minh. Hội nhập vào dòng chảy của lịch sử nhân loại là quy luật tất yếu của sự phát triển.
Với tầm nhìn của một nhà tư tưởng, văn hoá lớn, Hồ Chí Minh đã sớm đặt ra nguyên tắc và định hướng hội nhập quốc tế, quan hệ giữa nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà với các quốc gia có nền kinh tế khoa học, công nghệ tiên tiến trên thế giới. Ngày 17-10-1945, khi Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà non trẻ của chúng ta mới ra đời, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã có điện văn gửi Tổng thống Mỹ khi ấy là H.Tơ-ru-man nói rõ về quan hệ giữa Việt Nam và các nước có chế độ chính trị khác vì mục đích của sự phát triển kinh tế, gìn giữ hoà bình và vì sự phồn vinh chung. Bức điện có đoạn: “Trước hết, xét đến tầm quan trọng về chiến lược và kinh tế của Việt Nam, thứ đến là mong muốn tha thiết – mà Việt Nam cảm nhận sâu sắc và đã chứng tỏ một cách nhất trí – được hợp tác với những nền dân chủ khác trong việc tạo lập và củng cố nền hoà bình và phồn vinh trên thế giới”(2). Như vậy, hợp tác trước hết là vì lợi ích có tầm chiến lược của Việt Nam ta, đồng thời cũng là vì lợi ích chung của nhân loại.
Nhưng hợp tác nhất thiết phải tuân thủ một nguyên tắc cơ bản, không bao giờ thay đổi là tôn trọng chủ quyền quốc gia, là bảo vệ vững chắc nền độc lập, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ. Đó là tính bất biến. Song, hợp tác bao giờ cũng là sự thoả thuận trên cơ sở hai bên cùng có lợi. Sự thoả thuận ấy là tuỳ những điều kiện, hoàn cảnh cụ thể, từng lúc, từng nơi, từng việc. Nó là sự nhạy bén, thích ứng, biến thiên, linh hoạt. Do vậy, có thể tóm gọn triết lý hợp tác của Hồ Chí Minh là “Dĩ bất biến, ứng vạn biến”.
Nhớ lại, năm 1945, khi Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà mới ra đời, trong tình thế “ngàn cân treo sợi tóc” cả dân tộc phải dốc sức, đồng lòng chống thực dân Pháp xâm lược để giữ vững chính quyền, Hồ Chí Minh đã trịnh trọng tuyên bố trước thế giới về thái độ lúc đó của Chính phủ Việt Nam đối với Pháp như sau: “Đối với bọn thực dân Pháp cố tâm dùng võ lực lập lại chính quyền của chúng ở đây, chúng ta nhất định chống lại chúng kỳ cùng và nhất định chúng ta sẽ phải thắng lợi…
Nhưng chúng ta không chống tất cả nước Pháp, tất cả dân chúng Pháp. Nếu có những người Pháp muốn qua đây điều đình một cách hoà bình (…) thì điều kiện căn bản của cuộc điều đình ấy là người Pháp phải thừa nhận nền độc lập của Việt Nam. Còn ngoài ra có thể có những sự thương lượng để dung hoà quyền lợi của cả hai bên. Có thể rằng: những cơ sở mà người Pháp đã bỏ vốn ra gây dựng ở đây từ trước đến giờ, nếu xét ra cần thiết cho nền kinh tế quốc gia Việt Nam, sẽ được chúng ta chuộc lại dần dần. Có thể rằng: chúng ta hoan nghênh những người Pháp muốn đem tư bản vào xứ ta khai thác những nguồn nguyên liệu chưa có ai khai thác. Có thể rằng: chúng ta sẽ mời những nhà chuyên môn Pháp, cũng như Mỹ, Nga hay Tàu, đến đây giúp việc cho chúng ta trong cuộc kiến thiết quốc gia.
Nhưng, phải nhắc lại rằng, điều kiện chính vẫn là họ phải thừa nhận nền độc lập của xứ này. Nếu không vậy, thì không thể nói chuyện gì được cả”(3).
Nước Việt Nam ta có nền văn hoá lâu đời, nhân dân ta có truyền thống lao động sáng tạo, cần cù, song do những hạn chế của lịch sử, nhà nước phong kiến cuối cùng ở Việt Nam đã thực hiện chính sách “bế quan tỏa cảng” làm cho nền kinh tế nước ta quá tụt hậu so với thế giới. Dân nghèo thì nước không thể mạnh, hậu quả của chính sách đối nội và đối ngoại sai lầm cuối triều Nguyễn đã dẫn tới hậu quả: Nước ta mất độc lập, dân tộc bị nô lệ lầm than. Thực dân Pháp chiếm nước ta, chính sách khai thác thuộc địa để phục vụ chính quốc của chúng đã đẩy nước ta rơi vào tình trạng suy thoái, kiệt quệ, lạc hậu hàng thế kỷ.
Thà hy sinh tất cả chứ nhất định không chịu làm nô lệ, nhân dân ta đã buộc phải làm cuộc kháng chiến gian khổ sau bao nhiêu hy sinh, bao lần thương thuyết và nhân nhượng không thành để giành lại độc lập, tự do.
Tuy vậy, ngay trong những năm đầu cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp khốc liệt nhất, ngày 18-3-1946, khi tiếp tướng P.M.Lơ-cơ-léc, người đứng đầu quân đội Pháp ở Đông Dương lúc đó đến chào Hồ Chủ tịch, Người đã chỉ rõ: Nếu chính giới Pháp có sự hiểu biết rộng rãi thì sẽ làm nảy sinh lòng tin tưởng thành thật giữa hai dân tộc Việt – Pháp. Người tuyên bố một cách chắc chắn rằng: “Với những cuộc đàm phán sau này, chẳng bao lâu nữa, một kỷ nguyên hợp tác tự do và thành thật sẽ mở ra cho hai dân tộc chúng ta”(4). Tiếc rằng, với đầu óc thực dân, những người lãnh đạo nhà nước Pháp khi ấy đã không nhận ra quy luật tất yếu của chính nghĩa và phát triển, đã lao vào cuộc chiến tranh hòng thôn tính nước ta một lần nữa, làm cho máu của người Việt Nam và người Pháp phải đổ để rồi sau nhiều thập kỷ quan hệ Việt – Pháp mới trở lại bình thường. Chính vì thế mà trong Hội thảo quốc tế kỷ niệm lần thứ 100 năm Ngày sinh của Chủ tịch Hồ Chí Minh (1990), Pat-ti (một người Mỹ đã từng tiếp xúc với Chủ tịch Hồ Chí Minh từ năm 1945) phát biểu rằng: Thế giới đã đi sau tư duy của Hồ Chí Minh về hoà bình và hợp tác hàng nửa thế kỷ.
Nhưng cũng thật đáng tiếc, chính những người Mỹ trước đó đã phạm phải sai lầm tương tự, đi theo vết xe đổ của người Pháp. Trước khi nổ ra cuộc tổng khởi nghĩa tháng 8-1945, Hồ Chí Minh và lực lượng Việt Minh ở biên giới phía Bắc Việt Nam đã từng giúp đỡ người Mỹ trong phe đồng minh chống phát xít Nhật. Bất chấp thiện ý của Hồ Chí Minh muốn lập quan hệ bang giao và hợp tác bình đẳng với nước Mỹ, họ đã gửi lực lượng, vũ khí, tiền bạc giúp chính phủ (Pháp) hơn là dồn sức chống Nhật; họ đã rút tất cả những quân nhân Mỹ có đầu óc tiến bộ, muốn hợp tác với Việt Nam về nước. Trong thư gửi cho một quân nhân Mỹ là Ph.Tan, Hồ Chí Minh đã “lấy làm tiếc vì những người bạn Mỹ đã rời chúng tôi quá nhanh và do đó mối quan hệ giữa chúng ta sẽ trở nên khó khăn hơn”(5). Nhưng với tinh thần lạc quan cách mạng, vững tin vào quy luật phát triển của lịch sử, cuối thư, Người đã viết: “Ngày mai tươi sáng, chúng ta sẽ gặp nhau, chúng ta trông chờ ngày đó”(6).
Như mọi người đều biết, nước Mỹ từ chỗ ủng hộ thực dân Pháp rồi trắng trợn can thiệp, trực tiếp tiến hành cuộc chiến tranh đẫm máu xâm lược nước ta. Mặc dù vậy, giữa năm 1965, khi đế quốc Mỹ leo thang ra phá hoại miền Bắc, Hồ Chí Minh và Chính phủ ta vẫn kiên trì đường lối hoà bình, hợp tác với tất cả các nước dân chủ trên thế giới, trong đó có Mỹ. Trong buổi tiếp thân mật giáo sư luật học La Pa-ra và nhà toán học Ma-ri-ô Po-ri-mi-chê-ri-ô (Phái viên của Bộ trưởng Bộ Ngoại giao I-ta-li-a) Hồ Chủ tịch đã nói: “Chúng tôi sẵn sàng trải thảm đỏ và rắc hoa cho Mỹ rút. Nhưng nếu Mỹ không rút thì phải đánh đuổi Mỹ đi. Chúng tôi và nhân dân chúng tôi sẵn sàng nói chuyện với nhà cầm quyền Mỹ và nhân dân Mỹ… Mỹ phải rút khỏi Việt Nam rồi Tổng thống Giôn-xơn đến đây nói chuyện cũng được hoặc ông ta mời tôi đến Oa-sinh-tơn tôi cũng sẵn sàng. Nhưng trước hết Mỹ phải để chúng tôi yên. Mỹ phải chấm dứt chiến tranh”(7). Cùng với thái độ như trên khi tiếp Xanh-tơ-ny, phái viên của Tổng thống Pháp, tháng 7-1966, Hồ Chủ tịch đã nói chỉ có một giải pháp thương lượng với điều kiện tiên quyết “là Mỹ rút đi. Chúng tôi không muốn làm cái gì xấu đối với họ, chúng tôi sẵn sàng đem nhạc và hoa tiễn họ và mọi thứ khác mà họ thích, nhưng ông biết đấy, tôi thích tiếng lóng của nước ông “qu’ils foutent le camp! (thì họ hãy cút đi)”(8). Với lập trường rõ ràng, trước sau như một, tháng 1-1967 khi tiếp đoàn “những người tình nguyện vì hoà bình” từ Mỹ tới, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nói: “Tôi xin mời ông Giôn-xơn đến Hà Nội như là khách của chúng tôi – ông ấy hãy đến với vợ và con gái, thư ký, bác sĩ và người đầu bếp của mình nhưng đừng mang theo binh lính và đô đốc”(9).
Tiếc rằng những thiện ý chân thành muốn có quan hệ hợp tác, bình đẳng, tôn trọng chủ quyền của nhau mà Hồ Chí Minh và Chính phủ ta nhiều lần đưa ra, người Mỹ lại giống như người Pháp trước đây, đã đón nhận nó bằng một cuộc chiến tranh đẫm máu kéo dài, một thời gian bao vây cấm vận khắc nghiệt. Nhưng hoà bình, hợp tác, chính nghĩa và phát triển có quy luật riêng của nó, không ai có thể cưỡng được.
Trong những năm kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ xâm lược ở thế kỷ XX, Việt Nam đã có quan hệ hợp tác hữu nghị với nhiều nước, chủ yếu là Liên-xô, Trung Quốc, các nước trong phe XHCN. Nhờ đó nền kinh tế nước ta đã có những bước phát triển đáng kể. Song nhìn chung vẫn tập trung vào xây dựng miền Bắc, làm hậu phương vững chắc để đấu tranh giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước.
Nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà (từ năm 1976 là Cộng hoà Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam) đã giành thắng lợi trọn vẹn trong sự nghiệp giành và giữ vững chủ quyền quốc gia, để từ năm 1976 mở quan hệ hợp tác với nhiều quốc gia trên thế giới, ở tất cả các châu lục, không phân biệt chế độ chính trị với tinh thần khép lại quá khứ, hướng tới tương lai.
Với những quan điểm của Bác:
– “Hoàn toàn độc lập quyết không có nghĩa là đoạn tuyệt”. Việt Nam “sẵn sàng phát triển nó bằng sự hợp tác anh em và trung thực”(10).
– Nếu công dân các nước, kể cả Pháp, Nhật, Mỹ “đến Việt Nam như những công nhân, kỹ thuật viên hoặc nhà bác học… họ sẽ được đón tiếp nồng nhiệt như những người bạn, những người anh em”(11).
– Chính phủ Việt Nam muốn gửi thanh niên sang Mỹ và các nước phát triển khác “với ý định một mặt thiết lập những mối quan hệ văn hoá thân thiết” với thanh niên các nước đó “và mặt khác, để xúc tiến việc tiếp tục nghiên cứu về kỹ thuật, nông nghiệp cũng như các lĩnh vực chuyên môn khác”(12).
– “Chúng tôi chỉ đòi hỏi nền độc lập hoàn toàn, nền độc lập mà cho tới nay đã là một thực tế và nó sẽ cho phép chúng tôi hợp tác với các quốc gia khác trong việc xây dựng nên một thế giới tốt đẹp hơn và một nền hoà bình bền vững”(13).
– “Đối với các nước dân chủ, nước Việt Nam sẵn sàng thực thi chính sách mở cửa và hợp tác trong mọi lĩnh vực.
a) Nước Việt Nam dành sự tiếp nhận thuận lợi cho đầu tư của các nhà tư bản, nhà kỹ thuật nước ngoài trong tất cả các ngành kỹ nghệ của mình.
b) Nước Việt Nam sẵn sàng mở rộng các cảng, sân bay và đường giao thông cho việc buôn bán và quá cảnh quốc tế.
c) Nước Việt Nam chấp nhận tham gia mọi tổ chức hợp tác kinh tế quốc tế dưới sự lãnh đạo của Liên hiệp quốc”(14).
– Nước Việt Nam sẵn sàng “làm bạn với tất cả mọi nước dân chủ và không gây thù oán với một ai”(15).
Từ năm 1986 tới nay, với đường lối đổi mới của Đảng Cộng sản Việt Nam, tư tưởng hoà bình, hợp tác bình đẳng, cùng có lợi của Hồ Chí Minh cách đây hơn nửa thế kỷ đã và đang trở thành hiện thực.
Cách mạng là sáng tạo. Thế hệ sau phải tiếp bước thế hệ trước trên con đường sáng tạo, dựng xây. Đại hồng phúc của mọi người dân nước Việt Nam hiện nay là được sáng tạo dưới ánh sáng chỉ đường của Hồ Chí Minh – nhà tư tưởng và nhà văn hoá của tương lai.
____
(1) Hồ Chí Minh toàn tập, NXBCTQG, H.2002, tập 4, tr.56. (2) Sđd, tập 4, tr.52. (3) Sđd, tập 4, tr.73-74. (4) Sđd, tập 4, tr.208. (5,6) Hồ Chí Minh biên niên tiểu sử, tập 2, tr.266-267. (7) Sđd, tập 9, tr.319. (8) Sđd, tập 9, tr.439. (9) Sđd, tập 10, tr.24. (10) Hồ Chí Minh toàn tập, NXBCTQG, H.2002, tập 4, tr.284. (11) Sđd, tập 4, tr.302. (12) Sđd, tập 4, tr.80. (13) Sđd, tập 4, tr.182. (14) Sđd, tập 4, tr.470. (15) Sđd, tập 5, tr.220.
Trần Đình Huỳnh
Tư tưởng Hồ Chí Minh về phát triển đảng viên
Vấn đề phát triển Đảng là vấn đề quan trọng trong xây dựng Đảng. Quan điểm, tư tưởng của Người về vấn đề này có giá trị lý luận và thực tiễn sâu sắc.
Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định Đảng “cũng ở trong xã hội”. Đảng là một cơ thể sống, tồn tại và phát triển theo quy luật khách quan, có hấp thụ, có đào thải. Đảng phải có một số lượng đảng viên nhất định mới hình thành nên tổ chức đảng. Sự nghiệp lãnh đạo cách mạng của Đảng là sự nghiệp vĩ đại lâu dài phải do nhiều thế hệ chiến sĩ cộng sản tham gia gánh vác. Đảng phải liên hệ mật thiết với quần chúng, phải không ngừng nâng cao chất lượng lãnh đạo, sức chiến đấu tương xứng với đòi hỏi khách quan của tình hình nhiệm vụ cách mạng. Năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu chỉ có thể có trên cơ sở số lượng, chất lượng đội ngũ đảng viên tương ứng. Do đó, Đảng phải thường xuyên làm tốt công tác phát triển đảng. Chủ tịch Hồ Chí Minh phân tích: “Nếu Đảng ta không biết chọn lọc, kết nạp, đề bạt đồng chí mới thì đâu có như ngày nay”(1). Người vạch rõ tính tất yếu, yêu cầu, phương châm, phương pháp của công tác phát triển đảng: “Để làm tròn nhiệm vụ rất nặng nề nhưng rất vẻ vang… Đảng phải phát triển tổ chức của mình một cách thận trọng, vững chắc và rộng rãi trong quần chúng”(2).
Tư tưởng quán xuyến trong quan điểm của Hồ Chí Minh về phát triển Đảng là “coi trọng chất lượng”. Người dạy rằng, Đảng mạnh không phải chỉ do số lượng đảng viên quyết định; số lượng đảng viên chỉ trở thành sức mạnh một khi nó đạt những yêu cầu về chất lượng. Theo Người, nếu không quán triệt và thực hiện đúng đắn vấn đề có tính nguyên tắc đó, thì dù có kết nạp được nhiều đảng viên, dù số lượng đảng viên tăng, vẫn không làm cho tổ chức đảng mạnh lên mà trái lại có khi còn làm cho tổ chức đảng trở nên lỏng lẻo, biến Đảng thành câu lạc bộ, không làm tròn vai trò người lãnh đạo. Do vậy, Người luôn nhắc nhở: “Đảng không phải chỉ cần số cho nhiều, tuy nhiều là tốt, nhưng phải có cái chất của người đảng viên”(3). Người đặc biệt nhấn mạnh khi tiến hành phát triển đảng “phải nắm vững phương châm phát triển Đảng là trọng chất hơn lượng”(4).
Ngày nay, đất nước ta bước vào thời kỳ hội nhập, thời kỳ đẩy mạnh CNH, HĐH. Thắng lợi của sự nghiệp này gắn liền với trách nhiệm lãnh đạo và hoạt động của Đảng. Sự lãnh đạo của Đảng là nhân tố quyết định tạo nên những thành tựu đổi mới to lớn hơn. Điều đó đòi hỏi Đảng hơn bao giờ hết phải tiếp tục nâng cao phẩm chất cách mạng và khoa học, không ngừng củng cố sức mạnh chiến đấu, lãnh đạo có kết quả công cuộc xây dựng và bảo vệ đất nước trong những tình huống mới hết sức phức tạp. Yêu cầu xây dựng Đảng ngang tầm đòi hỏi của thời kỳ mới đặt ra cho công tác phát triển đảng những yêu cầu mới. Để quán triệt và thực hiện đúng đắn những quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh, theo chúng tôi, cần tập trung làm tốt mấy vấn đề sau:
Một là, phải xác định và vận dụng đúng đắn tiêu chuẩn đảng viên. Đây là vấn đề then chốt. Tiêu chuẩn đảng viên là những chuẩn mực phản ánh bản chất của người đảng viên, là căn cứ để phân biệt sự khác nhau giữa người đảng viên với quần chúng, là cơ sở để cho từng đảng viên tự tu dưỡng, phấn đấu, rèn luyện và là căn cứ để thu nạp những quần chúng tốt vào Đảng, loại bỏ những đảng viên thoái hoá ra khỏi Đảng. Tiêu chuẩn đảng viên trong mỗi giai đoạn, mỗi thời kỳ cách mạng biểu hiện tuy có khác nhau, song bản chất của nó không hề thay đổi. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ rõ những tiêu chuẩn cơ bản thể hiện bản chất đó:
“Từ nay về sau, tất cả các đảng viên, cán bộ và chi bộ cần thường xuyên ôn lại, tự liên hệ và giữ cho đúng những tiêu chuẩn của người đảng viên.
1. Suốt đời kiên quyết phấn đấu cho chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa cộng sản.
2. Rèn luyện tư tưởng vô sản, sửa chữa những tư tưởng sai lầm, kiên quyết đứng hẳn trên lập trường giai cấp công nhân, không đứng chân trong chân ngoài.
3. Đặt lợi ích của Đảng lên trên hết, trước hết. Biết đem lợi ích riêng, lợi ích của cá nhân phục tùng lợi ích chung của cách mạng.
4. Tuyệt đối chấp hành nghị quyết và đường lối của Đảng.
5. Liên hệ chặt chẽ với quần chúng.
6. Luôn luôn cố gắng học tập, thật thà tự phê bình và thành khẩn phê bình đồng chí mình”(5).
Khi vận dụng tiêu chuẩn đảng viên để xem xét kết nạp quần chúng vào Đảng, Người căn dặn các tổ chức đảng phải đặc biệt quan tâm đến sự giác ngộ, lòng trung thành, thái độ trách nhiệm với Đảng, với nhân dân của người xin vào Đảng, Người nhấn mạnh: “Gọi là đảng viên thì phải nhận rõ, phải biết rõ Đảng ta phải làm gì, vào Đảng để làm gì”(6).
Hai là, phải thực hiện tốt phương hướng phát triển đảng. Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, phương hướng phát triển Đảng là yếu tố quan trọng đảm bảo cho công tác phát triển đảng có chất lượng, giữ vững bản chất giai cấp công nhân của Đảng.
Trong khi khẳng định phải coi trọng việc phát triển Đảng trong công nhân, Chủ tịch Hồ Chí Minh căn dặn Đảng không nên hẹp hòi với các thành phần lao động khác. Theo Người, nếu những người xuất thân từ các thành phần lao động khác đó tự nguyện rèn luyện tư tưởng, lập trường giai cấp công nhân, muốn đứng trong hàng ngũ của Đảng để phấn đấu cho mục đích, lý tưởng của Đảng, xét thấy có đủ điều kiện thì kết nạp vào Đảng. Có như vậy mới thường xuyên tăng thêm nguồn sinh lực và sức chiến đấu mới cho Đảng, tăng cường sự lãnh đạo toàn diện của Đảng. Vì vậy, Đảng phải chú trọng phát triển toàn diện vào các vùng, các ngành, các giới, đặc biệt đẩy mạnh việc phát triển Đảng vào thanh niên, phụ nữ, vào các vùng xung yếu, các cơ sở còn ít đảng viên.
Ba là, phát triển Đảng phải tích cực, thận trọng, phát triển phải luôn luôn đi đôi với củng cố. Chủ tịch Hồ Chí Minh yêu cầu các tổ chức đảng phải có kế hoạch phát triển Đảng trong từng thời kỳ, bảo đảm đáp ứng được yêu cầu nhiệm vụ lãnh đạo cách mạng của Đảng; phải tiến hành thật tích cực, chủ động, không bị động, ỷ lại ngồi chờ người có đủ điều kiện rồi kết nạp theo lối ăn sẵn, phải gây dựng, đẩy mạnh phong trào cách mạng để trên cơ sở đó mà phát hiện, tìm hiểu, tuyên truyền, giáo dục và rèn luyện các phần tử tích cực, nâng cao dần trình độ của họ từ thấp đến cao, tạo cho họ có đủ điều kiện trở thành người đảng viên. Khi xét kết nạp người vào Đảng, phải xem xét toàn diện cả trình độ giác ngộ, động cơ vào Đảng, cả phẩm chất đạo đức và năng lực hành động thực tế, cả lý lịch gia đình, bản thân và uy tín trước quần chúng…; phải xem xét sự rèn luyện, tu dưỡng và kết quả hoàn thành nhiệm vụ trong một quá trình liên tục với những đều kiện, hoàn cảnh và những thử thách khác nhau; phải thực hiện nghiêm chỉnh các nguyên tắc, thủ tục kết nạp đảng, hết sức cảnh giác đề phòng các phần tử thù địch, cơ hội chui vào Đảng. Chống giản đơn, phiến diện, chạy theo chỉ tiêu số lượng, kết nạp ẩu, hoặc vin vào thận trọng sinh ra rụt rè, bảo thủ, hẹp hòi, cục bộ.
Phát triển Đảng phải luôn luôn đi đôi với củng cố đảng. Chủ tịch Hồ Chí Minh coi đây là hai vấn đề của xây dựng Đảng, có quan hệ hữu cơ với nhau. Củng cố Đảng tốt là điều kiện để tiến hành phát triển Đảng có chất lượng. Phát triển Đảng có chất lượng là cơ sở để củng cố Đảng tốt hơn. Do đó, cấp ủy đảng cần phải xem công tác củng cố và phát triển đảng là một công tác quan trọng và thường xuyên. Phải coi trọng giáo dục rèn luyện đội ngũ đảng viên để mỗi đảng viên vừa là “người lãnh đạo” vừa là “người đầy tớ thật trung thành của nhân dân”, là tấm gương để quần chúng ngưỡng mộ, muốn vào Đảng, được là đồng chí của những người tiên tiến. Đồng thời, kiên quyết loại ra khỏi Đảng những phần tử thoái hoá, biến chất.
Bốn là, thực hiện tốt các bước phát triển Đảng. Phát triển Đảng là quá trình lựa chọn, chuyển hoá những quần chúng ưu tú trong đấu tranh cách mạng thành những chiến sĩ cộng sản, quá trình đó chỉ đạt hiệu quả cao khi nó được tiến hành theo một quy trình chặt chẽ.
– Bước thứ nhất là thông qua phong trào cách mạng của quần chúng, phát hiện, lựa chọn đưa vào nguồn phát triển Đảng những quần chúng ưu tú “có lịch sử chính trị rõ ràng”, “đã tỏ ra rất trung thành và hăng hái trong việc đấu tranh”, “liên lạc mật thiết với quần chúng”, tin tưởng vào Đảng và có nguyện vọng muốn gia nhập Đảng để phấn đấu cho mục tiêu, lý tưởng của Đảng. Việc tạo nguồn phát triển Đảng do tổ chức có thẩm quyền quyết định, dựa trên cơ sở phát hiện, giới thiệu của đảng viên, tổ đảng và tổ chức quần chúng của Đảng.
– Bước thứ hai là tuyên truyền, giác ngộ, giáo dục, rèn luyện, thử thách. Nội dung giáo dục, rèn luyện phải toàn diện, cả phẩm chất và năng lực, cả chính trị, đạo đức và nghiệp vụ chuyên môn, trong đó “lấy đức làm gốc”. Phương pháp cơ bản để giáo dục, chuyển hoá quần chúng là: Động viên quần chúng tự giác, rèn luyện theo tiêu chuẩn đảng viên; đồng thời, thông qua hoạt động sản xuất, đấu tranh cách mạng và bằng giáo dục, thuyết phục, nêu gương, tự phê bình và phê bình trong các đoàn thể cách mạng mà cảm hoá, xây dựng, nâng dần trình độ giác ngộ của quần chúng từ thấp lên cao, từ giác ngộ dân tộc đi đến giác ngộ giai cấp, từ tán thành những chủ trương, chính sách của Đảng đi đến ủng hộ, đấu tranh cho sự nghiệp cách mạng của Đảng và tự nguyện xin gia nhập Đảng.
– Bước thứ ba là kết nạp quần chúng vào Đảng theo đúng thủ tục mà Điều lệ Đảng đã quy định.
– Bước thứ tư là tiếp tục bồi dưỡng, giáo dục, rèn luyện đảng viên mới và làm đúng, đủ các thủ tục chuyển đảng viên dự bị thành đảng viên chính thức.
Để thực hiện có hiệu quả quy trình trên, Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ dẫn các tổ chức đảng phải có kế hoạch, có kiểm tra, đôn đốc và thường xuyên tổng kết đúc rút kinh nghiệm. Đồng thời, phải gắn kết hoạt động phát triển Đảng với các hoạt động xây dựng đảng, xây dựng đơn vị và thực hiện nhiệm vụ chính trị, phát huy được sức mạnh tổng hợp của các ngành, các giới, các lực lượng tham gia xây dựng, phát triển Đảng n
____
(1) Hồ Chí Minh toàn tập, NXBCTQG, H.2002, tập 10, tr.467. (2) Sđd, tập 10, tr.20,21. (3) Sđd, tập 12, tr.222. (4) Sđd, tập 11, tr.155. (5) Sđd, tập 10, tr.69. (6) Sđd, tập 12, tr.221.
Trần Thông
Học viện Chính trị quân sự Bắc Ninh
Những nguyên tắc và chuẩn mực đạo đức đối với Đội ngũ trí thức
1. … Ngòi bút của các bạn cũng là những vũ khí sắc bén trong sự nghiệp phò chính trừ tà, mà anh em văn hóa và trí thức phải làm cũng như là những chiến sĩ anh dũng trong công cuộc kháng chiến để tranh lại quyền thống nhất và độc lập cho Tổ quốc.
Gửi anh em văn hóa và trí thức Nam bộ, ngày 25-5-1947, sđd, t.5, tr. 131.
2. … Trí thức là vốn liếng quý báu của dân tộc. Ở nước khác như thế, ở Việt Nam càng như thế. Chứng thực là trong cuộc kháng chiến cứu quốc này, những người trí thức Việt Nam đã chung một phần quan trọng. Một số thì trực tiếp tham gia vào công việc kháng chiến, hy sinh cực khổ, chen vai thích cánh với bộ đội và nhân dân. Một số thì hăng hái hoạt động giúp đỡ ở ngoài.
Trả lời một nhà báo nước ngoài, ngày 22-6-1947, sđd, t.5, tr. 156.
3. … Những người trí thức tham gia cách mạng, tham gia kháng chiến rất quý báu cho Đảng. Không có những người đó thì công việc cách mạng khó khăn thêm nhiều.
Nhưng có đôi người trí thức vì thế mà kiêu ngạo, lên mặt. Chứng kiêu ngạo lên mặt rất có hại cho họ. Nó ngăn trở họ tiến bộ.
… Một người học xong đại học có thể gọi là có trí thức. Song y không biết cày ruộng, không biết làm công, không biết đánh giặc, không biết làm nhiều việc khác. Nói tóm lại: công việc thực tế, y không biết gì cả. Thế là y có trí thức một nửa. Trí thức của y là trí thức học sách, chưa phải trí thức hoàn toàn. Y muốn thành một người trí thức hoàn toàn, thì phải đem cái trí thức đó áp dụng vào thực tế.
Vì vậy, những người trí thức đó cần phải biết rõ cái khuyết điểm của mình. Phải khiêm tốn. Chớ kiêu ngạo. Phải ra sức làm các việc thực tế.
Lý luận phải đem ra thực hành. Thực hành phải nhằm theo lý luận.
Lý luận cũng như cái tên (hoặc viên đạn). Thực hành cũng như cái đích để bắn. Có tên mà không bắn, hoặc bắn lung tung, cũng như không có tên.
Lý luận cốt để áp dụng vào thực tế. Chỉ học thuộc lòng, để lòe thiên hạ thì lý luận ấy cũng vô ích.
Vì vậy, chúng ta phải gắng học, đồng thời học thì phải hành.
… Có nhiều đồng chí có bệnh tự tôn, tự đại, khinh rẻ người ta, không muốn biết, muốn học những ưu điểm của người khác. Biết được vài câu lý luận đã cho mình là giỏi, không xem ai ra gì, tưởng mình là hơn hết. Đó là bệnh hẹp hòi hạng nặng.
Sửa đổi lối làm việc, tháng 10-1947, sđd, t.5, tr. 235, 238.
…Các bạn là bậc trí thức. Các bạn có cái trách nhiệm nặng nề và vẻ vang là làm gương cho dân trong mọi việc. Dân ta đã đấu tranh một cách rất dũng cảm. Lẽ tất nhiên giới trí thức phải hy sinh đấu tranh, dũng cảm hơn nữa để làm gương cho nhân dân.
Các bạn là viên chức của Chính phủ Dân chủ Cộng hòa mà các bạn đã giúp xây dựng nên. Chính thể dân chủ cộng hòa của ta tuy còn trẻ tuổi, nhưng đã chiến thắng nhiều cuộc thử thách, nó đã chứng tỏ rằng quả thật là đầy tương lai. Do đó, nhiệm vụ các bạn phải tuyệt đối trung thành với chính quyền dân chủ.
…Các bạn là những người phụ trách thi hành pháp luật. Lẽ tất nhiên các bạn cần phải nêu cao cái gương “phụng công, thủ pháp, chí công, vô tư” cho nhân dân noi theo.
Thư gửi Hội nghị Tư pháp toàn quốc, tháng 2-1948, sđd, t.5, tr. 381, 382.
Hồ Chí Minh về nhân cách cán bộ cách mạng
Hồ Chí Minh am hiểu rất sâu sắc về con người, tâm lý con người và vận dụng một cách khoa học vào việc giáo dục, đào tạo người cán bộ cách mạng nhằm giải quyết những nhiệm vụ thực tiễn của đất nước. Theo Người, đức tài là hai mặt không thể thiếu ở người cán bộ cách mạng. Người lý giải một cách giản dị, dễ hiểu nhưng sắc sảo, khoa học về mối quan hệ giữa tài và đức: “Có tài mà không có đức ví như một anh làm kinh tế tài chính rất giỏi nhưng lại đi đến thụt két thì chẳng những không làm được gì ích lợi cho xã hội, mà còn có hại cho xã hội nữa. Nếu có đức mà không có tài ví như ông Bụt không làm hại gì, nhưng cũng không lợi gì cho loài người”(1). Bàn về giáo dục, phát triển nhân cách cho một con người, Người chỉ rõ dạy cũng như học phải biết chú trọng cả tài lẫn đức. Đức là đạo đức cách mạng, đó là cái gốc rất quan trọng, nếu không có đạo đức cách mạng “thì có tài mấy cũng không lãnh đạo được nhân dân”(2). Khi nói đến đức và tài, Người thường gắn với người cán bộ, không nói đức tài chung chung.
Người tóm tắt đạo đức cách mạng gồm năm điều: Nhân, nghĩa, trí, dũng, liêm trong đó Người nhấn mạnh:
Nhân là thật thà thương yêu, hết lòng giúp đỡ đồng chí, đồng bào. Vì thế mà kiên quyết chống lại những người, những việc có hại đến Đảng, đến nhân dân; sẵn lòng chịu cực khó trước mọi người, hưởng hạnh phúc sau thiên hạ; không ham giàu sang, không e cực khổ, không sợ oai quyền. Những người đã không ham, không e, không sợ thì việc gì là việc phải, họ đều làm được.
Nghĩa là ngay thẳng, không có tư tâm, không làm việc bậy; Đảng, Nhà nước giao cho việc, thì bất kỳ việc to nhỏ, đều ra sức làm; thấy việc phải thì làm, thấy việc phải thì nói không sợ người ta phê bình mình, mà phê bình người khác cũng luôn luôn đúng đắn.
Trí đầu óc trong sạch, sáng suốt vì không có việc tư túi làm mù quáng. Dễ hiểu lý luận. Dễ tìm phương hướng. Biết xem người. Biết xét việc. Vì vậy, mà biết làm việc có lợi, tránh việc có hại cho Đảng, cho nước, cho dân, biết vì Đảng mà cân nhắc người tốt, đề phòng người gian.
Dũng là dũng cảm, gan góc, gặp việc phải có gan làm. Thấy khuyết điểm có gan sửa chữa. Cực khổ khó khăn, có gan chịu đựng. Có gan chống lại những vinh hoa, phú quý không chính đáng. Nếu cần, có gan hy sinh cả tính mệnh cho Đảng, cho Tổ quốc, không bao giờ rụt rè, nhút nhát.
Liêm là không tham địa vị. Không tham tiền tài. Không ham sung sướng. Không ham người tâng bốc mình.
Năm đức tính ấy phải gắn kết chặt chẽ tạo nên nhân cách người cán bộ cách mạng của Đảng. Người cán bộ không chỉ có đức mà còn phải có tài. Tài được Người cụ thể hoá và gắn liền với từng người cán bộ, từng loại hoạt động cụ thể. Người nói: “Ngay nay, Đảng yêu cầu cán bộ và đảng viên chẳng những thành thạo về chính trị mà còn phải giỏi về chuyên môn”(3). Theo Người, năng lực cán bộ phải được phát triển toàn diện. Người nói: “Quân nhân phải võ, phải biết văn, võ là như tay phải, văn là như tay trái của quân nhân. Biết võ, biết văn, mới là quân nhân hoàn toàn”(4). Người chỉ rõ, khi sử dụng cán bộ, phải biết năng lực của họ là để giao việc cho phù hợp. Người nói: “Nếu dùng không đúng, người giỏi nghề thợ mộc thì giao cho việc thợ rèn, người giỏi nghề rèn thì giao cho việc thợ mộc, như thế thì hai người đều thất bại cả hai”(5)… “Thợ rèn thì bảo đi đóng tủ, thợ mộc thì bảo đi rèn dao. Thành thử hai người đều lúng túng. Nếu biết tuỳ tài mà dùng người, thì hai người đều thành công”(6). Người luôn nhắc nhở phải biết rõ từng người, từng mặt, mạnh yếu ở một người, mà giao nhiệm vụ cho phù hợp. “Nếu người có tài mà dùng không đúng tài của họ, cũng không được việc”(7).
Hồ Chí Minh chỉ rõ: Người đời ai cũng có chỗ hay chỗ dở. Ta phải dùng chỗ hay của người và giúp người chữa chỗ dở. Dùng người cũng như dùng gỗ. Người thợ khéo thì gỗ to, nhỏ, thẳng cong đều tuỳ chỗ mà dùng được. Biết được mặt mạnh, mặt hạn chế ở một người, giúp họ phát huy mặt mạnh, khắc phục mặt hạn chế, sử dụng đúng năng lực của họ thì bất cứ điều kiện hoàn cảnh nào, hoạt động của họ cũng đạt hiệu quả, hiệu suất cao.
Hồ Chí Minh chú trọng cả năng lực nhận thức và năng lực hoạt động thực tiễn. Luôn coi trọng kết hợp lý luận với thực tiễn. Người chỉ rõ: “Chỉ thực hành mà không có lý luận cũng như có một mắt sáng, một mắt mù”(8). Người đồng thời nhấn mạnh yếu tố quyết định sự hình thành và phát triển năng lực là yếu tố xã hội, trong đó giáo dục đào tạo và điều kiện hoạt động là yếu tố cơ bản nhất, quyết định nhất: “năng lực của người không phải hoàn toàn do tự nhiên mà có mà một phần lớn do công tác, do tập luyện mà có”(9). Trong khi chỉ rõ vai trò to lớn của giáo dục đào tạo đối với sự phát triển năng lực, Người đặc biệt đề cao tính tích cực, chủ động trong học tập, rèn luyện cảa mỗi người, luôn nhắc nhở mọi người cố gắng, không ngừng học tập, tu dưỡng, rèn luyện, nâng cao năng lực bản thân. Người chỉ rõ học phải gắn liền với hành, với thực hiện nhiệm vụ được giao, học để đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ.
Mỗi người tự rèn luyện, học tập nâng cao phẩm chất, năng lực của mình cũng đồng thời góp phần nâng cao năng lực lãnh đạo và sức mạnh chiến đấu của Đảng trong công cuộc đổi mới và hội nhập hiện nay.
____
(1) Hồ Chí Minh toàn tập, NXBCTQG, H.2002, tập 9, tr.172. (2) Hồ Chí Minh về kinh tế và quản lý kinh tế, NXB Thông tin lý luận, 1990, tr.90. (3) Hồ Chí Minh toàn tập, NXBCTQG, H.2002, tập 10, tr.313. (4,5,6,7,8,9) Sđd, tập 5, tr.588, 633, 274, 276, 280.
Trần Thông
Học viện Chính trị quân sự, Bắc Ninh
Đạo đức cách mạng là suốt đời “tận trung với nước, tận hiếu với dân”
Trong cuộc đời hoạt động cách mạng của mình, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn dành nhiều thời gian và công sức quan tâm chăm lo rèn luyện đội ngũ cán bộ, đảng viên. Một yếu tố cốt lõi, theo Người là mỗi cán bộ, đảng viên phải có đạo đức cách mạng. Người nói “Sức có mạnh mới gánh được nặng và đi được xa. Người cách mạng phải có đạo đức cách mạng làm nền tảng, mới hoàn thành được nhiệm vụ cách mạng vẻ vang”(1), “Cũng như sông thì có nguồn mới có nước, không có nguồn thì sông cạn. Cây phải có gốc, không có gốc thì cây héo. Người cách mạng phải có đạo đức, không có đạo đức thì dù tài giỏi mấy cũng không lãnh đạo được nhân dân”(2). Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn yêu cầu đội ngũ cán bộ, đảng viên trong quá trình hoạt động cách mạng phải thường xuyên rèn luyện phẩm chất, đạo đức cách mạng và đấu tranh chống chủ nghĩa cá nhân. Theo Người “có đạo đức cách mạng thì khi gặp thuận lợi và thành công cũng vẫn giữ vững tinh thần gian khổ, chất phác, khiêm tốn, “lo trước thiên hạ, vui sau thiên hạ”; lo hoàn thành nhiệm vụ cho tốt chứ không kèn cựa về mặt hưởng thụ; không công thần, không quan liêu, không kiêu ngạo, không hủ hoá”(3).
Đạo đức cách mạng, theo Chủ tịch Hồ Chí Minh là đạo đức mới, về bản chất nó khác xa đạo đức cũ trói buộc con người trong những lợi ích cá nhân ích kỷ, hẹp hòi. Đạo đức cách mạng gắn liền với chế độ mới, nó là đạo đức vĩ đại, nó không phải vì danh vọng cá nhân, mà vì lợi ích chung của Đảng, của dân tộc, của loài người. “Đạo đức cách mạng có thể nói tóm tắt là: Nhận rõ phải, trái. Giữ vững lập trường. Tận trung với nước. Tận hiếu với dân”(4), “là tuyệt đối trung thành với Đảng, với nhân dân”. Đạo đức cách mạng đòi hỏi phải ra sức thực hiện tốt đường lối, chính sách của Đảng, lợi ích cá nhân phải phục tùng lợi ích chung của nhân dân, của tập thể, kiên quyết đấu tranh chống chủ nghĩa cá nhân, giữ vững kỷ luật của Đảng. Vì Đảng, vì dân mà đấu tranh quên mình, gương mẫu trong mọi việc. Chủ tịch Hồ Chí Minh từng nói: “Đạo đức cách mạng là ra sức phấn đấu để thực hiện mục tiêu của Đảng, hết sức trung thành phục vụ giai cấp công nhân và nhân dân lao động, tuyệt đối không thể lưng chừng”(5). Người chỉ rõ: “Đảng viên là người thay mặt Đảng đại biểu cho lợi ích của giai cấp công nhân và nhân dân lao động. Vì vậy, lợi ích của người đảng viên phải ở trong chứ không thể ở ngoài lợi ích của Đảng, của giai cấp. Đảng và giai cấp thắng lợi và thành công, tức là đảng viên thắng lợi và thành công”(6). “Người cộng sản chúng ta không được phút nào quên lý tưởng cao cả của mình là: suốt đời làm cách mạng phấn đấu cho Tổ quốc hoàn toàn độc lập, làm cho CNXH và CNCS thắng lợi hoàn toàn trên Tổ quốc ta và trên thế giới”(7). Để thực hiện thắng lợi mục tiêu của Đảng, trước hết bản thân người cán bộ, đảng viên phải thực hiện nghiêm chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng, đồng thời phải ra sức tuyên truyền, vận động cho quần chúng thực hiện. Phải là người tiên phong, dẫn đường cho quần chúng thực hiện một cách có hiệu quả, muốn vậy trong lời nói và việc làm người cán bộ, đảng viên phải luôn thống nhất và làm gương cho quần chúng noi theo, phải làm cho quần chúng tin tưởng vào sự nghiệp cách mạng của Đảng. Chủ tịch Hồ Chí Minh nói: “Những chính sách và nghị quyết của Đảng đều vì lợi ích của nhân dân. Vì vậy, đạo đức cách mạng của người đảng viên là bất kỳ khó khăn đến mức nào cũng kiên quyết làm đúng chính sách và nghị quyết của Đảng, làm gương mẫu cho quần chúng. Mọi đảng viên phải nâng cao tinh thần trách nhiệm trước nhân dân, trước Đảng; phải ngăn ngừa và kiên quyết chống lại chủ nghĩa cá nhân”(8). “Đạo đức cách mạng là hoà mình với quần chúng thành một khối, tin quần chúng, lắng nghe ý kiến của quần chúng. Do lời nói và việc làm, đảng viên, đoàn viên và cán bộ làm cho dân tin, dân phục, dân yêu, đoàn kết quần chúng chặt chẽ chung quanh Đảng, tổ chức, tuyên truyền và động viên quần chúng hăng hái thực hiện chính sách và nghị quyết của Đảng”(9).
___
(1, 3, 5, 6, 8,9) Hồ Chí Minh toàn tập, tập 9, NXBCTQG, H.2002, tr.283, 284, 286, 288, 289, 290. (2) Sđd, tập 5, tr.252-253. (4) Sđd, tập 7, tr.480. (7) Sđd, tập 12, tr.93.
Lê Văn Tuyên
Học viện Chính trị Quân sự
Trí thức và cách đối đãi với trí thức của Hồ Chí Minh
Trong lịch sử loài người và trong tất cả các cuộc cách mạng xã hội, người lao động trí óc đều có vai trò quan trọng và theo xu thế phát triển chung của lịch sử, những người lao động trí óc chuyên nghiệp ngày càng đông đảo.
Xét về mặt sở hữu tài sản và đặc điểm lao động thì bản thân những người lao động trí óc không cố kết với nhau thành giai cấp. Các từ điển chính trị học, triết học gọi họ là “tầng lớp” hoặc “tập đoàn”, từ điển CNXH khoa học gọi là “nhóm xã hội”, gần đây trong các văn kiện của Đảng Cộng sản Việt Nam thì gọi họ là “đội ngũ”. Dù gọi là gì thì những người trí thức lao động trí óc ở mỗi nước cũng là một thực thể, là một bộ phận không thể thiếu và ngày càng quan trọng của đời sống xã hội. Nếu phân biệt với những người lao động trực tiếp bằng chân tay, cơ bắp (hiểu theo nghĩa tương đối) thì tất cả các nhà bác học, các nhà khoa học ở các lĩnh vực của đời sống xã hội, kỹ sư, thầy thuốc, giáo viên và phần đông công chức đều là trí thức. Họ không lao động chân tay để sản xuất ra của cải vật chất như thợ thủ công, công nhân, nông dân, nhưng họ lại có vai trò quan trọng trong cải biến xã hội và phát triển lực lượng sản xuất, nhất là quá trình CNH, HĐH. Nhờ có họ mà hàm lượng trí tuệ ngày càng chiếm tỉ lệ cao trong mỗi sản phẩm, số lượng sản phẩm làm ra ngày càng nhanh, nhiều, rẻ, do đấy từ cuối thế kỷ XX tới nay, người ta đã nói nhiều tới khái niệm Nền kinh tế tri thức và người lao động trí óc – những người ngày càng có vị trí quan trọng trong việc phát triển nhanh chóng, bền vững của mỗi quốc gia cũng như trên toàn thế giới; có vai trò quyết định trong việc biến khoa học, kỹ thuật thành lực lượng sản xuất trực tiếp của nền sản xuất xã hội.
Từ cuối thế kỷ XIX, nhất là từ giữa thế kỷ XX tới nay, giữa lao động trí óc và lao động chân tay ngày càng chuyển hóa, thâm nhập vào nhau, kết hợp với nhau. Đó là một quá trình phát triển khách quan, tất yếu. Quá trình ấy Hồ Chí Minh gọi là “công nông hóa trí thức” và “trí thức hóa công nông”. Cần hiểu đúng tư tưởng “trí thức hóa công nông” của Người, không phải như một thời ấu trĩ, muốn “cải tạo” trí thức bằng cách biến họ thành một người thợ… Theo Người, trí thức thâm nhập vào thực tế, gắn bó với sản xuất, với đời sống của nhân dân lao động, qua đó phát minh, sáng chế, góp phần cải biến xã hội đồng thời tăng thêm lòng yêu mến những người cần lao, cùng đoàn kết với họ, giúp đỡ họ, làm cho khoa học, kỹ thuật dần dần thay thế lao động cực nhọc bằng cơ bắp. Nói cách khác, người trí thức thực thụ, chân chính là người đem sự hiểu biết của mình ra thực hành, phục vụ nhân dân, Tổ quốc. Hồ Chí Minh viết: “Trí thức là hiểu biết. Trong thế giới chỉ có hai thứ hiểu biết: Một là hiểu biết sự tranh đấu sinh sản. Khoa học tự nhiên do đó mà ra. Hai là hiểu biết tranh đấu dân tộc và tranh đấu xã hội. Khoa học xã hội do đó mà ra. Ngoài hai cái đó không có trí thức nào khác.
Một người học xong đại học có thể gọi là có tri thức. Song y không biết… làm nhiều việc khác. Nói tóm lại: công việc thực tế, y không biết gì cả. Thế là y chỉ có trí thức một nửa. Trí thức của y là trí thức học sách, chưa phải trí thức hoàn toàn. Y muốn thành một người trí thức hoàn toàn, thì phải đem cái trí thức đó áp dụng vào thực tế”(1).
Đánh giá cao vai trò và địa vị của trí thức, Hồ Chí Minh đã khẳng định: “Trí thức là vốn liếng quý báu của dân tộc. ở nước khác như thế, ở Việt Nam càng như thế. Chứng thực là trong cuộc kháng chiến cứu quốc này, những người trí thức Việt Nam đã chung một phần quan trọng. Một số thì trực tiếp tham gia vào công việc kháng chiến, hy sinh cực khổ, chen vai thích cánh với bộ đội nhân dân. Một số thì hăng hái hoạt động giúp đỡ ở ngoài… Địa vị những người trí thức ái quốc Việt Nam sẽ là cùng với toàn thể đồng bào, kiến thiết một nước Việt Nam mới, một nước Việt Nam thống nhất và độc lập, dân chủ, tự do, hạnh phúc”(2). Có một điểm đáng chú ý: Khi xác định nền tảng tổ chức của Đảng (được tóm tắt trong 6 điều, điều thứ nhất), Hồ Chí Minh viết: “1. Đảng là đội tiên tiến của nhân dân lao động (công nhân, nông dân và lao động trí óc)”(3). Lao động trí óc thuộc bộ phận nền tảng tổ chức của Đảng. Đó là một chân lý hiển nhiên không chỉ đúng trong cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân mà càng đúng trong cách mạng XHCN. Đó là một phát triển của Hồ Chí Minh về học thuyết xây dựng Đảng để Đảng “có thể trở thành hình thức tổ chức cao nhất của quần chúng lao động, hiện thân của trí tuệ, danh dự và lương tâm của dân tộc…”(4).
2. Đối đãi với trí thức.
Lịch sử đã cho thấy cách đối đãi với trí thức của giới lãnh đạo đương thời có ảnh hưởng to lớn, nhiều khi có ý nghĩa quyết định đến thành bại của họ. Và cũng do cách đối đãi của giới lãnh đạo mà tài năng của trí thức được phát huy sáng chói hay bị lu mờ, thui chột.
Hồ Chí Minh, người khởi xướng và lãnh đạo thành công cuộc cách mạng lớn nhất, khó khăn nhất trong lịch sử dân tộc, cũng là người đã đối đãi với trí thức một cách mẫu mực. Người là bậc thầy cho các thế hệ lãnh đạo chính trị. Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh là noi theo Người, làm theo Người trong hành động cách mạng, là “sửa đổi cách lãnh đạo”, trong đó có cách ứng xử và đối đãi của người lãnh đạo, quản lý đối với trí thức.
Một là, phát triển tinh thần yêu nước và ý thức tự trọng dân tộc của trí thức.
Nếu hiểu rằng trí thức là người có tài sản đặc biệt, riêng có của mỗi người, ở trong tim óc của mỗi người, nó không giống bất cứ tài sản hữu hình nào, không thể “quốc hữu hóa” được tài sản đó, càng không thể dùng mệnh lệnh để có thể khai thác được tài sản đó thì chỉ có cách là người lãnh đạo phải biết tìm ra mẫu số chung của lợi ích cách mạng và lợi ích của người trí thức.
Hồ Chí Minh đã chỉ ra rất sớm rằng, ở đời ai cũng có quyền tin theo một học thuyết, một chủ nghĩa nhưng có một điểm chung mà hễ là người Việt Nam thì ít nhiều ai cũng có. Đó là tinh thần yêu nước và ý thức tự trọng dân tộc. Như mọi người Việt Nam yêu nước khác, trí thức cảm thấy nô lệ, mất nước là quốc nhục. Họ mong muốn tìm lối thoát nhưng bế tắc. Đảng ta, đứng đầu là Chủ tịch Hồ Chí Minh, đã sáng suốt tìm ra con đường giải phóng dân tộc. Năm 1941, Người viết: “Trong lúc này quyền lợi dân tộc giải phóng cao hơn hết thảy. Chúng ta phải đoàn kết lại đánh đổ bọn đế quốc và bọn Việt gian đặng cứu giống nòi ra khỏi nước sôi lửa nóng… Việc cứu quốc là việc chung. Ai là người Việt Nam đều phải kề vai gánh vác một phần trách nhiệm: người có tiền góp tiền, người có của góp của, người có sức góp sức, người có tài năng góp tài năng”. Và quan trọng là người đứng đầu cuộc cách mạng ấy đã bằng cả cuộc đời bôn ba nếm mật nằm gai, vào tù ra tội, bất chấp gian khổ, hy sinh nên lời kêu gọi ấy có sức nặng của sự hòa đồng, đồng tâm, đồng chí, của sự dẫn dắt đầy tin cậy: “Riêng phần tôi, xin đem hết tâm lực đi cùng các bạn, vì đồng bào mưu giành tự do độc lập, dầu phải hy sinh tính mệnh cũng không nề”(5).
Lấy cứu quốc là việc chung, Hồ Chí Minh đã làm cho cả nước một lòng, không còn mấy ai nghi kỵ, mặc cảm, đắn đo. Hầu hết trí thức có tên tuổi của nước Việt Nam như các cụ Huỳnh Thúc Kháng, Bùi Bằng Đoàn, Nguyễn Văn Tố, các ông Phan Kế Toại, Nguyễn Văn Huyên, Hoàng Minh Giám, Tôn Thất Tùng, Trần Đại Nghĩa, Trần Hữu Tước; các văn nghệ sĩ trí thức như Xuân Diệu, Huy Cận, Đặng Thai Mai, Nguyễn Đình Thi, Hoàng Xuân Hữu, Đào Duy Anh, Cao Xuân Huy, Ngô Tất Tố… và biết bao trí thức yêu nước khác, cùng với toàn dân đã tập hợp dưới ngọn cờ Tổ quốc do Hồ Chí Minh dẫn dắt làm cuộc tổng khởi nghĩa Tháng Tám 1945 thành công và làm hai cuộc kháng chiến dài nhất, gian khổ nhất trong lịch sử thắng lợi. Phát triển tinh thần yêu nước của trí thức, đồng thời thẳng thắn, chân thành khuyên nhủ và bằng cả tấm lòng yêu nước, thương dân vô bờ bến, với đạo đức trong sáng và tác phong giản dị, Hồ Chí Minh đã phát huy được năng lực sáng tạo của trí thức, giúp họ ngày một tiến bộ, vững bước cùng dân tộc. Cùng với những đánh giá, khen ngợi, khích lệ, Người đã chân tình, thẳng thắn khuyên “những người trí thức… cần phải biết rõ cái khuyết điểm của mình. Phải khiêm tốn. Chớ kiêu ngạo. Phải ra sức làm các việc thực tế”, không nên chỉ bằng lòng với những kiến thức, lý luận đã học được mà “lý luận phải đem ra thực hành… lý luận cũng như cái tên (hoặc viên đạn). Thực hành cũng như cái đích để bắn. Có tên mà không bắn, hoặc bắn lung tung, cũng như không có tên.
Lý luận cốt để áp dụng vào thực tế. Chỉ học thuộc lòng, để đem lòe thiên hạ thì lý luận ấy cũng vô ích”(6). Cơm áo và danh dự là hai mặt của một vấn đề làm người trí thức băn khoăn. Trong thư trả lời một trí thức vào khoảng đầu cuộc kháng chiến chống Pháp khó khăn, thiếu thốn, Hồ Chí Minh đã viết: “Ai chẳng muốn no cơm, ấm áo. Nhưng sinh hoạt vật chất hết đời người đó là hết. Còn tiếng tăm xấu hay tốt còn truyền đến ngàn đời về sau”(7).
Tóm lại, Hồ Chí Minh đã phát triển tinh thần yêu nước và ý thức tự trọng dân tộc của từng người trí thức hòa đồng vào chủ nghĩa yêu nước và ý thức tự cường dân tộc của toàn dân. Nhờ đó, trí thức Việt Nam ngày càng trở thành đội ngũ hùng hậu của dân tộc, đã xây đắp nên mối liên kết tất yếu của sự phát triển: Cách mạng và trí thức, trí thức và cách mạng.
Hai là, trân trọng trí thức, tìm kiếm người tài đức là nghĩa vụ và bổn phận của nhà lãnh đạo.
Hồ Chí Minh với thái độ quang minh chính đại, đặt lợi ích quốc gia lên trên hết nên đã cảm hóa, tập hợp, thu phục, phát huy được đông đảo trí thức. Trong lúc chính quyền non trẻ, vận mệnh quốc gia như ngàn cân treo sợi tóc, nhiều trí thức nổi tiếng xuất thân từ tất cả các giai cấp, tầng lớp xã hội, được đào tạo trong các nhà trường của đế quốc, phong kiến đã nghe theo tiếng gọi của Hồ Chí Minh gác bút nghiên lên đường tranh đấu.
Những ngày đầu tiên, trên cương vị nguyên thủ quốc gia và người đứng đầu Chính phủ, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã phân tích sâu sắc, dễ hiểu về mối quan hệ giữa nhân tài và kiến quốc. Người viết “Kiến quốc cần có nhân tài. Nhân tài nước ta dù chưa có nhiều lắm nhưng nếu chúng ta khéo lựa chọn, khéo phân phối, khéo dùng thì nhân tài càng ngày càng phát triển càng thêm nhiều”. Và, Người thiết tha “mong rằng đồng bào ta ai có tài năng và sáng kiến… lại sẵn lòng hăng hái giúp ích nước nhà thì xin gửi kế hoạch cho rõ ràng cho Chính phủ. Chúng tôi sẽ nghiên cứu kế hoạch ấy một cách kỹ lưỡng có thể thực hành được thì sẽ thực hành ngay”(8). Trong công tác tổ chức nhân sự, Hồ Chí Minh đã nghiêm cấm các cơ quan đảng, chính phủ không được “tư túng – kéo bè, kéo cánh, bà con bạn hữu mình, không tài năng gì cũng kéo vào chức này chức nọ. Người có tài có đức, nhưng không vừa lòng mình thì đẩy ra ngoài. Quên rằng việc là việc công, chứ không phải việc riêng gì dòng họ của ai”(9). Chính Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nghiêm khắc tự phê bình vì chưa bao quát hết nên một số cơ quan chính phủ đã quan liêu, thiếu sâu sát để cho một số người tài đức chưa có dịp tham gia việc kháng chiến kiến quốc. Một chỉ thị ngắn, rất ngắn, không cần lắm chữ nhiều lời, ngày 20-11-1946 của Chủ tịch Hồ Chí Minh có thể coi là một chỉ thị trường tồn cho các thế hệ cán bộ lãnh đạo đất nước:
“Tìm người tài đức.
Nước nhà cần phải kiến thiết. Kiến thiết cần phải có nhân tài. Trong số 20 triệu đồng bào chắc không thiếu người có tài đức.
E vì Chính phủ nghe không đến, thấy không khắp, đến nỗi những bực tài đức không thể xuất thân. Khuyết điểm đó tôi xin thừa nhận.
Nay muốn sửa đổi điều đó, và trọng dụng những kẻ hiển năng, các địa phương phải lập tức điều tra nơi nào có người tài đức, có thể làm được những việc ích nước lợi dân, thì phải báo ngay cho Chính phủ biết.
Báo cáo phải nói rõ: Tên tuổi, nghề nghiệp, tài năng, nguyện vọng và chỗ ở của người đó.
Hạn trong một tháng, các cơ quan địa phương phải báo cáo cho đủ”(10).
Ba là, tin dùng, mạnh dạn trao cho người trí thức những chức vụ tương xứng với tài năng và đức độ của họ.
Người trí thức Việt Nam nói chung đều có lòng tự trọng, tự tin và ham tiến bộ, mong được giao những nhiệm vụ phù hợp với năng lực, sở trường. Họ mong muốn được làm việc trong một môi trường lành mạnh, có người lãnh đạo mẫu mực, thẳng thắn và chân tình, công tâm, đánh giá đúng ưu điểm và khuyết nhược điểm của họ. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã viết: “Ai cũng có lòng tự trọng, tự tin. Không có lòng tự trọng, tự tin là người vô dụng… Vì vậy, người lãnh đạo cần phải tôn trọng lòng tự tin, tự trọng của các đồng chí mình”(11).
Tôn trọng, sử dụng trí thức là vấn đề rất lớn, ta không chỉ tìm thấy những chỉ dẫn từ các bài nói, bài viết của Hồ Chí Minh mà còn phải nghiêm túc, ôn lại lịch sử để thấy Người đã đối đãi với trí thức trong từng trường hợp mẫu mực như thế nào.
Năm 1946, nhận trọng trách Quốc hội khóa I giao cho thành lập Chính phủ trong lúc cần tập hợp sức mạnh toàn dân tộc vào việc bảo vệ chủ quyền quốc gia, Hồ Chí Minh đã trân trọng giới thiệu những trí thức nổi tiếng, ngoài Đảng giữ các chức vụ quan trọng: “Bộ Nội vụ, một người đạo đức danh vọng mà toàn thể quốc dân ai cũng biết: Cụ Huỳnh Thúc Kháng…; Bộ Quốc phòng: một thanh niên trí thức và hoạt động quốc dân ta đã từng nghe tiếng: Ông Phan Anh,… Bộ xã hội, kiêm cả Y tế, Cứu tế và Lao động: Một nhà chuyên môn có tiếng trong y giới: Bác sĩ Trương Đình Tri;… Bộ Giáo dục: một người đã lâu năm hoạt động trong công việc giáo dục quốc dân và là người mà quốc dân có thể tin rằng nếu đem việc giáo dục giao cho để gánh vác thì người ấy sẽ làm hết nhiệm vụ: Ông Đặng Thai Mai;… Bộ Tư pháp: cũng là một trong đám người trí thức và đã hoạt động rất nhiều trong công cuộc cách mạng: Ông Vũ Đình Hòe”(12).
Biết bao trí thức với những tài năng, đức độ và cả những cá tính khác nhau đã đi cùng dân tộc trong hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và chống Mỹ xâm lược với sự tin dùng và ân cần chỉ bảo, chăm sóc của Hồ Chí Minh. Họ đã có sự nghiệp vẻ vang trong vinh quang chói lọi của Tổ quốc Việt Nam yêu quý. Những tên tuổi lớn: GS. Bộ trưởng Hoàng Minh Giám, GS. Nguyễn Văn Huyên, GS.VS Tôn Thất Tùng, GS.VS Trần Đại Nghĩa, GS. Trần Hữu Tước, GS. Lương Định Của, GS. Trần Đức Thảo…; các nhà văn, nhà thơ, nhà văn hóa: Nguyễn Tuân, Ngô Tất Tố, Nguyễn Công Hoan, Nguyên Hồng, Chế Lan Viên, Xuân Diệu, Cù Huy Cận, Nguyễn Đình Thi…; các tướng lĩnh trí thức quân sự tài ba sau Võ Nguyên Giáp là những Nguyễn Bình, Nguyễn Sơn v.v…, mà sự nghiệp của họ, nhờ có Hồ Chí Minh và cách mạng nên còn mãi với non sông đất nước.
Bốn là, chăm lo đào tạo đội ngũ trí thức mới với tầm nhìn vì sự nghiệp trăm năm.
Có thể nói suốt đời Hồ Chí Minh chăm lo sự nghiệp đào tạo thế hệ cách mạng cho hiện tại và tương lai của đất nước. Với tầm nhìn xa, trông rộng và với niềm tin tất thắng bất cứ kẻ thù xâm lược nào để xây dựng một nước Việt Nam độc lập, thống nhất, dân giàu, nước mạnh, ai cũng có cơm ăn, áo mặc, được học hành, để Việt Nam bước tới đài vinh quang sánh vai cùng các cường quốc 5 châu, ngay từ buổi đầu của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp cho đến cuộc kháng chiến chống Mỹ xâm lược gay go, quyết liệt, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chú ý đào tạo trí thức giải quyết hài hòa giữa kháng chiến và kiến quốc.
Nhìn lại lịch sử, chúng ta có thể khẳng định nhờ có Đảng, nhờ có Chủ tịch Hồ Chí Minh, đất nước có được một đội ngũ trí thức xuất thân từ công nhân, nông dân, bộ đội, thanh niên xung phong, đủ khả năng gánh vác nhiệm vụ nặng nề cùng nhân dân tiến hành sự nghiệp cách mạng, công cuộc đổi mới, thực hiện CNH, HĐH, hội nhập quốc tế như hiện nay.
Sau lễ Tuyên ngôn độc lập (2-9-1945) một ngày, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đặt vấn đề nâng cao dân trí, chống giặc dốt là một trong ba nhiệm vụ cấp bách của nhà nước Việt Nam mới. Người khẳng định “một dân tộc dốt là một dân tộc yếu”(13). Liền sau đó là phong trào xóa nạn mù chữ đồng thời lần lượt tất cả các bậc, từ tiểu học, trung học, cao đẳng và đại học được thành lập.
Trước khi qua đời, Người còn dặn phải đào tạo thanh thiếu niên trở thành những người có đạo đức và tài năng “vừa hồng”, “vừa chuyên”. “Bồi dưỡng thế hệ cách mạng cho đời sau là một việc rất quan trọng và rất cần thiết”(14).
Đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao cho công cuộc xây dựng và bảo vệ đất nước hiện nay đang là vấn đề bức thiết của Nhà nước ta. Tư tưởng Hồ Chí Minh về đào tạo một đội ngũ trí thức, một thế hệ kế tục sự nghiệp cách mạng của cha anh, thể hiện nỗi ưu lo dân – nước đang đòi hỏi Đảng và Nhà nước ta phải suy tư để thực hiện tốt lời dạy cuối cùng của Người.
Năm là, phải giữ danh giá của người lãnh đạo mà đối xử với trí thức.
Lãnh đạo trí thức là việc khó. Nhưng Hồ Chí Minh đã nhiều lần nói khó dễ đều bởi tại lòng mình. Lòng người lãnh đạo mà trong sáng, nhân hậu, chí công vô tư thì đó là sức mạnh, là bí quyết để dùng người. Nếu không sẽ “hỏng cả công việc của Đảng, hỏng cả danh giá của người lãnh đạo”(15).
Hồ Chí Minh khuyên “người lãnh đạo không nên kiêu ngạo, mà nên hiểu thấu… phải lắng tai nghe ý kiến của đảng viên, của nhân dân, của những người “không quan trọng”(16) để lãnh đạo cho đúng, dùng cán bộ đúng.
Dùng cán bộ đúng là nghĩa vụ, bổn phận của nhà lãnh đạo, đồng thời cũng là phẩm chất chính trị và danh giá của họ. Theo Hồ Chí Minh, để làm tròn nhiệm vụ và giữ gìn danh giá của mình, người lãnh đạo cần:
– Phải có độ lượng vĩ đại để dùng cán bộ một cách chí công vô tư, khiến cho cán bộ không bị thành kiến, không bị bỏ rơi, không lãng phí, thất thoát nhân tài;
– “Phải có tinh thần rộng rãi” để gần gụi tất cả mọi người, kể cả “những người mình không ưa”.
– “Phải có tính chịu khó dạy bảo” để nâng đỡ những người còn kém, giúp họ tiến bộ. Mà muốn dậy bảo người khác, nhất là đối với trí thức thì người lãnh đạo phải tự hiểu mình, phải học hỏi để hiểu người. Không có trình độ, không hiểu công việc của người khác thì không thể lãnh đạo được họ.
– “Phải sáng suốt” để không bị “bọn cơ hội, bọn vu vơ bao vây” mà xa cách cán bộ tốt.
– “Phải có thái độ vui vẻ, thân mật” cán bộ cấp dưới mới “vui lòng gần gụi mình”, mới coi mình là đồng chí, là thầy, là bạn của họ.
Sinh thời, Hồ Chủ tịch đã thể hiện những điều trên một cách khoa học và nghệ thuật trong các tình huống, với từng đối tượng khác nhau…
____
(1) Hồ Chí Minh toàn tập, NXBCTQG, H.2002, tập 5, tr.235. (2) Sđd, tập 5, tr.156. (3,4) Sđd, tập7, tr.229, 517. (5) Sđd, tập 3, tr.198. (6) Sđd, tập 5, tr.235. (7) Hồ Chí Minh biên niên tiểu sử, tập 4, tr.207-208. (8) Sđd, tập 4, tr.99. (9) Sđd, tập 4, tr.57. (10) Sđd, tập 4, tr.451. (11) Sđd, tập 5, tr.282. (12) Sđd, tập 4, tr.193-194. (13) Sđd, tập 4, tr.8. (14) Sđd, tập 12, tr.512. (15) Sđd, tập 5, tr.279. (16) Sđd, tập 5, tr.285.
PGS. TS. Trần Đình Huỳnh
Những nguyên tắc và chuẩn mực đạo đức đối với Thanh, thiếu niên, nhi đồng
Biết ăn ngủ, biết học hành là ngoan,
Trẻ con, Tháng 9-1941, sđd, t.3, tr. 203.
… Một năm khởi đầu từ mùa xuân. Một đời khởi đầu từ tuổi trẻ. Tuổi trẻ là mùa xuân của xã hội.
Vậy qua năm mới, các cháu phải xung phong thực hành “đời sống mới”
Đời sống mới là:
– Hăng hái, kiên quyết, không sợ khó, không sợ khổ.
– Phải siêng học, phải siêng làm, phải tiết kiệm.
– Việc nên làm (như ủng hộ kháng chiến, tăng gia sản xuất) thì ta không chờ ai nhắc nhủ.
– Việc nên tránh (như tự tư tự lợi) thì ta không đợi ai ngăn ngừa.
Gửi thanh niên và nhi đồng toàn quốc nhân dịp Tết sắp đến, tháng 1-1946, sđd, t.4, tr. 167.
… Nay Bác viết mấy chữ, để cám ơn các cháu và khuyên các cháu:
1. Phải siêng học,
2. Phải giữ sạch sẽ,
3. Phải giữ kỷ luật,
4. Phải làm theo đời sống mới,
5. Phải thương yêu giúp đỡ cha mẹ anh em.
Thư gửi các cháu thiếu nhi, năm 1946, sđd, t.4, tr. 421
… Người ta thường nói: Thanh niên là người chủ tương lai của nước nhà. Thật vậy nước nhà thịnh hay suy, yếu hay mạnh một phần lớn là do các thanh niên. Thanh niên muốn làm người chủ tương lai cho xứng đáng thì ngay hiện tại phải rèn luyện tinh thần và lực lượng của mình, phải làm việc để chuẩn bị cái tương lai đó.
… mỗi thanh niên, nhất là mỗi cán bộ phải kiên quyết làm bằng được những điều sau này:
a) Các sự hy sinh khó nhọc thì mình làm trước người ta, còn sự sung sướng thanh nhàn thì mình nhường người ta hưởng trước (tiên thiên hạ ưu, hậu thiên hạ lạc).
b) Các việc đáng làm, thì có khó mấy cũng cố chịu quyết làm cho kỳ được.
c) Ham làm những việc ích quốc lợi dân. Không ham địa vị và công danh phú quý.
d) Đem lòng chí công vô tư mà đối với người, đối với việc.
e) Quyết tâm làm gương về mặt: siêng năng, tiết kiệm, trong sạch.
f) Chớ kiêu ngạo, tự mãn, tự túc. Nói ít làm nhiều, thân ái đoàn kết.
… chớ đặt những chương trình, kế hoạch mênh mông, đọc nghe sướng tai nhưng không thực hiện được.
Việc gì cũng cần phải thiết thực, nói được, làm được. Việc gì cũng phải từ nhỏ dần dần đến to, từ dễ dần dần đến khó, từ thấp dần dần đến cao. Một chương trình nhỏ mà thực hiện được hẳn hoi, hơn một trăm chương trình to tát mà làm không được.
Thư gửi các bạn thanh niên, ngày 17-8-1947, sđd, t.5, tr. 185-186.
… Cách dạy trẻ, cần làm cho chúng biết yêu Tổ quốc, thương đồng bào, yêu lao động, biết vệ sinh, giữ kỷ luật, học văn hóa.
Đồng thời phải giữ toàn vẹn tính vui vẻ, hoạt bát, tự nhiên, tự động trẻ trung của chúng, chớ nên làm cho chúng hóa ra già cả. Nhiều thư của các cháu gửi cho Bác Hồ viết như người lớn viết, đó là một triệu chứng già sớm cần nên tránh.
Trong lúc học, cũng cần làm cho chúng vui, trong lúc vui cũng cần làm cho chúng học. Ở trong nhà, trong trường, trong xã hội, chúng đều vui, đều học. Muốn vậy các ban phụ trách nhi đồng cần phải liên lạc với cha mẹ và thầy giáo của nhi đồng.
… Giáo dục nhi đồng là một khoa học. Các bạn hãy cố gắng học tập, nghiên cứu, trao đổi kinh nghiệm để tiến bộ mãi, nhất là phải làm kiểu mẫu trong mọi việc cho các em bắt chước.
Thư gửi Hội nghị cán bộ phụ trách nhi đồng toàn quốc, ngày 25-8-1950, sđd, t.6, tr. 85.
2. Khuyên thanh niên:
Không có việc gì khó,
Chỉ sợ lòng không bền,
Đào núi và lấp biển,
Quyết chí ắt làm nên.
Làm tặng một đơn vị Thanh niên xung phong, Tháng 9-1950, sđd, t.6, tr.95.
… Điều gì phải, thì cố làm cho kỳ được, dù là việc nhỏ. Điều gì trái, thì hết sức tránh, dù là một điều trái nhỏ.
– Trước hết phải yêu Tổ quốc, yêu nhân dân. Phải có tinh thần dân tộc vững chắc và tinh thần quốc tế đúng đắn. Phải yêu và trọng lao động. Phải giữ gìn kỷ luật. Phải bảo vệ của công. Phải quan tâm đến đời sống của nhân dân. Phải chú ý đến tình hình thế giới, vì nước ta là một bộ phận của thế giới, mọi việc trong thế giới đều có quan hệ với nước ta, việc gì trong nước ta cũng quan hệ với thế giới…
… Nhiệm vụ của thanh niên không phải là đòi hỏi nước nhà đã cho mình những gì. Mà phải tự hỏi mình đã làm gì cho nước nhà? Mình phải làm thế nào cho ích lợi nước nhà nhiều hơn? Mình đã vì lợi ích nước nhà mà hy sinh phấn đấu chừng nào?
– Thanh niên cần phải có tinh thần và gan dạ sáng tạo, cần phải có chí khí hăng hái và tinh thần tiến lên, vượt mọi khó khăn, gian khổ để tiến mãi không ngừng.
Cần phải trung thành, thật thà, chính trực.
Những điều nên chống: Thanh niên cần phải chống tâm lý tự tư tự lợi, chỉ lo lợi ích riêng và sinh hoạt riêng của mình. Chống tâm lý ham sung sướng và tránh khó nhọc. Chống thói xem khinh lao động, nhất là lao động chân tay. Chống lười biếng, xa xỉ. Chống cách sinh hoạt ủy mị. Chống kiêu ngạo, giả dối, khoe khoang.
Nói chuyện tại buổi lễ khai mạc Trường Đại học nhân dân Việt Nam,
ngày 19-1-1955, sđd, t.7, tr. 454-455.
… Thanh niên bây giờ là thế hệ vẻ vang, vì vậy cho nên phải tự giác tự nguyện mà tự động cải tạo tư tưởng của mình để xứng đáng với nhiệm vụ của mình. Tức là thanh niên phải có đức, có tài. Có tài mà không có đức ví như một anh làm kinh tế tài chính rất giỏi, nhưng lại đi đến thụt két thì chẳng những không làm được gì ích lợi cho xã hội, mà còn có hại cho xã hội nữa. Nếu có đức mà không có tài ví như ông bụt không làm hại gì, nhưng cũng không lợi gì cho loài người…
Nói chuyện tại Đại hội sinh viên lần thứ hai ngày 7-5-1958, sđd, t.9, tr. 172.
Người ta thường nói: Thanh niên là người chủ tương lai của nước nhà. Để thật xứng đáng là người chủ của một nước xã hội chủ nghĩa, thanh niên ta quyết tâm thực hiện mấy điều sau đây:
– Phải thấm nhuần đạo đức cách mạng tức là khiêm tốn, đoàn kết, thực hành chủ nghĩa tập thể, thương yêu, giúp đỡ lẫn nhau, người tiên tiến thì giúp đỡ người kém, người kém phải cố gắng để tiến lên, ra sức cần kiệm xây dựng nước nhà.
– Phải nghiêm khắc chống chủ nghĩa cá nhân như tự tư tự lợi, tự kiêu, tự mãn, chỉ tham việc gì có danh tiếng, xem khinh những công việc bình thường. Phải chống tham ô, lãng phí.
– Phải cố gắng học hỏi để không ngừng nâng cao trình độ chính trị, văn hóa và kỹ thuật để phục vụ Tổ quốc, phục vụ nhân dân.
Bài nói tại Đại hội thanh niên tích cực lao động xã hội chủ nghĩa,
ngày 17-3-1960, sđd, t.10, tr. 106.
… Thanh niên ta có vinh dự to thì cũng có trách nhiệm lớn. Để làm tròn trách nhiệm, thanh niên ta phải nâng cao tinh thần làm chủ tập thể, trừ bỏ chủ nghĩa cá nhân, chớ phô trương hình thức, chớ kiêu ngạo, tự mãn. Phải thấm nhuần đạo đức cách mạng tức là học tập, lao động, sinh hoạt theo đúng đạo đức của thanh niên xã hội chủ nghĩa, cộng sản chủ nghĩa…
Nói tại Đại hội toàn quốc lần thứ II của Hội Liên hiệp Thanh niên Việt Nam,
ngày 20-12-1961, sđd, t. 10, tr. 489.




Bạn phải đăng nhập để bình luận.