Tag Archive | Thời sự

Không chỉ là Tết Độc lập…

– Cuộc sống vẫn phải đổi thay. Dù không còn cảm xúc Tết Độc lập nhưng giá trị của Độc lập, Tự do thì chắc hẳn nó vẫn nằm sâu đâu đó trong tâm khảm mỗi người để khi cần thiết nó sẽ  lại được huy động vào một hành động chung…

Tại sao gọi là Tết Độc lập?

Theo nghĩa đen, “Tết Độc lâp” được dành cho Tết Bính Tuất (1946) là cái Tết Nguyên đán cổ truyền đầu tiên được tổ chức trong khung cảnh đất nước đã độc lập sau 80 năm bị đô hộ của thực dân Pháp. Trong bài báo có nhan đề là “Tết” đăng trên “Cứu Quốc”, Bác viết rằng đây là “Tết Xuân đầu tiên của nước Việt Nam Độc lập”.

Giao thừa năm đó, Bác cải trang hoà mình vào dòng người đi lễ và hái lộc trong Đền Ngọc Sơn rồi nửa đêm Bác đi thăm một vài gia đình nghèo nhất, không có Tết và đề nghị lãnh đạo Hà Nội lo Tết cho đồng bào nghèo.

Nhưng “Tết Độc lập” cũng còn được sử dụng trong dân khi đón Lễ Quốc khánh 2/9 kể từ năm khai sinh ra nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà (1945) cho đến nhiều năm về sau.

Sở dĩ như vậy vì theo cách gọi của người xưa chữ “Tết” là biến âm của chữ “tiết” theo nghĩa của Hán tự để nói đến những thời điểm lập lại trong tiến trình vận hành của thời gian trong mỗi năm mà nó mang một ý nghĩa nào đó với đời sống tâm linh hay tín ngưỡng của dân gian.

Theo tâp quán dân gian, ngoài Tết Nguyên đán là mở đầu cho một năm mới; còn rất nhiều sinh hoạt tín ngưỡng cũng được gọi là “Tết”, ví như: Tết Trung Thu, Tết  Đoan Ngọ, Tết Hàn thực (ít nhiều có ảnh hưởng với văn hoá Trung Hoa)… Vì thế, khi người dân Việt Nam gọi Ngày Độc lập (2/9/1945) và những ngày Quốc khánh hàng năm là “Tết Độc lập” là theo cái nghĩa một sự kiện có ý nghĩa như cái mốc mở ra một cái gì tốt đẹp cho cả một dân tộc. Đó là một ngày hội thực sự của những con người nhận thấu được một sự thay đổi to lớn không chỉ với quốc gia mà với chính mỗi con người.

“Tết Độc lập” cũng được sử dụng trong dân khi đón Lễ Quốc khánh 2/9 kể từ năm khai sinh ra nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà (1945). Ảnh dongautaivietnam“Tết Độc lập” cũng được sử dụng trong dân khi đón Lễ Quốc khánh 2/9 kể từ năm khai sinh ra nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà (1945). Ảnh dongautaivietnam

Nhà thơ Nguyễn Đình Thi dùng hình tượng một dân tộc “rũ bùn đứng dậy”, còn những sĩ phu của nền học cổ hay những trí thức của nền học mới thì nhận ra từ cái nhục vong quốc nô trở thành một “dân quốc”, một công dân của một quốc gia độc lập tự do. Còn số đông người dân thì nhận thấy những kẻ cai trị hôm qua như thực dân, quan lại phong kiến giờ đây đã bị tước đoạt hết quyền lực và họ nhận thấy hy vọng của sự “đổi đời” khi thấy mọi thứ đã khác trước.

Tâm trạng của số đông ấy là có thực, với những người cao tuổi thì là một phần ký ức sâu sắc; còn với những người không được sống vào thời điểm lịch sử ấy chúng ta có thể thấy được phần nào sự “thăng hoa” hay “hưng phấn” ấy qua những dấu ấn của đời sống văn hoá, xã hội mà báo chí, các tác phẩm văn chương và nghệ thuật phản ánh lại.

Tết Độc lập “thời lập bàn thờ Tổ quốc là trên hết”

Ý niệm về Tết Độc lập ấy kéo dài qua cuộc kháng chiến chống thực dân để có ngày chiến thắng 1954. Một lần nữa cái cảm nhận về “Tết Độc lập” trở lại sau ngày miền Bắc hoàn toàn giải phóng kéo dài phần nào cho đến trước khi chiến tranh trở lại…

Khi Cách mạng thành công, tôi chưa ra đời. Nhưng tôi có thể thấy phần nào không khí vào thời điểm Thủ đô giải phóng (10/10/1954) với cái Tết giải phóng đầu tiên, năm 1955.

Tôi nhớ hồi đó người ta hay lập các “bàn thờ Tổ quốc” ở nơi công cộng hay ở cả một số gia đình. Trên bàn thờ ngoài những vật thờ như bàn thờ gia tiên thế nào cũng có lá cờ đỏ sao vàng và dòng chữ để cao nơi trang trọng nhất: “Tổ quốc trên hết”.

Hồi đó, tôi còn thấy một tập quán vốn có từ thời Cách mạng mới thành công 1945-1946 là người ta đun những nồi nước chè đặt cửa nhà mình hay nơi công cộng để cho khách vãng lại dùng. Việc đón các chú bộ đội, hay cán bộ miền Nam tập kết về nhà mình là phổ biến.  Một bữa ăn thịnh soạn hơn ngày thường để người ta tập trung ôn lại những ngày đầu “dân quốc” mới cách đó chưa đầy một thập kỷ và những ngày tạm chiếm vừa mới qua…

Rồi không khí “Tết” dường như nhạt dần cùng với những khó khăn về kinh tế, đặc biệt là những rạn vỡ trong quan hệ giữa người với người. Thời kỳ chiến tranh phá hoại mới bùng nổ, gặp khó khăn chung con người có thể bắt đầu hàn gắn và cô kết lại. Người thành phố sơ tán về nông thôn vẫn nhận được những tình cảm chia sẻ rất mộc mạc của người dân quê với câu đầu lưỡi “Ơn Đảng, ơn Bác” các ông các bà mới về đây với chúng tôi. Họ chia sẻ thực sự cái tình đồng bào tưởng chừng đã mất. Và cái không khí “Tết Độc lập” có phần nào trở lại trong thời kỳ chiến tranh ác liệt, cái ý nghĩ chính trị hoà vào trong nếp sống và ứng xử văn hoá… Nhưng chiến tranh qua rồi thì hình như nó lại bắt đầu nhàn nhạt dần, đến hôm nay ít người còn gọi Ngày Quốc khánh là “Tết Độc lập”.

“Có độc lập tự do mà cuộc sống của người dân chưa no ấm, hạnh phúc thì cũng vô nghĩa”

Ý niệm về “Tết Độc lập” đã phai dần trước những thử thách mới. Không phải là chiến tranh, vì với chiến tranh gian khổ hy sinh nhưng người ta còn hy vọng vào ngày chiến thắng. Chính quá trình tìm kiếm con đường phát triển, cùng với nó là một số chính sách, nhất là những “chính sách cải tạo” với hy vọng sẽ xây dựng một xã hội mới tốt đẹp nhưng duy ý chí đã làm đổ vỡ không ít những giá trị tốt đẹp và niềm tin.

Sau những sai lầm trong cải cách ruộng đất dù đã được nỗ lực sửa sai, tiếp đó cải tạo công thương nghiệp tư bản tư doanh, thực chất là tấn công vào sở hữu tư nhân và đội ngũ các nhà công thương đã từng được tôn vinh từ những ngày đầu  nước nhà Độc lập; kể cả cuộc cải tạo xã hội chủ nghĩa ở nông thôn mà tập trung ở quá trình hợp tác hoá ở nông thôn, nhân danh chủ nghĩa tập thể đã tước đoạt phần nào một vài thành quả mà cách mạng và kháng chiến đã đem lại với mục tiêu “ruộng đất cho dân cày” đã khiến cho không khí xã hội mất dần cảm xúc ngày Tết. Còn lại chỉ là những chương trình nặng tính tuyên truyền chính trị pha thêm những quan điểm không tưởng gắn với đấu tranh giai cấp.

Hơn nữa chiến tranh diễn ra trên cả nước khốc liệt nên ít ai nghĩ về Ngày Quốc khánh như những ngày hội mà chủ yếu là những đợt vận động chính trị hướng về tiền tuyến…

Đến nay, dù cuộc sống của nhân dân đã yên bình và ngày một sung túc hơn, nhưng cảm xúc về một ngày Tết Độc lập cũng không còn như trước lâu. Trong khi, các nhà chính trị luôn hướng tâm thức Ngày Tết Nguyên đán tới “Mừng Đảng, mừng Xuân”, xu thế chung ngày Tết người dân thường hướng về đời sống gia đình, tổ tiên và thoả mãn những nhu cầu của chất lượng sống hiện đại như du lịch hay làm từ thiện!

Đó cũng là điều thường tình. Vì nếu trong những buổi đầu Đất nước mới độc lập thì người dân thấy hiểu hơn cái giá trị độc lập vốn là niềm khao khát bấy lâu.

Nhưng để có lại được không khí Tết Độc lập, để không khí đó sẽ trở thành động lực cho con đường mà dân tộc ta sẽ phải tiến nhanh hơn, tiêu chí hàng đầu chính là niềm tin của người dân và tình yêu nước phải được hướng vào những giá trị đích thực.

Với thế hệ hiện tại, sinh ra đã là người dân độc lập rồi, có lẽ người dân thấm câu nói Bác Hồ đã từng đề cập tới từ rất sớm là “Có độc lập tự do mà cuộc sống của người dân chưa no ấm, hạnh phúc thì cũng vô nghĩa”.

Dẫu rằng, nhiều cái tốt đẹp trong quá khứ mất dần là điều khó tránh… Cuộc sống vẫn phải đổi thay. Nhưng chắc chắn rằng, không còn cảm xúc Tết Độc lập nhưng giá trị của Độc lập, Tự do thì chắc hẳn chẳng nó vẫn nằm sâu đâu đó trong tâm khảm mỗi người để khi cần thiết nó sẽ  lại được huy động vào một hành động chung…

Dương Trung Quốc
bee.net.vn

“Việt Nam – Lào đoàn kết chặt chẽ”

– “Việt Nam đoàn kết chặt chẽ. Lào đoàn kết chặt chẽ, Miên (Campuchia) đoàn kết chặt chẽ. Đoàn kết ở đây là đoàn kết trong tinh thần, đoàn kết trong hành động, đoàn kết trong đấu tranh, chứ không phải đoàn kết ngoài miệng”.

Khi nhờ chuyển tặng món quà cho Chủ tịch Souphanuvon một tấm lụa, một thanh kiếm và một bộ quần áo với ý nghĩa được Bác giải thích: “Tấm lụa tượng trưng cho sự mềm mỏng và đại đoàn kết. Đoàn kết chặt chẽ như những sợi tơ trong tấm lụa. Mềm mỏng là để đối với nhân dân. Thanh kiếm là tượng trưng cho sự sắc sảo và kiên quyết. Còn bộ quần áo để tặng cho cán bộ Lào thi đua giỏi nhất”.

Đó là quan điểm về tình đoàn kết liên minh chiến đấu Việt Lào trong kháng chiến chống thực dân Pháp được Bác phát biểu ngày 14/9/1945 tại Hội nghị Cán bộ liên minh Việt Lào.

dNăm 1954, tại Việt bắc, Bác tiếp Hoàng thân Chủ tịch Souphanuvon, Chủ tịch Neo Lào Hắec xạt

14 năm sau, đến thăm Hội nghị Thuỷ lợi toàn miền Bắc họp tại tỉnh Bắc Ninh, Bác phân tích: “Làm thuỷ lợi phải là phong trào của toàn dân, xã này với xã khác, huyện này với huyện khác, tỉnh này với tỉnh khác, đều có liên quan với nhau, phải cùng làm, phải thảo luận với nhau, phải đoàn kết  giúp đỡ lẫn nhau, không nên chỉ nhìn thấy lợi ích của nơi mình mà để thiệt nơi khác”.

“Đánh Pháp đã khó, đánh Mỹ còn khó hơn. Đảng và Chính phủ giao cho các chú vào trong đó cùng với đồng bào miền Nam đánh Mỹ cho kỳ được thắng lợi. Gặp đồng bào thì nói: “Bác Hồ luôn luôn nghĩ đến đồng bào miền Nam”. Lời dặn dò của Bác với Đại tướng Nguyễn Chí Thanh và Thiếu tướng Lê Trọng Tấn trong bữa cơm chia tay các vị tướng lên đường vào mặt trận miền Nam vào trung tuần tháng 9/1964.

X&N
bee.net.vn

Hồ Chí Minh bí mật đến Lư Sơn

Mùa hè năm 1959, cuộc họp Bộ Chính trị mở rộng của Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc được tổ chức tại Lư Sơn. Lúc bấy giờ, đối với quốc tế là một tin tức tuyệt mật. Nhưng lại có một vị nguyên thủ quốc gia của nước ngoài một mình đến Lư Sơn. Người ấy là ai? Người ấy đến Lư Sơn có công việc gì? Câu chuyện bí mật xảy ra cách đây hơn 50 năm đến nay cần được biết rõ.

Một mình lên Lư Sơn

Tháng 8/1959, Chủ tịch Hồ Chí Minh dẫn đầu Đoàn đại biểu Việt Nam sang thăm Liên Xô, lúc về qua Bắc Kinh, nghe ông Trần Nghị nói Mao Trạch Đông và các đồng trí khác đều đang họp tại Lư Sơn, Hồ Chí Minh quyết định một mình đến Lư Sơn. Theo nhật lý của ông Dương Thượng Côn và hồi ký của các nhân vật có liên quan thời kỳ bấy giờ, Hồ Chí Minh ngồi máy bay hàng không dân dụng Trung Quốc cất cánh tại sân bay Bắc Kinh, sáng sớm ngày 9/8, khoảng độ 10 giờ sáng hôm đó đã đến sây bay Thập Lý Phố của thành phố Cửu Giang. Khi Hồ Chí Minh vừa ra khỏi máy bay, các ông Dượng Thượng Côn, Uông Đông Hưng đã đón chờ từ lâu liền mang hoa đến, ông Dương Thượng Côn nói to lên: “Chúc Chủ tịch mạnh khoẻ, Mao Chủ tịch cử chúng tôi đến đón Bác”.

dHồ Chủ Tịch và Thủ tướng Chu Ân Lai

Vì ở Lư Sơn đang có “cuộc họp bí mật”, nên ở Bắc Kinh Hồ Chí Minh đã nói trước là không tổ chức nghi thức đón tiếp, không đưa tin, không xuất hiện công khai. Lúc bấy giờ, Hồ Chí Minh thấy ông Dương Thượng Côn đặc trách xuống núi đón, người liền nói: “Là người cùng một nhà, đã nói trước rằng đừng có xuống núi đón tiếp cơ mà” và tươi cười hai tay nhận lấy bó hoa tươi.

Tiệc đón tiếp

Hai xe cùng lúc chạy theo hướng Lư Sơn, Dương Thượng Côn và Hồ Chí Minh ngồi xe thứ nhất, Uông Đông Hưng, Trình Tiên Hỷ và phiên dịch Việt Nam ngồi xe thứ hai. 12 giờ trưa, hai xe cùng đỗ tại toà biệt thự số 394, Dương Thượng Côn mời Hồ Chí Minh xuống xe, nghỉ ngơi tại đây. Nào ngờ Hồ Chí Minh lắc đầu và kiên quyết nói rằng: “Hiện giờ tôi đi gặp Mao Chủ tịch, tôi muốn sớm được gặp ông ta”.

Hôm ấy tại phòng khách gác 2 biệt thự số 180, đều bày đủ các món ăn, đồng thời bày thêm hai chai rượu Mao Đài. Mao Trạch Đông và các nhà lãnh đạo khác mời Hồ Chí Minh ngồi ở chỗ thượng toạ, Hồ Chí Minh nhìn vào Mao Trạch Đông vừa cười vừa nói: “Ở đây đều là đồng chí anh em cả, ai lớn tuổi thì ngồi thượng toạ”. Mao Trạch Đông với giọng vùng Thiệu Sơn nói to rằng: “Được được, đồng chí Chu Đức lớn tuổi nhất ngồi thượng toạ, liền sau đó là Hồ Chí Minh, Mao Trạch Đông, Chu Ân Lai, Lưu Thiếu Kỳ, Dương Thượng Côn… ngồi theo thứ tự.

Hồ Chí Minh nâng cốc, thay mặt Nhà nước và nhân dân Việt Nam cám ơn những người cộng sản Trung Quốc, và nói rằng: “Chúng ta vừa là đồng chí, vừa là anh em thật sự”. Câu nói ngắn gọn của Hồ Chí Minh làm xúc động nhiều người”.

Sáng sớm đã đột nhiên “mất tích”

Buổi chiều hôm đó, Hồ Chí Minh từ biệt thự số 180 trở về biệt thự số 394. Thể theo quy định thống nhất của cuộc họp, những người quản lý nói chung không ngủ tại toà biệt thự. Trình Tiên Hỷ không ngủ tại toà biệt thự này. Sáng hôm sau, khi anh Hỷ bước vào toà biệt thự 394 cảm thấy rất kỳ lạ, không thấy Bác Hồ, kể cả anh phiên dịch và vệ sĩ cũng tìm không thấy. Đang lúc anh Hỷ nóng ruột cầm điện thoại định hỏi rõ nguyên nhân, thì anh phiên dịch được người lái xe đưa về nhà, nói rằng Bác Hồ một lúc nữa sẽ về, đừng nóng ruột. Vậy Bác Hồ sáng sớm đi đâu, anh phiên dịch nói luôn một câu tiếng Trung Quốc rất mẫu mực là: “Hãy tạm thời giữ bí mật”.

Lúc bấy giờ, Hồ Chí Minh đang ở trước cửa số nhà biệt thự 124 ngay cạnh con đường có cây thông, Bác đang nói chuyện với Lưu Thiếu Kỳ chăng? Không, Bác đang một mình ngồi trên ghế đá ngay trước cửa. Vì Hồ Chí Minh không cho phiên dịch trình bày, cũng không cho phép anh vệ sĩ đi báo cáo, còn Lưu Thiếu Kỳ và thư ký của ông ta vì tối thức khuya, nên chưa ai thức dậy, còn các nhân viên khác đều không nhận ra Hồ Chí Minh, anh quản lý Bành Dục Viêm mấy lần đều hỏi, có cần gọi thủ trưởng thức dậy không, Bác đều tỏ ý không cần thiết, vì chẳng có việc gì cả, ngồi tại đây chờ đồng chí Lưu Thiếu Kỳ ngủ dậy cũng chẳng sao.

Hồ Chí Minh nói tiếng Trung Quốc lưu loát, ăn mặc giản dị, trên đầu lại đội chiếc mũ vải màu ghi, người ta khó mà nhận ra ông già gầy còm này là một nguyên thủ nước ngoài. Khoảng độ 30 phút, Lưu Thiếu Kỳ ngủ dậy, cậu Viêm mới thông báo tình hình này, thư ký riêng mới mở cửa ra ngó nhìn, vào báo cho Lưu Thiếu Kỳ ra ngoài cửa mời Hồ Chủ tịch vào trong nhà.

Lưu Thiếu Kỳ cùng Hồ Chí Minh xem kịch Giang Tây

Tối ngày 11/8, Trình Tiên Hỷ đưa Hồ Chí Minh đến kịch viện nhân dân Lư Sơn xem vở kịch Truy ngưthuộc loại kịch của tỉnh Giang Tây. Vì quãng đường rất gần, Hồ Chí Minh không lên xe, mấy người cuốc bộ đến kịch viện. Khi đến kịch viện, đã trông thấy Lưu Thiếu Kỳ đứng đợi trước cửa. Khi thấy Hồ Chí Minh, Lưu Thiếu Kỳ liền bước đến gần nói: “Hồ Chủ tịch, Mao Chủ tịch dặn dò tôi đến cùng với Chủ tịch xem vở kịch này”. Tiếp đó, Hồ Chí Minh đi trước, bước vào kịch viện. Vở kịch Truy ngư là vở kịch xuất sắc của Đoàn kịch tỉnh Giang Tây, về lối hát, động tác và ánh đèn đều thuộc loại hạng nhất. Hồ Chí Minh chăm chú xem, cho tới lúc nghỉ nửa buổi, mới hỏi Lưu Thiếu Kỳ: “Về kịch Giang Tây với Kinh kịch, cách hát rõ ràng có khác nhau, song động tác múa trong vở kịch thì khác nhau không nhiều?” Ngày thường, Lưu Thiếu Kỳ ít khi bỏ thì giờ đi xem phim, còn xem kịch lại càng ít, nên đành thú thật nói rằng: “Tôi rất ít đi xem kịch, nghe nói các động tác trong Kinh kịch là hay nhất trong các loại kịch, nên các loại kịch khác cũng phỏng theo Kinh kịch”. Hồ Chí Minh liền gật đầu nói: “Loại kịch Giang Tây chưa được trình diễn ở Việt Nam, song Việt kịch của Quảng Đông thì ở Việt Nam được người ta hoan nghênh, Việt kịch tương đối chú trọng cách hát”.

Bị các đồng chí nữ đòi ăn kẹo cưới

Chiều ngày 12/8, đội quân nữ giới xông vào, trong đó có bà Thái Xướng vợ Lý Phú Xuân, bà Đặng Dĩnh Siêu vợ Chu Ân Lai, bà Khang Khắc Thanh vợ Chu Đức, bà Vương Quang Mỹ vợ Lưu Thiếu Kỳ cùng một số người nữ khác, nét mặt của các bà tươi cười, ai nấy đều mời Hồ Chí Minh ở lại thêm vài ngày nữa tại Lư Sơn.

Hồ Chí Minh nói: “Được được, khi nào Việt Nam thống nhất, tôi sẽ ở Lư Sơn trên nửa năm hay một năm gì đó”.

Bà Thái Xướng nói một cách lắt léo rằng: “Xin đừng đến một mình nhé”.

“Lẽ tất nhiên, tôi sẽ mời một số đồng bào cùng tôi sang đây ở”.

“Không, chỉ mời Bác và phu nhân”.

Bác cười, rồi nói thư thả: “À, té ra Đặng Dĩnh Siêu góp ý kiến trên hội đồng phụ nữ không muốn làm chiếc áo bông sợi tơ cho tôi là như thế này đấy”.

Một bà nhanh nhảu nói rằng: “Đúng vậy, bây giờ Bác nên lấy một bà vợ cách mạng, đừng có cứ bóc lột bà Đặng Dĩnh Siêu mãi”, trong phòng vang lên tiếng cười khà khà.

Hồ Chí Minh lâu nay vẫn sống một mình. Bao năm nay nhiều đồng chí Việt Nam và Trung Quốc đều quan tâm đến việc hôn nhân của Bác. Song khi còn trẻ, Bác đã có chí hướng: Tổ quốc không độc lập không thống nhất sẽ không kết hôn. Như vậy, những người bạn cũ quen biết lâu năm như Chu Ân Lai và Đặng Dĩnh Siêu đành phải thường xuyên quan tâm đến sự mặc ấm cúng của anh cả này. Năm 1957, bà Đặng Dĩnh Siêu đã tự mình làm chiếc áo bông sợi tơ cho Bác.

Các đồng chí nữ luôn miệng nói đùa rằng: “Khi Hồ Chủ tịch sang đây lần nữa, chúng tôi phải đòi bác cho ăn kẹo cưới”.

6 giờ 30 phút sáng ngày 13/8, chiếc xe con đỗ ngay trước cửa toà biệt thự số 394. Trước lúc chia tay, Hồ Chí Minh tặng cho mỗi người làm việc trong biệt thự một cuốn sổ tay có mang chữ ký của Bác và huy hiệu kỷ niệm “Việt Trung hữu hảo”, đồng thời chụp ảnh kỷ niệm chung với mọi người làm việc ở đây.

(Trần Thiện – Xưa & Nay, số 331, 5 – 2009)
bee.net.vn

Chuyện 1 liệt sĩ Thành cổ từng được chụp ảnh với Bác

– Quay sang Lâm, Bác nói: “Vì hành động dũng cảm của cháu, Bác đã tặng cháu huy hiệu. Chúc cháu luôn học giỏi, tiến bộ và bơi giỏi hơn nữa! Bây giờ, Bác thưởng cho cháu được ngồi với Bác trên hàng ghế chủ tịch đoàn”. Câu chuyện về liệt sĩ Thành cổ từng được chụp ảnh với Bác, được kể lại 37 năm sau ngày mất của anh.

… Học kì  2 năm học 1964- 1965, do giặc Mỹ mở rộng chiến tranh phá hoại ra miền Bắc mà Lâm cùng 2 em được theo trại nội trú của Bộ Công an sơ tán về Thuận Thành, Hà Bắc (bố Lâm là Cục trưởng Cục Cảnh vệ nên con được sơ tán theo trại). Vùng quê nghèo ven bờ sông Đuống năm học này ríu rít tiếng học trò Hà Nội về.

Chiều  ấy, Lâm theo chúng bạn ra sông tắm. Vừa tới bờ sông thì thấy một bạn gái đang chới với dưới nước. Cô giáo từ trên bờ vội nhảy xuống cứu. Nhưng cả 2 cô, trò không biết bơi. Cố vùng vẫy rồi chìm dần, chìm dần.

Anh Nguyễn Lâm khi đó được ngồi ghế đoàn Chủ tịch với Bác Hồ. Ảnh do gia đình nhân vật cung cấp.Anh Nguyễn Lâm khi đó được ngồi ghế đoàn Chủ tịch với Bác Hồ. Ảnh do gia đình nhân vật cung cấp.

Theo phản xạ, Lâm lao như mũi tên xuống dòng. Nhớ anh trai dặn khi cứu người chết đuối phải vòng ra phía sau lưng, túm lấy tóc hoặc ôm lấy cổ rồi bơi ngửa, dìu họ vào bờ. (Người bị nạn cuống quýt mà ôm chặt lấy mình thì chết cả). Như con rái cá, Lâm lặn sâu rồi quàng tay vào cổ bạn, bơi ngửa, dìu vào bờ. Sau đó quay ra đón cô. Chuyện chỉ đơn giản có vậy.

Biết tin có cháu nhỏ dũng cảm cứu bạn, Bác Hồ gửi huy hiệu tặng Lâm, biểu dương “người tốt, việc tốt”.

Tháng 8/1965, tổ chức Đoàn các cơ quan Trung ương tổ chức “Đại hội “3 sẵn sàng” chống Mỹ cứu nước”. Các tấm gương lao động, chiến đấu điển hình được mời về dự. Trong đại hội, hầu hết đại biểu là thanh niên, riêng thấy có 2 gương mặt thiếu niên – Nguyễn Lâm cùng Lưu Kim Oanh (diễn viên nhí của Đoàn Xiếc TW).

Bác Hồ  đã đến dự. Từ trên Chủ tịch đoàn, thấy có cháu bé ngồi hàng ghế đại biểu, Bác hỏi: “Cháu bé có thành tích gì mà được mời dự?”. “Dạ, đó là cháu Nguyễn Lâm có thành tích dũng cảm cứu bạn đấy ạ!”, chú thư kí trả lời.  “Vậy mời cháu lên đây!”.

Nguyễn Lâm  được các chú gọi lên, đứng trước mặt Bác. Xoa đầu Lâm, Bác âu yếm hỏi:

 –   Cháu tên là gì?

–   Dạ, Nguyễn Lâm ạ!

–   Thế cháu bao nhiêu tuổi?

–   Dạ, 12 ạ!

–   Cháu con ai?

–   Dạ, con bố Hoàng Hữu Kháng ạ!

–   A, thế ra cháu là con bố Kháng trong tổ bảo vệ cho Bác thời kì kháng chiến chống Pháp? Nghe các chú báo cáo, cháu dũng cảm, lao xuống sông cứu bạn. Thế cháu học bơi ở đâu?

–   Dạ, khi chưa đi sơ tán, cháu hay được theo bố vào CLB Ba Đình. Tại đây có bể bơi nên bố cháu và anh Sơn dạy cho biết bơi.

   –   Cháu biết bơi gì?

–   Cả bơi ếch, bơi sải ạ.

–   Các cô các chú có thấy không – Bác quay sang bên – cháu Lâm nhỏ tuổi mà đã có hành động dũng cảm. Qua đây chúng ta rút ra bài học: không chỉ dạy cho các cháu học văn hóa giỏi mà còn phải dạy cả thể thao, bơi lội, phải xây dựng cho các cháu tình yêu thương con người và lòng dũng cảm, dám hy sinh bản thân cứu người. Cháu Lâm là tấm gương sáng cho thanh, thiếu niên ta học tập…

Quay sang Lâm, Bác nói: “Vì hành động dũng cảm của cháu, Bác  đã tặng cháu huy hiệu. Chúc cháu luôn học giỏi, tiến bộ và bơi giỏi hơn nữa! Bây giờ Bác thưởng cho cháu được ngồi với Bác trên hàng ghế chủ tịch đoàn”.

Tháng 10 năm ấy, Lâm nhập trường Thiếu sinh quân Nguyễn Văn Trỗi, đóng quân ở An Mỹ, Đại Từ, Thái Nguyên. Và chuyện này Lâm chưa kể với ai. Phải 37 năm sau ngày bạn hy sinh, chúng tôi mới biết. Xin cảm ơn gia đình đã cung cấp bức ảnh tư liệu vô giá cùng câu chuyện cảm động này! Xin ghi lại như 1 nén tâm nhang tưởng nhớ đến Nguyễn Lâm – LS Thành cổ!

  • Trần Kiến Quốc

bee.net.vn

Sơ lược diễn văn khai mạc kỳ họp I Quốc hội I

– Ngày 2/3/1946, Quốc hội khoá I khai mạc kỳ họp thứ nhất tại Nhà hát lớn thành phố Hà Nội. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã “kính cẩn tuyên bố khai mạc buổi họp”.

Bác khẳng định: “Cuộc Quốc dân Đại hội này là lần đầu tiên trong lịch sử của nuớc Việt Nam ta. Nó là kết quả của sự hy sinh, tranh dấu của tổ tiên ta, là kết quả của sự đoàn kết anh dũng phấn đấu của toàn thể đồng bào Việt Nam ta, sự đoàn kết của toàn thể đồng bào không kể già trẻ, lớn bé, gồm tất cả các tôn giáo, các dân tộc trên bờ cõi Việt Nam đoàn kết chặt chẽ thành một khối hy sinh không sợ nguy hiểm tranh lấy nền độc lập cho Tổ quốc…”.

Ngày 2/3/1946 Bác khai mạc kỳ họp đầu tiên Quốc hội Khóa INgày 2/3/1946 Bác khai mạc kỳ họp đầu tiên Quốc hội Khóa I

Cũng để thực hiện mục tiêu đại đoàn kết này mà trong lời khai mạc này, vị lãnh tụ của Mặt trận Việt Minh đã nêu đề nghị “muốn tỏ sự đoàn kết toàn dân, Chính phủ xin đề nghị Đại hội (quốc dân) mở rộng số đại biểu ra thêm 70 người nữa. 70 người ấy là mời các đồng chí ở hải ngoại về: Việt Nam Quốc dân đảng và Việt Nam Cách mệnh Đồng minh hội, và như thế là Quốc hội ta tỏ cho thế giới, cho toàn dân biết là chúng ta đoàn kết nhất trí thì việc gì cũng thành công”.

Thu hút các lực lượng đang quyết liệt cạnh tranh với Việt Minh và tìm cách giành quyền lực bằng sự ủng hộ của Trung Hoa Quốc dân Đảng, đề nghị của Bác cũng nhằm đặt các hoạt động chính trị của các tổ chức này vào trong khuôn khổ của pháp luật và sự giám sát của nhân dân thông qua Quốc hội, đồng thời cũng bằng thực tiễn thử thách của cách mạng mà phân hoá những tổ chức này.

Nhờ thế trong Quốc hội đầu tiên này “các đảng phái đều có đại biểu mà đại biểu không đảng phái cũng nhiều, đồng thời phụ nữ và đồng bào các dân tộc thiểu số cũng đều có đại biểu. Vì thế các đại biểu trong Quốc hội này không phải đại diện cho một đảng phái nào mà là đại biểu cho toàn thể quốc dân Việt Nam. Đó là một sự đoàn kết tỏ ra rằng lực lượng của toàn dân Việt Nam đã kết lại thành một khối”.

Tiếp đó, người đứng đầu nhà nước cũng báo cáo hoạt động của chính phủ trong thời gian qua và đưa ra dự kiến thành lập chính phủ mới, Chính phủ Kháng chiến với thành phần gồm nhiều đảng phái, nhân sĩ trí thức và công dân Vĩnh Thuỵ (tức cựu hoàng Bảo Đại) làm Tối cao cố vấn.

Tiếp đó, thay mặt Chính phủ Kháng chiến mới thành lập Chủ tịch Hồ Chí Minh đã trịnh trọng đọc lời tuyên thệ nhậm chức: “… trước bàn thờ thiêng liêng của Tổ quốc, trước Quốc hội, thề xin cương quyết lãnh đạo nhân dân kháng chiến, thực hiện nền Dân chủ Cộng hòa Việt Nam, mang lại hạnh phúc cho dân tộc. Trong công việc giữ gìn nền độc lập, chúng tôi quyết vượt mọi nỗi khó khăn dù phải hy sinh tính mệnh cũng không từ”.

Cũng nhắc lại một chi tiết là ngày 2/3/1961, Bác cho đăng bài báo có nhan đề là “Tếu” để phê phán bệnh hình thức của một số người nhân dịp Tết đã in thiếp chúc Tết riêng rồi gửi đi lung tung, gây lãng phí và kết thúc bài báo bằng lời khuyên: “Có gì tếu bằng tếu này/ Cái bệnh hình thức từ nay xin chừa!”

X&N
bee.net.vn

Bác phê phán thói công thần của một số chính trị phạm

 – 100 ngày sau khi chiến tranh lan rộng ra cả nước, nhận thức rằng cuộc kháng chiến sẽ phải trường kỳ và vô cùng gian khổ cần đến một đội ngũ những cán bộ và chiến sĩ có đủ phẩm chất để vượt qua những thử thách, ngày 1/3/1947, Chủ tịch Hồ Chí Minh viết “Thư gửi các đồng chí Bắc Bộ”.

Bức thư viết: “Trong lúc dân tộc đang ở ngã tư đường, chết hay sống, mất hay còn, mỗi đồng chí và toàn cả đoàn thể phải đem tất cả tinh thần và lực lượng ra để đưa toàn dân quay về một hướng, nhằm vào một mục đích đánh đuổi thực dân Pháp làm cho nước nhà thống nhất và độc lập. Vì vậy mỗi đồng chí và toàn Đoàn thể phải: sáng suốt, khôn khéo, cẩn thận, kiên quyết, siêng năng, nhất trí”.

Tháng 3/1956, Bác thăm lớp bổ túc văn hóa của bà con lao động ở khu Lương Yên, Hà NộiTháng 3/1956, Bác thăm lớp bổ túc văn hóa của bà con lao động ở khu Lương Yên, Hà Nội.

Cuộc trường kỳ kháng chiến này, tức là dân tộc cách mệnh đến trình độ tối cao. Trong lúc này, tư tưởng và hành động của mỗi một đồng chí rất có quan hệ đến toàn quốc. Nếu một sơ suất, một việc sơ suất là có thể hỏng việc to; sai một ly đi một dặm”.

Thư còn yêu cầu “chúng ta phải kiên quyết tẩy sạch những khuyết điểm” và nhà lãnh đạo cuộc kháng chiến vạch rõ những khuyết điểm đó là: “địa phương chủ nghĩa, óc bè phái, óc quân phiệt quan liêu, óc hẹp hòi, ham chuộng hình thức, làm việc lối bàn giấy, vô kỷ luật, ích kỷ hủ hoá” với những phân tích rất sâu sắc .

Ví như khi đề cập tới “óc bè phái”, Bác viết: “Ai hẩu với mình thì dù nói không đúng cũng nghe, tài không có cũng dùng. Ai không hẩu với mình thì dù có tài cũng dìm họ xuống, họ phải mấy cũng không nghe…”; với “óc quân phiệt quan liêu thì “Khi phụ trách ở vùng nào thì như một ông vua con ở đấy, tha hồ hách dịch, hoạnh hoẹ”.

Đối với cấp trên thì xem thường, đối với cấp dưới thì cậy quyền lấn át. Đối với quần chúng thì ra vẻ quan cách làm cho quần chúng sợ hãi”. Với “óc hẹp hòi”, Bác viết: “Chúng ta phải nhớ rằng: người đời ai cũng có chỗ hay chỗ dở. Ta phải dùng chỗ hay của người và giúp người chữa chỗ dở. Dùng người như dùng gỗ. Người thợ khéo thì gỗ to, nhỏ, thẳng, cong đều tuỳ chỗ mà dùng được Tư tưởng hẹp hòi thì hành động cũng hẹp hòi. Người mà hẹp hòi ít kẻ giúp. Đoàn thể mà hẹp hòi thì không thể phát triển”.

Khi nói đến khuyến điểm “ích kỷ hủ hoá”, Bác viết phê phán thói công thần của một bộ phận lãnh đạo xuất thân từ chính trị phạm: “Vẫn biết nhà pha đế quốc là nơi huấn luyện, vẫn biết Việt Minh là đoàn thể gồm những người yêu nước, chăm lo việc cứu nước. Nhưng hẳn ngoài Việt Minh còn biết bao nhiêu người hay người giỏi mà Việt Minh chưa tổ chức được.

Vả lại nếu chính trị phạm, nếu người của Mặt trận giỏi hơn ai hết  thì những người không có hân hạnh ở tù, những người chưa vào Mặt trận vô tài, vô dụng cả sao? Mỗi đồng chí chúng ta phải có thái độ khiêm tốn, càng cựu, càng giỏi, càng phải khiêm tốn, phải có lòng cầu tiến bộ, phải nhớ câu nói của ông thầy chúng ta “Phải học, Học thêm, Học mãi” (đó là câu của Lênin).

Bức thư còn nêu lên những biện pháp để thực hiện được vai trò của đội ngũ cán bộ trong đó nhấn mạnh đến công tác giao thông: “Giao thông là mạch máu của mọi việc, giao thông tắc thì việc gì cũng khó. Giao thông tốt, thì việc gì cũng dễ dàng”. Cũng với nội dung căn bản như bức thư này, Bác còn viết “gửi các đồng chí Trung Bộ”. Đây cũng có thể coi là những phác thảo chuẩn bị cho cuốn sách “Sửa đổi lối làm việc” biên soạn một cách hệ thống được xuất bản tháng 10 năm đó (1947).

X&N
bee.net.vn

Bác Hồ làm gì trong mồng 1 Tết Độc lập đầu tiên?

– Ngày 2/2/1946 ứng vào ngày mồng 1 Tết Bính Tuất, Tết Độc lập đầu tiên. Hồi ức của Vũ Kỳ, thư ký của Bác viết: “Sáng dậy sớm, chưa tới giờ làm việc Bác đã bảo lấy giấy ra khai bút…

Bác đọc cho viết: Hôm nay là mồng Một Tết, ngày Tết đầu tiên của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà… và cuối thư có mấy câu thơ kèm theo cả khẩu hiệu: “Trong năm Bính Tuất mới/Muôn việc đều tiến tới/ Kiến quốc mau thành công/ Kháng chiến mau thắng lợi!/ Việt Nam độc lập muôn năm”.

“Thư chúc mừng năm mới” được đăng toàn văn trên báo Cứu Quốc (ra vào ngày mồng 3 Tết) trong đó còn kêu gọi: “Trong khi đồng bào ở hậu phương đốt hương trầm để thờ phụng Tổ tiên, thì các chiến sĩ ở tiền phương dùng súng đạn để giữ gìn Tổ quốc. Trong khi đồng bào ở hậu phương rót rượu mừng xuân, thì các chiến sĩ ở tiền phương tuốt gươm giết giặc… Chúng ta quyết không để cho bọn thực dân trở lại đè nén chúng ta”.

Cũng dịp này nhân báo “Quốc gia”, cơ quan của một số trí thức Hà Nội ra số Xuân, Bác gửi thơ mừng: “Tết này mới thật Tết dân ta/ Mấy chữ chào mừng báo Quốc gia/ Độc lập đầy vơi ba chén rượu/ Tự do vàng đỏ một rừng hoa/ Muôn nhà chào đón xuân Dân chủ/ Cả nước vui chung phúc Cộng hoà/ Ta chúc nhau rồi ta nhớ chúc/ Những người chiến sĩ ở phương xa”. Và trong thơ gửi báo “Tiếng gọi phụ nữ” Bác cũng nhấn mạnh: “Năm mới Bính Tuất/ Phụ nữ đồng bào/ Phải gắng làm sao/ Gây “Đời sống mới”…”.

Gặp Chủ tịch Uỷ ban Hà Nội Trần Duy Hưng đến chúc Tết, vị Chủ tịch nước thuật lại câu chuyện đi thăm một số gia đình nghèo đêm 30 Tết và nhắc nhở lãnh đạo thành phố cùng các đoàn thể và các nhà hảo tâm phải lo cái Tết cho người nghèo đều được hưởng Tết đầu tiên nước nhà độc lập.

Sau đó Bác ghé thăm đồn Cảnh sát Hàng Trống và đến Nhà Hát lớn Thành phố để chúc Tết đồng bào và đọc lời “Chúc mừng năm mới”. Buổi trưa bác ăn Tết cùng anh em Vệ Quốc đoàn ở Bắc Bộ Phủ.

Chiều, Bác thăm các nhà thương Đồn Thuỷ (nơi bệnh binh của Pháp đang điều trị), Phủ Doãn (vốn là bệnh viện “làm phúc” dành cho bệnh nhân nghèo) và đến ban quà Tết cho các cháu mồ côi trong Trại An Tư Viện và nhà Ấu Trĩ Viên.

X&N
bee.net.vn

“Thư chúc Tết đồng bào Nam Bộ”

– Ngày 24/1/1947, tức là vào ngày 30 Tết âm lịch, Bác viết riêng một bức “Thư chúc Tết đồng bào và chiến sĩ Nam Bộ” với nội dung:

“Nhân dịp Nguyên đán âm lịch, tôi thay mặt Chính phủ đặc biệt chúc đồng bào và chiến sĩ Nam Bộ năm mới. Vì quyền thống nhất và độc lập của Tổ quốc, đồng bào và chiến sĩ đã hy sinh chiến đấu hơn một năm nay, mà từ nay vẫn kiên quyết hy sinh phấn đấu nữa. Sự trung thành dũng cảm đó sẽ đem Tổ quốc đến thắng lợi, và sẽ ghi những trang vẻ vang trong lịch sử nước nhà.

Vì yêu chuộng hoà bình, vì thật tâm muốn cộng tác với  nhân dân Pháp, Chính phủ ta đã tìm hết cách dàn xếp với Pháp. Những bọn thực dân bội tín bất nhân, hòng dùng vũ lực để cướp nước ta một lần nữa. Chúng gây ra cuộc chiến tranh toàn quốc đã hơn một tháng nay. Vì chủ quyền, vì Tổ quốc, toàn dân Việt Nam đã thề kiên quyết kháng chiến đến cùng, kháng chiến đến lúc lấy lại được thống nhất, độc lập mới thôi. Chúng ta đã phải trải qua những bước gay go cực khổ trong cuộc trường kỳ kháng chiến. Nhưng chúng ta chắc rằng thắng lợi cuối cùng sẽ về ta…”

Tháng 1-1961 Bác thăm nhà trẻ của cán bộ công nhân khu tập thể các nhà máy cao su, xà phòng, thuốc lá Tháng 1/1961 Bác thăm nhà trẻ của cán bộ công nhân khu tập thể các nhà máy cao su, xà phòng, thuốc lá

Để đả phá luận điệu tuyên truyền của thực dân rằng nếu thống nhất thì những người theo Pháp sẽ bị khủng bố; người Nam sẽ bị người Bắc cai trị; chính phủ chỉ toàn Việt Minh, bức thư nêu rõ :

“…Một dân tộc đã tự cường, tự lập, dân chủ cộng hoà thì không làm những việc nhỏ nhen, báo thù báo oán … Trong nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà, từ làng xã đến toàn quốc những người chức trách đều do dân cử ra. Dân tin cậy ai thì người ấy trúng cử và bổn phận những người trúng cử là làm đầy tớ công cộng cho dân chứ không phải làm quan phát tài…

Trong chính phủ có đủ những người các đảng phái, như Đảng Dân chủ, Đảng Xã hội, Đảng Quốc dân, Đồng Minh hội, lại có cả những người không thuộc đảng phái nào. 5 vị bộ trưởng và thứ trưởng quê quán ở Nam Bộ…

Sau hết, chương trình nội chính của Chính phủ và quân dân ta chỉ có 3 điều mà thôi : a) Tăng gia sản xuất để làm cho dân ai cũng đủ mặc, đủ ăn , b) Mở mang giáo dục, để cho ai nấy cũng biết đọc, biết viết; c) Thực hành dân chủ để làm cho dân ai cũng được hưởng quyền dân chủ tự do.

Chính sách ngoại giao của chính phủ thì chỉ có một điều tức là thân thiện với tất cả các nước dân chủ trên thế giới để gìn giữ hoà bình. Sự thật chỉ đơn giản có thế, mong đồng bào hiểu rõ, chớ mắc lừa thực dân”.

16 năm sau, ngày 24/1/1963, là ngày 29 Tết (tháng thiếu) của năm Quý Mão, buổi chiều Bác phải tham dự hội đàm với Đoàn đại biểu Chính phủ Tiệp Khắc, nhưng buổi sáng vị nguyên thủ quốc gia đã “vi hành” thăm Chợ Đồng Xuân.

Trong bộ quần áo gụ đã bạc màu, ngoài khoác áo mưa vải bạt, cổ quàng khăn len che kính bộ râu dễ nhận biết và đeo kính trắng, chân đi dép cao su, Bác cùng 2 chiến sĩ cảnh vệ đi thăm cảnh đồng bào sắm Tết. Bác có ý định mua một bó hoa huệ, nhưng để bảo đảm an toàn, chiến sĩ cảnh vệ trả giá rẻ để sớm rút lui. Trên đường về Bác trách vui: “Trả giá như chú, cả ngày đi chợ cũng chẳng mua được gì !”. Tối hôm ấy, Bác lại đi thăm và chúc Tết một số nơi trong đó có gia đình Bác sĩ Hồ Đắc Di.

X&N
bee.net.vn

“Đoàn kết không phải ngoài miệng”

– Có 2 sự kiện đáng nhớ diễn ra trong ngày này, ngày 31/3/1959, Chủ tịch Hồ Chí Minh đi thăm và kiểm tra cảng Hải quân Bãi Cháy và lên tàu T554. Bác đi thăm trận địa pháo của Đại đội 34 trên đảo Hòn Rồng trong vịnh Hạ Long.

Nói chuyện với các chiến sĩ, Bác động viên phải cố gắng khắc phục khó khăn, chịu đựng gian khổ, an tâm với nhiệm vụ, tích cực học tập quân sự, chính trị, văn hoá, tăng gia sản xuất để cải thiện sinh hoạt, đời sống, sẵn sàng chiến đấu.

 31-3-1959, Bác Hồ nói chuyện với đồng bào ngoài đảo Cát Bà, Cát Hải, Hải Phóng.jpg (89KB)Ngày 31/3/1959, Bác Hồ nói chuyện với đồng bào ngoài đảo Cát Bà, Cát Hải, Hải Phòng

Cũng trong chuyến đi này, Bác giao trách nhiệm cho lãnh đạo Tổng cục Hậu cần phải nghiên cứu, bảo đảm cung cấp sách báo và nước ngọt cho các chiến sĩ… Đây chính là địa bàn mà 6 năm sau đó, không lực của Mỹ đã ném bom ngay trong ngày đầu tiên khi phát động chiến tranh phá hoại ra miền Bắc và cũng là nơi lập chiến công đầu bắn rơi và bắt sống phi công Mỹ (5/8/1964).

Cũng trong chuyến đi này, Bác đến thăm các đảo Cát Hải và Cát Bà, thăm hỏi một số cư dân trên đảo, thăm Trường huấn luyện Hải quân và buổi tối nói chuyện với cán bộ các ngành quân, dân, chính, đảng thành phố Hải Phòng.

Bác nhấn mạnh đến những bất cập của một thành phố cảng quan trọng nhất miền Bắc nhưng chưa phát triển đúng với yêu cầu mà mấu chốt là công tác quản lý. Do vậy “phải chống tư tưởng bảo thủ, chống chủ quan tếu, đồng thời chống bi quan…

Nội bộ Đảng phải đoàn kết nhất trí. Đoàn kết không phải ngoài miệng mà đoàn kết trong công tác, trong tự phê bình và phê bình giúp nhau tiến bộ… Kết quả công tác của địa phương là thước đo sự lãnh đạo của Đảng”.

Ngày 31/3/1960, Bác Hồ gửi thư tới Hội nghị Thể dục Thể thao trong đó viết: “Muốn lao động sản xuất tốt, công tác và học tập tốt thì cần có sức khoẻ. Muốn giữ sức khoẻ thì nên thường xuyên tập thể dục, thể thao. Vì vậy, chúng ta nên phát triển phong trào thể dục thể thao cho rộng khắp.

Câu nói “Yêu xe như con, quý xăng như máu” đã từng trở thành phương châm hành động của các chiến sĩ lái xe trong suốt hai cuộc kháng chiến trường kỳ mà đến nay vẫn chưa phải đã cũ. Bác đã nói câu đó vào tháng 3/1951, khi đến thăm đoàn xe đầu tiên của quân đội được thành lập trên cơ sở những chiến lợi phẩm trong Chiến dịch Biên giới và biên chế thành những đơn vị cơ giới vận tải .

Nói chuyện với các bộ và chiến sĩ đơn vị, Bác căn dặn: “Các chú đã thu được một số xe của địch, thế là tốt, vì các chú lấy xe của địch diệt địch, “Gậy ông lại đập lưng ông”. Đấy là cái vốn, các chú phải giữ gìn lấy. Vốn này sẽ phát triển nhiều thêm… Các chú phải giữ gìn xe, tiết kiệm xăng để phục vụ bộ đội. Xe xăng là mồ hôi, nước mắt, xương máu của nhân dân. Các chú phải chăm sóc xe, phải yêu xe như con, quý xăng như máu…”.

X&N
bee.net.vn

Thư gửi Hội nghị đại biểu đồng bào theo đạo Thiên Chúa toàn miền Bắc (17-9-1964)

Thân ái gửi Hội nghị đại biểu đồng bào theo đạo Thiên Chúa giáo toàn miền Bắc,

Tôi thân ái gửi lời chúc mừng Hội nghị.

Trong cuộc kháng chiến cứu nước trước đây cũng như trong sự nghiệp xây dựng đời sống mới ngày nay, đồng bào theo đạo Thiên Chúa đã có những thành tích vẻ vang đối với nhân dân, đối với Tổ quốc.

Tôi rất vui lòng thấy đồng bào công giáo các giới hǎng hái tham gia mọi công việc xây dựng nước nhà, 80% đồng bào nông dân theo đạo Thiên Chúa đã vào hợp tác xã nông nghiệp và đời sống ngày thêm cải thiện. Các cháu công giáo được học hành ngày càng đông và càng tiến bộ.

Kinh thánh có câu: “ý dân là ý Chúa”. Con đường yêu nước mà đồng bào đang đi là hoàn toàn đúng.

Tôi mong các cụ phụ lão, các vị giám mục và linh mục hǎng hái khuyến khích tín đồ trong mọi công việc ích nước, lợi dân.

Lương giáo đoàn kết, toàn dân đoàn kết, cả nước một lòng, nhân dân ta nhất định sẽ thắng lợi trong công cuộc đấu tranh thực hiện hoà bình thống nhất Tổ quốc và xây dựng một nước Việt Nam hoà bình, thống nhất, độc lập, dân chủ và giàu mạnh.

Chúc các đại biểu mạnh khoẻ.

Chúc Hội nghị thành công tốt đẹp,

Hà Nội, ngày 17 tháng 9 nǎm 1964
Hồ Chí Minh

———————-

Báo Nhân dân,số 3823, ngày 18-9-1964.
cpv.org.vn

Thư gửi Hội nghị đại biểu Hội Phật giáo thống nhất Việt Nam (28-9-1964)

Thân ái gửi Hội nghị đại biểu lần thứ ba của Hội Phật giáo thống nhất Việt Nam,

Thưa các đại biểu,

Các vị tǎng ni và tín đồ Phật giáo trước đây đã có công với kháng chiến, nay thì đang góp sức cùng toàn dân xây dựng miền Bắc giàu mạnh và đấu tranh thực hiện hoà bình thống nhất nước nhà.

Nhân dịp này tôi thân ái gửi lời chúc mừng Hội nghị thành công tốt đẹp.

Nhân đây, chúng ta tỏ lòng đoàn kết với đồng bào Phật giáo ở miền Nam đang hǎng hái tham gia cuộc đấu tranh yêu nước và chống đế quốc Mỹ xâm lǎng.

Đồng bào Phật giáo cả nước, từ Bắc đến Nam, đều cố gắng thực hiện lời Phật dạy là: “Lợi lạc quần sinh, vô ngã vị tha”.

Chúc toàn thể tǎng ni và đồng bào Phật giáo góp phần xứng đáng trong sự nghiệp xây dựng nước Việt Nam hoà bình, thống nhất, độc lập, dân chủ và giàu mạnh.

Chúc các đại biểu mạnh khoẻ.

Ngày 28 tháng 9 nǎm 1964
Hồ Chí Minh

—————————

Báo Nhân dân,số 3837, ngày 2-10-1964.
cpv.org.vn

Bài nói tại Đại hội thanh niên Thủ đô (30-9-1964)

Bác thay mặt Trung ương Đảng và Chính phủ thân ái hỏi thǎm các đại biểu. Bác có thể nói với các cô, các chú và các cháu rằng Bác rất hài lòng và vui sướng vì mấy điều sau đây:

– Hiện nay cả miền Bắc nước ta, Bác có gần 40 vạn cháu rất ngoan. Đó là các cháu nhi đồng học tập tốt, lao động tốt, tính nết tốt, đã được thiếu niên và nhi đồng các tỉnh bầu ra.

– Các trường học cấp I, cấp II và cấp III, nǎm ngoái có 333 cháu được giải thưởng; nǎm nay tǎng đến 797 cháu được giải thưởng, trong đó có hơn 350 cháu gái. Đó là những cháu tất cả các môn học và hành đều đạt 10 điểm và 5 điểm.

– Hiện nay đã có hàng vạn thanh niên và học sinh tốt nghiệp lớp 7 và lớp 10 xung phong đi lao động sản xuất ở các công trường, nông trường và đi tham gia phát triển kinh tế và vǎn hoá miền núi.

Bác muốn nhắc Bộ Giáo dục, Trung ương Đoàn Thanh niên Lao động, các chi bộ và chi đoàn địa phương phải thiết thực giúp đỡ các cháu ấy có thể vừa lao động sản xuất, vừa tiếp tục học tập.

– Trong phong trào thi đua nǎm nay, đoàn viên và thanh niên Hà Nội đã có những thành tích khá, như:

a) 5.300 đoàn viên và thanh niên công nhân đã có hơn 8.600 sáng kiến. Hơn 12.000 cháu đã nâng cao chất lượng sản phẩm, đã tiết kiệm khá nhiều nguyên liệu, vật liệu và hơn một vạn ngày công.

b) Đoàn viên và thanh niên nông dân đã góp sức đào đắp gần 4 triệu thước khối đất, bình quân mỗi cháu làm được 7

tấn rưỡi phân các loại. Nói chung, đoàn viên và thanh niên nông dân đã góp phần khá vào công việc đẩy mạnh sản xuất và cần kiệm xây dựng hợp tác xã.

c) Trong bộ đội và các lực lượng vũ trang nhân dân, đoàn viên và thanh niên đang góp phần xứng đáng vào công cuộc củng cố quốc phòng, bảo vệ Tổ quốc và trong cuộc đánh thắng đế quốc Mỹ khiêu khích miền Bắc nước ta ngày 5 tháng 8 vừa rồi.

d) Ở các cơ quan, các trường học và các ngành khác, đoàn viên và thanh niên đều có cố gắng và đều có thành tích khá.

Trong số hơn 21 vạn thanh niên Hà Nội, hiện nay đã có 12 vạn cháu hứa sẵn sàng đi lao động sản xuất, sẵn sàng chiến đấu. Chắc rằng nhiều thanh niên khác sẽ hứa và làm như vậy.

Với những cố gắng và thành tích của các cháu ở miền Bắc, với chí khí chiến đấu vô cùng anh dũng của các cháu ở miền Nam. Bác có quyền tự hào và vui sướng. Các cháu đang cố gắng và càng tiến bộ thì Bác càng vui lòng và càng trẻ thêm.

Bản báo cáo của đồng chí Lưu Minh Châu trước Đại hội và bài phát biểu của đồng chí Nguyễn Lam đã nói khá đầy đủ về các vấn đề. Bác chỉ nhắc nhủ các đại biểu thêm vài điều sau đây:

– Đối với mọi công việc nên thiết thực và bền bỉ. Ví dụ: Thanh niên công nhân Hà Nội có hơn 8.600 sáng kiến. Như thế là tốt. Nhưng còn phải không ngừng cải tiến và áp dụng rộng rãi những sáng kiến ấy. Như thế mới thật sự có ích lợi. Nếu không làm như vậy, thì chỉ có con số suông. (Về điểm này, các cháu nên xem kỹ bài nói về Nhà máy Gia Lâm, trong báo Tiền Phong ngày 16-9-1964; xem kỹ để tránh những khuyết điểm người khác đã mắc phải).

– Cần đẩy mạnh phong trào thi đua tǎng gia sản xuất và thực hành tiết kiệm. Đồng thời thanh niên công nhân phải góp sức làm cho thật tốt cuộc vận động “3 xây, 3 chống”, thanh niên nông dân phải góp sức làm cho thật tốt cuộc vận động “cải tiến quản lý hợp tác xã nông nghiệp”.

– Thanh niên phải ra sức học tập chính trị, vǎn hoá và khoa học, kỹ thuật. Học có tốt, hành mới tốt. Học và hành tốt mới làm trọn nhiệm vụ người thanh niên cách mạng.

Trước mắt, thanh niên phải ra sức đấu tranh hoàn thành và hoàn thành vượt mức kế hoạch nǎm 1964 của Nhà nước, chuẩn bị tốt cho kế hoạch nǎm sau.

– Phải thường xuyên thực hiện tốt khẩu hiệu: “Nâng cao cảnh giác, đẩy mạnh sản xuất, sẵn sàng chiến đấu”.

– Đối với mọi công tác, thanh niên Thủ đô phải làm gương mẫu cho thanh niên cả nước. Vì vậy, Trung ương Đoàn cần phải tǎng cường hơn nữa việc giáo dục tinh thần yêu nước, giác ngộ giai cấp và đạo đức cách mạng cho đoàn viên và thanh niên. Phải luôn luôn nhớ đến đồng bào miền Nam ruột thịt.

Cần củng cố tốt và phát triển tốt hơn nữa Đoàn Thanh niên Lao động. Hà Nội có hơn 21 vạn thanh niên, hiện nay mới có một phần ba là đoàn viên. Mỗi đoàn viên thật sự phụ trách, gần gũi và giúp đỡ một bạn ngoài Đoàn cùng tiến bộ thì Đoàn sẽ phát triển vững chắc và nhanh chóng hơn nữa.

Mong các cháu làm đúng những điều nói trên, thì chúng ta nhất định giành được nhiều thắng lợi to lớn.

Chúc Đại hội thành công.

Nói ngày 30-9-1964.

————————

Báo Nhân dân,số 3836, ngày 1-10-1964.
cpv.org.vn