Tag Archive | Nguyễn Ái Quốc

Hồ Chí Minh – Biên niên tiểu sử – Tập 10 (Năm 1968 – Tháng 4)

Việt Nam - Hồ Chí MinhTháng 4, ngày 1

Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi điện mừng tới ông Lútvích Xvôbôđa nhân dịp ông được cử giữ chức Chủ tịch nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Tiệp Khắc, chúc “nhân dân Tiệp Khắc anh em thu được nhiều thắng lợi mới trong sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội, góp phần tăng cường đoàn kết trong phe xã hội chủ nghĩa trên cơ sở chủ nghĩa Mác- Lênin và chủ nghĩa quốc tế vô sản và gìn giữ hoà bình ở Châu Âu và thế giới”. Tiếp tục đọc

Về một bài viết bóp méo sự thật lịch sử

Nguyễn Ái QuốcThời gian qua, website của đài RFI tiếng Việt đã đăng bài viết của Thụy Khuê có nhan đề: Ai viết những bài ký tên Nguyễn Ái Quốc tại Pháp từ 1919 đến 1923? Trong bài Thụy Khuê đưa ra một số “nghi vấn”, về “trình độ học vấn” của Nguyễn Tất Thành – Nguyễn Ái Quốc, rồi lấy đó làm cơ sở để trả lời theo hướng tiêu cực bất chấp sự thật lịch sử.

Tiếp tục đọc

Hồ Chí Minh và những ngày đi tìm đường cứu nước

Ở bến Nhà Rồng – TP Hồ Chí Minh có một khu di tích quy tập những hình ảnh về cuộc đời và hoạt động của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Cũng dễ hiểu, bởi từ nơi đây, ngày 5/6/1911, một người thanh niên yêu nước Việt Nam có tên là Nguyễn Tất Thành đã quyết định ra đi tìm đường cứu nước.

Nhà Rồng (nơi Bác Hồ đã ra đi tìm đường cứu nước). Ảnh: Phạm Lợi.

Mang tên mới: Văn Ba, anh xin được chân người phụ bếp trên một chiếc tàu biển của Pháp Latusơ Tơrêvin. Từ đây, hoà mình trong đời sống của thợ thuyền, người thanh niên Văn Ba bắt đầu cuộc hành trình tìm đường cứu nước thoát khỏi ách nô lệ của chế độ thực dân.

Cuộc hành trình 30 năm ròng, đi qua 28 quốc gia, làm nên sự nghiệp lớn, xuất phát từ một anh phụ bếp Văn Ba trên một chiếc tàu vận tải hàng hải. Tuy lao động vất vả suốt ngày, suốt tháng không có ngày nghỉ, ông chủ chỉ trả cho anh mỗi tháng không quá 50 phrăng, là thứ tiền công rẻ mạt nhất cho một lao động, nhưng anh không nản lòng, chê trách. Mà trái lại, với thái độ cởi mở, lễ phép với mọi người; từ người lao động đến những du khách thượng hạng đi trên tàu, ai cũng quý mến anh, sẵn sàng giúp đỡ mỗi lần anh muốn biết về một điều gì đó. Xong việc, anh tranh thủ học thêm hoặc đọc sách hay tự học ngoại ngữ. Tàu cập bến một số nước, anh Ba lên bờ, không phải như những người khác, bao nhiêu tiền dồn vđo việc ăn chơi phung phí; anh dành thời gian đi sâu tìm hiểu hiện trạng thực tế xã hội. Anh chợt nhận ra rằng, mỗi quốc gia mỗi vẻ khác nhau về phong cảnh và con người; nhưng về xã hội thì đâu đâu cũng có người nghèo, người giàu, đâu cũng có các tệ nạn xã hội, đâu cũng có người tốt và kẻ xấu.

Anh tiêu tiền hợp lý, chỉ sử dụng tiền khi cần thiết, còn dành một ít tiền gửi về cho người cha ở nhà đang còn gặp nhiều khó khăn. Trên đất Pháp, anh viết thư gửi Bộ trưởng Bộ Thuộc địa Pháp xin vào học Trường Thuộc địa. Đây không chỉ là trường đào tạo học sinh sau này phục vụ chính sách cai trị của Pháp mà còn đào tạo một số nghề chuyên môn như điện báo, kế toán, xưởng trưởng… Anh ký tên Nguyễn Tất Thành, trong thư anh ghi: “ý muốn trở thành có ích cho đồng bào tôi, muốn cho họ được hưởng những lợi ích của học thức”. Song lời yêu cầu thiết tha đó không được chấp nhận. Một lần nữa, anh lại xuống tàu tiếp tục cuộc hành trình qua những châu lục khác.

Trên chiếc tàu biển của hãng Sácgiơ Rêminy nước Pháp, Nguyễn Tất Thành bắt đầu chuyến hành trình qua các nước bên bờ biển châu Phi. Khi tàu cập bến, anh thường tranh thủ thời gian rỗi lên thăm thành phố cảng, dạo ngắm phong cảnh châu Phi và tìm hiểu đời sống kinh tế, xã hội của lục địa đen này. Anh đã được chứng kiến nhiều cảnh đau xót. Thân phận của nô lệ da đen thật kinh khủng. Họ là người mà không được sống cuộc sống của con người. Họ bị hành hạ cả thể xác lẫn tinh thần, họ là thứ hàng hoá trao đổi mua bán giữa các ông chủ buôn người công khai được pháp luật thừa nhận. Bọn chủ xem tính mạng những người nô lệ da đen là thứ trò chơi tiêu khiển, là những đồ dùng khi cần thì sử dụng, khi không cần thì vứt đi không tiếc. Trước những cảnh đời đau xót đó, Nguyễn Tất Thành đã có lúc xúc động và khóc. Người đau nỗi đau chung của nhân loại cho thân phận người nô lệ, cho số phận của người dân Việt Nam bị áp bức, bị mất quyền tự do của con người.

Tàu Đô Đốc Latútsơ Tơrêvin, nơi Nguyễn Tất Thành làm phụ bếp khi rời Tổ quốc đi tìm đường cứu nước.

Rời châu Phi, để lại nỗi buồn của những cảnh đời, những băn khoăn suy tư về một câu hỏi lớn: Làm thế nào để trên thế giới bớt đi sự bất công? Từ châu Phi, anh đến châu Mỹ, đi qua Mactinich, Urugoay, Achentina, rồi lần đầu tiên đặt chân lên nước Mỹ, nơi anh thường được nghe về một tuyên ngôn độc lập nổi tiếng cả thế giới. Người muốn dừng chân trên đất Mỹ một thời gian để tìm hiểu bản chất của sự độc lập kiểu Mỹ như thế nào.

Thời gian đầu Nguyễn Tất Thành đến nhận một công việc làm bánh tại một gian bếp của khách sạn Omni Parker House ở thành phố Boston. Tại đây, anh thường lui tới khu vực Háclem, nơi ở của người nghèo, chủ yếu là người da đen. Anh làm quen với các phong trào đấu tranh với giới chủ, từ những cuộc quyên góp tiền gửi về giúp đỡ quê hương châu Phi. Có lần khi trả lời nhà báo A.Luy Xtơrông, Bác Hồ nhớ lại thời kỳ này: “Khi ấy tôi chưa hiểu lắm về chính trị, nhưng tôi cảm thấy họ đều là những người nghèo khổ đang mong muốn được tự do. Họ có bao nhiêu tiền cũng bỏ ra trong lúc quyên góp, thế là tôi dốc cả tiền túi của mình ra góp vào đấy”.

Cuối năm 1913, Nguyễn Tất Thành rời nước Mỹ sang nước Anh. Thời kỳ đầu gặp nhiều khó khăn về kinh tế nên phải tạm xin việc quét tuyết cho một trường học, rồi chuyển sang làm nghề đốt lò. Tiền thu chẳng được bao nhiêu vừa đủ tiền thuê nhà, tiền học thêm tiếng Anh, còn lại chỉ đủ những bữa ăn thanh đạm. Sau đó nhờ có người giới thiệu, anh chuyển đến làm thuê ở khách sạn Cáclơtơn. ở đây có ông vua đầu bếp nổi tiếng Excôpphiê người Pháp. Anh Thành nhận việc rửa bát đĩa, xoong nồi, lao động chăm chỉ, tính tình cởi mở, đặc biệt rất có ý thức trong công việc. Mỗi lần phục vụ bữa tiệc lớn của những người giàu có, thức ăn thừa nhiều, anh Thành không vứt những thức ăn còn có thể dùng được, mà gói lại mang ra đường cho những người nghèo.

Việc làm đó được ông Excôpphiê rất chú ý. Là người có tư tưởng tiến bộ nên ông rất quý anh và ông đã giúp anh cách làm bánh – một bí quyết nghề nghiệp. Có công việc mới, anh Thành vừa đỡ vất vả lại có thời gian để học thêm tiếng Anh. Lúc này ở nước Anh đã hình thành một tổ chức gồm những người châu á, có tư tưởng tiến bộ, gọi là “Hội những người lao động hải ngoại”. Anh Thành trở thành hội viên của Hội vì Hội này ủng hộ cuộc đấu tranh của các dân tộc thuộc địa, trong đó có dân tộc Việt Nam.

Thời kỳ ở nước Anh, ngoài điều kiện thuận lợi cho anh học tiếng, điều kiện xã hội và chính trị đương thời còn giúp anh hiểu biết nhiều về chế độ chính trị của xã hội tư bản, về đấu tranh giai cấp giữa công nhân và tư sản… Tuy điều kiện rất tốt song có điều những thông tin về quê hương quá ít, ở nước Pháp – nước đang trực tiếp đô hộ dân tộc mình – sẽ có nhiều thông tin về quê hương. Hơn nữa nhờ liên lạc được với cụ Phan Chu Trinh và một số người Việt Nam đang ở Paris, Nguyễn Tất Thành càng hiểu hơn điều kiện thuận lợi khi mình có mặt ở Paris, do đó anh quyết định trở lại nước Pháp.

Thời kỳ này cụ Phan Chu Trinh đang ở Pháp cũng rơi vào hoàn cảnh khó khăn chung. Cụ phải làm nghề ảnh để có thu nhập sinh sống. Thời kỳ mới đến Paris, nhờ sự quen biết trước nên cụ Phan đã giúp anh Thành làm nghề thợ ảnh. Để giảm bớt khó khăn chung, cụ Phan cùng đến ở nhà của Phan Văn Trường tại số 6 Vila đờ Gôbơlanh, quận 13 Paris. Dần dần ngôi nhà này trở thành nơi hội tụ của người Việt Nam ở Paris. Thủ đô Paris là trung tâm chính trị xã hội không những của châu Âu mà còn của cả thế giới. Các đảng phái đại diện quyền lợi chính trị, kinh tế của giai cấp mình đua nhau thi thố làm cho không khí xã hội Paris càng thêm sôi động.

Qua một thời gian theo dõi diễn biến chính trị xã hội ở Pháp và tích cực liên hệ với những người Pháp, người Việt có tư tưởng tiến bộ, đặc biệt anh nhận thấy trong nhiều đảng phái chính trị thì Đảng Xã hội Pháp là Đảng tiến bộ – giương cao ngọn cờ của cuộc Đại cách mạng tư sản Pháp – Tự do, Bình đẳng, Bác ái. Do đó, Nguyễn Tất Thành tự nguyện tham gia Đảng Xã hội Pháp vào đầu năm 1919.

Chiến tranh thế giới kết thúc. Nhiều tổ chức chính trị tiến bộ gửi yêu sách, nguyện vọng đến Hội nghị. Những người Việt Nam ở Pháp có Phan Chu Trinh, Phan Văn Trường và Nguyễn Tất Thành đã thảo luận thống nhất Bản yêu sách tám điểm của những người yêu nước An Nam, ký tên Nguyễn Ái Quốc và từ đó tên gọi Nguyễn Ái Quốc xuất hiện. Nhờ nhạy cảm về chính trị và được sự chuẩn bị chu đáo, bản yêu sách đã được công bố công khai trên báo chí trước ngày khai mạc Hội nghị Vecxay. Do đó, nó nghiễm nhiên được đặt trước các nguyên thủ quốc gia tham gia Hội nghị và nhất là công luận đã lên tiếng thì nhân dân Pháp và các lực lượng tiến bộ sẽ ủng hộ. Nội dung yêu sách nói lên nguyện vọng của các dân tộc nhược tiểu, hy vọng những lời cam kết chính thức và quan trọng của các cường quốc về chế độ nhân đạo, công lý sẽ được thực hiện, những yêu sách này là những nguyện vọng chính đáng và nhu cầu tối thiểu cần được hưởng của một dân tộc, của một con người bình thường được sống trong thời đại.

Một sự kiện chính trị lớn khác trong cuộc đời hoạt động cách mạng của Nguyễn ái Quốc, đó là ngày 16 và 17-7-1920, trên Báo Nhân đạo của Đảng Xã hội Pháp đăng bài “Luận cương về vấn đề dân tộc và thuộc địa” của V.I Lênin đã gây xúc động lớn đến Nguyễn ái Quốc. Sau này Người nhớ lại: “Trong luận cương ấy có những chữ chính trị khó hiểu, nhưng cứ đọc đi, đọc lại nhiều lần, cuối cùng tôi cũng hiểu được phần chính. Luận cương của Lênin làm cho tôi rất cảm động, phấn khởi, sáng tỏ, tin tưởng biết bao! Tôi vui mừng đến phát khóc lên. Ngồi một mình trong buồng mà tôi nói to lên như đang nói trước quần chúng đông đảo: “Hỡi đồng bào bị đày đọa đau khổ! Đây là cái cần thiết cho chúng ta”. Từ đó tôi hoàn toàn theo Lênin, tin theo Quốc tế thứ ba”.

Nhờ những hoạt động tích cực đó mà Đảng Cộng sản Pháp mới có những động thái như thông qua “Lời kêu gọi những người bản xứ thuộc địa” do Nguyễn Ái Quốc soạn thảo, vạch trần những chế độ hà khắc của chủ nghĩa thực dân đối với những người bản xứ, phải chịu hai tầng áp bức – một là người lao động, hai là người bản xứ – kêu gọi đoàn kết đấu tranh chống kẻ thù chung. Trong cuộc đấu tranh của những người lao động bản xứ có sự ủng hộ của Đảng Cộng sản Pháp… Lời kêu gọi được Nguyễn Ái Quốc viết bằng tiếng Việt, in truyền đơn, bí mật gửi về Việt Nam, thức tỉnh phong trào cách mạng trong nước.

Nguyễn Ái Quốc (người ngồi hàng đầu bên trái) với một số đại biểu dự Đại hội Quốc tế Cộng sản lần thứ V (7/1924).

Cũng trong những ngày trên đất Pháp, Người còn sáng lập ra “Hội Liên hiệp thuộc địa”, nhằm tạo hợp lực lượng, đoàn kết các dân tộc thuộc địa với giai cấp công nhân chính quốc để đấu tranh chống kẻ thù chung. Đây là mặt trận liên minh các lực lượng dân tộc bị áp bức, lần đầu tiên xuất hiện ở Pháp do một lãnh tụ thuộc địa, đó là Nguyễn ái Quốc đứng ra tổ chức. ảnh hưởng của anh càng lớn lao trên diễn đàn quốc tế bao nhiêu thì mật thám càng ráo riết theo dõi hoạt động cách mạng của anh bấy nhiêu.

“Hội Liên hiệp thuộc địa” được chính thức thành lập ngày 26/6/1921 tại Paris. Hội xây dựng chương trình, điều lệ và cử ra Ban Chấp hành của Hội. Hội ra bản tuyên ngôn do Nguyễn ái Quốc soạn thảo. Đặc biệt Hội đã cho ra tờ báo Người cùng khổ (Le Paria). Nguyễn ái Quốc vừa là chủ nhiệm kiêm chủ bút, viết bài, sau này cả phát hành báo.

Ngày 1/4/1922, báo ra số đầu tiên. Trang đầu đăng lời kêu gọi giống như một tuyên ngôn của báo. Tài chính của báo do sự ủng hộ nhiệt tình của các đồng chí Pháp cũng như trụ sở báo, phương tiện… Nhà văn nổi tiếng Pháp H. Bácbuýt nhận đỡ đầu cho báo, các đồng chí M.Casanh, G.Lêuy… tham gia viết bài cho báo. Từ lúc ra đời cho đến lúc dừng hoạt động (4/1926), toàn bộ báo ra được 38 số là một sự cố gắng lớn, trong đó vai trò của Nguyễn Ái Quốc rất quan trọng.

Ngoài việc lo hoạt động của báo, Người còn viết nhiều bài trên các lĩnh vực: xã luận, bình luận, truyện ký, tiểu phẩm, tranh vẽ, đưa tin, dịch thuật… là một cây viết chính, là linh hồn tồn tại và phát triển của báo. Những bài viết của Nguyễn Ái Quốc tập trung tố cáo chế độ bóc lột của thực dân trên toàn thế giới trong đó có Việt Nam. Vạch trần những thủ đoạn, mánh khoé bóc lột tư bản như đặt ra nhiều thứ thuế phi lý, sinh ra các tệ nạn xã hội như thuốc phiện, rượu, bắt lính, chiếm đoạt ruộng đất… Người kêu gọi, muốn xoá những chế độ bất công đó không có gì khác hơn là đoàn kết các dân tộc, đứng lên đấu tranh giai cấp. Hoà cùng tiếng nói với Báo Nhân đạo của Đảng Cộng sản Pháp, Báo Người cùng khổ đã tạo thành một mặt trận thống nhất chung của nhân dân thuộc địa với giai cấp vô sản và nhân dân lao động Pháp chống chủ nghĩa tư bản.

Như vậy là từ một người yêu nước nhiệt tình cách mạng, Nguyễn Ái Quốc đã tìm thấy con đường cứu nước và dấn thân vào cuộc đấu tranh để thực hiện thắng lợi con đường đó. Sáu năm hoạt động ở Pháp, Nguyễn Ái Quốc từ người đi tìm đường trở thành người dẫn đường. Là đảng viên Cộng sản, trở thành người sáng lập Đảng Cộng sản Pháp, sau này sáng lập Đảng Cộng sản Việt Nam vào mùa xuân năm 1930. Năm 1941, sau vừa đúng 30 năm xa Tổ quốc, Bác Hồ của chúng ta đã trở về Tổ quốc lãnh đạo cách mạng Việt Nam vượt qua bao thác ghềnh và giành được độc lập vào mùa thu năm 1945

Xuân Ngọc – CAND Xuân 2011
cand.com.vn

Những kỷ niệm tháng sáu trong cuộc đời hoạt động cách mạng của Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh

Trong cuộc đời hoạt động cách mạng vô cùng oanh liệt và phong phú của Chủ tịch Hồ Chí Minh có biết bao nhiêu sự kiện quan trọng là bấy nhiêu ngày được ghi trong lịch sử cách mạng Việt Nam.

Tháng 6 là tháng có nhiều sự kiện quan trọng trong cuộc đời hoạt động cách mạng của Chủ tịch Hồ Chí Minh: Kỷ niệm 97 năm ngày Văn Ba – Bác Hồ ra đi tìm được cứu nước (5/6/1911- 5/6-2008); 85 năm ngày Nguyễn Ái Quốc rời nước Pháp, bắt đầu cuộc hành trình trở về Tổ quốc để lãnh đạo công cuộc giải phóng đất nước (13/6/1923 – 13/6/2008); 83 năm ngày báo Thanh niên, tờ báo do Nguyễn Ái Quốc sáng lập ra số đầu tiên và cũng là Ngày báo chí cách mạng Việt Nam (21/6/1925 – 21/6/2008); 60 năm ngày Bác Hồ ra lời kêu gọi thi đua ái quốc (11/6/1948 – 11/6/2008). Xâu chuỗi lại, chúng ta thấy cả 4 ngày kỷ niệm trong tháng 6 đều thấy liên quan đến sự kiện xảy ra cách đây đúng 100 năm- sự kiện Nguyễn Tất Thành tham gia phong trào chống thuế của nông dân Trung kỳ năm 1908. Liên tưởng như thế bởi vì theo lô gích, sự kiện sau chính là kết quả tất yếu của sự kiện trước.

Trong thời gian sống cùng cha ở Huế, Nguyễn Tất Thành đã tham gia biểu tình của nông dân 6 huyện Thừa Thiên Huế đòi giảm sưu, giảm thuế, do bị mất mùa liên tiếp trong 3 năm. Đây là một hoạt động yêu nước đầu tiên của Nguyễn Tất Thành. Anh đã chứng kiến thực dân Pháp thẳng tay đàn áp những người nông dân hiền lành. Hàng vạn người tay không tham gia biểu tình chỉ với một yêu sách nhỏ là đòi giảm thuế. Họ đi tay không, không có khí giới. Họ chỉ yêu cầu giảm thuế. Để tỏ tình đoàn kết nhất trí, họ đều cắt tóc ngắn và gọi nhau là “đồng bào”. Nhưng bọn thực dân Pháp dùng khủng bố đại quy mô để trả lời họ. Chúng giết hơn một nghìn người cầm đầu và những người bị nghi là có dính dáng đến việc đó. Nhà tù chật ních người… Hầu hết những phần tử trí thức yêu nước đều bị bắt bỏ tù. Nhiều học giả nổi tiếng được nhân dân kính mến, cũng bị chém đầu. Thực dân Pháp gọi phong trào ấy là “án đồng bào cắt tóc” vì nông dân dùng hai tiếng “đồng bào” để gọi nhau.

Sự kiện nông dân Trung Kỳ nổi dậy năm 1908, mà Nguyễn Tất Thành được tận mắt chứng kiến và tham gia, đã để lại trong anh dấu ấn không thể phai mờ. Nguyễn Ái Quốc viết lại sự kiện này trong bài báo đầu tiên nhan đề: Vấn đề dân bản xứ, đăng trên báo L’ Humanité (Báo Nhân đạo – cơ quan ngôn luận của Đảng Cộng sản Pháp), ngày 2-8-1919. Trong bài, khi tố cáo, lên án chính sách cai trị, những thủ đoạn đàn áp, cướp bóc của thực dân Pháp ở Đông Dương và sự phản kháng của nhân dân An Nam, Nguyễn Ái Quốc đã dẫn ra vụ nổi dậy của nông dân Trung Kỳ năm 1908: “Buộc phải bị kiềm chế bởi sức mạnh, nhân dân An Nam, mà lịch sử chân chính đã khởi đầu từ hơn 3000 năm, từng lúc từng lúc như có những đợt cồn cào chống đối, biểu hiện bằng những mưu toan nổi dậy rộng khắp, hoặc bằng hành động của những con người tuyệt vọng, như những cuộc biểu tình ôn hoà năm 1908… Đó là những cuộc phản kháng vô hiệu mà mỗi lần đều đem lại những trận đàn áp đẫm máu”.

Một cuộc biểu tình ôn hòa, với những đề nghị thỉnh cầu tối thiểu nhất, lại bị đàn áp dã man. Sau này, trong nhiều bài viết và báo cáo gửi Quốc tế Cộng sản, Nguyễn Ái Quốc đều dùng những chữ “ôn hòa”, “thỉnh cầu tối thiểu” để viết về tính chất, mức độ cuộc nổi dây của nông dân Trung Kỳ. Sự kiện tham gia vào phong trào chống thuế của nông dân 6 huyện tỉnh Thừa Thiên Huế đã đánh dấu một mốc quan trọng trong cuộc đời của Nguyễn Tất Thành. Cùng với hàng loạt phong trào yêu nước của nhân dân bị thất bại, sự kiện nông dân biểu tình đòi giảm sưu cao, thuế nặng đã tác động đến suy nghĩ của anh. Anh đã thấy sức mạnh của quần chúng nhân dân. Hành động của dân chúng đã vượt ra khỏi khả năng lãnh đạo của các sĩ phu yêu nước tiến bộ, như sau này anh nhận định: “Quần chúng căn bản là có tinh thần nổi dậy, nhưng còn rất dốt nát. Họ muốn giải phóng, nhưng họ chưa biết cách nào để đạt được mục đích ấy”. Làm thế nào để các cuộc khởi nghĩa của đông đảo các tầng lớp nhân dân không bị đàn áp, bị chết chóc, tù đầy. Đó là câu hỏi đã làm cho Nguyễn Tất Thành trăn trở, suy nghĩ. Đây cũng là sự kiện tác động trực tiếp nhất đến Nguyễn Tất Thành để anh càng nung nấu quyết tâm đi ra nước ngoài xem người ta làm như thế nào, sau đó trở về giúp đồng bào mình. Ngày 5-6-1911, Nguyễn Tất Thành, với tên mới Văn Ba, xuống làm phụ bếp trên chiếc tàu buôn của Pháp Đô đốc Latúsơ Tơrêvin, bắt đầu cuộc hành trình đi tìm chân lý. Cuộc lên đường này đã đánh dấu một quyết định táo bạo, nhưng hết sức đúng đắn của anh thanh niên yêu nước Ngưyễn Tất Thành, người sớm có chí đuổi thực dân, giải phóng đồng bào.

Rời Tổ quốc, hành trang theo Người là tấm lòng yêu nước, thương dân, quyết tìm cách cứu dân tộc khỏi bị nô lệ, lầm than. Lênh đênh bốn biển, từ Pháp sang Mỹ, sang Anh rồi lại trở lại Pháp. Làm đủ mọi nghề để kiếm sống, để thâm nhập đời sống của giai cấp công nhân, hòa mình trong cuộc đấu tranh của giai cấp vô sản ở chính quốc. Tại Pari, thủ đô của nước Pháp, trung tâm chính trị, văn hóa của châu Âu, Nguyễn Ái Quốc đã tiếp thu ánh sáng của Cách mạng Tháng Mười Nga vĩ đại. Nguyễn Ái Quốc tham gia Đảng Xã hội Pháp, hoạt động trong Ủy ban vận động ủng hộ Cách mạng Tháng Mười của Đảng Xã hội Pháp. Cũng tại Pari, vào một ngày tháng 7 năm 1920, Nguyễn Ái Quốc đã được đọc Luận cương của V.I Lênin về các vấn đề dân tộc và vấn đề thuộc địa. Luận cương của V.I. Lênin đã giải đáp cho Nguyễn Ái Quốc con đường giành độc lập cho dân tộc và tự do cho đồng bào. Sau này khi kể lại sự kiện quan trọng đó, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nói: ” Luận cương của Lênin làm cho tôi rất cảm động, phấn khởi, sáng tỏ, tin tưởng biết bao! Tôi vui mừng đến phát khóc lên. Ngồi một mình trong buồng mà tôi nói to lên như đang nói trước quần chúng đông đảo: Hỡi đồng bào bị đọa đày đau khổ! Đây là cái cần thiết cho chúng ta, đây là con đường giải phóng chúng ta!”. Đến với Cách mạng Tháng Mười Nga vĩ đại, với Luân cương của V.I Lênin, Nguyễn Ái Quốc đã dứt khoát lựa chọn con đường, và cùng với những người cách mạng chân chính của nước Pháp, Nguyễn Ái quốc đã đã bỏ phiếu tán thành việc Đảng Xã hội Pháp gia nhập Quốc tế thứ ba-Quốc tế Cộng sản, và trở thành một trong những người sáng lập Đảng Cộng sản Pháp, và Người cũng trở thành Người cộng sản Việt Nam đầu tiên.

Những hoạt động xuất sắc của Nguyễn Ái Quốc được Trung ương Đảng Cộng sản Pháp đánh giá cao. Trung ương Đảng Cộng sản Pháp cử Nguyễn Ái Quốc đến Mátxcơva dự Đại hội V Quốc tế Cộng sản. Điều này phù hợp với nguyện vọng cháy bỏng của Nguyễn Ái Quốc là muốn đến nước Nga, trung tâm của phong trào cách mạng thế giới để học tập kinh nghiệm lý luận và thực tiễn, chuẩn bị cho hành trình trở về tổ quốc. Và ngày 13-6-1923, Nguyễn Ái Quốc đã rời nước Pháp, để đến Mátxcơva, nước Nga. Nguyễn Ái Quốc là người Việt Nam đầu tiên có mặt trên đất nước Lênin, nơi nhân dân Liên Xô đã được tự do và đang xây dựng một cuộc sống hạnh phúc, bình đẳng. Trên đất nước Lênin, quê hương của Cách mạng Tháng Mười Nga vĩ đại, Người đã học tập được kinh nghiệm xây dựng Đảng, và từng bước hoàn thiện việc khai phá con đường cứu nước.

Từ nước Nga Xô viết, Nguyễn Ái Quốc tiếp tục vạch ra lộ trình của con đường cứu nước, Người trở về Quảng Châu, Trung Quốc, trung tâm của phong trào cách mạng châu Á, từng bước thực hiện tâm nguyện của mình: “trở về nước, đi vào quần chúng, thức tỉnh họ, tổ chức họ, huấn luyện họ, đưa họ ra đấu tranh giành tự do độc lập”. Tại Quảng Châu, Trung Quốc, từng bước thực hiện kế hoạch đã được vạch ra, chuẩn bị về chính trị, tư tưởng cho sự ra đời một Đảng Mác xít ở Việt Nam. Nguyễn Ái Quốc đã mở Lớp huấn luyện chính trị để chuẩn bị đào tạo đội ngũ cán bộ, chuẩn bị cho sự ra đời một chính Đảng. Cùng với việc đào tạo đội ngũ cán bộ, Nguyễn Ái Quốc chủ trương xuất bản báo chí làm phương tiện tuyên truyền. Và ngày 21-6-1925, Báo Thanh niên, cơ quan ngôn luận của Hội Việt Nam cách mạng Thanh niên, do Nguyễn Ái Quốc sáng lập và trực tiếp chỉ đạo ra số đầu tiên. Báo Thanh niên là tờ báo đầu tiên trong lịch sử báo chí vô sản nước ta góp phần quan trọng vào việc truyền bá chủ nghĩa Mác-lênin vào Việt Nam, chuẩn bị về tư tưởng, chính trị và tổ chức để tiến tới thành lập chính đảng của giai cấp công nhân Việt Nam vào đầu năm 1930.

Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời đã từng bước lãnh đạo công cuộc giải phóng đất nước, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Cách mạng Tháng tám thành công, Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ra đời. Chính quyền non trẻ vừa ra đời, chưa có thời gian củng cố, thì lại phải đối phó với muôn vàn khó khăn: nạn đói nạn dốt, thù trong giặc ngoài. Và cả dân tộc Việt Nam lại phải bước vào cuộc trường chinh kháng chiến chống thực dân Pháp.

Sau Chiến thắng Việt Bắc Thu Đông năm 1947, để động viên mọi lực lượng phục vụ công cuộc kháng chiến và kiến quốc, theo sáng kiến của Chủ tịch Hồ Chí Minh, ngày 27-3-1948, Ban Thường vụ Trung ương đã ra Chỉ thị Phát động phong trào thi đua ái quốc. Chỉ thị vạch rõ: “Mục đích thi đua ái quốc là làm sao cho kháng chiến mau thắng lợi, kiến thiết chóng thành công”.

Nhân dịp kỉ niêm 1000 ngày toàn quốc kháng chiến, ngày 11-6-1948, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ra lời kêu gọi, chính thức phát động phong trào thi đua yêu nước nhằm động viên toàn dân tập trung sức lực cho sự nghiệp kháng chiến và kiến quốc.

Như vậy một sự kiện lịch sử nữa được Chủ tịch Hồ Chí Minh quyết định vào tháng 6-1948. Điểm qua một số mốc kỷ niệm trong tháng 6, chúng ta thấy một sự chỉ đạo nhất quán, xuyên suốt trong tư tưởng Hồ Chí Minh. Đó là việc phát huy truyền thống yêu nước của dân tộc, đánh giá cao vai trò của đông đảo nhân dân trong sự nghiệp cách mạng. Người đã nhìn thấy điều này từ khi tham gia phòng trào chống thuế năm 1908: “Chủ nghĩa dân tộc là động lực lớn của đất nước. Chính nó đã gây nên cuộc nổi dậy chống thuế năm 1908, nó dạy cho những người culi biết phản đối, nó làm cho những người “nhà quê” phản đối ngầm trước thuế tạp dịch và thuế muối. Cũng chủ nghĩa dân tộc đã luôn luôn thúc đẩy các nhà buôn An Nam cạnh tranh với người Pháp và người Trung Quốc; nó đã thúc giục thanh niên bãi khóa, làm cho những nhà cách mạng trốn sang Nhật Bản và làm vua Duy Tân mưu tính khởi nghĩa năm 1917″. Sau này Người viết: “Nước ta kinh tế lạc hậu, nhưng lòng yêu nước và chí quật cường chẳng kém ai. Nay muốn tự cấp, tự túc, đi kịp người ta, thì chúng ta phải đi mau”. Đi mau bằng cách tham gia vào các phòng trào thi đua yêu nước. Sức mạnh của quần chúng, truyền thống yêu nước, ý thức tự lực, tự cường của dân tộc phải được tập hợp, tổ chức và động viên vào vào sự nghiệp cách mạng. Bởi vì “Tinh thần yêu nước cũng như thứ của quý, có khi được trưng bày trong tủ kính, trong bình pha lê, rõ ràng, dễ thấy. Nhưng cũng có khi cất dấu kín đáo trong rương, trong hòm. Bổn phận của chúng ta là làm cho những của quý kín đáo ấy đều được đưa ra trưng bày. Nghĩa là phải ra sức giải thích tuyên truyền, tổ chức, lãnh đạo, làm cho tinh thần yêu nước của tất cả mọi người đều được thực hành vào công việc yêu nước, công việc kháng chiến”. Cùng với những văn kiện đã đi vào lịch sử như Bản Tuyên ngôn độc lập (1945), Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến(1946), Lời kêu gọi thi đua ái quốc của Chủ tịch Hồ Chí Minh phát đi ngày 11-6-1948, đã đi vào lòng người như lời hịch cứu nước, bởi mục đích của thi đua là để: “Diệt giặc đói khổ, diệt giặc dốt nát, diệt giặc ngoại xâm”, làm cho “Dân tộc độc lập. Dân quyền tự do. Dân sinh hạnh phúc”. Để đạt được mục đích đó không có con đường nào khác là: “Dựa vào lực lượng của dân, tinh thần của dân. Để gây hạnh phúc cho dân”.

Khơi dậy truyền thống yêu nước của dân tộc ta từ lịch sử hàng ngàn năm dựng nước và giữ nước, tạo nên sự gắn kết tự nhiên giữa yêu nước và thi đua, Chủ tịch Hồ Chí Minh nói: Thi đua là yêu nước, vì yêu nước phải thi đua. Trong suốt hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, kháng chiến chống đế quốc Mỹ và công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội đã có hàng trăm phong trào thi đua của các ngành, các cấp, các giới được phát động và động viên được toàn dân tham gia. Thi đua yêu nước đã đã góp phần làm nên những kỳ tích của nhân dân ta trong lịch sử chống giặc ngoại xâm, trong công cuộc kiến thiết nước nhà. Ngày nay thi đua yêu nước vẫn sẽ là nội lực quan trọng giúp nhân dân ta giữ vững nền độc lập nước nhà, đưa nước ta ra khỏi cảnh đói nghèo, kém phát triển. Mục đích của thi đua là để thực hiện mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh, như Nghị quyết của Đảng ta đã đặt ra.

Trong tình hình mới, điều kiện mới, phong trào thi đua yêu nước cần phải được tổ chức thường xuyên, có phát động, có kiểm tra, tổng kết, đúc rút kinh nghiêm, phổ biến sáng kiến, để động viên khen thưởng kịp thời; khen thưởng đúng người, đúng việc. Tránh phô trương, hình thức khi phát động gây lãng phí tốn kém không cần thiết.

Phong trào thi đua yêu nước do Chủ tịch Hồ Chí Minh khởi xướng và phát động 60 năm về trước đã góp phần quan trọng đánh thắng giặc dốt, giặc đói, giặc ngoại xâm đưa kháng chiến đến thắng lợi, kiến quốc thành công. Ngày nay, rất cần nhưng phong trào thi đua trong toàn quốc, trong từng ngành, từng giới, tạo nên nội lực đẩy mạnh công cuộc xây dựng, phát triển đất nước, xóa đói giảm nghèo, đưa nước ta ra khỏi những nước kém phát triển, vững bước sánh vai cùng các cường quốc năm châu như Bác Hồ hàng mong muốn.

Nhớ lại những sự kiện tháng 6 trong cuộc đời hoạt động của Bác Hồ kính yêu, hiểu được ý nghĩa lớn lao sâu sắc của mỗi sự kiện đối với sự phát triển của cách mạng Việt Nam, để tiếp tục đi theo con đường của Người, đó chính là một cách thiết thực nhất để góp phần thực hiện cuộc vận động: Học tập và làm theo tư tưởng tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh./.

Theo Phạm Thị Lai

baotanghochiminh.vn

Họa sĩ trình bày báo Nguyễn Ái Quốc

Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh là lãnh tụ cách mạng thiên tài, danh nhân văn hoá thế giới, anh hùng vĩ đại của dân tộc Việt Nam. Bài này chỉ đề cập một lĩnh vực nhỏ trong sự nghiệp vĩ đại của Người.

Thế hệ làm báo cách mạng Việt Nam, gần một thế kỷ được thừa hưởng những bài học, nghệ thuật sáng tạo tác phẩm báo chí xuất sắc, tiêu biểu, độc đáo của Nhà báo số một Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh không chỉ ở cách hòa nhập hiện thực đời sống, chắt lọc sự kiện, thể hiện nội dung thông tin sinh động, hấp dẫn, có sức thuyết phục mà còn tiếp nhận từ Người phương pháp trình bày mặt báo sao cho lôi cuốn bạn đọc.

Các tờ báo Người cùng khổ, Tạp chí Quốc tế Nông dân, Thanh niên, Việt Nam hồn, Thân ái, Lính cách mệnh, Việt Nam độc lập, Cứu quốc… do Nguyễn Ái Quốc sáng lập và tổ chức quy trình xuất bản in đậm dấu ấn phong cách trình bày độc đáo, sát hợp yêu cầu người đọc và hoàn cảnh cụ thể.

Tờ Người cùng khổ xuất bản tại Pa-ri in chữ Pháp dành cho bạn đọc có trình độ nhất định, đặc biệt là các nhà hoạt động chính trị, hoạt động xã hội, tầng lớp trí thức tiến bộ Pháp những năm 1922, 1923 nên bố cục mặt báo từ trang một đến trang bốn theo phong cách phương Tây. Những thông tin chính luận, cập nhật, có ảnh hưởng rộng đều được sắp xếp ở vị trí quan trọng, nhiều cột báo với tít in đậm hơn.

Để tạo ấn tượng mạnh, buộc người đọc quan tâm ngay khi cầm tờ báo, ngoài tên bài được in chữ to, chạy suốt trang còn có tít phụ, giúp người đọc nắm bắt nhanh “cái thần”, “cái hồn” của bài báo. Ngay trong một bài, cần thu hút bạn đọc, nhà báo Nguyễn Ái Quốc cho sắp một kiểu chữ in nghiêng. Báo Người cùng khổ in kỹ thuật ty-pô, sắp chữ chì, in khuôn đúc trên máy lăn ngang, chưa phải hiện đại nên bố trí nhiều kiểu chữ rất phức tạp, nhưng với năng lực làm báo thành thạo, nhà báo Nguyễn Ái Quốc còn bố trí in cả tranh châm biến, tranh đả kích. Từ năm 1922 đến năm 1923, Nguyễn Ái Quốc đã cho in trên tờ Người cùng khổ gần 30 bức tranh đả kích, châm biếm, điển hình là các bức “Mau lên! Đi”, “Tố cáo những kẻ gây ra vụ đàn áp ở Tu-lan-ca-mon”, “Xe xích sắt một ngày kia sẽ thay những con lạc đà, nhưng chúng vẫn còn khá nhiều. Bằng chứng ư?”, “Văn minh bề trên”, “Chủ nghĩa tư bản”. Trang một báo Người cùng khổ được bố trí đậm đặc các bài, tin quan trọng, nhiều bài chỉ trình bày tít rồi cho tiếp sang trang sau.

Cách trình bày khái quát các chủ đề tập trung của số báo nổi bật lên trang một của nhà báo Nguyễn Ái Quốc từ năm 1922 đã có ảnh hưởng quyết định tới việc chỉ đạo tổ chức xuất bản các tờ báo Tranh đấu (1930), Cờ vô sản (1930.), Tiền phong (1937), Dân chúng (1937), Tiếng nói của chúng ta (1938), Cờ giải phóng (1942) Cứu quốc (1942), Sự thật (1945), Nhân Dân (l951). Đặc biệt là hệ thống báo đảng sau này đều căn cứ tôn chỉ, mục đích, đối tượng bạn đọc mà có hình thức trình bày hợp lý.

Khi xuất bản báo Thanh niên, in chữ Việt Nam tại Quảng Châu (Trung Quốc), nhà báo Nguyễn Ái Quốc không rập khuôn cách trình bày như báo Người cùng khổ. Người xác định đối tượng báo Thanh niên là các tầng lớp yêu nước, học sinh, sinh viên, trí thức, người lao động không biết chữ nên việc sắp xếp tin, bài ngắn gọn, từng cột báo có phi-lê dọc phi-lê ngang cho người đọc dễ dàng tiếp nhận.

Điều kiện hoạt động bí mật, tài chính nghèo nàn nên báo “Thanh niên” không thể in ty-pô (in máy). Nhà báo Nguyễn Ái Quốc đã khắc phục khó khăn bằng cách dùng bút sắt viết từng cột báo, kể cả măng-sét (tên báo Thanh niên) trên giấy sáp để tạo khuôn rồi quay rô-nê-ô, mỗi khuôn in độ 200 bản. Để tạo cảm xúc vui cho bạn đọc, Nguyễn Ái Quốc trực tiếp vẽ tranh biếm họa, đả kích, tranh cổ động lên mặt khuôn, điển hình là bức “Lênin với vấn đề giải phóng dân tộc” in số 68 ngày 7-11- 1926 kỷ niệm Cách mạng Tháng Mười Nga. Từ 21-6-1925 đến đầu tháng 5-1927, nhà báo Nguyễn Ái Quốc đã sử dụng ngòi bút sắt trình bày ma-két 88 số báo Thanh niên để có gần 170.000 bản báo gửi về Việt Nam, sang Thái Lan, góp phần thức tỉnh, khơi dậy lòng yêu nước, ý chí giành độc lập dân tộc và là tài liệu hướng dẫn, huấn luyện cán bộ, chỉ rõ đường lối đấu tranh, phương pháp tổ chức đoàn thể quần chúng cách mạng trước lúc Đảng ta ra đời ngày 3-2-1930.

Văn Khải

xaydungdang.org.vn

Nguyễn Ái Quốc và con đường đi đến thắng lợi của Đảng

Nguyễn Ái Quốc, ra nước ngoài chỉ với hai bàn tay trắng cùng tinh thần yêu nước, thương dân và với một trí tuệ thiên tài, một nghị lực phi thường, một ý chí quyết tâm tìm ra con đường cứu nước, cứu dân.

Cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX, dân tộc Việt Nam chìm đắm trong “đêm trường nô lệ”, nhân dân Việt Nam sống rên xiết dưới gót giày của quân xâm lược. Một số phong trào yêu nước của các sĩ phu phong kiến thức thời và trí thức Tây học diễn ra mạnh mẽ nhưng đều thất bại. Sự thất bại này là do thiếu đường lối cứu nước khoa học và cách mạng nên không phát huy được nội lực, ý chí độc lập, khát vọng tự do của dân tộc.

Trong bối cảnh lịch sử ấy, người thanh niên yêu nước Nguyễn Tất Thành quyết định đi tìm con đường cứu nước, giải phóng dân tộc đúng đắn cho nhân dân Việt Nam.

Khi học ở Quốc học Huế, Nguyễn Tất Thành tiếp cận lịch sử, văn hóa, văn minh phương Tây, quan tâm tìm hiểu các cuộc cách mạng tư sản diễn ra ở Hà Lan, Anh, Mỹ và nhất là cuộc cách mạng tư sản Pháp 1789. “Tự do – bình đẳng – bác ái” là những ngôn từ đẹp đẽ và cũng là khát vọng đặc biệt hấp dẫn đối với Người. Đó là quyền sống chân chính của mỗi dân tộc, mỗi con người nhưng sao các nước văn minh phương Tây lại xâm chiếm và nô dịch phương Đông qua chiêu bài khai hóa văn minh? Với nhãn quan chính trị sắc bén vượt thời đại, Nguyễn Tất Thành quyết định ra nước ngoài – sang phương Tây, nước Pháp – nơi mở đầu cuộc cách mạng tư sản điển hình, lại là nước đang cai trị Việt Nam để tìm hiểu.

Ngày 5-6-1911, Nguyễn Tất Thành với tên gọi Văn Ba, nhận làm phụ bếp trên con tàu A-mi-ran La-tu-sơ Tơ-rê-vin của hãng Năm Sao rời cảng Nhà Rồng đi Mác-xây (Pháp). Hơn mười năm sau, chính Nguyễn Tất Thành với tên mới là Nguyễn Ái Quốc đã trả lời nhà báo, nhà thơ Nga Ô-xip Man-den-stam rằng: Vào trạc tuổi mười ba, lần đầu tiên tôi được nghe những từ “Tự do – bình đẳng – bác ái”. Đối với chúng tôi, người da trắng nào cũng là người Pháp. Người Pháp đã nói thế và từ thuở ấy, tôi muốn làm quen với nền văn minh Pháp, muốn tìm xem những gì ẩn giấu đằng sau những từ ấy. Sau khi xem xét họ làm ăn ra sao, tôi sẽ trở về giúp đồng bào tôi.

Chuyến đi lịch sử của Nguyễn Ái Quốc sang phương Tây khác xa với các vị tiền bối. Cụ Phan Bội Châu ra nước ngoài với 3.000 đồng do Duy Tân hội quyên góp. Cụ Phan Châu Trinh đến Pháp bằng chiếc vé mời của Hội Nhân quyền Pháp. Với Nguyễn Ái Quốc, ra nước ngoài chỉ với hai bàn tay trắng cùng tinh thần yêu nước, thương dân và với một trí tuệ thiên tài, một nghị lực phi thường, một ý chí quyết tâm tìm ra con đường cứu nước, cứu dân.

Bôn ba tìm đường cứu nước, Nguyễn Ái Quốc nghiên cứu những cuộc cách mạng thế giới đã giành thắng lợi như cách mạng tư sản Mỹ năm 1776, cách mạng nhân quyền và dân quyền Pháp năm 1789 và phong trào giải phóng dân tộc ở các nước thuộc địa và phụ thuộc. Người rất khâm phục tinh thần cách mạng ở những nước này nhưng thấy không thể đi theo cách làm của họ. Bởi vì, theo Người: “Cách mệnh Pháp cũng như cách mệnh Mỹ nghĩa là cách mệnh tư bản, cách mệnh không đến nơi, tiếng là cộng hòa và dân chủ, kỳ thực thì nó tước đoạt công nông, ngoài thì nó áp bức thuộc địa”(1).

Năm 1917, Người trở lại Pháp tham gia phong trào công nhân Pháp. Tháng 11 năm đó, diễn ra một sự kiện rung chuyển thế giới, đánh dấu bước ngoặt vĩ đại trong lịch sử xã hội loài người: Cách mạng tháng Mười Nga giành thắng lợi, đưa học thuyết cách mạng của C.Mác từ sách vở trở thành hiện thực đầu tiên, đưa cách mạng thế giới bước sang thời đại mới, thời đại quá độ từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội.

Ba năm sau, tại Thủ đô Pa-ri diễn ra cuộc gặp lịch sử giữa Nguyễn Ái Quốc và Chủ nghĩa Mác-Lênin qua Bản Sơ thảo lần thứ nhất “Luận cương về vấn đề dân tộc và vấn đề thuộc địa” của V.I.Lênin đăng trên báo Nhân đạo của Đảng xã hội Pháp. Luận cương của V.I.Lênin đã chỉ ra con đường cứu nước giải phóng dân tộc, nên “Ngồi một mình trong buồng mà tôi nói to lên như đang nói trước quần chúng đông đảo: “Hỡi đồng bào bị đọa đầy đau khổ! Đây là cái cần thiết cho chúng ta, đây là con đường giải phóng chúng ta”(2).

Giữa năm 1923, Người rời Pháp sang Liên Xô. Ở đây, Người tiếp thu Chủ nghĩa Mác-Lênin, tìm hiểu kinh nghiệm cuộc Cách mạng Tháng Mười và tham gia vào Quốc tế Cộng sản. Trong cuốn sách Đường Kách mệnh, Người viết: “Bây giờ học thuyết nhiều, chủ nghĩa nhiều, nhưng chủ nghĩa chân chính nhất, cách mệnh nhất là chủ nghĩa Lênin”(3). “Muốn cứu nước và giải phóng dân tộc không có con đường nào khác con đường cách mạng vô sản”(4). Và “Chỉ có chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa cộng sản mới giải phóng được các dân tộc bị áp bức”(5).

Năm 1924, Nguyễn Ái Quốc bí mật rời nước Nga Xô viết trở về Quảng Châu – Trung Quốc trên cương vị và nhiệm vụ mới: phiên dịch cho đồng chí Bô-rô-din – cố vấn Liên Xô bên cạnh Chính phủ Quốc dân đảng, vừa phụ trách mục tuyên truyền của tờ báo Ca-non Ga-zet-te bằng tiếng Anh của Trung ương Quốc dân đảng. Về gần Tổ quốc là điều kiện thuận lợi để Người truyền bá Chủ nghĩa Mác-Lênin vào Việt Nam. Người tiếp xúc với những thanh niên yêu nước hăng hái nhất trong nhóm Tâm tâm xã như Lê Hồng Sơn, Hồ Tùng Mậu, Lê Hồng Phong… Trên cơ sở đó, tháng 5-1925, Người lập ra Hội Việt Nam cách mạng thanh niên – tổ chức tiền thân của Đảng Cộng sản Việt Nam. Với sự giúp đỡ tận tình của các đồng chí Trung Quốc, Hội bí mật đưa một số thanh niên trong nước sang Quảng Châu tham gia các lớp học chính trị; ra tờ báo Thanh niên in bằng giấy sáp, bí mật gửi về nước để truyền bá Chủ nghĩa Mác-Lênin vào phong trào đấu tranh của công nhân và quần chúng nhân dân. Qua đó, Người tích cực chuẩn bị về chính trị, tư tưởng và tổ chức cho việc thành lập một đảng mác-xít ở Việt Nam.

Cuối năm 1929, đầu năm 1930, ba tổ chức cộng sản lần lượt ra đời ở Việt Nam đã khẳng định bước phát triển quan trọng của phong trào cách mạng Việt Nam. Song một nước có ba tổ chức cộng sản cùng hoạt động sẽ không tránh khỏi sự phân tán về lực lượng và tổ chức, không thống nhất về tư tưởng và hành động. Trước yêu cầu lịch sử đặt ra, với tư cách là phái viên của Quốc tế Cộng sản, Nguyễn Ái Quốc triệu tập Hội nghị hợp nhất các tổ chức cộng sản thành một đảng duy nhất – Đảng Cộng sản Việt Nam – Hội nghị từ ngày 3 đến ngày 7-2-1930 tại Hương Cảng – Trung Quốc.

Hội nghị thông qua Cương lĩnh đầu tiên của Đảng do Nguyễn Ái Quốc soạn thảo. Cương lĩnh đã chỉ rõ nhiệm vụ của cách mạng Việt Nam là đánh đuổi chủ nghĩa thực dân Pháp và phong kiến tay sai, giành độc lập cho dân tộc và ruộng đất cho dân cày. Lần đầu tiên cách mạng Việt Nam có một cương lĩnh chính trị phản ánh được quy luật khách quan của xã hội Việt Nam, phù hợp với xu thế thời đại. “Cương lĩnh ấy rất phù hợp với nguyện vọng thiết tha của đại đa số nhân dân ta là nông dân. Vì vậy, Đảng đã đoàn kết được lực lượng cách mạng to lớn chung quanh giai cấp mình”(6).

Dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, cách mạng Việt Nam đã vượt qua muôn vàn khó khăn, thử thách, liên tiếp giành nhiều thắng lợi.

Năm 1939, đại chiến thế giới II bùng nổ, quân Pháp đầu hàng phát-xít Nhật. Chúng cấu kết chặt chẽ với nhau đàn áp phong trào cách mạng và tăng cường bóc lột nhân dân thuộc địa, làm cho nhân dân Việt Nam “một cổ hai tròng”. Các cuộc khởi nghĩa Bắc Sơn, Nam Kỳ, Đô Lương… liên tiếp diễn ra nhưng bị dìm trong bể máu, nhiều cán bộ lãnh đạo của Đảng và hàng ngàn quần chúng ưu tú đã bị bắt, giết hại và tù đày…

Được sự nhất trí của Quốc tế Cộng sản, Nguyễn Ái Quốc rời Mát-xcơ-va với nhiệm vụ đến Trung Quốc để công tác trong Đảng Cộng sản Đông Dương.

Ngày 28-1-1941, Nguyễn Ái Quốc về tới cột mốc 108 trên biên giới Việt – Trung (thuộc xã Trường Hà, huyện Hà Quảng, tỉnh Cao Bằng). Sau một thời gian khảo sát, nghiên cứu, đánh giá đặc điểm tình hình, từ ngày 10 đến ngày 19-5-1941, tại Khuổi Nậm-Pác Bó-Cao Bằng, Nguyễn Ái Quốc chủ trì Hội nghị Trung ương lần thứ 8. Hội nghị đặt nhiệm vụ chống đế quốc, giải phóng dân tộc lên hàng đầu. Nguyễn Ái Quốc chỉ rõ: “Trong lúc này quyền lợi dân tộc giải phóng cao hơn hết thảy. Chúng ta phải đoàn kết lại đánh đổ bọn đế quốc và bọn Việt gian đặng cứu giống nòi ra khỏi nước sôi lửa nóng”. Vì vậy “bước đường sinh tồn của các dân tộc Đông Dương không còn có con đường nào khác hơn là con đường đánh đổ đế quốc Pháp, chống tất cả ách ngoại xâm, vô luận da trắng hay da vàng để giành lấy giải phóng độc lập”(7). Đây là sự chuyển hướng quan trọng nhất về chỉ đạo chiến lược cách mạng của Đảng, đồng thời đáp ứng đòi hỏi, nguyện vọng của nhân dân là giành độc lập dân tộc, thoát khỏi ách nô lệ. Tư tưởng này không những khắc phục quan điểm không đúng về đấu tranh giai cấp, mà còn tạo điều kiện cho tư tưởng giải phóng dân tộc của Bác tiếp tục phát triển, đem lại thắng lợi cho cách mạng Việt Nam.

Sự ra đời của Mặt trận Việt Minh – một chủ trương mang tính chiến lược, sáng tạo của lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc nhằm đoàn kết hết thảy các lực lượng yêu nước trong một mặt trận để cứu nước, giải phóng dân tộc. Ở Lào cũng thành lập mặt trận Ai Lao độc lập đồng minh và Cam-pu-chia thành lập mặt trận Cao Miên độc lập đồng minh… thể hiện rõ nét chính sách “dân tộc tự quyết”, hợp với nguyện vọng của toàn thể nhân dân, giai cấp, các dân tộc Đông Dương, hợp với cuộc đấu tranh chung của toàn thế giới chống phát-xít xâm lược, bảo đảm cho cách mạng Đông Dương thành công.

Trước sự biến đổi sâu sắc của tình hình thế giới và trong nước, bên cạnh việc dự báo thời cơ khởi nghĩa, Đảng và Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh đã đưa ra một sách lược cần kíp là chuẩn bị lực lượng và đưa Đảng vào hoạt động bí mật. Bên cạnh Mặt trận Việt Minh, các đội Cứu quốc quân I, II, III, Đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân ra đời. Dù non trẻ, Đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng đã liên tiếp đánh thắng hai trận Phai Khắt và Nà Ngần. Cùng với chiến thắng đó, những thắng lợi của Cứu quốc quân, các đội du kích, tự vệ ở các địa phương đã góp phần củng cố, mở rộng khu căn cứ cách mạng Cao-Bắc-Lạng, Thái-Hà-Tuyên và động viên toàn dân đẩy mạnh phong trào đấu tranh, chuẩn bị khởi nghĩa vũ trang.

Chiến tranh thế giới II bước vào giai đoạn kết thúc. Ngày 9-5-1945, phát-xít Đức đầu hàng đồng minh. Đêm 13-8-1945, ủy ban Khởi nghĩa ra Quân lệnh số 1 – hiệu triệu toàn dân đứng lên Tổng khởi nghĩa giành chính quyền: “Giờ quyết định cho vận mệnh dân tộc đã đến. Toàn quốc đồng bào hãy đứng dậy đem sức ta mà tự giải phóng cho ta”(8). Lúc này Bác đang ốm nặng. Ở lán Nà Lừa đã căn dặn đồng chí Võ Nguyên Giáp: Dù phải hy sinh tới đâu, dù phải đốt cháy cả dãy Trường Sơn, cũng phải kiên quyết giành cho được độc lập. Dưới sự lãnh đạo của Đảng và Bác Hồ, cả dân tộc muôn người như một vùng lên “chớp thời cơ ngàn năm có một” giành chính quyền về tay mình.

Ngày 15-8-1945, phát-xít Nhật đầu hàng đồng minh. Ngày 19-8-1945, Tổng khởi nghĩa thắng lợi ở Hà Nội. Ngày 23-8, Thừa Thiên Huế giành được chính quyền, vua Bảo Đại thoái vị và nộp ấn kiếm cho cách mạng. Ngày 25-8, nhân dân Sài Gòn-Gia Định giành được chính quyền… Hành động vùng dậy “lay trời chuyển đất” của hàng triệu quần chúng, tạo nên một ưu thế áp đảo, giáng một đòn quyết định vào tất cả cơ quan đầu não của bọn việt gian, làm tê liệt mọi sự kháng cự của các thế lực thù địch, chính quyền về tay nhân dân. Ngày 2-9-1945, tại vườn hoa Ba Đình, Hà Nội, thay mặt Chính phủ lâm thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc bản Tuyên ngôn độc lập, khai sinh ra nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, mở ra trang sử mới trong lịch sử dân tộc Việt Nam.

Thắng lợi của Cách mạng tháng Tám năm 1945 là thắng lợi đầu tiên của một nước thuộc địa nửa phong kiến do đảng cộng sản lãnh đạo, là thắng lợi của đường lối độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội. Thắng lợi này đã tạo ra thế và lực mới, quyết định tiến trình đi lên của dân tộc Việt Nam; là nền tảng vững chắc đoàn kết, huy động sức mạnh của cả nước đồng lòng chung sức làm nên một Điện Biên Phủ “lừng lẫy năm châu, chấn động địa cầu”; anh dũng kiên cường, bền bỉ đấu tranh hơn hai thập kỷ, quyết tâm “đánh cho Mỹ cút, đánh cho ngụy nhào”, giải phóng hoàn toàn miền Nam vào mùa xuân năm 1975, thu non sông về một mối, cả nước đi lên xây dựng chủ nghĩa xã hội.

______

(1) Hồ Chí Minh toàn tập, NXBCTQG, H.2002, tập 2, tr.274. (2) Sđd, tập 10, tr.127. (3) Sđd, tập 2, tr.268. (4) Sđd, tập 9, tr.314. (5) Sđd, tập 10, tr.128. (6) Sđd, tập 10, tr.9. (7) Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, tập 6, NXBCTQG, H.2000, tr.55, tr.536. (8) Sđd, tập 3, tr.554.

Phạm Thị Nhung
Trường Sỹ quan Lục quân 2

xaydungdang.org.vn

Câu lạc bộ Phô Bua, nhà văn Léo Poldes và vở kịch Con rồng tre của Nguyễn Ái Quốc

Đầu những năm 20 của thế kỷ trước, Thủ đô Pari, nước Pháp là nơi được chứng kiến nhiều hoạt động sôi nổi và phong phú của Nguyễn Ái Quốc…

24.jpg

Người đã dũng cảm đối đầu với nhà cầm quyền Pháp, tranh thủ sự ủng hộ giúp đỡ của nhiều người, bằng mọi hình thức tuyên truyền, vận động, đấu tranh cho một nước Việt Nam độc lập. Câu lạc bộ Faubourg, thành lập từ năm 1914, là một trong những nơi Nguyễn Ái Quốc thường đến dự và có những hoạt động tuyên truyền. Bài viết này của chúng tôi xin cung cấp cho bạn đọc một số thông tin về Câu lạc bộ Faubourg, nhà văn Léo Poldès, chủ nhiệm câu lạc bộ và vở kịch Con Rồng tre, do chính Léo Poldès và Bác Hồ của chúng ta kể lại.

Bác Hồ đã viết về Câu lạc bộ Faubourg (có nghĩa là ngoại ô) như sau:

“Câu lạc bộ ngoại ô. Gọi tên nó như thế, là theo truyền thống đại cách mạng Pháp từ năm 1789. Sự thật thì không phải là một câu lạc bộ chính cống mà cũng không ở ngoại ô. Một người trí thức phái tả tên là Pôn-đét (Poldès) có sáng kiến tổ chức “câu lạc bộ” lưu động, mỗi tuần họp một lần, khi họp chỗ này, khi họp nơi khác ở Thủ đô Pari. Thường có độ ba trăm người đến dự, đủ các xu hướng chính trị và các tầng lớp xã hội. Đại đa số là công nhân và tiểu tư sản “khai minh”. Nhưng cũng có ông nọ bà kia. Họ thảo luận những vấn đề thời sự, chính trị hoặc văn hóa xã hội. Một người trình bày vấn đề (có chuẩn bị trước). Sau đó, mọi người tự do phát biểu ý kiến.

Cuộc bàn cãi luôn luôn sôi nổi, nhưng rất thân mật. Mỗi lần họp, anh Nguyễn (tức Bác Hồ) đều phát biểu ý kiến. Và bất kỳ vấn đề gì anh cũng khéo lái nó về kết luận lên án thực dân. Một ví dụ: Trong một cuộc thảo luận về thuật “thôi miên”, sau khi nhiều người nói tin, nhiều người nói không tin, anh Nguyễn xin phát biểu ý kiến. Anh nói: “Tin cũng được, không tin cũng được. Nhưng tôi xin mạn phép nói thật rằng bác sĩ Cu-ê (người thạo giỏi thuật “thôi miên”) chưa giỏi bằng thực dân Pháp. Mỗi năm, với hàng nghìn tấn thuốc phiện, chúng đang làm cho hàng triệu người Việt Nam ngủ say đến nỗi quên mình là vong quốc nô”.

Anh Nguyễn được mọi người hoan nghênh. Vì thái độ anh khiêm tốn và lời lẽ của anh gọn gàng. Lại vì ở câu lạc bộ và có lẽ ở cả Pari chỉ có anh là người Việt Nam dám lên tiếng chống thực dân Pháp. Một kết quả tốt là nhiều người đồng tình với anh và anh đã trở thành người tuyên truyền cho cách mạng Việt Nam”. 1

“Một lần khác hội nghị thảo luận vấn đề Ái-nhĩ-lan và Triều Tiên. Tất nhiên những nhà diễn giả Pháp đều nghiêm khắc công kích chính sách của Anh, của Nhật và bênh vực nhân dân Ái-nhĩ-lan, nhân dân Triều Tiên. Ông Nguyễn phát biểu ý kiến:

Cũng là một dân tộc bị áp bức, tôi hoàn toàn đồng tình với những người bạn Ái-nhĩ-lan, nhân dân Triều Tiên, và đồng tình với hội nghị kết án bọn thực dân Anh, Nhật. Nhưng tôi hỏi các ngài có nên kết án cả những bọn thực dân khác không? Có nên bênh vực nhân dân bị áp bức khác không? Có hay không?”… Mọi người đều trả lời là có. Thế là được dịp ông Nguyễn trình bày vấn đề Việt Nam”. 2

Năm 1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh đến Pari, với tư cách là thượng khách của Chính phủ Pháp, đã làm cho chủ nhiệm Câu lạc bộ Faubourg Léo Poldès và nhiều người bạn khác một sự ngạc nhiên sửng sốt.

Câu chuyện của hơn 20 năm trước, được Léo Poldès nhớ và ghi lại trong sự bàng hoàng, ngạc nhiên “Vì sao, Nguyễn Ái Quốc, người thợ ảnh giản dị kia đã chết năm 1933 mà nay năm 1946 đã là Chủ tịch nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa”. Xin trích dẫn sau đây một đoạn trong bài viết của Léo Podès về Nguyễn Ái Quốc, vở kịch Con Rồng tre và về Câu lạc bộ Faubourg, đăng trên tuần báo “Paris, số 53”, ngày 11, 12-6-1946. Câu chuyện nhẹ nhàng đưa chúng ta về với những sự kiện xảy ra từ nhiều năm trước như đi vào thế giới cổ tích:

“Ngày xưa đúng thực là một câu chuyện cổ tích, có một bác thợ Việt Nam nghèo nàn, sống giản dị trên một căn gác thượng, trong ngõ hẻm Compoint, giữa một khu chen chúc toàn dân lao động. Tên bác ta là Nguyễn Ái Quốc, bác làm nghề rửa ảnh.

Một chiều kia, cách đây chừng 25 năm, hôm ấy có phiên họp các hội viên Câu lạc bộ Faubourg tại rạp hát Printanis, ở góc đại lộ Clichy và phố Richaud, bác Nguyễn Ái Quốc đã tới đây ngập ngừng hỏi tôi xem liệu bác dù là một kẻ lao động xoàng xĩnh, có thể được hân hạnh vào góp lời trong những cuộc thảo luận của những tay tài ba lỗi lạc, đã làm rạng rỡ văn đàn Câu lạc bộ Faubourg của chúng tôi được không.

Tôi bèn trả lời: “Ông chớ ngại điều đó. Với quan niệm chúng tôi, thì sự tự do phát biểu ý kiến, là của tất cả mọi người. Ý kiến xác đáng, hay ho của một người, dù người ấy chỉ là một người thợ, cũng được đặc biệt chú ý như những ý kiến của một vị Quốc trưởng.

Bác nhún vai, mỉm cười, nói: “Podès quý ngài à, tôi chỉ là nhà cách mạng, ngài ví tôi với những vị quốc trưởng, tôi xin đưa ngài xem đây tập bản thảo của tôi. Tuy chỉ là một người thợ ảnh nghèo nàn, nhưng tôi cũng có viết được một kịch bản, nhan đề bản kịch đó là “Con Rồng tre” (Le dragon de bambous) viết ra cốt là để công kích những vị Quốc trưởng.

Rồi ông tinh quái nói tiếp: “Chắc chắn là không ai dám đem diễn trên sân khấu đâu, ngay như ngài rồi ngài cũng đến quẳng vào sọt rác”. Nhưng ông Nguyễn đã nhầm”.

Léo Podès đã nhận xét về vở kịch Con Rồng tre như sau:

“Tôi đã đọc tập bản thảo, thật là hay, thật là đẹp, lời vừa trải chuốt gọn gàng, với những cái châm biếm dí dỏm của Aistophan 3 bản kịch này có đủ ưu điểm để mang lên sân khấu.

“Con Rồng tre” đầu đề kịch bản chỉ một vị Quốc trưởng Á-Đông, đớn hèn bất lực và ngu dốt, mà tác giả không hà tiện lời chế diễu một cách cay nghiệt, hóm hỉnh suốt trong ba hồi; khi ấy bản thân ông Nguyễn Ái Quốc không ngờ rằng bản kịch của mình đã bao lần chủ kịch bản từ chối không dám diễn mà lại được nhóm Faubourg chúng tôi nhiệt liệt hoan nghênh, và nhất là ông lại không ngờ rằng 25 năm sau người thợ ảnh ở ngõ hẻm Compoint, tác giả “Con Rồng tre”, lại trở thành một vị Quốc trưởng với cái tên mới Hồ Chí Minh, Chủ tịch nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, dùng cơm với tướng Leclerc, với Thượng sứ đô đốc D’ Argenlieu, cùng đi duyệt một đạo binh Pháp, và được nghênh tiếp chính thức bởi vị Chủ tịch Pháp ở Pari.”

Vở kịch Con Rồng tre viết về Vua bù nhìn Khải Định, vào dịp ông ta sang Pháp dự triển lãm thuộc địa. Vở kịch bị Chính phủ Pháp cấm, nhưng được Câu lạc bộ Faubourg đem diễn. Vở kịch này hiện chưa sưu tầm được, chúng ta chỉ biết tới nội dung kịch bản qua mấy dòng kể tóm tắt của Bác như sau: “Có những cây tre thân hình quằn quẹo. Những người chơi đồ cổ lấy về đẽo gọt thành con rồng. Nó là một đồ chơi. Là con rồng nhưng thật ra chỉ là một khúc tre. Là khúc tre, nhưng lại hãnh diện có tên và hình dáng con rồng. Tuy vậy nó chỉ là một quái vật vô dụng”. Khải Định chính là một ông vua vô dụng.

Léo Podès còn nhớ và viết khá chi tiết về những buổi sinh hoạt của Câu lạc bộ Faubourg mà Nguyễn Ái Quốc tham dự. Tờ báo Le Paria (Người cùng khổ), mà Nguyễn Ái Quốc là một trong những người sáng lập, ra số đầu tiên ngày 1-4-1922. Ngay trên trang nhất của số báo này có đăng thông báo về đề tài Sân khấu Việt Nam, do Nguyễn Ái Quốc trình bày trong chương trình sinh hoạt tháng 4-1922 của Câu lạc bộ Faubourg 4. Tài liệu của mật thám Pháp theo dõi hoạt động của Nguyễn Ái Quốc ở Pari cũng ghi lại những lần Nguyễn Ái Quốc đến dự sinh hoạt ở Câu lạc bộ Faubourg, trong đó có lần Nguyễn Ái Quốc phân phát cho những người dự sinh hoạt câu lạc bộ tờ Truyền đơn cổ động mua báo Le Paria 5.

Nguyễn Ái Quốc rời Pari, Thủ đô nước Pháp, sang Mátxcơva, Liên Xô một cách lặng lẽ và bí mật. Cũng như nhiều người bạn Pháp, ông chủ nhiệm Câu lạc bộ Faubourg cũng không biết là Nguyễn Ái Quốc đã đi đâu. Chỉ đến khi có tin về Pari, Nguyễn Ái Quốc đã bị chết trong nhà tù của đế quốc Anh ở Hông Kông, Léo Poldès đã viết đăng tin trên tờ Faubourg:

“Không phân biệt khuynh hướng khác nhau, hết thảy anh em chúng tôi đề lấy làm đau đớn khi hay tin ông Nguyễn Ái Quốc đã mệnh chung ở Hồng Kông”…

Tờ Faubourg ra ngày 1-7-1933 có trích đăng một bài sau: “Nói về Nguyễn Ái Quốc vị lãnh tụ Đảng Cộng sản”, tờ tạp chí Pháp – Việt có viết: “Ông không vắng mặt một buổi họp nào ở Câu lạc bộ Faubourg, ở đây ông ta đã từng đứng lên diễn thuyết trước mọi người. Ông ta đã viết báo. Người ta thường gặp ông hồi 6 giờ chiều ở những phòng trị sự các nhà báo. Ông mang lên đây những câu chuyện ngắn hay một tập truyện vì ông từng khảo cứu về văn nghệ, sau này ông hoàn toàn thiên về chính trị và ông đã thiết tha cống hiến cả một đời để phụng sự khuynh hướng ấy”. “Người chiến sĩ xấu số đã mệnh chung trong nhà giam. Người ta lại nhớ đến những cuộc họp ở Câu lạc bộ Faubourg, đến những lời nói thông minh hóm hỉnh trong buổi họp, đến bản kịch bất hủ của ông: “Con Rồng tre”. Hỡi các vị thần linh của cõi Á – Đông, các ngài hẵy săn sóc giữ gìn lấy linh hồn ông”.

Khi được biết Nguyễn Ái Quốc vẫn còn sống, trở lại Pari với tư cách khác, Léo Podès đã rất hóm hỉnh viết rằng: “Và những vị thần linh ấy đã giữ gìn linh hồn ông khỏe đến nỗi, ngày nay người thợ ảnh mày râu nhẵn nhụi kia đã sống lại giữa khuôn mặt đáng kính có thêm một nhúm râu dài của Cụ Hồ Chí Minh, Chủ tịch nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa”. Léo Podès nhắn gửi rằng: “Hồ Chí Minh đức ngài, mai đây từng dãy người xếp hàng một diễu qua chào mừng đức ngài trước điện Chamos D’ Elysé, bên cạnh ngài khi ấy là vị Chủ tịch lâm thời nước Cộng hòa Pháp. Chúng tôi thiết tha mong đức ngài nhớ lại cái hồi đầu tiên của đức ngài trong Câu lạc bộ Faubourg. Nhớ lại những vấn đề quỷ thần, sự tái sinh, và nhất là đức ngài hãy rủ lòng thương nhớ đến người thợ ảnh nhỏ bé ở ngõ Compoint khi xưa…6”.

Nguyễn Ái Quốc không thể quên những ngày Pari. Tháng 5-1946, khi đến nước Pháp với tư cách Chủ tịch nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, là thượng khách của Chính phủ Pháp, ngoài chương trình làm việc chính thức, gặp gỡ với Chính phủ Cộng hòa Pháp, Người dành nhiều thời gian tiếp xúc, gặp gỡ kiều bào, các nhà văn, nhà báo, bạn bè cũ. Và đương nhiên là Người đã gặp lại nhà văn Léo Poldès. Nhật ký bốn tháng sang Pháp của Chủ tịch Hồ Chí Minh ghi lại: Ngày 8-7-1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh tiếp vợ chồng nhà văn Poldès; Ngày 15-7-1946, vợ chồng nhà văn Poldès mời Người vê quê chơi, cách Pari chừng 30 cây số. Nhà ông Poldès, rừng bao bọc xung quanh. Thanh vắng mát mẻ. Cây tốt hoa thơm. Ăn cơm rồi, Cụ Chủ tịch kéo ghế nằm dưới gốc cây. Thật đúng là:

“Thảnh thơi vui thú yên hà,
Tùng là bạn cũ, hạc là người quen”.

Nhân dịp kỷ niệm 50 năm thành lập Câu lạc bộ Faubourg, ngày 1-5-1964, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã tặng ông Léo Poldès, Chủ tịch của câu lạc bộ Huy chương Hữu nghị của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa 7.

Những câu chuyện kể về những tình cảm của những người bạn Pháp đối với Chủ tịch Hồ Chí Minh, trong đó có ông Chủ nhiệm Câu lạc bộ Faubourg là những dấu ấn đặc biệt trong những năm tháng hoạt động cách mạng sôi nổi, oanh liệt của Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh ở Thủ đô Pari. Năm tháng qua đi, song tình cảm của những người bạn Pháp đối với Bác Hồ kính yêu của chúng ta, mà cũng là đối với cách mạng Việt Nam, mãi mãi được giữ gìn, trân trọng, góp phần củng cố và xây dựng tình hữu nghị giữa nhân dân hai nước hôm nay.

___________________________

1. Bác Hồ (hồi ký), In lần thứ hai, Nxb. Văn học, 1975, tr. 21.
2. Trần Dân Tiên: Những mẩu chuyện về đời hoạt động của Hồ Chủ tịch, Nxb. Sự thật, Hà Nội, 1975, tr.40.
3. Aistophan là thi sĩ Hy Lạp nổi tiếng về tài châm biếm hài hước, sống vào thế kỷ thứ 5 trước Tây lịch.
4. Báo lưu tại Bảo tàng Hồ Chí Minh
5. Báo cáo của mật thám Pháp, lưu Kho tư liệu BTHCM, ký hiệu: H20C11/7
6. Những đoạn in nghiêng trong bài đều được trích từ bài viết của Léo Podès.
7.Bút tích ghi lại sự kiện này lưu tại Bảo tàng Hồ Chí Minh.

Theo Phạm Thị Lai

hochiminhhoc.com

Kỷ vật của Bác Hồ – Kỳ cuối

Hành trình của người phụ nữ Mỹ

TT – Người phụ nữ Mỹ này tận tụy gõ từng cánh cửa các sứ quán, bảo tàng, trung tâm lưu trữ của nhiều quốc gia trên thế giới để tìm kiếm tư liệu về Chủ tịch Hồ Chí Minh. Lady Borton không nhớ rõ bao nhiêu cánh cửa đã mở rộng và bao nhiêu cánh cửa khép chặt khi bà tìm đến. Với Lady Borton, Việt Nam và Chủ tịch Hồ Chí Minh là duyên nợ, là tình yêu lớn của cuộc đời bà.

Bìa cuốn sách viết về Chủ tịch Hồ Chí Minh của Lady Borton – Ảnh: Hà Hương

>> Kỳ 1: Cảm xúc từ ngõ Compoint
>> Kỳ 2: 1.000 ngày trên đất Thái

Tìm Nguyễn Ái Quốc ở Hong Kong

Lady Borton sinh năm 1942 tại Washington DC (Mỹ). Bà đến Việt Nam trước năm 1975 và tham gia các hoạt động nhân đạo của Tổ chức Quaker (trung tâm tái định cư) tại Quảng Ngãi. Lady Borton nói được tiếng Việt, bà sống và làm việc tại Việt Nam từ năm 1978 với tư cách nhà nghiên cứu, nhà văn, nhà hoạt động từ thiện. Những cuốn sách Lady Borton đã viết: Phía sau nỗi buồn (kể về số phận những phụ nữ Việt Nam trong và sau hai cuộc kháng chiến), Hồ Chí Minh – một chân dung (viết chung với C.David Thomas), Hồ Chí Minh – một hành trình…

“Các bạn luôn tin tưởng một cách tuyệt đối vào thông tin về cuộc đời Hồ Chí Minh. Nhưng một số học giả phương Tây nghi ngờ điều đó, đặc biệt họ đặt nhiều câu hỏi về quãng thời gian Hồ Chí Minh ở nước ngoài. Tôi lần theo hành trình của Hồ Chí Minh và tôi muốn chứng minh những lời kể của Hồ Chí Minh bằng tư liệu và dẫn chứng lịch sử” – Lady Borton mở đầu chuyện kể về những hành trình “theo chân” Hồ Chí Minh của mình như vậy.

Cuộc tìm kiếm thầm lặng của Lady Borton kéo dài ròng rã hàng năm trời. Bà bắt đầu tìm kiếm tư liệu về vụ án Nguyễn Ái Quốc ở Hong Kong từ kho lưu trữ tòa án, bộ ngoại giao của Anh, Pháp và tất nhiên là ở Hong Kong. Bà nói: “điều tôi luôn băn khoăn là người Pháp, người Anh lúc đó họ nghĩ gì và đánh giá ra sao về Nguyễn Ái Quốc. Những tư liệu về phiên tòa này ở hai bên hẳn ẩn chứa nhiều bất ngờ”.

“Điều thú vị là ngay trang đầu của tập hồ sơ dài 250 trang, người Anh đánh dấu hỏi rất lớn: Nguyễn Ái Quốc là ai? Người Pháp nói với họ rằng Nguyễn Ái Quốc là cộng sản nhưng theo luật Anh, cộng sản cũng có quyền. Họ chỉ quan tâm một điều duy nhất là người thanh niên này chống lại thống đốc Hong Kong. Và chắc họ cũng muốn biết tại sao người Pháp lại sốt sắng bắt người này đến vậy” – Lady Borton kể.

Đàm Thư, một người bạn Việt Nam, đã giúp Lady tìm kiếm tư liệu ở Pháp. Lady hài hước kể: “Chúng tôi gặp một tình huống ngang trái, tôi biết cách tìm nhưng không biết tiếng Pháp, lại là người Mỹ nên không được lên kho lưu trữ. Còn Đàm Thư biết tiếng Pháp, được phép vào nhưng không biết cách tìm”. Cuối cùng khi tìm thấy thì Lady gặp rắc rối lớn là những tài liệu đó chưa đến hạn giải mã. Số tài liệu này sau đó được photocopy và chuyển về Việt Nam thông qua con đường ngoại giao.

“Những tư liệu cho thấy Anh – Pháp tranh cãi với nhau khá gay gắt về Nguyễn Ái Quốc” – Lady Borton khẳng định.

Bà Lady Borton – Ảnh: Hà Hương

Tình yêu của Lady

“Năm 1954 tôi 12 tuổi, chiến dịch Điện Biên Phủ kết thúc. Trên tờ báo của trẻ con ở Mỹ có đăng một hình minh họa và kèm theo những lời hù dọa: cộng sản sẽ ăn cắp thế giới. Lúc đó tôi sợ Việt Nam, sợ cả Hồ Chí Minh” – Lady Borton bật cười nhớ lại lần đầu nghe những cái tên đầy duyên nợ với bà.

Nỗi sợ hãi vì những lời hù dọa trẻ con đó nhanh chóng biến mất, thay vào đó là một tình yêu lớn đối với Việt Nam và Chủ tịch Hồ Chí Minh. Lady Borton kể chuyện với ánh mắt lấp lánh: năm 1965 người Mỹ nói nhiều đến Việt Nam và Hồ Chí Minh, trên phố mọi người biểu tình phản đối chiến tranh. Vào thập niên 1960, Lady nhớ tên Việt Nam – Hồ Chí Minh còn nhiều hơn cả tên của những ngôi sao ca nhạc cùng thời.

“Tôi gặp Đàm Thư – một phụ nữ Hà Nội đã sống qua những năm tháng chiến tranh và gian khó. Đàm Thư kể cho tôi về ngày Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc Tuyên ngôn độc lập 2-9-1945 tại quảng trường Ba Đình. Đó là Việt Nam qua con mắt của một cô bé 10 tuổi. Đàm Thư kể rằng mọi người đều muốn đổ ra đường, nhưng gia đình nào cũng có một người ở nhà để thắp hương cho những người đi xa báo rằng nước mình đã độc lập. Đàm Thư cũng kể về Tết Trung thu 1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh đến nói chuyện với trẻ em. Người nói rằng: các cháu là dân của một nước độc lập. Có lẽ chính những câu chuyện nhỏ của Đàm Thư đã tiếp thêm tình yêu của tôi với Việt Nam và Hồ Chí Minh. Và tôi bắt đầu nghiên cứu sâu về Hồ Chí Minh từ đó” – Lady kể về mối duyên của mình như vậy.

Mùa hè này Lady Borton sẽ về Mỹ để tiếp tục cuộc tìm kiếm mới của mình, đó là những tư liệu về thời gian Chủ tịch Hồ Chí Minh ở Mỹ năm 1913. Bà chia sẻ: “Tôi nghĩ bản thân Hồ Chí Minh biết cách mạng Mỹ hoàn toàn không phù hợp với Việt Nam. Tại sao nước Mỹ lại giữ chân Hồ Chí Minh lâu đến vậy? Có thể ở Boston, Người đã tiếp xúc với phong trào đấu tranh của người da đen và đọc bản yêu sách do William Monroe Trotter (một người Mỹ da đen đã tốt nghiệp Đại học Harvard) viết, kèm chữ ký của 200.000 người gửi tổng thống Thomas Woodrow Wilson.

Hơn nữa, tôi nhớ một nhà báo nước ngoài từng nói những tháng năm ở Mỹ sẽ ảnh hưởng rất lớn cách nhìn và các quyết sách của Hồ Chí Minh khi Mỹ tham chiến ở Việt Nam. Cho nên việc Hồ Chí Minh đã đi đâu, tiếp xúc với ai trong năm 1913 sẽ là những thông tin quan trọng để giải mã thêm giai đoạn đầu ra đi tìm đường cứu nước của Người”.

Cuộc “theo chân” chàng trai Nguyễn Ái Quốc có đôi mắt sáng ở Mỹ của Lady Borton đã bắt đầu từ vài năm nay. Với bà, khi cánh cửa này đóng lại cũng có nghĩa là cánh cửa khác mở ra, và hành trình tìm kiếm những “miếng ghép” của cuộc đời Chủ tịch Hồ Chí Minh chưa bao giờ dừng lại.

HÀ HƯƠNG

tuoitre.vn

Hồ Chủ tịch và sự bình đẳng của phái nữ

“Mỗi một người và tất cả phụ nữ phải hăng hái nhận lấy trách nhiệm của người làm chủ đất nước, tức là phải ra sức thi đua tăng gia sản xuất và thực hành tiết kiệm để xây dựng nước nhà, xây dựng chủ nghĩa xã hội”. (Hồ Chí Minh)

Nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa được thành lập đã đánh dấu một bước chuyển biến cơ bản trong đời sống của người phụ nữ. Từ nay chị em thực sự trở thành người làm chủ đất nước, làm chủ vận mệnh mình cùng nam giới chung lo bảo vệ và xây dựng Tổ quốc. Như vậy, họ đã bình đẳng với nam giới trên cả hai mặt: Nghĩa vụ và quyền lợi.

Cuộc đấu tranh thực hiện quyền bình đẳng nam nữ

Tháng 10-1946 bản Hiến pháp đầu tiên của nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa chính thức được ban hành, quyền bình đẳng giữa nam và nữ được công nhận. Hồ Chủ tịch nói: “Bản Hiến pháp đó tuyên bố với thế giới: Dân tộc Việt Nam đã có đủ mọi quyền tự do. Hiến pháp đó tuyên bố với thế giới phụ nữ Việt Nam đã đứng ngang hàng với đàn ông để hưởng mọi quyền công dân”.

Khi quyền nam nữ bình đẳng được công bố và thừa nhận, có người lầm tưởng rằng việc giải phóng phụ nữ như vậy đã được giải quyết, do đó thi hành luật pháp có thể là dễ dàng, thuận lợi. Hồ Chủ tịch đã sáng suốt chỉ ra rằng, con đường đấu tranh để thực hiện quyền bình đẳng thật sự cho phụ nữ khó khăn và lâu dài.

“Nhiều người lầm tưởng đó là việc dễ chỉ: hôm nay anh nấu cơm, rửa bát, quét nhà, hôm sau em quét nhà, nấu cơm, rửa bát, thế là bình đẳng, bình quyền. Lầm to!

Đó là một cuộc cách mạng to và khó”.

Vì vấn đề giải phóng phụ nữ là một vấn đề xã hội to lớn đòi hỏi về mặt quan tâm của tất cả mọi người. Đây không chỉ là giải quyết những mâu thuẫn tranh chấp giữa hai giới nam và nữ, càng không phải là việc riêng của phụ nữ.

Hồ Chí Minh chỉ rõ: Muốn giải phóng người phụ nữ không chỉ thực hiện một sự phân công mới, bình đẳng giữa vợ và chồng trong những công việc gia đình, mà cái căn bản là phải có sự phân công, sắp xếp lại lao động của toàn xã hội,đưa phụ nữ tham gia vào nhiều ngành nghề như nam giới. Cần tổ chức lại đời sống công nông cũng như sinh hoạt gia đình để phụ nữ giảm nhẹ công việc bếp núc, chăm lo con cái, có điều kiện tham gia sản xuất, học tập nâng cao trình độ mọi mặt. Từ đó, chị em mới có đủ khả năng làm nhiều công việc chuyên môn và đảm nhiệm được những chức vụ công tác ngang hàng với nam giới. Đó là một cuộc cách mạng thực sự lớn.

“Vì không thể dùng vũ lực mà tranh đấu…vũ lực của cuộc cách mạng này là sự tiến bộ về chính trị, kinh tế, văn hóa, pháp luật. Phải cách mạng từng người, từng gia đình đến toàn dân. Dù to và khó phải nhất định thành công”.

Trước đây, dưới sự lãnh đạo của Đảng, phụ nữ đã cùng toàn dân đứng lên lật đổ chính quyềt đế quốc và phong kiến tay sai, giành lại độc lập, tự do và thiết lập chính quyền dân chủ nhân dân. Chính quyền mới do nhân dân lập ra, bảo đảm quyền tự do, dân chủ cho người lao động và bảo vệ quyền bình đẳng cho phụ nữ. Vì vậy, ngày nay chị em hết sức ủng hộ chính quyền cách mạng là lẽ tất nhiên.

Những muốn biến quyền bình đẳng giữa nam nữ, từ một luật lệ trở thành hiện thực sinh động trong cuộc sống, biến ý thức tôn trọng phụ nữ thành nếp sống đạo đức của mọi người thì đòi hỏi sự nỗ lực hết sức to lớn của toàn dân, của tất cả phụ nữ để xây dựng một xã hội mới, một kiểu người mới xã hội chủ nghĩa. Hồ Chủ tịch nêu rõ: Muốn thực hiện tốt quyền bình đẳng của phụ nữ phải có sự tiến bộ về kinh tế, chính trị, văn hóa, pháp luật của nước ta. Phụ nữ phải hi sinh xương máu, lao động gian khổ, góp phần đẩy mạnh sự phát triển công nghiệp và nông nghiệp, giáo dục và y tế, xây dựng một đất nước giàu mạnh, phồn vinh, một nền văn hóa, khoa học tiên tiến.

Đấu tranh giải phóng phụ nữ cũng là cuộc đấu tranh tư tưởng lâu dài, khó khăn để xóa bỏ những tư tưởng lạc hậu, bảo thủ còn tồn tại dai dẳng trong nhân dân ta.

“Vì trọng trai, khinh gái là một thói quen mấy nghìn năm để lại, vì nó ăn sâu trong đầu óc mọi người, mọi gia đình, mọi tầng lớp xã hội”

Chính từ những nhận định sáng suốt trên, khi nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa mới được thành lập, Hồ chủ tịch đã kêu gọi phụ nữ hăng hái cùng toàn dân tham gia ba phong trào cách mạng lớn là: Diệt giặc dốt, giặc đói và giặc xâm lăng.

Để khắc phục hậu quả ghê gớm do thực dân Pháp và phát xít Nhật để lại, Hồ Chủ tịch phát động phong trào toàn dân tăng gia sản xuất, thực hành tiết kiệm. Người đã nhắc nhở tất cả mọi người, trong đó lực lượng chính là phụ nữ thi đua sản xuất “tấc đất, tấc vàng” thực hành tiết kiệm để đảm bảo lương thực cho gia đình và đóng góp nuôi quân.

Suốt thời gian kháng chiến chống Pháp, phụ nữ Việt Nam đặc biệt là phụ nữ công nông, đã nhiệt liệt hưởng ứng lời Bác Hồ dạy. Đảm đang việc sản xuất, chăm lo việc gia đình để chồng con đi chiến đấu. Chị em hàng ngày còn chú ý tiết kiệm lương thực, lập ra những hũ gạo nuôi quân để tiếp tế cho bộ đội. Phụ nữ ra sức thâm canh, tăng năng suất, tăng sản lượng để làm nghĩa vụ bán thóc cho Nhà nước. Những hạt thóc vàng do mồ hôi công sức phụ nữ làm ra, đóng góp cho Tổ quốc để góp phần tạo nên chiến thắng thực dân Pháp và củng cố Nhà nước dân chủ nhân dân.

Về nhiệm vụ diệt giặc dốt, nhằm xóa bỏ tình trạng dốt nát của nhân dân ta do chính sách ngu dân của thực dân Pháp để lại, Hồ Chủ tịch rất quan tâm đến phụ nữ, Người đã khuyến khích chị em chịu khó học tập để có khả năng làm chủ đất nước đảm nhiệm những công việc như nam giới. Trong Lời kêu gọi chống nạn thất học tháng 10-1945, Người đã nói: “Mọi người Việt Nam phải hiểu hết quyền lợi của mình, bổn phận của mình, phải có kiến thức mới để có thể tham gia vào công cuộc xây dựng nước nhà và trước hết phải biết đọc, biết viết chữ quốc ngữ. Phụ nữ lại càng cần phải học, đã lâu chị em bị kìm hãm. Đây là lúc các chị em phải cố gắng để kịp nam giới, để xứng đáng mình là một phần tử trong nước, có quyền bầu và ứng cử”.

Người rất vui mừng khi thấy phong trào Bình dân học vụ, phụ nữ đã tham gia tích cực làm người dạy học cũng như làm học trò. Người đặc biệt khen ngợi các cụ bà ham học đã làm gương, khuyến khích cho thanh niên noi theo: “Nhiều cụ, tuy tuổi tác đã cao, vẫn cố gắng học chữ, học làm tính. Thật là đáng kính, đáng quý”.

Hồ Chủ tịch đã đánh giá cao vai trò của phụ nữ trong cuộc trường kỳ kháng chiến chống đế quốc Pháp, người động viên chị em phát huy truyền thống chiến đấu dũng cảm của Bà trưng, Bà Triệu, Người tỏ lòng kính trọng các nữ liệt sĩ đã hy sinh cho Tổ quốc, luôn luôn gởi lời thăm hỏi các bà mẹ bộ đội, các gia đình liệt sĩ.

Trong bức thư gửi phụ nữ nhân dịp kỷ niệm Hai Bà Trưng và Quốc tế Phụ nữ 8-3-1952, Hồ Chủ tịch đã viết:

“Nhân dịp 8-3 tôi kính cẩn nghiêng mình trước linh hồn các nữ liệt sỹ đã hi sinh cho Tổ quốc. Tôi kính chúc các bà mẹ có con trong bộ đội và các bà mẹ cùng vợ con của các liệt sĩ. Trong cuộc kháng chiến to lớn của dân tộc, phụ nữ ta đang gánh một phần quan trọng”.

Người rất xúc động trước tinh thần yêu thương chiến sĩ của các bà, các cụ trong các Hội chiến sĩ ở các địa phương. Người tỏ lòng biết ơn và nhắc nhở các chiến sĩ phải hiếu với mẹ nuôi bằng cách giết giặc lập công.

Trong thư gửi các Hội mẹ chiến sĩ, Người viết: “Các chiến sĩ thì sẵn sàng hy sinh gia đình, hy sinh tính mệnh đi giết giặc cứu nước, bảo vệ đồng bào. Các cụ, các bà thì thương yêu săn sóc chiến sĩ như con cháu ruột thịt. Thế là các cụ, các bà cũng trực tiếp tham gia kháng chiến… Chẳng những các chiến sĩ mà tôi và Chính phủ cũng biết cảm ơn các cụ, các bà”.

Người động viên, ca ngợi tinh thần dũng cảm chiến đấu không quản nguy hiểm khó khăn của các nữ du kích, cũng như thành tích của hàng vạn phụ nữ Kinh, Tày, Nùng, Mán, Mèo, tạm gác việc nhà xung phong đi dân công, xông pha lửa đạn để giúp đỡ bộ đội trong mọi việc. Người nhắc đến câu chuyện nhỏ, nhưng có ý nghĩa rất to lớn: “Bà cụ Nam (Cao Bằng), 83 tuổi xung phong sửa đường. Cán bộ khuyên bà cụ nghỉ thì bà cụ nói: “Càng già càng phải giúp kháng chiến, sửa đường cho bộ đội đi cho mau, giết cho nhiều giặc, thắng cho nhiều trận”.

Sự hoạt động hăng hái của các tầng lớp phụ nữ khắp toàn quốc trên các mặt trận sản xuất, chiến đấu, văn hóa xã hội trong cuộc trường kỳ kháng chiến chống Pháp đã xứng đáng với lời ca ngợi của Hồ Chủ tịch:

Non sông gấm vóc Việt Nam, do phụ nữ ta trẻ cũng như già, ra sức dệt thêu mà thêm tốt đẹp, rực rỡ”.

Quá trình phụ nữ nước ta tham gia tích cực vào ba phong trào diệt giặc đói, giặc dốt, giặc xâm lăng cũng là quá trình chị em đứng lên làm chủ đất nước, làm chủ bản thân mình, phụ nữ ngày càng khẳng định rõ vai trò, khả năng của mình.

Cùng với sự phát triển của công cuộc kháng chiến và kiến quốc, quyền bình đẳng của phụ nữ trên nhiều mặt được dần dần thực hiện. Trong cải cách ruộng đất, phụ nữ nông dân đã được chia ruộng đất như nam giới; trong các xí nghiệp, cơ quan Nhà nước, phụ nữ làm việc ngày càng đông và được hưởng quyền lợi ngang hàng nam giới; trong các ngành y tế, văn hóa, giáo dục, khoa học phụ nữ được học tập, đào tạo bồi dưỡng rộng rãi, không có sự hạn chế nào ngăn cản việc phát triển tài năng của chị em. Nhưng cũng phải thấy rằng phụ nữ còn gặp nhiều khó khăn trong việc thực hiện quyền bình đẳng của chị em do trình độ phát triển chung của cách mạng Việt Nam.

Theo www.haugiang.gov.vn
Tâm Trang (st)

bqllang.gov.vn

Cố gắng giải phóng nhanh để Bác được vào thăm đồng bào miền Nam

“Cố gắng giải phóng nhanh để Bác được vào thăm đồng bào miền Nam”, đó là niềm mong ước, nỗi khát khao và cũng là điều trăn trở của Chủ tịch Hồ Chí Minh khi Người còn sống.

Sinh thời Bác Hồ luôn luôn dành cho cách mạng miền Nam và nhân dân miền Nam sự quan tâm và những tình cảm thân thương nhất, bởi đồng bào và chiến sĩ miền Nam là những người phải chịu nhiều đau khổ, hy sinh mất mát trong công cuộc chiến đấu giành độc lập, tự do cho dân tộc.

Hình ảnh Bác Hồ luôn luôn ở trong tình cảm của mỗi người dân miền Nam, dù họ đã được gặp hoặc chưa một lần gặp Bác. Những người con miền Nam – Thành đồng của Tổ quốc đã được gặp Bác sẽ không bao giờ quên được những giờ phút, những khoảnh khắc hiếm hoi khi được ở bên Người, nghe Người ân cần thăm hỏi, trò chuyện và dặn dò. Sự xúc động, những tình cảm đó đã để lại trong ký ức của họ những kỷ niệm sâu sắc, mãi mãi không bao giờ quên. Trong hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ nhân dân miền Nam đã kiên cường anh dũng chiến đấu để Tổ quốc sớm thống nhất, sớm được đón Bác vào thăm, thoả lòng mong ước của Người cũng như của toàn thể đồng bào miền Nam.

Ngày 3-10-1948, Bác tiếp đoàn đại biểu quân chính Nam Bộ do đồng chí Phạm Văn Bách dẫn đầu ra công tác và thăm Người tại chiến khu Việt Bắc. Các đại biểu Nam Bộ đã đem theo những tặng phẩm của nhân dân miền Nam gửi kính biếu Bác và Chính phủ, trong đó có bức họa vẽ bằng máu của họa sĩ Diệp Minh Châu. Bức họa vẽ hình Bác và ba em thiếu nhi tượng trưng ba miền Bắc – Trung – Nam vây quanh Bác. Khi xem bức họa, Bác rất xúc động.

Bác mong được vào miền Nam để thăm đồng bào và chiến sĩ. Ước mong đó luôn thường trực trong tâm trí của Người. Ngày 7 tháng 5 năm 1954, với chiến dịch lịch sử Điện Biên Phủ “vang dội năm châu”, quân và dân ta đã đánh thắng thực dân Pháp, giải phóng hoàn toàn miền Bắc. Tháng 9-1954, trong thư gửi bộ đội, cán bộ và gia đình cán bộ miền Nam ra Bắc, Chủ tịch Hồ Chí Minh viết: “Đến ngày hoà bình đã được củng cố, thống nhất được thực hiện, độc lập, dân chủ đã hoàn thành, đồng bào sẽ vui vẻ trở về quê cũ. Lúc đó rất có thể tôi sẽ cùng đồng bào vào thăm miền Nam yêu quý của chúng ta”1.

Bác cũng khẳng định: “Ngày nào mà chưa đuổi được đế quốc Mỹ ra khỏi miền Nam nước ta, chưa giải phóng miền Nam khỏi ách thống trị tàn bạo của Mỹ – Diệm, thì nhân dân ta vẫn chưa thể ăn ngon, ngủ yên”2.

Nguyện vọng vào thăm quân và dân miền Nam của Người chưa lúc nào nguôi. Năm 1963, trong một lần Bác mời Thượng tướng Trần Văn Trà đến ăn cơm chia tay trước khi ông lên đường vào Nam chiến đấu, Người đã tặng ông một hộp xì gà Cuba do Chủ tịch Phiđen Caxtrô gửi tặng. Bác nói:

“Bác gửi chú món quà này mang về cho anh em trong đó hút để nhớ Bác và nhớ đến Cuba anh em. Cố gắng giải phóng nhanh để Bác được vào thăm đồng bào miền Nam”3.

Vào tháng 2 năm 1966, tại ngôi Nhà sàn ở Phủ Chủ tịch, Bác nói với các đồng chí trong Bộ Chính trị: Đã bao lần tôi yêu cầu vào Nam, sao các chú không thu xếp cho tôi đi?… Sao các chú không để tôi đi… Bây giờ tôi còn đang khoẻ, đi lại thuận tiện … Không vào Nam Bộ được thì vào Khu V hay một vùng giải phóng nào đó cũng được… Các chú định lúc nào mới cho tôi đi? Tôi đề nghị mãi mà các chú vẫn cứ từ chối!”4.

Chính vì chưa một lần vào thăm đồng bào, cán bộ và chiến sĩ miền Nam, nên khi có các đoàn đại biểu của miền Nam ra Bắc dù là đi công tác, đi họp, học tập hay tham quan, chữa bệnh, các đồng chí đều sắp xếp để Bác gặp dù là ở chiến khu Việt Bắc hay giữa lòng Thủ đô Hà Nội.

Ngày 3-10-1948, Bác tiếp đoàn đại biểu quân chính Nam Bộ do đồng chí Phạm Văn Bách dẫn đầu ra công tác và thăm Người tại chiến khu Việt Bắc. Các đại biểu Nam Bộ đã đem theo những tặng phẩm của nhân dân miền Nam gửi kính biếu Bác và Chính phủ, trong đó có bức họa vẽ bằng máu của họa sĩ Diệp Minh Châu. Bức họa vẽ hình Bác và ba em thiếu nhi tượng trưng ba miền Bắc – Trung – Nam vây quanh Bác. Khi xem bức họa, Bác rất xúc động.

Đầu tháng 5-1961, Bác tiếp đồng chí Bông Văn Dĩa từ miền Nam ra nhận nhiệm vụ lái con tàu mở đường Hồ Chí Minh trên biển. Tiếp đó, Người tiếp đồng chí Võ Bẩm, Đoàn trưởng Đoàn vận tải quân sự 559 và căn dặn: Đoàn phải làm tốt, làm nhiều hơn nữa, phải giữ được bí mật, bất ngờ, hoàn thành tốt nhiệm vụ tiếp sức cho cách mạng miền Nam.

Ngày 20-10-1962, lần đầu tiên Đoàn đại biểu Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam ra thăm miền Bắc, xúc động ôm hôn Giáo sư Nguyễn Văn Hiếu, Bác đã đặt tay lên ngực mình và nói: “Hình ảnh miền Nam yêu quí luôn luôn ở trong trái tim tôi”.

Tại Hà Nội, nhớ tới đồng bào miền Nam đang ngày đêm chiến đấu, Bác đến thăm Phái đoàn đại diện thường trực của Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam. Người tiếp các đoàn đại biểu miền Nam ra thăm miền Bắc, tiếp các anh hùng và chiến sĩ thi đua các lực lượng vũ trang giải phóng miền Nam, các cháu thiếu nhi dũng sĩ miền Nam. Người thăm Triển lãm tranh tượng của các họa sĩ điêu khắc miền Nam tập kết ở miền Bắc, gửi thư cho các cán bộ và học sinh trường miền Nam, thăm nơi an dưỡng dành cho đồng bào miền Nam, thăm trại thiếu nhi miền Nam…

Đoàn đại biểu cuối cùng của miền Nam được gặp Bác trước lúc Người đi xa là Đoàn đại biểu Liên minh các lực lượng dân tộc, dân chủ và hoà bình miền Nam do luật sư Trịnh Đình Thảo làm Chủ tịch dẫn đầu ra thăm miền Bắc. Ngày 5 tháng 8 năm 1969, ngày thứ hai trên đất Bắc, đoàn đã vô cùng xúc động và vui mừng khi được đón Bác và Thủ tướng Phạm Văn Đồng tới thăm ngay tại nơi nghỉ của đoàn ở Hà Nội. Tình cảm và sự quan tâm sâu sắc của Bác đã động viên tinh thần rất lớn và góp phần vào những chiến công của quân và dân miền Nam.

Trong kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ, quân và dân miền Nam đã chiến đấu kiên cường, giành được nhiều thắng lợi to lớn. Chủ tịch Hồ Chí Minh cùng các đồng chí lãnh đạo Đảng và Nhà nước tập trung sức lực, trí tuệ chỉ đạo sự nghiệp giải phóng miền Nam, theo dõi sát sao tình hình chiến sự đang diễn ra hàng ngày hàng giờ trên chiến trường miền Nam. Người chú trọng đặc biệt tới việc chi viện cho cách mạng miền Nam. Người tin rằng với tinh thần đoàn kết, bền bỉ, anh dũng trong chiến đấu và quyết thắng của nhân dân miền Nam, với những kinh nghiệm chiến đấu trong gần 20 năm, được nhân dân yêu chuộng hoà bình trên thế giới đồng tình và ủng hộ, nhân dân miền Nam sẽ nhất định sẽ thắng lợi. Người gửi thư chúc mừng khi được tin đồng bào miền Nam đã đạt nhiều thành tích trong chiến đấu, động viên quân và dân miền Nam cố gắng hơn nữa: “Đầu Xuân năm nay, quân và dân miền Nam anh hùng đã tiến công địch liên tục, đều khắp, đánh rất giỏi, thắng rất to.

Bác rất vui lòng gửi đến các cô, các chú lời khen nhiệt liệt nhất, thân ái nhất. Giặc Mỹ đã thua nặng. Nhưng chúng vẫn chưa bỏ dã tâm xâm lược, chưa chịu rút quân ra khỏi nước ta. Vậy ta phải tiếp tục đánh mạnh, đánh đau, đánh cho đến khi Mỹ, ngụy thất bại hoàn toàn, cho đến khi miền Nam hoàn toàn giải phóng”5.

Ngày 8 tháng 5 năm 1963, tại kỳ họp thứ sáu, Quốc hội khoá II, Bác từ chối nhận Huân chương Sao vàng và đề nghị: “Chờ đến ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng, Tổ quốc hoà bình thống nhất, Bắc – Nam sum họp một nhà, Quốc hội sẽ cho phép đồng bào miền Nam trao cho tôi Huân chương cao quý. Như vậy thì toàn dân ta sẽ sung sướng, vui mừng”6.

Ngày 10 tháng 3 năm 1968, trong thư gửi đồng chí Lê Duẩn – Bí thư thứ nhất Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Bác nói rõ ý định, nêu cách đi, thời gian và lịch trình cho chuyến đi vào miền Nam của mình. Đọc bức thư của Người chúng ta rất xúc động vì lúc này tuổi của Bác đã cao, sức khoẻ đã yếu đi nhiều:

“Nhớ lại hồi Nôen năm ngoái, Chú có khuyên B.7 đi thăm miền Nam sau ngày ta thắng lợi hoàn toàn, B. rất tán thành.

Nhưng nay chỉ đổi chữ “sau” thành chữ trước ngày thắng lợi hoàn toàn, tức là đi thăm khi anh em trỏng 8 đang chuẩn bị mở màn thứ ba. Đi thăm đúng lúc đó mới có tác dụng khuyến khích thêm anh em…

Có lẽ Chú và đồng chí khác e rằng sức khoẻ của B. không cho phép B. đi chơi xa. Nhưng, thay đổi không khí, hô hấp gió biển và sinh hoạt với quần chúng trong hoàn cảnh chiến đấu sẽ giúp sức khoẻ tiến bộ mau hơn…”9.

Bước sang năm 1969, Bác đã 79 tuổi, cái tuổi “xưa nay hiếm” nhưng khi gặp các đồng chí Phạm Hùng và Hoàng Văn Thái từ miền Nam ra Bắc họp (tháng 3-1969), Bác vẫn nhắc tới việc thu xếp để Người vào Nam. Trước khi hai đồng chí trở lại chiến trường, Bác hỏi: Các chú có thể chuẩn bị cho Bác sớm vào thăm đồng bào miền Nam được không?10. Đồng chí Hoàng Văn Thái và đồng chí Phạm Hùng đã xúc động thưa: Chúng cháu nhất định hoàn thành nhiệm vụ để sớm rước Bác vào Nam. Bác nói: Hai chú cho Bác gửi lời thăm hỏi đồng bào miền Nam, thăm cán bộ dân chính Đảng, thăm cán bộ và chiến sĩ trong quân đội. Các chú phải nhớ chuyển lời này cho Bác. Đó là những tình cảm mà Bác dành cho nhân dân miền Nam. Tiếc rằng nguyện vọng đó chưa một lần thực hiện được thì Bác đã đi xa.

Ngày 30 tháng 4 năm 2009, một ngày lễ lớn của dân tộc – ngày Đại thắng mùa Xuân, đã tròn 34 năm đất nước ta vui niềm vui thống nhất, non sông thu về một mối. Mỗi khi tới ngày này chúng ta càng nhớ tới Bác Hồ muôn vàn kính yêu, nhớ tới một con người mà trong nhiều năm không lúc nào nguôi ngoai ước nguyện là được vào thăm đồng bào và chiến sĩ miền Nam yêu quý./.

——————————————

1. Hồ Chí Minh Toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2000, t.7, tr.356
2- Hồ Chí Minh Toàn tập, Sđd, t. 10, tr. 200.
3- Kim Dung, Chí Thắng, Việt Hải: Bác Hồ với các tướng lĩnh, Nxb. Thanh Niên, Hà Nội, 2000, tr. 23.
4- Bác Hồ với các tướng lĩnh, Sđd, tr. 30.
5- Hồ Chí Minh Toàn tập, Sđd, t. 12, tr. 450.
6- Hồ Chí Minh Toàn tập, Sđd, t. 11, tr. 62.
7- B. là Bác.
8- Anh em trong ấy (cách gọi lối miền Nam).
9- Hồ Chí Minh Toàn tập, Sđd, t. 12, tr. 337.
10- Bác Hồ với các tướng lĩnh, Sđd, tr. 29.

baotanghochiminh.vn

Về công việc giữ gìn Thi hài Chủ tịch Hồ Chí Minh tại Việt Nam

Những ngày cuối tháng 8 năm 1969, Viện trưởng Viện Khoa học giữ gìn thi hài Lê-nin, X.X. Đê-bốp gọi điện và thông báo rằng: Chính phủ quyết định tôi phải bay gấp sang Hà Nội. Tôi không hỏi gì và hiểu không cần giải thích qua điện thoại những điều bí mật, việc ướp sắp tới (hoặc như chúng tôi thường gọi là “công việc”) rõ ràng liên quan đến Chủ tịch Hồ Chí Minh, mặc dù chưa có một thông báo nào về cái chết của Người.

Lúc đó, tôi là Hiệu trưởng Trường Đại học y khoa Mat-xcơ-va số 2. Tôi cũng đã ký tất cả lệnh triệu tập các sinh viên mới năm thứ nhất. Vợ và các con tôi khoẻ mạnh và tôi thực sự vui mừng vì được rời Mat-xcơ-va, khỏi phải chịu sự quấy rầy của những người khách, những sinh viên thi không đỗ và các nhà báo; khỏi những tiếng chuông đánh thức sớm; cuối cùng là thoát khỏi những mệt mỏi đã tích luỹ. Ngày hôm sau, một nhóm gồm 5 người, trong đó có tôi và các nhà khoa học X.X. Đê-bốp, Iu.A. Khô-rô-xcốp, I.N. Mi-khai-lốp và người trợ thủ tin cậy của ông, lên chiếc máy bay IL-62. Máy bay bay theo lộ trình đến Ta-sken. Ở Ta-sken rất nóng, chúng tôi nghỉ trong một khách sạn lớn nhưng ồn ào, với những chiếc quạt quay uể oải. Sau một giờ (hoặc hơn một chút) chúng tôi ra máy bay, bay tiếp qua những ngọn núi phủ tuyết trắng nhìn thấy qua cửa kính. Không lâu sau đó,máy bay hạ cánh xuống Cal-cút-ta, và cuối cùng chúng tôi xuống sân bay ở Hà Nội.

Khi rời khỏi máy bay, chúng tôi ngập chìm trong cái nóng ẩm ướt, khó thở, giống như trong nhà tắm hơi nóng rực. Các bạn Việt Nam nhanh chóng đưa chúng tôi lên ô tô, đi vào một phố và rồi đưa chúng tôi vào một ngôi nhà hai tầng mầu trắng dễ chịu được xây từ thời thực dân Pháp. Ở đó, sau bữa ăn tối giản dị chúng tôi thu xếp đi ngủ trong những căn phòng với những chiếc giường rộng rãi, giường được phủ vải có riềm mỏng. Trên trần là những chiếc quạt phả ra không khí nóng và hình như đậm đặc hơn. Chúng tôi sống trong ngôi nhà này một vài ngày và thường xuyên có người bảo vệ. Chỉ đến chiều tối, khi phố sá đã vắng, các bạn Việt Nam mới đưa chúng tôi đi dạo chơi trên phố, đi bộ xung quanh một chiếc hồ nhỏ bao quanh là công viên thú.

Ngày mồng 1 tháng 9, chúng tôi được biết tình trạng sức khoẻ của Chủ tịch Hồ Chí Minh đã rất xấu, và chúng tôi cần sẵn sàng chuẩn bị cho “công việc”.

Chiều ngày mồng 2 tháng 9, chúng tôi tới phòng thí nghiệm đặc biệt của quân y viện. Ở đó đã chuẩn bị áo choàng, dụng cụ cho công việc và các dung dịch cố định, dung dịch ướp cần thiết chuyển từ Mat-xcơ-va đến. Lúc đó, thi hài Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ở đây.

Tôi đảm nhận phần kỹ thuật. X.X. Đê-bốp nói nhỏ với tôi: “Nào, bắt đầu đi!”. Tôi ngắm nhìn thi hài Chủ tịch Hồ Chí Minh, một cơ thể hơi gầy, tầm thước, cơ bắp nở nang. Thi hài còn ấm (do trong những ngày này thời tiết nóng, và còn vì thời gian Người mất chưa lâu). Cơ chân tay phát triển không quá lớn, da nhẵn mầu bánh mật, cơ thành bụng nổi rõ; bàn tay nhỏ với những ngón tay dài và móng tay hình ô-van thanh tao. Khuôn mặt với hai gò má cao điển hình của người châu Á và của nhà trí thức. Trên da mặt ở một số nơi, đặc biệt là vùng trán, thái dương có những nốt sắc tố sẫm mầu không lớn do sắc tố hoá ở người già. Ổ mắt hơi sập; môi khép lại có đường viền ngoài rõ như mỉm cười, biểu hiện sự bình yên vĩnh cửu. Trán cao rộng, tóc thưa chải về phía sau; râu dài hơi uốn cong, xen lẫn những sợi bạc và sẫm mầu. Da ở vùng chân phía mặt trong dưới xương bánh chè thấy rõ những vết kim. Sau này tôi được biết là trước khi Người trút hơi thở cuối cùng, các chuyên gia Trung Quốc đã đưa kim châm vào các huyệt gọi là “các huyệt của sự sống”.

*
*    *

Thấm thoắt đã 30 năm kể từ ngày tôi và các đồng nghiệp nhận nhiệm vụ giữ gìn thi hài Chủ tịch Hồ Chí Minh, tôi được mời trở lại Việt Nam. Tôi rất muốn thăm những nơi quê hương thân thương của Hồ Chí Minh, làm quen với các tư liệu ở Bảo tàng mang tên Người cách Lăng không xa, và chủ yếu là xem xét thành quả giữ gìn thi hài Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Trước tiên đến thăm Bảo tàng tráng lệ, tôi gặp những người mến khách và dễ thương. Tôi không thể gặp Thư ký riêng của Chủ tịch Hồ Chí Minh, vì lúc đó ông đang điều trị trong bệnh viện. Những người chủ nhà mến khách đã làm tất cả để tôi tham quan, nghỉ ngơi tại Việt Nam.

Tuy nhiên, điều quan trọng và vui mừng mà tôi mong muốn khi đến Việt Nam, tất cả đã đạt được. Tôi có cơ hội tham quan các nơi: đầu tiên là ở phòng viếng, sau đó là ở phòng thí nghiệm quan sát và đánh giá kỹ trạng thái thi hài. Thật tuyệt vời! Sau 30 năm, diện mạo thi hài Chủ tịch Hồ Chí Minh không có gì thay đổi: cả khuôn mặt bình yên và bàn tay đẹp của Người. Thể tích và hình dáng các phần mềm không thay đổi.

Tất cả những năm đó tôi không sang Việt Nam. Các đồng nghiệp ở Viện Khoa học giữ gìn thi hài Lê-nin như: Iu.A. Rô-ma-cốp, Iu.I. Đê-nhi-xốp Nhi-kôn-xki, L.Đ. Giê-rép-xốp, X.V. Tô-ma-sê-vích và những người đã mất như: X.X. Đê-bốp, I.N. Mi-khai-lốp, B. I. Khô-mu-tốp luôn sát cánh cùng với các chuyên gia Việt Nam khắc phục những khó khăn trong điều kiện chiến tranh, khí hậu nhiệt đới, xây dựng Lăng kéo dài…luôn bảo đảm thông số nhiệt, ẩm, tiến hành làm thuốc thường xuyên, nên thi hài Chủ tịch Hồ Chí Minh được giữ gìn rất tốt. Không một thi hài nào đã ướp trước đây, trong đó cả V.I. Lê-nin, G.M. Đi-mi-tơ-rốp… được giữ gìn trong trạng thái lý tưởng như vậy.

Rất tiếc, tôi không gặp được các bác sĩ Nguyễn Gia Quyền và bác sĩ Lê Ngọc Mẫn, những người Việt Nam đã cùng với chúng tôi tham gia giữ gìn thi hài Chủ tịch Hồ Chí Minh từ những ngày đầu: bác sĩ Quyền đã mất, bác sĩ Mẫn đang ốm nặng.

Cần nhận thấy rằng, những gì liên quan đến thi hài Chủ tịch Hồ Chí Minh ở Việt Nam quả thật là thiêng liêng. Lời dạy của Người: “Không có gì quý hơn độc lập, tự do” được viết bằng những chữ vàng, trang trọng trên tường tiền sảnh của Lăng.

Khi đề cập đến đất nước chúng ta (Liên bang Nga), đến sự giúp đỡ của các nhà khoa học, các kỹ sư, các chuyên gia quân sự… trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam, người Việt Nam luôn nhớ đến câu nói mà Chủ tịch Hồ Chí Minh thường hay nhắc nhở: “Uống nước nhớ nguồn”.

IU. M. LÔ – PU – KHIN
Nguyên Hiệu trưởng Trường Đại học Y khoa Mát – xcơ – va số 2
Người dịch: Đại tá LẠI VĂN HOÀ – Viện trưởng Viện 69

bqllang.gov.vn

Một ngày và mãi mãi

Ngày mồng một Tết Kỷ Dậu (1969), Bác dành chuyến xuất hành đầu năm cho bộ đội Phòng không – Không quân. Bác hiểu rằng: Tới đây, bộ đội Phòng không – Không quân phải đương đầu với Không lực Hoa Kỳ – một lực lượng không quân hùng hậu và hiếu chiến bậc nhất thế giới.

Tháp tùng Bác đi chúc Tết bộ đội, tôi luôn trong trạng thái xúc động, nhói đau con tim. Tôi nhận ra một điều có ý nghĩa hết sức quan trọng là: Sức khoẻ của Bác đã giảm sút nhiều. Hoà cùng vào niềm vui của bộ đội, tôi vẫn muốn nói to lên với các đồng chí của mình: “Các đồng chí ơi, sức khỏe của Bác không tốt lắm. Bác gắng gượng để đến với anh em ta đấy”. Nhưng tôi không được phép làm như vậy. Bác không được khoẻ, thế mà tiếng nói của Bác vẫn ấm áp, nụ cười của Bác khi gặp chiến sỹ thật hiền hậu, tin yêu. Những gương mặt ngời sáng kính trọng, tự hào của bộ đội Phòng không- Không quân càng làm cho Bác vui. Lúc ấy, không ai nghĩ rằng: Đây là lần cuối cùng mọi người được gặp Bác. Trong tôi trào dâng một xúc cảm bồi hồi. Tôi nghẹn giọng, nuốt nước mắt.

Sau khi thăm bộ đội Phòng không – Không quân, Bác đi thăm và chúc Tết nhân dân huyện Bất Bạt, Hà Tây. Tới làng Vật Lại Anh hùng, Bác dừng chân nghỉ trên đồi Vật Lại ngắm nhìn núi Tản Viên, Bác như thấy lòng thư thái trước cảnh non xanh, nước biếc… Bác đã trồng cây đa trên đồi Vật Lại. Cây đa ấy đến nay vẫn toả bóng mát như nhắc nhở các thế hệ cháu con phải có trách nhiệm bảo vệ thiên nhiên.

Dịp sinh nhật Bác năm 1969, trong một buổi gặp mặt với các tướng lĩnh, chỉ huy, lãnh đạo các cơ quan Bộ Quốc phòng, quân khu, quân binh chủng dự hội nghị quân chính toàn quân, tại phòng họp của Phủ Thủ tướng. Buổi gặp mặt có Bác, các đồng chí Lê Duẩn, Trường Chinh, Võ Nguyên Giáp, Văn Tiến Dũng, Song Hào… Bác nói chuyện, động viên, nhắc nhở cán bộ dự hội nghị. Đồng chí Vương Thừa Vũ thay mặt cho các tướng lĩnh, cán bộ cao cấp toàn quân kính chúc sức khỏe Bác và tặng hoa chúc mừng nhân ngày sinh của Bác. Bác tặng lại các đại biểu và chúc các đại biểu sau hội nghị về cần cố gắng hơn nữa, có nhiều hoa chiến công hơn nữa.

Sau buổi gặp gỡ này, các bác sĩ chăm sóc sức khỏe cho Bác vô cùng lo lắng, báo cáo với Bộ Chính trị rằng Bác đã có dấu hiệu nhồi máu cơ tim. Bộ Chính trị quyết định mời bác sĩ Trung Quốc sang chữa bệnh cho Bác. Từ tháng 8 năm 1969 sức khoẻ của Bác ngày càng xấu đi.

Ngày 12 tháng 8 năm 1969, trong khi trời nổi cơn giông, nhưng nghe tin phái đoàn ngoại giao ta ở Pa-ri vừa về nước, Bác lập tức tới nhà nghỉ Hồ Tây thăm anh em trong đoàn. Bác tới để nghe tình hình và động viên tinh thần anh em trong cuộc đấu tranh trên bàn hội nghị; sau đó Bác lại đi thăm, kiểm tra công tác bảo vệ đê điều chống bão lụt của Hà Nội.

Khi về, Bác bị cảm lạnh. Ngày hôm sau, Bác ho nhiều. Ngày 23 tháng 8 năm 1969, bác sĩ phải dùng thuốc kháng sinh tiêm cho Bác và làm điện tim, thấy có dấu hiệu nhồi máu cơ tim.

Ngày 28 tháng 8 năm 1969, tim Bác có dấu hiệu loạn nhịp và rối loạn phần tuyến nhĩ thất.

Trước tình hình sức khỏe của Bác ngày càng có nhiều dấu hiệu xấu, trung tuần tháng 8 năm 1969, Quân ủy Trung ương ra quyết định thành lập Ban chỉ đạo công tác giữ gìn thi hài Bác gồm các đồng chí: Thiếu tướng Lê Quang Đạo, Uỷ viên Trung ương Đảng – Ủy viên Quân ủy Trung ương – Phó Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị – Trưởng ban; Thiếu tướng Phạm Ngọc Mậu – Phó chủ nhiệm Tổng cục Chính trị; Đại tá Phùng Thế Tài – Phó tổng Tham mưu trưởng; Đại tá Vũ Văn Cần – Phó chủ nhiệm Tổng cục Hậu cần – Cục trưởng Cục Quân y; Đại tá Trần Kinh Chi – Cục trưởng Cục Bảo vệ Quân đội.

Ban chỉ đạo phân công đồng chí Phùng Thế Tài làm Phó ban và tôi là ủy viên thường trực, điều hành mọi công việc cụ thể của Ban chỉ đạo. Căn cứ vào yêu cầu nhiệm vụ trong từng thời gian, Ban chỉ đạo đã huy động thêm lực lượng nhằm đáp ứng với tình hình ngày một khẩn trương.

Theo dõi từng giờ, từng ngày sức khỏe của Bác, chúng tôi biết thời điểm nghiệt ngã nhất đang đến gần. Ban chỉ đạo khẩn trương tiến hành kiểm tra mọi khâu trong công tác chuẩn bị; khẩn trương hoàn thành các công việc còn lại; đình chỉ mọi việc đi phép, đi học của cán bộ, chiến sĩ có liên quan đến nhiệm vụ. Cục Bảo vệ và Tiểu đoàn 144 tổ chức ngay một đoàn xe làm nhiệm vụ di chuyển thi hài Bác, gồm năm chiếc: Hai xe cứu thương, ba xe Gat, chọn các đồng chí: Hoàng Đình Thinh – lái xe của Tổng cục Hậu Cần; Nguyễn Văn Nhích – lái xe của Bộ Tổng tham mưu, Nguyễn Văn Hợp – lái xe cứu thương của Viện Quân y 108 làm nhiệm vụ lái xe cứu thương. Các xe khác do lái xe của Cục Bảo vệ đảm nhiệm. Hàng đêm, các chiến sỹ lái xe đã không quản vất vả, gian khổ miệt mài luyện tập, luôn hoàn thành tốt nhiệm vụ lái xe trong các tình huống, trên các đoạn đường, đến các địa điểm khác nhau.

Một số cán bộ, chiến sĩ của Tiểu đoàn 144 và Cục Bảo vệ được chọn làm nhiệm vụ luyện tập, mặc trang phục cảnh sát hoặc hóa trang là người dân bình thường ém và tuần tra ở các con đường mà đoàn xe đi qua; mọi tình huống xấu có thể xảy ra (xe hỏng, kẹt tắc đường, gặp tai nạn, bị phá hoại…) đều được lường tính trước và vạch sẵn giải pháp xử trí.

Cục Đối ngoại – Bộ Quốc phòng được giao chuẩn bị nhà cửa, sửa chữa trang bị nội thất tốt nhất, chuẩn bị người phục vụ, hai xe du lịch; cử người nấu ăn, lái xe, công vụ cùng hai cán bộ Cục Bảo vệ Quân đội (đồng chí Vũ Quang Kha phiên dịch, đồng chí Hoan – cán bộ bảo vệ tiếp cận) và một tiểu đội cảnh vệ của Tiểu đoàn 144 thành một bộ phận phục vụ đoàn chuyên gia y tế Liên Xô. Đồng chí Vũ Quang Kha được cử phụ trách chung. Một số cán bộ của Bộ Tư lệnh Công binh, Tiểu đoàn 144 và một số cán bộ, chiến sĩ Cục Bảo vệ Quân đội (Tống Xuân Đài, Mạc Hồ, Nhu, Tấn…) chuyên trách làm mọi công tác do Ban chỉ đạo điều hành. Đồng chí Nguyễn Văn Hanh – Trưởng phòng Cục Bảo vệ Quân đội được giao nhiệm vụ thống nhất quản lý các bộ phận có trách nhiệm trực tiếp phục vụ ở công trình 75A, 75B.

Cuối tháng 8 năm 1969, Ban chỉ đạo kiểm tra lại tất cả các công trình, các đơn vị và mọi công tác chuẩn bị. Sau đó, chúng tôi báo cáo với các đồng chí Nguyễn Lương Bằng, Trần Quốc Hoàn, Lê Văn Lương và Bộ Chính trị: Mọi công việc chuẩn bị đã hoàn tất với chất lượng cao nhất. Tất cả mọi người, mọi bộ phận, mọi công trình đều đã sẵn sàng cho tình huống xấu nhất xảy ra.

Trong thời gian này, thấy tình hình sức khỏe của Bác ngày càng giảm sút nghiêm trọng, Bộ Chính trị Trung ương Đảng ta đã điện thông báo cho Bộ Chính trị Trung ương Đảng Cộng sản Liên Xô, đề nghị Bạn cho đoàn y tế làm nhiệm vụ giữ gìn thi hài Bác Hồ sang Hà Nội ngay.

Ngày 28 tháng 8 năm 1969 đoàn cán bộ y tế Liên Xô đến Hà Nội. Đoàn do đồng chí X.X.Đê-bốp – Viện sĩ thông tấn Viện Hàn lâm khoa học Liên Xô, Phó chủ tịch Viện Hàn lâm y học Liên Xô, Viện trưởng Viện khoa học giữ gìn thi hài Lê-nin làm Trưởng đoàn. Ngay khi tới Hà Nội, đoàn đã được các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước ta tiếp đón và làm việc. Sau đó, đoàn tiến hành kiểm tra các Công trình 75A và 75B; kiểm tra công việc chuẩn bị của Tổ y tế đặc biệt. Sau khi kiểm tra xong, đoàn kết luận: Đã có đủ điều kiện để tiến hành công tác giữ gìn thi hài Bác giai đoạn đầu để phục vụ lễ viếng và lễ tang Bác. Đến lúc này, Ban chỉ đạo chúng tôi thực sự như trút được một gánh nặng.

Trong khi ấy ở phòng bệnh, hàng ngày các bác sĩ vẫn thay nhau theo dõi và chăm sóc sức khỏe của Bác; các đồng chí trong Bộ Chính trị vẫn tới thăm và báo cáo tình hình của cả nước với Bác. Mỗi tin chiến thắng từ chiến trường miền Nam đều làm cho Bác vui thêm.

Ngày 30 tháng 8 năm 1969, đồng chí Phạm Văn Đồng sang thăm và báo cáo với Bác tình hình chuẩn bị tổ chức ngày Lễ Quốc khánh 2- 9. Nghe báo cáo xong, Bác dặn: “Các chú phải nhớ bắn pháo hoa để động viên tinh thần nhân dân”. Nhưng do tình hình sức khỏe của Bác đang trầm trọng nh­ư vậy, ai còn tâm trạng nào để bắn pháo hoa nữa !

Ngày 31 tháng 8 năm 1969, nghe tin Bộ đội Phòng không bắn rơi máy bay không người lái của Mỹ (chiếc máy bay này bị bắn rơi ngày 30-8) Bác rất phấn khởi. Người nhắc Văn phòng Chủ tịch nước gửi ngay lẵng hoa chúc mừng và khen ngợi Bộ đội Phòng không. Các chiến sĩ Sư đoàn Phòng không 361 không ngờ rằng, đó là lẵng hoa cuối cùng mà họ thay mặt quân và dân ta được đón nhận từ lãnh tụ kính yêu.

Hôm đó, tâm trạng Bác rất vui, Người đã gắng ăn hết một bát cháo. Các đồng chí phục vụ bên Bác mừng khôn tả. Các bác sĩ chăm sóc Bác vừa ngạc nhiên, vừa lo lắng. Họ hiểu rằng, chính tin vui thắng trận đã tạo nên điều kỳ diệu đó, nhưng chỉ là tình trạng nhất thời.

Và thời điểm khắc nghiệt nhất đã đến.

Sáng 2 tháng 9 năm 1969, cả nước đang hân hoan trong ngày Quốc khánh, thì trong căn nhà nhỏ, giản dị, cách ngôi nhà sàn của Bác không xa, trên một chiếc giường gỗ trải chiếu đơn sơ, Bác Hồ kính yêu của cả dân tộc ta đang trút những hơi thở cuối cùng. Vây quanh Bác là các đồng chí trong Bộ Chính trị và Trung ương Đảng, các giáo sư, bác sĩ, nhân viên y tế được giao nhiệm vụ chăm sóc sức khỏe cho Bác. Đồng chí Vũ Kỳ – người phục vụ thân cận nhất của Bác ngồi bên giường với chiếc quạt lá cọ trên tay không ngừng quạt nhẹ cho Bác.

Nhưng rồi, đúng 9 giờ 47 phút, trái tim Bác ngừng đập.

Chiếc quạt lá cọ rời khỏi tay, đồng chí Vũ Kỳ gục xuống khóc nức nở. Các bác sĩ vẫn không ngừng xoa bóp, hô hấp nhân tạo với hy vọng mong manh rằng, trái tim vĩ đại tràn đầy yêu thương của Bác sẽ đập trở lại. Nhưng tất cả đã vô vọng. Một giờ sau, khi trao đổi với các bác sĩ làm công tác cấp cứu, đồng chí Phạm Văn Đồng đau đớn khoát tay: “Thôi, các đồng chí để yên cho Bác nghỉ”. Tất cả mọi người có mặt bên giường Bác đều òa lên khóc nức nở.

Diễn biến tình hình về sức khoẻ của Bác đã liên tục được thông báo về 75A. Tại Công trình 75A, các đồng chí Nguyễn Lương Bằng, Lê Quang Đạo, Phùng Thế Tài và tôi luôn bám sát tình hình ở Phủ Chủ tịch qua máy điện thoại. Các chuyên gia Liên Xô và Tổ y tế đặc biệt được lệnh sẵn sàng.

10 giờ, tôi đau đớn buông máy điện thoại, nói với các anh có mặt tại 75A “Bác mất rồi”. Anh Phùng Thế Tài vừa khóc vừa ra lệnh cho mọi người: “Tất cả vào vị trí”.

Tôi cũng gạt nước mắt lao ra xe chỉ huy. Chúng tôi được lệnh cho xe tới Phủ Chủ tịch. Trên xe còn có các đồng chí Nguyễn Gia Quyền, Nguyễn Văn Châu, Nguyễn Trung Hát, Tổ y tế đặc biệt và đồng chí Đỗ Hải – Chính trị viên Tiểu đoàn 144.

Tới cổng Phủ Chủ tịch, đoàn xe dừng lại, riêng chiếc xe cứu thương mang biển số FH1468 do đồng chí Nguyễn Văn Hợp lái được lệnh đi tiếp. Xe vừa đến trước cửa ngôi nhà sàn của Bác, đã thấy đồng chí Trần Quốc Hoàn ra đón. Anh Hoàn ôm lấy tôi, vừa khóc vừa nói: “Sự việc xảy ra rồi! Các đồng chí phải bình tĩnh làm tốt nhiệm vụ của mình”. Khi nhìn thấy tôi và Tổ y tế đặc biệt, đồng chí Phạm Văn Đồng cũng vừa khóc, vừa vẫy tay: “Thôi, mọi người hãy dãn ra cho các đồng chí chuyên môn làm nhiệm vụ”.

Thấy Bác nằm thanh thản trên giường, nước mắt tôi trào ra. Nhưng tôi chợt hiểu rằng, đây là lúc mà mình phải tỉnh táo nhất; mình là cận vệ của Bác Hồ, lúc này mình phải bảo vệ Bác như tất cả những lần Bác đi công tác. Nghĩ vậy, tôi trấn tĩnh lại cùng các đồng chí trong Tổ y tế đặc biệt tiến vào. “Các đồng chí thận trọng” – Tôi nhắc nhở trong khi mọi người chuyển Bác từ giường sang cáng thương. Tôi vẫn đi bên cạnh Bác trên quãng đường từ nhà ra xe. Lúc này tôi không còn chú ý tới mọi người xung quanh. “Tất cả dãn ra cho Bác đi” – hình như tôi đã nói như vậy. Mọi người dãn sang hai bên tạo thành một đội danh dự. Đó là tất cả các đồng chí Ủy viên Bộ Chính trị – những người học trò ưu tú của Bác.

Khi Bác đã yên vị trên xe, tôi quan sát nhanh rồi ra lệnh: “Lên đường”. Chiếc xe nhẹ nhàng lăn bánh ra cổng Phủ Chủ tịch. Lúc đó, tất cả các xe đều giữ đúng vị trí, giữ đúng cự ly. Đoàn xe hộ tống Bác qua các phố Phan Đình Phùng, Trần Nhật Duật, Trần Quang Khải, Lê Thánh Tông về 75A. Trên xe chỉ huy, tôi quan sát thấy phố phường Hà Nội vẫn bình yên, cuộc sống vẫn ồn ào, sôi động trong ngày Quốc khánh. Chưa ai biết một mất mát lớn lao, một nỗi đau khôn cùng đã đến với toàn dân tộc. Ở những ngã ba đường, tôi thoáng nhìn thấy các chiến sĩ cảnh vệ đang làm nhiệm vụ, họ đứng nghiêm khi đoàn xe đi qua. Nhìn ánh mắt những người lính, tôi hiểu rằng họ đang gửi lời chào vĩnh biệt Bác kính yêu. Là những người biết một cuộc chia ly lớn nhất trong lịch sử dân tộc đã tới, nhưng họ vẫn phải yên lặng, tỉnh táo. Họ là những chiến sĩ cảnh vệ đang bảo vệ cho một chuyến đi của lãnh tụ. Họ không được rời vị trí, không được để lệ rơi.

Khi xe dừng lại trước Công trình 75A, mọi người ùa ra đón. Tôi chỉ kịp nhảy xuống xe báo cáo với các đồng chí Nguyễn Lương Bằng, Lê Quang Đạo, Phùng Thế Tài: “Thưa các anh! Bác đã tới”.

Tôi đã nhiều lần được bảo vệ, tiếp cận Bác trong những chuyến đi công tác, nhưng chưa bao giờ có chuyến đi nào buồn đến như vậy. Suốt chặng đường từ Phủ Chủ tịch đến 75A, tôi luôn cắn răng tự nhủ với mình: “Không được khóc! Không được rơi nước mắt”. Nhưng lúc này, sau khi làm biên bản khám nghiệm xong, các chuyên gia y tế của Liên Xô và của Tổ y tế đặc biệt bắt đầu đưa thi hài Bác vào buồng đặc biệt thì tôi không sao kìm nén được nữa.

Trong buồng đặc biệt lúc đó có đoàn chuyên gia y tế Liên Xô, các đồng chí trong Tổ y tế đặc biệt, anh Phùng Thế Tài và tôi lui tới ra vào theo dõi tiến trình công việc để báo cáo kịp thời với các đồng chí lãnh đạo, đồng thời cũng làm nhiệm vụ chăm sóc các chuyên gia Liên Xô và Việt Nam.

Nội dung và yêu cầu chung của khoa học giữ gìn lâu dài thi hài là:

– Phải giữ được những nét đặc trưng của thi hài Bác như khi Người còn sống.

– Phải giữ thi hài được lâu dài.

– Phải đảm bảo được yêu cầu có thể để đông đảo người tới viếng thăm trong điều kiện môi trường bình thường.

Theo chúng tôi được biết, khoa học giữ gìn thi hài với nội dung và yêu cầu như thế thì trên thế giới cho đến lúc đó chỉ mới có Liên Xô làm được.

Các đồng chí trong Tổ y tế đặc biệt của Việt Nam đã từng là những nhà chuyên môn giỏi, được học tập, thực hành công tác giữ gìn thi hài trong hai năm có thể đảm đương nhiệm vụ, nhưng xuất phát từ tinh thần trách nhiệm cao, từ tấm lòng yêu kính Bác nên Giáo sư Viện sĩ Iu.M. Lô-pu-khin, Viện sĩ X.X. Đê-bốp và Giáo sư I.N. Mi-khai-lốp đã trực tiếp làm công tác y tế giữ gìn thi hài Bác cùng với sự phụ giúp của hai bác sĩ là Nguyễn Gia Quyền và Lê Điều – thành viên của Tổ y tế đặc biệt Việt Nam. Trong phòng im phăng phắc. Tôi như nghe được nhịp đập của trái tim mỗi người. Các đồng chí chuyên gia cũng rất xúc động. Sau khi mọi động tác chuẩn bị đã hoàn tất, mọi người đứng lặng trước Bác vài giây rồi đồng chí Iu.M. Lô-pu-khin mới ngẩng lên ra lệnh “bắt đầu”.

Có một điều đặc biệt là tuy tuổi cao, sức yếu nhưng hệ thống mạch máu của Người về cơ bản vẫn thông suốt đến các hệ thống mao mạch. Điều đó chứng tỏ sinh thời Người rất chăm chỉ rèn luyện thân thể. Đây cũng là một thuận lợi rất cơ bản cho công tác giữ gìn thi hài Bác. Bởi vì, để giữ gìn lâu dài, thi hài Bác phải được trau chuốt đến từng mao mạch. Đó là công việc hết sức tỉ mỉ. Các chuyên gia y tế Liên Xô đã làm công việc đó với một tấm lòng yêu thương, trân trọng lãnh tụ, với tinh thần khoa học rất cao và một tài năng tuyệt vời.

Sau này, mỗi khi ngoài trời đổ mưa là tôi lại có cảm giác ớn lạnh, rùng mình. Cuộc đời tôi tuy đã trải qua không ít những ngày gian khổ, hiểm nguy, trải qua không ít những đau thương, mất mát, nhưng chưa bao giờ tôi phải sống một ngày nặng nề, đau đớn đến vậy. Vào những ngày Bác mất, Hà Nội lúc nào cũng như bị đè nặng dưới một bầu trời u ám, sũng nước. Tin về nỗi đau lớn của dân tộc chưa được phép loan đi, nhưng dường như dần dần mọi người Hà Nội và cả cỏ cây thiên nhiên đều cảm được nỗi mất mát lớn lao đó.

Với tôi, ngày 2 tháng 9 năm 1969 là một ngày không thể nào phai mờ trong ký ức. Cũng từ ngày hôm đó, tôi hiểu ra rằng, nhiệm vụ bảo vệ Bác Hồ, nhất là bảo vệ những di sản tinh thần của Người vẫn là một nhiệm vụ trọng đại của những người lính thuộc thế hệ chúng tôi và rồi chúng tôi sẽ phải giao lại nhiệm vụ thiêng liêng ấy cho các thế hệ mai sau. Nhiệm vụ của người bảo vệ vì thế không chỉ dừng lại ở một không gian, thời gian nhất định. Bác đã ra đi, nhưng những người lính cận vệ của Người luôn ở bên Người, luôn sẵn sàng hành động để bảo vệ những giá trị thiêng liêng mà Người để lại cho dân tộc, cho Đảng và cho cả nhân loại. Đó là điều quan trọng mà tôi đã nhận thức sâu sắc được trong ngày bi tráng ấy.

Thiếu tướng Trần Kinh Chi
Nguyên Tư lệnh, kiêm Chính uỷ Bộ Tư lệnh Bảo vệ Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh

bqllang.gov.vn