Tag Archive | Lãnh tụ vĩ đại

Nữ họa sĩ Pháp làm phim về Chủ tịch Hồ Chí Minh

Nữ họa sĩ, nhà báo Đô-mi-ních đờ Mi-xcôn trong một buổi gặp gỡ báo chí Việt Nam. Ảnh: PL

QĐND – Yêu mến đất nước Việt Nam và lòng kính trọng đặc biệt tới Chủ tịch Hồ Chí Minh, nữ họa sĩ, nhà báo người Pháp Đô-mi-ních Đờ Mi-xcôn (Dominique de Miscault) đã dành toàn bộ tâm huyết của mình để cho ra đời bộ phim tài liệu “Hồ Chí Minh – Ước vọng hòa bình”. Bộ phim này đã được trao tặng cho kênh truyền hình đối ngoại VTV4 của Đài Truyền hình ViệtNam và dự kiến sẽ ra mắt công chúng vào những dịp kỷ niệm sắp tới.

Đối với một nhà làm phim chuyên nghiệp, sản xuất phim tài liệu là việc không dễ dàng, chứ chưa nói đó lại là một bộ phim chính trị-lịch sử. Trong khi đó, bà Đô-mi-ních, vốn là một nghệ sĩ chỉ quen cầm cọ vẽ, bút viết, chụp ảnh, quen ghi lại cuộc sống bằng tâm hồn lãng mạn, thì việc làm phim quả là vô cùng khó khăn. Ngay bản thân nữ họa sĩ cũng chưa bao giờ nghĩ, sẽ có ngày làm một bộ phim về Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Thế nhưng, mối duyên nợ làm phim về Chủ tịch Hồ Chí Minh bất ngờ đến khi bà nhận lời giúp đỡ chị Nguyễn Thu Hà, cán bộ Bảo tàng Hồ Chí Minh, khi vào năm 2003-2004, chị Hà sang Pháp tìm kiếm tư liệu về Bác. “Nhờ việc đi cùng chị Hà vòng quanh nước Pháp để tìm tư liệu về Chủ tịch Hồ Chí Minh, từ những hiểu biết không nhiều về Hồ Chí Minh, tôi đã tò mò rồi thích thú và cuối cùng là ngưỡng mộ con người vĩ đại này”, bà Đô-mi-ních chia sẻ.

Để thực hiện bộ phim tài liệu trên, bà Đô-mi-ních đã tiến hành thu thập tư liệu, hình ảnh về Bác Hồ và Việt Nam tại Trung tâm lưu trữ vùng E-xơ Prô-văng-xơ, Xuy-xi, Mông-mô-răng-xi, Pa-ri và một số địa điểm khác ở Pháp; gặp gỡ và mời nhà báo Lê-ô Phi-guy-e-rơ (nguyên Ủy viên Trung ương Đảng Cộng sản Pháp, người vừa mất hồi tháng 8-2011) tham gia làm phim và trả lời phỏng vấn; phối hợp với phóng viên Hãng truyền hình Arte của Pháp tiến hành quay phim tại Pa-ri và một số địa phương của Pháp; phối hợp với các cơ quan hữu quan Việt Nam để tiến hành thu thập và thẩm định các thông tin, tài liệu, cứ liệu về Chủ tịch Hồ Chí Minh tại Việt Nam phục vụ xây dựng phim.

Tháng 10-2010, bộ phim “Hồ Chí Minh – Ước vọng hòa bình” chính thức được bấm máy và hoàn thành đúng sau một năm. Bộ phim có nội dung dựa theo cuốn sách “Tôi trở lại đất nước Việt Nam tự do” (Je reviens au Vietnam libre) cùng những ghi chép về chuyến đi hơn 20.000km để đến Việt Bắc trong chiến tranh và những cảm nhận của nhà báo Lê-ô Phi-guy-e-rơ về Chủ tịch Hồ Chí Minh tại chiến khu Việt Bắc năm 1950. Bộ phim đã tập trung khắc họa sự tài tình trong lãnh đạo, tinh tế trong văn hóa ứng xử và tinh thần yêu chuộng hòa bình, lòng yêu thương con người của Bác Hồ. Bộ phim được tổ chức theo hình thức phỏng vấn, lồng ghép những cảnh chiến khu Việt Bắc trong thời kỳ kháng chiến chống Pháp nhằm thể hiện những ấn tượng tốt đẹp cũng như những suy nghĩ, trải nghiệm của ông Lê-ô Phi-guy-e-rơ về đất nước, con người Việt Nam ngày nay yêu chuộng tự do và độc lập.


Một cảnh trong phim “Hồ Chí Minh – Ước vọng hòa bình”. Nguồn: VTV4

Với thời lượng chưa đầy 50 phút, bộ phim đã thể hiện những giá trị tình cảm lớn lao và khát vọng hòa bình của Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng như những tiên đoán tài tình của Người trong quá trình lãnh đạo cuộc kháng chiến và tình cảm yêu mến, kính trọng của bạn bè quốc tế nói chung và nhân dân Pháp nói riêng đối với vị lãnh tụ của dân tộc Việt Nam. “Thật khó khăn với tôi, bởi tôi là một nghệ sĩ nên đối tượng tôi hướng tới và thường thích là những gì mang vẻ đẹp thẩm mỹ, còn đây lại là danh nhân chính trị, lịch sử. Nhưng dù vậy, tôi vẫn muốn cố gắng mang đến một cách nhìn hết sức nhân văn và đậm tính thẩm mỹ về nhân vật Hồ Chí Minh. Vì với tôi, Chủ tịch Hồ Chí Minh trước hết là một Con người”, bà Đô-mi-ních nói.

Phương Linh

qdnd.vn

Lời tri ân của những người con đất Việt với Bác

Năm 2009 nhân kỷ niệm 40 năm thực hiện Di chúc Hồ Chủ tịch, Ban Quản lý Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh đã tổ chức chương trình nghệ thuật “Hồ Chí Minh – cả một đời vì nước vì dân”, tại Quảng trường Ba Đình.

Phát biểu tại chương trình, ông Tô Huy Rứa, Ủy viên Bộ Chính trị, Trưởng Ban Tuyên giáo Trung ương, nhấn mạnh: “Chủ tịch Hồ Chí Minh là người Việt Nam đầu tiên vận dụng sáng tạo và phát triển chủ nghĩa Mác – Lênin gắn chặt với thực tiễn nước ta. Người đã sáng lập và rèn luyện Đảng Cộng sản Việt Nam thành đội tiên phong bản lĩnh, trí tuệ, dày dạn kinh nghiệm của giai cấp công nhân và nhân dân lao động Việt Nam, lãnh đạo cách mạng Việt Nam đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác”.

Chương trình là lời tri ân của những người con đất Việt với Người. ẢNh minh họa.

Là nhà chiến lược thiên tài, Hồ Chủ tịch đã cùng Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo thắng lợi hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ. Những cống hiến đặc sắc của Người về lý luận cách mạng giải phóng dân tộc đã góp phần quan trọng thúc đẩy phong trào giải phóng dân tộc ở các nước thuộc địa trong thế kỷ XX và ngày nay còn nguyên giá trị đối với cuộc đấu tranh vì hòa bình, độc lập, dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội.

Theo TTXVN

baodatviet.vn

Nguồn: YouTube.com

Di chúc của bậc đại trí, đại nhân, đại dũng

Di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh là một văn kiện lịch sử quý báu, một tài sản vô giá. Đây là sản phẩm kết tụ tinh hoa tư tưởng, đạo đức và tâm hồn cao đẹp của vị Anh hùng giải phóng dân tộc, nhà văn hoá kiệt xuất Hồ Chí Minh – bậc đại trí, đại nhân, đại dũng.

Những nhận định trên đây được đưa ra tại Hội thảo kỷ niệm 40 năm thực hiệnDi chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh, do Học viện Chính trị – Hành chính Quốc gia Hồ Chí Minh tổ chức, hôm 25/8. Trên 30 tham luận được gửi tới và trình bày tại Hội thảo, đã tập trung làm rõ tầm vóc lịch sử và giá trị to lớn của bản Di chúc. Đồng thời, nêu bật những kết quả đã đạt được và những bài học kinh nghiệm qua 40 năm thực hiện Di chúc của Người.

Tài sản vô giá

Mang tới hội thảo bài tham luận phân tích giá trị nhân văn cao cả của bản Di chúc, Phó giáo sư Hoàng Trang, nguyên Phó Viện trưởng Viện Hồ Chí Minh và các lãnh tụ của Đảng, đánh giá: “Di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh toát lên khí phách, tinh thần lạc quan chiến thắng của một bậc đại trí, đại nhân, đại dũng. Di chúc kết tinh cả tinh hoa tư tưởng, đạo đức và tâm hồn cao đẹp của một vĩ nhân hiếm có, suốt đời phấn đấu hy sinh vì Tổ quốc và nhân loại. Sinh thời, Chủ tịch Hồ chí Minh đã sống với triết lý nhân văn với lòng khoan dung độ lượng và triết lý đạo đức cần, kiệm, liêm, chính, chí công, vô tư. Bởi vậy, khi viết Di chúc, Người vẫn quên mình, không đòi hỏi gì cho mình mà chỉ nghĩ và lo cho con người, cho nhân dân, cho phong trào cách mạng thế giới”.

Vào lăng viếng Bác. Ảnh: Trung Kiên.

Khẳng định trong toàn bộ Di sản tư tưởng lý luận của Hồ Chí Minh, Di chúc hiện là tác phẩm được quan tâm nhiều nhất, Phó giáo sư Nguyễn Khánh Bật, nguyên Viện trưởng Viện Hồ Chí Minh và các lãnh tụ của Đảng, cho rằng, những ai quan tâm đến Hồ Chí Minh, quan tâm đến Việt Nam đều không thể không đọc và không tìm hiểu bản Di chúc lịch sử. Bởi lẽ, Di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh là sự hội tụ trí tuệ, truyền thống tốt đẹp của văn hóa dân tộc với tinh hoa văn hóa của nhân loại, đã đi vào lịch sử dân tộc, trở thành một tài sản vô giá.

“Mãi soi sáng đường chúng ta đi”

Theo Giáo sư Phùng Hữu Phú, Phó trưởng Ban Tuyên giáo trung ương, thời gian càng lùi xa, suy ngẫm những lời dặn lại đồng chí, đồng bào trước lúc đi xa của Bác Hồ, đối chiếu với những gì đã và đang diễn ra trong hiện thực đời sống đất nước, thế giới…,càng cảm nhận sâu sắc và thấm thía khôn cùng tầm cao tư tưởng, tầm tổng kết, dự báo, định hướng thiên tài trong Di chúc của Bác. Bốn mươi năm thực hiện Di chúc Bác Hồ, toàn Đảng, toàn dân, toàn quân đã phấn đấu không mệt mỏi, vượt qua muôn vàn khó khăn, thử thách, giành được những thành tựu to lớn. “Chúng ta kỷ niệm 40 năm thực hiện Di chúc Bác Hồ trong bối cảnh đất nước sau hơn 20 năm đổi mới đang trên đà phát triển, đồng thời đang phải đối mặt với những khó khăn, thách thức gay gắt trước tác động của cuộc khủng hoảng tài chính, suy giảm kinh tế toàn cầu. Chưa bao giờ những lời căn dặn, đúc kết, tiên liệu của Bác Hồ lại thấm thía, sâu sắc, thiết thực đối với chúng ta như trong những ngày tháng này”, Giáo sư Phùng Hữu Phú nhận định.

Phó giáo sư Trương Thị Thông, Phó giám đốc Học viện Chính trị – Hành chính Quốc gia Hồ Chí Minh, phân tích: “Những điều căn dặn, những ước nguyện và mong muốn của Chủ tịch Hồ Chí Minh thể hiện trong Di chúc thật giản dị, sát thực và thiêng liêng. Chính vì vậy, bản Di chúc của Người trở thành một tác phẩm bất hủ, còn chính Người trở thành nhà tư tưởng lớn của mọi thời đại. Tư tưởng Hồ Chí Minh, Di chúc Hồ Chí Minh sẽ sống mãi trong tâm hồn, trí tuệ dân tộc Việt Nam và sự trân trọng, kính phục của nhân dân thế giới. Bản Di chúc mãi mãi soi sáng đường chúng ta đi”.

Trần Ngọc Trung

baodatviet.vn

Chuyện về 50 đồng Bác tặng một làng nghề

Năm nay đã ngoài 80 tuổi, song lão nghệ nhân Nguyễn Văn Nắng vẫn còn nhớ như in câu chuyện cách đây nửa thế kỷ: Bác Hồ tặng Tổ hợp thủ công mỹ nghệ Việt Tiến 50 đồng làm vốn, với mong muốn khôi phục và phát triển làng nghề truyền thống mây tre đan Ngọc Động.

Trước năm 1945, vùng quê chiêm trũng Ngọc Động, xã Hoàng Đông, huyện Duy Tiên, tỉnh Hà Nam, rất nghèo. Trai tráng bỏ làng ra đi tha hương cầu thực khắp nơi. Hồi đó, cụ Binh Cổng và cụ Nguyễn Văn Nhẫn khăn gói ra tận Từ Sơn, Bắc Ninh, để học nghề mộc và đan lát thủ công mỹ nghệ.

Nuối tiếc vì không được gặp Bác 

Học xong, hai cụ về quê, truyền nghề cho dân trong làng. Dần dà, nghề mây tre đan ở Ngọc Động được mở rộng. Đến năm 1950, cụ Nắng và một số người đứng ra vận động các hộ trong thôn góp vốn thành lập Tổ hợp thủ công mỹ nghệ Việt Tiến. Sau đó, Tổ hợp đổi tên thành Hợp tác xã Việt Tiến.

Ông Nguyễn Văn Phú, con trai cụ Nẵng, luôn tự hào mỗi khi nói về chuyện 50 đồng vốn của Bác Hồ tặng.

Trước dịp kỷ niệm 13 năm Cách mạng Tháng Tám thành công (19/8/1958), chi bộ Hợp tác xã tổ chức họp và quyết định cử những người có tay nghề cao thiết kế, sản xuất chiếc ghế tựa (ngồi làm việc) và chiếc ghế đu (nằm thư giãn khi mệt), để tặng Bác Hồ. Cặp ghế làm xong, Chi bộ cử đoàn công tác vận chuyển ra Hà Nội, sau đó thuê xe chở về Phủ Chủ Tịch. “Tuy nhiên, vì lúc đó Bác bận việc nước nên cả đoàn không gặp được Bác. Sau đó, hai chiếc ghế được gửi cho các đồng chí cần vụ chuyển lên Phủ Chủ tịch để tặng Bác, rồi chúng tôi ra về”, cụ Nắng nuối tiếc.

Đúng vào dịp Ngày Tết Độc Lập, ngày 2/9/1958, Hợp tác xã Việt Tiến nhận được giấy báo của bưu điện với nội dung Bác Hồ gửi tặng Hợp tác xã 50 đồng, kèm theo một bức thư. Trong thư, Bác viết: “Bác đã nhận được quà của các chú. Bác trích tiền tiết kiệm của Bác dành dụm được tặng các chú 50 đồng làm vốn, để các chú khôi phục và phát triển làng nghề truyền thống mây tre đan ở địa phương…”.

Đi lên nhờ 50 đồng vốn của Bác Hồ

Nhận tiền và đọc thư Bác, tất cả các xã viên Hợp tác xã Việt Tiến đều cảm động và vui mừng khôn xiết. Cụ Nắng xúc động nhớ lại: “50 đồng vốn Bác tặng là một món quà vô cùng có ý nghĩa, là nguồn động viên tinh thần lớn lao đối với toàn thể xã viên. Chi bộ quyết định đầu tư ngay số vốn này cho sản xuất…”

Ông Nguyễn Văn Phú, con trai cả cụ Nắng, từng là Chủ nhiệm Hợp tác xã Việt Tiến, cho biết, giai đoạn 1989 – 1991, làng nghề Ngọc Động gặp rất nhiều khó khăn. Sản phẩm ứ đọng, một số tổ hợp nhỏ lẻ giải thể. Trước tình hình này, các nghệ nhân cao niên đã thường xuyên đến từng hộ động viên, khơi dậy sự tự hào về những đồng vốn mà Bác Hồ đã tặng trước đây. Nhờ vậy, các xã viên đã ý thức được rằng, bỏ nghề đồng nghĩa với việc tiêu hết tiền vốn của Bác, là không xứng với tổ tiên. Bởi vậy, ngọn lửa say mê, nhiệt huyết với nghề đã được thắp sáng trong lòng người dân Ngọc Động. Họ lại tiếp tục làm nghề, sống chết với nghề.

Kể từ đó đến nay, Ngọc Động không ngừng đi lên. Hiện tại, Hợp tác xã có hơn 600 hộ xã viên, sản xuất hơn 200 mặt hàng mây tre đan, xuất khẩu đến 12 nước trên thế giới. Hơn 1.100 lao động có việc làm thường xuyên với thu nhập ổn định, bình quân 8,5 triệu đồng mỗi người một năm.

Hạc Thành

baodatviet.vn

‘Học Bác thì phải làm theo Bác’

“Học Bác đã quan trọng, làm theo Bác càng quan trọng hơn. Càng là cán bộ lãnh đạo thì càng phải làm theo để làm gương cho cấp dưới”, ông Nguyễn Đình Hương, nguyên Ủy viên trung ương Đảng, Phó trưởng Ban Tổ chức Trung ương mở đầu cuộc trò chuyện với Đất Việt.

80 tuổi, gần 50 năm làm công tác cán bộ của Đảng, ông Nguyễn Đình Hương tâm sự: “Có rất nhiều điều mà chúng ta phải học tập Bác. Riêng tôi, là một đảng viên, tôi thấm thía nhất ba bài học lớn: đoàn kết, thương yêu nhau trong nội bộ Đảng, giữ gìn đạo đức cách mạng và phải biết dựa vào dân, thực sự là đầy tớ của dân”. Hằng năm, cứ đến ngày 21/7 âm lịch, ngày giỗ Bác, ông lại cùng bạn bè cùng thời đến thắp hương cho Người rồi lại cùng nhau ngồi hàn huyên những kỷ niệm về Người, bài học của Người.

– Thưa ông, vì sao bài học giữ gìn sự đoàn kết, thương yêu nhau trong nội bộ Đảng lại khiến ông tâm đắc?

– Dưới sự lãnh đạo của Đảng, dân tộc ta đã đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác. Chúng ta đã đánh và thắng bao nhiêu kẻ thù hùng mạnh, nếu không đoàn kết, liệu có thắng được không? Trong Di chúc, Bác đã nói: “Đoàn kết, đoàn kết, đại đoàn kết –  Thành công, thành công, đại thành công”. Điều mà Bác quan tâm trước hết là đoàn kết trong nội bộ Đảng, trước hết là Ban Chấp hành Trung ương, trong Bộ Chính trị.

Tôi được gần gũi nhiều với anh Vũ Kỳ, thư ký của Bác. Có lần, anh Kỳ kể với tôi là cứ chiều thứ bảy hằng tuần, Bác lại mời cơm các anh trong Bộ chính trị. Nhưng Bác mời cơm không phải là đến để bàn thời cuộc, bàn công việc. Mục đích của Bác là sau một tuần làm việc, các anh ấy gần gũi nhau, có gì mắc mứu thì thông cảm, chia sẻ với nhau. Câu chuyện chỉ như vậy, nhưng có thể thấy Bác quan tâm từng ly từng tý tới sự đoàn kết trong nội bộ Đảng, mà Bác là tấm gương, là trung tâm. Không phải ngẫu nhiên mà trong di chúc, Bác lại nhắc nhở cán bộ, đảng viên: “Phải có tình đồng chí thương yêu lẫn nhau”.

Bác Hồ tại nhà sàn Việt Bắc năm 1947. (Ảnh tư liệu).

– Nếu không có tình đồng chí thương yêu nhau thì cũng không thể có đoàn kết, thưa ông?

– Đúng. Bây giờ tôi với anh không thương yêu nhau thì làm gì có đoàn kết, bao dung, tha thứ. Anh có hoàn cảnh của anh, tôi có hoàn cảnh của tôi. “Ai nên khôn mà chẳng dại đôi lần”. Trong cuộc đời cách mạng, đâu phải ai cũng sáng suốt mà không mắc sai lầm nào. Tôi thấy trong hai cuộc kháng chiến, tình đồng chí thật trong sáng, chia nhau từng điếu thuốc, từng bát cơm, thương yêu nhau lắm. Còn bây giờ điều kiện vật chất khá hơn nhưng tình đồng chí lại không được như trước.

–  Ông nghĩ thế nào vầ câu Bác Hồ đã viết trong Di chúc: “Các đồng chí từ Trung ương đến các chi bộ cần phải giữ gìn sự đoàn kết nhất trí của Đảng như giữ gìn con ngươi của mắt mình”?

– Có một lần, anh Tố Hữu kể với tôi, trong một lúc thư giãn, một cán bộ cấp cao hỏi Bác: “Thưa Bác, bây giờ Bác sợ cái gì nhất?”. Bác Hồ bảo: “Chú hỏi câu đó, thì Bác trả lời chú là, đế quốc Mỹ Bác không sợ, không sợ ai hết. Điều làm Bác sợ là các chú mất đoàn kết”.

Cho nên, Bác nhắc tới sự đoàn kết và phải có tình đồng chí thương yêu nhau trong di chúc là như thế. Vì để đoàn kết được là không đơn giản. Anh có chức có quyền, anh có nhà lầu xe hơi, còn anh lại chẳng có gì, thì ngồi với nhau, thống nhất với nhau khó lắm. Đó là chưa kể đến chuyện anh hống hách, quan liêu, coi thường ý kiến của người khác. 

Ông Nguyễn Đình Hương. Ảnh: Như Ý.

– Vậy còn bài học về đạo đức cách mạng?

– Bác Hồ đã nói rồi, Đảng ta là Đảng cầm quyền. Mỗi đảng viên phải thật sự thấm nhuần đạo đức cách mạng, thật sự cần kiệm liêm chính, chí công vô tư. Bây giờ, nếu xem xét tiêu chuẩn một bộ trưởng, một bí thư, chúng ta không nên nói chung chung là có đức có tài, mà phải xem là họ có thật sự cần kiệm liêm chính hay chưa, thật sự chí công vô tư hay chưa.

Tôi còn nhớ một câu chuyện, có một cán bộ cấp cao làm một cái nhà rất to. Khi đến tai Bác, Bác rất nhẹ nhàng chứ không phê phán gì. Bác mời cơm vị cán bộ này và trong bữa cơm, Bác chỉ nói đúng một câu: “Người dân người ta khổ hơn mình, mà nghe nói chú làm cái nhà to lắm”. Chỉ một câu như thế mà vị cán bộ này về trả nhà ngay. Cứ so sánh với bây giờ mà tôi thấy băn khoăn quá. Nhiều cán bộ, đảng viên mua biệt thự, sắm xe hơi hàng tỷ đồng, nhiều người còn có mấy cái nhà lầu, ba bốn xe ô tô. Nếu chỉ với đồng lương nhà nước, liệu họ có thể mua được những thứ đó?.

Bác Hồ vẫn luôn căn dặn cán bộ, đảng viên phải xứng đáng là người đầy tớ thật trung thành của nhân dân. Tư tưởng của Bác về vấn đề này là rất sâu sắc. Khi Đảng có những sai lầm, thậm chí là sai lầm nghiêm trọng, Bác gọi mấy anh lãnh đạo đến và bảo: “Bây giờ các chú phải về xin lỗi dân. Nếu dân tha thứ cho thì không sợ. Nước yên thì thuyền yên”. Còn như hiện nay, tôi thấy nhiều cán bộ, đảng viên không xứng đáng là đầy tớ của dân. Trong khi đời sống của người dân còn không ít khó khăn, mà “đầy tớ” cứ chiều chiều lại đi chơi tennis, đánh golf, xông hơi, xe đưa rước…

– Cuộc vận động Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh qua hai năm thực hiện đã thu được kết quả bước đầu. Ông có đề xuất gì vào việc tiếp tục thực hiện để góp phần đẩy lùi những suy thoái, tiêu cực trong một số cán bộ, đảng viên và để họ thực sự là đầy tớ của dân như lời Bác dạy?

– Tôi cho rằng, học Bác đã khó, làm theo Bác càng khó hơn. Quan trọng nhất vẫn là làm theo Bác. Càng là cán bộ cấp cao càng phải làm theo để làm gương cho cấp dưới, cho đảng viên. Phải nói thực là hiện nay vẫn còn không ít cán bộ, đảng viên học Bác nhưng lại không làm theo Bác. Biểu hiện rõ nhất là họ chưa đoàn kết, chưa thương yêu nhau, không giữ gìn đạo đức cách mạng và không thực sự là đầy tớ của dân. Đó là điều rất đáng buồn.

Vì thế, tôi nghĩ, để cuộc đấu tranh giữa tích cực và tiêu cực, giữa trung thực và cơ hội, giữa cái thẳng thắn với xun xoe xu nịnh trong Đảng đạt kết quả, chúng ta càng cần đẩy mạnh cuộc vận động. Phải học tập và làm theo một cách thực chất, chứ không phải là hình thức. Chỉ có thực chất, Đảng mới trong sạch, vững mạnh, mới không còn những người cơ hội, lợi dụng chức quyền để vun vén cá nhân.

– Xin trân trọng cảm ơn ông!

Lê Vỵ – Ngọc Trung (thực hiện)

baodatviet.vn

Tài chiêu hiền đãi sĩ của Bác Hồ

Nhân cách và ứng xử của Bác Hồ không chỉ thu hút trí thức kiều bào về nước xây dựng quê hương mà còn động viên họ một lòng một dạ phụng sự Tổ quốc.

>> Ba lần được gặp Bác Hồ
>> Chuyện pho tượng đồng Bác Hồ đầu tiên ở Thanh Hoá

Cách sử dụng nhân tài của Bác Hồ là một bài học sâu sắc đối với những người và cơ quan quản lý sử dụng cán bộ, công chức trong hiện tại và cả tương lai. Nhân kỷ niệm 119 năm ngày sinh nhật Bác, Đất Việt xin giới thiệu bài viết của giáo sư Nguyễn Hoa Thịnh về vấn đề này.

‘‘Dụng nhân như dụng mộc”

Những ngày đầu cách mạng, Bác đã mời về nước nhiều trí thức Việt Nam ở nước ngoài. Họ có chung ba đặc điểm: yêu nước kiên trung, có kiến thức uyên thâm và có cống hiến đích thực, đã được kiểm nghiệm qua thực tế.

Thế hệ trí thức Việt Nam đầu tiên sau Cách mạng Tháng tám được lịch sử ghi nhận như Vũ Đình Hoè, Tạ Quang Bửu, Trần Đại Nghĩa, Hồ Đắc Di, Tôn Thất Tùng… đều là nhân tài Việt Nam được đào tạo ở nước ngoài, trở về nước góp sức xây dựng đất nước.

Cách sử dụng nhân tài của Bác là một kinh nghiệm luôn mới đối với thực tế hiện nay. Có người Bác mời về nước làm việc ngay, nhưng cũng có người Bác chờ họ học tiếp rồi mới mời về.

Nhân cách của Hồ Chủ tịch luôn là tấm gương sáng để các thế hệ noi theo.

Bác cũng dành những công việc phù hợp cho từng “hiền sĩ”. Người giao cho giáo sư Tạ Quang Bửu nhiều trọng trách ở Bộ Quốc phòng và trong Chính phủ Việt Nam Dân chủ cộng hòa, giáo sư Trần Đại Nghĩa phụ trách ngành quân giới Việt Nam và nhiều trọng trách khác, giáo sư Nguyễn Văn Huyên phụ trách ngành giáo dục, giáo sư Tôn Thất Tùng, Hồ Đắc Di… thì tiếp tục cống hiến và dìu dắt các thế hệ ngành y phục vụ kháng chiến, kiến quốc.Nếu nhân cách của Bác thu hút các học giả thời bấy giờ về đóng góp cho quê hương một cách tự nguyện thì cách hành xử và tri thức của Người khiến họ một dạ dốc tâm dốc sức cho Tổ quốc. Và thực tế, sự phát triển rất nhanh chóng về mọi mặt của đất nước những ngày đầu giành độc lập sau hàng thế kỷ bị nô lệ là một bằng chứng sống động về tài “chiêu hiền đãi sĩ” của Người.

Tôi nhớ một câu nói về Bác, đại ý, ở Nguyễn Ái Quốc toả ra ánh sáng của một nền văn hoá, không phải của châu Âu mà có lẽ là nền văn hoá của tương lai. “Con mắt tương lai” của Hồ Chủ tịch khiến chúng ta nể phục.

Dõi vào thực tế hiện nay, đâu đó vẫn còn tồn tại cách đánh giá người tài theohệ thống “chức quyền”. Trong khi đó, người trí thức muốn cống hiến phải dành toàn tâm, toàn sức và thời gian cho nghiên cứu, không thể phân tâm làm những công việc hành chính. Vì lẽ đó, vô hình trung, những người làm khoa học thường có vị trí không cao trong xã hội.

Bác Hồ đã nói: “Dụng nhân như dụng mộc”, dùng người như dùng gỗ, gỗ tốt phải làm đồ quý. Những người trí thức theo Bác về xây dựng đất nước trong những buổi đầu đã nổi danh về tài, trí, hơn thế là lòng yêu nước sắt son. Chính Bác và dân tộc khi đó đã thổi vào lòng họ những tình cảm và sự trân trọng vô song với đất nước, làm bùng lên khát khao cống hiến cho nước nhà. Đối với các nhà khoa học, vốn là những tinh hoa của khoa học thế giới chứ không riêng gì Việt Nam, “đồng lương” tinh thần ấy có giá trị gấp nhiều lần ưu đãi về vật chất.

Cơ hội cũng là thách thức với nhà khoa học trẻ

Giáo sư Nguyễn Hoa Thịnh.

Các nhà khoa học thời chúng tôi, có thể nói, có nhiều thuận lợi hơn bây giờ. Chúng tôi được bao cấp hoàn toàn khi đi học và không phải lo nghĩ về chuyện xin việc khi học xong, vì đã có Nhà nước phân công công tác. Tuy vậy, chúng tôi không bao giờ thoả mãn học đến đâu là đủ.Hiện, như chúng ta đã biết, khoa học đã trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp. Nếu trước kia, từ lúc có phát minh khoa học đến lúc áp dụng vào thực tiễn phải mất nhiều năm, thậm chí mất hàng thế kỷ thì ngày nay, khoảng cách đó đã rút ngắn lại, đến mức gần như không còn ranh giới, nghĩa là nhất thể hóa khoa học và sản xuất. Đó là cơ hội lớn cho các nhà khoa học trẻ, nhưng cũng là thách thức cho họ. Nếu họ bằng lòng với những cái đã có thì họ rất nhanh sẽ trở nên lạc hậu. Vì thế, hơn bao giờ hết, các nhà khoa học trẻ cần ghi nhớ lời Bác dạy: luôn phải gắn chặt giữa lý luận và thực tiễn.

Những nhà khoa học trẻ hiện rất nhanh nhạy và khá thực tiễn. Họ chỉ cần được chỉ dẫn đúng hướng, Nhà nước quan tâm thì sẽ tiến rất xa. Sự quan tâm của Nhà nước thể hiện bằng hệ thống giáo dục, khoa học công nghệ và sản xuất cùng những chính sách thu hút và trọng dụng nhân tài…

Giáo sư, Nhà giáo nhân dân, trung tướng Nguyễn Hoa Thịnh nguyên là giám đốc Học viện kỹ thuật quân sự, chủ nhiệm Tổng cục Kỹ thuật Quân đội nhân dân Việt Nam, giám đốc Trung tâm (Viện) Khoa học và Công nghệ quân sự, hiện là chủ tịch Hội đồng quản lý Viện Phát triển công nghệ, truyền thông và hỗ trợ cộng đồng.

GS. Nguyễn Hoa Thịn

baodatviet.vn

Chủ tịch Hồ Chí Minh với Đền Hùng

Khu di tích Đền Hùng thuộc thôn Cổ Tích, xã Hy Cương, TP Việt Trì, Phú Thọ là nơi thờ các Vua Hùng – Tổ Tiên chung của dân tộc Việt Nam. Đây là một khu di tích đặc biệt quan trọng, qua các thời kỳ lịch sử luôn được Nhà nước và nhân dân quan tâm, gìn giữ. Trong cuộc đời hoạt động của mình, Hồ Chủ Tịch đã 2 lần về thăm Khu di tích này.

Sau hiệp định Geneva, ngày 19.9.1954, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chọn Đền Hùng làm nơi gặp gỡ và nói chuyện với cán bộ, chiến sỹ Đại đoàn quân Tiên Phong – Sư đoàn 308, căn dặn về nhiệm vụ tiếp quản Thủ đô. Cuộc gặp mặt của lãnh tụ Hồ Chí Minh với cán bộ, chiến sỹ Đại đoàn quân Tiên Phong không phải là sự tình cờ, mà là chủ đích của Người. Lần đầu tiên, cả chặng đường dài mấy ngàn năm của lịch sử dân tộc, được Người tổng kết trong một câu nói lịch sử nổi tiếng:

Các Vua Hùng đã có công dựng nước
Bác cháu ta phải cùng nhau giữ lấy nước

Trong thời điểm Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định nhiệm vụ lịch sử và nhiệm vụ cách mạng của dân tộc là dựng nước và giữ nước, lúc đó việc nghiên cứu khoa học về thời đại Hùng Vương chưa có điều kiện để tiến hành; Quy luật dựng nước và giữ nước trong lịch sử chưa được tổng kết. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định thời đại Hùng Vương là thời kỳ lịch sử có thật của dân tộc; Các Vua Hùng là người đã khai sinh ra đất nước Việt Nam. Sự khẳng định quy luật dựng nước và giữ nước của Chủ tịch Hồ Chí Minh tại Đền Hùng không những có ý nghĩa giáo dục lớn, mà còn là sự quan tâm và ý thức tôn vinh Tổ Tiên – Các Vua Hùng – của người đứng đầu Nhà nước thời hiện tại. Sự nghiệp cách mạng rất đỗi vẻ vang nhưng còn nhiều gian khổ, đòi hỏi những hy sinh vô cùng to lớn, niềm tự hào vững chắc về Tổ Tiên dựng nước là nguồn cổ vũ hết sức lớn lao của nhân dân cả nước. Chọn Đền Hùng để khẳng định nhiệm vụ của Cách mạng Việt Nam, Hồ Chủ tịch đã tôn vinh Đền Hùng lên một tầm cao mới của lịch sử.

Trong lời nói của Chủ tịch Hồ Chí Minh “các Vua Hùng đã có công dựng nước”, Người đã viện dẫn đến những con người có thật trong buổi đầu của lịch sử dân tộc, đồng thời cũng là một biểu tượng cao quý mà các thế hệ con cháu người Việt Nam đời này qua đời khác tôn thờ. Nói về Các Vua Hùng ngay tại nơi thiêng liêng mà bao đời người Việt trở về trong tâm thức cũng như trong đời sống thường nhật – Đền Hùng – Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khơi gợi cho chúng ta ý thức dân tộc, ý thức cội nguồn. Trên thế giới không có một dân tộc nào lại không có bề dày lịch sử của dân tộc mình, điều đó quyết định sức sống, sự thống nhất và phát triển của mỗi một dân tộc. Dân tộc Việt Nam đã trải qua mấy nghìn năm dựng nước và giữ nước. Hôm nay tất yếu của sự phát triển là nhiệm vụ tiếp tục dựng nước và giữ nước của các thế hệ con cháu người Việt Nam. “Bác cháu ta phải cùng nhau giữ lấy nước”.

Năm 1962, Đế quốc Mỹ chuẩn bị cuộc chiến tranh đánh phá cả miền Bắc. Cả nước thành chiến trường chống Mỹ. Một lần nữa, Đền Hùng lại đón Chủ tịch Hồ Chí Minh, vào ngày 19.8.1962. Trong hồ sơ Di tích lưu niệm của Chủ tịch Hồ Chí Minh tại Khu di tích lịch sử Đền Hùng có ghi lời dặn của Người khi lên tới đỉnh núi Hùng: Đã đi là phải tới đích, leo núi là phải lên đến đỉnh, cũng như người làm cách mạng không được bỏ dở chừng. Người còn dặn phải trồng thêm hoa, cây cối để Đền Hùng trở thành một công viên lịch sử cho con cháu sau này đến thăm viếng. Cả 2 lần Người về Đền Hùng, cả 2 lần Người đều lên đến đỉnh cao mà ngày xưa Tổ Tiên của người Việt Nam từng mơ ước cầu Trời cho mưa thuận gió hòa, an dân hạnh phúc.

Điểm lại sự kiện 2 lần Chủ tịch Hồ Chí Minh về thăm Đền Hùng không phải vì sợ hãi trước những khó khăn của lịch sử mà phải mượn tới vong linh của Tổ Tiên, để tìm một sức mạnh bởi niềm tin huyễn hoặc vào cõi thánh thần. Nhân dân ta vốn coi trọng nguồn gốc, tha thiết ở tình cảm “uống nước nhớ nguồn”, “ăn quả không quên ơn người trồng cây”, Chủ tịch Hồ Chí Minh về Đền Hùng, viện dẫn đến “Các Vua Hùng đã có công dựng nước”, chính là để ca ngợi sự cố gắng quyết tâm dựng nước và giữ nước trong thời đại mới, từ đó khơi dậy những tình cảm thiêng liêng của dân tộc, để từ truyền thống lịch sử tạo ra những điều bất diệt, tạo lên sức mạnh và nguồn sinh lực mới cho cuộc sống, để dân tộc hoàn thành nhiệm vụ của cách mạng, đi đến đích của mục tiêu giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước.

Trong lịch sử hiện đại, bắt đầu bằng ý chí và tình cảm của Chủ tịch Hồ Chí Minh, đã hướng đạo cho chúng ta quan tâm xây dựng tôn tạo Khu di tích lịch sử Đền Hùng ở tầm cao của thời đại mới. Kỳ họp thứ 11 của Quốc hội Khóa XI đã thông qua sửa đổi Điều 73 của Bộ luật Lao động, cho phép người lao động cả nước được nghỉ ngày mùng 10.3 âm lịch. Đó là điều kiện tốt để đồng bào cả nước về thăm viếng Đền Hùng, dự lễ hội Giỗ Tổ Hùng Vương, tri ân công đức của Tổ Tiên, tạo động lực tinh thần yêu nước, gắn kết khối đại đoàn kết toàn dân. Khu di tích lịch sử Đền Hùng trong thời hiện tại, không chỉ gắn với Các Vua Hùng – Tổ tiên của dân tộc Việt Nam, mà còn gắn với Chủ tịch Hồ Chí Minh – Người con ưu tú nhất của dân tộc, người thầy vĩ đại nhất của Cách mạng Việt Nam, những tiền nhân có công dựng nước và giữ nước.

Ts  Nguyễn Thị Tuyết Hạnh
Phó giám đốc Khu di tích lịch sử Đền Hùng

daibieunhandan.vn

Danh nhân văn hóa Hồ Chí Minh

Hồ Chí Minh là nhà cách mạng, là danh nhân lịch sử, đó là điều hiển nhiên. Nhưng đồng thời, Hồ Chí Minh còn là danh nhân văn hóa, không phải chỉ ở khối lượng rộng lớn các kiến thức mà Người đã huy động để làm một nhà văn hóa phương Đông hoặc phương Tây, hoặc Đông – Tây kết hợp; mà là nhằm vào một sự nghiệp cao cả, với sự nghiệp đó, cả một dân tộc và cả một nền văn hóa được phục hưng.

Trong bối cảnh cuộc đấu tranh giải phóng các dân tộc bị áp bức và trước yêu cầu lịch sử của cách mạng dân tộc và dân chủ nhân dân buổi đầu thế kỷ XX ở Việt Nam, bước khởi đầu của công cuộc tìm đường phải là sự trang bị một bản lĩnh văn hóa, để được soi sáng về nhận thức và lý luận. Ở những cuộc cách mạng của các dân tộc phương Đông – nơi phải chìm đắm trong đêm trường phong kiến và chịu quá nặng chính sách ngu dân của chủ nghĩa thực dân, công cuộc tìm đường được trao cho người trí thức, và Nguyễn Ái Quốc đã đón nhận trách nhiệm lịch sử đó, ở tư cách người trí thức, và do thế Nguyễn đã quyết tâm tự đào tạo mình thành trí thức. Khác trước đây, Lê Lợi tìm đến Nguyễn Trãi, Quang Trung tìm đến các sĩ phu, Nguyễn Ái Quốc, rồi Hồ Chí Minh của thế kỷ XX phải kết hợp cả hai trọng trách và thực hiện cùng lúc hai quá trình trí thức hóa cách mạng và cách mạng hóa trí thức. Khía cạnh văn hóa ở danh nhân Hồ Chí Minh, do nhu cầu lịch sử như trên, tất yếu và tự nhiên gắn với cách mạng; trở thành văn hóa cách mạng. Nói cách khác, Nguyễn Ái Quốc phải lo cách mạng hóa văn hóa, để văn hóa trở thành công cụ trực tiếp của cách mạng.

Trọn vẹn quá trình hoạt động cách mạng hơn nửa thế kỷ, tất cả những gì Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh nói và viết, bằng nhiều ngôn ngữ, trên nhiều loại văn, đều nhằm vào mục tiêu cách mạng. Câu hỏi hàng đầu Nguyễn Ái Quốc đặt ra cho hoạt động viết của mình là Viết cho ai? Và câu trả lời ở mọi thời điểm viết của tác giả, cũng là điều tác giả mong mọi người Việt Nam nhất trí là viết cho quần chúng số đông – để đưa quần chúng vào trường đấu tranh cách mạng, để nâng cao dân trí, để giúp quần chúng hiểu và thực hiện có hiệu quả mọi hoạt động nhằm tồn tại và tự giải phóng bản thân.

Khía cạnh văn hóa ở danh nhân Hồ Chí Minh là văn hóa cách mạng; và để đạt hiệu quả cách mạng, nó phải là văn hóa hành động, văn hóa nhằm thức tỉnh quần chúng, văn hóa gắn với nhu cầu thực tiễn theo hướng giúp cho con người năng lực tự giải phóng, và sự giải phóng con người.

Chính do bản thân đã là sự kết hợp nhuần nhuyễn văn hóa với cách mạng, nên Hồ Chí Minh là người Việt Nam đầu tiên có nhu cầu và khả năng, bằng hoạt động lý luận và thực tiễn của mình, đi đầu và góp phần tiến hành công cuộc cách mạng văn hóa ở Việt Nam. Cuộc cách mạng văn hóa mà Hồ Chí Minh khởi xướng và lãnh đạo được bắt đầu bằng một loạt chủ trương và biện pháp – từ cuộc vận động thanh toán nạn mù chữ và phong trào Bình dân học vụ nhằm chống giặc dốt, đến các cuộc vận động Đời sống mới, cải cách lối sống và phong cách làm việc; từ yêu cầu phát triển nền giáo dục và y tế quốc dân đến từng bước gây dựng phong trào văn nghệ nhân dân… Mọi hoạt động trên lĩnh vực báo chí, ngôn luận, tuyên truyền, văn hóa, văn nghệ đều phải nhằm vào nhân dân, lấy dân làm đối tượng phục vụ, từng bước nâng cao trình độ quần chúng, theo hướng kết hợp phổ cập và nâng cao…

Ở tư cách một nhà hoạt động cách mạng rồi trở thành lãnh tụ của dân tộc, Hồ Chí Minh đã có tầm nhìn chiến lược để nắm được các nhu cầu cơ bản và cấp thiết của quần chúng, tạo những khởi động quyết định nhằm giải phóng nhân dân lao động, giải phóng con người. Ở phạm vi hẹp của hoạt động văn hóa, chính Nguyễn Ái Quốc là tác giả Việt Nam đầu tiên, từ những năm 1920 đã góp công đầu vào việc giải quyết hai yêu cầu lịch sử đặt ra cho nền văn hóa mới Việt Nam nói chung và văn học nghệ thuật Việt Nam nói riêng là cách mạng hóa và hiện đại hóa – cơ sở để khắc phục những so le lịch sử giữa dân tộc và thời đại.

Thế kỷ XX đối với Việt Nam là thế kỷ cách mạng hóa một dân tộc, đưa dân tộc thoát khỏi số phận nô lệ; Đồng thời, là thế kỷ khoa học hóa, đưa trình độ nhân dân thoát khỏi một thời điểm quá thấp, trên 95% số dân mù chữ. Người đã viết và sử dụng sành sỏi tiếng Pháp, tiếng Hán cũng chính là người quan tâm hơn ai hết đến khả năng của tiếng Việt, sao cho tiếng Việt đến được với mọi tầng lớp đồng bào. Khi chưa có một cuộc cách mạng đem lại quyền sống, cơm áo và tự do cho đồng bào thì việc làm báo (Từ Le Paria, Việt Nam hồn đến Việt Nam độc lập) là nhằm đưa lại một ánh sáng văn hóa để soi cho họ con đường đến với cách mạng chính trị. Người biết viết cho một công chúng chọn lọc bằng cách huy động tất cả vốn kiến thức của nhiều chục năm tích lũy từ nhiều nền văn hóa, như trong Bản án chế độ thực dân Pháp và Nhật ký trong tù, cũng chính là người biết viết cho một công chúng đang thanh toán nạn mù chũ. Trong Sửa đổi lối làm việc, trong Cách viết, trong những bài nói chuyện, bài viết của Hồ Chí Minh với các giới văn hóa, khoa học, nghệ thuật, Người đã góp công lớn xây dựng nền tảng cơ bản cho quá trình khoa học hóa, văn hóa hóa nền dân trí Việt Nam.

Văn hóa và Cách mạng; Văn hóa cách mạng và cách mạng văn hóa; Văn hóa phục vụ nhân dân và đưa nhân dân lên một trình độ cao của văn hóa; Văn hóa kiến thức và văn hóa đạo đức – lối sống… tất cả những khía cạnh đó ta đều có thể tìm thấy trong tầm bao quát của danh nhân Hồ Chí Minh, và cũng được biểu hiện trong toàn bộ hoạt động của nhà cách mạng Hồ Chí Minh. Không chỉ trên các bài viết, bài nói chuyện – thường rất ngắn gọn, mà chủ yếu là sự gắn bó với hành động, sự hòa thấm vào hành động, hơn nữa, sự nêu gương trong hành động – đó cũng là khía cạnh nổi bật, trở thành nét độc đáo, nét riêng của Hồ Chí Minh, làm thành phong cách sống của Hồ Chí Minh.

Phong Lê

daibieunhandan.vn

Giá trị nhân văn cao quý trong sự nghiệp văn hóa Hồ Chí Minh

Chủ tịch Hồ Chí Minh được thế giới công nhận là Nhà văn hóa kiệt xuất bằng cả một sự nghiệp văn hóa đồ sộ mà Người đã cống hiến cho dân tộc và nhân loại.

Trước hết, Chủ tịch Hồ Chí Minh được công nhận là Nhà văn hóa kiệt xuất vì Người đã khởi xướng phong trào đấu tranh chống chủ nghĩa thực dân, chủ nghĩa đế quốc, giải phóng các dân tộc thuộc địa, giành lại độc lập, tự do . Ðó không chỉ là một sự nghiệp chính trị phi thường, mà còn là một sự nghiệp văn hóa cao cả.

“Ðổi người nô lệ thành người tự do”, phát động lòng yêu nước và chủ nghĩa anh hùng của một dân tộc phần đông còn mù chữ và thất học vùng dậy đấu tranh giành độc lập, đó là một sự nghiệp gian nan và phi thường, đồng thời cũng là một sự nghiệp văn hóa vĩ đại. Bởi vì, giải phóng con người khỏi thân phận nô lệ, khỏi cái đói, cái rét, cái dốt, là một sự nghiệp văn hóa có ý nghĩa cao cả nhất, đầy đủ nhất, một ước mơ ngàn đời của nhân loại.

Chủ tịch Hồ Chí Minh là Nhà văn hóa kiệt xuất vì Người đã sớm thấy vai trò và sức mạnh của văn hóa, đã sớm đưa văn hóa vào chiến lược phát triển của đất nước .

Giành được độc lập rồi, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nâng dân tộc mình lên một tầm văn hóa mới. Người đề nghị mở ngay chiến dịch chống giặc dốt . Người coi dốt nát cũng là một thứ giặc, xem thói quen và những truyền thống lạc hậu cũng là một loại kẻ thù. Người nói: “Một dân tộc dốt là một dân tộc yếu”… “Chúng ta có nhiệm vụ cấp bách là phải giáo dục lại nhân dân chúng ta… phải làm cho dân tộc chúng ta trở nên một dân tộc dũng cảm, yêu nước, yêu lao động, một dân tộc xứng đáng với nước Việt Nam độc lập”(1).

Người phát động phong trào Ðời sống mới , xây dựng và phát triển những thuần phong, mỹ tục mới trong nhân dân; mỗi ngành, mỗi giới đều có phong trào riêng của mình. Công lao to lớn của Chủ tịch Hồ Chí Minh là Người đã đưa văn hóa đi sâu vào quần chúng, tác động như một sức mạnh vật chất, biến đổi phong hóa, cải tạo con người.

Chủ tịch Hồ Chí Minh là người đặt cơ sở thế giới quan và phương pháp luận cho việc xây dựng nền văn hóa mới Việt Nam. Người là kiến trúc sư vĩ đại của công cuộc cải cách và xây dựng nền văn hóa Việt Nam , tạo ra một cách nhìn mới, một thế giới quan mới, tạo lập một ý thức chính trị, ý thức đạo đức, ý thức pháp luật, ý thức nghệ thuật mới… chưa từng có trong lịch sử văn hóa Việt Nam.

Trên cơ sở đó, Người đã đánh thức các tiềm năng tinh thần truyền thống Việt Namđịnh hướng cho sự ra đời một nền đạo đức mới, một xã hội nhân cách mới. Với Chủ tịch Hồ Chí Minh, xã hội nhân cách – đạo đức ấy được tạo dựng trên cơ sở chủ nghĩa yêu nước  chân chính, kết hợp với chủ nghĩa quốc tế trong sáng, theo nhân cách luận của người chiến sĩ cách mạng kiểu mới: trung với nước, hiếu với dân, cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư … Sau khi đã lãnh đạo toàn dân giành lại quyền độc lập, tự do cho Tổ quốc, Người đã đưa văn hóa Việt Nam lên vị trí xứng đáng trong nền văn hóa thế giới.

Chủ tịch Hồ Chí Minh là Nhà văn hóa kiệt xuất vì bản thân Người là một nhà hoạt động và sáng tạo văn hóa lớn .

Hồ Chí Minh là biểu tượng của sự kết hợp hài hòa tinh hoa văn hóa dân tộc và văn hóa nhân loại, Ðông và Tây . Từ nhỏ, Người đã được hấp thụ một nền văn hóa dân tộc và văn hóa phương Ðông sâu sắc. Trên đường học tập và nghiên cứu, Người đã từng bước hấp thụ văn hóa nhân đạo và dân chủ của phương Tây, đặc biệt là tinh thần tự do, bình đẳng, bác ái của truyền thống văn hóa cách mạng Pháp. Chính trí tuệ siêu việt, vốn sống thực tế phong phú và vốn văn hóa rộng lớn đã dẫn Người đến với Chủ nghĩa Mác – Lê-nin, kết tinh thành tựu văn hóa của loài người. Người đã làm chủ được nhiều ngôn ngữ khác nhau, sử dụng một cách thành thạo trong viết văn, viết báo, làm thơ, viết kịch…; khi xuất hiện như một nhà báo phương Tây sành sỏi, khi lại trầm tĩnh, hàm súc như một thi sĩ cổ điển phương Ðông.

Trải qua mấy chục năm học tập và rèn luyện, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng bước vươn lên tầm cao của trí tuệ thời đại, để từ đó vận dụng và phát triển, sáng tạo và đổi mới, đóng góp vào kho tàng văn hóa thế giới những giá trị đặc sắc, in đậm dấu ấn Việt Nam – Hồ Chí Minh.

Bản thân Hồ Chí Minh là nhà thơ, nhà văn, nhà báo cách mạng vĩ đại . Thơ Hồ Chí Minh có bài viết bằng tiếng Việt, có bài viết bằng  chữ Hán, song không bài thơ nào vắng bóng con người. Khát vọng tự do, công lý, cơm áo, hòa bình… sự cổ vũ cho cái đẹp và mối quan hệ nhân văn giữa người với người, đó là những nội dung chủ yếu trong thơ Hồ Chí Minh.

Vì vậy, những bài thơ ngẫu hứng, sản phẩm của một thời, trong đó không ít bài đã ra đời trong cảnh tù đày, biệt xứ, đã trở thành “thơ của muôn đời”, đã làm “xáo trộn cả tâm hồn nhân loại” bởi những giá trị nhân văn cao quý, tỏa sáng từ một tâm hồn lớn, một nhân cách lớn.

Là một nhà thơ lớn của dân tộc, Chủ tịch Hồ Chí Minh đồng thời là nhà văn lớn , là người mở đầu và đặt nền móng cho nền văn xuôi cách mạng Việt Nam. Người đã tìm tòi và viết nhiều thể loại: tiểu thuyết du ký, truyện viễn tưởng, truyện ngắn, thư từ, ký, kịch, tiểu phẩm, văn chính luận.

Ở lĩnh vực nào Người cũng đạt được những thành tựu đặc sắc, đem lại những yếu tố rất mới, rất hiện đại và giữ nguyên giá trị trong sự đổi mới văn học hôm nay.

Chủ tịch Hồ Chí Minh còn là một bậc thầy của báo chí cách mạng Việt Nam . Người rất khiêm tốn, không nhận mình là nhà thơ, nhà văn, chỉ nhận mình là “người có nhiều duyên nợ với báo chí”. Chính Người đã sáng lập và là linh hồn của nhiều tờ báo cách mạng đầu tiên ở nước ta.

Những bài báo ngắn gọn của Người đã góp phần thức tỉnh các dân tộc bị áp bức, truyền bá chủ nghĩa Mác – Lê-nin, lên án chủ nghĩa thực dân, chỉ đạo phong trào cách mạng ở thuộc địa. Tất cả những gì Người viết ra đều là sự phản ánh trung thực, hồn nhiên vẻ đẹp cao quý trong đạo đức, trí tuệ và tâm hồn của một nhân cách lỗi lạc, vì vậy, tất cả đều hiện ra chân thực, giản dị, tự nhiên, vốn là những chuẩn mực tiêu biểu cho cái đẹp – cái hoàn thiện của con người.

Chủ tịch Hồ Chí Minh là nhà văn hóa kiệt xuất bởi Người còn là mẫu mực của tinh thần khoan dung văn hóa. Người nhắc nhở phải giữ gìn, phát huy truyền thống, bản sắc văn hóa dân tộc, nhưng không tự bó mình trong chủ nghĩa dân tộc hẹp hòi, thiển cận, mà kêu gọi phải ra sức nghiên cứu, học tập tinh hoa văn hóa của thế giới, xưa và nay. Người trân trọng mọi giá trị văn hóa nhân loại, tôn trọng và chấp nhận những giá trị khác biệt với sự lựa chọn của mình. Người từng thừa nhận mình là học trò của Các Mác, Giê-su, Khổng Tử, Tôn Dật Tiên, vì “các vị ấy đều có điểm chung giống nhau là mưu cầu hạnh phúc cho loài người… Nếu họ còn sống và ở gần nhau, tôi tin họ sẽ chung sống thoải mái với nhau như những người bạn tốt”.

Ðối với các tôn giáo, Người thành thật tôn trọng đức tin của người có đạo, khẳng định ý tưởng cao đẹp và những giá trị nhân bản của các vị sáng lập ra các tôn giáo đó, không hề bài bác hay phủ định, mà biết khéo hướng lý tưởng của các tôn giáo vào phục vụ sự nghiệp giải phóng dân tộc và mưu cầu hạnh phúc cho nhân dân.

Chủ tịch Hồ Chí Minh là nhà văn hóa kiệt xuất vì Người còn là hiện thân rực rỡ của văn hóa hòa bình, của đường lối ngoại giao hòa bình , luôn luôn chủ trương giải quyết mọi tranh chấp, xung đột bằng thương lượng, đối thoại với thái độ hiểu biết và nhân nhượng lẫn nhau.

Tóm lại, có thể khẳng định Nhà văn hóa kiệt xuất Hồ Chí Minh đã sáng tạo ra một thời đại mới, một nền văn hóa mới trong lịch sử dân tộc Việt Nam, cũng là những giá trị đóng góp vào sự phát triển văn hóa của thế giới.

Nhiều chủ trương văn hóa được Người đề ra rất sớm – từ giữa những năm 40 và 50 của thế kỷ 20, như: xóa mù chữ, trồng cây phủ xanh đồi trọc, cải tạo môi trường sinh thái, yêu mến và kính trọng người già, v.v. đến đầu những năm 90 đã được Liên hợp quốc đề lên thành những cuộc vận động lớn trên toàn thế giới. Ðúng như cố Thủ tướng Phạm Văn Ðồng khẳng định: “Tư tưởng Hồ Chí Minh là một kho tàng đầy của báu, là di sản chứa đựng bao giá trị, giá trị đó, nói cho cùng, là giá trị văn hóa mà chúng ta khai thác chưa được bao nhiêu”(2).

Sự nghiệp văn hóa Hồ Chí Minh vô cùng phong phú: có văn hóa chính trị, văn hóa đạo đức, văn hóa giao tiếp – ứng xử, văn hóa khoan dung, văn hóa – văn nghệ,… Văn hóa Hồ Chí Minh là sự kết hợp hài hòa, nhuần nhuyễn những giá trị văn hóa cổ truyền của dân tộc với những yếu tố tích cực trong văn hóa phương Ðông, văn hóa các tôn giáo, văn hóa dân chủ – cách mạng phương Tây, văn hóa mác-xít,… để trở thành văn hóa tiên tiến, mang những giá trị nhân văn sâu sắc, vốn là nội dung cốt lõi của văn hóa nhân loại.

Văn hóa chính trị Hồ Chí Minh là văn hóa yêu nước, thương dân, hướng tất cả vào phục vụ sự nghiệp đấu tranh cho độc lập của Tổ quốc và hạnh phúc của nhân dân; là văn hóa trọng dân “lấy dân làm gốc”.

Với tâm niệm “có dân là có tất cả”, nên Người thường xuyên giáo dục cán bộ, đảng viên phải lo “sao cho được lòng dân”, phải phấn đấu trở thành người công bộc  trung thành và tận tụy của nhân dân. Văn hóa chính trị Hồ Chí Minh vượt lên trên mọi sáo ngữ, giáo điều (nói nhiều làm ít, nói hay làm dở), đó là sự chung đúc những giá trị của các học thuyết trị nước tiến bộ mà các bậc anh hùng dân tộc, các minh quân, lương tướng đã theo đuổi trong lịch sử dân tộc và nhân loại. Chính vì thế nó chứa đựng những giá trị nhân văn cao quý.

Văn hóa đạo đức Hồ Chí Minh là văn hóa hành thiện, cổ vũ làm điều thiện, sống với nhau có tình, có nghĩa, muốn thế phải thực hiện cho tốt 8 chữ vàng: cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư, biết kết hợp hài hòa lợi ích chung với lợi ích riêng, sống trung thực, giản dị, khiêm tốn, nói đi đôi với làm, ít lòng tham muốn về vật chất,… nhờ đó mà có thể “sống oanh liệt, chết vẻ vang”.

Tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh chính là hiện thân sinh động của văn hóa đạo đức Hồ Chí Minh. Như một người từng đối đầu với Hồ Chí Minh – tướng Valluy thừa nhận: “Hoàn toàn xả thân vì nhiệm vụ, không một chút lợi riêng tư, dưới con mắt những người chung quanh và những người đối thoại, Hồ Chí Minh là một người vô cùng đức độ”(3).

Thắng lợi của cách mạng, vinh quang của quyền lực, hay danh vọng của cá nhân không thể nào làm lu mờ tấm gương đạo đức của Người. Vì vậy, trong thế giới của những người cầm quyền, hình ảnh Hồ Chí Minh lại càng nổi bật hơn bao giờ hết.

Văn hóa ứng xử Hồ Chí Minh , nói rộng ra là phương châm xử thế, Hồ Chí Minh luôn luôn là người trung hậu, thủy chung với nhân dân, với đồng chí, đồng bào và với bạn bè quốc tế: Người thấy rừng và thấy cả từng cây, không bỏ sót một ai cả, không quên bất cứ một nghĩa cử nào, dù nhỏ, đã từng ủng hộ, giúp đỡ cách mạng Việt Nam; nhưng Hồ Chí Minh lại không bao giờ nhắc đến người cũ, chuyện cũ đã từng có lúc đối xử không đúng với Người; nếu có ai nhắc đến. Người cũng gạt đi. Văn hóa ứng xử Hồ Chí Minh cực kỳ tinh tế, uyển chuyển, có lý có tình, khiêm tốn, nhã nhặn, lịch thiệp.

Ứng xử văn hóa của Hồ Chí Minh đã tranh thủ được trái tim, khối óc của bạn bè năm châu, làm cho kẻ thù cũng phải khâm phục.

Văn hóa khoan dung Hồ Chí Minh là kết tinh của truyền thống nhân ái, độ lượng Việt Nam và cũng là nét đặc trưng của văn hóa hòa bình trong thời đại ngày nay. Người nói: “Dân tộc ta là một dân tộc giàu lòng đồng tình và bác ái”. Hồ Chí Minh đã kế thừa và phát triển những giá trị khoan dung của dân tộc và nhân loại, nâng lên thành một chất lượng mới, ở một tầm cao mới.

Là người cộng sản, Hồ Chí Minh có thái độ tôn trọng, không bao giờ tỏ ra kỳ thị, bài bác mà luôn luôn có ý thức khai thác, vận dụng những yếu tố tích cực của các học thuyết chính trị và tôn giáo như Nho, Phật, Lão, Thiên chúa giáo,… vào sự nghiệp bảo vệ và xây dựng đất nước.

Khoan dung văn hóa Hồ Chí Minh được xây dựng trên cơ sở chữ “nhân”, nhưng là một chữ nhân sáng suốt, có nguyên tắc, lấy công lý, chính nghĩa là nền tảng, chủ trương giải quyết những vấn đề dân tộc và quốc tế trên cơ sở “có lý, có tình”.

Khoan dung văn hóa Hồ Chí Minh là thái độ trân trọng đối với mọi giá trị văn hóa nhân loại, là không ngừng rộng mở, thâu hóa những yếu tố tích cực, tiến bộ và nhân văn của loài người để làm giàu cho văn hóa ViệtNam. Khoan dung văn hóa Hồ Chí Minh là chấp nhận giao lưu và đối thoại bình đẳng về giá trị để đạt tới cái chung, cái nhân loại, để cùng tồn tại và phát triển. Trong khi chống thực dân Pháp xâm lược, Người vẫn đề cao văn hóa Pháp. Trong khi chống đế quốc Mỹ, Người vẫn ca ngợi truyền thống văn hóa dân chủ và cách mạng Mỹ.

Nói về văn hóa khoan dung Hồ Chí Minh, nhà báo Mỹ D. Halberstam đã thừa nhận: “Cụ Hồ đã làm được một điều đáng chú ý: biết dùng tới văn hóa và tâm hồn kẻ thù để chiến thắng”(4).

Chủ tịch Hồ Chí Minh đã để lại cho dân tộc Việt Nam một di sản văn hóa cao đẹp và phong phú, trong đó không thể không nhắc tới những tư tưởng chỉ đạo của Người về xây dựng một nền văn hóa mới: dân tộc, khoa học và nhân văn , một nền văn hóa “lấy hạnh phúc của đồng bào, của dân tộc làm cơ sở”, “làm cho ai cũng có lý tưởng độc lập, tự chủ”, “văn hóa phải sửa đổi được tham nhũng, lười biếng, phù hoa xa xỉ”, “văn hóa phải soi đường cho quốc dân đi”(5)… Những phương châm đó vẫn giữ nguyên giá trị chỉ đạo đối với việc xây dựng nền văn hóa dân tộc, cho hôm nay và cả mai sau.

Khẳng định những giá trị nhân văn cao quý trong sự nghiệp văn hóa và con người Hồ Chí Minh, nhà báo Jean Lacouture- người được coi là một nhà viết tiểu  sử Hồ Chí Minh hay nhất ở phương Tây, đã viết: “Ðó là một tấm trí minh mẫn, ít ham thích bạo lực, một thái độ rất độc đáo về quan hệ giữa người với người, một trình độ văn hóa tự học khá rộng nhưng rất thông hiểu, một tinh thần hài hước, trong đó bám rễ vào các tập quán châu Á luôn luôn kết hợp với những ảnh hưởng phương Tây, một tinh thần thanh bạch, một sự khắc khổ tự nhiên được ý chí làm cho vững chắc thêm lên, một nghị lực có một không hai. Vâng, tất cả những nét đó trở thành bí quyết của Cụ Hồ trước những thử thách của đời sống xã hội”(6).

Ðúng như Jean Lacouture đã dự báo, tư tưởng và sự nghiệp văn hóa của Hồ Chí Minh đã vượt qua những thử thách khắc nghiệt của lịch sử và vẫn đang tiếp tục tỏa sáng, đặc biệt là ở vào thời điểm hiện nay, trong một thế giới đang biến động và đầy lo âu; khi mà sự sa sút về đạo đức, sự phản trắc, lừa đảo, hãm hại lẫn nhau,… đang có nguy cơ tăng lên; khi mà hình ảnh của một số lãnh tụ cầm quyền ở nơi này, nơi khác đang bị phê phán và hạ bệ, thì hình ảnh Hồ Chí Minh lại càng nổi bật lên trước con mắt của nhân loại hơn bao giờ hết.

Một nhà báo Venezuelađã viết rất thuyết phục: “Bộ máy tuyên truyền của đế quốc và các thế lực phản động đã rất nổi tiếng trong nghệ thuật vu khống xấu xa, hòng làm mất uy tín những địch thủ của họ. Họ đã chi tiêu rất nhiều tiền hòng bôi nhọ trước dư luận quốc tế đối với những ai, bằng cách này hay cách khác chống lại sự thống trị của họ… Tất cả những lãnh tụ cộng sản nổi tiếng trên thế giới đều được các hãng thông tấn của họ dán cho những “nhãn hiệu” như là những kẻ cướp hoặc khủng bố đáng tội treo cổ! Duy chỉ có Bác Hồ, do tấm gương cuộc đời và đạo đức của Người, đã làm cho những kẻ chuyên nghề vu cáo phải kính nể”(7).

Theo Nhân dân

cpv.org.vn

Sự giản dị tinh khiết

Hồ Chí Minh là anh hùng giải phóng dân tộc, danh nhân văn hóa. Người là tấm gương sáng ngời về đạo đức. Hồ Chí Minh đã và đang tạo nên một nền văn hóa truyền thống và hiện đại Việt Nam, văn hóa Hồ Chí Minh. 

Hồ Chí Minh tâm niệm và phấn đấu để: “…Dân ta ai cũng có cơm ăn, áo mặc, ai cũng được học hành”. Từ mục đích sống đó, Hồ Chí Minh xây dựng nên đạo đức văn hóa. Văn hóa vì nhân dân! Sự nghiệp cách mạng sôi nổi, Bác Hồ viết rất nhiều với hầu hết các thể loại: báo chí chính luận, truyện ngắn, kịch, thơ ca, mỹ thuật…

Đã có hàng triệu trang viết nghiên cứu, tổng kết, khẳng định về văn hóa Hồ Chí Minh. Là lãnh tụ, khi nói về Đảng, nói cách khác là khi đề cập đến nhiệm vụ chính trị, Bác thường sử dụng “mệnh lệnh thức” – phải, cần… Là nhà văn hóa, khi nói về văn hóa văn nghệ, Bác luôn có cách nói “ tu từ” của người trong cuộc, cảm thông, động viên, khuyến khích… cũng, nên, hãy…

Chúng ta nhớ lại một vài quan niệm của Người về văn hóa ai cũng nhớ.

– “Làm thơ ta vốn không ham”

– “Nay ở trong thơ nên có thép/Nhà thơ cũng phải biết xung phong”ù

– “Văn hóa văn nghệ cũng là một mặt trận. Anh chị em văn nghệ là những chiến sĩ trên mặt trận ấy”

– “Tôi chỉ là học trò nhỏ của nhà văn L.Tolstoi…”

Tài sản và giá trị văn hóa Hồ Chí Minh được ghi nhận và khẳng định bằng số lượng sáng tác của Hồ Chí Minh, đồng thời qua Người, những giá trị văn hóa truyền thống, tinh hóa văn hóa thế giới, có điều kiện tỏa sáng trong cuộc sống hiện đại. Hồ Chí Minh là sự kết tinh, hội tụ văn hóa diệu kỳ, thú vị.

Để hiểu thêm giá trị văn hóa Hồ Chí Minh, chúng ta cần tìm hiểu đạo đức Hồ Chí Minh. Trước hết, chúng ta tìm hiểu khái niệm đạo đức trong phạm trù mỹ học. Đạo đức là “những tiêu chuẩn, nguyên tắc sống được dư luận xã hội thừa nhận, quy định hành vi, quan hệ của con người đối với nhau và đối với xã hội”. “Đạo đức cộng sản chủ nghĩa là phẩm chất tốt đẹp của con người do tu dưỡng, rèn luyện theo tiêu chuẩn đạo đức của một giai cấp tiên phong mà có”. Như vậy có thể hiểu đạo đức Hồ Chí Minh là phẩm chất tốt đẹp của truyền thống dân tộc và tính hiện đại của giai cấp công nhân trong thời đại cách mạng mới.

Ngắn gọn, rõ ràng, chân thành, luôn có chủ đích trong sáng tác… là thể hiện tính tiết kiệm, trong sáng, hiệu quả trong đời sống xã hội… tạo dựng nên sự giản dị tinh khiết, là nét đẹp đạo đức văn hóa Hồ Chí Minh. Cho nên khi đọc sáng tác của Hồ Chí Minh, chúng ta thưởng thức “Tiếng suối trong như tiếng hát xa”.

Ở đây, chúng ta cần phân định giá trị văn hóa Hồ Chí Minh. Gia tài văn hóa Hồ Chí Minh cực kỳ đa dạng phong phú. Và toàn bộ gia tài đó là văn hóa, có những cấp độ, tầng văn hóa khác nhau. Ví dụ như thơ, có loại là thơ bác học, chuyên nghiệp, có loại là thơ ca dân gian, thậm chí có những loại ở dạng nói vần cho dễ nhớ, dễ thuộc.

Nói đến sáng tác văn học nghệ thuật là nói đến cá tính, phong cách và tác động xã hội… Hồ Chí Minh biết hòa mình vào hình tượng nhân vật và hình tượng cảm xúc, nhưng vẫn lộng lẫy một cá nhân nhà văn hóa. Ngày nay, chúng ta yêu cầu văn nghệ sĩ trước khi là nhà văn hóa hãy là công dân. Nói cách khác, xã hội yêu cầu cá nhân nhà văn hóa phải văn hóa như sáng tác của họ. Hồ Chí Minh là biểu tượng hài hòa tuyệt vời giữa trách nhiệm công dân và giá trị sáng tác.

Sự giản dị tinh khiết của đạo đức văn hóa Hồ Chí Minh là sản phẩm của lịch sử, thời đại thể hiện trong một con người “đại trí, đại nhân, đại dũng Hồ Chí Minh” (lời Quách Mạt Nhược, Trung Quốc).

BTK-theo báo SGGP

cpv.org.vn

Hồ Chí Minh – danh nhân văn hóa của thế kỷ XX

* Giá trị nhân văn cao quý trong sự nghiệp văn hóa Hồ Chí Minh

a) Chủ tịch Hồ Chí Minh được thế giới thừa nhận là Nhà văn hóa kiệt xuất (éminent homme de culture) bằng cả một sự nghiệp văn hóa đồ sộ mà Người cống hiến cho dân tộc và nhân loại.

Trước hết, Chủ tịch Hồ Chí Minh được thừa nhận là Nhà văn hóa kiệt xuất vì Người khởi xướng phong trào đấu tranh chống chủ nghĩa thực dân, chủ nghĩa đế quốc, giải phóng các dân tộc thuộc địa, giành lại độc lập, tự do. Đó không phải chỉ là một sự nghiệp chính trị phi thường mà còn là một sự nghiệp văn hóa cao cả.

“Đổi người nô lệ thành người tự do”, phát động lòng yêu nước và chủ nghĩa anh hùng của một dân tộc phần đông còn mù chữ và thất học vùng dậy đấu tranh đòi giải phóng, đó là một sự nghiệp gian nan và phi thường, đồng thời cũng là một sự nghiệp văn hóa vĩ đại. Bởi vì giải phóng con người khỏi thân phận nô lệ, khỏi cái đói, cái rét, cái dốt là một sự nghiệp văn hóa có ý nghĩa cao cả nhất, đầy đủ nhất, một ước mơ ngàn đời của nhân loại.

b) Chủ tịch Hồ Chí Minh là Nhà văn hóa kiệt xuất vì Người đã sớm thấy vai trò và sức mạnh của văn hóa, đã sớm đưa văn hóa vào chiến lược phát triển của đất nước.

Giành được độc lập rồi, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nâng dân tộc mình lên một tầm văn hóa mới. Người đề nghị mở ngay chiến dịch chống giặc dốt. Người coi dốt nát cũng là một thứ giặc, xem thói quen và những truyền thống lạc hậu cũng là một loại kẻ thù. Người nói: “Một dân tộc dốt là một dân tộc yếu”… “Chúng ta có nhiệm vụ cấp bách là phải giáo dục lại nhân dân chúng ta… phải làm cho dân tộc chúng ta trở nên một dân tộc dũng cảm, yêu nước, yêu lao động, một dân tộc xứng đáng với nước Việt Nam độc lập” .

Người phát động phong trào Đời sống mới, xây dựng và phát triển những thuần phong, mỹ tục mới trong nhân dân; mỗi ngành, mỗi giới đều có phong trào riêng của mình. Công lao to lớn của Chủ tịch Hồ Chí Minh là Người đã đưa văn hóa đi sâu vào quần chúng, tác động như một sức mạnh vật chất, biến đổi phong hóa, cải tạo con người.

c) Chủ tịch Hồ Chí Minh là người đặt cơ sở thế giới quan và phương pháp luận cho việc xây dựng nền văn hóa mới Việt Nam. Người là kiến trúc sư vĩ đại của công cuộc cải cách và xây dựng nền văn hóa Việt Nam, tạo ra một cách nhìn mới, một thế giới quan mới, tạo lập một ý thức chính trị, ý thức đạo đức, ý thức pháp luật, ý thức nghệ thuật mới,… chưa từng có trong lịch sử văn hóa Việt Nam.

Trên cơ sở đó, Người đã đánh thức các tiềm năng tinh thần truyền thống Việt Nam, định hướng cho sự ra đời một nền đạo đức mới, một xã hội nhân cách mới. Với Hồ Chí Minh, xã hội nhân cách – đạo đức ấy được tạo dựng trên cơ sở chủ nghĩa yêu nước chân chính, kết hợp với chủ nghĩa quốc tế trong sáng, theo nhân cách luận của người chiến sĩ cách mạng kiểu mới: trung với nước, hiếu với dân, cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư,… Sau khi đã lãnh đạo toàn dân giành lại quyền độc lập, tự do cho Tổ quốc, Người đã đưa văn hóa Việt Nam lên vị trí xứng đáng trong nền văn hóa thế giới.

d) Chủ tịch Hồ Chí Minh là Nhà văn hóa kiệt xuất vì bản thân Người là một nhà hoạt động và sáng tạo văn hóa lớn.

– Hồ Chí Minh là biểu tượng của sự kết hợp hài hòa tinh hoa văn hóa dân tộc và văn hóa nhân loại,Đông và Tây. Từ nhỏ, Người đã được hấp thụ một nền văn hóa dân tộc và văn hóa phương Đông sâu sắc. Trên đường học tập và nghiên cứu, Người đã từng bước hấp thụ văn hóa nhân đạo và dân chủ của phương Tây, đặc biệt là tinh thần tự do, bình đẳng, bác ái của truyền thống văn hóa cách mạng Pháp. Chính trí tuệ siêu việt, vốn sống thực tế phong phú và vốn văn hóa rộng lớn đã dẫn Người đến với chủ nghĩa Mác-Lênin, kết tinh thành tựu văn hóa của loài người. Người đã làm chủ được nhiều ngôn ngữ khác nhau, sử dụng một cách thành thạo trong viết văn, viết báo, làm thơ, viết kịch…, khi xuất hiện như một nhà báo phương Tây sành sỏi, khi lại trầm tĩnh, hàm súc như một thi sĩ cổ điển phương Đông. Trải qua mấy chục năm học tập và rèn luyện, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng bước vươn lên tầm cao của trí tuệ thời đại, để từ đó mà vận dụng và phát triển, sáng tạo và đổi mới, đóng góp vào kho tàng văn hóa thế giới những giá trị đặc sắc, in đậm dấu ấn Việt Nam – Hồ Chí Minh.

– Bản thân Hồ Chí Minh là nhà thơ, nhà văn, nhà báo cách mạng vĩ đại. Thơ Hồ Chí Minh có bài viết bằng tiếng Việt, có bài viết bằng chữ Hán, song không bài thơ nào vắng bóng con người. Khát vọng tự do, công lý, cơm áo, hòa bình… sự cổ vũ cho cái đẹp và mối quan hệ nhân văn giữa người với người, đó là những nội dung chủ yếu trong thơ Hồ Chí Minh. Vì vậy, những bài thơ ngẫu hứng, sản phẩm của một thời, trong đó không ít bài đã ra đời trong cảnh tù đày, biệt xứ ,đã trở thành “thơ của muôn đời”, đã làm “xáo trộn cả tâm hồn nhân loại” bởi những giá trị nhân văn cao quý, toả sáng từ một tâm hồn lớn, một nhân cách lớn.

Là một nhà thơ lớn của dân tộc, Chủ tịch Hồ Chí Minh đồng thời là nhà văn lớn, là người mở đầu và đặt nền móng cho nền văn xuôi cách mạng Việt Nam. Người đã tìm tòi và viết nhiều thể loại: tiểu thuyết du ký, truyện viễn tưởng, truyện ngắn, thư từ, ký, kịch, tiểu phẩm, văn chính luận. ở lĩnh vực nào Người cũng đạt được những thành tựu đặc sắc, đem lại những yếu tố rất mới, rất hiện đại và giữ nguyên giá trị trong sự đổi mới văn học hôm nay.

– Chủ tịch Hồ Chí Minh còn là một bậc thầy của báo chí cách mạng Việt Nam. Người rất khiêm tốn, không nhận mình là nhà thơ, nhà văn, chỉ nhận mình là “người có nhiều duyên nợ với báo chí”. Chính Người đã sáng lập và là linh hồn của nhiều tờ báo cách mạng đầu tiên ở nước ta. Những bài báo ngắn gọn của Người đã góp phần thức tỉnh các dân tộc bị áp bức, truyền bá chủ nghĩa Mác-Lênin, lên án chủ nghĩa thực dân, chỉ đạo phong trào cách mạng ở thuộc địa. Tất cả những gì Người viết ra đều là sự phản ánh trung thực, hồn nhiên vẻ đẹp cao quý trong đạo đức, trí tuệ và tâm hồn của một nhân cách lỗi lạc, vì vậy, tất cả đều hiện ra chân thực, giản dị, tự nhiên, vốn là những chuẩn mực tiêu biểu cho cái đẹp – cái hoàn thiện của con người.

e) Chủ tịch Hồ Chí Minh là nhà văn hóa kiệt xuất bởi Người còn là mẫu mực của tinh thần khoan dung văn hóa. Người nhắc nhở phải giữ gìn, phát huy truyền thống, bản sắc văn hóa dân tộc, nhưng không tự bó mình trong chủ nghĩa dân tộc hẹp hòi, thiển cận, mà kêu gọi phải ra sức nghiên cứu, học tập tinh hoa văn hóa của thế giới, xưa và nay. Người trân trọng mọi giá trị văn hóa nhân loại, tôn trọng và chấp nhận những giá trị khác biệt với sự lựa chọn của mình. Người từng thừa nhận mình là học trò của Các Mác, Jésus, Khổng Tử, Tôn Dật Tiên, vì “các vị ấy đều có điểm chung giống nhau là mưu cầu hạnh phúc cho loài người… Nếu họ còn sống và ở gần nhau, tôi tin họ sẽ chung sống thoải mái với nhau như những người bạn tốt”. Đối với các tôn giáo, Người thành thật tôn trọng đức tin của người có đạo, khẳng định lý tưởng cao đẹp và những giá trị nhân bản của các vị sáng lập ra các tôn giáo đó, không hề bài bác hay phủ định, mà biết khéo hướng lý tưởng của các tôn giáo vào phục vụ sự nghiệp giải phóng dân tộc và mưu cầu hạnh phúc cho nhân dân.

g) Chủ tịch Hồ Chí Minh là nhà văn hóa kiệt xuất vì Người còn là hiện thân rực rỡ của văn hóa hòa bình, của đường lối ngoại giao hòa bình, luôn luôn chủ trương giải quyết mọi tranh chấp, xung đột bằng thương lượng, đối thoại với thái độ hiểu biết và nhân nhượng lẫn nhau.

Tóm lại, có thể khẳng định Nhà văn hóa kiệt xuất Hồ Chí Minh đã sáng tạo ra một thời đại mới, một nền văn hóa mới trong lịch sử dân tộc Việt Nam, cũng là những giá trị đóng góp vào sự phát triển văn hóa của thế giới. Nhiều chủ trương văn hóa được Người đề ra rất sớm – từ giữa những năm 40 và 50 của thế kỷ XX, như: xoá mù chữ, trồng cây phủ xanh đồi trọc, cải tạo môi trường sinh thái, yêu mến và kính trọng người già, v.v. đến đầu những năm 90 đã được Liên hợp quốc đề lên thành những Cuộc vận động lớn trên toàn thế giới. Đúng như cố Thủ tướng Phạm Văn Đồng khẳng định: “Tư tưởng Hồ Chí Minh là một kho tàng đầy của báu, là di sản chứa đựng bao giá trị, giá trị đó, nói cho cùng, là giá trị văn hóa mà chúng ta khai thác chưa được bao nhiêu” .

*
* *

Sự nghiệp văn hóa Hồ Chí Minh vô cùng phong phú: có văn hóa chính trị, văn hóa đạo đức, văn hóa giao tiếp – ứng xử, văn hóa khoan dung, văn hóa – văn nghệ,… Văn hóa Hồ Chí Minh là sự kết hợp hài hòa, nhuần nhuyễn những giá trị văn hóa cổ truyền của dân tộc với những yếu tố tích cực trong văn hóa phương Đông, văn hoá các tôn giáo, văn hóa dân chủ – cách mạng phương Tây, văn hóa mácxít,… để trở thành văn hóa tiên tiến, mang những giá trị nhân văn sâu sắc, vốn là nội dung cốt lõi của văn hóa nhân loại.

Văn hóa chính trị Hồ Chí Minh là văn hóa yêu nước, thương dân, hướng tất cả vào phục vụ sự nghiệp đấu tranh cho độc lập của Tổ quốc và hạnh phúc của nhân dân; là văn hóa trọng dân “lấy dân làm gốc”. Với tâm niệm “có dân là có tất cả”, nên Người thường xuyên giáo dục cán bộ, đảng viên phải lo “sao cho được lòng dân”, phải phấn đấu trở thành người công bộc trung thành và tận tụy của nhân dân. Văn hóa chính trị Hồ Chí Minh vượt lên trên mọi sáo ngữ, giáo điều (nói nhiều làm ít, nói hay làm dở), đó là sự chung đúc những giá trị của các học thuyết trị nước tiến bộ mà các bậc anh hùng dân tộc, các minh quân, lương tướng đã theo đuổi trong lịch sử dân tộc và nhân loại. Chính vì thế nó chứa đựng những giá trị nhân văn cao quý.

Văn hóa đạo đức Hồ Chí Minh là văn hóa hành thiện, cổ vũ làm điều thiện, sống với nhau có tình, có nghĩa, muốn thế phải thực hiện cho tốt 8 chữ vàng: cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư, biết kết hợp hài hòa lợi ích chung với lợi ích riêng, sống trung thực, giản dị, khiêm tốn, nói đi đôi với làm, ít lòng tham muốn về vật chất,… nhờ đó mà có thể “sống oanh liệt, chết vẻ vang”.

Tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh chính là hiện thân sinh động của văn hóa đạo đức Hồ Chí Minh. Như một người từng đối đầu với Hồ Chí Minh – tướng Valluy thừa nhận: “Hoàn toàn xả thân vì nhiệm vụ, không một chút lợi riêng tư, dưới con mắt những người chung quanh và những người đối thoại, Hồ Chí Minh là một người vô cùng đức độ” . Thắng lợi của cách mạng, vinh quang của quyền lực, hay danh vọng của cá nhân không thể nào làm lu mờ tấm gương đạo đức của Người. Vì vậy, trong thế giới của những người cầm quyền, hình ảnh Hồ Chí Minh lại càng nổi bật hơn bao giờ hết.

Văn hóa ứng xử Hồ Chí Minh, nói rộng ra là phương châm xử thế, Hồ Chí Minh luôn luôn là người trung hậu, thủy chung với nhân dân, với đồng chí, đồng bào và với bạn bè quốc tế; Người thấy rừng và thấy cả từng cây, không bỏ sót một ai cả, không quên bất cứ một nghĩa cử nào, dù nhỏ, đã từng ủng hộ, giúp đỡ cách mạng Việt Nam; nhưng Hồ Chí Minh lại không bao giờ nhắc đến người cũ, chuyện cũ đã từng có lúc đối xử không đúng với Người; nếu có ai nhắc đến, Người cũng gạt đi. Văn hóa ứng xử Hồ Chí Minh cực kỳ tinh tế, uyển chuyển, có lý có tình, khiêm tốn, nhã nhặn, lịch thiệp. Phương châm xử thế mà Hồ Chí Minh thường nhắc nhở cán bộ và nhân dân ta là:

“Bình tĩnh, sáng suốt khi nguy nan,
Nhẫn nại, ôn hòa khi tức giận.
Linh hoạt, khéo léo tùy trường hợp,
Nguyên tắc quá thường hay lỡ việc,
Cương quyết khi hành động,
Gác lợi riêng mưu nghiệp lớn”…

Hồ Chí Minh là hiện thân sinh động của những phương châm này. Ứng xử văn hóa của Hồ Chí Minh đã tranh thủ được trái tim, khối óc của bạn bè năm châu, làm cho kẻ thù cũng phải khâm phục.

Văn hóa khoan dung Hồ Chí Minh là kết tinh của truyền thống nhân ái, độ lượng Việt Nam và cũng là nét đặc trưng của văn hóa hòa bình trong thời đại ngày nay. Người nói: “Dân tộc ta là một dân tộc giàu lòng đồng tình và bác ái”. Hồ Chí Minh đã kế thừa và phát triển những giá trị khoan dung của dân tộc và nhân loại, nâng lên thành một chất lượng mới, ở một tầm cao mới.

Là người cộng sản, Hồ Chí Minh có thái độ tôn trọng, không bao giờ tỏ ra kỳ thị, bài bác mà luôn luôn có ý thức khai thác, vận dụng những yếu tố tích cực của các học thuyết chính trị và tôn giáo như Nho, Phật, Lão, Thiên chúa giáo,… vào sự nghiệp bảo vệ và xây dựng đất nước.

Khoan dung văn hóa Hồ Chí Minh được xây dựng trên cơ sở chữ “nhân”, nhưng là một chữ nhân sáng suốt, có nguyên tắc, lấy công lý, chính nghĩa là nền tảng, chủ trương giải quyết những vấn đề dân tộc và quốc tế trên cơ sở “có lý, có tình”.

Khoan dung văn hóa Hồ Chí Minh là thái độ trân trọng đối với mọi giá trị văn hóa nhân loại, là không ngừng rộng mở, thâu hóa những yếu tố tích cực, tiến bộ và nhân văn của loài người để làm giàu cho văn hóa Việt Nam. Khoan dung văn hóa Hồ Chí Minh là chấp nhận giao lưu và đối thoại bình đẳng về giá trị để đạt tới cái chung, cái nhân loại, để cùng tồn tại và phát triển. Trong khi chống thực dân Pháp xâm lược, Người vẫn đề cao văn hóa Pháp. Trong khi chống đế quốc Mỹ, Người vẫn ca ngợi truyền thống văn hóa dân chủ và cách mạng Mỹ.

Nói về văn hóa khoan dung Hồ Chí Minh, nhà báo Mỹ David Halberstam đã thừa nhận: “Cụ Hồ đã làm được một điều đáng chú ý: biết dùng tới văn hóa và tâm hồn kẻ thù để chiến thắng”.

Chủ tịch Hồ Chí Minh đã để lại cho dân tộc Việt Nam một di sản văn hóa cao đẹp và phong phú, trong đó không thể không nhắc tới những tư tưởng chỉ đạo của Người về xây dựng một nền văn hóa mới: dân tộc, khoa học và nhân văn, một nền văn hóa “lấy hạnh phúc của đồng bào, của dân tộc làm cơ sở”, “làm cho ai cũng có lý tưởng độc lập, tự chủ”, “văn hóa phải sửa đổi được tham nhũng, lười biếng, phù hoa xa xỉ”, “văn hóa phải soi đường cho quốc dân đi” ,… Những phương châm đó vẫn giữ nguyên giá trị chỉ đạo đối với việc xây dựng nền văn hóa dân tộc, cho hôm nay và cả mai sau.

Khẳng định những giá trị nhân văn cao quý trong sự nghiệp văn hóa và con người Hồ Chí Minh, nhà báo Jean Lacouture – người được coi là một nhà viết tiểu sử Hồ Chí Minh hay nhất ở phương Tây, đã viết: “Đó là một tấm trí minh mẫn, ít ham thích bạo lực, một thái độ rất độc đáo về quan hệ giữa người với người, một trình độ văn hóa tự học khá rộng nhưng rất thông hiểu, một tinh thần hài hước, trong đó bám rễ vào các tập quán châu á luôn luôn kết hợp với những ảnh hưởng phương Tây, một tinh thần thanh bạch, một sự khắc khổ tự nhiên được ý chí làm cho vững chắc thêm lên, một nghị lực có một không hai. Vâng, tất cả những nét đó trở thành bí quyết của Cụ Hồ trước những thử thách của đời sống xã hội” .

Đúng như J. Lacouture đã dự báo, tư tưởng và sự nghiệp văn hóa của Hồ Chí Minh đã vượt qua những thử thách khắc nghiệt của lịch sử và vẫn đang tiếp tục tỏa sáng, đặc biệt là ở vào thời điểm hiện nay, trong một thế giới đang biến động và đầy lo âu; khi mà sự sa sút về đạo đức, sự phản trắc, lừa đảo, hãm hại lẫn nhau,… đang có nguy cơ tăng lên; khi mà hình ảnh của một số lãnh tụ cầm quyền ở nơi này, nơi khác đang bị phê phán và hạ bệ, thì hình ảnh Hồ Chí Minh lại càng nổi bật lên trước con mắt của nhân loại hơn bao giờ hết.

Một nhà báo Vênêxuêla đã viết rất thuyết phục: “Bộ máy tuyên truyền của đế quốc và các thế lực phản động đã rất nổi tiếng trong nghệ thuật vu khống xấu xa, hòng làm mất uy tín những địch thủ của họ. Họ đã chi tiêu rất nhiều tiền hòng bôi nhọ trước dư luận quốc tế đối với những ai, bằng cách này hay cách khác chống lại sự thống trị của họ… Tất cả những lãnh tụ cộng sản nổi tiếng trên thế giới đều được các hãng thông tấn của họ dán cho những “nhãn hiệu” như là những kẻ cướp hoặc khủng bố đáng tội treo cổ!. Duy chỉ có Bác Hồ, do tấm gương cuộc đời và đạo đức của Người, đã làm cho những kẻ chuyên nghề vu cáo phải kính nể”./.

Nguồn: TTXVN

cpv.org.vn

Hồ Chí Minh – sự nghiệp báo chí nhân văn

Tư tưởng văn hóa Hồ Chí Minh vừa kế thừa văn hóa truyền thống, vừa bao hàm tinh thần cách mạng mới để phù hợp với sự phát triển chung của đất nước, đồng thời gắn với xu thế hội nhập tất yếu của văn hóa nhân loại. 

Sự nghiệp báo chí của Chủ tịch Hồ Chí Minh bắt đầu từ năm 1919 ở Pari, lúc đó Nguyễn Ái Quốc đã tự rèn luyện để trở thành một cây bút sắc bén của các tờ báo: Nhân đạo, Đời sống công nhân, Dân chúng, Tạp chí cộng sản… Ông sáng lập, kiêm phóng viên, chủ bút và họa sỹ của tờ Le Paria (Người cùng khổ) nổi tiếng, cơ quan ngôn luận của Hội liên hiệp thuộc địa. Ngoài chuyên mục chính trị, tờ báo có Diễn đàn văn học giới thiệu các tác phẩm lớn có giá trị xã hội và lịch sử. Ông đã viết hơn 40 bài báo, chiếm trên 60% tổng số bài trên tờ diễn đàn của các dân tộc thuộc địa duy nhất trong lịch sử báo chí thế giới. Sang nước Nga, ông Nguyễn vẫn gửi bài cho các báo Pháp, viết thường kỳ cho các tờ Thông tin quốc tế, Tạp chí Quốc tế nông dân, Sự thật, Người công dân Bacu, Nữ công nhân, Tiếng còi… Ông cùng với một số sinh viên Trung Quốc viết cuốn Trung Quốc và thanh niên Trung Quốc, được nhà xuất bản Matxcơva Mới ấn hành 1924. Tại Quảng Châu, ông Nguyễn làm phiên dịch cho đoàn cố vấn Liên Xô, đồng thời phụ trách mục tuyên truyền của tờ báo tiếng Anh Canton Gazette. Ông Nguyễn trực tiếp phụ trách và cùng Hội Việt Nam thanh niên cách mạng xuất bản 88 số báo Thanh Niên. Tờ báo có các chuyên mục xã hội, bình luận, tản văn, vấn đáp, thơ ca… sử dụng nhiều hình thức văn phong khác nhau như ca dao, tục ngữ quen thuộc và cải tiến chữ quốc ngữ gây ấn tượng đổi mới rộng rãi.

Ngày 28-1-1941, lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc về nước lãnh đạo cách mạng, Người sáng lập và phụ trách tờ báo Việt Nam độc lập (gọi tắt là Việt Lập). Năm 1943, khi bị giam trong các nhà tù Quốc dân Đảng, lãnh tụ Hồ Chí Minh đã viết tập Ngục trung nhật ký bằng tiếng Hán, gửi gắm trong đó tâm ý của người chiến sĩ, một hồn thơ, sự cảm thông với những cuộc đời mất tự do, khốn khó và khẳng định chỉ chấp nhận thân thể ở trong lao còn tinh thần ở ngoài lao! Nhà phê bình Trung Quốc nổi tiếng Quách Mạt Nhược đánh giá, 133 bài thơ này ngang những bài thơ Tống – Đường hay nhất vì bút pháp trác tuyệt, ý thơ đương đại, biểu cảm và chân thực. Gần một năm bị quản thúc ở Liễu Châu, Người vẫn viết rất nhiều bài cho Nhật báo Liễu Châu về các vấn đề Trung Quốc, Việt Nam, Li Băng, trục phát xít… Giới văn sỹ đặc biệt chú ý đến những bài viết này và họ luôn tấm tắc: “Nếu nói văn của Hồ tiên sinh khác nào nhả ngọc phun châu, thật chẳng phải là nói quá. Sao lại có người Việt Nam viết văn Trung Hoa hay thế!”. Có thể thấy ở mọi thời điểm và hoàn cảnh, hoạt động văn hóa Hồ Chí Minh luôn luôn đáp ứng yêu cầu của thực tế và báo chí chính là diễn đàn biểu đạt tư tưởng văn hóa một cách rõ ràng nhất. Ngày 15-5-1945, lãnh tụ Hồ Chí Minh đề nghị trung úy John, báo vụ của cơ quan phục vụ chiến lược Mỹ OSS, điện về Tổng hành dinh ở Côn Minh nhờ tìm cho Người một cuốn Tuyên ngôn độc lập của Hoa Kỳ. Và bản Tuyên ngôn độc lập của nước Việt Nam mới do Người đọc ngày 2-9-1945 đã mở đầu bằng câu trích từ Tuyên ngôn độc lập 1776 của Mỹ, sau đó là dẫn ý bản Tuyên ngôn nhân quyền và dân quyền của Cách mạng Pháp năm 1791.

Sau khi nước ta giành được độc lập và rồi cả dân tộc lại phải trường kỳ kháng chiến chín năm, trên những chặng đường gian khổ vượt qua bao núi cao, rừng rậm, đèo sâu, hang lạnh của các tỉnh Cao Bằng – Bắc Kạn – Tuyên Quang – Thái Nguyên, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn luôn là linh hồn của cuộc kháng chiến toàn dân, toàn diện và trường kỳ cho đến ngày thắng lợi cuối cùng. Không những là một vị lãnh tụ tối cao về chính trị, quân sự, kinh tế, ngoại giao, Người còn là một cây bút chiến sĩ kiệt xuất. Trong suốt 3000 ngày kháng chiến, với điều kiện sống và làm việc kham khổ, thiếu thốn, không kể những sắc lệnh, công điện, mật điện, thư khen, thư tay, bài nói chuyện, trả lời phỏng vấn, lời kêu gọi và cả những bài thơ đầy cảm xúc, Bác đã viết 7 cuốn sách: Đời sống mới (3-1947), Sửa đổi lối làm việc (10-1947), Việt Bắc anh dũng (12-1947), Một đoạn lịch sử Việt Nam từ 1847 đến 1947 (1948), Giấc ngủ mười năm (4-1949), Cần kiệm liêm chính (6-1949), Thường thức chính trị (1953); dịch cuốn sách: Tóm tắt lịch sử nội chiến ở Liên Xô sang tiếng Việt và theo con số thống kê chưa đầy đủ, Người đã viết 593 bài đăng các báo dưới 32 bút danh khác nhau về tất cả những lĩnh vực chính trị, quân sự, kinh tế, xã hội, ngoại giao trong và ngoài nước. Quan điểm lý luận và hoạt động báo chí thực tiễn của Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn phù hợp, gắn bó với cuộc sống và phục vụ lợi ích nhân dân, Người rất coi trọng đối tượng và hiệu quả tuyên truyền báo chí. Vì vậy, trong thời gian kháng chiến, Bác đã dạy những người làm báo của Đảng: “Báo của ta là báo của nhân dân, phải nói thật với dân. Thổi phồng khó khăn làm dân sợ, dân hoang mang là sai, là không tốt. Nhưng ngược lại nói quá dễ dàng, tưởng để động viên nhưng khi dân thấy sự thật không đúng như thế, dân không tin ta nữa, không xem báo nữa! Báo không còn tác dụng nữa thì gọi là báo lá cải, vì nó không có giá trị bằng lá rau cải. Muốn viết trung thực thì phải đến tận nơi, phải nghiên cứu, phải suy nghĩ nên viết cái gì và viết như thế nào”.

Trở lại Thủ đô, trong 15 năm sống và làm việc tại Khu di tích Phủ Chủ tịch, dưới khoảng 38 bút danh khác nhau, Chủ tịch Hồ Chí Minh tiếp tục viết khoảng 859 bài cho các báo trong và ngoài nước, đề cập đến mọi lĩnh vực trong công cuộc hàn gắn vết thương chiến tranh, xây dựng cơ sở của chủ nghĩa xã hội, góp sức cho đồng bào miền Nam, đấu tranh thống nhất đất nước và ủng hộ sự nghiệp chính nghĩa của các dân tộc đang đấu tranh chống chủ nghĩa đế quốc, giành độc lập tự do trên toàn thế giới. Khi đến thăm và nói chuyện với Đại hội lần thứ III của Hội Nhà báo Việt Nam, Người đã xung phong phê bình các báo: “Thường nói một chiều và đôi khi thổi phồng các thành tích, mà ít hoặc không nói đúng mức đến khó khăn và khuyết điểm của ta; Đưa tin tức hấp tấp, nhiều khi thiếu thận trọng; Thiếu cân đối, tin nên dài thì viết ngắn, nên ngắn lại viết dài, nên để sau thì để trước, nên trước lại để sau…” và Người căn dặn: “Cán bộ báo chí cũng là chiến sĩ cách mạng. Cây bút, trang giấy là vũ khí sắc bén của họ. Để làm tròn nhiệm vụ vẻ vang của mình, cán bộ báo chí cần phải tu dưỡng đạo đức cách mạng”.

Suốt cuộc đời hoạt động chính trị – văn hóa của mình, ngoài những bài tham luận, phát biểu, thăm hỏi, trả lời phỏng vấn, viết sách, gửi thư – điện, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã viết hơn 2000 bài báo và Người thường xuyên đọc khoảng 70 loại báo trong và ngoài nước. Jean Lacouture nhận định: “Văn phong kỳ lạ, rõ ràng là thế! Người ta không thấy có giọng văn này ở cả Xtalin, Churchill hay De Gault, còn văn Cụ Hồ thì vươn tới tiếng nói của lịch sử”. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã tiếp thu những thành tựu văn hóa nhân loại từ đỉnh cao của nền văn hóa Việt Nam, sáng tạo và tỏa sáng. Người không chỉ gắn bó với dân tộc mình mà còn dành tình cảm thắm thiết cho các dân tộc khác trên thế giới, luôn luôn ủng hộ mọi cuộc đấu tranh yêu nước bất cứ đâu, quan tâm săn sóc ân cần tất cả bạn bè quốc tế. Cho dù thế giới trải qua bao đổi thay, Bác Hồ vẫn luôn được tôn kính và ngưỡng mộ như biểu tượng cao cả của nhân đạo, chính nghĩa, hòa bình và nhân văn. UNESCO khẳng định: Chủ tịch Hồ Chí Minh để lại dấu ấn trong quá trình phát triển của nhân loại. Người đã đóng góp quan trọng về nhiều mặt trong các lĩnh vực văn hóa, giáo dục, nghệ thuật và những tư tưởng của Người là khát vọng của các dân tộc trong việc khẳng định bản sắc dân tộc của mình và tiêu biểu cho sự thúc đẩy hiểu biết lẫn nhau. Người là một lãnh tụ cách mạng, một danh nhân văn hóa, một cây bút chiến sĩ vì sự nghiệp cao cả của nhân loại mà: “Bất cứ người nào có lương tri trên thế giới này muốn có cuộc đời như cuộc đời Chủ tịch Hồ Chí Minh sẽ cảm thấy cuộc sống như ấm áp hơn, đáng tự hào và có hy vọng hơn. Cuộc đời ấy, tấm lòng ấy khác nào biển rộng, sông dài, còn tươi sáng mãi trong lịch sử thời đại ngày nay!”.

Theo HNM điện tử

cpv.org.vn