Tag Archive | Lãnh tụ vĩ đại

Tư tưởng Hồ Chí Minh: Sinh khí của một học thuyết

Tư tưởng Hồ Chí Minh, sắc lại, vì con người, do con người. Suy thoái đạo đức là khởi điểm cho mọi suy thoái. Tư tưởng Hồ Chí Minh từng chấp nhận cái mềm dẻo cần thiết cho đại cục nhưng chính trong những hy sinh thông minh ấy, phẩm chất con người, xã hội phải được củng cố hơn bao giờ hết, nếu không, những bước lùi sẽ là quá trình tuột dốc “không phanh” chẳng hé ra tiền đề cho những bước tiến…

…………………………………………..

1. Nghiên cứu tư tưởng Hồ Chí Minh, theo tôi nghĩ, là nghiên cứu đồng thời ba bộ phận hợp thành một tổng thể:

– Trước tác.

– Cuộc đời.

– Diễn biến của đất nước, xã hội và con người Việt Nam từ khi tư tưởng Hồ Chí Minh tác động tại đây cho đến hôm nay.

Cả ba bộ phận hợp thành đều mang tầm quan trọng như nhau, bổ sung cho nhau, cả ba cộng lại mới đủ sức vẽ lên trung thực toàn bộ và hệ thống một tư tưởng lớn của Việt Nam và thời đại.

Trước tác là mặt biểu thị trực tiếp nhất của tư tưởng Hồ Chí Minh. Qua các bài báo, phát biểu, sách, sáng tác văn học, lời kêu gọi… suốt 5 thập kỷ (1919 – 1969), chúng ta biết được quan điểm của Người trước các vấn đề đặt ra cho vận nước và một số vấn đề đặt ra cho loài người. Tuy nhiên, sẽ chỉ tiếp cận một phần tư tưởng Hồ Chí Minh nếu chúng ta chủ yếu nghiên cứu tư tưởng của Người qua trước tác, Hồ Chí Minh là một nhà tư tưởng gắn chặt tư duy với hành động thực tiễn.

Cuộc đời của Người từ buổi thanh niên đến khi vĩnh biệt chúng ta nối dài một chuỗi hoạt động cách mạng không ngơi nghỉ. Tư tưởng của Người hóa thân vào các ứng xử cả tầm chiến lược lẫn trong giao tiếp đời thường. Chính phạm vi hoạt động của Người, công tác mà Người đảm trách, mối quan hệ của Người với đủ đối tượng và nhất là chính với tư cách con người mà Người sống với chung quanh đã nói thậm chí nhiều hơn những gì Người lưu lại cho chúng ta trong Toàn tập.

Cái mà có người gọi là tác phong Hồ Chí Minh phản ánh một lối sống gần với tự nhiên, xuất phát từ sự chân thật trong cốt cách. Trước tác và cuộc đời của Hồ Chí Minh rất phong phú, song cũng chưa phản ánh trọn vẹn tư tưởng của Người. Không thể xem quá trình diễn biến của cách mạng, đất nước, xã hội và con người Việt Nam từ 1920, 1930, đặc biệt từ 1945 và nhất là hiện nay như ngoại biên của tư tưởng Hồ Chí Minh.

Làm sao hiểu tư tưởng Hồ Chí Minh nếu không hiểu cái gì là trung tâm dẫn đồng bào ta thực hiện toàn thắng cuộc cách mạng tháng Tám, hai cuộc kháng chiến và đang thực hiện thắng lợi bước đầu sự nghiệp Đổi mới. Sự đứng vững của Việt Nam trước cơn khủng hoảng cực kỳ gay gắt dẫn đến sự sụp đổ của nhiều nước xã hội chủ nghĩa, trong đó có Liên Xô, cơn thoái trào cách mạng xã hội chủ nghĩa thế giới và ngay những thành tựu kinh tế hiện nay của nước ta cũng không ra khỏi sự hướng dẫn của tư tưởng Hồ Chí Minh – có những thoát ly đấy và đã thoát ly tư tưởng Hồ Chí Minh thì không phải là thành tựu mà trái lại hoặc dự báo cho cái rất xấu khó tránh khỏi dù với toàn cục hay với từng cá nhân.

Như vậy, quỹ đạo của tư tưởng Hồ Chí Minh đối với Việt Nam hết sức rộng.

2. Tư tưởng Hồ Chí Minh được ấp ủ lâu dài trong cái nôi chủ nghĩa yêu nước, tẩm mình sâu sắc trong hồn dân tộc, là kết tinh của truyền thống nhiều nghìn năm dựng nước và giữ nước của nhân dân Việt Nam. Trên cái nền kiên cố ấy, trên mảnh đất phì nhiêu ấy, tư tưởng Hồ Chí Minh gạn lọc các hạt giống trí tuệ cổ kim phương Đông, phương Tây và vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác-Lênin, sản phẩm khoa học hiện đại vào một đất nước cụ thể. Người ta không thể tìm thấy chủ nghĩa quốc gia cực đoan, thủ cựu, hẹp hòi, vị kỷ, cũng như người ta không thể tìm thấy chủ nghĩa quốc tế không tưởng trong tư tưởng Hồ Chí Minh.

Hồ Chí Minh – lúc còn là Nguyễn Ái Quốc – đã nói rõ chủ nghĩa Lênin cung cấp cho Người chủ yếu nhất là điều gì và tại đại hội Tours, một đại hội của những đảng viên xã hội và cộng sản, Người nhấn mạnh quan điểm của mình. Chủ nghĩa quốc tế vô sản đến với Người tức đến với nước Việt Nam thuộc địa, chậm tiến và Người thể hiện sự nghiệp quốc tế qua sự nghiệp giải phóng dân tộc của Người – giải phóng tập thể dân tộc thoát khỏi ách nô lệ nước ngoài đồng thời giải phóng những “cùng đinh” thoát khỏi “giặc đói, giặc dốt”.

Tư tưởng Hồ Chí Minh là tư tưởng Mác-Lênin đã được tiêu hóa vào không gian và thời gian xác định, lấy cái cốt lõi giải phóng con người khỏi ách áp bức, tự do hóa tiềm năng con người bắt đầu từ một đối tượng cụ thể là đồng bào của Người. Để thực hiện nhiệm vụ đó, tư tưởng Hồ Chí Minh dựa trên nguyên lý giải phóng con người bị áp bức trong xã hội tư bản, trong các xứ thuộc địa nói chung để tìm ra phương thức giải phóng con người Việt Nam. Tất nhiên, trào lưu giải phóng vốn đa dạng, tư tưởng Hồ Chí Minh chọn khả năng tối ưu hơn cả.

Tư tưởng Hồ Chí Minh chấm dứt ở Việt Nam mặc cảm “nỗi buồn nhược tiểu” và trang bị cho những người dân Việt Nam bình thường niềm tự tin khả năng “đào núi lấp biển, có chí cũng làm nên”.

3. Tư tưởng Hồ Chí Minh tất nhiên là tư tưởng chính trị, định hướng chính trị song mang đặc thù dễ phân biệt với các tư tưởng đương thời khác ở phần lớn biểu hiện của tư tưởng dưới dạng văn hóa. Nói cách khác, tư tưởng Hồ Chí Minh tác động vào xã hội như một sức mạnh văn hóa, sức mạnh hợp chất lý và tình, tổng quát và đơn lẻ, thuyết phục bằng cảm hóa. Đặc thù này bộc lộ rõ và trở thành xuyên suốt từ 1945, tức từ khi nước ta giành được độc lập, Đảng Cộng sản trở thành đảng cầm quyền.

Tư tưởng Hồ Chí Minh là một thành tố quan trọng trong nền văn hóa dân tộc Việt Nam, là chuẩn mực bổ sung cho nền luân lý truyền thống. Cũng có thể xem tư tưởng Hồ Chí Minh đã hiện đại hóa nền luân lý lâu đời của Việt Nam. Cái đáng lưu ý là tư tưởng Hồ Chí Minh như giáo huấn xã hội chủ nghĩa mà không mâu thuẫn với giáo huấn dân tộc cổ truyền thậm chí dân gian. Gạch nối này tôn tạo văn hóa dân tộc, đồng thời truyền bá các tri thức hiện đại, các khái niệm đạo đức hiện đại.

Tự biểu hiện đến trình độ một nền văn hóa, tư tưởng Hồ Chí Minh thâm nhập vào xã hội, ảnh hưởng đến nếp nghĩ, nếp sống hàng chục triệu người, đến quan hệ cộng đồng và đến sự tu thân cá nhân. Đạo đức Hồ Chí Minh, phần kết tinh lớn của tư tưởng Hồ Chí Minh.

Chúng ta có thể cắt nghĩa hiện tượng trên ở chỗ tư tưởng Hồ Chí Minh xuất phát từ chữ “Cứu” – cứu nước, cứu dân, cứu người – và ở chỗ một tư tưởng đạt mức xã hội hóa như thói quen cần phải giữ gìn, vun bồi của mọi người Việt Nam thuộc mọi giới, mọi lứa tuổi…

Theo tôi, về phương diện này, tư tưởng Hồ Chí Minh đã “đắc đạo”.

4. Tư tưởng Hồ Chí Minh coi rất trọng đoàn kết dân tộc trong các lĩnh vực đấu tranh. Việt Nam là nước nhỏ, luôn phải đối phó với nạn xâm lược nước ngoài, tồn tại trong điều kiện thiên nhiên có nơi rất khắc nghiệt. Cho nên, những “tình làng, nghĩa xóm”, “đồng bào”, “người chung một nước”, v.v… đã nối liền nhân dân ta suốt nhiều nghìn năm. Đó cũng là cái lẽ sinh tồn của dân tộc. Tư tưởng Hồ Chí Minh thừa kế gia tài đồ sộ, giàu có ấy, mở rộng biên độ khái niệm quần chúng đến tất cả những ai vẫn còn thừa nhận mình là con dân nước Việt Nam.

Sáng tạo này nắm được cái hồn của nhận thức đấu tranh giai cấp và nhờ đó đã hóa giải khôn ngoan những đối kháng về quyền lợi bộ phận trong những hoàn cảnh nhất định phục vụ tập trung cao nhất cho quyền lợi toàn cục, bởi vì mục tiêu của cách mạng đồng thời phải là mục tiêu của nhân dân lao động và, trong các trường hợp xác định, mục tiêu ấy thống nhất với đòi hỏi của dân tộc và tình thế. Chỉ có như vậy, hành động cho cái chung mới huy động được đông đảo người tham gia.

“Đại đoàn kết” của tư tưởng Hồ Chí Minh là một tư duy triết học, khác với một số nhà tư tưởng đương thời khi họ có quan điểm cực đoan về mối quan hệ giữa giai cấp và dân tộc, tách biệt hoặc đối lập một cách siêu hình các tầng lớp xã hội cơ bản với các tầng lớp xã hội khác, khiến quá trình cách mạng vừa chậm vừa khó khăn không đáng có. Tư tưởng Hồ Chí Minh cố tìm mẫu số chung của toàn dân tộc thay vì khoét sâu sự cách biệt, đặt tiến trình xoáy trôn ốc đi lên của lịch sử trên căn bản quy tụ thay vì loại trừ.

5. Tư tưởng Hồ Chí Minh đã thực hiện nhiệm vụ lịch sử: Đưa Đảng Cộng sản trở nên chính đảng đại biểu của dân tộc mà không làm nhòa tính công nhân tiền phong. Chính ý thức thời đại cho phép tư tưởng Hồ Chí Minh thành đạt trong vấn đề mấu chốt này cả trên bình diện lý luận lẫn thực tiễn, cả trong quá trình giành độc lập dân tộc lẫn thời kỳ xây dựng xã hội mới.

Xử lý vấn đề mấu chốt này liên quan đến ba trọng điểm: một, Đảng Cộng sản của giai cấp công nhân phải thể hiện cho được ý nghĩa tiền phong chính yếu là đi đầu một đội ngũ quần chúng đông đúc, gồm tuyệt đại đa số dân tộc, không biệt phái, không đứng trên mà đứng trong đội ngũ ấy; hai, chủ nghĩa quốc tế vô sản hòa nhập với dân tộc, cái phổ cập phải được đặc thù hóa, Đảng Cộng sản phải tự trở thành đảng của dân tộc; ba, khi đảng đã cầm quyền, sự thống nhất lên đến mức cao giữa giai cấp, nhân dân, dân tộc, quốc gia và đảng mà lợi ích bao trùm là lợi ích dân tộc – dân tộc không tự tôn, không tham vọng bá quyền, thông cảm và đoàn kết với mọi lực lượng tiến bộ, tán thành, ủng hộ cái đúng, chống cái sai bất kể từ đâu đến, khôn khéo (song tự trọng), tự xếp mình như mọi dân tộc khác trong cộng đồng thế giới.

6. Tư tưởng Hồ Chí Minh là một khoa học, nó luôn tiếp nhận sự bồi bổ từ trí tuệ, thực tế phát triển của Việt Nam và thế giới. Nghiên cứu tư tưởng Hồ Chí Minh vào đầu thế kỷ XXI này tức nghiên cứu một tầng nấc cụ thể của tư tưởng ấy sau nhiều chục năm vận động. Cũng như nghiên cứu các học thuyết Phật, Lão, Khổng, Thiên Chúa, Mác… điều chúng ta quan tâm phát hiện là phương pháp tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh, dù rằng trong tư tưởng Hồ Chí Minh không hiếm những giáo huấn đã dân gian hóa.

Giữa một thế giới biến động – và đảo lộn nữa – Việt Nam theo tư tưởng Hồ Chí Minh và đôi phần khiêm tốn mà chúng ta vừa giành được trong những năm qua khẳng định rằng con đường chúng ta đi dưới ánh sáng tư tưởng Hồ Chí Minh là đúng. Tuy nhiên, nếu nhìn thực trạng Việt Nam hiện nay, chúng ta dễ dàng thấy sự tuân thủ tư tưởng Hồ Chí Minh chưa nghiêm, nếu không nói là lơi lỏng.

Trong thứ tự: tu thân, tề gia, trị quốc, chúng ta đã vấp hai cái đầu, do vậy, trị quốc rơi vào chỗ khó khăn – sẽ còn khó khăn hơn. Bên ngoài – những người Cộng sản, những người xã hội chủ nghĩa, những người tiến bộ và đương nhiên, luôn kẻ thù – theo dõi chúng ta với niềm tin, nỗi lo và sự đố kỵ. Tư tưởng Hồ Chí Minh giúp chúng ta vượt cơn thử thách một cách ngoạn mục, nhưng sự suy thoái đạo đức đe dọa chúng ta. Trong sự suy thoái ấy, óc độc tôn, độc quyền tất nhiên đẻ ra đẳng cấp “ăn trên ngồi trước”, hủy hoại thành quả cách mạng, nguy hiểm hơn mọi âm mưu thâm độc nhất của kẻ thù.

Trong bối cảnh thế giới hiện nay, nghiên cứu tư tưởng Hồ Chí Minh đồng thời có nghĩa nghiên cứu về một thời sự: chủ nghĩa xã hội, chế độ định hướng xã hội chủ nghĩa phát triển đất nước trong lúc cả phong trào xã hội chủ nghĩa gặp khó khăn nghiêm trọng ở một nước không đông lắm về dân số, không rộng lắm về đất đai, không phát triển lắm về kinh tế. Tất nhiên, đây là một chủ nghĩa xã hội xét từ thực chất, tức không phải mang trong nó chủ nghĩa bành trướng, không đối địch với nhân quyền, kết hợp dân giàu nước mạnh, xã hội công bằng và đạo lý trong một thể hài hòa, nói cách khác, phù hợp với tư trào hiện đại của loài người.

Tất nhiên, tư tưởng Hồ Chí Minh không thể cho tất cả đáp số của mọi bài toán nảy sinh trong mọi điều kiện lịch sử, đó cũng không phải là thánh kinh.

Tư tưởng Hồ Chí Minh, sắc lại, vì con người, do con người. Suy thoái đạo đức là khởi điểm cho mọi suy thoái. Tư tưởng Hồ Chí Minh từng chấp nhận cái mềm dẻo cần thiết cho đại cục nhưng chính trong những hy sinh thông minh ấy, phẩm chất con người, xã hội phải được củng cố hơn bao giờ hết, nếu không, những bước lùi sẽ là quá trình tuột dốc “không phanh” chẳng hé ra tiền đề cho những bước tiến.

Đến nay, Chủ tịch Hồ Chí Minh qua đời đã 34 năm. Tư tưởng Hồ Chí Minh vẫn sống với chúng ta. Nhưng, cần phải nhớ chính hôm nay, ngày mai, chính những người Cộng sản Việt Nam, chính nhân dân Việt Nam là tác giả nối tiếp trên tư duy, trong tình cảm và trên thực địa tư tưởng Hồ Chí Minh.

Tư tưởng Hồ Chí Minh đã bảo vệ thành công sự nghiệp xây dựng đất nước, xã hội, con người Việt Nam qua bao nhiêu giông tố – không phải lãnh tụ của quốc gia nào cũng làm được như thế.

Đó là một học thuyết đầy sinh khí.

Hạnh phúc đối với dân tộc Việt Nam và Đảng Cộng sản Việt Nam có tư tưởng Hồ Chí Minh. Càng hạnh phúc khi tư tưởng ấy, học thuyết ấy được kế thừa theo tinh thần trung thành các nguyên lý bản chất và luôn được bổ sung, đổi mới.

TRẦN BẠCH ĐẰNG – 3-1993
(theo Đến với Tư tưởng Hồ Chí Minh – NXB Trẻ – 2-2007)

Tuổi trẻ Onlnie

Ứng cử viên Hồ Chí Minh

Bác Hồ với nông dân (từ sách Ánh sáng từ sông Hồng, 1955 - của nhà báo Đức Franz Faber)

TTCT – Ngày 10-12-1945, danh sách ứng cử viên khu vực Hà Nội được niêm yết rộng rãi. Trong danh sách, Bác đứng thứ hai sau cụ Nguyễn Văn Tố. Tất cả 74 ứng cử viên, chọn lấy sáu đại biểu.

>>Vị Chủ tịch với người bạn cũ
>>Tư tưởng Hồ Chí Minh là di sản tinh thần vô giá
>>Hai bộ sưu tập tranh độc đáo về Bác Hồ
>>Chuyên trang mới trên Tuổi Trẻ Online: Theo gương Bác

Một điều bất ngờ với Chủ tịch Hồ Chí Minh trước ngày tổng tuyển cử là: tại thủ đô Hà Nội, 118 chủ tịch các UBND và tất cả đại biểu làng xã tại Hà Nội đã nhất trí công khai một bản kiến nghị.

Nội dung bản kiến nghị là: Yêu cầu Cụ Hồ Chí Minh được miễn phải ứng cử trong cuộc tổng tuyển cử sắp tới vì Cụ đã được toàn dân suy tôn là Chủ tịch vĩnh viễn của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa. Đáp lại nguyện vọng trên, Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi thư trả lời đồng bào ngoại thành Hà Nội:

“Tôi rất cảm động được đồng bào quá yêu mà đề nghị: tôi không phải ra ứng cử, đồng bào các nơi khắc cử tôi vào Quốc hội. Nhưng tôi là một công dân của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa nên tôi không thể vượt khỏi thể lệ của cuộc tổng tuyển cử đã định.

Tôi ra ứng cử ở Hà Nội, nên không thể ra ứng cử ở nơi nào nữa.

Xin cảm tạ đồng bào đã có lòng yêu tôi và yêu cầu toàn thể đồng bào hãy làm tròn nhiệm vụ người công dân trong cuộc tổng tuyển cử sắp tới”.

Mặc dù tất cả ứng cử viên đã được đăng tiểu sử kèm theo ảnh trên báo, nhưng cử tri còn muốn được trực tiếp nghe các ứng cử viên nói rõ chương trình hành động của mình. Đó là những cuộc tiếp xúc rộng rãi, diễn ra hết sức sôi nổi ở khắp mọi nơi, trong một khung cảnh thật sự tự do và dân chủ.

Chiều 5-1-1946, Bác đến Khu học xá (nay là Trường đại học Bách Khoa, Hà Nội) cùng các ứng cử viên gặp gỡ cử tri.

Hôm ấy, trước đông đảo quần chúng có mặt, Bác đã nói với các ứng cử viên:

“… Vừa rồi đây, ta vừa giành được độc lập. Một số ít người, chỉ một số ít thôi, đã quên cái công khó nhọc của dân chúng. Ta đã phải hi sinh nhiều mới có cái quyền cầm lá phiếu ngày nay đó. Cụ Phan Đình Phùng, cụ Hoàng Hoa Thám đã khó nhọc vì cái quyền dân chủ ấy lắm. Biết bao người đã bị bắn, bị chém, đã đeo cái tên chính trị phạm và bị nhốt đầy các nhà tù Sơn La, Côn Đảo, Ban Mê Thuật mới đòi được cái quyền dân chủ ngày nay…”.

Bác Hồ còn quay sang phía các ứng cử viên nhắc nhở:

“Làm việc nước bây giờ là hi sinh, là phấn đấu, quên lợi riêng mà nghĩ đến lợi chung…”.

Rồi hướng về các cử tri, Bác căn dặn: “Những ai muốn làm quan cách mạng thì nhất định không nên bầu. Ngày mai, không ai ép, không ai mua, toàn dân sẽ thực hiện cái quyền dân chủ ấy…”.

Sáng 5-1-1946, lời kêu gọi quốc dân đi bầu cử của Chủ tịch Hồ Chí Minh được các báo đều đăng:

“Ngày mai, mồng 6 tháng Giêng năm 1946.

Ngày mai, là một ngày sẽ đưa quốc dân ta lên con đường mới mẻ:

Ngày mai, là một ngày vui sướng của đồng bào ta, vì ngày mai là ngày tổng tuyển cử, vì ngày mai là một ngày đầu tiên trong lịch sử Việt Nam mà nhân dân ta bắt đầu hưởng dụng quyền dân chủ của mình.

Ngày mai, dân ta sẽ tỏ cho các chiến sĩ ở miền Nam rằng: về mặt quân sự thì các chiến sĩ dùng súng đạn mà chống quân thù. Về mặt chính trị, thì nhân dân dùng lá phiếu mà chống với quân địch. Một lá phiếu cũng có sức lực như một viên đạn.

Ngày mai, dân ta sẽ tự do lựa chọn và bầu ra những người xứng đáng thay mặt cho mình, và gánh vác việc nước.

Ngày mai, người ra ứng cử thì đông, nhưng số đại biểu thì ít, lẽ tất nhiên, có người được cử, có người không được cử.

Những người trúng cử sẽ phải ra sức giữ vững nền độc lập của Tổ quốc, ra sức mưu sự hạnh phúc cho đồng bào. Phải luôn luôn nhớ và thành thực câu: Vì lợi nước, quên lợi nhà; vì lợi chung, quên lợi riêng…”.

Đúng 7g sáng 6-1-1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã cùng hàng vạn cử tri thủ đô đi làm nghĩa vụ công dân.

Tư liệu TTXVN

Mùa thu lịch sử


Đời đời nhớ ơn Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại. Người sống mãi trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc của nhân dân Việt Nam!
nhoNguoicha

Tết kháng chiến đầu tiên của Bác

Sau lễ trọng đại tuyên ngôn Độc lập ngày 2 tháng 9 năm 1945, nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà ra đời chưa được bao lâu, cuộc trường kỳ kháng chiến đã bắt đầu.

Bác Hồ lội suối đi công tác

Bác Hồ phải tạm lánh về xã Cần Kiệm thuộc đất Sơn Tây. Chiều 30 Tết Đinh Hợi (21 tháng 1 năm 1947), Hội đồng Chính phủ họp ở phủ Quốc Oai (Sơn Tây). Trời mưa rét, đường trơn như đổ mỡ, các thành viên Chính phủ và Thường vụ Quốc hội đã lặn lội về đông đủ, song vẫn chưa thấy Bác đến. Trời tối dần, nỗi lo bắt đầu lan rộng. 9 giờ tối, trong nỗi thấp thỏm, bồn chồn của các đại biểu, Bác bất ngờ gỡ khăn áo cải trang, bước vào phòng họp. Mọi người thở phào nhẹ nhõm.

Cuộc họp tất niên trong đêm không pháo, không bánh chưng, không rượu, không giò nhưng có hoa đào… Sau lời chúc Tết Chính phủ và Ban Thường vụ Quốc hội của Bác, cụ Bùi Bằng Đoàn thay mặt mọi người cảm ơn và chúc Tết Người. Dưới sự chủ trì của Bác, cuộc họp trong vòng 2 giờ đã bàn những vấn đề cấp bách, phải khẩn trương làm không chờ nghỉ Tết. Gần 12 giờ khuya, ai nấy đều phải trở về ngay nơi làm việc của mình.

Bác lại lên xe, chiếc xe ọc ạch chạy đi theo hướng chùa Trầm. Trong đêm giá lạnh, Bác đi vào trong hang núi, nơi đặt hệ thống phát thanh của Đài Tiếng nói Việt Nam để đọc thơ Xuân Đinh Hợi, chúc Tết đồng bào cả nước và kiều bào đang ở nước ngoài.

Bác chúc Tết xong lại lên đường trở về Cần Kiệm giữa đêm khuya. Rời khỏi chùa Thầy, đã qua giờ Sửu, mưa lại thêm nặng hạt; đến lối rẽ vào chùa Tây Phương, cả hai bánh xe bị sa xuống ruộng, rất may chưa bị lật nhào. Mọi người hốt hoảng, còn Bác lại bình tĩnh nói vui: “Ngày đầu năm, chúng ta gặp hoạ, nhưng phúc có ngay trong hoạ, phúc đỡ cho rồi. Thế là điều vui!…”.

Trên đường gió hun hút thổi, người lái ở lại giữ xe, Bác cùng những người giúp việc đi bộ trở về giữa trời mưa, giá rét, đường trơn… Rạng sáng, anh Cả (Nguyễn Lương Bằng), anh Cần (Vũ Kỳ) cùng một số người giúp việc Bác “xuất hành” đi khiêng xe. Bác dậy sớm như thường lệ đi mấy bài quyền. Kể lại những kỷ niệm này, anh Cần mắt rưng rưng lệ, nói nhỏ với tôi: “Chúng tôi khiêng xe lên và mang được đến nơi cần gửi; gia chủ thành tâm mời cùng cả nhà ăn Tết. Ngồi vào mâm cỗ thịnh soạn, chúng tôi ứa nước mắt nhớ Bác ở nhà,… Bác đang cố để viết cho xong cuốn sách”.

Chiều mồng một Tết, một số người đi chúc Tết trong thôn, bà con mời lại ăn cỗ. Ở cơ quan chỉ còn anh Ninh (Trần Đăng Ninh) và anh Cần ngồi ăn cơm nguội, Bác ăn cơm nóng độn sắn với canh rau cải. Anh Cần nói vui: “Bác ơi! Bác ăn canh rau cải phải đi giải nhiều..”. Bác cười hỏi lại: “Chú có nhớ ca dao nói gì không?” Rồi với giọng ôn tồn Bác đọc: Không canh nào bằng canh rau cải /Chẳng đạo ngãi nào bằng nghĩa vợ chồng.

Tối mồng một, mưa thêm nặng hạt, gió lọt qua phên liếp, lạnh thấu tận xương…Bác bảo nhóm lửa giữa nhà. Bác, anh Cả, anh Râu Xồm (Trần Đăng Ninh) và những người giúp việc quây quần bên nhau như đêm lửa trại. Trời về khuya, anh Nhân (Trường Chinh), anh Văn (Võ Nguyên Giáp) quần sắn quá gối, chân bê bết bùn đất, hé liếp bước vào. Hỏi ra mới biết, hai anh “xuất hành” đi chúc Tết Bác, định đến sớm để bàn công việc khẩn cấp, nhưng xe đã bị sa lầy ngay từ đầu xã…

Bác cùng  anh Nhân, anh Văn, anh Cả, anh Ninh ngồi quanh bếp lửa họp bàn… những người giúp việc Bác còn lại vội vã đội mưa rét đi cứu xe. Khi đưa được xe lên cũng vừa lúc chuông chùa Tây Phương ngân vang báo sáng. Tiễn  anh Nhân, anh Văn ra về bên thềm lập loè ánh lửa Bác ân cần nói với các anh: “Ngồi bên bếp lửa ấm, ra đi ngay dễ ngộ lạnh, phải dừng lại mấy phút cho quen dần cái rét rồi hai chú hãy đi…”.

Tết ra, Hội đồng Chính phủ họp phiên đầu tiên vào ngày 12 tháng giêng âm lịch (2 tháng 2 năm 1947) cũng ở Quốc Oai. Mở đầu, Bác đề nghị ai có thơ Xuân, câu đối Tết xin đọc làm đà” cho Trường kỳ kháng chiến nhất định thắng lợi; Thống nhất, Độc lập nhất định thành công (thư chúc Tết của Bác). Sau lời giới thiệu của cụ Bùi (Bùi Bằng Đoàn), Bộ trưởng Phan Anh đọc liền 2 vế đối:

Cha, ông hương khói lạnh, con cháu cỗ bàn suông; khắp ba kỳ còn nếm nỗi gian truân, buồn Tết nhất càng căm thù quân cướp nước;

Tổ quốc bờ cõi yên, non sông Nam Bắc hợp; mấy mươi triệu đồng bào thề quyết thắng, bước vinh quang sẽ hẹn lúc về nhà.

Bộ trưởng dứt lời, Bác ứng khẩu đọc ngay một câu “kiều lẩy”:

Rằng hay thì thật là hay,
Khẩn trương kháng chiến hẹn ngày bình sau.

Cụ Tôn (Tôn Đức Thắng) ghé tai nói nhỏ với cụ Bùi: “Ông ạ! Thánh thật, sống xa đất nước trên 30 năm mà hầu như Cụ không phai nhạt một thứ gì là của Việt Nam”. Cụ Bùi cười mãn ý đáp lời: “Cụ Hồ thuộc về thiên nhân, tuệ giác”.

Sau kỳ họp này, Bác không về Cần Kiệm mà ở lại Sài Sơn. Anh Râu Xồm đã vận động được sư cụ chùa Thầy để Bác ở trên tầng núi lưng chừng của chùa Một Mái. Bác làm việc trong cái vòm đá của Núi Sài. Chùa có sân rộng, vắng vẻ; Bác nhờ anh Văn, anh Cần giúp tập đi xe đạp để lúc cần có thể chủ động đối phó được nhanh, gọn nhẹ.

Thành Ý (ghi theo lời kể của nhà báo Sơn Tùng)

Những ngày Tết đáng nhớ của Bác Hồ

(Chinhphu.vn) – Trong 79 mùa xuân sôi nổi hào hùng của Bác, có những ngày Tết không thể nào quên đối với nhân dân ta.

Bác Hồ với các cháu thiếu nhi Hà Bắc khi Người về thăm và chúc Tết đồng bào và bộ đội, Tết Đinh Mùi (2-1967).

Trước hết là ngày Tết năm Canh Ngọ (1930). Tại một địa điểm xa tổ quốc, trên bán đảo Cửu Long (Hồng Kông), Bác đã chủ trì một cuộc họp bí mật với đại biểu các tổ chức cộng sản đầu tiên ở trong nước, đặt ra yêu cầu cùng đoàn kết hợp nhất 3 tổ chức đầu tiên ở Bắc-Nam-Trung xây dựng thành một Đảng thống nhất cho cả nước: Đảng Cộng sản Việt Nam.

Đảng ra đời kết thúc một giai đoạn khủng hoảng trong đường lối cứu nước, trở thành một tổ chức Đảng tiên phong, đi đầu mở lối cho một phong trào cách mạng của quần chúng được lãnh đạo trong một tổ chức chặt chẽ, có lý thuyết cách mạng tiên tiến soi đường, có chiến lược, sách lược thích hợp với bối cảnh lịch sử trong và ngoài nước.

Mười một năm sau ngày lịch sử ấy, nhân dân ta và đặc biệt là đồng bào Cao Bằng, đã có niềm vinh hạnh đón Bác sau 30 năm bôn ba đi khắp 5 châu 4 biển tìm đường cứu nước, đã bí mật trở về xúc động ôm trong tay hòn đất của tổ tiên ở cột mốc 108 nơi địa đầu biên giới, giữa bà con dân tộc thiểu số đang đón Tết năm Tân Tỵ (1941).

Bác về ở Pác Bó ngày mồng 2 Tết để chuẩn bị triệu tập Hội nghị Trung ương lần thứ VIII, điều chỉnh chiến lược và sách lược đấu tranh cách mạng cho phù hợp với hoàn cảnh khách quan của tình hình thế giới và trong nước. Bác chỉ rõ: “Trong lúc này quyền lợi của bộ phận, của giai cấp, phải đặt dưới sự sinh tử, tồn vong của quốc gia, dân tộc. Lúc này, nếu không giải quyết được vấn đề dân tộc giải phóng, không đòi được độc lập tự do cho toàn thể dân tộc, thì chẳng những toàn thể quốc gia dân tộc còn chịu mãi kiếp ngựa trâu, mà quyền lợi của bộ phận giai cấp đến vạn năm cũng không đòi lại được”.

Trên cơ sở phân tích như vậy, dưới sự chỉ đạo của Bác, Hội nghị đã nhất trí xác định lại nhiệm vụ chiến lược và tính chất của cách mạng Việt Nam: “Không phải là cuộc cách mạng tư sản dân quyền (cuộc cách mạng phải giải quyết hai vấn đề phản đế với điền địa), mà là cuộc cách mạng chỉ phải giải quyết một vấn đề cần kíp: dân tộc giải phóng. Cuộc cách mạng Đông Dương trong giai đoạn hiện tại là một cuộc cách mạng dân tộc giải phóng”.

Mặt trận Việt Minh thành lập năm 1941 công bố Tuyên ngôn, chương trình với Điều lệ, trong đó nhấn mạnh rằng: “Việt Minh chủ trương liên hiệp hết thảy các giới đồng bào yêu nước, không phân biệt giàu nghèo, già trẻ, trai gái, không phân biệt tôn giáo, đặng cùng nhau mưu cuộc dân tộc giải phóng và sinh tồn”.

Bác giao nhiệm vụ xây dựng cơ sở cách mạng và phát triển lực lượng mạnh mẽ ở một số khu vực đầu tiên tại miền núi Việt Bắc cho các đồng chí Trường Chinh, Võ Nguyên Giáp, Phùng Chí Kiên, Phạm Văn Đồng.

Đến mùa xuân năm sau (1942) nhiều “tổng hoàn toàn” và “châu hoàn toàn” theo Việt Minh đã xuất hiện ở Cao Bằng, Lạng Sơn, Bắc Kạn. Phong trào được lực lượng vũ trang của Tuyên truyền giải phóng quân cổ vũ và ủng hộ đã nhanh chóng tiến nhanh đến thời kỳ tiền khởi nghĩa và giành được thắng lợi hoàn toàn trong Tổng Khởi nghĩa tháng Tám năm 1945, giành được chính quyền độc lập trên cả nước khi Đảng mới 15 tuổi.

Mùa xuân năm Bính Tuất (1946) trong không khí hồ hởi của toàn dân đón mừng ngày Tết năm Độc lập đầu tiên, đêm 30, Bác ra Bờ Hồ Hoàn Kiếm, hòa trong dòng người hào hứng đón xuân ở Đền Ngọc Sơn, rồi bảo các đồng chí tùy tùng đến thăm mấy phố nhỏ, ngõ nhỏ gần hồ Hoàn Kiếm.

Bác rảo bước đến ngõ Phất Lộc, dừng chân trước một căn nhà lụp xụp trống tênh trống toàng, thì vừa gặp người chủ nhà là một phụ nữ đi gánh nước về nhà. Chị ngạc nhiên nhìn mấy vị khách lạ. Được hỏi vì sao đến gần giao thừa còn đi kiếm nước, chị đã trả lời chị đi gánh nước thuê cho những nhà khấm khá muốn có chum nước đầy ngày Tết để ra giêng có tiền của nhiều như nước. Bác xúc động nhìn chị chủ nhà với đàn con rách rưới, cả nhà không có gì là Tết. Người mẹ nghèo lúng túng nhìn khách đến không có chỗ ngồi. Sau phút ngơ ngác, chị định thần nhìn ra ông cụ cao tuổi trong đoàn đúng là Bác Hồ như trong ảnh.

Chị bàng hoàng ấp úng: Bác Hồ! Thưa Bác, sao Bác lại đến nhà cháu?

Bác cũng xúc động và nói: Không đến nhà cháu thì Bác đến nhà ai?

Bác nhìn mấy mẹ con chị, rồi nói với đồng chí Chủ tịch Hà Nội Trần Duy Hưng: Chú có thêm nhiệm vụ!

Và rồi một tháng sau, chị phụ nữ nghèo ấy được Ủy ban gọi cho đi làm một chân tạp vụ ở sở công trình thị chính Hà Nội.

Chị nhớ mãi cái đêm giao thừa được gặp Bác năm ấy.

Tết năm sau, những ngày hòa bình đã sớm chấm dứt, giặc Pháp gây hấn tiến hành cuộc xâm lược nước ta một lần nữa. Cuộc toàn quốc kháng chiến bắt buộc phải bắt đầu. Tết kháng chiến đầu tiên, năm Đinh Hợi (1947), ai cũng tưởng Bác đã lên chiến khu Việt Bắc, an toàn khu. Không ai biết, ngày Tết kháng chiến ấy, Bác đã lặn lội vào Thanh Hóa, với mục đích sâu xa: củng cố cho Thanh Hóa trở thành một hậu phương quan trọng, làm thế ỷ giốc cho Việt Bắc và đồng bằng, trung du Bắc Bộ. Muốn thế, vấn đề con người, vấn đề cán bộ là vấn đề phải lo đầu tiên. Củng cố và nâng cao phẩm chất cán bộ để được lòng tin của nhân dân thì việc đầu tiên phải làm là phòng tránh và khắc phục ngay những bệnh quan liêu, tham nhũng, lãng phí, là việc cần thực hiện kiên quyết, không khoan nhượng. Hồ sơ còn lưu của Ban lịch sử Đảng tỉnh ủy Thanh Hóa còn ghi chép đầy đủ bài nói của Chủ tịch Hồ Chí Minh với cán bộ chủ chốt toàn tỉnh Thanh hóa. Bác dặn dò:

“Cán bộ là cái dây chuyền của bộ máy- nếu dây chuyền không tốt, không chạy thì động cơ dù tốt, dù chạy toàn bộ, máy cũng bị tê liệt. Cán bộ là những người đem chính sách của Chính phủ, của Đoàn thể thi hành trong nhân dân, nếu cán bộ dở thì chính sách hay cũng không thể thực hiện được. Vậy cán bộ phải có đức tính như thế nào?

1. Mình đối với mình: Đừng tự mãn, tực túc. Đừng kiêu ngạo, phải học lấy điều hay của người ta. Phải siêng năng, tiết kiệm.

2- Đối với đồng chí mình phải như thế nào? Phải thân ái với nhau, nhưng không che đậy những điều dở. Học cái hay, sửa chữa cái dở. Không nên tranh giành ảnh hưởng của nhau. Không nên ganh ghét đố kỵ và khinh kẻ không bằng mình. Bỏ lối hiếu danh, hiếu vị. Thí dụ, một anh nói giỏi, một anh không, khi ra quần chúng anh nói kém sợ anh nói giỏi lên sẽ được công chúng vỗ tay hoan nghênh lấn át ảnh hưởng mình đi, nên không cho anh nói giỏi lên nói.

3- Đối với công việc, phải thế nào? Trước hết, phải nghĩ cho kỹ, có việc làm trước mắt thành công nhưng thất bại về sau. Có việc địa phương này làm có lợi, nhưng hại cho địa phương khác. Những cái như thế, phải tránh.

4 – Đối với nhân dân: Phải nhớ đoàn thể (Đảng) làm việc cho dân, đoàn thể (Đảng) mạnh hay yếu là ở dân. Dân nghe theo là mình mạnh. Phải hiểu nguyện vọng của dân, sự cực khổ của dân. Hiểu tâm lý của dân, học sáng kiến của dân. Nhưng có những việc dân không muốn mà phải làm, như tản cư, nộp thuế, những việc ấy phải giải thích cho dân rõ.

Phải tôn kính dân, phải làm cho dân tin, phải làm gương cho dân. Muốn cho dân phục, phải được dân tin, muốn cho dân tin, phải thanh khiết (tức trong sạch, liêm khiết).

5 – Đối với Đoàn thể: Trước lúc mình vào đoàn thể nào, phải hiểu đoàn thể ấy là gì? Vào làm gì? Mỗi đoàn thể phải vì dân, vì nước. Khi bình thời phải hết sức làm việc. Khi nguy hiểm, phải hy sinh vì đoàn thể. Hy sinh tính mạng, lợi quyền, giữ danh giá của đoàn thể. Muốn giữ danh giá của đoàn thể, phải giữ danh giá của mình. Không được báo cáo láo như: làm thành một việc thì phóng đại, thất bại thì giấu đi.

Sau Hội nghị ngày Tết ấy, Bác còn gửi thư chung cho toàn thể các đồng chí Trung bộ, yêu cầu phải kiên quyết tẩy sạch những khuyết điểm: địa phương chủ nghĩa, óc bè phái, cô độc, hẹp hòi, ham chuộng hình thức, ích kỷ, kiêu ngạo,v.v…

Bác đặc biệt lưu ý: “Thậm chí có nơi có những đồng chí còn giữ óc địa vị, cố tranh làm cho được chức ủy viên này, chủ tịch kia. Còn những đồng chí lo ăn ngon mặc đẹp, lo phát tài, lo chiếm của công thành của tư, đạo đức cách mạng thế nào, dư luận chê bai thế nào cũng mặc. Có nơi các đồng chí chẳng những không phê bình giúp nhau sửa đổi, mà lại che đậy cho nhau, tha thứ cho nhau, giấu cả đoàn thể. Thành thử càng này càng hủ hóa, càng hỏng việc”.

Những lời Bác khuyên nhủ cặn kẽ như trên, khi thấm vào gan ruột từng người, đã khiến cho Thanh Hóa rèn luyện được một đội ngũ cán bộ cần, kiệm, liêm chính, chí công vô tư, được lòng dân nên đi đến thắng lợi trong mọi việc.

Lời Bác dạy trong Tết năm Đinh Hợi (1947) nay còn được in trong cuốn Hồ Chí Minh Toàn tập (tập I) để làm bài học luôn luôn mới, soi sáng đường cho chúng ta đi.

Trần Thái Bình

VGPNews

Ho Chi Minhs strategic vision in Vietnams Declaration of Independence

TUYÊN NGÔN ĐỘC LẬP
NƯỚC VIỆT NAM DÂN CHỦ CỘNG HOÀ

Hỡi đồng bào cả nước,

Tất cả mọi người đều sinh ra có quyền bình đẳng. tạo hóa cho họ những quyền không ai có thể xâm phạm được; trong những quyền ấy, có quyền được sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc”.

Lời bất hủ ấy ở trong bản Tuyên ngôn độc lập năm 1776 của nước Mỹ. Suy rộng ra, câu ấy có ý nghĩa là: tất cả các dân tộc trên thế giới đều sinh ra bình đẳng; dân tộc nào cũng có quyền sống, quyền sung sướng và quyền tự do.
Bản tuyên ngôn nhân quyền và dân quyền của cách mạng Pháp năm 1791 cũng nói: “người ta sinh ra tự do và bình đẳng về quyền lợi, và phải luôn luôn được tự do và bình đẳng về quyền lợi”.

Đó là những lẽ phải không ai chối cãi được.

Thế mà hơn tám mươi năm nay, bọn thực dân Pháp lợi dụng lá cờ tự do, bình đẳng, bác ái, đến cướp đất nước ta, áp bức đồng bào ta. hành động của chúng trái hẳn với nhân đạo và chính nghĩa.

Về chính trị, chúng tuyệt đối không cho nhân dân ta một chút tự do dân chủ nào.

Chúng thi hành những luật pháp dã man. Chúng lập ba chế độ khác nhau ở trung, nam, bắc để ngăn cản việc thống nhất nước nhà của ta, để ngăn cản dân tộc ta đoàn kết.
Chúng lập ra nhà tù nhiều hơn trường học. Chúng thẳng tay chém giết những người yêu nước thương nòi của ta. Chúng tắm các cuộc khởi nghĩa của ta trong những bể máu.

Chúng ràng buộc dư luận, thi hành chính sách ngu dân.
Chúng dùng thuốc phiện, rượu cồn để làm cho nòi giống ta suy nhược.

Về kinh tế, chúng bóc lột dân ta đến tận xương tủy, khiến cho dân ta nghèo nàn, thiếu thốn, nước ta xơ xác, tiêu điều.

Chúng cướp không ruộng đất, hầm mỏ, nguyên liệu.

Chúng đặt ra hàng trăm thứ thuế vô lý, làm cho dân ta, nhất là dân cày và dân buôn, trở nên bần cùng.

Chúng không cho các nhà tư sản ta ngóc đầu lên. Chúng bóc lột công nhân ta một cách vô cùng tàn nhẫn.

Mùa thu năm 1940, phát-xít Nhật đến xâm lăng Đông – dương để mở thêm căn cứ đánh đồng minh, thì bọn thực dân Pháp quỳ gối đầu hàng, mở cửa nước ta rước Nhật. Từ đó dân ta chịu hai tầng xiềng xích: Pháp và Nhật. Từ đó dân ta càng cực khổ, nghèo nàn. kết quả là cuối năm ngoái sang đầu năm nay, từ Quảng trị đến Bắc kỳ hơn hai triệu đồng bào ta bị chết đói.

Ngày 9 tháng 3 năm nay, Nhật tước khí giới của quân đội Pháp. Bọn thực dân Pháp hoặc bỏ chạy hoặc đầu hàng. Thế là chẳng những chúng không “bảo hộ” được ta, trái lại, trong 5 năm, chúng dã man bán nước ta hai lần cho Nhật.

Trước ngày mồng 9 tháng 3, biết bao lần Việt minh đã kêu gọi người Pháp liên minh để chống Nhật. Bọn thực dân Pháp đã không đáp ứng, lại thẳng tay khủng bố Việt minh hơn nữa.

Thậm chí đến khi thua chạy, chúng còn nhẫn tâm giết nốt số đông tù chính trị ở Yên bái và Cao bằng.

Tuy vậy, đối với nước Pháp, đồng bào ta vẫn giữ một thái độ khoan hồng và nhân đạo. Sau cuộc biến động ngày mồng 9 tháng 3, Việt minh đã giúp cho nhiều người Pháp chạy qua biên thùy, lại cứu cho nhiều người Pháp ra khỏi nhà giam Nhật, và bảo vệ tính mạng và tài sản cho họ.

Sự thật là từ mùa thu năm 1940, nước ta đã thành thuộc địa của Nhật, chứ không phải thuộc địa của Pháp nữa. Khi Nhật hàng Đồng minh thì nhân dân cả nước ta đã nổi dậy giành chính quyền lập nên nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.

Sự thật là dân ta đã lấy lại nước Việt Nam từ tay Nhật, chứ không phải từ tay Pháp.

Pháp chạy, Nhật hàng, vua Bảo Đại thoái vị. dân ta đã đánh đổ các xiềng xích thực dân gần một trăm năm nay để gây dựng nên nước Việt Nam độc lập. Dân ta lại đánh đổ chế độ quân chủ mấy mươi thế kỷ mà lập nên chế độ dân chủ cộng hòa.

Bởi thế cho nên, chúng tôi, lâm thời chính phủ của nước Việt Nam mới, đại biểu cho toàn dân Việt Nam, tuyên bố thoát ly hẳn quan hệ thực dân với Pháp, xóa bỏ hết những hiệp ước mà Pháp đã ký về nước Việt Nam, xóa bỏ tất cả mọi đặc quyền của Pháp trên đất nước Việt Nam.

Toàn dân Việt Nam, trên dưới một lòng, kiên quyết chống lại âm mưu của bọn thực dân Pháp.

Chúng tôi tin rằng các nước đồng minh đã công nhận những nguyên tắc dân tộc bình đẳng ở các hội nghị Tê-hê-răng và Cựu-kim-sơn, quyết không thể không công nhận quyền độc lập của dân Việt Nam.

Một dân tộc đã gan góc chống ách nô lệ của Pháp hơn tám mươi năm nay, một dân tộc đã gan góc đứng về phe đồng minh chống phát-xít mấy năm nay, dân tộc đó phải được tự do! dân tộc đó phải được độc lập!

Vì những lẽ trên, chúng tôi, Chính phủ lâm thời của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, trịnh trọng tuyên bố với thế giới rằng:

Nước Việt Nam có quyền hưởng tự do và độc lập, và sự thật đã thành một nước tự do, độc lập. Toàn thể dân tộc Việt Nam quyết đem tất cả tinh thần và lực lượng, tính mạng và của cải để giữ vững quyền tự do, độc lập ấy.

-oOo-

02September1945