Tag Archive | Thời sự

Yêu Bác lòng ta trong sáng hơn

Yeu bac long ta trong sang hon

Tháng năm về, chúng ta lại rộn ràng, bâng khuâng nhớ Bác, nhớ ngày sinh của vị lãnh tụ vĩ đại, anh hùng giải phóng dân tộc, danh nhân văn hoá kiệt xuất. Suốt cả cuộc đời, Người đã cống hiến, hy sinh cho nền độc lập, tự do của dân tộc, cho ấm no, hạnh phúc, hoà bình của nhân dân. Trong toàn bộ di sản Người để lại, bản Di chúc có giá trị bất tử, thiêng liêng, kết tinh hồn sông núi và trí tuệ, trái tim bao la của Người. Khi biết mình sắp phải đi gặp Cụ Các Mác, Lênin, đivào cuộc trường chinh nhẹ cánh bay, Người đã căn dặn toàn Đảng, toàn quân, toàn dân phải đoàn kết, cố gắng, quyết tâm đánh thắng giặc Mỹ xâm lược để xây dựng đất nước ta đàng hoàng hơn, to đẹp hơn. Và cuối cùng, Người để lại muôn vàn tình thân yêu cho toàn dân, toàn Đảng, cho toàn thể bộ đội, cho các cháu thanh niên và nhi đồng.

Ngày nay, mỗi lần lật mở từng trang Di chúc, chúng ta lại xúc động tự hào vì dân tộc ta có Bác, Người luôn trằn trọc, băn khoăn vì lo nỗi nước nhà, Người đã kinh qua bao thăng trầm sóng gió, bôn ba hải ngoại để tìm hình của nước, với một ham muốn tột bậc “đất nước được độc lập, nhân dân được tự do, đồng bào ai cũng có cơm ăn áo mặc, ai cũng được học hành”. Những tư tưởng vĩ đại ấy toát lên từ chính cuộc đời giản dị, thanh cao. Với bộ quần áo kaki, đôi dép cao su, Người đã đi khắp năm châu bốn bể tìm con đường giải phóng dân tộc, góp phần vào phong trào đấu tranh đòi quyền sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc của nhân loại cần lao. Tuy không được chứng kiến ngày Bắc – Nam sum họp, thống nhất, Tổ quốc bay lên bát ngát mùa xuân, nhưng trong Di chúc, Người đã hình dung rất rõ về tương lai tất thắng của dân tộc “Cuộc chống Mỹ cứu nước của nhân dân ta dù phải kinh qua gian khổ, hy sinh nhiều hơn nữa, song nhất định thắng lợi hoàn toàn. Đó là một điều chắc chắn”. Và lịch sử đã chứng minh chân lí muôn đời: chính nghĩa thắng phi nghĩa. Chúng ta chiến thắng nhờ vào sự đồng tâm nhất trí, tinh thần đoàn kết, truyền thống yêu nước nồng nàn của nhân dân, và đặc biệt là sự lãnh đạo sáng suốt, tài tình của Đảng. Vì vậy trong Di chúc, điều đầu tiên Người căn dặn là vấn đề về Đảng. Người viết:

“Đoàn kết là một truyền thống cực kỳ quý báu của Đảng và của nhân dân ta. Các đồng chí từ Trung ương đến các chi bộ cần phải giữ gìn sự đoàn kết nhất trí của Đảng như giữ gìn con ngươi của mắt mình.

Trong Đảng thực hành dân chủ rộng rãi, thường xuyên và nghiêm chỉnh tự phê bình và phê bình là cách tốt nhất để củng cố và phát triển sự đoàn kết và thống nhất của Đảng. Phải có tình đồng chí thương yêu lẫn nhau.

Đảng ta là một đảng cầm quyền. Mỗi đảng viên và cán bộ phải thật sự thấm nhuần đạo đức cách mạng, thật sự cần kiệm liêm chính, chí công vô tư. Phải giữ gìn Đảng ta thật trong sạch, phải xứng đáng là người lãnh đạo, là người đầy tớ thật trung thành của nhân dân”.(1)

Không chỉ đến Di chúc Người mới đề cập đến vấn đề xây dựng, tổ chức đảng mà trongSửa đổi làm việc (1947) Người cũng đã thẳng thắn chỉ ra những căn bệnh mà đảng viên và các tổ chức Đảng thường mắc phải như: Bệnh chủ quan, thói ba hoa, quan liêu, lãng phí, chuộng hình thức, hư danh…, những thói hư tật xấu ấy sẽ làm băng hoại đạo đức cách mạng. Vì thế, cần phải trau dồi phẩm chất cách mạng, thắt chặt tinh thần đoàn kết, nghiêm khắc tự phê bình và phê bình để Đảng ngày càng trong sạch. Người từng viết: “Đảng cách mạng cần tự phê bình và phê bình như ta cần không khí. Cũng như người có bệnh nếu giấu giếm bệnh tật trong mình, không dám uống thuốc để bệnh lâu ngày nặng thêm, nguy hiểm đến tính mạng. Một Đảng mà giấu giếm khuyết điểm của mình là một Đảng hỏng. Một Đảng có gan thừa nhận khuyết điểm của mình, vạch rõ những cái đó, vì đâu mà có khuyết điểm đó, rồi tìm kiếm mọi cách để sửa chữa khuyết điểm đó. Như thế là một Đảng tiến bộ, mạnh mẽ, chắc chắn, chân chính”(2.) Thực tế đã chứng minh, ở đâu cơ sở Đảng làm tốt nhiệm vụ của mình, gương mẫu đi đầu trong mọi công việc thì luôn được nhân dân tin yêu, kính trọng, yên tâm trao quyền lãnh đạo.

Những lời Người viết trong Di chúc đến nay vẫn mang tính thời sự, bởi Người đã nói trúng, nói đúng vào những vấn đề trọng tâm, cốt yếu, có tính muôn thuở là bài học về đạo đức cách mạng. Nếu không có tinh thần đoàn kết, yêu thương thì không thể tạo ra sức mạnh, thậm chí lại là cơ hội cho chủ nghĩa cá nhân, chia bè kết cánh, tham quyền cố vị nảy sinh. Đó là mầm mống của những hiểm họa khi con người đứng trên tập thể, cộng đồng để sai khiến, chỉ huy.

Để Đảng thật sự trong sạch, đòi hỏi mỗi đảng viên phải ý thức rõ về vai trò, sứ mệnh của mình, thấy được ý nghĩa lớn lao cao cả khi được đứng vào hàng ngũ tiên phong của giai cấp công nhân và nhân dân lao động, được nhân dân tin yêu, ngưỡng mộ. Trong Đảng phải thực hành tiết kiệm, dân chủ, công khai, đấu tranh không khoan nhượng với những biểu hiện sai trái, tiêu cực. Và một trong những phẩm chất quý báu, một yêu cầu tiên quyết của người đảng viên là phải thấm nhuần đạo đức cách mạng. Đạo đức ấy là lòng yêu Tổ quốc, gắn bó máu thịt với nhân dân, chia sẻ vui buồn với quần chúng, sống chan hoà, gương mẫu, có lòng vị tha, nhân ái… Đạo đức cách mạng của mỗi người là tấm gương để cá nhân khác soi vào, tự răn mình phải sống tốt hơn, sống có ý nghĩa, có lí có tình, phù hợp với thuần phong mĩ tục, với đạo lí, truyền thống tốt đẹp của cha ông. Từng lời, từng chữ trong Di chúc đều thấm đượm tư tưởng, tình cảm của Người. Đó là mong ước, khát khao mà trọn đời Người cố gắng ươm mầm, vun trồng, gây dựng, hình thành các tổ chức, cơ sở Đảng, cũng như chăm lo, tạo điều kiện phát triển đội ngũ kế cận cho Đảng làm nên sự lớn mạnh, cường thịnh, phồn vinh của đất nước. Những lời ấy thật giản dị, gần gũi nhưng rất đỗi thiêng liêng như những châm ngôn để mỗi cán bộ, đảng viên phải tự răn mình: “Phải giữ gìn sự đoàn kết nhất trí của Đảng như giữ gìn con ngươi của mắt mình… Phải giữ gìn Đảng ta thật trong sạch, phải xứng đáng là người lãnh đạo, là người đầy tớ thật trung thành của nhân dân”. Đúng như lời răn dạy của cổ nhân và những bậc hiền triết thuở xưa “Tiên thiên hạ nhi ưu chi ưu / Hậu thiên hạ nhi lạc chi lạc” (Phàm người làm quan phải biết lo cái lo trước thiên hạ và vui cái vui sau thiên hạ), phải tu nhân tích đức, sống hợp qui luật thì sẽ đắc nhân tâm.

Ngày nay, sau hơn 40 năm thực hiện Di chúc, toàn Đảng, toàn quân, toàn dân đã ra sức hăng hái thi đua lao động sản xuất, kiến thiết nước nhà, tiến tới xây dựng thành công CNXH như mong ước của Người. Những điều Người căn dặn trong Di chúc như sợi chỉ đỏ xuyên suốt sự nghiệp cách mạng, là kim chỉ nam hành động thôi thúc, cổ vũ, động viên nhân dân tiến lên, quét sạch chủ nghĩa cá nhân, xây dựng cuộc sống mới.

Tuy nhiên trong bối cảnh nền kinh tế thị trường, mở cửa, hội nhập, hợp tác, bên cạnh những yếu tố tích cực thì vẫn còn đó bao vấn đề nhức nhối đang đặt ra với bao mặt trái của của giao lưu văn hoá toàn cầu đem lại. Lối tư duy cũ, tâm lí ăn xổi ở thì, lối sống thực dụng cá nhân, chạy chọt, luồn cúi vì danh vọng tiền tài, vì lợi ích riêng của bản thân, gia đình mà nhiều cán bộ, đảng viên bất chấp pháp luật và đạo đức xã hội chà đạp lên những lí tưởng đẹp đẽ mà cha anh và các thế hệ đi trước đã hy sinh xương máu gây dựng nên.

Trước tình trạng tha hoá về đạo đức cách mạng của một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên, Nghị quyết số 12-NQ/TƯ của Hội nghị lần thứ 4, Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá XI đã kịp thời ra đời đề cập đến những vấn đề cấp bách trong xây dựng Đảng hiện nay. Nghị quyết nêu rõ:

“Một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên, trong đó có những đảng viên giữ vị trí lãnh đạo, quản lí, kể cả một số cán bộ cao cấp, suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống với những biểu hiện khác nhau về sự phai nhạt lí tưởng, sa vào chủ nghĩa cá nhân ích kỷ, cơ hội, thực dụng, chạy theo danh lợi, tiền tài, kèn cựa địa vị, cục bộ, tham nhũng, lãng phí, tuỳ tiện, vô nguyên tắc…”.(3)

Nguyên nhân dẫn tới tình trạng trên có nhiều, song chủ yếu là do cán bộ, đảng viên thiếu tu dưỡng, rèn luyện, giảm sút ý chí chiến đấu, quên đi trách nhiệm, bổn phận trước Đảng, trước nhân dân. Có thể nói Hội nghị lần thứ 4, Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá XI đã thẳng thắn chỉ ra những căn bệnh trầm kha khó chữa, mang tính dây chuyền, ăn sâu trong nếp nghĩ của một bộ phận cán bộ lãnh đạo, quản lí, làm suy giảm niềm tin của nhân dân.

Những kết luận của Hội nghị Trung ương 4 khoá XI vừa có tính tổng kết, vừa mở ra bao vấn đề cấp bách, đòi hỏi mỗi cán bộ, đảng viên đến các chi bộ Đảng phải phát huy hơn nữa truyền thống cách mạng, đẩy lùi tham ô, lãng phí, sống gần dân, hiểu dân, coi dân và yêu dân như yêu chính người thân máu mủ ruột thịt. Từ Trung ương đến địa phương phải làm mạnh mẽ, quyết liệt tạo sự chuyển biến tích cực trong Đảng, giữ gìn sự trong sạch của Đảng, xứng đáng với niềm tin tưởng, kì vọng của Bác: Đảng ta là đạo đức, là văn minh.

Tư tưởng xuyên suốt Nghị quyết Trung ương 4 khoá XI là sự tiếp nối, phát huy những tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh về công tác xây dựng Đảng trong tình hình hiện nay. Tuy có nhiều điểm mới nhưng nội dung cốt yếu vẫn là vấn đề tu dưỡng tính Đảng và đạo đức cách mạng của người cán bộ, đảng viên. Hơn lúc nào hết, mỗi cán bộ, đảng viên phải nêu cao tinh thần cách mạng, học tập tấm gương đạo đức Bác Hồ vĩ đại: Cả cuộc đời vì nước vì dân.

Cuộc vận động Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Bác Hồ được phát động trong toàn Đảng toàn dân đã tạo ra đợt sinh hoạt chính trị, tư tưởng rộng khắp, có tác động sâu sắc tới nhận thức, tư tưởng, tình cảm của cán bộ, đảng viên và nhân dân. Nhưng bên cạnh đó vẫn còn một số cán bộ, đảng viên chưa thấm nhuần tư tưởng của Người.

Chúng ta cần phải nghiêm khắc tự phê bình và phê bình, kiên quyết xử lí những trường hợp vi phạm, truy tố trước pháp luật những hành vi gây tổn thất, lãng phí tiền của Nhà nước, xâm hại đến lợi ích, đời sống nhân dân. Bên cạnh đó phải tuyên truyền, giáo dục, nâng cao nhận thức về trách nhiệm của người đứng đầu trước vận mệnh, số phận quốc gia, dân tộc, tạo ra một xã hội thực sự dân chủ, công bằng, văn minh. Tư tưởng, đạo đức cách mạng của Chủ tịch Hồ Chí Minh không ở đâu xa mà thật gần gũi, giản dị.

Tuy Bác đã đi xa nhưng những tư tưởng nhân văn – tư tưởng vì con người của Bác vẫn toả sáng đến mãi mai sau.

Tháng Năm về mang theo bao tia nắng chói chang của mặt trời chân lí cách mạng, mang màu xanh của cây lá hoà bình, mang hương thơm ngọt lành, dịu mát của hoa sen, và mang cả nỗi nhớ đong đầy, thiết tha, sâu nặng của người dân Việt Nam nhớ Bác với lòng biết ơn vô hạn. Để rồi “Mỗi khi lòng xao xuyến rung rinh / Môi ta thầm kêu: Bác Hồ Chí Minh”. Nhớ Bác, yêu Bác, lòng ta trong sáng hơn./.

Theo Nguyễn Huy Phòng/ Tạp chí Tuyên giáo
Thu Hiền (st)

bqllang.gov.vn

_________

(1) Di chúc, Nxb.CTQG, H.1999, tr.38

(2) Hồ Chí Minh: toàn tập, Nxb.CTQG, H.1995, t.5, tr.261

(3) Nghị quyết số 12-NQ/TƯ, Hội nghị lần thứ 4, Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá XI, năm 2012

Những bài học quý qua mỗi dịp sinh nhật Bác Hồ

Bác Hồ trong một lần về thăm xã Nam Chính, huyện Nam Sách, tỉnh Hải Dương.

Nhà thơ Tố Hữu trong bài “Theo chân Bác” đã viết: “Như đỉnh non cao tự giấu mình/ Trong rừng xanh lá, ghét hư vinh”. Sự từ chối lễ nghi phiền phức của vị Chủ tịch nước, lãnh tụ tối cao của Ðảng trong những dịp kỷ niệm ngày sinh của mình thể hiện sự khiêm tốn, giản dị mà cao thượng biết bao! Đó là bản chất của người cách mạng chân chính – người ‘‘đầy tớ” trung thành của nhân dân. Nhân cách ấy, sự cao thượng ấy càng làm cho hình ảnh Người trở nên cao đẹp, vĩ đại. Tấm lòng và đạo đức cách mạng sáng ngời của Người mãi mãi là tấm gương sáng để các thế hệ người Việt Nam học tập và noi theo.

“Bác Hồ, Người là tình yêu thiết tha nhất trong lòng dân và trong trái tim nhân loại. Cả cuộc đời Bác chăm lo cho hạnh phúc nhân dân, cả cuộc đời Bác hi sinh cho dân tộc Việt Nam…”. Cuộc đời 79 mùa xuân tươi sáng, Bác đã cống hiến trọn vẹn cho dân, cho nước. Bác vui với niềm vui chung của dân tộc, Bác đau khi nhìn thấy nhân dân lầm than, nước mất, nhà tan… Vì vậy, sinh thời, cứ đến dịp 19-5, kỷ niệm ngày sinh của mình, Bác thường dặn trước các địa phương, các cơ quan là không nên tổ chức linh đình vì Người sợ tốn thời giờ, tiền bạc của nhân dân trong lúc đời sống và cuộc chiến đấu của nhân dân ta còn nhiều khó khăn, gian khổ.

Trên cương vị là chủ tịch nước, hằng năm, vào ngày sinh của mình, Bác thường đi làm việc hoặc đến thăm hỏi một số nơi để tránh những nghi lễ phiền phức, tốn kém. Có năm, vào dịp ngày sinh của Bác, Người sang công tác tại Trung Quốc. Ở đây, các đồng chí nước bạn biết ngày sinh của Bác nên chuẩn bị chúc thọ. Thấy vậy, Người ân cần nói với cán bộ phụ trách nhà nghỉ: “Tôi sang đây vào dịp này là để tránh việc chúc thọ trong nước. Vì vậy, tôi yêu cầu các đồng chí cũng không tổ chức chúc thọ tôi ở đây”. Vào một dịp sinh nhật năm khác, Bác sang Trung Quốc với ý nghĩa như Người đã viết trong thư gửi bà Ðặng Dĩnh Siêu – Cán bộ cao cấp của Ðảng Cộng sản Trung Quốc: “Tôi đi Trung Quốc lần này có mục đích và yêu cầu thật đơn giản, đó là đi du lịch, đi để tránh “chúc thọ”, tránh “tặng quà”.

Những năm kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược, có lần Bác Hồ đi công tác ở chiến khu Việt Bắc vào đúng dịp sinh nhật của Người. Trước khi đi, Bác giao cho những người phục vụ, bảo vệ ở nhà đánh bắt cá tại ao cá mà Người vẫn hằng ngày chăm sóc, biếu các cụ già, các cháu bé, các đồng chí lãnh đạo Ðảng, Nhà nước và anh chị em trong cơ quan hằng ngày vẫn phục vụ, chăm sóc Bác để cải thiện bữa ăn. Việc làm của Người vừa thể hiện sự quan tâm, chăm lo đời sống đối với mọi người, vừa là để cảm ơn mọi người đã tận tụy công tác, chăm lo cuộc sống hằng ngày cho Bác.

Mỗi dịp sinh nhật, thay việc tổ chức tiệc chúc thọ linh đình, tặng quà, Bác thường viết thư, gửi điện cảm ơn đồng bào, đồng chí, các cơ quan đoàn thể trong nước và bè bạn quốc tế đã dành cho Người những tình cảm thân thiết. Đặc biệt, Người còn làm thơ nói về tuổi tác của mình thay những lời cảm tạ. Mỗi bức thư, mỗi dòng thơ của Bác Hồ tuy nói về ngày sinh của mình, nhưng lại là tình cảm, trách nhiệm của Người đối với non song đất nước, đồng bào, đồng chí, cao hơn là nguyên tắc sống của một lãnh tụ vĩ đại của Đảng và dân tộc Việt Nam suốt đời “Trung với Ðảng, hiếu với dân”; đồng thời, thể hiện đường lối lãnh đạo của Ðảng Cộng sản Việt Nam về “thực hành tiết kiệm”, chống xa hoa, lãng phí trước hoàn cảnh đất nước còn không ít khó khăn, thiếu thốn! Năm 1965, nhân dịp sinh nhật lần thứ 75, trong tài liệu “Tuyệt đối bí mật” của mình, lần đầu tiên Bác viết: “Năm nay, tôi đã 75 tuổi. Tinh thần vẫn sáng suốt, thân thể vẫn khoẻ mạnh. Tuy vậy, tôi cũng là lớp người “xưa nay hiếm”… tôi để lại mấy lời này, chỉ nói tóm tắt vài việc thôi. Phòng khi đi gặp cụ Các Mác, cụ Lê Nin và các vị cách mạng đàn anh khác, thì đồng bào cả nước và đồng chí trong Đảng khỏi cảm thấy đột ngột”. Tài liệu này được Bác bắt đầu viết vào ngày 15-5-1965, có sự chứng kiến của đồng chí Lê Duẩn, Bí thư Thứ nhất BCH TƯ Đảng.

Ba năm sau, tình trạng sức khỏe của Bác giảm sút! Người đã nhiều lần sửa đi sửa lại và đặt bút viết câu mở đầu vào tài liệu “Tuyệt đối bí mật” để gửi lại cho đời sau vào lúc 9h ngày 10-5-1968: “Năm nay, tôi vừa 78 tuổi, vào lớp người “trung thọ”. Tinh thần vẫn sáng suốt tuy sức khoẻ có kém so với vài năm trước đây…”. Vì vậy, sinh nhật lần thứ 78 của mình, Bác không “vắng nhà” như những năm trước mà dành tất cả thời gian, tập trung suy nghĩ, sửa chữa bản “Di chúc” – “tài sản vô giá” của Người để lại cho dân tộc Việt Nam. Năm đó, Bác viết thêm vào “tài sản” của mình một số nội dung cụ thể, căn dặn những việc phải làm ngay sau khi cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước thắng lợi là hàn gắn vết thương chiến tranh, chỉnh đốn Ðảng; chăm lo đời sống của nhân dân… Những lời căn dặn, chỉ dẫn thiêng liêng và tình cảm thiết tha của Người đã trở thành mệnh lệnh trái tim đối với mỗi người dân Việt Nam không chỉ trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước mà còn là cương lĩnh hành động của toàn Đảng, toàn quân, toàn dân ta trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc hiện nay.

Sinh nhật lần thứ 78, tuy Bác không đi công tác xa như những năm trước, nhưng buổi tối ngày 18-5-1968, Bác lên nhà nghỉ ở Hồ Tây. Trưa ngày 19-5, Bác và một số anh em phục vụ, lái xe, bảo vệ cùng ăn một bữa cơm thân mật nhân ngày sinh của Người. Cũng nhân sinh nhật lần thứ 78, sau khi dự khai mạc kỳ họp thứ 4 Quốc hội khóa III, ngày 20-5-1968, bằng những lời lẽ chân tình, mộc mạc, kèm theo bốn câu thơ chan chứa tình cảm, thể hiện khí phách của Người trước toàn dân tộc: “Lần trước tôi có nói là những thắng lợi của chiến sĩ và đồng bào hai miền làm cho tôi thấy như mình trẻ lại 20 tuổi. Nhưng nay nghe nói 78 tuổi, thế thì tôi thấy già đi. Vì vậy, tôi có bài thơ này: Bảy mươi tám tuổi chưa già lắm/Vẫn vững hai vai việc nước nhà/Kháng chiến dân ta đang thắng lớn/Tiến bước! Ta cùng con em ta… Lời thơ như tiếp thêm sức mạnh tinh thần, cổ vũ, động viên toàn dân tộc tiếp tục “đánh cho Mỹ cút, đánh cho nguỵ nhào”. Câu kết của bài thơ như lời hứa danh dự của Bác trước dân tộc: Bác luôn sát cánh, tiến bước cùng dân tộc Việt Nam không chỉ đến ngày non sông thu về một mối mà cho cả đến tận những năm tháng bây giờ, cả nước đang tiếp tục tiến bước trên con đường dựng xây đất nước ta “đàng hoàng hơn, to đẹp hơn”.

Mỗi dịp sinh nhật của Người luôn là một bài học quý giá cho chúng ta trong bất kỳ giai đoạn lịch sử nào của đất nước. Sinh nhật của Người giản dị, thanh cao như chính con người Bác vậy! Sinh nhật là dịp để Người bày tỏ tình cảm bao la của mình đối với toàn dân tộc. Tình cảm của Người được nhà thơ Tố Hữu khắc hoạ trong bài “Theo chân Bác”: “Như đỉnh non cao tự giấu mình/ Trong rừng xanh lá, ghét hư vinh”. Sự từ chối lễ nghi phiền phức của vị Chủ tịch nước, lãnh tụ tối cao của Ðảng trong những dịp kỷ niệm ngày sinh của mình thể hiện sự khiêm tốn, giản dị mà cao thượng biết bao! Đó là bản chất của người cách mạng chân chính – người ‘‘đầy tớ” trung thành của nhân dân. Nhân cách ấy, sự cao thượng ấy càng làm cho hình ảnh Người trở nên cao đẹp, vĩ đại. Tấm lòng và đạo đức cách mạng sáng ngời của Người mãi mãi là tấm gương sáng để các thế hệ người Việt Nam học tập và noi theo.

Năm nay, kỷ niệm sinh nhật Bác đúng vào dịp toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta đang ra sức thực hiện Nghị quyết 03 của Bộ Chính trị về tiếp tục đẩy mạnh học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh và Nghị quyết Trung ương 4 (khoá XI) “Một số vấn đề cấp bách về xây dựng Đảng trong tình hình hiện nay”. Ôn lại những bài học quý giá, những việc làm giản dị, trong sáng qua mỗi dịp kỷ niệm ngày sinh của Chủ tịch Hồ Chí Minh là dịp để chúng ta tu chỉnh lại chính mình khi soi chung tấm gương lớn! Mong sao khi soi vào tấm gương đạo đức cách mạng sáng ngời của Bác, mỗi cán bộ, đảng viên, nhất là những đồng chí lãnh đạo, chủ chốt càng gương mẫu học tập và làm theo Người, nhanh chóng khắc phục sự suy thoái đạo đức, lối sống thực dụng, chạy theo đồng tiền; qua đó, công khai, lên tiếng đấu tranh với tệ tham nhũng, quan liêu, xa hoa, lãng phí, cục bộ địa phương…

Sinh nhật Bác cũng là dịp để toàn Đảng, toàn quân và toàn dân ta phát động nhiều phong trào thi đua lao động, sản xuất, học tập, công tác, lập nhiều thành tích xuất sắc mừng ngày sinh Bác Hồ kính yêu. Đây không chỉ là dịp để mỗi chúng ta bày tỏ tình cảm, lòng biết ơn chân thành, sâu sắc tới Bác mà còn là dịp để dân tộc Việt Nam báo công với Bác về những thành tích cả nước đạt được và quyết tâm sửa chữa, khắc phục khuyết điểm, sai lầm để tiếp tục đưa đất nước Việt Nam sánh vai các cường quốc năm châu như sinh thời Người hằng mong.

Phạm Thị Nhung
Trường Sỹ quan Lục quân II
xaydungdang.org.vn

Công – nông – trí thức làm nên thắng lợi cách mạng Việt Nam trong tư tưởng Hồ Chí Minh

Không ngừng củng cố, nâng cao chất lượng khối liên minh công – nông – trí thức theo tư tưởng Hồ Chí Minh, là đòi hỏi khách quan của sự nghiệp cách mạng trong thời kỳ mới. Quá trình CNH-HĐH đất nước, bên cạnh tính tất yếu của sự liên minh về chính trị, thì sự liên minh về kinh tế ngày càng có ý nghĩa quan trọng.

Sau 30 năm bôn ba tìm đường cứu nước, trước yêu cầu mới của tình hình và được Quốc tế Cộng sản chấp nhận, ngày 28/1/1941, Nguyễn Ái Quốc về nước trực tiếp lãnh đạo cách mạng Việt Nam.

Từ ngày 10 đến ngày 19/5/1941, Nguyễn Ái Quốc chủ trì Hội nghị lần thứ VIII của Trung ương Đảng Cộng sản Đông Dương. Trên cơ sở đánh giá tình hình giai cấp và xã hội Việt Nam trong hoàn cảnh chiến tranh thế giới, với quan điểm lý luận gắn với thực tiễn cách mạng, Người nêu cao vấn đề giải phóng dân tộc, coi đó là nhiệm vụ hàng đầu của cách mạng. Người kêu gọi: “Trong lúc này quyền lợi dân tộc giải phóng cao hơn hết thảy. Chúng ta phải đoàn kết lại đánh đổ bọn đế quốc và bọn việt gian đặng cứu giống nòi ra khỏi nước sôi lửa nóng. Liên minh công – nông – trí thức là sự cố kết của công nhân, nông dân, trí thức trong một chỉnh thể”(1).

Tiếp thu tư tưởng chỉ đạo của Người, Nghị quyết Hội nghị lần thứ VIII của Trung ương Đảng Cộng sản Đông Dương ghi rõ: “Trong lúc này nếu không giải quyết được vấn đề dân tộc giải phóng, không đòi được độc lập, tự do cho toàn thể dân tộc thì chẳng những toàn thể quốc gia dân tộc còn chịu mãi kiếp ngựa trâu mà quyền lợi của bộ phận, giai cấp đến vạn năm cũng không đòi lại được”(2).

Đồng thời, Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh đã chủ trương sáng lập ra Mặt trận Việt Nam độc lập đồng minh (gọi tắt là Mặt trận Việt Minh), nhằm đoàn kết mọi lực lượng yêu nước, chống đế quốc, giành độc lập dân tộc, không phân biệt dân tộc, giai cấp, đảng phái, tôn giáo…

Nhằm phát huy sức mạnh của ba dân tộc Việt – Miên – Lào dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Đông Dương, theo sự chỉ đạo của Hồ Chí Minh, Hội nghị lần thứ VIII của Trung ương Đảng Cộng sản Đông Dương chủ trương ở Lào và ở Campuchia thành lập mặt trận thống nhất riêng của hai dân tộc (Ai Lao độc lập đồng minh và Cao Miên độc lập đồng minh); sau khi cách mạng thắng lợi, mỗi quốc gia sẽ thành lập một chính phủ riêng và độc lập. Đối với nước ta, Hội nghị chủ trương thành lập nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, lấy cờ đỏ với ngôi sao vàng năm cánh ở giữa làm quốc kỳ.

Để đoàn kết toàn dân một cách rộng rãi, thực hiện chủ trương cứu nước do Hội nghị Trung ương lần thứ VIII nêu ra, trong bản Chương trình hành động, Việt Minh đã đề ra những chính sách cụ thể nhằm đoàn kết các tầng lớp nhân dân, tiến lên Tổng khởi nghĩa giành chính quyền trong cả nước. Ngày 6/6/1941, những chính sách cụ thể, hợp lòng dân của Việt Minh đã quy tụ toàn dân dưới ngọn cờ của Đảng do Hồ Chí Minh lãnh đạo, đưa Cách mạng Tháng Tám năm 1945 đến thắng lợi. Ngày 2/9/1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh thay mặt quốc dân đọc bản Tuyên ngôn Độc lập tại Quảng trường Ba Đình – Hà Nội, tuyên bố nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ra đời – Nhà nước dân chủ nhân dân đầu tiên ở Đông Nam Á.

Thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám là thắng lợi của ý chí độc lập tự chủ, tự lực, tự cường của dân tộc Việt Nam và là thắng lợi vĩ đại đầu tiên của tư tưởng Hồ Chí Minh ở một nước thuộc địa, nửa phong kiến. Nhưng nhân dân Việt Nam giành được độc lập chưa bao lâu thì thù trong giặc ngoài câu kết với nhau, đất nước lâm vào cảnh “Ngàn cân treo sợi tóc”. Dưới sự lãnh đạo của Hồ Chí Minh, nhân dân Việt Nam bước vào cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp lần thứ hai.

Xây dựng khối liên minh công – nông – trí là lực lượng cơ bản tiến hành cách mạng Việt Nam. Đường lối kháng chiến đúng đắn của Hồ Chí Minh và của Đảng đã dẫn dắt nhân dân ta làm nên chiến thắng Điện Biên Phủ “Lừng lẫy năm châu, chấn động địa cầu”, lập lại hòa bình ở Đông Dương.

Hòa bình được lập lại, nhưng đất nước tạm thời bị chia cắt thành hai miền, Hồ Chí Minh cùng Trung ương Đảng đã sớm xác định rõ kẻ thù chính của cách mạng Việt Nam trong giai đoạn mới là đế quốc Mỹ, vạch ra đường lối cùng một lúc thực hiện hai nhiệm vụ chiến lược: Miền Nam tiếp tục thực hiện nhiệm vụ cách mạng dân tộc, dân chủ nhân dân; miền Bắc đã được hoàn toàn giải phóng, từng bước tiến dần xây dựng chủ nghĩa xã hội. Lần đầu tiên trong lịch sử, một nước thuộc địa, nửa phong kiến, được một Đảng Cộng sản lãnh đạo đã cùng một lúc tiến hành hai nhiệm vụ chiến lược và quá độ lên chủ nghĩa xã hội không qua chế độ tư bản chủ nghĩa. Trong điều kiện ấy, tư tưởng Hồ Chí Minh ngày càng phát triển và thấm sâu vào thực tiễn cách mạng Việt Nam.

Theo tư tưởng Hồ Chí Minh, liên minh công – nông – trí thức là một tất yếu lịch sử khách quan, được chế định bởi các cơ sở xã hội hiện thực và được hiện thực hóa qua đường lối tập hợp lực lượng của Đảng Cộng sản. Điều này cũng xác định rõ ràng liên minh công – nông – trí thức là nhu cầu tồn tại và phát triển của cả công nhân, nông dân và trí thức.

Trong khối liên minh, Hồ Chí Minh đã xác định giai cấp công nhân là giai cấp lãnh đạo. Thông qua chính đảng của mình để đề ra đường lối cách mạng, những chủ trương lớn nhằm thực hiện cách mạng giải phóng dân tộc và xây dựng chủ nghĩa xã hội. Nhưng để thực hiện đường lối đó cần phải có lực lượng.

Bằng hành động và chính sách thực tiễn, giai cấp công nhân thu hút mọi tầng lớp lao động, trước hết là nông dân và trí thức về phía mình, cùng với họ xây dựng chủ nghĩa xã hội. Đây là điều kiện để giai cấp công nhân củng cố vai trò chính trị tiên phong của mình.

Về phía nông dân, do địa vị kinh tế – xã hội và bản chất giai cấp của mình, nông dân tự nguyện tìm đến với giai cấp công nhân. Nếu không liên kết với công nhân, trí thức thì họ sẽ bị các giai cấp bóc lột lợi dụng, lôi kéo trở lại cuộc sống nô lệ, bị áp bức, bóc lột. (Ngày nay, sự tiến bộ của nông dân đã ngày càng gắn bó hơn với công nhân và trí thức. Để đẩy nhanh sản xuất nông sản hàng hóa, làm cho nông nghiệp phát triển bền vững, nông dân rất cần tới sự hỗ trợ của công nghiệp và những tri thức khoa học kỹ thuật. Đây là nhu cầu thiết thực để nông dân tìm đến và gắn bó với các cơ quan nghiên cứu, các cơ sở dịch vụ kỹ thuật. Công nghiệp và khoa học góp phần đắc lực vào quá trình giải phóng người nông dân, giúp họ tiếp xúc với nền văn minh nhân loại hiện đại, đồng thời có dịp để phát huy các giá trị văn hóa được tích tụ trong quá trình lao động, xây dựng ở nông thôn).

Về phía tầng lớp trí thức, là một tầng lớp xã hội đặc biệt có đặc trưng nổi bật là lao động trí óc sáng tạo. Trong công cuộc đấu tranh giải phóng, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, công nhân, nông dân rất cần trí thức. Công nhân và nông dân tạo nên những cơ sở vật chất, điều kiện sinh hoạt và làm việc cần thiết, đặt ra các nhu cầu làm động lực cho sự tìm tòi sáng tạo, hoạt động nghiên cứu của trí thức. Ngược lại, các lĩnh vực hoạt động của công nhân, nông dân sẽ là môi trường để trí thức đem khoa học kỹ thuật vào phục vụ cuộc sống. (Ngày nay Khối liên minh công – nông – trí thức ở nước ta đã và đang tiếp tục làm thay đổi các quan hệ xã hội theo xu hướng đoàn kết, hòa hợp và trở thành một động lực của tiến bộ xã hội).

Hồ Chí Minh quan niệm liên minh công – nông – trí thức là sự cố kết của công nhân, nông dân, trí thức trong một chỉnh thể. Mỗi yếu tố có một vị trí, vai trò đặc thù không thể thay thế và đổi chỗ cho nhau. Hồ Chí Minh đã nhiều lần nhắc nhở giai cấp công nhân là giai cấp lãnh đạo, phải làm thế nào xứng đáng là lãnh đạo để người ta tin cậy. Sức mạnh và chất lượng của khối liên minh phụ thuộc vào chất lượng của từng thành tố. Và chất lượng của khối liên minh sẽ nhân lên sức mạnh cho cả công nhân, nông dân, trí thức. Vì thế, củng cố và tăng cường khối liên minh công – nông – trí thức gắn liền chặt chẽ với quá trình xây dựng và phát triển giai cấp công nhân, giai cấp nông dân và tầng lớp trí thức.

Đối với quan hệ giữa giai cấp lãnh đạo và lực lượng cách mạng đông đảo nhất trong dân cư, Hồ Chí Minh xác định: “Chỉ có giai cấp công nhân lãnh đạo thì nông dân mới được giải phóng. Cũng chỉ có thắt chặt liên minh với nông dân thì giai cấp công nhân mới lãnh đạo cách mạng đến thắng lợi. Cho nên công nhân phải chăm chú đến vấn đề nông dân, phải củng cố công nông liên minh”(3). Người cũng chỉ rõ: “Nông dân, công nhân, lao động trí óc đều phải dựa vào nhau. Nông dân không có sự giúp đỡ của công nhân thì không được. Công nhân không có nông dân cũng không được. Lao động trí óc không có công nhân, nông dân cũng không được”(4).

Liên minh công – nông – trí thức là hạt nhân, cơ sở của khối đại đoàn kết dân tộc, khối đại đoàn kết toàn dân, tập hợp, thu hút mọi lực lượng yêu nước, tiến bộ vào một mặt trận chung thống nhất vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội dân chủ, công bằng, văn minh. Không ngừng củng cố, nâng cao chất lượng liên minh công – nông – trí thức theo tư tưởng Hồ Chí Minh, là đòi hỏi khách quan của sự nghiệp cách mạng trong thời kỳ mới.

Cả về mặt lý luận và thực tiễn đều khẳng định: Liên minh giữa giai cấp công nhân với nông dân và đội ngũ trí thức luôn luôn là vấn đề có tính chiến lược của cách mạng, kể cả trong cách mạng dân tộc, dân chủ cũng như cách mạng XHCN. Đó là lực lượng nòng cốt của khối đại đoàn kết toàn dân trong mặt trận dân tộc thống nhất, nguồn sức mạnh và động lực to lớn của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

Nếu như trong cách mạng dân tộc, dân chủ, nội dung liên minh công – nông – trí thức chủ yếu về chính trị nhằm tập hợp lực lượng đấu tranh giành chính quyền, giải phóng dân tộc, giải phóng đất nước, thì trong cách mạng xã hội chủ nghĩa với công nghiệp hóa, hiện đại hóa là nhiệm vụ trung tâm, bên cạnh tính tất yếu của sự liên minh về chính trị, thì sự liên minh về kinh tế ngày càng có ý nghĩa quan trọng trong quá trình phát triển đất nước.

Tăng cường củng cố và xây dựng khối liên minh giữa giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức vững chắc làm hạt nhân cho khối đại đoàn kết dân tộc trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, đó là trách nhiệm của Đảng và Nhà nước, của giai cấp, tầng lớp xã hội. Trong đó, giai cấp công nhân và tổ chức công đoàn có vai trò và vị trí rất quan trọng. Giai cấp công nhân có nhiệm vụ giúp đỡ, hỗ trợ giai cấp nông dân thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn.

Phát huy vai trò làm chủ của giai cấp công nhân trên mọi lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, quốc phòng, an ninh, làm chủ trong các loại hình doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế khác nhau. Đồng thời, phát huy vai trò nòng cốt của giai cấp công nhân trong khối liên minh giữa giai cấp công nhân với nông dân và trí thức, cũng như khối đại đoàn kết dân tộc nhằm phát huy sức mạnh cả nước thực hiện thắng lợi đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng và pháp luật nhà nước trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước . /.

Theo Phạm Thắng / Tạp chí Tuyên giáo
Thu Hiền (st)
bqllang.gov.vn

________________

1- Giáo trình Chủ nghĩa xã hội khoa học, Nxb. CTQG, H. 2006.
2- Giáo trình Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam, Nxb. CTQG, H. 2004.
3 – Nguyễn Khoa Điềm: 20 năm đổi mới thực hiện tiến bộ công bằng xã hội và phát triển văn hóa, Nxb. CTQG. H.2005
4 – Hồng Hà: Sức mạnh Nhân dân, Nxb. CTQG, H. 2000

Đổi mới và chỉnh đốn Đảng

Trong Di chúc, Chủ tịch Hồ Chí Minh căn dặn toàn Đảng: “Việc cần trước tiên là chỉnh đốn lại Đảng, làm cho mỗi đảng viên, mỗi đoàn viên, mỗi chi bộ đều ra sức làm tròn nhiệm vụ Đảng giao phó cho mình, toàn tâm, toàn ý phục vụ nhân dân” (1).

82 năm, từ khi ra đời cho đến nay, Đảng Cộng sản Việt Nam đã lãnh đạo nhân dân vượt qua muôn vàn khó khăn, thử thách, giành được những thành tựu vĩ đại. Sự lãnh đạo của Đảng là điều kiện quyết định thắng lợi trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN. Tuy nhiên, bên cạnh những cố gắng và kết quả đạt được, Đảng ta đang đứng trước nhiều thách thức lớn. Đại hội X của Đảng chỉ rõ: “Tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, phẩm chất đạo đức, lối sống, bệnh cơ hội, giáo điều, bảo thủ, chủ nghĩa cá nhân và tệ quan liêu, tham nhũng, lãng phí trong một bộ phận không nhỏ cán bộ, công chức còn diễn ra nghiêm trọng…”(2). Tình trạng ấy gây nên sự bất bình và lo lắng sâu sắc trong xã hội, làm giảm lòng tin của nhân dân với Đảng, ảnh hưởng xấu đến thanh danh của Đảng là nguy cơ lớn ảnh hưởng đến sự sống còn của Đảng, của chế độ ta.

Bác từng dạy: “Làm cách mạng thì có đúng, có sai. Cố nhiên đúng phải là chính, sai là phụ. Có sai thì chúng ta giúp nhau kiên quyết sửa chữa và cùng nhau hăng hái tiến lên”(3). Bác khẳng định: “Một Đảng mà giấu giếm khuyết điểm của mình là một Đảng hỏng. Một Đảng có gan thừa nhận khuyết điểm của mình, vạch rõ những cái đó, vì đâu mà có khuyết điểm đó, xét rõ hoàn cảnh sinh ra khuyết điểm đó, rồi tìm mọi cách để sửa chữa khuyết điểm đó. Như thế là một Đảng tiến bộ, mạnh dạn, chắc chắn, chân chính…”(4).

Nhận thức sâu sắc xây dựng, chỉnh đốn Đảng là một trong những vấn đề quan trọng, then chốt để giữ vững chế độ XHCN, Đảng đã thường xuyên đổi mới, chỉnh đốn Đảng. Có rất nhiều văn bản, nghị quyết được ban hành, nhằm củng cố, kiện toàn, chỉnh đốn, đổi mới về nhận thức, tư tưởng, tổ chức nhằm làm cho Đảng thực sự trong sạch, vững mạnh, xứng đáng là người lãnh đạo, người đày tớ của nhân dân. Mỗi kỳ Đại hội là một lần vấn đề đổi mới, chỉnh đốn, xây dựng Đảng được đặt ra và xác định giải pháp thực hiện. Năm 1986, Đại hội VI của Đảng đã đánh dấu một bước tiến dài của Đảng trong tiến trình đổi mới và phát triển. Nghị quyết Đại hội đề ra những giải pháp nhằm đưa Việt Nam thoát khỏi tình trạng khủng hoảng trầm trọng. Thế nhưng, sau Đại hội, năm 1987-1988, tình hình kinh tế-xã hội của nước ta vẫn trong tình trạng khủng hoảng trầm trọng, giá cả leo thang, lạm phát ở mức cao (774%), lương thực và hàng tiêu dùng thiếu nghiêm trọng, đời sống nhân dân hết sức khó khăn. Đảng lại bắt tay vào tìm tòi con đường đổi mới, con đường phát triển. Trong đó, Đảng nhận định cần phải giữ vững vai trò lãnh đạo của Đảng, đặc biệt là trong hoàn cảnh khó khăn này. Tháng 6-1988, Hội nghị lần thứ năm BCHTƯ khóa VI đã họp và ra Nghị quyết về vấn đề cấp bách xây dựng Đảng. Trong đó, hội nghị đã chỉ rõ hai khuyết điểm nghiêm trọng nhất trong công tác xây dựng đảng là: vi phạm nguyên tắc tập trung dân chủ, vừa thiếu dân chủ, vừa kém kỷ luật; chậm đổi mới quan điểm và chính sách cán bộ, chậm xây dựng và thực hiện quy hoạch đội ngũ cán bộ chủ chốt, nhất là cán bộ kế cận. Đảng Cộng sản Việt Nam đã kiên trì đường lối đổi mới, tích cực, kiên trì sửa chữa những hạn chế, khuyết điểm mà Hội nghị đã chỉ ra. Đảng đã có bước trưởng thành mới, có thêm tri thức và kinh nghiệm mới, nhất là về lãnh đạo kinh tế, lãnh đạo Nhà nước. Năm 1989, Việt Nam đã giải quyết thành công vấn đề lương thực và trở thành nước xuất khẩu gạo thứ ba trên thế giới. Năm 1990, hạ lạm phát xuống còn 2 con số (67%)… Đảng và nhân dân tự hào khi: “Lần đầu tiên lương thực đạt tổng sản lượng 21,5 triệu tấn quy thóc, không những đáp ứng nhu cầu của người dân và dự trữ quốc gia mà còn xuất khẩu 1,2 triệu tấn gạo”(5).

Tháng 6-1992, Hội nghị lần thứ 3 BCH TƯ khóa VII đề ra Nghị quyết về “Một số nhiệm vụ đổi mới và chỉnh đốn Đảng”. Nghị quyết nêu rõ: “Đây là một nhiệm vụ đặc biệt quan trọng và cấp bách, có ý nghĩa quyết định đối với toàn bộ sự nghiệp xây dựng và bảo vệ đất nước, đối với vận mệnh của chế độ ta và Đảng ta”(6). Mục tiêu của đổi mới, chỉnh đốn Đảng là nhằm “nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng, phù hợp với yêu cầu khách quan của cách mạng trong tình hình mới, làm trong sạch đội ngũ cán bộ, đảng viên, bảo đảm thực hiện có kết quả các nhiệm vụ chính trị do Đại hội VII Đảng Cộng sản Việt Nam đề ra, trong đó trọng tâm là phát triển kinh tế, làm cho dân giàu, nước mạnh, giữ vững ổn định chính trị”(7).

Thực hiện Nghị quyết đã củng cố vai trò lãnh đạo của Đảng trước những diễn biến phức tạp của thế giới, đặc biệt là sự sụp đổ của các nước XHCN ở Đông Âu và Liên Xô. Nền kinh tế Việt Nam giành được nhiều thành tựu mới. Tăng trưởng bình quân hàng năm về tổng sản phẩm trong nước (GDP) là 8,2% (kế hoạch là 5,5 – 6,5%), công nghiệp tăng 13%, nông nghiệp tăng 4,5%, kim ngạch xuất khẩu 20%, từ năm 1989 xuất khẩu gạo bình quân 2 triệu tấn/năm. Lạm phát từ 67,1% năm 1991 giảm xuống còn 12,7% năm 1995. Đời sống của người dân được cải thiện, số hộ giàu tăng lên, số hộ nghèo giảm đi. Hệ thống chính trị có một bước đổi mới quan trọng. Vai trò lãnh đạo của Đảng được củng cố và giữ vững, quyền làm chủ của người dân được phát huy.

Công tác xây dựng đảng cắm cột mốc quan trọng với Nghị quyết về một số vấn đề cơ bản và cấp bách trong công tác xây dựng Đảng hiện nay được thông qua tại Hội nghị Trung ương 6 (lần 2) khoá VIII (2-1999). Hội nghị đã khẳng định những thành tựu mà Đảng ta đã đạt được trong suốt bảy thập kỷ qua, cũng như thẳng thắn thừa nhận những vấn đề hạn chế trong Đảng. Nghị quyết đã xác định rõ nhiệm vụ của Đảng cần phải: tăng cường sự thống nhất trong Đảng về nhận thức, ý chí và hành động, kiên trì đẩy lùi bốn nguy cơ; đổi mới công tác giáo dục trong Đảng; tăng cường rèn luyện phẩm chất đạo đức, lối sống của cán bộ, đảng viên; tập trung chỉ đạo chống tham nhũng, lãng phí, quan liêu; thực hiện đúng nguyên tắc tập trung dân chủ, chế độ tự phê bình và phê bình trong Đảng; củng cố tổ chức, tăng cường sức chiến đấu và năng lực tổ chức trong hệ thống chính trị…

Toàn Đảng tiến hành cuộc vận động “Xây dựng, chỉnh đốn Đảng”, thực hiện tự phê bình và phê bình kỷ niệm 30 năm thực hiện Di chúc của Bác và kỷ niệm 70 năm thành lập Đảng. Công tác đổi mới, chỉnh đốn Đảng được đẩy mạnh nhằm nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của Đảng ở tất cả các cấp và đẩy mạnh cuộc đấu tranh chống tham nhũng, quan liêu; chống suy thoái về tư tưởng đạo đức, lối sống.

Với nhiệm vụ trọng tâm là tự phê bình và phê bình, cuộc vận động đã góp phần nâng cao nhận thức chính trị cho cán bộ, đảng viên, ngăn ngừa suy thoái về đạo đức, lối sống của một bộ phận cán bộ đảng viên, củng cố và kiện toàn thêm một bước bộ máy đảng các cấp. Nhiều vụ việc tiêu cực, nổi cộm đã được phát hiện và xử lý. Góp phần củng cố lòng tin của nhân dân với Đảng, góp phần giữ vững vai trò lãnh đạo của Đảng.

Hội nghị lần thứ VI Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa X ra Nghị quyết số 22-NQ/TW về “Nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của tổ chức cơ sở Đảng và chất lượng đội ngũ cán bộ, đảng viên” chủ động khắc phục những biểu hiện xa rời mục tiêu, phai nhạt lý tưởng; chống chủ nghĩa cơ hội, thực dụng, vụ lợi, cá nhân, trung bình chủ nghĩa; kiên quyết đấu tranh với những luận điệu tuyên truyền xuyên tạc, phản động, góp phần làm thất bại mọi âm mưu “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch. Nghị quyết xác định: “Thực hiện đồng bộ các giải pháp để nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của tổ chức cơ sở đảng. Xây dựng tổ chức cơ sở đảng phải kết hợp chặt chẽ với thực hiện Cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”, với xây dựng chính quyền, các tổ chức chính trị – xã hội ở cơ sở vững mạnh, với nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, đảng viên, trước hết là bí thư đảng bộ, chi bộ, người đứng đầu và các cấp ủy viên”(8).

Đại hội XI của Đảng nhận định: “… công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng được tăng cường, đạt một số kết quả tích cực. Cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh” đạt được một số kết quả bước đầu. Đa số cán bộ, đảng viên và nhân dân phấn khởi, tin tưởng vào Đảng, Nhà nước, vào công cuộc đổi mới và triển vọng phát triển của đất nước”(9). Tuy nhiên, công tác xây dựng đảng vẫn còn không ít hạn chế, yếu kém, thậm chí có những yếu kém, khuyết điểm kéo dài qua nhiều nhiệm kỳ chậm được khắc phục, làm giảm sút lòng tin của nhân dân đối với Đảng, là thách thức đối với vai trò lãnh đạo của Đảng và sự tồn vong của chế độ. Trong đó, vấn đề cấp bách hiện nay là “đấu tranh, ngăn chặn, đẩy lùi tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống của một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên” là trọng tâm, cấp bách nhất, cần tập trung chỉ đạo chặt chẽ và thường xuyên.

Trước tình hình đó, Hội nghị lần thứ 4 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XI đã ban hành Nghị quyết số 12-NQ/TW “Một số vấn đề cấp bách về xây dựng Đảng hiện nay”. Nghị quyết yêu cầu các tổ chức đảng từ Trung ương đến cơ sở, bắt đầu từ Bộ Chính trị, Ban Bí thư, mỗi cấp ủy viên, đảng viên phải dũng cảm tự soi xét lại mình, đơn vị mình, tìm ra được những ưu điểm để phát huy, những sai lầm, yếu kém, khuyết điểm để có kế hoạch, biện pháp sửa chữa.

Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh thường nhắc nhở: “Mỗi cán bộ, đảng viên, mỗi ngày tự kiểm điểm, tự phê bình, tự sửa chữa như mỗi ngày phải rửa mặt”. Bởi vì: “Mục đích của phê bình cốt để giúp nhau sửa chữa, giúp nhau tiến bộ. Cốt để sửa đổi cách làm việc cho tốt hơn, đúng hơn. Cốt đoàn kết và thống nhất nội bộ. Vì vậy, phê bình mình cũng như phê bình người phải ráo riết, triệt để, thật thà, không nể nang, không thêm bớt. Phải vạch rõ cả ưu điểm và khuyết điểm”(10). Trong Di chúc, Bác căn dặn: “Trong Đảng phải thực hành dân chủ rộng rãi, thường xuyên và nghiêm chỉnh thực hiện tự phê bình và phê bình là cách tốt nhất để củng cố và phát triển sự đoàn kết và thống nhất của Đảng. Phải có tình đồng chí thương yêu lẫn nhau”.

Nghị quyết Trung ương 4 đòi hỏi thực hiện kiên quyết, đồng bộ, bắt đầu từ Trung ương, thực sự hiệu quả, để Đảng ta luôn “là đạo đức, là văn minh”.

———————————-

(1). Hồ Chí Minh toàn tập, Nxb CTQG, 2002, tập 11, tr. 373-374.
(2). Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X, Nxb CTQG, H.2006, tr. 48.
(3). Bác Hồ với Đại hội Đảng, Nxb CTQG, 2006.
(4). Hồ Chí Minh toàn tập, Nxb CTQG, tập 5, tr. 261.
(5). Đảng Cộng sản Việt Nam chặng đường qua hai thế kỷ, Nxb CTQG, 2006, tr. 473.
(6), (7). Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Hội nghị lần thứ III BCHTW khóa VII, 6-1992.
(8). Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Hội nghị lần thứ VI BCHTW khóa X, 2008.
(9). Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện ĐHĐB toàn quốc lần thứ XI, 2000, tr. 17.
(10). Sửa đổi lối làm việc, X.Y.Z.

Tô Nài Não
xaydungdang.org.vn

Đáp từ trong buổi lễ trình quốc thư của Đại sứ Liên Xô (12-3-1956)

Thưa đồng chí Đại sứ,

Tôi rất vui lòng nhận bản quốc thư mà Chủ tịch đoàn Xôviết tối cao Liên bang Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Xôviết bổ nhiệm đồng chí làm Đại sứ đặc mệnh toàn quyền tại nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà.

Nhân dân Việt Nam và Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hoà rất biết ơn về tình hữu nghị anh em và sự giúp đỡ vô tư của nhân dân và Chính phủ Liên Xô trong việc đấu tranh tại Hội nghị Giơnevơ để giành lại hoà bình và trong công cuộc khôi phục kinh tế và phát triển vǎn hoá hiện nay.

Nhân dân Việt Nam rất vui mừng trước sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa cộng sản thắng lợi của nhân dân Liên Xô vĩ đại. Vì thắng lợi ấy càng khuyến khích nhân dân Việt Nam thêm hǎng hái đấu tranh về mọi mặt, đặc biệt là đấu tranh chính trị để thi hành triệt để Hiệp định Giơnevơ và thực hiện thống nhất nước nhà bằng phương pháp hoà bình, bằng tổng tuyển cử tự do trong cả nước.

Trước đây, đồng chí cựu Đại sứ Lavrisép đã ra sức củng cố mối quan hệ hữu nghị giữa Liên Xô và Việt Nam Dân chủ Cộng hoà. Từ nay, chúng tôi chắc rằng đồng chí Đại sứ sẽ tiếp tục tǎng cường mối tình anh em không gì lay chuyển được giữa hai nước chúng ta.

Chúng tôi sẽ luôn luôn giúp đỡ đồng chí hoàn thành thắng lợi

nhiệm vụ vẻ vang mà Chính phủ Liên Xô đã uỷ thác cho đồng chí.

Tôi nhờ đồng chí Đại sứ chuyển lên Chủ tịch đoàn Xôviết tối cao, Chính phủ và nhân dân Liên Xô lời chào thân ái của chúng tôi.

——————————–

Đọc ngày 12-3-1956.
Báo Nhân dân, số 740, ngày 13-3-1956.
cpv.org.vn

Bác Hồ với chống bệnh quan liêu

Bệnh quan liêu, dân chủ hình thức, thái độ quan cách, hách dịch, xa rời quần chúng… gây phiền hà cho nhân dân, cản trở sản xuất và công tác là hiện tượng đang có tính phổ biến, kể cả ở cơ sở.

Tệ quan liêu còn biểu hiện ở bệnh phô trương, hình thức, coi nhẹ tính hiệu quả, nặng về giấy tờ, thói thụ động…

Đã là cán bộ thì ít nhiều đều có quyền hành. Quyền hành là môi trường khách quan làm cho người cán bộ nếu không tỉnh táo dễ quên vai trò của quần chúng. Những cán bộ kém năng lực thường dùng quyền lực thay cho năng lực. Cán bộ quan liêu thường chỉ ngồi bàn giấy, ra chỉ thị cho cấp dưới và thường có “sáng kiến” đề ra nhiều cuộc vận động với tên gọi rất kêu, nhưng chỉ dừng ở khẩu hiệu suông.

Thói thụ động là một dạng cụ thể của bệnh quan liêu. Người cán bộ cấp dưới chỉ biết ngồi chờ mệnh lệnh cấp trên là hiện tượng không hiếm của công chức. Thói thụ động bỏ lỡ những cơ hội có thể đem lại lợi ích lớn cho Nhà nước, cho tập thể và né tránh những vấn đề cấp bách đòi hỏi phải có nhiều cố gắng để thực hiện.

Chủ nghĩa quan liêu, về mặt tổ chức, tạo dựng ra một hệ thống tổ chức quản lý dựa trên quyền lực. Điều đặc biệt nguy hại là chủ nghĩa quan liêu khéo núp dưới cái vỏ dân chủ – dân chủ hình thức – để lẩn tránh mọi sự lên án và trừng phạt.

V.I.Lênin đã phân biệt hai kiểu quan liêu: Kiểu thứ nhất thể hiện trong tác phong hoạt động của cán bộ và các cơ quan quản lý. Kiểu thứ hai là ở trong sự quản lý tồi.

Chủ nghĩa quan liêu có nguồn gốc sâu xa từ lịch sử, từ tư tưởng, nhận thức, tổ chức và tác phong. Chủ nghĩa quan liêu tồn tại là vì còn cơ chế quan liêu và nhất là còn đội ngũ đông đảo cán bộ quan liêu. Cơ chế quan liêu là cái nôi làm nảy nở đội ngũ cán bộ quan liêu. Cán bộ quan liêu ra sức củng cố, bảo vệ cơ chế quan liêu để duy trì địa vị và quyền lợi của mình. Chủ nghĩa quan liêu là mảnh đất tốt sản sinh và dung dưỡng bệnh chủ quan, nóng vội, giản đơn, duy ý chí, giáo điều.

Thật không sai nếu nói rằng: Tệ quan liêu đem lại lợi ích cho những kẻ mắc bệnh đó. Chính lợi ích vị kỷ này là lý do làm cho một số dạng của tệ quan liêu sống dai dẳng và trở thành căn bệnh mãn tính rất khó chữa.

Phong cách làm việc quan liêu làm cho cán bộ bảo thủ, trì trệ, thiếu năng động và sáng tạo, thậm chí còn cản trở và chống lại sự năng động, sáng tạo.
Tệ quan liêu gây ra hệ quả tiêu cực là có một số nghị quyết, kế hoạch, chính sách, dự án được xây dựng thiếu căn cứ khoa học, tách rời khả năng và hiện thực.

Quan liêu và dân chủ đối lập với nhau như lửa với nước. Có cái này sẽ không có cái kia. Cho nên, không thể tiến hành cuộc đấu tranh chống bệnh quan liêu mà không dựa vào quần chúng trên cơ sở mở rộng dân chủ và công khai hóa, huy động quần chúng tham gia mọi hoạt động chính trị, kinh tế, xã hội, công khai thông tin, tạo mọi thuận lợi để dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra.

Chủ nghĩa quan liêu không tự thủ tiêu. Nó chỉ biến dạng, thậm chí, dù có đặt ra thể lệ, quy chế, nó cũng tìm cách làm cho mất hiệu lực, nếu không có phong trào đấu tranh mạnh mẽ của quần chúng.

Nguyên nhân của bệnh quan liêu đã được Bác Hồ chỉ rõ: “Xa nhân dân: Do đó, không hiểu tâm lý, nguyện vọng của nhân dân.

Khinh nhân dân: Cho là “dân ngu khu đen”, bảo sao làm vậy, không hiểu được chính trị, lý luận cao xa như mình.

Sợ nhân dân: khi có sai lầm, khuyết điểm thì sợ nhân dân phê bình, sợ mất thể diện, sợ phải sửa chữa.

Không tin cậy nhân dân: Họ quên rằng không có lực lượng nhân dân, thì việc nhỏ mấy, dễ mấy, làm cũng không xong, có lực lượng nhân dân, thì việc khó mấy, to mấy, làm cũng được.

Không hiểu biết nhân dân: Họ quên rằng nhân dân cần trông thấy lợi ích thiết thực (lợi ích gần và lợi ích xa, lợi ích riêng và lợi ích chung, lợi ích bộ phận và lợi ích toàn cuộc). Đối với nhân dân, không thể lý luận suông, chính trị suông.

Không yêu thương nhân dân: Do đó, họ chỉ biết đòi hỏi nhân dân, không thiết thực giúp đỡ nhân dân…”(1).

Theo Bác Hồ, chứng bệnh quan liêu tỏ ra bằng nhiều vẻ:

“Đối với người:

Cấp trên đối với cấp dưới, cán bộ đối với nhân dân, quân quan đối với binh sĩ, bộ đội đối với dân chúng – chỉ biết dùng mệnh lệnh. Không biết giải thích, tuyên truyền. Không biết làm dân chúng tự giác và tự động.

Đối với việc:

Chỉ biết khai hội nghị, viết nghị quyết, ra chỉ thị. Chứ không biết điều tra, nghiên cứu, đôn đốc, giúp đỡ, khuyến khích, kiểm tra.

Đối với mình:

Việc gì cũng kềnh càng, chậm rãi, làm cho qua chuyện. Nói một đường làm một nẻo.

Chỉ biết lo cho mình, không quan tâm đến nhân dân, đến đồng chí.

Một vẻ quan liêu nữa là: Chỉ biết ăn sang, diện cho kẻng; chẳng những không lo phụng sự nhân dân, mà còn muốn nhân dân phụng sự mình.

Tham ô, hủ hóa. Trước mặt dân chúng thì lên mặt “quan cách mạng”(2).

Người khẳng định: “Nếu không lo chữa, thì bệnh quan liêu sẽ đưa bệnh nhân đến chỗ hoàn toàn bị đào thải.

Thang thuốc chữa bệnh quan liêu:

– Phải đặt lợi ích dân chúng lên trên hết, trước hết.

– Phải gần gũi dân, hiểu biết dân, học hỏi dân.

– Phải thật thà thực hành phê bình và tự phê bình.

– Phải làm kiểu mẫu: Cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư.

Mong rằng toàn thể cán bộ ta, ai không mắc bệnh quan liêu thì phải giữ gìn, tránh nó. Ai đã mắc bệnh ấy, thì phải cố gắng mà chữa cho khỏi đi, cho xứng đáng là người cán bộ cách mạng, chớ để bị đào thải”(3).

—————————–

(1) Hồ Chí Minh toàn tập, NXBCTQG, H.2002, tập 6, tr.292-293.
(2,3) Sđd, tập 6, tr.89-90.

Theo Tạp chí Xây dựng Đảng
Tâm Trang (st)
bqllang.gov.vn

Rèn luyện phương pháp, tác phong công tác theo Tư tưởng Hồ Chí Minh

Theo tư tưởng Hồ Chí Minh, phương pháp, tác phong công tác của cán bộ, đảng viên không chỉ là tổng hợp những lề lối, cách thức, biện pháp xử lý công việc, ứng xử xã hội và sử dụng để thực hiện chức trách, nhiệm vụ của mình mà còn là sự thể hiện quan điểm, lập trường chính trị, tư cách đạo đức, lối sống, năng lực công tác của đội ngũ cán bộ trong thực tiễn. Phương pháp, tác phong công tác giữ vai trò quan trọng trong quá trình thực hiện nhiệm vụ. Người cán bộ, đảng viên tuy có tri thức, năng lực, nhiệt tình nhưng nếu thiếu phương pháp, tác phong làm việc tốt cũng khó có thể hoàn thành nhiệm vụ với chất lượng cao. Thậm chí, do phương pháp, tác phong công tác thiếu khoa học, thiếu dân chủ, xa rời thực tế, quan liêu… mà cán bộ có thể gây ra tổn thất cho Đảng và Nhà nước. Vì vậy, bồi dưỡng, rèn luyện phương pháp, tác phong công tác cho đội ngũ cán bộ, đảng viên theo tư tưởng Hồ Chí Minh vừa là nhiệm vụ cơ bản, thường xuyên vừa là vấn đề cấp thiết trong tình hình hiện nay.

Tư tưởng của Hồ Chí Minh về bồi dưỡng phương pháp, tác phong công tác cho đội ngũ cán bộ, đảng viên được thể hiện qua rất nhiều bài nói, bài viết nhưng đều tập trung thể hiện trên những nội dung cụ thể sau:

Một là, nêu cao tính đảng, tính nguyên tắc

Theo Hồ Chí Minh, phẩm chất hàng đầu của người cán bộ, đảng viên đó là lòng trung thành với Tổ quốc, với lý tưởng cách mạng của Đảng, trung thành với lợi ích của giai cấp công nhân và nhân dân lao động. Hồ Chí Minh chỉ rõ: Làm bất cứ công việc gì, trong bất kỳ điều kiện hoàn cảnh nào, người cán bộ, đảng viên cũng phải luôn xuất phát từ đường lối, quan điểm của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, đáp ứng nguyện vọng chính đáng của quần chúng. “Phải đặt lợi ích của Đảng, của dân tộc lên trên hết”(1); “việc gì cũng phải điều tra rõ ràng, cẩn thận và và phải làm đến nơi đến chốn”(2); “lý luận và thực hành phải luôn luôn đi đôi với nhau”(3). Kiên quyết bảo vệ, ủng hộ cái mới, cái đúng, đấu tranh phê phán cái sai, cái lạc hậu, tiêu cực trong đơn vị. Phương pháp, tác phong công tác này hoàn toàn đối lập với lối làm việc chỉ nhằm phục vụ lợi ích cá nhân hay lợi ích nhóm, quan liêu, xa rời thực tiễn.

Hai là, thực hiện tự phê bình và phê bình:

Đối với tổ chức đảng, cán bộ, đảng viên, Hồ Chí Minh đề cao vấn đề phê bình, tự phê bình. Theo Người, phê bình chính là cách “để giúp nhau sửa chữa, giúp nhau tiến bộ”, là để “sửa đổi cách làm việc cho tốt hơn, đúng hơn”, đạt tới sự “đoàn kết và thống nhất nội bộ”.

Tư tưởng cốt lõi của Hồ Chí Minh trong phê bình là “phê bình việc chứ không phải phê bình người”. Đồng thời, phê bình bao giờ cũng gắn với tự phê bình, Người đã chỉ rõ “Để chữa những bệnh tật kia, ta phải tự phê bình ráo riết và phải lấy lòng thân ái, lấy lòng thành thật mà ráo riết phê bình đồng chí mình. Hai việc đó phải đi đôi với nhau”. Người đòi hỏi “mỗi cán bộ, mỗi đảng viên, mỗi ngày phải tự kiểm điểm, tự phê bình, tự sửa chữa như mỗi ngày phải rửa mặt”, tức là đưa việc tự phê bình, tự kiểm điểm thành nhu cầu cần thiết thường xuyên, như hành vi tự chăm sóc bản thân của mỗi người.

Ba là, gần gũi, tin tưởng quần chúng:

Hồ Chí Minh từng đặt yêu cầu rất cao về tác phong quần chúng, từ việc phải học hỏi quần chúng, lắng tai nghe ý kiến của đảng viên, của nhân dân, của những người không quan trọng… Người căn dặn: “Ta phải liên lạc mật thiết với dân chúng. Không được xa rời dân chúng”(4). Nếu không cụ thể, sâu sát quần chúng thì đảng viên không thể thấy được, hiểu được nguyện vọng, tâm tư, tình cảm của quần chúng, không thể thuyết phục, thu phục được quần chúng. Do đó, đối với người lãnh đạo phải biết học hỏi quần chúng, biết tập trung tài năng, trí tuệ của quần chúng thành sức mạnh chung, tìm ra được lực lượng, biện pháp để thực hiện nhiệm vụ; phải biết khơi dậy, phát huy tính tích cực, tự giác, sáng tạo của quần chúng trong mọi nhiệm vụ được giao.

Bốn là, sâu sát, nắm tình hình thực tiễn:

Hồ Chí Minh chỉ rõ, người cán bộ, đảng viên phải luôn đi sâu, đi sát thực tiễn, nắm tình hình một cách toàn diện; phải nắm người, nắm việc, nắm các vấn đề có liên quan đến đời sống của nhân dân, liên quan đến nhiệm vụ chính trị của cơ quan, đơn vị, địa phương… một cách cụ thể, chính xác.

Theo Người, chỉ có tăng cường quan điểm thực tiễn, khéo đi sâu điều tra nghiên cứu, phân tích và giải quyết đúng mâu thuẫn trong đời sống thực tiễn thì sự lãnh đạo, công tác mới có nội dung, đạt chất lượng, hiệu quả cao. Người yêu cầu cán bộ, đảng viên, “trong lúc học lý luận phải nghiên cứu công việc thực tế, kinh nghiệm thực tế”(5), có như vậy, lý luận mới có sức mạnh, mới thiết thực.

Năm là, thực hành dân chủ thực sự và rộng rãi:

Với việc đưa ra phương pháp, tác phong công tác dân chủ, Hồ Chí Minh đã thực hiện một sự phủ định tác phong quan liêu, độc đoán, gia trưởng. Dân chủ là thước đo phong cách làm việc của cán bộ. Theo Hồ Chí Minh, có dân chủ thì mới “khiến cho cán bộ cả gan nói, cả gan đề ra ý kiến” (6). Hồ Chí Minh đã chỉ ra tình trạng mất dân chủ nghiêm trọng trong các cơ quan nhà nước. Người viết, có những cán bộ cấp dưới, những nhân viên, “dù có ý kiến cũng không dám nói, dù muốn phê bình cũng sợ, không dám phê bình”(7). Nguyên nhân của tình trạng mất dân chủ đó là do “cách lãnh đạo của ta không được dân chủ” (8). Vì vậy, Hồ Chí Minh đòi hỏi cán bộ lãnh đạo các cấp phải thường xuyên “trưng cầu ý kiến phê bình của cấp dưới” (9) và “không nên tự tôn, tự đại”, “phải nghe, phải hỏi ý kiến của cấp dưới” (10), tức là phải thực hành dân chủ với tính cách là một chế độ làm việc, một phương pháp, tác phong công tác của người cán bộ, đảng viên.

Sáu là, nói đi đôi với làm:

Vận động, giáo dục, thuyết phục là phương pháp cơ bản, chủ yếu trong công tác vận động quần chúng của Đảng, của người cán bộ. Để thực hiện tốt việc vận động, giáo dục, thuyết phục quần chúng, người cán bộ phải biết dùng chân lý, lẽ phải, bằng hành động gương mẫu của mình để giáo dục, thuyết phục quần chúng. Hồ Chí Minh từng nhắc nhở cán bộ, đảng viên: “phải óc nghĩ, mắt trông, tai nghe, chân đi, miệng nói, tay làm, chứ không phải nói suông, chỉ ngồi viết mệnh lệnh”(11). Để thực hiện “nói đi đôi với làm”, cán bộ, đảng viên phải có tính quyết đoán trong công tác, cẩn trọng trong xử lý các tình huống, sáng suốt, công tâm, biết kết hợp ý kiến chỉ đạo của cấp trên với ý kiến tham mưu đề xuất của các bộ phận cùng cấp và cấp dưới, phát huy sức mạnh tổng hợp của quần chúng nhân dân. Phương pháp, tác phong công tác của cán bộ, đảng viên phải mẫu mực, chính kiến rõ ràng, cụ thể, thái độ chân thành cởi mở, hành động gương mẫu, cương quyết, dứt khoát; kiên quyết chống mọi biểu hiện chủ quan nóng vội, định kiến cá nhân, thể hiện mình là bề trên, là “ông quan cách mạng”. Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: Cán bộ, đảng viên là người lãnh đạo, là người đày tớ trung thành của nhân dân.

Tư tưởng Hồ Chí Minh về phương pháp, tác phong công tác khoa học có ý nghĩa thực tiễn to lớn. Các tổ chức đảng, cán bộ, đảng viên cần thực hiện tốt một số nội dung cơ bản sau:

Một là, nhận thức đúng vị trí, vai trò, nội dung của phương pháp, tác phong công tác khoa học theo Tư tưởng Hồ Chí Minh; có thái độ trách nhiệm trong củng cố, nâng cao phương pháp, tác phong công tác và chất lượng, hiệu quả trên các mặt công tác đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của thực tiễn xây dựng cơ quan, đơn vị vững mạnh về chính trị.

Hai là, trên cơ sở phương pháp, tác phong làm việc khoa học của Chủ tịch Hồ Chí Minh, cùng với thực tiễn công tác, các cấp uỷ đảng thường xuyên có kế hoạch lãnh đạo, chỉ đạo và tiến hành bồi dưỡng, rèn luyện phương pháp, tác phong công tác cho đội ngũ cán bộ, đảng viên một cách sâu sát, khoa học, luôn bám sát các hoạt động nghiệp vụ, chuyên môn của họ. Đồng thời, lấy đó làm cơ sở trong xem xét, đánh giá năng lực công tác của đội ngũ cán bộ, đảng viên.

Ba là, đa dạng hoá các hình thức, biện pháp bồi dưỡng, rèn luyện phương pháp, tác phong công tác cho đội ngũ cán bộ, đảng viên.

Trong quá trình bồi dưỡng, rèn luyện phương pháp, tác phong công tác cho đội ngũ cán bộ, đảng viên cần thực hiện tốt những hình thức, biện pháp cơ bản như: Thông qua hoạt động thực tiễn, các lớp tập huấn, hội thao, hội thi công tác nghiệp vụ, hoạt động của các tổ chức; cấp trên bồi dưỡng cấp dưới; học tập đồng chí, đồng đội; thông qua công tác nhận xét, đánh giá cán bộ; bản thân nghiêm túc, tự giác tu dưỡng, rèn luyện; phải tiến hành thường xuyên, liên tục, ở mọi lúc, mọi nơi… Đây là những hình thức, biện pháp quan trọng thiết thực trực tiếp góp phần nâng cao phương pháp, tác phong công tác khoa học cho đội ngũ cán bộ, đảng viên hiện nay.

TS. Trần Thu Truyền
Chính ủy Đoàn PB S75

——————————

(1, 2, 3) Hồ Chí Minh toàn tập, tập 5, NXBCTQG, H. 2002, tr.26, 267.
(4,5,6,7,8,9,10,11) Sđd, tập 5, tr.238, 272, 280, 243, 244, 281, 699.
xaydungdang.org.vn

Tác phong lãnh đạo

Chủ tịch Hồ Chí Minh tát nước chống hạn với bà con nông dân ở cánh đồng Quai Chảo, xã Đại Thanh, huyện Thường Tín, Hà Đông (12-1-1958) – Ảnh tư liệu

Trong đổi mới tư duy và hoạt động của lãnh đạo, có đổi mới phương pháp công tác và tác phong lãnh đạo. Bác Hồ của chúng ta là một điển hình về tác phong lãnh đạo gần gũi với đời sống của người dân, thân tình với mọi tầng lớp xã hội: Bác lội xuống ruộng cùng nông dân xem từng gié lúa, Bác tát nước chống hạn, Bác ngồi bên bờ ruộng cùng nông dân, ngồi bên cỗ máy với công nhân, trên bãi biển cùng các lão ông ngư dân…

Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn quan tâm chăm lo giáo dục lý tưởng cách mạng, bồi dưỡng, rèn luyện đạo đức cho đội ngũ cán bộ, đảng viên. Hồ Chí Minh hiểu sâu sắc vai trò to lớn của đạo đức trong đời sống xã hội, nhất là trong nhân cách, tác phong, lối sống của cán bộ, đảng viên. Bằng chính tấm gương của mình và bằng rất nhiều bài nói và viết, Người đã đặt nền móng xây dựng nền đạo đức cách mạng. Tại buổi bế mạc Hội nghị cán bộ của Đảng lần thứ sáu (Khoá I, ngày 18/1/1949), Người căn dặn cán bộ, đảng viên: Muốn làm cách mạng, phải cải cách tính nết của mình trước tiên. Tính nết mà Bác nói, có tác phong, lối sống. Bằng cả cuộc đời, Người nêu gương mẫu mực về đạo đức cách mạng vì nước, vì dân. Người chỉ rõ: Trước mặt quần chúng, không phải ta cứ viết lên trán chữ “cộng sản” mà ta được họ yêu mến. Quần chúng chỉ quý mến những người có tư cách, đạo đức. Người căn dặn cán bộ: Tu dưỡng, rèn luyện, sửa đổi tính nết của mình phải thông qua hoạt động thực tiễn, bền bỉ mọi lúc, mọi nơi, trong mọi điều kiện, hoàn cảnh.

Tác phong lãnh đạo luôn gắn với uy tín, tình cảm của lãnh đạo đối với đồng cấp, thuộc quyền, với quần chúng và cả khi hoạt động, giao lưu đối ngoại. Tác phong được thể hiện từ quan điểm sống, từ lối sống giản dị, lành mạnh, biết tôn trọng con người, không phân biệt thấp, cao, sang, hèn. Trong các hội nghị, tiếp xúc cử tri, gặp gỡ, đối thoại với nhân dân tác phong quan cách, quan trọng hóa chức vụ, vị thế đã vô hình trung tạo ra khoảng cách giữa cấp trên với cấp dưới, giữa lãnh đạo với người dân. Đã có khoảng cách thì trong lượng lời nói và sức thuyết phục chắc chắn bị giảm trước cử tọa, trước dân chúng. Có thể nêu một số tác phong lãnh đạo sau:

Lãnh đạo theo lối “mệnh lệnh”: Là đòi hỏi cấp dưới tuân thủ chấp hành (có khi là ngay tức khắc) mệnh lệnh một cách cứng nhắc, là “mệnh lệnh hóa”, không cho người được giao nhiệm vụ có ý kiến đề xuất, kiến nghị, lệnh là phải làm ngay (điều này ngoại trừ những mệnh lệnh cần thiết của người chỉ huy trong lực lượng vũ trang). Tác phong này có khi được việc nhanh, hiệu quả tức thì, nhưng nhiều khi tai hại vì thiếu dân chủ, nảy sinh lối độc đoán, chuyên quyền. Có khi kết quả thực thi nhiệm vụ không được như mong muốn hoặc ngược lại với ý định lãnh đạo.

Lãnh đạo theo lối “quyết đoán”: Thể hiện tác phong nhanh, dứt điểm. Đa số những người lãnh đạo có tác phong này đều thể hiện năng lực một cách tự chủ, coi trọng nội lực, dám nghĩ, dám nói, dám làm, dám chịu trách nhiệm. Biết tự tin, hiểu cấp dưới, tác nhân trực tiếp của thay đổi lớn. Họ có khả năng nhìn nhận và sử dụng thuộc cấp, huy động được cấp dưới xoay quanh một định hướng chiến lược, có tác dụng làm gương và thu hút sự chú tâm làm nhiệm vụ của cấp dưới. Khi quyết đoán càng hiệu quả thì uy tín của người quyết đoán càng lớn. Tác phong lãnh đạo này thường rất hữu hiệu cho đổi mới, cần một mục tiêu lớn và rõ ràng.

Lãnh đạo theo lối “tình cảm hài hòa”: Tạo ra sự hài hòa cho cấp dưới. Tác phong này thường theo phương pháp nhuần nhị, khéo léo, tỏ ra biết tôn trọng mọi người, “lạt mềm buộc chặt”, lo cho nhân viên trước. Vì thế, họ tạo được trong cơ quan, đơn vị sự thông cảm lớn, không khí cởi mở. Chính vì thế, đoàn kết nội bộ chặt chẽ, rất hữu hiệu trong việc xây dựng một tinh thần gắn bó, động viên trong những lúc khó khăn.

Lãnh đạo theo lối “dân chủ – đồng lòng”: Tác phong này thường là rất được lòng tập thể, cộng đồng, tạo dựng được sự đồng lòng thông qua sự tham gia tích cực của cấp dưới. Người lãnh đạo phát huy dân chủ, luôn luôn thực hành dân chủ rộng rãi. Có việc gì hệ trọng thường hỏi ý kiến: “Mọi người nghĩ thế nào?” trước khi quyết định. Tác phong này thường hội tụ được sức mạnh tổng hợp, tận dụng được thế mạnh hợp lực, hợp tác với cấp dưới, dựa vào sự trao đổi. Vì thế, rất hữu hiệu để cấp dưới mạnh dạn hợp tác tích cực.

Lãnh đạo theo lối “kích động”: Đây là tác phong thể hiện sự gương mẫu và coi trọng xây dựng nhân vật điển hình, tập thể, bộ phận điển hình, làm mẫu để áp dụng cho toàn diện. Người lãnh đạo với tác phong này cũng quyết đoán, ấn định những tiêu chí thành công cao bằng sự tự tin. Tác phong này luôn luôn mang tính chỉ dẫn, khuyến khích: “Hãy làm như tôi, hãy làm như họ”. Người lãnh đạo này thường có ý thức, ham muốn thực hiện, nảy sinh và phát huy được những sáng kiến.

Lãnh đạo theo lối “huấn luyện viên”: Đây là tác phong xây dựng một đội ngũ thuộc quyền có năng lực và tinh thần trách nhiệm “đều tay”. Nó góp phần không nhỏ xây dựng đội ngũ kế cận có năng lực và phát triển nhân tài cho tương lai. Tác phong lãnh đạo theo những phương pháp này rất thuận lợi cho sự phát triển năng lực cấp dưới, cảm thông và ý thức rõ về vai trò lãnh đạo của mình. Rất hữu hiệu để hướng tới tương lai, đội ngũ lãnh đạo kế thừa có chất lượng.

Lãnh đạo theo lối “quan liêu, quan cách, thiếu trách nhiệm”: Đây là tác phong lãnh đạo kém hiệu quả nhất. Nhiều khi do nặng giải quyết “khâu oai”, cá nhân chủ nghĩa, mất dân chủ, không tập hợp được ý kiến, sức mạnh tập thể, dễ mắc khuyết điểm, sai lầm. Tác phong này cũng dễ bị cấp dưới lợi dụng, xu nịnh, làm xao nhãng chức trách. Người lãnh đạo có tác phong này thường cho mình là năng lực giỏi nhất, luôn áp đặt, hoặc khoán trắng cho cấp dưới, chung chung. Lo thu vén cá nhân, ít quan tâm đến người khác. Công việc ở những cơ quan, đơn vị như vậy thường bị trì trệ, hiệu quả thấp, bằng mặt mà không bằng lòng, mất đoàn kết nội bộ.

Tác phong, phương pháp, phong cách hay thuật lãnh đạo đều có nét chung là sự thể hiện rõ nét trình độ, năng lực, kinh nghiệm, đạo đức, nhân cách, cá tình của người lãnh đạo. Tác phong càng giản dị, tự nhiên, biết tôn trọng và gần gũi mọi người, có đầu óc cầu tiến, coi trọng chí tiến thủ thì người lãnh đạo càng được quần chúng tin yêu, cảm phục, uy tín càng sâu rộng. Tác phong lãnh đạo có tác dụng rất lớn đến sự phát triển của “văn hoá lãnh đạo”, đem lại những hiệu quả tùy mức độ khác nhau trong công tác đổi mới tư duy, hành động, đổi mới phương pháp công tác của cán bộ lãnh đạo các cấp.

Theo Bùi Văn Bồng / Tạp chí Xây dựng Đảng
Tâm Trang (st)
bqllang.gov.vn

Điện chia buồn với giáo sư Quyri (19-3-1956)

Kính gửi giáo sư Giôliô Quyri,

Chúng tôi xin cùng bạn chia mối đau thương vô cùng trước sự tổn thất lớn của tất cả chúng ta.

Hình ảnh vẻ vang của bà Iren Quyri sống mãi trong lòng nhân dân Pháp và trong lòng nhân dân Việt Nam. Hình ảnh ấy sẽ sống mãi trong lòng tất cả những người thiết tha với lý tưởng mà bà Iren Quyri đã sống và đấu tranh.

Tôi kính nghiêng mình trước anh hồn xán lạn của bà Quyri.

Ngày 19 tháng 3 nǎm 1956
HỒ CHÍ MINH

—————————-

Báo Nhân dân, số 749, ngày 22-3-1956.
cpv.org.vn

Nói chuyện tại Đại hội giáo dục phổ thông toàn quốc (23-3-1956)

Trước hết tôi thay mặt Đảng và Chính phủ đến thǎm đại hội và chúc Đại hội thành công. ở trong Đại hội này, nam có, nữ có, kinh có, thiểu số có. Có cả bạn Hoa kiều nữa. Như thế là có tình quốc tế. Nhưng giáo viên phụ nữ còn quá ít. Chúng ta phải cố gắng hơn nữa. Sau này công tác giáo dục phần nhiều phải do phụ nữ đảm nhiệm. Muốn phụ nữ đảm nhiệm, thì phải bồi dưỡng cho phụ nữ.

Trong nǎm vừa qua, anh chị em có nhiều cố gắng, có thành tích khá. Nhưng chúng ta cần phải cố gắng nữa, cố gắng mãi. Công tác giáo dục đã có một số vốn, nhưng chưa đủ. Vốn ấy là vốn cũ, nó chưa như ý muốn của chúng ta, của dân tộc chúng ta. Vì vậy cho nên chúng ta gặp khó khǎn. Chúng ta cần phải khắc phục mọi khó khǎn. Việc khó khǎn nhất của dân tộc ta là đánh đổ đế quốc và phong kiến. Khó khǎn ấy ta đã khắc phục được, thì khó khǎn trong giáo dục nhất định khắc phục được. Thấy rõ khó khǎn, không phải để sợ, mà để khắc phục.

Công việc giáo dục cũng là công việc đấu tranh. Có khó khǎn phải đấu tranh. Đấu tranh phải cố gắng, phải quyết tâm. Cố gắng và quyết tâm thì thắng được mọi khó khǎn. Việc gì đối với ta cũng mới cả, kinh tế cũng như vǎn hoá. Ví dụ: Trước kia mỗi công tác đều làm theo cách du kích. Bây giờ phải chuyển vào kế hoạch, chuyển vào chính quy. Kinh tế có kế hoạch, giáo dục cũng phải có kế hoạch. Kế hoạch giáo dục phải gắn liền với kế hoạch kinh tế. Giáo dục phải cung cấp cán bộ cho kinh tế. Kinh tế tiến bộ thì giáo dục mới tiến bộ được. Nếu kinh tế không phát triển thì giáo dục cũng không phát triển được. Giáo dục không phát triển thì không đủ cán bộ giúp cho kinh tế phát triển. Hai việc đó liên quan mật thiết với nhau. Giáo dục có khó khǎn, giáo dục phải khắc phục. Kinh tế có khó khǎn thì kinh tế phải khắc phục. Chúng ta đồng tâm hiệp lực khắc phục khó khǎn, thì kinh tế cũng thành công, giáo dục cũng thành công.

Nghe nói có một vài vị lo ngại rằng chủ nghĩa Mác-Lênin bó buộc tư tưởng, bó buộc giáo dục. Lo ngại như vậy không đúng. Chủ nghĩa Mác-Lênin soi phương hướng, đường lối cho chúng ta đi. Có phương hướng đúng thì làm việc mới đúng. Hết lòng hết sức phụng sự nhân dân, phụng sự Tổ quốc; bất kỳ việc to việc nhỏ cũng nhằm mục đích ấy; đó là chủ nghĩa Mác-Lênin. Nếu không hết lòng hết sức phụng sự nhân dân, tự kiêu, tự đại, tự tư tự lợi, như thế là trái với chủ nghĩa Mác-Lênin. Ai đi nhầm đường thì chúng ta giúp họ đi vào con đường chính; như thế không phải là bó buộc. Thấy người khác đi xiên, đi sai, ta ra sức giúp họ đi theo đường thẳng, đường đúng. Thế mới là thật thà đoàn kết. Đại ý chủ nghĩa Mác-Lênin là phải đi đúng đường, phải phụng sự lợi ích chung, chứ không có gì cao xa.

Chắc rằng các Bộ trưởng, Thứ trưởng đã báo cáo cho các bạn rõ về kế hoạch Nhà nước nǎm nay. Mọi công việc của chúng ta từ nǎm nay đều đi vào kế hoạch. Trong kế hoạch, các việc phải ǎn khớp với nhau. Kế hoạch nǎm nay đặt nền tảng cho chúng ta tiến lên nữa, tiến lên mãi. Các nước bạn giúp ta phát triển nông nghiệp, khôi phục công nghiệp và một phần nào phát triển công nghiệp. Ta cần nhiều cán bộ các cấp. Các thầy giáo, cô giáo phải tìm cách dạy. Dạy cái gì, dạy thế nào để học trò hiểu chóng, nhớ lâu, tiến bộ nhanh. Dạy và học cần phải theo nhu cầu của dân tộc, của Nhà nước. Thầy dạy tốt, trò học tốt, cung cấp đủ cán bộ cho nông nghiệp, công nghiệp, cho các ngành kinh tế và vǎn hoá. Đó là nhiệm vụ vẻ vang của các thầy giáo, cô giáo.

——————————

Nói ngày 23-3-1956.
Báo Nhân dân, số 753, ngày 26-3-1956.
cpv.org.vn

Nói chuyện với lớp bình dân học vụ khu lao động Lương Yên (30-3-1956)

Chúng ta cố gắng thi đua sản xuất thời đời sống sẽ dần dần khá lên. Do cái óc, cái tay của mình mà cải thiện đời sống của mình. Đảng và Chính phủ rất mong muốn đời sống của công nhân, công chức và bộ đội càng khá hơn. Do công nhân và nông dân cố gắng tǎng gia sản xuất, đời sống sẽ khá hơn mãi. Đời sống ví như chiếc thuyền. Sản xuất ví như nước. Mực nước lên cao, thì con thuyền càng nổi lên cao. Mình cố gắng còn là mưu đời sống sung sướng cho con, cho cháu mình nữa.

———————–

Nói ngày 30-3-1956.
Sách Bác Hồ với nhân dân Hà Nội, Nxb. Hà Nội, 1980, tr.57.
cpv.org.vn

Lời phát biểu trong cuộc mít tinh chào mừng Đoàn đại biểu Chính phủ Liên Xô sang thǎm nước ta (3-4-1956)

Thưa đồng chí Đoàn trưởng Đoàn đại biểu Chính phủ Liên Xô,

Thưa các đồng chí trong Đoàn,

Thưa đồng bào,

Hôm nay, nhân dân Thủ đô và nhân dân cả nước ta vui mừng đón tiếp Đoàn đại biểu Chính phủ Liên Xô do đồng chí Micaian lãnh đạo.

Chúng ta phấn khởi hoan nghênh Đoàn đại biểu và nhiệt liệt chào mừng đồng chí Đoàn trưởng và các đồng chí trong Đoàn. Đoàn đại biểu Liên Xô đưa đến cho nhân dân nước ta và nhân dân Thủ đô ta tình hữu nghị nồng nàn của nhân dân Liên Xô. Đoàn đại biểu Liên Xô đến thăm nước ta nhất định sẽ góp phần quan trọng làm tăng thêm tình hữu nghị chân thành giữa nhân dân hai nước chúng ta.

Nhân dân Việt Nam ta và nhân dân Liên Xô là anh em trong đại gia đình xã hội chủ nghĩa và dân chủ nhân dân. Từ bao nhiêu năm, hai dân tộc ta đã cùng nhau đoàn kết, phấn đấu dưới ngọn cờ tất thắng của chủ nghĩa Mác – Lênin, vì sự nghiệp dân tộc, tự do dân chủ, vì sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ hoà bình thế giới.

Cách mạng Tháng Mười Nga thành công đã thức tỉnh các dân tộc bị áp bức, mở đường giải phóng cho nhân dân các nước thuộc địa và phụ thuộc, trong đó có nước Việt Nam ta.

Đảng Cộng sản Liên Xô do Lênin sáng lập, đã đưa nhân dân Liên Xô đến chủ nghĩa xã hội và đang đưa nhân dân Liên Xô đến chủ nghĩa cộng sản, đồng thời chỉ rõ đường lối cho nhân dân các nước trên thế giới đoàn kết đấu tranh để tự giải phóng cho mình.

Trải qua gần 40 năm, Liên Xô ngày nay đã xây dựng chủ nghĩa xã hội thành công, đang tiến mạnh lên chủ nghĩa cộng sản. Liên Xô trở nên một nước hùng mạnh bậc nhất, trở nên thành trì vững chắc cho hoà bình thế giới.

Nhân dân Việt Nam ta không bao giờ quên công ơn của Liên Xô đã đánh bại phát xít ở châu Âu và châu á, đã góp phần quyết định vào công cuộc giải phóng loài người khỏi ách nô lệ, đã giúp cho Cách mạng Tháng Tám ta thành công.

Suốt trong thời kỳ kháng chiến lâu dài và gian khổ, nhân dân ta đã được sự đồng tình sâu sắc của nhân dân Liên Xô, nhân dân Trung Quốc và của nhân dân yêu chuộng hoà bình trên thế giới. Chính phủ Liên Xô và Chính phủ Trung Quốc đã đầu tiên thừa nhận nước ta, việc đó càng khuyến khích nhân dân ta đấu tranh đến thắng lợi hoàn toàn.

Năm 1954, ở Hội nghị Giơnevơ, Đoàn đại biểu Liên Xô và Đoàn đại biểu Trung Quốc đã hết lòng ủng hộ cuộc đấu tranh ngoại giao của ta và giúp ta đi đến thắng lợi to lớn là lập lại hoà bình trên Tổ quốc yêu quý của chúng ta, trên nền tảng các nước tôn trọng độc lập, chủ quyền, thống nhất và lãnh thổ toàn vẹn của ta. Do thắng lợi của mấy năm kháng chiến và của Hội nghị Giơnevơ cho nên ngày nay miền Bắc Việt Nam ta đã hoàn toàn giải phóng.

Từ khi hoà bình lập lại, Liên Xô, Trung Quốc và các nước dân chủ nhân dân lại ra sức giúp đỡ Chính phủ và nhân dân ta để hàn gắn vết thương chiến tranh, xây dựng lại nước nhà, giúp ta một cách không điều kiện, lại phái các đồng chí chuyên gia đến giúp ta về kỹ thuật.

Để tỏ lòng biết ơn Chính phủ và nhân dân Liên Xô, để tăng thêm tình đoàn kết anh em giữa hai nước chúng ta, năm ngoái, Đoàn đại biểu của Chính phủ ta và của Đảng đã đi thăm Liên Xô và đã được hoan nghênh và tiếp đón rất thân thiết và long trọng. Chúng ta thật thà cảm ơn nhân dân, Chính phủ và Đảng Cộng sản Liên Xô.

Liên Xô có công rất lớn với nước ta, Liên Xô có công rất lớn với sự nghiệp hoà bình toàn thế giới. Đại hội lần thứ XX của Đảng Cộng sản Liên Xô đã tổng kết những kinh nghiệm đấu tranh phong phú của nhân dân Liên Xô trong bao nhiêu năm, đã đề ra kế hoạch 5 năm lần thứ sáu để làm cho Liên Xô thêm giàu mạnh. Đại hội là một nguồn phấn khởi cho nhân dân toàn thế giới và soi sáng thêm con đường đi đến thắng lợi cho nhân dân Liên Xô, đồng thời giúp cho nhân dân ta và nhân dân thế giới định rõ đường lối đấu tranh cho độc lập, dân chủ và hoà bình.

Càng biết ơn Liên Xô, nhân dân ta càng vui mừng đón tiếp ở Thủ đô Hà Nội những đại biểu thân mến của Liên Xô vĩ đại.

Nhân dịp này, tôi nhắc lại cùng đồng bào Thủ đô và đồng bào cả nước những nhiệm vụ trước mắt của chúng ta.

Miền Bắc đã giải phóng, nhưng nước ta hiện nay chưa thống nhất. Cho nên đồng bào ta phải ra sức củng cố hoà bình, củng cố miền Bắc, đồng thời ra sức đấu tranh để thực hiện thống nhất trên cơ sở độc lập và dân chủ, bằng phương pháp hoà bình.

Từ khi hoà bình trở lại đến nay, thời gian tuy ngắn, nhưng miền Bắc nước ta đã vững mạnh hơn nhiều. Đồng bào ta đã cố gắng, cần phải tiếp tục cố gắng hơn nữa.

Năm nay, chúng ta phải hoàn thành tốt cải cách ruộng đất, đem lại ruộng đất cho nông dân cả miền Bắc.

Chúng ta phải hoàn thành kế hoạch của Nhà nước, khôi phục kinh tế và bắt đầu phát triển văn hoá. Tôi khen ngợi đồng bào các xã, các thành phố, các công trường, các xưởng máy, các trường học, v.v. đã đạt thành tích khá trong việc thực hiện kế hoạch năm nay.

Đồng thời, chúng ta phải tiếp tục củng cố quốc phòng, trấn áp bọn phá hoại, giữ gìn an ninh, trật tự cho nhân dân.

Do những việc trên mà cải thiện dần dần đời sống của nhân dân thuộc mọi tầng lớp, làm cho nhân dân ta ăn no, mặc ấm, mạnh khoẻ và biết chữ.

Thuế nông nghiệp năm nay đã giảm nhẹ một phần. Tiền lương đã được tăng, nhưng chỉ mới bước đầu. Chúng ta phải cùng nhau cố gắng để làm cho đời sống của nhân dân ngày càng đầy đủ, sung sướng. Đó là chính sách do Đảng và Chính phủ ta đề ra.

Củng cố miền Bắc là để có cơ sở vững mạnh đấu tranh thống nhất nước nhà.

Một ngày nước ta chưa thống nhất thì toàn thể đồng bào ta phải kiên quyết đấu tranh để thực hiện Nam Bắc một nhà, xây dựng một nước Việt Nam hoà bình, thống nhất, độc lập, dân chủ và giàu mạnh.

Chúng ta triệt để thi hành Hiệp định Giơnevơ và đòi đối phương cũng phải thi hành đúng Hiệp định. Chúng ta phải đấu tranh trên cơ sở Hiệp định Giơnevơ để thực hiện thống nhất nước ta bằng phương pháp hoà bình.

Chính phủ Pháp là người đã ký kết Hiệp định, không được trốn tránh trách nhiệm. Chúng ta đòi nước Pháp thi hành đúng đắn những điều đã ký kết.

Đứng về pháp lý, chính quyền miền Nam có trách nhiệm phải thi hành Hiệp định Giơnevơ. Việc thống nhất nước Việt Nam phải do miền Bắc và miền Nam bàn bạc với nhau để đi đến tổng tuyển cử tự do. Ai không muốn bàn bạc, không tôn trọng ý muốn của nhân dân, tức là người đó đi trái với nguyện vọng và quyền lợi của nhân dân và sẽ bị nhân dân chống lại.

Việc thi hành Hiệp định Giơnevơ hiện nay đang gặp khó khăn. Nhưng nhân dân ta không vì thế mà sờn lòng. Chúng ta phải tin tưởng rằng sức mạnh của nhân dân đoàn kết đấu tranh là một sức mạnh tất thắng, một sức mạnh vô địch. Toàn dân ta phải ra sức đoàn kết đấu tranh rộng rãi và chặt chẽ từ Nam đến Bắc trên cơ sở bản Cương lĩnh của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam. Cuộc đấu tranh của ta phải bền bỉ, dẻo dai, song nhất định thắng lợi.

Về mặt quốc tế, chúng ta phải đoàn kết chặt chẽ với Liên Xô, Trung Quốc và các nước anh em khác.

Chúng ta chủ trương tăng cường quan hệ hoà bình và hữu nghị với tất cả các nước, theo năm nguyên tắc chung sống hoà bình. Chúng ta mong muốn có quan hệ tốt với hai nước láng giềng Miên và Lào. Chúng ta sẽ tăng thêm quan hệ hữu hảo với các nước Đông – Nam á, nhất là với ấn Độ, Miến Điện, Nam Dương.

Thưa đồng bào,

Để đi đến thắng lợi to lớn ngày nay, Liên Xô đã trải qua bao nhiêu khó khăn, gian khổ. Vì nhân dân Liên Xô kiên quyết đoàn kết đấu tranh, vì Đảng Cộng sản và Chính phủ Liên Xô đã có chính sách đúng đắn, cho nên nhân dân Liên Xô đã vượt qua mọi khó khăn và đã thu được thắng lợi vĩ đại.

Cuộc đấu tranh giành độc lập của nhân dân Việt Nam ta ngày nay đã thu được thắng lợi lớn ở miền Bắc. Con đường đi đến thực hiện thống nhất nước nhà đang gặp khó khăn. Nhưng khó khăn của ta ngày nay không bằng khó khăn của Liên Xô ngày trước. Cho nên chúng ta ra sức đoàn kết đấu tranh thì thắng lợi nhất định về ta.

Một lần nữa, tôi xin thay mặt đồng bào Thủ đô và đồng bào cả nước nhiệt liệt hoan nghênh Đoàn đại biểu của Chính phủ Liên Xô do đồng chí Micaian lãnh đạo và trân trọng nhờ Đoàn đại biểu chuyển đến Chính phủ và nhân dân Liên Xô anh em lời chào thân ái và nhiệt liệt biết ơn của chúng tôi.

– Tình hữu nghị đời đời bền vững giữa Việt Nam và Liên Xô muôn năm!

– Việt Nam hoà bình, thống nhất, độc lập, dân chủ và giàu mạnh muôn năm!

– Liên Xô vĩ đại muôn năm!

– Hoà bình thế giới muôn năm!

————————————-

Phát biểu ngày 3-4-1956.
Báo Nhân dân, số 762, ngày 4-4-1956.
cpv.org.vn