Tag Archive | Tin tức

Những nguyên tắc và chuẩn mực đạo đức đối với Phụ nữ

1 … Nói phụ nữ là nói phân nửa xã hội. Nếu không giải phóng phụ nữ thì không giải phóng một nửa loài người.

Nếu không giải phóng phụ nữ là xây dựng chủ nghĩa xã hội chỉ một nửa.

… Về phần mình, chị em phụ nữ không nên ngồi chờ Chính phủ, chờ Đảng ra chỉ thị giải phóng cho mình, mà tự mình phải tự cường, phải đấu tranh.

Bài nói tại Hội nghị cán bộ thảo luận Luật hôn nhân và gia đình
ngày 10-10-1959, sđd, t.9, tr 523, 524.

2. … Ngay từ khi mới thành lập, Đảng ta đã nêu rõ chính sách nam nữ bình đẳng, Hiến pháp ta đã xác định chính sách đó. Trong mọi việc, Đảng và Chính phủ ta luôn luôn quan tâm giúp đỡ phụ nữ. Vậy chị em phụ nữ ta phải nhận rõ địa vị làm người chủ và nhiệm vụ người làm chủ nước nhà; phải có quyết tâm mới, đạo đức mới, tác phong mới để làm trọn nghĩa vụ mới của mình là góp phần xứng đáng vào công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội…

Bài nói chuyện tại Đại hội phụ nữ toàn quốc lần thứ III
ngày 9-3-1961, sđd, t.10, tr. 296.

3. Phụ nữ cũng là người chủ nước nhà. Để xứng đáng là người chủ thì chị em phải ra sức tăng gia sản xuất, thực hành tiết kiệm…

4. Phụ nữ cần phải xung phong trong việc xây dựng đời sống mới. Ở miền núi đang còn những phong tục không tốt do bọn phong kiến để lại, như: ma chay, cúng bái rất tốn kém. Cưới vợ, gả chồng quá sớm. Vệ sinh phòng bệnh, v.v… còn kém. Đó là những mê tín và hủ tục nên xóa bỏ, để xây dựng mỹ tục thuần phong.

5. Đoàn kết là sức mạnh. Đồng bào miền núi, trước hết là chị em phụ nữ, cần phải đoàn kết chặt chẽ, thương yêu giúp đỡ lẫn nhau. Đoàn kết giữa dân tộc mình, đoàn kết giữa các dân tộc. Đoàn kết với đồng bào miền xuôi lên phát triển kinh tế miền núi…

6. Để làm tốt những việc nói trên, chị em phải cố gắng học tập. Học văn hóa, học chính trị, học nghề nghiệp. Nếu không học thì không tiến bộ. Có quyết tâm thì nhất định học được…

Nói chuyện Hội nghị cán bộ phụ nữ miền núi,
ngày 19-3-1964, sđd, t.11, tr. 215.

quangbinh.gov.vn

Tư tưởng về tiết kiệm và thực hành tiết kiệm của Chủ Tịch Hồ Chí Minh

Là một người có tấm lòng nhân ái, tình yêu thương con người hết thảy, Chủ tịch Hồ Chí Minh thấu hiểu nỗi khổ của người dân, đặc biệt là những người cần lao. Chính vì vậy, trong rất nhiều bài viết, bài nói chuyện của mình, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đề cập nhiều đến tiết kiệm và thực hành tiết kiệm. Vấn đề tiết kiệm và thực hành tiết kiệm đã trở thành một trong những nội dung nằm trong hệ thống tư tưởng của Người.

Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, tiết kiệm là không xa xỉ, không hoang phí, không bừa bãi, tiết kiệm không phải là bủn xỉn mà những việc ích lợi cho đồng bào, cho Tổ quốc, thì mất bao nhiêu công, tốn bao nhiêu của cũng vui lòng. “Tiết kiệm không phải là ép bộ đội, cán bộ và nhân dân nhịn ăn, nhịn mặc. Trái lại, tiết kiệm cốt để giúp vào tăng gia sản xuất, mà tăng gia sản xuất là để dần dần nâng cao mức sống của bộ đội, cán bộ và nhân dân. Nói theo lối khoa học, thì tiết kiệm là tích cực, chứ không phải là tiêu cực” – (Hồ Chí Minh toàn tập).

Trong điều kiện đất nước gặp nhiều khó khăn, do luôn phải chịu sự áp bức bóc lột của bọn Phong kiến tay sai và Đế quốc xâm lược, càng cần phải tiết kiệm để phục vụ cho kháng chiến và công việc kiến quốc. Chỉ có tiết kiệm mới có thể tăng thêm nguồn vốn xây dựng đất nước, góp phần nhanh chóng đưa nước ta thoát khỏi tình trạng nghèo nàn lạc hậu.

Hồ Chí Minh đã chỉ ra 3 nội dung cơ bản của việc tiết kiệm, đó là: Tiết kiệm sức lao động. Tức là phải tổ chức sắp xếp cho khéo, phải nâng cao năng suất lao động, “1 người làm bằng 2, 3 người”; Tiết kiệm thời giờ. Bác nói: “Thời giờ tức là tiền bạc”; “Một tấc bóng là một thước vàng”. Tiết kiệm thời giờ của mình và tiết kiệm thời giờ của người khác; Tiết kiệm tiền của. Phải tiết kiệm tiền của của Nhà nước, của nhân dân và của chính mình. Việc này liên quan tới tiết kiệm sức người, tiết kiệm thời giờ…

Để làm được điều đó, tất cả mọi người đều phải tiết kiệm. Đi đầu trong việc thực hiện tiết kiệm là các cơ quan, bộ đội, xí nghiêp. Nội dung của tiết kiệm phải cụ thể, thiết thực ngay trong từng vị trí công tác của từng cá nhân. Bộ đội, chiến sỹ thì tiết kiệm đạn, quân nhu, chiến lợi phẩm; cán bộ cơ quan hành chính thì tiết kiệm thời gian, giấy mực…

Chủ tịch Hồ Chí Minh đã căn dặn: “Ai mang vàng vứt đi là người điên rồ. Ai mang thời giờ vứt đi là người ngu dại”. Đặc biệt đối với những người cán bộ, Đảng viên, Người nhấn mạnh “từ Chủ tịch Chính phủ cho đến người chạy giấy, người quét dọn trong một cơ quan nhỏ, đều là những người ăn lương của dân, làm việc cho dân… làm việc phải đến đúng giờ, chớ đến trễ về sớm… Phải nhớ rằng: Dân đã lấy tiền mồ hôi nước mắt để trả lương cho ta trong những giờ đó. Ai lười biếng tức là lừa gạt dân”.

Thực hiện lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh, mỗi cá nhân, tập thể, nhất là các cơ quan, đơn vị hành chính nhà nước đã không ngừng triển khai thực hiện các biện pháp về thực hành, tiết kiệm (điện, nước, giấy mực, cải cách thủ tục hành chính giảm thiểu tối đa về thời gian, công sức, tiền của của nhân dân…), tạo thành phong trào thi đua rộng khắp trong đông đảo quần chúng nhân dân. Kết quả đó đã góp phần thực hiện thành công Cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”.

Nguyễn Thanh Phong – P.HCTH – ĐLCC (st)

hcmpc.com.vn

Tư tưởng Hồ Chí Minh về đạo đức cách mạng

Trong suốt cuộc đời hoạt động của mình, từ bài giảng đầu tiên trong tác phẩm Đường Kách Mệnh[1] đến bản Di chúc cuối cùng, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn quan tâm đến vấn đề đạo đức và việc tu dưỡng đạo đức, coi đạo đức là “cái gốc” của người cách mạng.

Vấn đề đạo đức cách mạng trong tư tưởng của Hồ Chí Minh luôn có sự nhất quán và tính lôgic cao về tinh thần cách mạng cũng như phương pháp tư duy, nhất là phương pháp tư duy khoa học, tư duy biện chứng của chủ nghĩa Mác-Lênin, trên cơ sở truyền thống đạo đức tốt đẹp của dân tộc, chắt lọc tinh hoa đạo đức của nhân loại, Người còn phát triển và sáng tạo những giá trị tư tưởng đạo đức mới phù hợp với điều kiện Việt Nam.

Tầm quan trọng của đạo đức bao giờ cũng được Người đặt ở vị trí hàng đầu. Ngay từ khi Đảng ta chưa ra đời, không phải ngẫu nhiên những bài giảng đầu tiên của Người cho thế hệ thanh niên yêu nước đầu tiên ở nước ta theo con đường cách mạng vô sản là những bài giảng về tư cách của người cách mạng. Trong trang đầu cuốn Đường Kách Mệnh – Người đã ghi 23 nét tư cách của một người cách mạng trong ứng xử với mình, với người, với đời, với việc. Đó là những chuẩn mực: “Tự mình phải:

Cần kiệm.

Hòa mà không tư.

Cả quyết sửa lỗi mình.

Cận thận mà không nhút nhát.

Hay hỏi.

Nhẫn nại (chịu khó).

Hay nghiên cứu, xem xét.

Vị công vong tư.

Không hiếu danh, không kiêu ngạo.

Nói thì phải làm.

Giữ chủ nghĩa cho vững.

Hy sinh.

Ít lòng ham muốn về vật chất.

Bí mật.

Đối với người phải:

Với từng người thì khoan thứ.

Với đoàn thể thì nghiêm.

Có lòng bày vẽ cho người.

Trực mà không táo bạo.

Hay xem xét người.

Làm việc phải:

Xem xét hoàn cảnh kỹ càng.

Quyết đoán.

Dũng cảm.

Phục tùng đoàn thể”[2].

Trên cơ sở nhận thức về nền tảng của việc hình thành đạo đức mới, vấn đề đạo đức cách mạng được Người nhắc lại nội dung tương tự khi nói chuyện với cán bộ tỉnh Thanh Hóa, năm 1947, nhưng cụ thể hơn[3], gồm 5 điểm: một, Mình đối với mình; hai, Đối với đồng chí mình phải thế nào?; ba, Đối với công việc phải thế nào?; bốn, Đối với nhân dân; và năm, Đối với đoàn thể. Với những lời căn dặn này cho thấy, Người đã đặt vấn đề đạo đức cách mạng một cách rất lôgic và có cơ sở khoa học về các quan hệ lợi ích. Hầu như các nguyên tắc đạo đức Người đề ra trước hết cho mình thực hiện, sau đó mới để giáo dục người khác, có thể nêu ra một số chuẩn mực cơ bản về đạo đức cách mạng theo tư tưởng của Người, như sau:

1/ Nếu bài học về đạo đức cách mạng đầu tiên trong cuốn Đường Kách Mệnh, Người chỉ đề ra những nguyên lý chung thể hiện mối quan hệ giữa ba khía cạnh, phản ánh mối quan hệ đạo đức mới, đạo đức cách mạng mà người cách mạng cần quán triệt trước tiên, đồng thời nêu cao việc tu dưỡng đạo đức cách mạng; thì ngay trong phiên họp đầu tiên của Chính phủ nước Việt Nam dân chủ cộng hòa, Người đã đề ra những nguyên tắc về hành vi đạo đức cách mạng đối với người có chức, có quyền trong Chính phủ từ toàn quốc đến các làng, Người đề nghị: “Mở một chiến dịch giáo dục lại tinh thần nhân dân bằng cách thực hiện: Cần, kiệm, liêm, chính” để “làm cho dân tộc chúng ta trở nên một dân tộc dũng cảm, yêu nước, yêu lao động”.

Người coi cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư là phẩm chất đạo đức cơ bản nhất của con người mới, đồng thời là chuẩn mực cơ bản của nền đạo đức mới của dân tộc ta. Đây là phẩm chất được Người đề cập đến nhiều nhất, thường xuyên nhất với một nội dung đạo đức mới rất cách mạng mà vẫn giữ được nền tảng của các khái niệm đạo đức cũ rất quen thuộc với mọi người. Phẩm chất này gắn liền với họat động hàng ngày của mỗi con người và có quan hệ mật thiết với tư tưởng trung với nước, hiếu với dân. Chí công vô tư về thực chất là nối tiếp cần, kiệm, liêm, chính. Cần, kiệm, liêm, chính sẽ dẫn đến chí công vô tư và ngược lại. Người có tinh thần chí công vô tư là người ham làm những việc ích nước, lợi dân, không ham địa vị, công danh, phú quý, không nghĩ đến quyền lợi cá nhân. Người cho rằng những cán bộ, đảng viên có đầy đủ đức tính nêu trên sẽ đứng vững trước mọi thử thách, hơn nữa yêu cầu họ phải thể hiện trên mọi lĩnh vực của đời sống xã hội, đối với người, với việc và với chính mình.

Người từng nói: “Người đảng viên, người cán bộ tốt muốn trở nên người cách mạng chân chính, không có gì là khó cả. Điều đó hoàn toàn do lòng mình mà ra. Lòng mình chỉ biết vì Đảng, vì Tổ quốc, vì đồng bào thì mình sẽ tiến đến chỗ chí công, vô tư. Mình đã chí công, vô tư thì khuyết điểm sẽ càng ít, mà những tính tốt như sau, ngày càng thêm. Nói tóm tắt, tính tốt ấy gồm có 5 điều: Nhân, nghĩa, trí, dũng, liêm” [4]. Có thể thấy rằng từ các khái niệm đạo đức cũ như: nhân, nghĩa, trí, dũng, liêm, Người đã đưa vào đây nội dung đạo đức mới bằng cách giải thích nó theo quan niệm mới, với một nội dung hoàn toàn khác, rất cách mạng, phản ánh các mối quan hệ một cách rõ ràng, cụ thể và dễ hiểu.

2/ Từ nội dung hẹp của các phạm trù đạo đức cũ, Người mở rộng, đưa vào đây một nội dung rất mới, tiến bộ, cách mạng, vượt qua những hạn chế của tư tưởng đạo đức truyền thống và nâng lên thành tư tưởng đạo đức mới, mà tiêu biểu nhất là các khái niệm: trung, hiếu, nhân, nghĩa… “Từ trung với vua thành trung với nước; từ hiếu với cha mẹ mình thành hiếu với dân; từ nhân chỉ là nhân ái thành nhân dân, từ cần cho riêng mình thành cần cho cả xã hội; từ kiệm cho riêng mình thành tiết kiệm chung phục vụ cho đất nước; từ liêm nghĩa là liêm khiết, không tham nhũng, nghĩa là chỉ giữ cho bản thân mình trong sạch, Người mở rộng thành vấn đề liêm khiết mang tính xã hội; từ chính nghĩa là không tà, nghĩa là thẳng thắn, đúng đắn, Người chuyển sang vấn đề thiện, ác; làm việc chính, là người thiện; làm việc tà là người ác”[5]. Người nhấn mạnh: “Người cán bộ phải có đạo đức cách mạng. Phải giữ đạo đức cách mạng mới là người cán bộ cách mạng chân chính. Đạo đức cách mạng có thể nói tóm tắt là: Nhận rõ phải trái, giữ vững lập trường. Tận trung với nước. Tận hiếu với dân”[6]. Trung vơí nước, hiếu với dân được coi là nội dung cơ bản nhất, bao trùm nhất trong tư tưởng đạo đức cách mạng của Người, thể hiện mối quan hệ giữa con người với Tổ quốc và nhân dân. “Trung với nước” là trung thành với sự nghiệp dựng nước và giữ nước của dân tộc, nước ở đây là nước của dân, dân là chủ nhân của đất nước. Người cho rằng bao nhiêu quyền hạn đều là của dân, bao nhiêu lợi ích đều vì dân, quyền hành và lực lượng đều ở nơi dân. Xuất phát từ quan niệm như vậy, nên “hiếu” trong tư tưởng của Người chính là “Hiếu với dân”. Hiếu với dân không chỉ là xem người dân như đối tượng dạy dỗ, ban ơn mà là đối tượng phải phục vụ hết lòng. Ở người, lý luận luôn gắn chặt với thực tiễn, lời nói luôn đi đôi với việc làm. Cuộc đời của Người là minh chứng sinh động về tư tưởng tận trung với nước, tận hiếu với dân.

3/ Nếu như trung với nước, hiếu với dân là phẩm chất của mỗi con người – công dân đối với Tổ quốc, đối với nhân dân, thì yêu thương con người là trách nhiệm của mỗi con người đối với con người. Người cho đây là phẩm chất cao đẹp nhất của con người. Yêu thương con người trước hết là tình cảm dành cho những người bị áp bức, bóc lột, những người cùng khổ. Yêu thương con người còn được thể hiện trong mối quan hệ hàng ngày với những người đồng chí xung quanh, trong cuộc sống bình thường. Phải luôn nghiêm khắc với bản thân, nhưng rộng rãi độ lượng với ngươì khác. Điều đặc biệt là ở Người, yêu thương con người luôn luôn gắn với niềm tin vào con người, tin vào lương tri, tin vào lòng dũng cảm, tin vào sức sáng tạo của họ trong hành trình con người tự giải phóng lấy mình, để con người làm chủ xã hội, làm chủ bản thân mình.

4/ Người đã có sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa cá nhân và giai cấp, giữa dân tộc và quốc tế, giữa truyền thống và hiện đại tạo ra trong quan niệm về đạo đức cách mạng sự hài hòa về các mối quan hệ lợi ích. Theo Người, tinh thần quốc tế trong sáng thực chất là chủ nghĩa yêu nước gắn liền với chủ nghĩa quốc tế vô sản. Người cho rằng nếu tinh thần yêu nước không chân chính, tinh thần quốc tế không trong sáng thì có thể dẫn tới tư tưởng dân tộc chủ nghĩa, hẹp hòi, sô vanh, biệt lập, kỳ thị chủng tộc. Từ rất sớm, Người đã chủ trương quan hệ với các quốc gia dân tộc và các tổ chức trên thế giới để thêm bạn, bớt thù. Quan điểm dân tộc đã được thổi vào thời đại, đã vượt qua biên giới quốc gia, hướng tới mục tiêu độc lập, dân chủ, hòa bình, hữu nghị và hợp tác.

Cần nhấn mạnh là tuy có những cách định nghĩa khác nhau về nội hàm các khái niệm đạo đức cách mạng, nhưng nhìn chung ở Người đều có sự nhất quán về tinh thần cách mạng và phương pháp tư duy. Từ các khái niệm, phạm trù của các tư tưởng đạo đức đã có từ trước như: nhân, nghĩa, trí, dũng, liêm, đến cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư; từ trung, hiếu, đến thiện, ác… bao giờ Người cũng có cách giải thích riêng về những chuẩn mực đạo đức phù hợp dễ hiểu, dễ chấp nhận với từng đối tượng, với mọi tầng lớp nhân dân: trí thức, quân đội, công an, công nhân, nông dân, phụ nữ, phụ lão, các cháu thiếu niên và nhi đồng… Đề cao đạo đức mới, Người đã thể hiện một tầm nhìn xa trông rộng về nhân cách con người. Những phẩm chất mà Người nêu ra là nhằm hướng con người tới cái thiện, cái tốt, cái cao cả, đồng thời ngăn chặn, khắc phục những biểu hiện thoái hóa, biến chất có thể xảy ra, đặc biệt là chống khuynh hướng lạm dụng quyền lực để tham nhũng, lãng phí. Ngay cả trước khi qua đời, việc đầu tiên được đề cập đến trong Di chúc để lại cho toàn Đảng, toàn dân là nói về Đảng, việc đầu tiên khi đề cập đến Đảng là đạo đức, Người viết: “Đảng ta là một đảng cầm quyền. Mỗi đảng viên và cán bộ phải thật sự thấm nhuần đạo đức cách mạng, thật sự cần kiệm liêm chính, chí công vô tư. Phải giữ gìn Đảng ta thật trong sạch, phải xứng đáng là người lãnh đạo, là người đầy tớ thật trung thành của nhân dân”[7].

Tóm lại, từ bài viết đầu tiên trong tác phẩm Đường Kách Mệnh đến bản Di chúc cuối cùng, dù ở những thời điểm lịch sử khác nhau nhưng tư tưởng của Người về đạo đức cách mạng đều có sức thuyết phục rất cao, có sức sống mạnh mẽ và có giá trị lâu bền. Bởi đó là sự thống nhất giữa lời nói, tư tưởng và hành động. Người đặt vấn đề đạo đức cách mạng từ lĩnh vực lý luận sang lĩnh vực thực tiễn, đưa đạo đức cách mạng vào chính sự nghiệp cách mạng, coi đó là một trong những nguyên tắc hoạt động cách mạng, phản ảnh các quan hệ mới về lợi ích tạo ra nền tảng vững chắc của chính quyền cách mạng nói chung và người cách mạng nói riêng.

——————————————–

[1] Đường Kách Mệnh, xuất bản năm 1927 – đây là một tác phẩm lý luận và chính trị vô cùng quan trọng, gồm những đề cương bài giảng của Nguyễn Ái Quốc, tức Chủ tịch Hồ Chí Minh giảng cho các lớp huấn luyện chính trị được tổ chức bí mật ở Quảng Châu, Trung Quốc từ đầu năm 1925 nhằm đào tạo cán bộ cách mạng nước ta, chuẩn bị về tư tưởng, đường lối và tổ chức cho việc thành lập một chính đảng mác xít của giai cấp công nhân Việt Nam.
[2] Nguyễn Ái Quốc. Đường Cách Mệnh. Nhà xuất bản Sự Thật, Hà Nội, 1982, tr..22-23.
[3] Xem thêm: Hồ Chí Minh. Toàn tập. Tập 5. Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, tr. 54-55.
[4] Hồ Chí Minh. Toàn tập. Tập 5. Sđd, tr. 251.
[5] Thành Duy, Văn hóa đạo đức: Mấy vấn đề lý luận và thực tiễn ở Việt Nam, Nhà xuất bản Văn hóa – Thông tin, Hà Nội, 2004, tr. 35.
[6] Hồ Chí Minh. Toàn tập, Tập 7, Sđd, tr. 480.
[7] Hồ Chí Minh. Toàn tập. Tập 12, Sđd, tr. 510.

cpv.org.vn

Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh: Đạo đức là cái “gốc” của người Cách mạng

Sau Cách mạng tháng Tám năm 1945 thành công, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã sớm thấy nguy cơ đối với Đảng cầm quyền, không những là “bệnh quan liêu hách dịch, vênh váo lên mặt quan cách mệnh”, “đè đầu cưỡi cổ dân” mà cả nhiều thói xấu khác, rất dễ nảy sinh trong cán bộ, đảng viên, nhất là trong những người có chức, có quyền, như bệnh địa vị, công thần, cục bộ địa phương, bè phái; cái thói chỉ lo ăn ngon, mặc đẹp…, lo chiếm của công làm của tư, lợi dụng địa vị và công tác của mình mà buôn bán phát tài, lo việc riêng hơn việc công v.v…

Rõ ràng khi cách mạng đã giành được chính quyền và khi từ chiến tranh chuyển sang hòa bình xây dựng, những yêu cầu về đạo đức đối với cán bộ, đảng viên càng đòi hỏi phải tăng cường rèn luyện và tu dưỡng để đáp ứng với yêu cầu nhiệm vụ mới. Do đó, Chủ tịch Hồ Chí Minh càng  quan tâm hơn đến công tác xây dựng Đảng về đạo đức cách mạng. Trước lúc đi xa, Người viết trong Di chúc: “Đảng ta là một Đảng cầm quyền. Mỗi đảng viên và cán bộ phải thật sự thấm nhuần đạo đức cách mạng; thật sự cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư. Phải giữ gìn Đảng ta thật trong sạch, phải xứng đáng là người lãnh đạo, người đầy tớ thật trung thành của nhân dân”. Lời căn dặn cuối cùng của Người đã nói vắn tắt cái điều cốt tử nhất trong xây dựng Đảng cầm quyền, nó quyết định vận mệnh của Đảng, của Nhà nước, vận mệnh của cả chế độ – đó là đạo đức cách mạng. Theo  Người, đạo đức là cái “gốc” của người cách mạng. Người nói thật dễ hiểu, nhưng là cả một chân lý tuyệt đối: “Cũng như sông thì có nguồn mới có nước, không có nguồn thì sông cạn. Cây phải có gốc, không có gốc thì cây héo. Người cách mạng phải có đạo đức, không có đạo đức thì  dù tài giỏi  mấy cũng không lãnh đạo được nhân dân”.

Có đạo đức cách mạng thì khi gặp khó khăn, gian khổ, thất bại cũng không sợ sệt, rụt rè, lùi bước. Vì lợi ích  chung của Đảng, của cách mạng, của giai cấp, của dân tộc và của loài người mà không ngần ngại hy sinh tất cả lợi ích riêng của cá nhân mình. Khi cần, thì sẵn sàng hy sinh cả tính mạng của mình cũng không tiếc. Đó là biểu hiện rất rõ rệt, cao quý của đạo đức cách mạng.

Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, thì đạo đức cách mạng nói tóm tắt là:

– Quyết tâm suốt đời đấu tranh cho Đảng, cho cách mạng. Đó là điều chủ chốt.

– Tuyệt đối trung thành với Đảng, với nhân dân. Đặt lợi ích của Đảng, của nhân dân lao động lên trên, lên trước lợi ích riêng của cá nhân mình. Vì Đảng, vì dân mà đấu tranh quên mình, gương mẫu  trong mọi việc.

– Ra sức học tập chủ nghĩa Mác-Lênin, luôn luôn dùng tự phê bình và phê bình để nâng cao tư tưởng và cải tiến công tác của mình và cùng đồng chí mình tiến bộ.

– Nghiêm chỉnh chấp hành mọi chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước, làm gương mẫu cho quần chúng. Mọi cán bộ, đảng viên phải nêu cao tinh thần  trách nhiệm trước Đảng, trước nhân dân; phải ngăn ngừa và kiên quyết chống chủ nghĩa cá nhân. Phải đoàn kết nhất trí, chống bè phái, cục bộ.

– Luôn hòa mình với quần chúng, tin tưởng quần chúng, hiểu quần chúng, lắng nghe ý kiến của quần chúng; tổ chức quần chúng thành một khối đoàn kết chặt chẽ xung quanh Đảng; tuyên truyền, huy động quần chúng hăng hái thực hiện tốt các chính sách và Nghị quyết của Đảng. Cán bộ, đảng viên phải thực hiện tốt lời nói đi đôi với việc làm; phải có ý thức tổ chức, kỷ luật v.v…

Trong Đảng ta, các đồng chí Trần Phú, Ngô Gia Tự, Lê Hồng Phong, Nguyễn Văn Cừ, Hoàng Văn Thụ, Nguyễn Thị Minh Khai và nhiều đồng chí khác  đã vì dân, vì Đảng mà oanh liệt hy sinh, đã nêu tấm gương chói lọi của đạo đức cách mạng cho tất cả chúng ta học tập, noi theo.

Bác nói: Có đạo đức cách mạng  thì khi gặp thuận lợi và thành công cũng vẫn giữ vững tinh thần gian khổ,  chất phác, khiêm tốn, “lo trước thiên hạ, vui sau thiên hạ”, lo hoàn thành nhiệm vụ cho tốt, chứ không kèn cựa  về mặt hưởng thụ; không công thần, không quan liêu, không kiêu ngạo, không hủ hóa. Đó là biểu hiện của đạo đức cách mạng. Người còn nói: Đạo đức cách mạng không phải trên trời rơi xuống. Nó do đấu tranh, rèn luyện bền bĩ hằng ngày mà phát triển và củng cố. Cũng như ngọc càng mài  càng sáng, vàng càng luyện càng trong. Cả cuộc đời hoạt động cách mạng, Bác Hồ luôn rèn luyện mình để trở thành người có đạo đức cách mạng. Theo đó, Người đã làm giàu truyền thống đạo đức của dân tộc Việt Nam bằng sự kế thừa tư tưởng đạo đức phương Đông,  những tinh hoa đạo đức nhân  loại; tấm gương đạo đức của các nhà sáng lập chủ nghĩa Mác đã nêu cho Người một mẫu mực về sự giản dị và sự khiêm tốn cao độ, Người đã học tập và hành động bởi các tấm gương ấy, với nếp sống giản dị, coi khinh sự xa hoa, yêu lao động, đồng cảm sâu sắc với người cùng khổ, hướng cuộc đấu tranh của mình vào công cuộc giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp, giải phóng con người.

Song, ngày nay một bộ phận không nhỏ trong cán bộ, đảng viên đã trượt ngã vào vũng bùn của chủ nghĩa cá nhân, vi phạm đạo đức cách mạng, không  thực hiện đúng lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh,  đã trở thành những phần tử quan liêu, xa dân, ức hiếp quần chúng, tham nhũng, hối lộ,  làm xói mòn niềm tin của nhân dân đối với Đảng. Cần luôn luôn ghi nhớ lời nhắc nhở cực kỳ sáng suốt của Chủ tịch Hồ  Chí Minh: “Một dân tộc, một Đảng và mỗi con người, ngày hôm qua là vĩ đại, có sức  hấp dẫn lớn, không nhất định hôm nay và ngày mai vẫn được mọi người yêu mến và ca ngợi,  nếu lòng dạ không trong sáng nữa, nếu sa vào chủ nghĩa cá nhân”.

Chủ tịch Hồ Chí Minh cho rằng: “Đảng ta vừa là đạo đức vừa là  văn minh”, là người khởi xướng và lãnh đạo mọi sự đổi thay của đất nước qua các giai đoạn lịch sử của cách mạng. Muốn tiếp tục đưa sự nghiệp cách mạng tiến đến đích cuối cùng, trước hết Đảng phải tự đổi mới, tự chỉnh đốn.

Tự đổi mới, tự chỉnh đốn là khẳng định sự vận động nội tại của Đảng cầm quyền trong quá trình lãnh đạo cách mạng, là sự nhận diện đúng quy luật vận động, phát triển của Đảng. Quán triệt tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng, chỉnh đốn Đảng vào cuộc vận động xây dựng, chỉnh đốn Đảng  hiện nay, trước hết mỗi cán bộ, đảng viên phải tăng cường học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh, trên cơ sở đó,  nâng cao đạo đức cách mạng, quét sạch chủ nghĩa cá nhân.

Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh cũng đồng nghĩa với việc làm những phẩm chất chung, cơ bản nhất của đạo đức cách mạng là: Trung với nước, hiếu với dân; yêu thương con người; cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư, là phẩm chất thường trực trong cuộc sống hằng ngày, phải trở thành giá trị bất  biến trong mọi môi trường,  mọi hoàn  cảnh, mọi cơ chế kinh tế của người cán bộ, đảng viên. Điều đó cũng lý giải vì sao sự suy thoái chính trị, tư tưởng, đạo đức, lối sống của một bộ phận cán bộ, đảng viên hiện nay có  nguyên nhân chủ yếu từ sự suy thoái ở phẩm chất này. Do vậy, học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh, mỗi cán bộ, đảng viên của Đảng phải không ngừng tu dưỡng đạo đức suốt đời; phải nêu gương về đạo đức, trở thành tấm gương sáng để quần chúng noi theo, để quần chúng tin yêu, mến phục.

Tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh là ngọn đuốc soi sáng trong cuộc vận động  xây dựng, chỉnh đốn Đảng hiện  nay.

www.hcmpc.com.vn

Những kỷ niệm của kiều bào Tân Đảo với Bác Hồ – Những dấu ấn khó phai

Ngoài những đóng góp lớn về vật chất cùng một tấm lòng luôn hướng về nước nhà, hưởng ứng lời kêu gọi của Chủ tịch Hồ Chí Minh chung tay xây dựng đất nước, kiều bào Tân Đảo và Tân Thế Giới còn đầy ắp những kỷ niệm thân thương với Bác Hồ

Chiếc xe được trưng bày tại Phủ Chủ tịch luôn thu hút khách tham quan. Ảnh :TL

Khi còn làm phu mỏ xứ người, dân phu biết đến Bác, nghe về Bác qua những tài liệu, báo đài, sách in của nước ngoài. Và họ đã nhận ra Hồ Chủ tịch là vị lãnh tụ tối cao cho sự nghiệp giải phóng nước nhà.

Ảnh Bác Hồ là tấm huy chương ở xứ người

Ở xứ người, những hình ảnh của Bác được xem là vật vô cùng hiếm hoi, để có được một tấm ảnh Bác treo trong nhà là cả một phần thưởng quý báu. Gia đình họ phải có công lao to lớn, được cộng đồng thừa nhận mới được phần thưởng là tấm ảnh chân dung của Bác. Cụ Trần Hữu Câu sinh năm 1902 quê ở thôn Vân Tràng, Nam Trực, Nam Định – Hội trưởng Hội liên Việt Santo Tân Đảo, bằng những hoạt động tích cực và đóng góp cho quỹ kháng chiến nước nhà, được nhận phần thưởng là bức chân dung Hồ Chủ tịch, một kỷ niệm chương liên hiệp Công đoàn thế giới… Những ảnh chân dung Bác được xem như huy chương mà không phải kiều bào Tân Đảo nào thời ấy cũng có được.

Cụ bà Trần Thị Chỉnh – Việt kiều nay đã 79 tuổi, hiện sống ở Hải Dương vẫn còn giữ tấm chân dung Bác xưa kia, chỉ nhỏ bằng cỡ 9x12cm mà chồng là cụ Lê Duy Tẩm đã được tặng thưởng khi còn ở Tân Đảo. Cụ Chỉnh kể: “Hình của Bác sau khi nước nhà độc lập 1945 được gửi từ Việt Nam sang không nhiều, phải là những người hoạt động thật xuất sắc và có công lớn trong cộng đồng Việt kiều mới được dành tặng. Vì thế, chúng tôi quý lắm và bao giờ tôi cũng giữ cẩn thận”.

Những kỷ niệm thân thương khi hồi hương

Ngay chuyến tàu đưa kiều bào Tân Đảo hồi hương cập cảng Hải Phòng ngày 12.1.1961, đến chiều 14.1.1961, đoàn đại biểu Việt kiều Tân Đảo và Tân Thế Giới vô cùng cảm động và vui sướng khi được gặp Bác Hồ tại Phủ Chủ tịch. Cậu bé Lê Quý Niệm năm ấy 15 tuổi – hiện ở Hà Nội – một trong những đại diện nhỏ tuổi nhất của thiếu nhi Tân Đảo theo đoàn vào diện kiến Bác Hồ, vẫn còn nhớ như in ngày trọng đại ấy: “Thế hệ chúng tôi sinh ra và lớn lên ở Tân Đảo, nghe các cụ nói về Bác Hồ, chỉ biết Bác qua hình ảnh quê nhà gửi sang. Thật xúc động khi thấy Bác hiện diện ngay trước mặt mình. Bác ân cần thăm hỏi, xoa đầu chúng tôi, rồi người lấy gói kẹo phát từng người. Khi ra về người còn gửi tặng tôi một túi kẹo to và dặn dò đem về phân phát cho các bạn thiếu nhi Việt kiều khác mà hôm nay không có dịp gặp được Bác. Những câu nói của Bác khiến tôi vô cùng xúc động, dù mới gặp lần đầu, nhưng có cảm giác như đã gặp Bác từ lâu rồi…”

Tháng 3.1961, Bác Hồ lên Tuyên Quang thăm hỏi đời sống kiều bào Tân Đảo. Tết 1962, Bác đã đến thăm gia đình ông Phạm Văn Công ở 97 Đại La, Hai Bà Trưng – Việt kiều Tân Đảo hồi hương năm 1961 – gia đình ông Phạm Văn Công kể: “Vào lúc ông Công đang trang trí gian phòng đón giao thừa, ông đang treo hai vế đối dưới ảnh Bác Hồ, thì bất ngờ Bác Hồ đứng trước cửa nhà ông. Ông bàng hoàng không nói được gì, còn vợ thì thốt lên: Ối giời ơi! Có phải là Bác Hồ không!”.

Năm 1964, Bác đến thăm gia đình ông Phạm Văn Trác ở 36 Lê Văn Hưu, Hai Bà Trưng. Bà con, ai cũng cảm kích vì không ngờ một vị chủ tịch nước với tiếng tăm vang lừng khắp năm châu mà kiều bào đã biết khi còn ở nước ngoài, nay đích thân đến thăm các gia đình việt kiều. Người ân cần hỏi han chuyện chuẩn bị tết ra sao, sức khoẻ gia đình, con cái, căn dặn tình hình công tác, khen các con em Việt kiều nói tiếng Việt sõi… “Không khí buổi gặp vị Chủ tịch nước mà ấm cúng như trong gia đình”.

Chiếc xe hơi vạn dặm

Chiếc Peugeot 404 tại khu di tích Phủ Chủ tịch. Ảnh : TL

Một trong những hiện vật giá trị của Bác hiện đang lưu giữ ở Phủ Chủ tịch, là hai chiếc xe hơi được người sử dụng trước kia. Một trong hai chiếc xe ấy là số tiền của bà con việt kiều mua từ Tân Đảo về tặng chính phủ miền Bắc trên chuyến tàu hồi hương và được Bác sử dụng những năm cuối đời.

Chuyến tàu đưa việt kiều hồi hương năm 1964, mang theo 11 chiếc Peugeot 404 – xe đời mới nhất lúc bấy giờ được bà con Tân Đảo mua, đem về tặng cho Bác Hồ và chính phủ Việt Nam. Tiền mua 11 chiếc này cũng do bà con đóng góp trong quá trình ở Tân Đảo, chưa kịp chuyển hết về cho Bác. Bác Nguyễn Văn Ngân – người gắn với hành trình chiếc xe từ Tân Đảo, đến cảng Hải Phòng, và đích thân lái chiếc xe ấy về Hà Nội bàn giao cho chính phủ Việt Nam hiện đang ở Hà Nội.

Thông tin về chiếc xe, ngay cả ban quản lý bảo tàng Hồ Chí Minh trước đây cũng chỉ nắm hồ sơ chiếc xe, số đăng ký, biển số, đời xe… và biết rằng chiếc xe đó do kiều bào Tân Đảo đóng góp, còn các chi tiết cụ thể hơn thì bảo tàng chưa nắm hết được. Mãi đến năm 2005, một lần vào thăm bảo tàng Hồ Chí Minh, bác Ngân, một sĩ quan quân đội – bỗng bàng hòang khi thấy một trong hai chiếc xe trưng bày chính là chiếc Peugeot 404 mà trước kia ông đã sát cánh cùng nó trên đường trở về quê hương trên. Lai lịch về chiếc xe được sáng tỏ.

Gặp bác Ngân đang nằm viện, với một phần buồng phổi phải qua phẫu thuật cắt bỏ. Tuy sức khoẻ suy yếu, nhưng khi nhắc lại chuyện chiếc Peugeot 404, bác Ngân vô cùng xúc động hồi tưởng: “Chúng tôi dùng hết số tiền quỹ còn lại, mua được 11 chiếc Peugeot 404 đời mới nhất, với nhiều màu sơn khác nhau. Cập cảng Hải Phòng, 11 chiếc được anh em việt kiều lái về Hà Nội giao chính phủ, tôi được phân công lái chiếc xe màu ghi sáng. Không ngờ rằng chiếc xe ấy lại được chọn phục vụ cho Bác Hồ. Đến khi vào bảo tàng, nhìn thấy chiếc xe, tôi nhận ra ngay và đã bật khóc khi nhớ lại kỷ niệm ngày trước.

Vị giám đốc bảo tàng còn cho biết khi Bác nhận được chiếc xe, người không dùng vì nó quá sang trọng, người vẫn thường dùng chiếc Provda của Liên xô làm phương tiện đi lại. Mãi đến những năm cuối đời, do sức khoẻ yếu, việc bước lên chiếc Provda khó khăn hơn vì gầm xe cao. Lúc ấy Bác mới sử dụng chiếc Peugeot 404 của kiều bào Tân Đảo…”.

Lam Phong

sgtt.vn

Phong cách ngoại giao Hồ Chí Minh

SGTT – Trong bài Bác Hồ ở Indonesia năm 1959 trên tuần báo Quốc Tế, cựu trung tướng Soehario Padmodiwirio đã kể với ký giả Đỗ Ngân Phương rằng, trong thời gian hai tuần Chủ tịch Hồ Chí Minh thăm Indonesia, ông (lúc đó mang quân hàm đại tá) đã được đích thân Tổng thống Sukarno cử đi bảo vệ.

Sự cẩn thận của Tổng thống Sukarno có lý do riêng của mình. Bởi, ngay tối hôm đầu tiên đến Jakarta, vị thượng khách của Tổng thống Sukarno đã làm ông một phen “đứng tim”.

Vi hành trong đêm

Tổng thống Soekarno che dù cùng Hồ Chủ tịch tại Bandung, nhân chuyến thăm Indonesia của Bác Hồ năm 1959 Ảnh: T.L

Ngày 27.2.1959, Chủ tịch Hồ Chí Minh đến Jakarta, bắt đầu chuyến thăm chính thức Indonesia. Đây là quốc gia thứ ba theo đường lối dân tộc chủ nghĩa mà Hồ Chủ tịch đi thăm, sau Ấn Độ và Miến Điện.

Ngay tối hôm đó, sau lễ đón chính thức, lúc trở về nghỉ ở tổng lãnh sự quán Việt Nam tại Jakarta, Hồ Chủ tịch đã nói với ông Hoàng Tuý, một cán bộ tổng lãnh sự quán, rằng ông muốn đến thăm một gia đình Việt kiều ở Jakarta. Đó là một gia đình Việt kiều có nhiều gắn bó với quê hương, thông qua cơ quan đại diện ngoại giao Việt Nam.

“Thưa Bác, tại sao lại phải đến ngay lúc này? Bác mới sang còn mệt, chờ sáng mai cũng được mà”, ông Hoàng Tuý hỏi lại.

“Nhưng đúng lúc này bà con lại rất mong mình. Vả lại, chú đừng có lo. Mình lặng lẽ đi, không để ai biết cả, sẽ không có chuyện gì đâu”, Hồ Chủ tịch vừa nhìn thẳng vào ông Hoàng Tuý vừa đáp, như đọc được nỗi lo lắng trong mắt nhà ngoại giao trẻ tuổi.

Khi ông Hoàng Tuý đưa Hồ Chủ tịch tới gia đình Việt kiều đó, hình ảnh đầu tiên đập vào mắt ông là cả gia đình đang quây quần bên chiếc radio, nghe tường thuật lại về chuyến thăm của vị nguyên thủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà. “Khỏi phải nói họ đã từ ngỡ ngàng đến mừng rỡ thế nào, khi thấy Bác Hồ”, ông Hoàng Tuý kể lại.

Sau khi thăm hỏi, Hồ Chủ tịch mời cả gia đình về tổng lãnh sự quán. Khi họ tới, Hồ Chủ tịch đã nói với các nhân viên phục vụ người Indonesia: “Mời các bạn về nghỉ. Đây là việc trong nhà của chúng tôi”.

Tất cả mọi người trong tổng lãnh sự quán, kể cả vị tổng lãnh sự, đều phải vào vai phục vụ. Đun nước, pha trà, bày bánh kẹo, hoa quả…

Hôm sau, một nhân viên bảo vệ người Indonesia trong tổng lãnh sự quán nói với ông Hoàng Tuý: “Tôi phục Ông Cụ quá! Anh biết đấy, cũng như ở mọi cơ quan đại diện ngoại giao, các nhân viên phục vụ ở đây đều là sĩ quan an ninh cả đấy. Tôi quý Việt Nam thì không sao. Chứ những người khác, khi Ông Cụ rời khỏi đây, họ sẽ đến hoạnh hoẹ, hạch sách cái gia đình Việt kiều đó”.

Viên sĩ quan an ninh cũng kể lại với ông Hoàng Tuý rằng ngay sau khi nhận được tin Hồ Chủ tịch “vi hành” tối hôm đó mà không có xe cảnh sát bảo vệ, Tổng thống Sukarno đã gọi điện khiển trách bộ trưởng Nội vụ.

“Tổng thống Sukarno chỉ thay đổi thái độ, thậm chí cười tươi, khi sáng hôm sau, những tờ báo lớn của Indonesia trên bàn của ông đều giật những cái tít lớn, ý đại loại như Hồ Chí Minh quá tin tưởng vào nền an ninh của Tổng thống Sukarno”, ông Hoàng Tuý kể lại, và cho biết thêm tình hình Indonesia lúc đó khá phức tạp.

Ứng xử với học giả và báo giới

Nhà ngoại giao trẻ tuổi Hoàng Tuý cũng đã mục sở thị về những sự linh hoạt khác trong ứng xử thường ngày của Hồ Chủ tịch. Có hai câu chuyện mà ông thường kể lại cho học trò và con cái.

Từ trái sang (hàng ngồi): Chủ tịch Hồ Chí Minh, tổng thống Soekarno, giáo sư Sjafei Soemardja tại học viện kỹ thuật Bandung năm 1959. Ảnh: Flickr

Một lần, Hồ Chủ tịch được mời đến giao lưu với giới học giả ở Jakarta. Đứng trên bục diễn giả, Hồ Chủ tịch đọc bài nói chuyện được chuẩn bị sẵn bằng tiếng Việt, chờ, thông dịch viên dịch sang tiếng Anh. Sau chừng dăm phút, ông Hoàng Tuý đã nhận thấy dưới các hàng ghế cử toạ nhiều khuôn mặt tỏ ra lơ đãng, thậm chí có những mái đầu bạc trắng đã hơi ngoẹo sang một bên, “Thôi, hỏng rồi”, ông thầm nghĩ.

“Các vị buồn ngủ lắm phải không?” Hồ Chủ tịch đột nhiên bật ra một câu tiếng Anh, Cả hội trường tự nhiên đầy tiếng lao xao.

“Nói chuyện với các học giả như các vị mà lại nói theo công thức, lại qua giọng đều đều của thông dịch viên nữa, các vị không buồn ngủ mới lạ”, Hồ Chủ tịch nói tiếp.

Những cánh tay giơ lên đặt câu hỏi. Cuộc trao đổi trực tiếp bằng tiếng Anh giữa Hồ Chủ tịch và giới học giả Indonesia đã diễn ra cực kỳ rôm rả. “Hồ Chí Minh đã chuyển bại thành thắng”, một vị học giả quen biết nói nhỏ vào tai ông Hoàng Tuý.

Một lần khác, trong một cuộc họp báo quốc tế, một phóng viên Mỹ đứng lên đặt câu hỏi: “Thưa ông Hồ Chí Minh, ông đánh giá về vai trò của Mỹ trong khối SEATO (tổ chức Hiệp ước Đông Nam Á, gồm Úc, Pháp, Anh, New Zealand, Pakistan, Philippines, Thái Lan và Mỹ?”

Trước đó, Tổng thống Sukarno, dù thể hiện sự ủng hộ Việt Nam Dân chủ Cộng hoà trong sự nghiệp thống nhất đất nước, vẫn đề nghị Hồ Chủ tịch không nhắc đến tên nước Mỹ trong các phát biểu của mình trên đất Indonesia. Đơn giản bởi vì lúc đó Chính phủ của Sukarno đang nhận viện trợ của Mỹ.

“Ông là phóng viên của hãng nào?”, Hồ Chủ tịch hỏi lại.

“UPI”, phóng viên Mỹ dõng dạc xướng tên hãng.

“Thưa ông, SEATO là một tổ chức của Đông Nam Á. Vậy sự có mặt của những nước không thuộc Đông Nam Á trong tổ chức này có hợp lý không?”, Hồ Chủ tịch tiếp tục.

Phóng viên UPI im lặng.

Hồ Chủ tịch hướng ánh mắt về phía các phóng viên Liên Xô và Đông Âu. Một số tiếng “không” vang lên từ phía đó.

“Các vị là phóng viên của những hãng nhỏ mà trả lời được câu hỏi này. Thế mà ông phóng viên của một hãng hàng đầu trên thế giới lại không biết”, Hồ Chủ tịch khẽ lắc đầu.

Phóng viên UPI lặng lẽ bước ra khỏi phòng họp báo.

“Tôi đã được nghe nhiều chuyện về cách ứng xử của Bác Hồ với người Pháp, người Liên Xô, hay người Trung Quốc, nhưng những điều tận mắt chứng kiến như trên khiến tôi tin người ta đã đúng khi nói rằng có một phong cách Hồ Chí Minh”, ông Hoàng Tuý kết luận.

HUỲNH PHAN

sgtt.vn

Điện gửi Chủ tịch Nguyễn Hữu Thọ và Trung ương Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam (4-2-1968)

Trong mấy ngày đầu Xuân, quân và dân ta ở miền Nam đánh rất giỏi, rất đều, rất nhịp nhàng, đánh khắp nơi mà nơi nào cũng thắng to26) Giặc Mỹ và tay sai bị một vố như trời giáng, hết sức hoang mang, lúng túng; nguỵ quyền, nguỵ quân đang tan rã từng mảng. Đồng bào cả nước rất phấn khởi, tự hào; bầu bạn ta khắp nǎm châu rất vui mừng!

Tôi thân ái nhờ Chủ tịch và các vị chuyển đến toàn thể đồng bào miền Nam, các lực lượng vũ trang nhân dân giải phóng và các lực lượng yêu nước khác lời khen ngợi nồng nhiệt nhất.

Thắng lợi đầu Xuân của quân và dân miền Nam đã đưa cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của toàn dân ta đến một tình thế mới rất có lợi! Không có gì cứu vãn nổi sự sụp đổ hoàn toàn của giặc Mỹ và tay sai!

Càng gần thắng lợi, càng nhiều gian nan. Quân địch như con thú dữ đến bước đường cùng càng giãy giụa điên cuồng, quân và dân ta càng phải tǎng cường đoàn kết, kiên trì chiến đấu, đánh mạnh, đánh liên tục, giành những thắng lợi to lớn hơn nữa!

Chúng ta có chính nghĩa, đồng bào, chiến sĩ cả nước ta một lòng, anh dũng và mưu trí, quyết chiến, quyết thắng, lại được cả phe xã hội chủ nghĩa và loài người tiến bộ đồng tình và ủng hộ, chúng ta nhất định toàn thắng!

Chào thân ái và quyết thắng

Hà Nội, ngày 4 tháng 2 nǎm 1968
Hồ Chí Minh

—————————

Báo Nhân dân, số 5048, ngày 6-2-1968.
cpv.org.vn

Thơ tặng 11 cô gái sông Hương (2-1968)

Dõng dạc tay cầm khẩu súng trường,
Khôn ngoan dàn trận khắp trong phường.
Bác khen các cháu dân quân gái,
Đánh giặc Hoa Kỳ phải nát xương.

———————–

Sách Quân khu IV: Lịch sử kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (1954-1975),
Nxb. Quân đội nhân dân, Hà Nội, 1994, tr240.

1) Tháng 2-1968, được tin 11 nữ dân quân tự vệ Thành phố Huế đã lập nhiều thành tích trong chiến đấu giải phóng Thành phố, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khen tặng bốn câu thơ trên.
cpv.org.vn

Nhị vật (2-1968)

(Nguyên chú: Đại phu đồng chí môn khuyến dụ “nhị vật”: vật hấp yên, vật ngật tửu. Tự kỷ đề thi vị chứng)

Vô yên, vô tửu quá tân xuân,
Dị sử thi nhân hoá tục nhân.
Mộng lý hấp yên, ngật mỹ tửu,
Tỉnh lai cánh phấn chấn tinh thần.

Dịch nghĩa:
HAI CHỚ

(Lời dẫn: Các đồng chí bác sĩ khuyên “hai chớ”: chớ hút thuốc lá, chớ uống rượu. Tự mình đề thơ làm chứng)

Đón mừng Xuân mới mà không có thuốc lá,
không có rượu,
Rất dễ khiến cho nhà thơ hoá ra người
phàm tục
Trong giấc mộng thấy mình được hút thuốc lá
và uống rượu ngon,
Lúc tỉnh ra thấy tinh thần thêm phấn chấn.

Dịch thơ
HAI CHỚ

Thuốc không, rượu chẳng có mừng xuân,
Dễ khiến thi nhân hoá tục nhân.
Trong mộng thuốc thơm và rượu ngọt,
Tỉnh ra thêm phấn chấn tinh thần1)

———————–

Viết bằng chữ Hán, tháng 2-1968.
Sách Thơ chữ Hán Hồ Chí Minh,
Nxb. Vǎn học, Hà Nội, 1990, tr.81-82.

1) Phan Văn Các dịch
cpv.org.vn

Thư gửi đồng chí Lê Duẩn (10-3-1968)

Chú Duẩn thân mến,

Nhớ lại hồi Nôen nǎm ngoái, Chú có ý khuyên B1) đi thǎm miền Nam sau ngày ta thắng lợi hoàn toàn, B. rất tán thành.

Nhưng nay chỉ đổi chữ “sau” thành chữ trước ngày thắng lợi hoàn toàn, tức là đi thǎm khi anh em trong 2) đang chuẩn bị mở màn thứ ba. Đi thǎm đúng lúc đó mới có tác dụng khuyến khích thêm anh em.

Cách đi, B. sẽ làm công trên một chiếc tàu thuỷ. Cùng đi sẽ có hai chú Bảo và Kỳ. Việc này B. tự thu xếp, dễ thôi.

Lúc đến anh em trỏng chỉ phụ trách đón khi tàu cặp bến Miên và đưa B. đến nhà anh Sáu, anh Bảy.

Ở lại. Tuỳ điều kiện mà quyết định: ít là mấy ngày, nhiều nhất cũng chỉ trong một tháng. Hoạt động thế nào, sẽ cùng anh em trỏng bàn định.

Có lẽ Chú và đồng chí khác e rằng sức khoẻ của B. không cho phép B. đi chơi xa. Nhưng, thay đổi không khí, hô hấp gió biển và sinh hoạt với quần chúng trong hoàn cảnh chiến đấu sẽ giúp sức khoẻ tiến bộ mau hơn.

Lịch trình đi thǎm – cần mươi ngày để chuẩn bị.

Vượt biển độ 6 ngày.

Từ bến tàu đến địa điểm độ dǎm hôm.

Vậy nhờ Chú tính ngày cho khớp, một mặt cho B. biết trước để chuẩn bị, một mặt cho anh em trỏng biết để chờ đón.

Để đảm bảo thật bí mật, Chú chỉ nên bàn việc này với một số ít đồng chí trong B.C.T3)

Mong chờ Chú trả lời.

*
* *

Trước khi đi Rumani, hai đồng chí Côn và Lành có ghé thǎm Bắc Kinh và ở lại chơi mấy hôm, rất vui vẻ.

Sức khoẻ của B. không ngừng tiến bộ, càng gần ngày ấm, càng tiến bộ hơn. Chúc Chú và tất cả anh em mạnh khoẻ.

Chào thân ái và quyết thắngB.
Viết ngày 10-3-1968.

——————–

Bản chụp bút tích bức thư
Lưu tại Viện Hồ Chí Minh.

1) B. Có nghĩa là Bác
2) Anh em trong anh ấy (cách gọi lối miền Nam)
3) B.C.T tức là Bộ chính trị
cpv.org.vn

Thư khen quân và dân Hải Phòng (15-3-1968)

Thân ái gửi đồng bào, cán bộ và chiến sĩ Hải Phòng,

Đến ngày 6-3-1968, quân và dân Hải Phòng đã bắn rơi 200 máy bay Mỹ, góp phần vào chiến công bắn rơi gần 2.800 máy bay Mỹ trên miền Bắc.

Thành tích đó rất vẻ vang.

Quân và dân Hải Phòng đoàn kết chặt chẽ, sản xuất tốt, chiến đấu dũng cảm, làm tốt công tác giao thông vận tải, trật tự trị an và phòng không nhân dân.

Bác rất vui lòng thay mặt Trung ương Đảng và Chính phủ khen ngợi các đồng chí và đồng bào Hải Phòng.

Giặc Mỹ đã thua to, nhưng chúng vẫn ngoan cố chưa chịu từ bỏ những âm mưu tàn bạo và quỷ quyệt. Quân và dân ta đang thắng lớn, càng phải kiên quyết chiến đấu cho đến ngày thắng lợi hoàn toàn.

Quân và dân Hải Phòng hãy ra sức thi đua với quân và dân miền Nam anh hùng, nâng cao cảnh giác, sản xuất tốt hơn nữa, chiến đấu giỏi hơn nữa, sát cánh cùng đồng bào cả nước đánh thắng giặc Mỹ xâm lược.

Chào thân ái và quyết thắng

Hà Nội, ngày 15 tháng 3 nǎm 1968
Bác Hồ

———————-

Báo Nhân dân, số 5087, ngày 16-3-1968.
cpv.org.vn

Vô đề (3-1968)

Tam niên bất ngật tửu xuy yên,
Nhân sinh vô bệnh thị chân tiên.
Hỷ kiến Nam phương liên đại thắng,
Nhất niên tứ quý đổ xuân thiên.

Dịch nghĩa:
KHÔNG ĐỀ

Đã ba nǎm rồi không uống rượu, không hút thuốc lá,
Ở đời không ốm đau chính là tiên thật sự!
Mừng thấy miền Nam thắng lớn liên tiếp,
Một nǎm cả bốn mùa đều là Xuân.

Dịch thơ
KHÔNG ĐỀ

Thuốc kiêng, rượu cũ đã ba nǎm,
Không bệnh là tiên sướng tuyệt trần.
Mừng thấy miền Nam luôn thắng lớn,
Một nǎm là cả bốn mùa Xuân (1)

————————

Viết bằng chữ Hán, tháng 3-1968.
Sách Thơ chữ Hán Hồ Chí Minh,
Nxb. Vǎn học, Hà Nội, 1990, tr.79-80.

1) Khương Hữu Dụng dịch.
cpv.org.vn