Tag Archive | Lãnh tụ vĩ đại

Kỳ 3 – Dân chủ quá mới mẻ

TT – Thoát kiếp nô lệ, người dân VN háo hức đón chào ánh bình minh độc lập. Ngày ấy, dân chủ đối với dân ta còn quá mới mẻ. Đại đa số còn mù chữ và chưa hình dung QH là gì, nhưng đã cầm ngay lá phiếu đi bầu những người đại diện cho thể chế dân chủ đầu tiên của nước VN độc lập.

Tuổi Trẻ ghi lại hồi ức của ông Nguyễn Thiện Ngữ (đại biểu Quốc hội khóa I).

>> Cuộc tổng tuyển cử của lòng dân
>> Quốc hội chất vấn Chủ tịch Hồ Chí Minh

Những cử tri đầu tiên của người Việt

Không chỉ với trên 90% dân số còn mù chữ mà nhiều người trong giới trí thức cũng chưa biết QH là gì, tại sao phải có và người dân góp phần gì trong cơ quan này. Thế nhưng chính phủ phải làm cho toàn dân hiểu một cách cụ thể nhất, sớm nhất và đúng nhất.

Thời điểm này tôi là cán bộ Ủy ban hành chính lâm thời tỉnh Phú Thọ, đồng thời là ứng cử viên đại biểu QH. Tôi đã chứng kiến và tham gia sự kiện trọng đại này cùng bà con nhân dân Phú Thọ.

Từ nhiều tháng trước ngày bầu cử, tất cả cán bộ Việt Minh cấp cơ sở ngày đêm tuyên truyền, phổ biến tới nhân dân những kiến thức cơ bản nhất về QH nước VN dân chủ cộng hòa cùng quyền và nghĩa vụ của người dân VN.

Cán bộ phải ở bên dân khi làm đồng, xay gạo, lấy bèo, học chữ… cả đêm cũng như ngày chỉ để nói rằng: người có quyền trên đất nước chúng ta từ nay không phải là quan Tây, lính Nhật hay lý trưởng, chánh tổng, quan lại… mà là chính các cô bác anh chị.

Mọi người được cùng bàn chuyện đất nước bằng cách mỗi người sẽ bầu ra một số vị đại diện cho mình. Người đại diện đó sẽ tập trung trong một cơ quan gọi là QH để thực hiện ý muốn của dân.

Họ được gọi là đại biểu QH. Đại diện cho nhân dân tỉnh Phú Thọ chúng ta sẽ là năm người. Đây là danh sách những người được giới thiệu để nhân dân lựa chọn. Còn đây là thẻ cử tri…

Lúc này, quân của tướng Lư Hán (của Tưởng Giới Thạch) đã có mặt ở Phú Thọ. Chúng hợp tác với các đảng phái Quốc dân Đảng (Việt quốc), VN cách mạng đồng minh hội (Việt cách) trong nước ra sức chống phá tổng tuyển cử.

Ngày ngày chúng ôm súng canh gác các đường, chợ dọa nạt, gây khó dễ cho cử tri và người vận động. Đêm

4-1 chúng cho người xuống nhà dân thu thẻ cử tri và danh sách ứng cử viên rồi sai người tháo dỡ khẩu hiệu, apphich…

Chỉ còn khoảng 30 tiếng đồng hồ nữa là phòng bầu cử mở cửa… Ủy ban bầu cử quyết định cử cán bộ bằng mọi cách in ấn đầy đủ tài liệu, xuống từng nhà dân phân phát lần nữa. Trên các lề đường, quán chợ các cô gái công kênh nhau lên vai để treo dán apphich, khẩu hiệu.

Những tên lính Tàu hùng hổ chạy lại liền bị chị em bu lấy tranh cãi, giằng co. Trẻ em, người già bên ngoài hô hào, chế giễu, chê cười khiến chúng co cẳng lủi mất. Bà con đem đủ loại bàn ghế, phông, vải ra sân đình, trường học, cổng chợ… để trang trí nơi bỏ phiếu.

Hàng loạt hòm phiếu được khoan lỗ để bắt vít dính chặt xuống mặt bàn đề phòng kẻ gian cướp chạy. Tuy nhiên trước khi bỏ phiếu thì đinh vít được tháo ra để công khai kiểm tra hòm phiếu.

Nhiều người biết chữ bầu xong rồi còn ở lại đến tận trưa, chiều để đọc tên ứng viên, giới thiệu họ để cử tri lựa chọn. Có cụ già hơn 80 tuổi đi bộ từ sáng đến tối, vượt qua cả cánh rừng để đến điểm bầu. Khi đến nơi cụ xòe tay, tờ thẻ cử tri nhàu nát vì cụ giữ nó quá chặt… Tổng tuyển cử trên cả nước đã bầu ra được 333 đại biểu QH.

Những phiên họp độc đáo và thú vị

Phiên họp thứ hai của QH diễn ra tháng 11-1946 bàn về các vấn đề thông qua hiến pháp, quốc kỳ, quốc ca và kế hoạch kháng chiến cùng một số vấn đề cấp bách của dân sinh.

Tại hội trường Nhà hát lớn, chủ tịch đoàn ngồi phía trên, các đại biểu thuộc đảng Dân chủ ngồi bên phải với đồng phục càvạt nửa xanh nửa đỏ. Việt Minh, Hội Nghiên cứu chủ nghĩa mác-xít ngồi ở giữa.

Các đại biểu Việt quốc, Việt cách vì đến sau nên chỉ còn khoảng bên trái hội trường. Một đại biểu của họ đứng lên thắc mắc: Chúng tôi bị coi là cánh hữu hay sao mà phải ngồi đây?”.

Lập tức một đại biểu của Việt Minh ôn tồn nói: nếu sợ bị hiểu như vậy thì mời các anh đổi chỗ sang bên này! Hội trường bật cười…

Phiên họp đầu tiên của QH VN tổ chức ngày 2-3-1946 chứa đựng nhiều điều kỳ lạ, độc đáo, thú vị có một không hai, rất… VN và rất… 1946. Phiên họp chỉ diễn ra trong vài tiếng đồng hồ bàn về việc thành lập chính phủ.

Thật ra chính xác hơn là chỉ lấy biểu quyết để thông qua. Tất cả cùng giơ tay tán thành rồi bế mạc. Điều độc đáo và thú vị thứ hai là QH có 70 ông nghị (đại biểu QH) chẳng ai bầu, chẳng cần ứng cử nhưng vẫn nghiễm nhiên thành đại biểu. Cuộc họp này chỉ mang ý nghĩa công khai những điều đã được QH bàn thảo từ trước đó hàng tháng trời.

Linh hồn của phiên họp đầu tiên đã được quyết định trong cuộc họp tại Đình Bảng, Từ Sơn (Bắc Ninh). Cuộc họp ấy QH được “cắt” ra làm hai rồi đến khi họp chính thức lại hợp vào một.

Đó là khi phát xít đầu hàng đồng minh, quân Tưởng, Pháp, Mỹ, Anh… đều muốn có một chính phủ mới ở VN chịu sự ảnh hưởng của họ. Hai đảng phái của người Việt là Việt cách và Việt quốc cũng muốn nắm quyền và chịu ảnh hưởng nước ngoài.

Chính phủ ta tuy đã thành lập nhưng về mặt lý thuyết thì chưa được quốc tế công nhận. Muốn được công nhận thì chính phủ phải do QH bầu ra. QH phải do nhân dân thuộc các tầng lớp, tôn giáo, đảng phái chính trị… trong nước bầu ra.

Khi tổng tuyển cử thì các đảng phái khác biết chắc sẽ không thể chiếm ưu thế trong QH và quyền lực sẽ cơ bản do lực lượng Việt Minh nắm giữ nên chúng ra sức tẩy chay. Không một nhân vật nào của Việt quốc, Việt cách ứng cử.

Đến khi tổng tuyển cử đã xong, các đảng phái này cũng biết không thể lật được thế cờ nên họ chấp nhận thương lượng với Việt Minh để thành lập một chính phủ chính thức do QH bầu ra.

Việt Minh cũng muốn thực hiện đúng nhất tinh thần dân chủ của chính thể cộng hòa, nên tư tưởng của chúng ta là sẽ thành lập một chính phủ thể hiện tính hòa hợp dân tộc, đại đoàn kết tất cả các tầng lớp nhân dân VN.

Mặt khác, VN lúc này cần ra mắt càng sớm càng tốt một chính phủ mới có tư cách đàng hoàng trước quốc tế để nắm quyền tự chủ quốc gia (do QH bầu ra) khiến không một quốc gia nào có thể kiếm cớ nhảy vào.

Vì vậy, tại Hà Nội, Bác Hồ và chính phủ lâm thời tiến hành đàm phán với các đảng phái khác. Tôi được biết cuộc đàm phán khá căng thẳng và cuối cùng Việt Minh đã đồng ý dành 70 ghế đại biểu QH cho Việt quốc, Việt cách.

Điều đó đồng nghĩa họ cũng sẽ có chân trong nội các chính phủ mới. Thế là đến khi phiên họp đầu tiên của QH khóa I diễn ra có thêm 70 đại biểu mà chưa từng được cử tri nào bầu. Và vì nội dung đã thông qua thương lượng nên việc thành lập chính phủ mới chỉ cần tuyên bố là xong. Phiên họp diễn ra có vài tiếng đồng hồ.

Công việc số 1 của QH là lập hiến. Hiến pháp đầu tiên của dân tộc ta đến nay vẫn được giới chuyên môn đánh giá rất cao đã thông qua trong phiên họp lần hai của QH khóa I. Tôi được biết thời điểm đó có hai bản dự thảo hiến pháp được gửi đến từng đại biểu.

Một bản do Bác Hồ và ủy ban soạn thảo (của Việt Minh) thực hiện. Một bản do Ủy ban kiến quốc (một tổ chức ngoài Việt Minh) thực hiện.

Bản hiến pháp do Hồ Chủ tịch soạn được đại biểu Đỗ Đức Dục, một thanh niên trí thức trong trung ương Đảng Dân chủ (một đảng đứng về phe Việt Minh) thuyết trình rất hùng hồn.

Do đáp ứng tính tiến bộ, trung chính, hợp lòng dân, hợp hoàn cảnh đất nước, dân tộc nên bản hiến pháp này đã được đại đa số đại biểu tán thành. Chỉ có hai đại biểu không tán thành. Một của các đảng đối lập và một của nhà tư sản dân tộc Nguyễn Sơn Hà, vì ông này muốn mở rộng tối đa quyền tự do kinh doanh.

Phần bàn về quốc kỳ là căng thẳng nhất. Phía Việt quốc, Việt cách muốn dùng cờ “thanh thiên bạch nhật” có ngôi sao trắng, viền xanh. Phía Việt Minh muốn dùng cờ đỏ sao vàng.

Có đại biểu nói: không thể thay đổi màu cờ đỏ vì nó đã thấm máu đồng bào ta vì độc lập, tự do bao thế hệ rồi. Phía kia chấp nhận màu đỏ nhưng đòi viền xanh. Phía Việt Minh vẫn không nghe. Cuối cùng thì cờ đỏ sao vàng đã là quốc kỳ thiêng liêng của dân tộc ta từ đó đến nay.

NGUYỄN THIỆN NGỮ (đại biểu Quốc hội khóa I)

Nguyên chủ tịch quốc hội Nguyễn Hữu Thọ: “Dân chủ không thể có bằng sự ban ơn…”

Năm 1988, trong khí thế đổi mới, tại Đại hội MTTQ VN TP.HCM, luật sư Nguyễn Hữu Thọ – chủ tịch MTTQ VN – đã phát biểu: “…Quốc hội (QH) là cơ quan quyền lực cao nhất nhưng cũng đấu tranh yếu ớt.

Những gì đạt được ở những phiên họp QH gần đây vẫn chưa phải là những điều cơ bản. Bãi miễn các chức vụ nhà nước là quyền của QH và Hội đồng nhân dân (HĐND), nhưng quyền ấy chưa bao giờ được sử dụng.

QH đã thế, HĐND còn yếu hơn. Chúng ta tốn tiền của, thì giờ để tổ chức bầu cử ra các cơ quan dân cử, để các cơ quan đó hội họp mỗi năm mấy lần, nhưng đã giải quyết được những gì phục vụ nhân dân?

Người ta chỉ thấy cơ quan thừa hành là ủy ban nhân dân là tổ chức chịu sự kiểm soát của HĐND, nhưng chủ tịch của UBND lại cũng là chủ tịch của HĐND. HĐND quyền lực như thế mà không có bộ máy đầy đủ, không có ngân sách, thậm chí còn không có cả trụ sở. Những điều khôi hài như thế vẫn chưa được đấu tranh để thay đổi.

Điều đau lòng là trong nhiều năm liền trôi qua, chúng ta vẫn còn duy trì những thứ hình thức, hữu danh vô thực đó. Khuyết điểm lớn của chúng ta là chưa có dân chủ thật sự. Nhiều nguyện vọng chính đáng của người dân chưa được đấu tranh thực hiện, người dân chưa thật sự chọn lựa được những người lãnh đạo theo sự tín nhiệm của họ.

Tất cả vấn đề là phải đấu tranh để thực hiện. Cuộc đấu tranh này không giống cuộc đấu tranh đối kháng với địch trước đây nhưng cũng phải diễn ra quyết liệt.

Nghị quyết Đại hội VI và những chủ trương đúng đắn của Đảng phải được đấu tranh để thể chế hóa thành luật. Khi đã có luật thì phải đấu tranh để luật được thi hành. Không có luật pháp thì không thể bảo đảm được quyền dân chủ.

Chức năng, nhiệm vụ của Đảng, Nhà nước, các cơ quan dân cử, các tổ chức quần chúng phải được phân định rõ ràng, không thể để tình trạng giẫm chân, bao biện làm thay tiếp tục xảy ra mãi được.

Tòa án phải có tính độc lập, không thể xử án theo những lệnh lạc đã được ra sẵn. Tôi cho rằng Mặt trận Tổ quốc cũng cần có một qui chế rõ ràng về mối quan hệ của mình với các cơ quan nhà nước.

Tôi nghĩ rằng dù cho đại hội này của Mặt trận Tổ quốc TP có thành công đến đâu, vấn đề vẫn tùy thuộc ở sự dũng cảm đấu tranh trong những ngày sắp tới. Dân chủ không thể có bằng sự ban ơn mà bằng sự đấu tranh”.

VÕ LINH HÀ ghi (TheoLuật sư Nguyễn Hữu Thọ gắn bó với dân tộc, với nhân dân, với cách mạng” – NXB Chính Trị Quốc Gia – 1996)

tuoitre.vn

Kỳ 2 – Quốc hội chất vấn Chủ tịch Hồ Chí Minh

TT – Hai phiên họp đầu tiên của Quốc hội (QH) khóa đầu tiên đều nóng bỏng, căng thẳng. Phiên họp thứ nhất đứng trước nguy cơ bị tẩy chay, còn phiên họp thứ hai, Chủ tịch Hồ Chí Minh phải trả lời chất vấn trước QH.Trong những câu trả lời, chúng tôi đặc biệt chú ý những câu trả lời của Hồ Chủ tịch, lập trường thì rõ ràng, dứt khoát, hình thức thì đôi lúc dí dỏm.

Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc tuyên thệ trước Quốc hội tại kỳ họp thứ nhất ngày 2-3-1946 – Ảnh: Tư liệu TTXVN

>> Cuộc tổng tuyển cử của lòng dân

Kỳ họp căng thẳng

Để chuẩn bị về nội dung, địa điểm và thời gian cho kỳ họp đầu tiên của QH, nhiều cuộc họp liên tịch đã được tiến hành từ hạ tuần tháng 2-1946 giữa một bên là đại biểu của Chính phủ và các đoàn thể trong Mặt trận Việt Minh, một bên là đại biểu của VN Quốc dân đảng và VN Cách mạng đồng minh hội.

Theo sự thỏa thuận giữa hai bên thì QH sẽ bắt đầu họp vào 7g sáng ngày 3-3 tại Nhà hát lớn thành phố Hà Nội và sau đó tiếp tục họp tại làng Đình Bảng (Bắc Ninh). Chính phủ đã căn cứ vào sự thỏa thuận đó mà báo tin cho các đại biểu QH biết và gửi giấy mời phóng viên báo chí trong nước và nước ngoài tham dự buổi họp khai mạc.

Nhưng đột nhiên chiều 1-3 ở nhiều nơi trong thành phố Hà Nội xuất hiện truyền đơn do Nguyễn Hải Thần ký tên kêu gọi nhân dân “tẩy chay QH”. Hành động này bộc lộ ý đồ phá hoại kỳ họp đầu tiên của QH.

Để đề phòng, ngay tối hôm đó Chính phủ đã báo tin cho các đại biểu QH biết là QH sẽ khai mạc vào 7g sáng 2-3 (trước ngày đã định một ngày) tại Nhà hát lớn Hà Nội và đề nghị các đại biểu chỉ có mặt đúng giờ họp rồi đi thẳng vào phòng họp mà không nên tập trung trước cửa Nhà hát lớn.

Theo đúng ngày giờ qui định, các đại biểu QH đã đến họp trước sự bất ngờ của bọn phá hoại và những bộ mặt ngơ ngác của bọn hiến binh Tưởng Giới Thạch đang tuần tiễu trên các ngả đường xung quanh Nhà hát lớn.

Ngồi trong phòng họp, các đại biểu QH rất nóng lòng chờ đợi khai mạc, vì đã quá 8g rồi mà vẫn chưa thấy Hồ Chủ tịch và các vị trong Chính phủ đến. Mọi người đều nghĩ đến vụ rải truyền đơn chiều hôm qua của bọn phản động nên không khỏi băn khoăn, lo lắng về những biến cố có thể xảy ra.

Lời tuyên bố của Chủ tịch Hồ Chí Minh trước Quốc hội (*)

Lần này là lần thứ hai Quốc hội giao phó cho tôi phụ trách Chính phủ một lần nữa. VN chưa được độc lập, chưa được thống nhất thì bất kỳ Quốc hội ủy cho tôi hay cho ai cũng phải gắng mà làm. Tôi xin nhận.

Giờ tôi xin tuyên bố trước Quốc hội, trước quốc dân và trước thế giới rằng: Hồ Chí Minh không phải là kẻ tham quyền cố vị, mong được thăng quan phát tài.

Chính phủ sau đây phải là một Chính phủ toàn dân đoàn kết và tập hợp nhân tài không đảng phái.

Tôi xin tuyên bố trước Quốc hội, trước quốc dân, trước thế giới: Tôi chỉ có một Đảng, Đảng VN.

Tuy trong quyết nghị không nói đến, không nêu lên hai chữ liêm khiết, tôi cũng xin tuyên bố trước Quốc hội, trước quốc dân và trước thế giới: Chính phủ sau đây phải là một Chính phủ liêm khiết.

Theo lời quyết nghị của Quốc hội, Chính phủ sau đây phải là một Chính phủ biết làm việc, có gan góc, quyết tâm đi vào mục đích trong thì kiến thiết, ngoài thì tranh thủ độc lập và thống nhất của nước nhà.

Anh em trong Chính phủ mới sẽ dựa vào sức của Quốc hội và quốc dân, dầu nguy hiểm mấy cũng đi vào mục đích mà quốc dân và Quốc hội trao cho.

(*): Đọc tại phiên họp ngày 31-10-1946 của kỳ họp thứ hai Quốc hội khóa I, sau khi được Quốc hội nhất trí giao trách nhiệm thành lập Chính phủ mới.

(Nguồn: Hồ Chí Minh toàn tập, NXB Chính Trị Quốc Gia, Hà Nội 2000)

Vì thay đổi ngày họp nên từ 5g sáng 2-3, Hồ Chủ tịch cùng hai đồng chí tự vệ không vũ trang đến tận sào huyệt của VN Quốc dân đảng và VN Cách mạng đồng minh hội ở phố Ôn Như Hầu (nay là Nguyễn Gia Thiều), nơi mà anh em cán bộ Việt Minh và những người dân lương thiện phải tránh xa, báo cho họ biết là QH họp ngày 2-3 để họ cử đại biểu đến dự.

Khi Hồ Chủ tịch đến, họ chưa ngủ dậy. Bị đột ngột, bất ngờ, họ không nghĩ kịp cách đối phó mà chỉ tranh nhau đi dự QH. Hồ Chủ tịch phải đứng dàn xếp bảo ai đi, ai ở nhà.

Gần 9g, việc dàn xếp ở phố Ôn Như Hầu mới xong, Hồ Chủ tịch lên xe đi đến hội trường, các “đại biểu QH” do VN Quốc dân đảng và VN Cách mạng đồng minh hội cử đi dự họp QH ăn mặc quần áo sang trọng kéo theo sau vào ngồi đứng lô nhô ở phòng chờ của Nhà hát lớn. Họ phải chờ sự ưng thuận của QH mới được phép vào phòng họp. Đây chính là những người đến tận ngày hôm qua vẫn tiếp tục gây rối loạn khắp nơi.

Vẫn với bộ quần áo kaki bạc màu, đôi giày vải cũ thường ngày, Hồ Chủ tịch bước vào hội trường, theo sau là ông Vĩnh Thụy và các vị trong Chính phủ.

Hơn 300 đại biểu, cùng với nhiều khách và các nhà báo trong nước và nước ngoài đứng dậy hoan hô không ngớt khi thấy Hồ Chủ tịch. Mấy trăm cặp mắt đều đổ dồn vào Người. Tiếng vỗ tay và tiếng hoan hô chỉ dứt khi ban âm nhạc vệ quốc đoàn mặc đồng phục trắng bắt đầu cử quốc ca.

Hồ Chủ tịch bước tới máy phóng thanh, đứng im lặng một lát đưa cặp mắt trìu mến nhìn các đại biểu thay mặt các tầng lớp nhân dân cả nước về họp QH. Bằng một giọng xúc động, Người tuyên bố khai mạc đại hội, và bắt đầu đọc báo cáo về kết quả cuộc tổng tuyển cử ngày 6-1-1946. Sau đó, Hồ Chủ tịch chuyển đề nghị của Chính phủ với đại hội xin mở rộng thêm 70 đại biểu nữa trong QH và số ghế này sẽ dành cho VN Quốc dân đảng và VN Cách mạng đồng minh hội.

Toàn thể các đại biểu QH giơ tay biểu quyết và đồng thanh hô to “tán thành”.

Cuộc chất vấn đầu tiên tại Quốc hội

Để QH nghe các báo cáo và nhận định về các hoạt động của Hồ Chủ tịch và các phái đoàn QH và Chính phủ trong thời gian qua, giải quyết những vấn đề quan trọng do tình hình mới đề ra và thông qua bản hiến pháp đầu tiên của nước ta, Ban Thường trực QH triệu tập QH họp kỳ thứ hai vào ngày 28-10-1946 tại Hà Nội.

Tại kỳ họp này cụ Nguyễn Văn Tố, trưởng Ban Thường trực QH, trả lời các câu hỏi chất vấn về công tác của Ban thường trực QH. Hồ Chủ tịch và các bộ trưởng trả lời các câu hỏi và chất vấn về công tác của Chính phủ.

Trong những câu trả lời, chúng tôi đặc biệt chú ý những câu trả lời của Hồ Chủ tịch, lập trường thì rõ ràng, dứt khoát, hình thức thì đôi lúc dí dỏm, đề cập đến những vấn đề mà nhân dân ta rất quan tâm trong tình thế đất nước lúc bấy giờ.

Sau đây là những câu trả lời chất vấn của Hồ Chủ tịch:

* Về ông phó chủ tịch Nguyễn Hải Thần, ông nguyên bộ trưởng ngoại giao Nguyễn Tường Tam và ông phó chủ tịch quân sự, ủy viên hội Vũ Hồng Khanh?

Những người bỏ việc đi kia họ không muốn gánh việc nước nhà, hoặc họ không đủ năng lực mà gánh nổi, nay chúng ta không có họ ở đây. Chúng ta cũng cứ gánh được như thường. Nhưng nếu các anh em ấy biết nghĩ lại, dối không nổi với lương tâm, với đồng bào, với Tổ quốc mà trở về thì chúng ta vẫn hoan nghênh.

Còn cái tin ông Nguyễn Hải Thần tự xưng là tổng tư lệnh hải, lục, không quân VN? VN không có hải, lục, không quân thì ông Nguyễn Hải Thần cứ việc mà làm tổng tư lệnh. Nhưng nếu ông Nguyễn Hải Thần tổ chức được hải, lục, không quân cho VN thì cố nhiên chúng ta hoan nghênh.

* Về ông Chu Bá Phượng, bộ trưởng Bộ Kinh tế:

Các báo Pháp có đăng vài tin (ông Chu Bá Phượng – đại biểu VN Quốc dân đảng, thành viên của phái đoàn Chính phủ đi dự hội nghị đàm phán ở Fontainebleau, khi sang Pháp có mang vàng theo để buôn lậu, bị nhà chức trách Pháp khám phá và làm khó dễ. Các báo Pháp đều có đăng tin và ông Phượng vẫn có mặt tại kỳ họp QH này) nhưng tin ấy có thật hay không thì đã qua rồi, vả lại cũng chẳng có ảnh hưởng gì lớn, xin thôi đừng nhắc đến.

Nếu trong Chính phủ còn có những người khác làm lỗi, thì lỗi ấy tôi xin chịu, xin gánh và xin lỗi với đồng bào.

Hồ Chủ tịch năm 1946

* Về tạm ước ngày 14-9?

Tạm ước ngày 14-9 có ảnh hưởng đến các hiệp ước kỳ sau này không? Trong xã hội loài người, cái gì mà chẳng có ảnh hưởng đến cái khác? Tuy vậy những sự điều đình sau này không bị ràng buộc được. Bản tạm ước này tùy theo sự thi hành thế nào, sẽ thúc đẩy cho những điều đình sau chóng tới kết quả một cách dễ dàng.

Còn nói rằng “tạm ước 14-9 là bất bình đẳng?” thì Chính phủ không dám nhận như thế. Với bản tạm ước ấy, mỗi bên nhân nhượng một ít, ta bảo đảm cho Pháp những quyền lợi kinh tế và văn hóa ở đây, thì Pháp cũng phải bảo đảm thi hành tự do dân chủ ở Nam bộ và thả các nhà ái quốc bị họ bắt bớ.

Còn nói Pháp không thành thật thi hành tạm ước, thì ta nói vơ đũa cả nắm. Pháp cũng có người tốt, người xấu. Tôi có thể nói quyết rằng nhân dân Pháp bây giờ đại đa số tán thành ta độc lập và thống nhất lãnh thổ.

* Vì sao Chính phủ đã đề nghị thay đổi quốc kỳ?

Chính phủ không bao giờ dám đề nghị thay đổi quốc kỳ, chỉ vì một vài người trong Chính phủ đề nghị việc ấy lên, nên Chính phủ phải đề qua Ban Thường trực QH xét.

Tình thế từ ngày ấy đến giờ biến chuyển nhiều. Lá cờ đỏ sao vàng đã nhuộm bao nhiêu máu chiến sĩ VN ở Nam bộ và Nam Trung bộ, đã đi từ Á sang Âu, lại từ Âu sang Á, tới đâu cũng được chào kính cẩn. Bây giờ trừ khi cả 25 triệu đồng bào, còn ra không ai có quyền gì mà đòi thay đổi nó. (Nói đến đây mắt Người sáng quắc lên, giọng Người vang to lên, và dằn mạnh từng tiếng một, trái hẳn với vẻ điềm đạm lúc thường).

* Về Chính phủ liêm khiết?

Chính phủ hiện thời đã cố gắng liêm khiết lắm. Nhưng trong Chính phủ từ Hồ Chí Minh cho đến những người làm việc ở các ủy ban là đông lắm và phức tạp lắm. Dù sao Chính phủ đã hết sức làm gương, và nếu làm gương không xong thì sẽ dùng pháp luật mà trị những kẻ ăn hối lộ. Đã trị, đương trị và sẽ trị cho kỳ hết.

…Sau khi trả lời và nghe cụ Nguyễn Văn Tố và các vị bộ trưởng trả lời các câu hỏi chất vấn của các đại biểu QH, Hồ Chủ tịch phát biểu:

“Chính phủ hiện thời mới thành lập hơn một năm hãy còn thanh niên. QH bầu ra được hơn tám tháng lại còn thanh niên hơn nữa. Vậy mà QH đã đặt những câu hỏi thật già dặn, sắc nét, khó trả lời, đề cập đến tất cả những vấn đề có quan hệ đến vận mệnh nước nhà. Với sự trưởng thành chính trị và sự quan tâm về việc nước ấy, ai dám bảo dân ta không có tư cách độc lập?”.

—————

Kỳ cuối:  Dân chủ quá mới mẻ

90% dân số VN còn mù chữ. Rất nhiều người chưa hiểu QH là gì thế mà họ đã bầu ra QH đầu tiên trong tình thế nước sôi lửa bỏng.

LÂM QUANG THỰ (đại biểu Quốc hội khóa)

tuoitre.vn

Kỳ 1 – Cuộc tổng tuyển cử của lòng dân

TT – Một ngày sau khi nước Việt Nam dân chủ cộng hòa khai sinh, Bác Hồ đã nghĩ đến việc lập một thiết chế dân chủ, cái mà trước đó trong lịch sử dân tộc ta chưa hề có, dân ta chưa hề được hưởng… Và câu chuyện “tổng tuyển cử đầu tiên” (6-1-1946) đã được công bố trong cuốn sách Lâm Quang Thự – người con đất Quảng

Nhân dân Hà Nội bỏ phiếu bầu Quốc hội khóa I – Ảnh tư liệu

(Sách do Hội Khoa học lịch sử TP Đà Nẵng phối hợp Nhà xuất bản Đà Nẵng xuất bản).

Bỏ được lá phiếu có chết cũng hả dạ

Ngày 3-9-1945, một ngày sau khi đọc bản Tuyên ngôn độc lập, tại phiên họp đầu tiên của chính phủ lâm thời, Hồ Chủ tịch đề nghị: “Trước do chúng ta đã bị chế độ quân chủ chuyên chế cai trị, rồi đến chế độ thực dân không kém phần chuyên chế, nên nước ta không có hiến pháp, nhân dân ta không được hưởng quyền tự do dân chủ. Chúng ta phải có một hiến pháp dân chủ. Tôi đề nghị Chính phủ tổ chức càng sớm càng hay cuộc tổng tuyển cử với chế độ phổ thông đầu phiếu. Tất cả công dân trai gái 18 tuổi đều có quyền bầu cử và ứng cử, không phân biệt giàu nghèo, tôn giáo, dòng giống”. (Hồ Chí Minh toàn tập, Nhà xuất bản Sự Thật Hà Nội, 1980, tập 1, trang 356).

Những đề nghị của Hồ Chủ tịch đáp ứng nguyện vọng thiết tha của đồng bào ta đã được Hội đồng Chính phủ nhất trí tán thành.

Thế là ngày 8-9-1945, tức là không đầy một tuần sau ngày nước VN dân chủ cộng hòa ra đời, Chính phủ ra sắc lệnh qui định trong thời gian hai tháng sẽ mở tổng tuyển cử trong cả nước bầu ra Quốc dân đại hội để ấn định hiến pháp cho nước VN dân chủ cộng hòa. Sau đó, Chính phủ ra sắc lệnh ngày 17-10-1945 qui định thể lệ tổng tuyển cử và sắc lệnh ngày 23-10-1945 ấn định ngày 6-1-1946 là ngày tiến hành tổng tuyển cử.

Đi đôi với việc ban hành các sắc lệnh về tổng tuyển cử, Chính phủ lâm thời công bố bản dự thảo hiến pháp đầu tiên để nhân dân tham gia ý kiến.

Trong lịch sử các dân tộc đấu tranh giành được độc lập, chưa bao giờ những sắc lệnh về tổng tuyển cử và dự án hiến pháp được công bố sớm như thế.

Trích lời kêu gọi quốc dân đi bỏ phiếu của Chủ tịch Hồ Chí Minh

Ngày mai, mồng 6 tháng giêng năm 1946.

Ngày mai, là một ngày sẽ đưa quốc dân ta lên con đường mới mẻ.

Ngày mai, là một ngày vui sướng của đồng bào ta, vì ngày mai là ngày tổng tuyển cử, vì ngày mai là một ngày đầu tiên trong lịch sử VN mà nhân dân ta bắt đầu hưởng dụng quyền dân chủ của mình.

Ngày mai, dân ta sẽ tỏ cho các chiến sĩ ở miền Nam rằng: Về mặt trận quân sự thì các chiến sĩ dùng súng đạn mà chống quân thù. Về mặt chính trị thì nhân dân dùng lá phiếu mà chống với quân địch. Một lá phiếu cũng có sức lực như một viên đạn.

Ngày mai, quốc dân ta sẽ tỏ cho thế giới biết rằng dân VN ta đã:

Kiên quyết đoàn kết chặt chẽ
Kiên quyết chống bọn thực dân
Kiên quyết tranh quyền độc lập

Ngày mai, dân ta sẽ tự do lựa chọn và bầu ra những người xứng đáng thay mặt cho mình và gánh vác việc nước.

Những người trúng cử sẽ phải ra sức giữ vững nền độc lập của Tổ quốc, ra sức mưu sự hạnh phúc cho đồng bào. Phải luôn luôn nhớ và thực hành câu: Vì lợi nước, quên lợi nhà; vì lợi chung, quên lợi riêng.

(Nguồn: Hồ Chí Minh toàn tập, NXB Chính Trị Quốc Gia, Hà Nội, 2000)

Lần đầu tiên trong lịch sử nước nhà, nước VN mới thật sự là của toàn thể nhân dân VN “không phân biệt nòi giống, gái trai, giàu nghèo, giai cấp, tôn giáo” (điều 1 của dự án hiến pháp). Trong cuộc tổng tuyển cử bầu Quốc dân đại hội, “tất cả công dân VN từ 18 tuổi trở lên không phân biệt nam nữ đều có quyền bầu cử và ứng cử” (điều 2 của sắc lệnh ngày 17-10-1945).

Cuộc tổng tuyển cử đã được nhân dân cả nước từ Bắc đến Nam, từ thành thị đến nông thôn, từ miền xuôi đến miền ngược nhiệt liệt hưởng ứng. Ai nấy đều nô nức, phấn khởi tham gia chuẩn bị cho cuộc bầu cử và nóng lòng chờ ngày đi bỏ phiếu.

Quang cảnh ngày 6-1-1946 là một ngày hội lớn của nhân dân cả nước. Từ sáng sớm từng đoàn người ăn mặc chỉnh tề tấp nập đi bỏ phiếu. Ở nhiều nơi các cụ già, những người ốm không đi được thì đòi con cháu hoặc người hàng xóm cõng, cáng đến nơi bầu cử để tự tay mình bỏ lá phiếu vào hòm phiếu. Nhiều cụ đã nói: “Bây giờ có chết cũng hả dạ vì đã bỏ được lá phiếu góp phần xây dựng nền móng đầu tiên của nước VN dân chủ cộng hòa cho con cháu mình”.

Giữ lá phiếu trước thù trong giặc ngoài

Cuộc tổng tuyển cử tiến hành trong tình thế nước nhà lúc bấy giờ vô cùng khó khăn, phức tạp. Nửa vạn quân đội Anh và 18 vạn quân đội Tưởng Giới Thạch kéo vào nước ta giữa tháng 9-1945 – sau ngày Cách mạng Tháng Tám thành công – với danh nghĩa quân đội đồng minh để giải giáp quân đội Nhật bại trận.

Ở miền Nam, quân đội Pháp được quân đội Anh với Nhật yểm hộ đã quay trở lại đánh chiếm Sài Gòn và các tỉnh Nam bộ, cực Nam Trung bộ và Tây nguyên. Tại những nơi này, bất chấp cả lưỡi lê và mũi súng của quân thù, quần chúng đã hăng hái tham gia tổng tuyển cử với tất cả dũng khí cách mạng của mình.

Trong những vùng bị địch tạm chiếm đóng, nhân dân tập trung bỏ phiếu, quân Pháp và Việt gian kéo đến khủng bố, nhân dân phải mang hòm phiếu chạy đến một nơi khác và tiếp tục bỏ phiếu. Như ở xã Mỹ Hòa (Cần Thơ), trong ngày bầu cử nhân dân phải di chuyển hòm phiếu đến bốn địa điểm khác nhau để hoàn thành việc bỏ phiếu.

Tại vùng Tây nguyên như ở Buôn Krong, Prong (Đắc Lắc), nhân dân tập trung ở nhà làng để bỏ phiếu, địch tới bao vây, nhân dân chạy sâu vào rừng, địch lại tấn công vào rừng, nhân dân đi sâu vào khe suối, mang theo gạo ăn để bỏ phiếu. Tại nhiều đô thị như Nha Trang, Sài Gòn, Tân An, hàng chục cán bộ ta đã bị địch sát hại trong lúc tổ chức bầu cử.

Ở miền Bắc, bọn VN quốc dân đảng và VN cách mạng đồng minh hội theo gót quân đội Tưởng Giới Thạch kéo về nước với mưu đồ lật đổ Chính phủ ta, làm tay sai cho bọn thống trị phương Bắc.

Chúng không hi vọng gì nếu chúng đưa người ra ứng cử, nên dựa vào quân đội và hiến binh Tưởng Giới Thạch chống phá tổng tuyển cử một cách điên cuồng, âm mưu ám sát, bắt cóc những người được Mặt trận Việt Minh giới thiệu và ứng cử. Ngay tại Hà Nội, chúng mang cả tiểu liên đến Ngũ Xã ngăn không cho đặt hòm phiếu, chúng cấm cả nhân dân treo cờ, đồng bào Ngũ Xã phải kéo sang khu phố gần đó để bỏ phiếu.

Hi sinh cho cuộc tổng tuyển cử thắng lợi

Ở khắp nơi, sự đoàn kết đấu tranh đầy hi sinh dũng cảm của nhân dân ta đã đưa cuộc tổng tuyển cử đến thắng lợi vẻ vang. Ở miền Nam, tại các vùng bị quân Pháp tạm chiếm đóng, cử tri đã đi bỏ phiếu từ 65-85%, ở miền Bắc có 75-95% cử tri đi bỏ phiếu bầu.

Từ nhiều địa phương, đồng bào viết thư về đề nghị Hồ Chủ tịch không cần ra ứng cử ở một tỉnh nào, nhân dân cả nước sẽ bỏ phiếu cử Bác vào Quốc dân đại hội, ai cũng muốn được ghi tên Bác đầu tiên trên lá phiếu của mình. Bác đã viết một bức thư ngắn trả lời đề nghị này:

Tôi là một công dân của nước VN dân chủ cộng hòa, nên tôi không thể vượt qua khỏi thể lệ tổng tuyển cử đã định. Tôi ra ứng cử ở Hà Nội nên không thể ra ứng cử ở nơi nào nữa. Xin cảm tạ đồng bào đã có lòng yêu tôi và yêu cầu toàn thể đồng bào hãy làm trọn nhiệm vụ người công dân trong cuộc tổng tuyển cử sắp tới”.

Ở Hà Nội, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã thu được 98,4% số phiếu bầu.

Trong cuộc tổng tuyển cử này, nhân dân cả nước đã bầu vào Quốc dân đại hội 333 đại biểu, trong đó Bắc bộ có 152 đại biểu, Trung bộ có 108 đại biểu và Nam bộ có 73 đại biểu.

————–

Kỳ sau: Quốc hội chất vấn Chủ tịch Hồ Chí Minh

Không chỉ chất vấn các bộ trưởng, Quốc hội khóa đầu tiên đã chất vấn Chủ tịch Hồ Chí Minh nhiều câu hỏi gai góc về vụ buôn lậu của bộ trưởng kinh tế Chu Bá Thượng, về đề nghị thay đổi quốc kỳ…

LÂM QUANG THỰ (đại biểu Quốc hội khóa I)

tuoitre.vn

Hồ Chủ tịch trả lời chất vấn qua lời kể Tướng Giáp

– Đại tướng Võ Nguyên Giáp viết về phần trả lời chất vấn của Chủ tịch Hồ Chí Minh tại kỳ họp thứ 2, Quốc hội khóa I cách đây gần 65 năm.

… Quốc hội khóa l, kỳ 2 khai mạc trọng thể vào sáng ngày 28/10 tại Nhà hát lớn thành phố. Quốc hội nghe báo cáo của Chính phủ về những công việc đã làm từ ngày thành lập, trong đó có cuộc đàm phán của Chính phủ Việt Nam với Chính phủ Pháp tại Fontainebleau và việc ký Tạm ước ngày 14/9.

Ngày 31/10, các đại biểu chất vấn Chính phủ. Có 88 câu hỏi nêu lên thuộc các vấn đề quốc phòng, ngoại giao, kinh tế, tài chính, tư pháp, nội vụ. Những câu hỏi được chuyển tới các bộ hữu quan, Hồ Chủ tịch thay mặt Chính phủ trả lời về chính sách ngoại giao của Chính phủ, việc ký Tạm ước ngày 14/9, việc Nguyễn Hải Thần, Nguyễn Tường Tam, Vũ Hồng Khanh tự ý bỏ đi.

Người nói: Về chính sách ngoại giao của Chính phủ và việc ký bản Tạm ước ngày 14/9 trong các báo cáo trước đã nói nhiều. Tóm lại đối với các nước dân chủ, hết sức gây thiện cảm. Các nước ấy tuy chưa công khai thừa nhận ta, nhưng ít nhiều thiện cảm với ta. Còn về ngoại giao với Pháp thì từ khi ký Hiệp định ngày 6/3, qua các Hội nghị Đà Lạt và Fontainebleau đến Tạm ước ngày 14/9, Chính phủ quyết tâm giữ vững nền độc lập và thống nhất của Việt Nam, đồng thời hợp tác thật thà và thân thiện với Pháp. Cố nhiên, người Pháp cũng phải cộng tác với ta trên nguyên tắc bình đẳng…

Người nói tiếp: Tạm ước này có ảnh hưởng tới các hiệp ước ký sau không? Trong xã hội loài người, có cái gì mà không ảnh hướng tới cái khác. Tuy vậy, những sự điều đình sau đây không thể vì bản tạm ước này mà bị ràng bó. Bản Tạm ước này tùy theo sự thi hành thế nào, sẽ tạo điều kiện đẩy cho những cuộc điều đình sau mau chóng đạt kết quả.

Người chuyển qua vấn đề khác: Về ông Phó Chủ tịch Nguyễn Hải Thần, ông Bộ trưởng Ngoại giao Nguyễn Tường Tam, ông Phó Chủ tịch Quân ủy hội Vũ Hồng Khanh, các ông ấy không có mặt ở đây. Lúc Nhà nước đương gặp bước khó khăn, quốc dân tin ở người nào trao người ấy làm công việc lớn mà các ông ấy lại bỏ đi thì các ông ấy phải hỏi lương tâm thế nào? Những người đã bỏ việc đi kia, họ không muốn gánh vác việc nước nhà hoặc họ cũng không đủ năng lực gánh vác, nay chúng ta không có họ ở đây chúng ta cũng cứ gánh vác được như thường. (Tiếng vỗ tay nổi lên). Nhưng nếu các anh em đấy biết nghĩ lại, dối không nổi lương tâm, với đồng bào, với Tổ quốc mà trở về, thì chúng ta vẫn hoan nghênh,

Trước khi bước xuống, Người nói: Nếu trong Chính phủ có các người khác lầm lỡ, thì lỗi ấy tôi xin chịu, xin gánh và xin lỗi với đồng bào.

Bác Hồ và Đại tướng Võ Nguyên Giáp chụp nhân kỷ niệm ngày thành lập Quân đội Nhân dân Việt Nam năm 1962Bác Hồ và Đại tướng Võ Nguyên Giáp chụp nhân kỷ niệm ngày thành lập Quân đội Nhân dân Việt Nam năm 1962.

Buổi chiều và buổi tối, các bộ trả lời những điều đại biểu đã hỏi. Nhưng khi các bộ giải đáp xong, nhiều đại biểu vẫn tiếp tục chất vấn. Chờ mọi người nêu hết những câu hỏi, một lần nữa, Hồ Chủ tịch thay mặt Chính phủ để trả lời. Vẫn bằng những lời lẽ giản dị, ôn tồn, Người nói:

Vấn đề Quốc kỳ, Chính phủ không bao giờ dám đòi thay đổi Quốc kỳ. Có một vài người trong Chính phủ đề nghị việc ấy nên Chính phủ phải đệ qua Thường trực Quốc hội xét. Tình thế từ ngày ấy đến giờ biến chuyển nhiều, lá cờ đỏ Sao Vàng đã nhuộm bao nhiêu máu các chiến sỹ Việt Nam ở Nam Bộ và Nam Trung bộ, đã đi từ Á sang Âu, lại từ Âu sang Á, tới đâu cũng được chào kính cẩn. Đôi mắt sáng rực, bằng giọng nói nhấn mạnh, Người tiếp: Bây giờ trừ 25 triệu đồng bào ra còn không ai có quyền gì mà đòi thay đổi Quốc kỳ. Cả hội trường vang lên tiếng vỗ tay, Bác nói tiếp:

Vấn đề liêm khiết của Chính phủ thì Chính phủ hiện thời đang cố gắng liêm khiết lắm. Nhưng trong Chính phủ từ Hồ Chí Minh cho đến những người làm việc ở ủy ban làng đông lắm. Dù sao Chính phủ cũng đã hết sức làm gương. Và nếu làm gương không xong sẽ dùng pháp luật trừng trị những kẻ ăn hối lộ, đã trị, đương trị và sẽ trị cho kỳ hết. (Tiếng vỗ tay hoan nghênh lại nổi lên).

Còn có đại biểu nói rằng bản Tạm ước ngày 14/9 là bất bình đẳng thì Chính phủ không dám nhận như thế. Với bản Tạm ước ấy, mỗi bên đều nhân nhượng ít nhiều, ta đảm bảo cho Pháp một phần những quyền lợi văn hóa ở đây thì Pháp cũng phải đảm bảo thi hành tự do dân chủ ở Nam bộ và thả các nhà ái quốc bị bắt bớ. Còn nói Pháp thành thật thi hành bản Tạm ước hay không thì ta hiểu rằng Pháp cũng có người tốt, có người xấu. Tôi có thể nói quyết rằng đa số nhân dân Pháp bây giờ tán thành chúng ta độc lập và thống nhất lãnh thổ…

Bằng những lời nói thật giản dị nhưng cũng thật sáng rõ, khúc chiết chặt chẽ, Bác tiếp tục trả lời tất cả những vấn đề mà các đại biểu đã nêu ra. Người nói xong, không ai hỏi gì thêm. Cuộc chất vấn Chính phủ kết thúc đúng vào nửa đêm…

Đại tướng Võ Nguyên Giáp

(Theo sách Hồi ký đại biểu Khóa I)

bee.net.vn

Tình yêu thương làm thay đổi đời người

Lời dặn của Bác nâng đỡ và theo trung tá Huỳnh Văn Rều suốt cuộc kháng chiến chống Mỹ, băng qua những dãy núi chót vót của rừng Trường Sơn, vượt trận địa đầy bom rơi pháo nổ với cái chết luôn rình rập từng ngày.

“Tình yêu thương bao la của Bác có sức lay động và cảm hóa con người rất lớn. Tôi học ở Bác phong cách giản dị, gần gũi và luôn quan tâm đến mọi người”, trung tá Huỳnh Văn Riều, nguyên Chính trị viên đại đội 4, Trung đoàn 228 pháo cao xạ phòng không, tâm sự với chúng tôi trong chuyến trở về chiến trường xưa ở tỉnh Kontum.

Sau khi đất nước hoàn toàn giải phóng, mang trong người chất độc da cam/dioxin và nỗi đau không thể có con, ông Huỳnh Văn Riều trở về mảnh đất miền Nam yêu thương, tiếp tục cống hiến sức mình cho đất nước, như lời Bác dặn dò năm nào.

Ba lần gặp Bác Hồ

Sinh ra và lớn lên ở vùng đất thép thành đồng, xã Phước Hiệp, huyện Củ Chi, 16 tuổi, ông Riều thoát ly đi kháng chiến, làm liên lạc cho Ủy ban Kháng chiến hành chính của xã Phước Hiệp. Khi tập kết ra Bắc, ông học kyx thuật vô tuyến điện, sau đó trở thành chính trị viên của Đại đội 4, Trung đoàn 228 pháo cao xạ phòng không 57 mm (thuộc Sư đoàn phòng không 367).

Trung tá Huỳnh Văn Riều (bên phải) trong hành trình trở về chiến trường xưa. Ảnh: Minh Chánh

Ông Riều nhớ mãi lần đầu gặp Bác, tháng 6.1958, trong đợt đón tiếp đoàn công tác của đồng chí Vô-rô-xi-lốp, Chủ tịch Đoàn chủ tịch Xô Viết tối cao Liên Xô (cũ) sang thăm Việt Nam. Lúc đó, ông Riều đứng trong đội ngũ vừa đón vừa bảo vệ đoàn. “Xe chở Bác từ cầu Long Biên vào Phủ Chủ tịch. Bác vẫy tay chào mọi người, tôi nhìn Bác, đôi mắt Người sáng ngời, da dẻ hồng hào, nụ cười ấm áp. Hình ảnh ấy in đậm trong lòng tôi”, ông Riều nhớ lại.

Ngày 22/12/1961, khi đang ở trạm chỉ huy của Bộ tư lệnh phòng không Sư đoàn phòng không 367, ông Riều lần thứ hai được gặp Bác. “Sở chỉ huy thông báo Bác đến thăm đơn vị hôm nay. Ai cũng hồi hộp.

9h, Bác đến. Bác thăm nhà ăn đầu tiên, rồi ghé xem nhà vệ sinh, sau đó mới đến phòng khách. Mọi người rất xúc động, Bác quan tâm đến cuộc sống đời thường của anh em vậy đó”, ông Riều kể. Sau khi vào phòng khách, Bác ân cần hỏi han mọi người và dặn dò các chiến sĩ, sĩ quan làm tốt nhiệm vụ, thông tin chính xác, cố gắng giữ vững bầu trời miền Bắc.

“Bác hỏi chúng tôi: “Ở đây có cháu nào người miền Nam không?”. Trong đơn vị ngày ấy chỉ có tôi và anh Nguyễn Văn Ri là dân miền Nam, nhưng tôi xúc động quá, anh Ri trả lời thay. Bác nhìn chúng tôi trìu mến và dặn dò: “Mỹ ngụy đang giày xéo quê hương miền Nam từng giờ từng ngày. Các cháu là con em miền Nam, phải học tập cho giỏi, chiến đấu cho cừ, góp phần đấu tranh giải phóng miền Nam, các cháu nhé!”. Bác nói ngắn gọn, giản dị nhưng chúng tôi ghi lòng tạc dạ sâu sắc”, ông Riều kể lại.

Lời dặn dò ấy đã nâng đỡ và theo ông suốt cuộc kháng chiến chống Mỹ, băng qua những dãy núi cao chót vót của rừng Trường Sơn, vượt qua những trận địa đầy bom rơi pháo nổ với cái chết luôn rình rập từng ngày.

Luôn làm theo lời Bác

Phường Cầu Kho, quận 1, nơi trung tá Riều sinh sống, một thời nổi tiếng vì tệ nạn mua bán ma túy. Năm 2004, thành phố thí điểm thành lập tổ cán sự xã hội, gồm các đảng viên hưu trí và cán bộ lão thành, chịu trách nhiệm tình nguyện quản lý và hỗ trợ những người hồi gia. Ông Riều lập tức đăng ký vào tổ này.

Sau gần 5 năm tổ cán sự xã hội hoạt động, tình trạng buôn bán ma túy công khai ở địa bàn giảm gần 90%, nhiều người hồi gia được vay vốn và có việc làm ổn định.

“Tôi luôn xác định, anh bộ đội Cụ Hồ phải thể hiện phẩm chất cả khi đã ngưng cầm súng. Phần lớn các cháu nghiện ma túy đều là con em người lao động nghèo, nên mình phải cố gắng giáo dục, cảm hóa và giúp đỡ họ”, ông Riều tâm sự. Dù tuổi cao, sức yếu nhưng vị trung tá này chưa khi ngơi nghỉ. Ông đến từng nhà các đối tượng hồi gia, trò chuyện và động viên từng người.

Năm 2007, được biết anh Đoàn Văn Thành ở khu phố 1, vừa hồi gia nhưng đã tái nghiện, ông Riều qua nhà anh Thành và nhắn nhủ với gia đình: “Khi nào Thành về nhà thì báo nó ra gặp chú. Chỉ cần nó hứa không hút ma túy thì chú đảm bảo công an không bắt”. Ông Riều tất tả chạy ngược chạy xuôi giới thiệu anh Thành vay vốn từ Qũy hỗ trợ người nghiện ma túy và nhiễm HIV/AIDS. Cho tới nay, anh Thành vẫn giữ lời hứa xưa, chăm chỉ chạy xe ôm, sống hạnh phúc bên người vợ và đứa con đang tượng hình trong bụng mẹ.

“Con cám ơn chú đã giúp con, cho con cơ hội hoàn lương. Con hứa sẽ trở thành người tốt”, anh Thành viết thư gửi vị trung tá này.

Giữa năm 2008, ông Riều khởi xướng chương trình “Bạn giúp bạn” – một mô hình sinh hoạt nhóm đầu tiên của thành phố giữa các cán sự xã hội và người sau cai nghiện. Đều đặn mỗi tháng một lần, tổ cán sự xã hội tổ chức cho các đối tượng sau cai trên địa bàn phường (sau này nhân rộng ra toàn quận 1) gặp gỡ, sinh hoạt tập thể, giao lưu ca hát. Thỉnh thoảng, “Bạn giúp bạn” lại có kế hoạch đi dã ngoại. Những chuyến đi xa lên rừng xuống biển kéo mọi người xích lại gần nhau và không lưu luyến ma túy. “Chỉ cần vậy là tôi vui rồi, cháu ạ!”, ông Riều cười. Nụ cười hiền lành và mãn nguyện.

15 năm là Chủ tịch Hội Cựu chiến binh, 5 năm làm tổ trưởng tổ cán sự xã hội phường, bước chân ông Riều đã “mòn” tất cả con đường lớn đường nhỏ của phường Cầu Kho.

Năm 1969, trung tá Huỳnh Văn Riều bị nhiễm chất độc da cam trong một lần chạy xuống trận địa tìm đồng đội. Cùng thời điểm này, người pháo binh được tin Bác mất; anh cùng đồng đội nén chặt nỗi đau da cam/dioxin, làm lễ tang Bác. Rưng rưng nước mắt, ông thề: “Vì Tổ quốc, chiến đấu cho đến hơi thở cuối cùng”.

Thu Thảo

baodatviet.vn

Hồ Chí Minh trong lòng bạn bè thế giới

Cảm phục trước vị lãnh tụ kiệt xuất của dân tộc Việt Nam, nhiều chuyên gia và phóng viên nước ngoài viết về Chủ tịch Hồ Chí Minh với tất cả lòng kính trọng.

>> Olympiakos viếng Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh

Giáo sư Sử học William J.Duiker viết trong công trình vĩ đại về cuộc đời và sự nghiệp của Chủ tịch Hồ Chí Min: “Hồ Chí Minh là một vị lãnh tụ thiên tài nhưng vô cùng giản dị, rất gần gũi với cuộc sống của người lao động và đặc biệt hơn, Người là một chính khách lỗi lạc, biết kết hợp tài tình nghệ thuật lãnh đạo để đưa con thuyền cách mạng Việt Nam mau chóng tới đích”.

Trong bài viết “Hồ Chí Minh – Chiến thắng một tầm nhìn” trên tạp chí In Asien của Đức, tác giả Dierk Szekielda cũng cho rằng, sự ngưỡng mộ của ông với Chủ tịch Hồ Chí Minh và nhân dân Việt Nam đã thôi thúc ông viết bài báo này. Ông ca ngợi Chủ tịch Hồ Chí Minh là một nhà yêu nước và là người soi sáng con đường đấu tranh cách mạng của nhân dân Việt Nam, một người có phẩm chất phi thường.

Tổng thống Venezuela trân trọng đón nhận bức chân dung Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Còn trên tờ Time (Mỹ), nhà báo, tác giả cuốn “Việt Nam – một thiên sử” Stanley Karnow viết về Chủ tịch Hồ Chí Minh như sau: “Một thân hình gầy gò, chòm râu dài, chiếc áo khoác cũ và đôi dép cao su đã mòn, Hồ Chí Minh đã tạo ra một hình ảnh hiền lành, giản dị. Nhưng Người là nhà cách mạng dày dạn kinh nghiệm và một nhà dân tộc chủ nghĩa nồng nhiệt, suốt đời đấu tranh cho một mục đích duy nhất: mang lại độc lập tự do cho dân tộc mình. Không có sự dao động trong niềm tin của Hồ Chí Minh, không thể lay chuyển ý chí của Người, ngay cả khi cuộc chiến tranh của Mỹ leo thang, tàn phá đất nước, người vẫn giữ niềm tin đối với nền độc lập của Việt Nam. Dưới con mắt phương Tây, điều dường như không thể tưởng tượng được là Hồ Chí Minh có thể cống hiến sự hy sinh to lớn như ông đã làm”. Và Time bình chọn Bác Hồ là một trong 100 nhân vật có ảnh hưởng lớn nhất trong thế kỷ 20.

Giáo sư Nhật Bản Singo Sibata khẳng định, Hồ Chí Minh là nhà lý luận tài giỏi trên mọi lĩnh vực chính trị, quân sự, kinh tế, văn hóa, tư tưởng … Lý luận của Người được xây dựng trên cơ sở chủ nghĩa Mác- Lênin, song là sự phát triển chủ nghĩa Mác- Lênin trong thời đại ngày nay. 

Bích Diệp (Tổng hợp)

baodatviet.vn

Những phút hiếm hoi bên cạnh người chị và người anh của Bác Hồ

Giadinh.net – Gần 60 năm trôi qua, nhưng kỷ niệm được gặp anh trai và chị gái của Bác Hồ vẫn không phai nhoà trong tâm trí Đại tá Huỳnh Thúc Cẩn, nguyên Cố vấn Quân sự tại nước bạn Lào thuộc Bộ Tổng tham mưu Quân đội Nhân dân Việt Nam.

Một sáng tháng 5/1948, tôi lúc đó là cán sự, trợ lý của Phòng Chính trị Liên khu 4 được cấp trên phái vào Nghệ An công tác. Đúng là “cầu được ước thấy”, ước mơ ấp ủ lâu nay. Một dịp nào đó được vào thăm quê Bác, được gặp anh và chị của Bác.

Tôi vội chuẩn bị một ruột tượng gạo đầy để ăn trên đường, củng cố đôi dép Bình Trị Thiên, cuốc bộ ba ngày hơn 200 cây số từ Thọ Xuân (Thanh Hoá) theo kiểu “bốn tập”, vì thời gian công tác có hạn.

Đường đi tuy lạ, nhưng ở đâu dù xa hay gần, bất kỳ ai, từ cụ già đến trẻ nhỏ, khi hỏi đường về nhà cụ Cả Khiêm, mọi người đều biết và chỉ dẫn nhiệt tình. Tôi vào nhà cụ Cả Khiêm, rất may lúc này bà Thanh cũng vừa đến (bà Thanh ở nhà riêng bên làng Hoàng Trù quê ngoại).

Sau khi chào hỏi, giới thiệu xong, tôi xin phép được xưng hô “bác, cháu”, như thường quen được gọi Bác Hồ xưa nay. Ngay lập tức bà Thanh chỉnh lại: “ở quê choa, mi phải gọi là o Thanh mới đúng. Thế mi quê ở mô mà nỏ biết như rứa?

– Thưa o, cháu quê ở Quảng Bình – tôi trả lời.

Trên bàn thờ gia tộc, bức trướng Phó Bảng của cụ Nguyễn Sinh Sắc – thân sinh ba chị em của Bác Hồ, tuy đã nhuộm màu thời gian, hương khói, nhưng rất rạng rỡ truyền thống. Tôi xin phép thắp nén hương tưởng nhớ công ơn hai cụ đã sinh ra những người con vĩ đại, góp phần làm rạng danh dân tộc, non sông đất nước Việt Nam.

Ngồi đối diện trước mặt tôi là hai nhà nho yêu nước, hai nhà cách mạng đã từng vào sinh ra tử, tù đầy bao phen. Hai cụ già tuổi cổ lai hy hiền từ và đôn hậu, đôi mắt tinh anh, quắc thước, đã hy sinh tình cảm tuổi trẻ cho đại nghĩa dân tộc. Tôi thấy bồi hồi xúc động khi cảm nhận được trong dáng vóc, khuôn mặt của cụ Cả Khiêm, có hình ảnh của Bác Hồ. Hai anh em Bác rất giống nhau.

– Thưa bác và o – tôi hỏi – lâu nay thiên hạ có đồn nhiều về sấm Trạng Trình: “Bò Đái thất thanh, Nam Đàn sinh thánh”, có nghĩa là như thế nào ạ?

Cụ Cả Khiêm vừa trò chuyện, nhưng hai tay vẫn vê tròn các viên thuốc tễ (cụ là một lương y) vội ngừng tay lại, ngẫm nghĩ một chút, không vội trả lời ngay, cụ mỉm cười nói:

– Thế cháu có nghe, trong thời gian qua, họ cũng đồn nhiều câu thơ, cũng gọi là “sấm Trạng Trình”, cũng có cái thật, cái giả, ví như:

“Mặt trời đã xế ngang chùa

Nhà này bảy miệng ăn vừa thì thôi”.

Rồi suy ra, tổng số vua nhà Nguyễn viết bằng chữ Hán, chỉ có bảy chữ khẩu (miệng); chữ khẩu thuộc dòng máu chính thống, nếu bị lai tạp thì không tính, là hết thời…

Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm là một nhà nho uyên bác, văn võ toàn tài, là một nhà thơ, có tài tiên tri thời nhà Mạc, có thể ví như Khổng Minh Gia Cát Lượng ở thời Tam quốc phân tranh bên Trung Quốc, thời nào người ta cũng thường dựa vào thơ của ông, có cả thơ thật và thơ giả, rồi liên hệ, ứng dụng, ví von, suy đoán; dùng những hiện tượng, các sự kiện, các nhân vật có thật, rồi cường điệu hoá, huyền thoại hoá, làm sao cho hợp ý muốn, ước mơ hy vọng chủ quan của người đời lúc ấy mà thôi.

– Dạ vâng, cháu hiểu – tôi trả lời.

Cụ nói tiếp: – Cháu là bộ đội cũng nên hiểu, làm việc gì cũng phải dựa vào “thiên thời, địa lợi, nhân hoà”, phải có thời và phải có thế, nếu chỉ có thời mà không có thế, hoặc chỉ có thế mà không có thời cũng nỏ được mô. Thời cơ rất quan trọng, có ý nghĩa quyết định cháu ạ. Cuộc khởi nghĩa Đô Lương, phong trào Xô Viết Nghệ Tĩnh, các ông Phan Đình Phùng, Đội Cung, Phan Bội Châu… đều không thành công do có nhiều nguyên nhân khách quan, chủ quan, trong đó có lý do là thời cơ lúc đó chưa chín muồi, không có đường lối cách mạng đúng, không có sức mạnh của đông đảo quần chúng nhân dân, không có điều kiện thuận lợi của quốc tế và trong nước, thì làm sao có Khởi nghĩa tháng Tám thành công được?

Nghe cụ lý giải tôi, càng thấy sâu sắc những lời nói của một nhà chính trị dày dạn, của một người ông, một người cha chân tình giảng dạy cặn kẽ cho con cái mình.

Sợ cụ mệt, tôi bắt chuyện với o Thanh:

– Thưa o, sau khi nước nhà được độc lập, o đã có dịp ra thăm Bác Hồ ở Hà Nội năm 1946 (vừa hỏi tôi vừa chỉ tay lên ảnh Bác Hồ trên cao), khi gặp o có nhận ra Bác và cái ảnh này có giống Bác Hồ không ạ?

O Thanh cười hiền từ, vui vẻ nói:

– Sau mấy chục năm xa cách, lần đầu tiên chị em choa được gặp nhau “Giỏ nhà ai quai nhà nấy” mần răng mà khác được.

Sau này tìm hiểu thêm mới biết o Thanh cũng là một nhà thơ có bút danh là “Bạch Liên nữ sĩ”.

Chứng kiến tận mắt cuộc sống của o Thanh và bác Khiêm, từng người đều không có tổ ấm riêng, mỗi người chỉ có một mái nhà tranh, một chõng tre, một khung cửi, một bộ tràng kỷ là kỷ vật để lại; trong cái chạn bát chỉ có một cái bát, một đôi đũa, một cái thìa, một lọ cà dầm tương, nhút, không thấy gạo cơm, thịt cá gì cả, tôi cảm động không cầm nổi nước mắt. Cụ Cả Khiêm vỗ vai tôi và nói:

– “Tay làm hàm nhai” có chi mô, chị em choa có làm nghề thuốc, vừa giúp bà con, vừa tự nuôi sống mình đủ ăn đơn giản, dân dã mà khoẻ là được,

“nhút Thanh Chương tương Nam Đàn” có tiếng mà!

Cùng với người em – Bác Hồ – vị Chủ tịch nước hết mình với Tổ quốc, nhân dân, cụ Cả Khiêm và bà Thanh sống giản dị, dân dã giữa đời thường; hàng ngày vẫn say sưa cần mẫn như bao người dân khác, vẫn giữ nếp nhà, gia giáo, gia phong của gia đình, một nơi đã tạo nên những nhân cách lớn của ba chị em: Không tham giàu sang, không màng danh lợi, có một lòng nhân ái tuyệt vời. Ôi! đã mấy chục năm xa cách thế mà đến nay, chưa có một lần nào sum họp đầy đủ cả ba chị em, dưới mái nhà tranh tại nơi chôn rau cắt rốn này!

Sau khi gặp được o Thanh và cụ Cả Khiêm, may mắn lớn lao của tôi đó là 3 năm sau tôi được gặp Bác Hồ (28/2/1951), khi Bác về động viên đơn vị trước khi ra trận tham gia chiến dịch Hoàng Hoa Thám ở Tuyên Quang.

Thật không có gì cảm động bằng sự quan tâm của Bác với cương vị không riêng là Chủ tịch nước, mà còn là tình cảm của người Cha, người Bác, là một tình cảm đặc biệt và độc đáo, phong cách rất Việt Nam, nhân hậu, nghĩa tình. Có lẽ hiếm có vị tổng thống, thủ tướng của một nước nào trên thế giới có một phong cách như vậy trước hàng quân.

Đúng 60 năm sau, tôi được trở lại thăm quê Bác. Cảnh xưa còn đó, nhưng đã vắng bóng hai cụ và Bác cũng đã đi xa. Tôi đã có dịp đi nghiên cứu ở nước ngoài, đã viếng thăm lăng Lê Nin, lăng Đimitơrốp, đã đi trên các đại lộ Hồ Chí Minh ở Mátxcơva, Xôphia, cancútta (Ấn Độ). Nhưng khi nghĩ mình là dân, là con của Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại, khi thấy được cái mẫu mực trong cuộc sống hết sức giản dị, đơn sơ của một gia đình “toàn tâm toàn ý vì Tổ quốc độc lập, vì nhân dân ấm no hạnh phúc, vì chủ nghĩa xã hội”, mà có lẽ khó có người nào làm được như vậy, nếu không có chữ “Tâm”. Có lẽ vì vậy, một số lãnh tụ nước ngoài đã ca ngợi Bác Hồ như sau:

1. “Chí khí tráng sơn hà – Cứu quốc anh hùng duy hữu nhất”

“Minh tinh quang vũ trụ – Á, Âu hào kiệt thị vô song”.

(Nghĩa là: Chí khí bao gồm cả núi sông, gọi là anh hùng cứu nước chỉ có một, ngôi sao sáng cả bầu trời, đó là hào kiệt Á, Âu thì thực không hai).

2. Hồ Chủ Tịch là một công dân vĩ đại, một đảng viên vĩ đại, một lãnh tụ vĩ đại. Ba cái vĩ đại đó đều tập trung ở một con người vĩ đại: Đồng chí Hồ Chí Minh.

Huỳnh Thúc Cẩn (Đại tá CCB – Hà Nội)

giadinh.net.vn

Đẩy mạnh hoạt động công tác dân vận ở Bộ Tư lệnh Bảo vệ Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh

Đại tá Phạm Văn Lập, Phó Tư lệnh tặng Bằng khen cho các tập thể, cá nhân có thành tích xuất sắc trong công tác dân vận năm 2011

Bộ Tư lệnh Bảo vệ Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh là đơn vị được Đảng, Nhà nước, Bộ Quốc phòng giao nhiệm vụ chính trị đặc biệt: Giữ gìn lâu dài, bảo vệ tuyệt đối an toàn thi hài Chủ tịch Hồ Chí Minh và Công trình Lăng của Người; tổ chức đón tiếp phục vụ đồng bào, khách quốc tế đến viếng Bác, tham quan Khu Di tích K9; tổ chức phục vụ các hoạt động tại Đài tưởng niệm các Anh hùng liệt sỹ và nghi lễ chào cờ hàng ngày trước Lăng. Trong những năm qua, đơn vị đã chủ động khắc phục khó khăn, nỗ lực phấn đấu hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ chính trị, xây dựng Đảng bộ TSVM, đơn vị VMTD.

Trong đó, đã làm tốt công tác giáo dục về chính trị, tư tưởng; tổ chức các lớp học nghiên cứu, quán triệt nghị quyết Đại hội Đảng các cấp, trọng tâm là Nghị quyết Đại hội XI của Đảng, các chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước, kỷ luật của quân đội, các quy chế, quy định của địa phương trên địa bànđóng quân. Cấp ủy, chỉ huy các cơ quan, đơn vị đã thường xuyên triển khai thực hiện nghiêm túc có hiệu quả công tác dân vận; cùng với cấp ủy, chính quyền địa phương, các lực lượng có liên quan phối hợp, hiệp đồng chặt chẽ giải quyết tốt các sự việc xảy ra, giữ vững trật tự, an toàn khu vực.

Thường xuyên rà soát, bổ sung, hoàn thiện các quy chế, quy định và triển khai thực hiện nghiêm túc, phát huy tốt nhất vai trò trách nhiệm của cấp ủy, chỉ huy các cấp nâng cao chất lượng quản lý đơn vị toàn diện về mọi mặt. Tập trung thực hiện tốt một số quy chế, quy định như: Quy định tổ chức lễ viếng Chủ tịch Hồ Chí Minh và tưởng niệm các Anh hùng liệt sỹ; Quy chế về công tác phối hợp hiệp đồng chặt chẽ giữa các lực lượng Ban Quản lý Lăng với các lực lượng vũ trang Thủ đô trong bảo đảm an ninh an toàn tuyệt đối cho các buổi lễ viếng cấp Nhà nước, các đoàn nguyên thủ quốc gia, các đoàn cấp Bộ trưởng, đón tiếp đồng bào và khách quốc tế vào Lăng viếng Bác, thắp hương tưởng niệm các Anh hùng liệt sỹ và tham quan Thủ đô; xây dựng và chấp hành nghiêm Quy chế công tác dân vận của đơn vị. Các quy chế, quy định phối hợp bảo đảm an ninh với cấp ủy, chính quyền và nhân dân địa phương trên địa bàn đóng quân đã góp phần tăng cường quan hệ phối hợp các lực lượng và đoàn kết quân dân; giữ vững kỷ cương, kỷ luật trong đơn vị, tạo môi trường thuận lợi để đơn vị hoàn thành thắng lợi mọi nhiệm vụ được giao, xây dựng đơn vị an toàn, địa bàn đóng quân an toàn, góp phần giữ vững an ninh, trật tự và an toàn xã hội.

Thiếu tướng Đặng Nam Điền, Chính ủy Bộ Tư lệnh Bảo vệ Lăng và Thủ trưởng Phòng Chính trị,
Đoàn 595 trao nhà tình nghĩa cho bà Đỗ Thị Xuyên tại xã Trịnh Xá,
huyện Bình Lục, tỉnh Hà Nam

Hàng năm đơn vị đã chủ trì tổ chức Hội nghị phối hợp, hiệp đồng chặt chẽ với các lực lượng vũ trang của các quận, huyện thuộc thành phố Hà Nội bảo đảm an ninh, an toàn tuyệt đối như: Phục vụ Lễ kỷ niệm 1000 năm Thăng Long – Hà Nội năm 2010; Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng; cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XIII và Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2011 – 2016, các ngày lễ, tết, các sự kiện sinh hoạt chính trị, văn hóa diễn ra tại Lăng, Quảng trường Ba Đình và Đài tưởng niệm các Anh hùng liệt sỹ.

Phối hợp và tổ chức tốt việc giao ban an ninh theo quy định giữa Bộ Tư lệnh Bảo vệ Lăng với Bộ Tư lệnh Cảnh vệ, với các lực lượng vũ trang trên địa bàn quận Ba Đình, quận Đống Đa, huyện Ba Vì, kịp thời thông báo tình hình, kết quả công tác phối hợp, hiệp đồng trong giải quyết các sự việc cụ thể có liên quan tới công tác bảo đảm an ninh, trật tự an toàn xã hội trên địa bàn, không để xảy ra bị động, bất ngờ; trong từng thời kỳ và hàng năm làm tốt công tác sơ kết, tổng kết, biểu dương khen thưởng kịp thời đối với những tập thể và cá nhân có thành tích suất sắc trong công tác dân vận. Bên cạnh đó, đơn vị đã phối hợp cùng với Sở Giáo dục thành phố Hà Nội, các trường trung học phổ thông trên địa bàn đóng quân như Trường Phạm Hồng Thái, Đinh Tiên Hoàng, Nguyễn Siêu, Hoàng Diệu…Xây dựng kế hoạch và triển khai thực hiện hoàn thành xuất sắc các nội dung giáo dục kiến thức quốc phòng cho học sinh các nhà trường; tổ chức tốt, an toàn, chu đáo 2 lớp “Học kỳ quân đội” cho 180 cháu, tạo ấn tượng, tình cảm tốt đẹp về hình ảnh Bộ đội Cụ Hồ bên Lăng Bác. Tích cực hưởng ứng các phong trào của địa phương phát động, như vận động 100% cán bộ, công nhân viên, chiến sỹ tham gia phong trào xây dựng Quỹ “Đền ơn, đáp nghĩa”, Quỹ “Vì người nghèo”; tổ chức tặng sổ tiết kiệm cho gia đình chính sách phường Điện Biên, ủng hộ Quỹ “Vì người nghèo” của thành phố Hà Nội; xây tặng nhà tình nghĩa, thăm hỏi, tặng quà các gia đình chính sách trên địa bàn đóng quân nhân kỷ niệm Ngày Thương binh Liệt sỹ 27/7, tham gia ủng hộ Quỹ “Chất độc da cam”; Quỹ “Người tàn tật” quận Ba Đình. Qua đó giáo dục cho cán bộ, công nhân viên, chiến sỹ về truyền thống đạo lý uống nước nhớ nguồn, tri ân các thế hệ đi trước, sẻ chia với những người có hoàn cảnh khó khăn, lá lành đùm lá rách thể hiện nghĩa cử cao đẹp của người chiến sỹ bên Lăng Bác góp phần củng cố, tăng cường mối quan hệ đoàn kết quân dân. Tích cực tham gia các phong trào hoạt động thể dục, thể thao, văn hóa văn nghệ với các đơn vị kết nghĩa, các lực lượng quần chúng địa phương trên địa bàn, tạo được tình cảm ấn tượng tốt đẹp.

Thường xuyên giáo dục, quán triệt, rèn luyện nâng cao nhận thức cho cán bộ, công nhân viên, chiến sỹ và người lao động nhận thức đầy đủ về vai trò tầm quan trọng của công tác phòng chống lụt, bão, cứu hộ, cứu nạn giảm nhẹ thiên tai và phòng chống cháy nổ, cháy rừng; xây dựng, bổ sung, hoàn thiện phương án và tổ chức cho bộ đội luyện tập thành thục, sẵn sàng đối phó với các tình huống có thể xảy ra. Chú trọng công tác phối hợp, hiệp đồng chặt chẽ với cấp ủy, chính quyền các cấp, các lực lượng của địa phương, chuẩn bị đầy đủ lực lượng, phương tiện, vật chất bảo đảm cho xử lí các tình huống nhằm hạn chế tới mức thấp nhất thiệt hại có thể xảy ra. Thường xuyên phối hợp chặt chẽ với công an các quận, huyện trên địa bàn thành phố Hà Nội trong việc tuyên truyền, giáo dục nâng cao nhận thức cho cán bộ, công nhân viên, chiến sỹ và người lao động nắm vững và chấp hành nghiêm Luật giao thông, bảo đảm 100% cán bộ, công nhân viên, chiến sỹ và người lao động chấp hành nghiêm Luật giao thông và tham gia giao thông bảo đảm an toàn tuyệt đối.

Từ thực tế đó đã khẳng định việc tổ chức thực hiện tốt, có hiệu quả về công tác dân vận ở Bộ Tư lệnh Bảo vệ Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh đã góp phần nâng cao bản lĩnh chính trị, tinh thần và trách nhiệm phục vụ tận tình, chu đáo đối với đồng bào và khách quốc tế đến viếng Bác, tham quan Khu Di tích K9 và các hoạt động chính trị diễn ra trên Quảng trường Ba Đình. Phát huy những thành tích đã đạt được, trong thời gian tới đơn vị sẽ tiếp tục quán triệt và thực hiện tốt công tác dân vận của Đảng, góp phần xây dựng địa bàn đóng quân an toàn, giữ vững tình hình an ninh, trật tự và an toàn xã hội trên địa bàn đóng quân./.

Đức Hùng

bqllang.gov.vn

Nữ đoàn viên đầu tiên được Bác Hồ đào tạo làm tình báo

Sinh năm 1916 ở xã Hưng Tân, huyện Hưng Nguyên, Nghệ An, người con gái ấy được cha mẹ đặt tên cúng cơm là Nguyễn Thị Tích. Ông Nguyễn Trọng Quyến – thân sinh chị là một trong những người sớm được giác ngộ cách mạng, đứng trong hàng ngũ cộng sản từ những năm 1929 – 1930. Mẹ đẻ của chị mắc bệnh hiểm nghèo và qua đời khi chị mới 3 tháng tuổi.

Năm 1924, một người bạn chiến đấu tên là Cố Khôn đến nhà đưa thư của ông Quyến gửi cho gia đình và đón Nguyễn Thị Tích đi. Ông Khôn đặt cho chị tên mới: Hoàng Lệ Minh. Tiếp đến, Hoàng Lệ Minh được đưa sang Lào để học chữ. Lớp học lúc đó chỉ có 5 người Việt Nam (ba trai, hai gái) do đồng chí Võ Tùng thay mặt đoàn thể phụ trách lớp.

Tròn 10 tuổi, Lệ Minh lại được đoàn thể đưa sang Xiêm (Thái Lan) học tại trường “Hoa Anh Học Hiệu” ngay tại Bangkok. Đây là lớp học do Bác Hồ sáng lập. Cả lớp gồm: Lý Tự Trọng, Lý Phương Đức, Lê Quang Đạt, Lê Hồng Sơn, Lê Hồng Phong và Hoàng Lệ Minh với cái tên mới – Lý Tiểu Muội. Học được một năm thì Bác Hồ đến đón tất cả sang Quảng Châu (Trung Quốc) gửi vào học tại Trường Trung Sơn Tiểu học. Lý Tiểu Muội được đặt tên mới là Ngô Ứng Thuận. Sau này, Ngô Ứng Thuận còn có tên là Lý Phương Thuận, bí danh là Lý Sâm, Lý Tâm hoặc Lê Thị Tâm.

Tốt nghiệp Trường Trung Sơn Tiểu học, Lý Phương Thuận được phân công nhiệm vụ tại cơ quan bí mật của Chi bộ Hải ngoại của Đảng ta, do đồng chí Phùng Chí Kiên phụ trách. Nhiệm vụ cụ thể của Lý Phương Thuận là chuyển tài liệu bí mật, giao liên dẫn đường kiêm phiên dịch đưa đón các đồng chí của Đảng từ trong nước mới ra hoặc học xong, trở về nước tiếp tục hoạt động.

Thời gian sau, Lý Phương Thuận nhận được chỉ thị của Bác Hồ xin vào làm công nhân ở Nhà máy Điện Kỳ (sản xuất pin đèn). Làm việc ở Nhà máy Điện Kỳ một năm, lúc đó Lý Phương Thuận đã tròn 18 tuổi và được kết nạp vào Đảng Cộng sản Trung Quốc. Tháng 4 – 1931, Lý Phương Thuận nhận được chỉ thị về giúp việc trong cơ quan bí mật của Việt Nam Thanh niên Cách mạng ở Hồng Kông, được giao nhiệm vụ dịch tài liệu và giao liên bí mật. Thời kỳ này, Bác Hồ được gọi là đồng chí Lý Thụy và dùng bí danh mới là Tống Văn Sơ. Còn Lý Phương Thuận thì có một bản lý lịch trích ngang mới: Lý Phương Thuận, bí danh Lý Sâm, quê quán: Nam Kinh, Trung Quốc, cháu gái của Tống Văn Sơ. Nhận công tác ở đây được khoảng hai tháng thì ngày 6/6/1931, cảnh sát Hồng Kông vây chặt ngôi nhà 186 phố Tam Lung (Cửu Long, Hồng Kông) – nơi đặt trụ sở của Việt Nam Thanh niên Cách mạng. Tống Văn Sơ và người cháu gái Lý Phương Thuận cùng bị bắt. Khi bị bắt, Lý Phương Thuận tuy đã 18 tuổi nhưng vóc dáng nhỏ bé, mảnh khảnh, tự khai mới 15 tuổi và là cháu gái Tống Văn Sơ. Vì không có đủ chứng cứ buộc tội Lý Phương Thuận nên tại phiên tòa xét xử Tống Văn Sơ lần thứ nhất (diễn ra ngày 31/7/1931), Lý Phương Thuận đã được tha.

Biết Lý Phương Thuận sẽ không thoát khỏi sự bủa vây của mật thám Tưởng, Anh, Pháp, vì chị đã hai lần bị bắt trong phong trào công xã Quảng Châu, nên Tống Văn Sơ đã bí mật viết một lá thư cho Cường Để, cháu đích tôn của Hoàng Thái tử Nguyễn Phúc Cảnh (con vua Gia Long), được Phan Bội Châu tác động, đưa lên làm Hội trưởng Hội Duy Tân chống Pháp, sau bị truy đuổi sống lánh nạn ở Nhật. Lá thư được chuẩn bị từ nhà tù Victoria (Hồng Kông) cho Lý Phương Thuận và Bác dặn tìm cách sang Nhật tạm thời cư trú nhờ sự giúp đỡ của Cường Để.

Lý Phương Thuận đã thực hiện đúng chỉ đạo của Tống Văn Sơ nhưng chỉ ở nhà Cường Để (Nhật) được một thời gian thì Nhật – Pháp thỏa hiệp trục xuất Cường Để, chị phải trở lại Quảng Châu, tiếp tục làm việc tại Nhà máy Điện Kỳ vừa để kiếm sống vừa tìm thời cơ bắt liên lạc với đoàn thể. Làm việc tại đây vẫn không an toàn, Lý Phương Thuận lại quay về Thượng Hải xin vào làm công nhân ở một nhà máy đóng giày. Tại đây, Lý Phương Thuận gặp đồng chí Đỗ Đăng Trình và biết tình hình Thượng Hải sắp có biến, nên lại chạy về Quế Châu và mất liên lạc hoàn toàn với đoàn thể, làm nghề bán báo để tự nuôi sống.

Cuối tháng 8-1945, đang ở Quế Châu, Lý Phương Thuận được tin trong nước đã tổng khởi nghĩa, chị lập tức tìm đường trở về Tổ quốc. Về đến Hà Nội, Lý Phương Thuận gặp bà Tống Minh Phương. Bà Phương tin Lý Phương Thuận là người Hoa nên sẵn lòng cưu mang. Vào nhà bà Phương ở phố Hàng Buồm, Lý Phương Thuận thấy trên bàn thờ Tổ quốc treo lá cờ đỏ sao vàng, bên dưới là tấm ảnh Chủ tịch Hồ Chí Minh. Lý Phương Thuận thầm bàng hoàng bởi người trong ảnh chính là ông Tống Văn Sơ – đồng chí Lý Thụy ngày nào. Với đức tính thận trọng của cán bộ hoạt động bí mật, chị kiên nhẫn tìm người kín đáo liên lạc với Bác Hồ. Được tin, Bác cho bố trí đưa Lý Phương Thuận tới ngay. Không bút mực nào tả xiết sự phấn khởi của chị khi được gặp lại Bác kính yêu sau 14 năm gián đoạn liên lạc. Ngay sau đó, Bác Hồ gọi đồng chí Lê Giản – Tổng giám đốc Nha Công an Trung ương lên và trực tiếp giới thiệu: “Đây là cô Hoàng Lệ Minh/Lý Phương Thuận, người đã từng trải qua hoạt động bí mật, có nhiều kinh nghiệm. Cô ấy thạo tiếng Trung, Pháp và Anh. Chú đang rất cần những cán bộ như thế này tìm hiểu và đối phó với bọn Tưởng”. Thế là cô Hoàng Lệ Minh/Lý Phương Thuận được trở lại với cái tên “quê mùa” Nguyễn Thị Tích và bắt tay ngay vào làm nhiệm vụ tình báo với vai bình phong tiếp viên tại khách sạn Thăng Long (trước cửa ga Hà Nội), nơi bọn sĩ quan Tưởng, tiếp đến là sĩ quan Pháp thường lui tới.

Chị Tích đã xuất sắc hoàn thành nhiệm vụ của nữ tình báo viên đầu tiên thuộc lực lượng công an, thu được nhiều tin tức quan trọng. Tiêu biểu là thông tin về âm mưu của bọn Tưởng rắp tâm bắt cóc Bác Hồ tháng 12.1945 và đặc biệt là ý đồ kế hoạch của thực dân Pháp dùng bọn phản động Quốc dân Đảng ở trụ sở phố Ôn Như Hầu hòng gây đảo chính vào tháng 7/1946 để bóp chết Chính phủ nước Việt Nam độc lập.

Câu chuyện về cuộc đời chị Tích kết thúc có hậu. Trực tiếp chỉ đạo chị trong công tác trinh sát nắm tình hình âm mưu thủ đoạn giặc Tưởng là đồng chí Trần Lung. Sau này ông được đề bạt các chức vụ như Trưởng ty Công an Hòa Bình, Trưởng ty Công an Hà Nam, Cục trưởng Cục Hình sự Bộ Công an. Từ tình cảm mến phục giữa đồng đội, chị Tích và anh Lung đã nảy nở tình yêu trong sáng, họ trở thành đôi bạn trăm năm, xây tổ ấm hạnh phúc trọn đời.

Theo Báo Thanh Niên
Tâm Trang (st)

bqllang.gov.vn

Những con tem mang hình Bác kính yêu

Tem Bác Hồ năm 1946.

Ngay từ mùa thu năm 1946, một năm sau khi giành được độc lập, Nha Bưu điện Việt Nam được Chính phủ cho phép phát hành bộ tem mới thể hiện chân dung Hồ Chủ tịch. Người có vinh dự được vẽ mẫu tem này là họa sĩ Nguyễn Sáng, dựa vào bức ảnh lãnh tụ Hồ Chí Minh do nghệ sĩ Vũ Năng An chụp. Giống như ảnh, mẫu tem thể hiện được những nét đặc sắc của Bác Hồ: Thông minh, hiền hậu, kiên nghị được lồng trong khung những ngôi sao năm cánh. Tem có kích thước nhỏ xinh, in trên giấy tàu bạch mỏng mịn, gồm 5 mẫu, mỗi mẫu một màu (xanh lá mạ, đỏ, vàng, lam, tím), nhìn rất sinh động và trang trọng. Đã có những vần thơ mừng đón con tem:

“Tem mang hình Bác trên mình
Tem thêm sức mạnh, thêm tình trong tem”

Sau khi tem được phát hành, người ta chen nhau ở các bưu cục trong cả nước để mua tem Bác Hồ. Hồi này, đất nước ta đang ở thời kỳ bị “giặc đói” hoành hành. Mỗi con tem màu lam giá bốn hào, nhưng ai cũng mua với giá một đồng vì trên mặt tem in dòng chữ “+ phụ thu cứu quốc 6 hào”. Con tem nhỏ bé này đã đóng góp phần mình vào phong trào cứu đói và “Tuần lễ Vàng” lịch sử.

Tem Bác Hồ năm 1949.

Năm 1949, để đáp ứng yêu cầu kháng chiến, họa sĩ Nguyễn Sáng lại thiết kế bộ tem thứ hai về Bác Hồ, nhưng lần này Người ngồi ở tư thế hơi nghiêng, vẻ mặt trầm tư, sâu lắng, cũng dựa vào bức ảnh do Vũ Năng An chụp. Có thể nói, người chụp ảnh cũng như người thiết kế tem đã thực hiện tác phẩm của mình với tấm lòng kính yêu vô hạn đối với Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Tem Liên Xô kỷ niệm 90 năm Ngày sinh Bác Hồ.

Tính đến nay, trong số trên 3.000 mẫu tem Việt Nam hiện có, có hàng trăm mẫu tem về Bác Hồ. Nếu cộng cả các mẫu tem về Bác Hồ mà nhiều nước trên thế giới phát hành, chúng ta có trên 500 con tem về Bác. Đó là con số mà một nhà sưu tầm tem có tiếng, ông Lê Đức Vân, đồng thời là một cán bộ cách mạng lâu năm, nghiên cứu, thống kê và công bố. Đã ngót 10 năm, ông Vân sưu tầm tem Bác Hồ, có ý định trưng bày một bộ sưu tập vô giá vào dịp kỷ niệm sinh nhật lần thứ 120 của Người. Bộ sưu tập ấy in dấu chân của vị lãnh tụ trên từng chặng đường đấu tranh vì dân, vì nước, từ ngày Sài Gòn bôn ba ra nước ngoài tìm đường cứu nước cho đến lúc Người đọc Tuyên ngôn Độc lập, khai sinh ra nước Việt Nam dân chủ cộng hòa, từ khi Người chỉ đạo quân và dân ta tiến hành hai cuộc kháng chiến thần thánh chống ngoại xâm cho đến khi Người đi vào cõi vĩnh hằng.

Tem thể hiện bức ảnh “Bác Hồ bắt nhịp bài ca Kết đoàn”.

Có một điều rất đáng nói là phần lớn những con tem mang hình Bác đã được thiết kế trên cơ sở những bức ảnh cụ thể. Ngoài hai bức ảnh nói trên của Vũ Năng An, chúng ta được gặp những bức ảnh thể hiện trên tem như “Bác Hồ đọc báo tại chiến khu Việt Bắc” do nghệ sĩ Nguyễn Hồng Nghi chụp năm 1949 được dùng làm mẫu tem trong bộ tem “Kỷ niệm 35 năm truyền thống ngành Bưu điện” phát hành năm 1980 do họa sĩ Trần Huy Khánh thiết kế, hoặc từ bức ảnh nổi tiếng “Bác Hồ bắt nhịp bài ca Kết đoàn” do nghệ sĩ Lâm Hồng Long chụp năm 1960 cũng được các họa sĩ Trần Lương, Đặng Quý Quyền, Trần Thế Vinh và Nguyễn Thị Sâm thể hiện trên ba mẫu tem phát hành năm 1978, 1990 và 2000. Để thống nhất phương thức thiết kế tem theo dạng ảnh chụp, họa sĩ Trần Lương đã nghiên cứu 8 ảnh gốc của người chụp để đưa vào tem sao cho trung thực với lịch sử, thay cho phác thảo đơn nét bút sắt. Và để tính khái quát và ý nghĩa rộng lớn hơn, họa sĩ đưa nguyên hình Bác như trong ảnh, lược bỏ những chi tiết dàn hợp xướng và thay thế bằng hình mặt trống đồng Ngọc Lũ, tượng trưng cho 4.000 năm văn hiến Lạc Việt – Hùng Vương.

Tem thể hiện bức ảnh “Nguyễn Ái Quốc tại Đại hội Tours (Pháp) năm 1920”.

Cũng cần đề cập những tác phẩm nhiếp ảnh tiêu biểu khác như bức ảnh “Nguyễn Ái Quốc tại Đại hội Tours (Pháp) năm 1920” mà Đoàn thanh niên Cộng sản Pháp đã sưu tầm được và kính biếu Bác đã được dùng làm cơ sở thiết kế mẫu tem “Kỷ niệm 55 năm ngày thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam” phát hành năm 1985, hay như bức ảnh “Bác Hồ cùng Bộ Chính trị chỉ đạo chiến dịch Điện Biên Phủ” (do Đinh Đăng Định chụp) cũng được đưa vào một mẫu tem trong bộ tem “Kỷ niệm 30 năm chiến thắng Điện Biên Phủ” phát hành năm 1984.

Tem thể hiện bức ảnh “Bác Hồ với các anh hùng và dũng sĩ miền Nam”.

Tem bưu chính Việt Nam về thành phố mang tên Bác đã thể hiện tình cảm sâu lắng của đồng bào thành phố Hồ Chí Minh đối với vị lãnh tụ kính yêu, thông qua nhiều hình ảnh thân thương từ cuộc đời hoạt động phong phú của Bác như: Bác Hồ tưới cây vú sữa do đồng bào miền Nam gửi biếu, Bác Hồ với các anh hùng và dũng sĩ miền Nam… Mẫu tem 2 đồng trong bộ tem “Kỷ niệm 10 năm giải phóng hoàn toàn miền Nam Việt Nam” phát hành năm 1985 ghi lại hình ảnh chiếc xe tăng cùng đoàn Quân Giải phóng tiến vào Dinh Độc lập, phía trên bên phải là hình ảnh Bác Hồ đang giơ tay vẫy chào thành phố thân yêu. Hình ảnh Bác Hồ giơ tay vẫy chào cũng có trong mẫu tem kỷ niệm 20 năm ngày giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước phát hành năm 1995, phía trên cánh cổng chợ Bến Thành rợp cờ đỏ sao vàng.

Tem thể hiện bức tượng “Bác Hồ với thiếu nhi”.

Bức tượng “Bác Hồ với thiếu nhi” của nhà điêu khắc Diệp Minh Châu tại vườn hoa phía trước Ủy ban nhân dân TP. Hồ Chí Minh cũng đã được đưa lên tem hai lần vào năm 1995 và 1998.

Có dịp chiêm ngưỡng các bộ tem về Bác, vị lãnh tụ kính yêu của dân tộc, chúng ta trân trọng bày tỏ lòng biết ơn đối với các họa sĩ tài hoa, từ các cố họa sĩ lão thành như Nguyễn Sáng, Bùi Trang Chước, Nguyễn Văn Khanh… cho đến Nguyễn Thế Vinh, Trần Lương, Huy Toàn, Nguyễn Hiệp, Trịnh Quốc Thụ, Đỗ Việt Tuấn, Trần Ngọc Uyển, Đỗ Lệnh Tuấn, Nguyễn Thị Sâm, Trần Thế Vinh… Họ đã đem toàn bộ tâm huyết và tài năng nghệ thuật của mình để sáng tác những mẫu tem đẹp nhất, trang trọng nhất về Bác kính yêu./.

Theo Trần Đương
(vietstamp.net)
Huyền Trang (st)

bqllang.gov.vn

Bác Hồ – hiện thân của tình đoàn kết các dân tộc Việt Nam

Chủ tịch Hồ Chí Minh là hiện thân của tình đoàn kết các dân tộc sống trên lãnh thổ Việt Nam. Sinh thời, Bác Hồ thường gọi mọi người dân và toàn dân ta là đồng bào, thể hiện một tình cảm tốt đẹp về nguồn gốc của dân tộc Việt Nam trong truyền thống lịch sử. Trong suy nghĩ và việc làm của Bác thì nước Việt Nam là một, dân tộc Việt Nam là một, sông có thể cạn, núi có thể mòn, nhưng chân lý ấy không bao giờ thay đổi.

Khi Cách mạng Tháng Tám năm 1945 mới thắng lợi, trước những sự chia rẽ dân tộc của kẻ thù, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định chính sách đoàn kết dân tộc và nêu rõ: Cộng đồng các dân tộc sinh sống trên đất nước Việt Nam dù là dân tộc đa số hay dân tộc thiểu số “đều là con cháu Việt Nam, đều là anh em ruột thịt”, có chung giang sơn và Chính phủ nên phải đoàn kết, thật sự bình đẳng, tương trợ, giúp đỡ lẫn nhau để kháng chiến thắng lợi, kiến quốc thành công. Chủ tịch Hồ Chí Minh là người sớm nhìn thấy âm mưu thủ đoạn “chia để trị” của chế độ thực dân phong kiến và những thành kiến, định kiến còn nặng nề trong tư tưởng tình cảm của đồng bào các dân tộc, trong một bộ phận cán bộ…tạo nên những khoảng cách và các vết rạn, nứt trong mối quan hệ của chính quyền cách mạng với đồng bào. Người chỉ rõ rằng: Ðiều cần thiết nhất cho chúng ta là đoàn kết, cần phải xóa bỏ hết thành kiến, cần phải thật thà đoàn kết với nhau, giúp đỡ lẫn nhau để cùng tiến bộ, để cùng phục vụ nhân dân. Chủ tịch Hồ Chí Minh từng kêu gọi: Ngày nay, các dân tộc anh em muốn tiến bộ, muốn phát triển văn hóa của mình thì chúng ta phải tẩy trừ những thành kiến giữa các dân tộc, phải đoàn kết yêu thương, giúp đỡ lẫn nhau như anh em một nhà.

Từ suy nghĩ và tầm nhìn như thế, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã dày công xây dựng khối đoàn kết toàn dân tộc. Theo tư tưởng Hồ Chí Minh, Ðảng Cộng sản Việt Nam có vai trò rất quan trọng trong xây dựng và phát triển khối đoàn kết dân tộc. Vì thế, Chủ tịch Hồ Chí Minh đặc biệt chăm lo giáo dục cán bộ, đảng viên phải giữ gìn sự đoàn kết thống nhất của Ðảng như giữ gìn con ngươi của mắt mình để làm hạt nhân của tình đoàn kết các dân tộc Việt Nam. Ðồng thời phải đoàn kết có nguyên tắc chống đoàn kết xuôi chiều hoặc cô độc, hẹp hòi. Bác Hồ đã dành nhiều tâm huyết xây dựng, củng cố Mặt trận dân tộc thống nhất để tập hợp, đoàn kết mọi lực lượng, mọi người dân yêu nước để thực hiện mục tiêu chung của cách mạng, không phân biệt dân tộc, tôn giáo…

Trong khối đoàn kết các dân tộc Việt Nam, Bác Hồ là người đặc biệt quan tâm vun đắp tình hữu ái giữa dân tộc đa số với các dân tộc thiểu số, tình đoàn kết giữa các dân tộc thiểu số cũng như tình hữu ái, đoàn kết của từng dân tộc thiểu số. Có thể nói Chủ tịch Hồ Chí Minh là một lãnh tụ nêu tấm gương tiêu biểu nhất về chăm lo xây dựng, vun đắp đoàn kết các dân tộc thiểu số và nâng cao cuộc sống đồng bào các dân tộc thiểu số ở Việt Nam. Ngay sau khi Cách mạng Tháng Tám năm 1945 thành công, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã cho tổ chức các hội nghị đại biểu các dân tộc thiểu số để đồng bào thực hiện quyền bình đẳng về chính trị và các quyền lợi khác cũng như trách nhiệm của các dân tộc đối với đất nước.

Tại các hội nghị đại biểu các dân tộc thiểu số, Bác Hồ rất quan tâm chăm lo vun đắp tình đoàn kết và đời sống của đồng bào các dân tộc. Phát biểu tại Hội nghị đại biểu các dân tộc thiểu số Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh nhấn mạnh: Anh em thiểu số chúng ta sẽ được:

1. Dân tộc bình đẳng: Chính phủ sẽ bãi bỏ hết những điều hủ tệ cũ, bao nhiêu bất bình đẳng trước sẽ sửa chữa đi.

2. Chính phủ sẽ gắng sức giúp cho các dân tộc thiểu số về mọi mặt:

a) Về kinh tế, sẽ mở mang nông nghiệp cho các dân tộc được hưởng.

b) Về văn hóa, Chính phủ sẽ chú ý trình độ học thức cho dân tộc.

Các dân tộc được tự do bày tỏ nguyện vọng và phải cố gắng để cùng giành cho bằng được độc lập hoàn toàn, tự do và thái bình (Xem Hồ Chí Minh Toàn tập, t4, tr110-111).

Nghiên cứu tư tưởng và hoạt động của Chủ tịch Hồ Chí Minh, chúng ta nhận thấy rất rõ là Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đặt nền móng, củng cố và xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc, tình đoàn kết giữa các dân tộc thiểu số và đoàn kết của từng dân tộc thiểu số trong thời đại mới. Người đã lãnh đạo và đoàn kết được các dân tộc Việt Nam thực hiện công cuộc giải phóng dân tộc, kháng chiến thắng lợi và đi lên xây dựng chủ nghĩa xã hội, làm cho dân giàu, nước mạnh. Ðồng thời toàn bộ cuộc đời của Bác còn là hiện thân, một tấm gương tiêu biểu nhất của khối đoàn kết toàn dân tộc, đoàn kết và giúp đỡ đồng bào các dân tộc thiểu số. Nổi bật nhất là suốt thời gian gần 30 năm, kể từ khi về nước chỉ đạo phong trào cách mạng Việt Nam năm 1941 cho đến khi từ biệt thế giới này, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã cùng Trung ương Ðảng và Chính phủ luôn luôn quan tâm xây dựng và thực hiện các chính sách đối với đồng bào các dân tộc phát triển kinh tế, văn hóa, từng bước nâng cao đời sống đồng bào.

Bác Hồ về thăm lại Việt Bắc

Chủ tịch Hồ Chí Minh còn để lại cho chúng ta một bài học lớn về nghĩa tình của người cộng sản, của người lãnh đạo đối với đồng chí, đồng bào các dân tộc thiểu số đã cưu mang giúp đỡ cách mạng khi khó khăn, khi chưa có chính quyền. Suốt cuộc đời hoạt động cách mạng, Bác Hồ có nhiều năm tháng sống gắn bó với đồng chí, đồng bào các dân tộc thiểu số từ đầu năm 1941 đến những năm kháng chiến chống thực dân Pháp lâu dài và gian khổ, ác liệt. Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn thương nhớ và ghi ơn những đồng chí, đồng bào các dân tộc đã nuôi dưỡng, chở che, đùm bọc. Người nhiều lần gửi thư thăm hỏi và tâm tình “Ở Hà Nội, xa cách với đồng bào nhưng không bao giờ tôi quên các đồng bào. Tôi luôn luôn nhớ đến lòng yêu mến và sự giúp đỡ của các đồng bào trong những ngày tháng tôi ở thượng du” (Xem Hồ Chí Minh Toàn tập, t4, tr.210). Chính vì sống gắn bó trong lòng đồng bào các dân tộc thiểu số, nên Chủ tịch Hồ Chí Minh là người hiểu và biết rất rõ những nỗi khổ đau của đồng bào các dân tộc thiếu số và Người đã dành nhiều tâm huyết nhằm giúp đồng bào vươn lên có cuộc sống khá hơn trong chế độ xã hội mới của đất nước chúng ta. Khi miền Bắc bước vào công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đặc biệt quan tâm công tác dân tộc và chỉ rõ: Các dân tộc thiểu số đoàn kết với dân tộc đa số. Cố nhiên cán bộ người Kinh phải giúp đỡ anh em cán bộ địa phương, nhưng phải làm sao cho cán bộ địa phương tiến bộ, để anh em tự quản lý lấy công việc ở địa phương chứ không phải là bao biện làm thay. Tăng gia sản xuất, thực hành tiết kiệm, làm cho đời sống đồng bào địa phương ngày càng khá hơn, cả về vật chất và tinh thần.

Bác bắt nhịp bài ca "Kết Đoàn"
Ảnh: Tuấn Anh

Ðể đoàn kết và nâng cao đời sống đồng bào, Chủ tịch Hồ Chí Minh hết sức quan tâm giáo dục và huấn luyện cán bộ từ Trung ương đến địa phương phải chăm lo công tác vận động đồng bào các dân tộc thiểu số thực hiện thật tốt chính sách dân tộc của Ðảng. Nói chuyện tại Hội nghị cán bộ miền núi năm 1962, Chủ tịch Hồ Chí Minh nêu rõ: Miền núi đất rộng người thưa, tình hình vùng này không giống tình hình vùng khác. Vì vậy, áp dụng chủ trương, chính sách phải thật sát với tình hình thực tế của mỗi nơi. Tuyệt đối chớ rập khuôn, chớ máy móc, chớ nóng vội. Mỗi ngành, mỗi Bộ ở Trung ương cần phải nhận rõ phần trách nhiệm của mình đối với miền núi và chú trọng hơn nữa công tác ở miền núi.

Người nhấn mạnh: Nhiệm vụ của cán bộ, đảng viên và đoàn viên thanh niên là phải làm gương mẫu trong mọi công tác, làm cho miền núi tiến kịp miền xuôi, thực hiện chính sách đoàn kết dân tộc và không ngừng nâng cao đời sống của đồng bào miền núi. Tư tưởng và tấm gương vận động đồng bào các dân tộc thiểu số của Bác đã trở thành kim chỉ nam cho việc xây dựng các chính sách dân tộc của Ðảng và Nhà nước ta, là những giá trị và kiểu mẫu cho chúng ta thực hiện các chính sách dân tộc, thực thi các chương trình đối với vùng đồng bào các dân tộc.

Ðại hội đại biểu toàn quốc các dân tộc thiểu số được tổ chức vào dịp kỷ niệm 120 năm Ngày sinh của Chủ tịch Hồ Chí Minh là một sự kiện có ý nghĩa to lớn trong đời sống chính trị đất nước, cũng là một dịp để cùng toàn Ðảng, toàn dân ghi sâu những di huấn và làm theo tấm gương của Bác đối với đồng bào các dân tộc thiểu số, tiếp tục đổi mới chính sách dân tộc và tăng cường hơn nữa khối đoàn kết toàn dân./.

Theo Hochiminhhoc.com
Tâm Trang (st)

bqllang.gov.vn

Hai bức chân dung Bác Hồ đầu tiên được vẽ cách đây 85 năm

Chân dung Nguyễn Ái Quốc do Eric Johanson vẽ ngày 19/9/1924, dòng chữ Việt và chữ Hán là do Người tự ghi (là bức vợ ông Johanson gửi tặng qua Đại sứ quán Việt Nam ở Thụy Điển).

Cho tới nay, nhiều nhà văn, nhà thơ, nhiều nhạc sĩ, họa sĩ, điêu khắc gia đã viết, vẽ và tạc tượng vị lãnh tụ kính yêu của dân tộc Việt Nam. Tuy nhiên, hai bức chân dung đầu tiên của Người lại do một họa sĩ nước ngoài vẽ cách đây gần… 85 năm!

Cho tới nay, nhiều nhà văn, nhà thơ, nhiều nhạc sĩ, họa sĩ, điêu khắc gia đã viết, vẽ và tạc tượng vị lãnh tụ kính yêu của dân tộc Việt Nam. Tuy nhiên, hai bức chân dung đầu tiên của Người lại do một họa sĩ nước ngoài vẽ cách đây gần… 85 năm!

Cuối năm 1923, lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc đã từ Pháp sang Moskva (Liên Xô) để hoạt động cách mạng trong phong trào Quốc tế cộng sản. Người đã ở đây khá lâu để học tập và nghiên cứu chủ nghĩa Mác – Lênin, tìm con đường cứu dân cứu nước. Hoạt động của Người rất đa dạng và khẩn trương.
Ngoài giờ học tập ở Trường Cộng sản Phương Đông, Người còn tranh thủ tìm hiểu cuộc sống và lao động của nhân dân Xô Viết, tham gia các hoạt động về văn hóa – giáo dục, văn học – nghệ thuật. Và Bác đã tham dự cuộc triển lãm nghệ thuật tạo hình của Đức tại Bảo tàng Nghệ thuật quốc gia Moskva mùa Thu – 1924.

126 họa sĩ và điêu khắc gia tiến bộ của Đức đã trưng bày hơn 500 tác phẩm nghệ thuật của họ tại triển lãm này, được người xem đánh giá cao. Bác đã xem kỹ và đánh giá đúng mức những tác phẩm đó. Kỹ sư kiêm họa sĩ Đức người gốc Thụy Điển Eric Johanson cũng đã sang đây cùng những tác phẩm của mình.

Thấy nhà cách mạng phương Đông chăm chú xem các tác phẩm của mình, Johanson liền đến làm quen và thăm dò trao đổi ý kiến. Qua cuộc trò chuyện cởi mở về nội dung và nghệ thuật hội họa, Nguyễn Ái Quốc và Eric Johanson có những quan điểm hòa hợp. Rồi chẳng bao lâu họ đã thành đôi bạn tâm đắc về văn hóa nghệ thuật cũng như những quan điểm về chính trị, xã hội.

Thế là, họ đã tranh thủ giờ rỗi cùng nhau đi dạo phố, tìm hiểu đời sống người dân Xô Viết trong những năm đầu dưới chế độ mới. Đây cũng là dịp tốt để Nguyễn Ái Quốc hiểu biết thêm không những người Đức mà còn một dân tộc ở Bắc Âu nữa là Thụy Điển. Một ý nghĩ nảy ra trong đầu nhà cách mạng trẻ: Tranh thủ học thêm một ngoại ngữ nữa – tiếng Thụy Điển.

Trong hoàn cảnh đó, không tìm đâu ra được sách giáo khoa về ngôn ngữ nước này, Nguyễn Ái Quốc đã học ở người bạn tâm đồng ý hợp của mình. Và kết quả thật bất ngờ: Chỉ sau một thời gian ngắn, khi họa sĩ Johanson còn làm việc ở Moskva, Người đã trò chuyện với vị này bằng tiếng mẹ đẻ của ông.

Chân dung Nguyễn Ái Quốc đăng ở Báo Phụ nữ Xô Viết số 10 năm 1979. Nguyễn Ái Quốc ghi tên mình bằng chữ Việt và chữ Hán ở phía dưới, chữ ký của chính họa sĩ thì ở sát ve áo của Người.

Johanson đã không tiếc lời khen ngợi và khâm phục nhà cách mạng trẻ phương Đông là người thông minh, nhạy bén và uyên thâm nhiều lĩnh vực, trong đó có văn hóa, ngôn ngữ và cả hội họa của nhiều dân tộc. Ông đã linh cảm được về vị lãnh tụ tương lai của một dân tộc đang bị áp bức ở phương Đông mà lúc ấy chưa ai biết tới.

Trước khi rời đất nước Xô Viết về nước, Eric Johanson đã đề nghị người bạn quốc tế đồng cảm cho vẽ bức chân dung làm kỷ niệm. Trước yêu cầu chân thành đó, Nguyễn Ái Quốc đã đồng ý.

Đó là hai bức chân dung đầu tiên về vị lãnh tụ tương lai của một dân tộc bị áp bức ở phương Đông mà lúc đó chưa ai biết và nghĩ tới. Bằng chữ Việt và chữ Hán, Người đã tự tay ghi vào góc dưới bức chân dung: “Nguyễn Ái Quốc – 19/9/1924”

Hình ảnh và phong thái của Nguyễn Ái Quốc đã để lại những ấn tượng tốt đẹp và sâu sắc trong Johanson.

44 năm sau – năm 1968, khi Nguyễn Ái Quốc đã là vị Chủ tịch nước, là Bác Hồ kính yêu của dân tộc Việt Nam, khi Việt Nam đã trở thành biểu tượng của ý chí độc lập tự do đối với các dân tộc bị áp bức đang đấu tranh, người bạn năm xưa ấy của Bác Hồ đã ghi lại trong hồi ký của mình: “Cử chỉ văn hóa và thái độ thân mật chân tình của Người gây một ấn tượng là Người có uy tín lớn. Người có thể trở thành lãnh tụ nhưng không phải bằng một cái gì bề ngoài mà bằng học thức, bằng trí tuệ của mình…”.

Sau khi Johanson qua đời, tới cuối năm 1981, vợ ông kiểm kê lại tất cả những tác phẩm của chồng, đã phát hiện ra 1 trong 2 bức chân dung đó. Bà đã tới Đại sứ quán Việt Nam ở Thụy Điển để tặng lại kỷ vật quý báu này cho nhân dân ta.

Về cuộc đời họa sĩ Eric Johanson xin tóm lược mấy nét chính sau: Ông sinh năm 1895, làm nghề kỹ sư xây dựng và họa sĩ. Ông cùng vợ sang Đức làm ăn rồi gia nhập Đảng Cộng sản Đức, một trong những người sáng lập ra “Nhóm Đổ” – Hội các họa sĩ tiến bộ của Đức hoạt động vì người nghèo.

Là người khiêm tốn, ít nói, hay bẽn lẽn nhưng có cái nhìn nhận xét sâu sắc, nhạy bén, ông nhiệt tình tham gia cách mạng trong phong trào công nhân Đức. Những tác phẩm hội họa của ông thể hiện “nghệ thuật vị nhân sinh”, luôn đấu tranh bênh vực người lao động nghèo khổ. Sau cuộc triển lãm và làm việc ở Moskva, ông trở về Đức và tiếp tục hoạt động chống cuộc chiến tranh thế giới mới mà bọn phát xít Đức đang tích cực chuẩn bị.

Đến khi Hitler công khai phát động cuộc Chiến tranh thế giới lần thứ hai, thẳng tay đàn áp những người cộng sản và phong trào cách mạng, ông cùng vợ con tìm cách bí mật hồi hương. Từ năm 1938, ông đã thoát khỏi nanh vuốt bọn Đức Quốc xã khi đã an toàn trở về Thụy Điển.

Tại quê hương mình ông lại bị chính quyền tình nghi nên không thể liên hệ được với phong trào cách mạng bên ngoài, nhất là với Đảng Cộng sản Đức. Thế là ông cùng gia đình phải “ẩn dật” và kiếm sống bằng nghề vẽ của mình. Nhưng nhiều bức tranh tiến bộ mang đậm tính cách mạng ông không công bố. Một trong số đó là 2 bức tranh vẽ chân dung Bác Hồ của chúng ta.

Một bức (vẽ nghiêng) ông đã gửi cho báo Phụ nữ Xô Viết và báo này đã đăng trên số 10 năm 1979, nhân kỷ niệm 10 năm ngày mất của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Còn bức chính (vẽ trực diện), về sau (1981) vợ con ông mới phát hiện ra. Người bạn quốc tế thân thiết của Bác Hồ đã qua đời tháng 4/1979 tại ngoại ô Thủ đô Stockholm.

Triệu Hải
Theo antg.com.vn
Phương Thúy (st)

bqllang.gov.vn