Tag Archive | Hồ Chí Minh

Phương pháp giáo dục lý luận chính trị theo quan niệm của Hồ Chí Minh

Chủ tịch Hồ Chí Minh, lãnh tụ thiên tài, người sáng lập ra Đảng ta. Trong quá trình rèn luyện, dẫn dắt Đảng ta lãnh đạo phong trào cách mạng, Người rất quan tâm đến việc truyền bá, giảng dạy và học tập lý luận. Ngay từ ngày đầu của phong trào cách mạng, Hồ Chí Minh đã khẳng định: Không có lý luận cách mạng thì không có cách mạng vận động… Việc học tập chủ nghĩa, dùi mài tư tưởng, nâng cao lý luận… là những việc cần kíp của Đảng. Vì vậy, giảng dạy và học tập lý luận là nhiệm vụ rất quan trọng đối với cách mạng.

Hồ Chí Minh là người đầu tiên của nước ta quan tâm tới lý luận cách mạng và thực hành kiên trì, bền bỉ việc giáo dục lý luận chính trị cho các thế hệ người Việt Nam yêu nước. Người đã để lại cho cách mạng Việt Nam cả một di sản to lớn về giáo dục lý luận chính trị. Đó là cả một hệ thống quan điểm của Người về khái niệm giáo dục chính trị, về vị trí và mục đích của giáo dục lý luận chính trị, cũng như về nội dung, phương châm, phương pháp giáo dục lý luận chính trị.

Nói về phương pháp dạy và học lý luận chính trị Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nêu một số phương pháp cơ bản, chủ yếu như sau:

Thứ nhất, dạy và học lý luận chính trị phải nâng cao và hướng dẫn việc tự học, phải biết tự động học tập, phải lấy tự học làm cốt.

Hồ Chí Minh đề cao vấn đề tự học trong công tác giáo dục lý luận chính trị. Người cho rằng: Học tập ở trường của đoàn thể không phải như học ở các trường lối cũ, không phải có thầy thì học, thầy không đến thì đùa. Phải biết tự động học tập. Phải giành nhiều thời gian cho khâu tự học của học viên, bao gồm tự nghiên cứu làm đề cương, thảo luận, tranh luận… theo sự hướng dẫn của giáo viên.

Như vậy, bằng phương pháp này của Hồ Chí Minh nếu được thực hiện tốt ở các trường Chính trị nói chung, Trường Chính trị Hậu Giang nói riêng thì sẽ chuyển từ phương pháp cũ, từ cách truyền thụ kiến thức một chiều – thầy giảng, trò ghi, sang cách tổ chức quá trình nhận thức năng động của người học. Người học và người dạy cùng làm việc trên lớp, trong thảo luận hoặc người học tự làm việc theo hướng dẫn của giảng viên.

Thực hiện phương pháp này bắt buộc người học phải chuẩn bị kỹ nội dung qua các khâu học tập trên cơ sở giáo trình, giáo khoa và tài liệu tham khảo có liên quan. Người nói: phải khiêm tốn, thật thà trong học tập, cái gì biết thì nói biết, không biết thì nói là không biết. Kiêu ngạo, tự phụ, tự mãn là kẻ thù số một của học tập. Mặt khác cũng phải tự nguyện, tự giác, xem công tác học tập cũng là một nhiệm vụ mà người cán bộ phải hoàn thành cho được… nêu cao tinh thần chịu khó, cố gắng, không lùi bước trước bất kỳ khó khăn nào trong việc học tập.

Thực hiện phương pháp này cũng đòi hỏi người giảng viên phải có sự đầu tư và chuẩn bị thật chu đáo từ khâu soạn bài giảng, thực hiện bài giảng, thảo luận… Đồng thời, người giảng viên phải không ngừng cập nhật, bổ sung kiến thức về lý luận cũng như thực tiễn để không ngừng nâng cao tri thức của người thầy. Như vậy mới có thể “biết mười dạy một” mà những điều dạy đó lại phải là kết quả của sự chọn lọc, gợi mở hướng dẫn cho học viên biết tự động học tập nâng cao hiểu biết. Người dạy: Trong khi giảng dạy cần phải khơi dậy tính chủ động của người học. Đặc biệt là gợi ý để trao đổi những kinh nghiệm công tác (cả kinh nghiệm thành công cũng như kinh nghiệm thất bại), từ đó gom lại thành bài học quý. Bởi vì mỗi cán bộ ở các lĩnh vực công tác khác nhau đều có những bài học kinh nghiệm bổ ích, nếu biết tập hợp lại và đem ra trao đổi sẽ làm cho hiệu quả công tác của các đồng chí khác cao hơn, tránh những sai lầm đã gặp phải.

Hai là, trong dạy và học lý luận chính trị, phải thực hành phương pháp “nêu cao tác phong độc lập suy nghĩ và tự do tư tưởng”

Đối với phương pháp này Người yêu cầu người học cần phải nêu cao tác phong độc lập suy nghĩ và tự do tư tưởng. Phải đào sâu hiểu kỹ, không tin một cách mù quáng từng câu một trong sách, có vấn đề chưa thông thì mạnh dạn đề ra và thảo luận cho vỡ lẽ. Đối với bất cứ vấn đề gì cần phải đặt câu hỏi Vì sao?  đều phải suy nghĩ kỹ càng xem nó có hợp với thực tế không, có thật là đúng lý không, tuyêt đối không nên nhắm mắt tuân theo sách vở một cách xuôi chiều. Chỉ có như vậy mới tránh được bệnh giáo điều và việc học mới có ích cho cách mạng.

Đối với người dạy Hồ Chí Minh cho rằng, không phải ai cũng làm công tác huấn luyện được, muốn huấn luyện được người khác phải làm kiểu mẫu về mọi mặt: tư tưởng, đạo đức, lối làm việc… Về chuyên môn, để trở thành người huấn luyện lý luận giỏi thì người dạy phải nắm chắc lý luận trong giảng dạy cần xác định nội dung cốt lõi, nội dung chính, trọng tâm cần nắm vững và vận dụng; có như vậy mới khắc phục được tình trạng phiến diện chỉ nhìn thấy cây mà không thấy rừng, tình trạng chung chung, đại khái, chỉ biết rừng mà không biết các loại cây cụ thể. Đồng thời trong huấn luyện phải chú ý vào rèn  phương pháp, kỹ năng, tạo cho người học nắm được bản chất linh hồn của các quan điểm lý luận, có thể độc lập, tự chủ xử trí đúng công việc trong bất cứ hoàn cảnh nào.

Ba là, công tác giáo dục lý luận chính trị phải thiết thực, cụ thể, phù hợp với đối tượng, với thực tiễn.

Hồ Chí Minh cho rằng công tác giảng dạy phải xuất phát từ tình hình cụ thể của đất nước, của địa phương phù hợp với từng đối tượng cán bộ công tác ở cơ quan, ban ngành cấp tỉnh, cấp huyện, thị… Theo Người, việc huấn luyện cốt yếu ở thiết thực, chu đáo hơn tham nhiều. Việc cốt yếu là phải làm cho người đọc thấu hiểu vấn đề. Nhưng thấu hiểu vấn đề cũng có nhiều cách: có cách thấu hiểu thật tỷ mỉ, nhưng dạy theo cách đó tốn rất nhiều thì giờ. Trái lại, cũng có cách dạy bao quát mà vẫn làm cho người học thấu hiểu được vấn đề.

Giảng viên cần hiểu rõ và nắm chắc nhu cầu nhận thức của người học và mối liện hệ giữa nội dung học tập với chức trách, nhiệm vụ của người học và thực tiễn địa phương, đơn vị công tác của họ. Đồng thời Hồ Chí Minh cũng lưu ý rằng giảng dạy và huấn luyện phải gắn lý luận với thực tế trong quá trình giảng dạy. Phải dạy người học cả kỹ năng tiếp cận và phương pháp thực hành để vận dụng lý luận đó vào cuộc sống và thực tế công tác của họ. Nếu chỉ dạy lý luận mà không dạy thực hành thì mới chỉ đạt một nử a yêu cầu mà thôi. Người viết, lý luận cũng như cái tên (hoặc viên đạn). Thực hành cũng như cái đích để bắn. Có tên mà không bắn, hoặc bắn lung tung, cũng như không có tên.

Bốn là, xây dựng đội ngũ cán bộ giảng dạy.

Điều kiện có ý nghĩa quyết định hiệu quả công tác giáo dục lý luận chính trị là đội ngũ và chất lượng giảng viên làm công tác đào tạo.

Hồ Chí Minh cho rằng: không phải ai cũng huấn luyện được nhất là người huấn luyện của Đoàn thể cần phải có trình độ hiểu biết chuyên sâu. Người đã đặt vấn đề “phải lựa chọn rất cẩn thận những nhân viên phụ trách việc huấn luyện đó”, người huấn luyện phải làm kiểu mẫu về mọi mặt: tư tưởng, đạo đức, lối làm việc…

Hồ Chí Minh cho rằng, do chức năng của mình, một đặc trưng, phẩm chất của người giảng dạy lý luận chính trị là phải không ngừng học tập, người giảng viên phải có lòng đam mê, khiêm tốn học tập, không có thái độ kỳ thị, học thêm mãi, biết kết hợp và làm giàu trí tuệ của mình. Người giảng viên nào tự cho mình là đã biết đủ cả rồi, thì người đó dốt nát nhất và người đó không thể làm công việc giảng dạy được. Người giảng viên lý luận chính trị phải thực hiện học không biết chán, dạy không biết mỏi. Nếu ngưng học tập thì kiến thức lý luận đó sẽ trở nên cũ, xơ cứng, nó không phản ánh thực tiễn sinh động nên làm cho việc dạy và học không có hiệu quả.

Năm là, tổ chức quản lý học viên trong quá trình đào tạo.

Muốn huấn luyện lý luận chính trị trước hết phải có tổ chức, có lãnh đạo sâu sát tỉ mỉ và chu đáo.

Tổ chức huấn luyện phải bám sát cả yêu cầu số lượng và chất lượng; đồng thời, Hồ Chí Minh quan tâm đến cách thức tổ chức lớp. Người chỉ ra một khuyết điểm cần sữa chữa ngay trong việc huấn luyện, đó là “tham làm nhiều mà không chu đáo”. Rõ ràng nhất là trong việc mở lớp huấn luyện: lớp quá đông; Mở lớp lung tung… Người căn dặn: chúng ta mở lớp nào phải cho ra lớp nấy, lựa chọn người dạy và người học cho cẩn thận, đừng mở lớp lung tung.

Người phê phán việc mở lớp lung tung, chồng chéo lẫn nhau và lớp học quá đông, tốn sức, tốn của của Đảng, Nhà nước và nhân dân mà kết quả lại không đâu vào đâu. Người cho rằng: chúng ta không được mở lớp tràn lan. Vì mở nhiều lớp sẽ thiếu người giảng nên người đi giảng lúc nào cũng hấp tấp, lướt qua lớp này một chút, lớp khác một chút như chuồn chuồn đạp nước, dạy không chu đáo được. Thậm chí có người giảng sai lại có hại cho học sinh, hại cho đoàn thể. Mặt khác, lớp đông sẽ có sự chênh lệch lớn về trình độ của người học, nên nhận biết của họ không đều. Do vậy, phải mở lớp nào cho ra lớp đó, lựa chọn người dạy và không mở lớp tràn lan.

Các lớp huấn luyện phải được tổ chức thường xuyên; chương trình, giáo trình phải có tính hệ thống theo từng mức độ từ thấp đến cao, từ dễ đến khó, từ đơn giản đến phức tạp. “ Sắp xếp thời gian và bài học phải logic, mạch lạc với nhau mà không xung đột với nhau”. Phải xem giáo dục lý luận là công việc thường xuyên của Đảng, của đoàn thể; là nhu cầu thường trực của cán bộ, đảng viên, gắn liền với quá trình hoàn thiện nhân cách nói chung.

Đối với người học, Hồ Chí Minh cho rằng, vì nhiệm vụ cách mạng mà ai cũng phải học lý luận. Đối tượng cần huấn luyện bao gồm: Cán bộ, hội viên của đoàn thể, cán bộ các ngành chuyên môn của chính quyền và nhân dân. Trong đó huấn luyện cán bộ là quan trọng nhất, vì cán bộ là tiền vốn của đoàn thể. Cán bộ tốt thì thành công, cán bộ không tốt thì hỏng việc.

Sáu là, để giáo dục lý luận chính trị đạt hiệu quả cao cần chuẩn bị tốt các phương tiện, trang thiết bị, cơ sở vật chất phục vụ giảng dạy và học tập của đội ngũ giảng viên và học viên.

Ngoài nguồn lực con người như là nhân tố quyết định, hiệu quả giáo dục lý luận chính trị còn phụ thuộc vào phương tiện, trang thiết bị, cơ sở vật chất kỹ thuật trực tiếp phục vụ cho việc dạy và học. Đó là các loại giáo trình, giáo khoa, lớp học, phương tiện hỗ trợ giảng dạy…

Theo Hồ Chí Minh, tài liệu là một trong những yếu tố giữ vai trò cơ bản và có ý nghĩa quyết định đến kết quả, chất lượng giáo dục lý luận chính trị.

Hồ Chí Minh cho rằng: “Phải lấy những tài liệu về chủ nghĩa Mác – Lênin làm gốc. Tài liệu phải được lựa chọn, xếp đặt lại, vì trình độ người học không đều nhau, cần có tài liệu thích hợp với từng hạng. Tài liệu không thích hợp thì học không có lợi gì.

Người còn chỉ ra rằng, ngoài những tài liệu có sẵn như trên, còn có những tài liệu thiết thực khác. Đó là những kinh nghiệm do những người đi học mang đến, kinh nghiệm thành công cũng như kinh nghiệm thất bại. Những kinh nghiệm đó đem trao đổi, gom góp lại tức là những bài học quý, không phải cứ chờ đồng chí cấp trên đến nói chuyện thì mới là bài, là học. Việc trao đổi gom góp kinh nghiệm này phải có tổ chức hẳn hoi chứ không phải mạnh ai nấy nói.

Tóm lại, Hồ Chí Minh vạch rõ: “Chúng ta làm cách mạng nhằm mục đích cải tạo thế giới, cải tạo xã hội. Muốn cải tạo thế giới và cải tạo xã hội thì trước hết phải tự cải tạo bản thân chúng ta”. Phải cố gắng học tập để cải tạo mình, cải tạo tư tưởng của mình và giúp vào việc cải tạo xã hội; phải nâng cao nhận thức chính trị để có lập trường vững vàng và xem xét đúng đắn các vấn đề quốc tế cũng như trong nước. “Học hỏi là một việc phải tiếp tục suốt đời. Suốt đời phải gắn lý luận với công tác thực tế. Không ai có thể tự cho mình là đã biết đủ rồi, biết hết rồi. Thế giới ngày ngày đổi mới, nhân dân ta ngày càng tiến bộ cho nên chúng ta phải tiếp tục học và hành để tiến bộ kịp nhân dân”. Hồ Chí Minh yêu cầu: “Tất cả các đảng viên phải cố gắng học tập, coi việc học tập lý luận và chính trị là một nhiệm vụ quan trọng của mình.

Truong chinh tri hau giang
Tam trang (st)
bqllang.gov.vn

Tư tưởng Hồ Chí Minh về người cao tuổi Việt Nam

Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh rất quan tâm đến người cao tuổi. Trong suốt cuộc đời phục vụ nhân dân, phục vụ Tổ quốc, phục vụ cách mạng của mình, dù bận nhiều việc nhưng Người vẫn luôn dành cho người cao tuổi Việt Nam những tình cảm ân cần và sự quan tâm sâu sắc. Những quan điểm nhất quán, có tính hệ thống của Người về vị trí xã hội, vai trò, trách nhiệm của người cao tuổi đối với Tổ quốc luôn đi trước thời đại. Đặc biệt, những tình cảm dành cho người cao tuổi biểu hiện rất đậm nét bản sắc văn hóa Việt Nam – văn hóa Hồ Chí Minh.

Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn khẳng định vai trò, vị thế của người cao tuổi trong xã hội ta. Người luôn coi người cao tuổi là lực lượng quan trọng góp phần tăng cường sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân tộc, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Trong “Lời hiệu triệu đoàn kết tất cả các bậc phụ lão” (6-1941), Bác viết: “Dẫu rằng tóc đã bạc, mắt đã hoa, tay run, chân mỏi, nhưng một lời nói của phụ lão có ảnh hưởng đến hưng bang, một hành động của phụ lão có ảnh hưởng đến giết giặc. Rút guốc mộc để ném vào đầu bọn bạo ngược, vung gậy trúc để đánh vào đầu bọn hung ác. Đối với gia đình, đối với Tổ quốc, phụ lão đã có trọng trách là bậc tôn trưởng, đối với làng xóm, đối với bà con, phụ lão có sự tín nhiệm lớn lao. Phụ lão hô, nhân dân hưởng ứng; phụ lão làm, nhân dân làm theo. Hô điều nên hô, làm việc nên làm. Người có của xuất của, người có sức dốc sức, góp gió thành bão, tụ hơi thành mây. Đồng bào cả nước đang ngẩng cao đầu mà trông chờ các bậc phụ lão”.

Trong tư tưởng của Hồ Chí Minh, người cao tuổi Việt Nam không chỉ là người lao động cần cù, sáng tạo trong xây dựng gia đình, quê hương, đất nước mà còn là những người dám quên mình chiến đấu hi sinh cho độc lập, tự do của dân tộc. Họ là những nhân chứng của lịch sử và rất nhiều người đã góp phần trực tiếp làm nên lịch sử. Dưới sự lãnh đạo của Hồ Chí Minh và của Đảng Cộng sản Việt Nam, người cao tuổi đã đem bầu nhiệt huyết đấu tranh cho sự nghiệp cách mạng, là lớp người từng đứng trong đạo quân hùng mạnh làm nên chiến thắng vĩ đại của hai cuộc kháng chiến thần thánh giải phóng dân tộc, giành lại chính quyền về tay nhân dân, lập nên nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (nay là nước CHXHCN Việt Nam). Họ cũng là lớp người đi đầu trên con đường đổi mới, góp phần quyết định tạo ra những thành tựu quan trọng trên nhiều lĩnh vực của đất nước. Già – trẻ cùng gắng sức vì một mục đích chung, đó là lời nhắn gửi của Người trong bài thơ “Tặng cụ Đinh Chương Dương: “Quan san muôn dặm gặp nhau đây/ Mục đích chung là đuổi Nhật, Tây/ Dân bị hai tròng vào một cổ/ Ta liều trăm đắng với ngàn cay/ Già dù sức yếu mang mang nhẹ/ Trẻ cố ra công gánh gánh đầy/ Non nước của ta ta lấy lại/ Nghìn thu sự nghiệp nổi từ đây”.

Hồ Chí Minh khẳng định: Trách nhiệm của người cao tuổi là phải yêu quý, dìu dắt, bồi dưỡng lớp trẻ. Người từng căn dặn: “Các đồng chí già là rất quý, là tấm gương bền bỉ đấu tranh, dìu dắt, bồi dưỡng, đào tạo thêm đồng chí trẻ. Đồng chí già phải giúp đồng chí trẻ tiến bộ. Như thế đòi hỏi đồng chí già phải có thái độ độ lượng, dìu dắt đồng chí trẻ. Đó cũng là một tiêu chuẩn đạo đức cộng sản chủ nghĩa”. Không những thế, Người còn cho rằng, người cao tuổi phải tự mình học tập thường xuyên, phải nâng cao dân trí bởi “Công việc ngày càng nhiều, càng mới nên đảng viên già phải cố gắng mà học”, để “chẳng những làm kiểu mẫu, siêng năng cho con cháu mà còn tỏ rõ ý chí hùng mạnh của dân tộc Việt Nam”. Người cao tuổi Việt Nam sống, cống hiến theo tư tưởng Hồ Chí Minh, suy cho cùng chính là sự nêu gương sáng cho con cháu về lòng yêu nước, về đạo đức cách mạng.

Hồ Chí Minh còn phê phán quan niệm “Lão lai tài tận, lão giả an chi” (tuổi già thì tài hết, tuổi già nên ở yên). Người chủ trương “vận động tất cả lực lượng của mỗi người dân, không để sót một người dân nào, góp thành lực lượng toàn dân”, trong đó người cao tuổi có vai trò đặc biệt quan trọng. Trong kháng chiến chống Pháp, Người đã có những vần thơ mộc mạc, nôm na mà đầy hào khí “Tặng các cụ lão du kích Cao Bằng” bởi có thành tích góp phần đánh chặn bước tiến của giặc. “Người cũng nêu rõ: “Các cấp đảng bộ, mặt trận ở các địa phương ra sức giúp các cụ phụ lão tổ chức, củng cố và phát triển các đội Bạch đầu quân. Đó cũng là một lực lượng khá to trong công cuộc chống Mỹ cứu nước”. Người là tấm gương tuổi già mà “không chịu ngồi không”, “càng già càng quắc thước, càng già càng anh hùng”. Người luôn là tấm gương sáng về “tuổi cao chí khí càng cao”, suốt cuộc đời vì dân, vì nước, vì sự nghiệp cách mạng quên cả tuổi già, quên cả bản thân. Một con người mà “dù phải từ biệt thế giới này” vẫn không có điều gì phải hối hận, “chỉ tiếc là không được phục vụ lâu hơn nữa, nhiều hơn nữa”…

Chủ tịch Hồ Chí Minh còn là một tấm gương về ứng xử đối với người cao tuổi. Dù là Chủ tịch nước, nhưng trong thư chúc thọ cụ Phùng Lục ở Ứng Hòa, Hà Tây (trước đây), Người đã viết: “Cháu xin thay mặt Chính phủ cảm ơn cụ, trân trọng chúc cụ sống lâu và luôn luôn mạnh khỏe để kêu gọi các con cháu ra sức tham gia công việc kháng chiến và cứu quốc. Cháu lại kính gửi cụ lời chào thân ái và quyết thắng”. Một vị Chủ tịch nước viết thư cho một công dân bình thường nhưng có tuổi thọ cao mà xưng hô như vậy quả là nét đặc trưng của văn hóa ứng xử Hồ Chí Minh. Nét đặc trưng của văn hóa ứng xử ấy còn thể hiện rất rõ trong những câu chuyện nhỏ mà đầy thú vị: Khi được tin chiến thắng dồn dập từ Việt Bắc Thu – Đông 1947, Người đã viết một bài thơ tặng cụ Bùi Bằng Đoàn, một bậc nhân sĩ trí thức yêu nước, người đứng đầu Quốc hội nước ta hồi đó những vần thơ bằng chữ Hán rất mực trang trọng mà vẫn đầm ấm nghĩa tình. Có lẽ không ai lại không xúc động trước một lối ứng xử tuyệt vời của Bác với một cụ già cao tuổi từ vùng bị giặc chiếm đóng lặn lội lên Việt Bắc để được gặp và thăm Bác. Cụ già ấy được biết tên ngay trong nhan đề bài thơ của Người: “Tặng cụ Võ Liêm Sơn”… Có thể nói, đó cũng chính là biểu tượng sáng ngời về truyền thống “kính già” của dân tộc – một đạo lý đẹp đẽ mang tính nhân văn cao cả từ xưa đến nay.

Hiện nay, gần 10 triệu người cao tuổi trong cả nước ta đã và đang ra sức thực hiện tốt Cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh” bằng những phong trào thi đua thiết thực “Tuổi cao – gương sáng”. Đó cũng chính là một trong nhiều hình thức để phát huy những giá trị văn hóa, tư tưởng Hồ Chí Minh, góp phần thực hiện tốt lời căn dặn của Người: “Tuổi cao chí khí càng cao”.

______________

Tài liệu tham khảo:
1. Danh nhân Hồ Chí Minh, NXB Lao động, H.2000.
2. Thông tin Tư liệu TTXVN, số 65.

Theo xaydungdang.org.vn
Huyền Trang (st)

bqllang.gov.vn

Học tập tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh suy nghĩ về vấn đề dân chủ

Để có một nền dân chủ thật sự, trước hết phải thực hành dân chủ, một trong những khía cạnh quan trọng của thực hành dân chủ là để mọi người được tham gia thảo luận, tranh luận một cách bình đẳng. Cho nên, tổ chức các cuộc họp, các cuộc Hội nghị ở cơ quan, đơn vị thực chất là để thực hiện sự lãnh đạo tập thể và nguyên tắc sinh hoạt dân chủ trong cơ quan cũng như trong tổ chức Đảng. Thế nhưng trong thực tế ở nơi này, nơi khác đã tổ chức nhiều cuộc họp, Hội nghị để bàn bạc những nội dung, những nhiệm vụ quan trọng của cơ quan, của tổ chức cơ sở đảng nhưng thực tế vẫn thiếu dân chủ, vẫn là dân chủ hình thức.

Bởi vì, mặc dù vấn đề được đưa ra bàn trong các cuộc họp, các cuộc Hội nghị, nhưng có những đồng chí lãnh đạo lại nghĩ rằng, cán bộ cấp dưới  là người chịu sự lãnh đạo của mình. Do đó, bàn thì cứ bàn cho phải phép, cho có vẻ dân chủ, để trên khỏi chê, dưới khỏi trách, thậm chí có những việc hệ trọng nhưng không cần bàn bạc trong ban lãnh đạo, cứ theo ý mình mà kết luận và quyết định. Mặt khác, trong điều hành đôi khi có nhiều vấn đề bị hợp thức hóa bằng tập thể lãnh đạo. Đây là vấn đề cần phải được chấn chỉnh.

Thực tế đã chỉ rõ, thực hành dân chủ là chìa khóa giải quyết mọi khó khăn và tìm ra nhiều giải pháp hay để phát triển xã hội, “Có dân chủ mới làm cho cán bộ và quần chúng đề ra sáng kiến”(1), đồng thời, chỉ có tin tưởng gắn bó với nhân dân, với đồng nghiệp thì mới thấy ở đó những sáng kiến vĩ đại, những con đường, biện pháp, lực lượng để đổi mới, đem lại hiệu quả cao trong thực hiện nhiệm vụ chính trị. Chỉ có thực hành dân chủ, coi việc nước là việc chung, mọi người cùng lo toan thì sẽ tìm thấy sáng kiến hay và lòng hăng hái của mọi ngưới sẽ được nhân lên gấp bội.

Theo Bác, “Phải thật sự mở rộng dân chủ để tất cả đảng viên bày tỏ hết ý kiến của mình”(2) Vì thế, trong họp, Hội nghị có những ý kiến khác nhau là chuyện bình thường, bởi đoàn kết của chúng ta là đoàn kết trên cơ sở Cương lĩnh Chính trị và Điều lệ Đảng, do đó, không nên tìm lý do để gạt đi những ý kiến đối lập, càng không nên giữ thành kiến dai dẳng đối với những người đưa ra ý kiến đó, vì như vậy sẽ làm cho cái dân chủ trên thực tế bị hạn chế, từ đó trong những cuộc họp, Hội nghị ý kiến thảo luận, tranh luận sẽ trở thành tẻ nhạt, xuôi chiều, những suy nghĩ sáng tạo, có căn cứ khoa học và thực tiễn sẽ không được ủng hộ. Như thế, nội dung của các cuộc họp, Hội nghị mang tính một chiều, Nghị quyết chung chung thiếu tính cách mạng tiến công.

Thực tế cho thấy, đối với những cán bộ, đảng viên có bề dầy kinh nghiệm trong thực tiễn nếu biết khai thác, biết phát huy và được tập hợp lại chắc chắn sẽ là nguồn sức mạnh vô tận, tạo nên trí tuệ, sức sáng tạo chung của cơ quan, đơn vị. Là người lãnh đạo một cơ quan, đơn vị đòi hỏi phải có tâm, có tầm, phải nắm vững chủ trương chính sách của Đảng và những quy định có tính nguyên tắc có liên quan đến lĩnh vực mà mình phụ trách; Phải nghiên cứu thật kỹ, phải xem xét và giải quyết đúng yêu cầu nhiệm vụ thực tiễn với mỗi giai đoạn phát triển cụ thể của từng sự vật và hiện tượng, từng con người cụ thể với những biện pháp hết sức cụ thể; Phải chịu khó lắng nghe ý kiến của mọi người chung quanh, nhất là những người kế cận; phải bàn bạc, cân nhắc thận trọng để đưa ra quyết định đúng đắn. Chúng ta đều biết trong thảo luận, tranh luận sẽ có những ý kiến không hoàn toàn giống nhau, và đó là cơ sở giúp cho lãnh đạo nhìn nhận sự vật, hiện tượng khách quan hơn, trên cơ sở đó đề ra kết luận chính xác hơn. Là cán bộ, đảng viên thấy đúng phải bảo vệ, thấy sai phải đấu tranh, đấu tranh là để đi đến sự thống nhất cao hơn trong thực hiện nhiệm vụ chính trị, và đó là quy luật phát triển của Đảng.

Tuy nhiên, nội dung của thực hành dân chủ phải xuất phát từ động cơ trong sáng, công tâm, khách quan, có tình, có lý. Vì đây là lợi ích chung chứ không phải tìm cách soi mói. Cho nên, chúng ta cũng phê phán những ý kiến thiếu tinh thần xây dựng, những ý kiến lợi dụng phê bình để đả kích cá nhân, nói xấu lẫn nhau, những tranh luận không tôn trọng nguyên tắc, thiếu tình thương yêu đồng chí, đồng nghiệp, vì như vậy là trái với bản chất của vấn đề dân chủ, là vi phạm Điều lệ Đảng, là dân chủ quá trớn dân chủ cực đoan, dẫn đến tự do tùy tiện, xem thường tập thể. Vì thế, dân chủ trong Đảng là dân chủ có lãnh đạo, có tính nguyên tắc. Nói cách khác, dân chủ của ta là dân chủ có định hướng.

Do đó, trong mỗi tập thể dù nhỏ, muốn giữ gìn sự đoàn kết thống nhất thật sự, phải thực hành tốt dân chủ, nếu lãnh đạo cơ quan, đơn vị thiếu tôn trọng Nghị quyết của Cấp ủy, coi thường kết luận của tập thể, điều hành  như thế thì bao công sức, trí tuệ của cán bộ, đảng viên đã góp ý trong cuộc họp trở thành vô nghĩa và như vậy cũng có nghĩa Nghị quyết, kế hoạch chỉ dừng lại trên trang giấy, không thực hiện hoặc thực hiện nhưng nội dung bị méo mó không còn nguyên vẹn. Như thế, cho dù có tổ chức nhiều cuộc họp nhưng vẫn cứ thiếu dân chủ.

Thực tiễn chứng minh, nơi nào không thực hiện tốt vấn đề dân chủ đều dẫn đến bất lợi cho tổ chức, đều cản trở bước tiến của cách mạng, nếu không dám nhìn thẳng vào sự thật để tìm cách khắc phục, dần dần nó sẽ triệt tiêu sức sáng tạo và tinh thần đấu tranh xây dựng của tập thể, tạo nên một lối sống an phận, nắng bề nào che bề nấy, đây là mảnh đất tốt để cho chủ nghĩa cá nhân phát triển và thực tế nơi nào thực hiện tốt phát huy dân chủ thật sự thì nơi đó sẽ động viên được tất cả mọi người tham gia đưa cách mạng đi đến thắng lợi. Do đó, cán bộ đảng viên phải chăm lo nhiều đến lề lối làm việc dân chủ, tác phong quan sát, sâu sát thực tế. Cho nên khi đã tổ chức cuộc họp, Hội nghị thì phải bàn cho ra lẽ, bàn xong phải có kết luận dứt khoát, phân định rõ đúng, sai. Trên cơ sở kết luận thông qua được tập thể đồng tình thì hình thành Nghị quyết. Khi chỉ đạo thực hiện, phải nói và làm theo đúng tinh thần của Nghị quyết. Nếu làm trái với Nghị quyết thì các cuộc hội, họp dẫu có bàn sâu đến đâu, kéo dài bao lâu đi chăng nữa cũng chỉ là dân chủ hình thức, dân chủ giả hiệu.

Chú thích:

(1): Hồ Chí Minh, Toàn tập, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 1995, Tập 6, tr 174

(2): Hồ Chí Minh, Toàn tập, Sđd… t10, tr118).

Theo Phan Thị Hữu Hạnh
Phó Hiệu trưởng Trường Chính trị
T
am trang (st)

bqllang.gov.vn

Nhớ lời Bác dạy phấn đấu không ngừng

Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân Huỳnh Thúc Bá ở phường Hòa Thuận Tây, quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng tham gia cách mạng từ thuở thiếu niên, chưa tròn 20 tuổi đã trở thành y tá trưởng của Đại đội 1, Tiểu đoàn 72, tỉnh Quảng Nam và nổi bật bởi tinh thần chiến đấu bảo vệ thương binh, tử sĩ.

Có trận, ông ra vào cửa mở đến tám lần để cõng thương binh, tử sĩ về phía sau. Qua 65 trận đánh, ông tiêu diệt và bắt sống hơn 60 tên địch, thu nhiều chiến lợi phẩm, được phong Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân vào ngày 17-9-1967. Ông Bá kể:

…Tháng 3 năm 1968, tôi và đồng chí Trần Đình ở Sư đoàn 2 được cử ra Bắc học tập. Cuối tháng 4 năm ấy, chúng tôi đến Thủ đô Hà Nội và nghỉ tại Trạm khách Bộ Quốc phòng ở 83 Lý Nam Đế. Sáng sớm ngày 19-5-1968, Trạm trưởng thông báo: “Hai đồng chí Bá và Đình 9 giờ đi công tác, mặc quần áo quân giải phóng”. Chúng tôi phấp phỏng đoán là sự kiện quan trọng, vì theo quy định, tất cả cán bộ miền Nam ở đây đều mặc thường phục.

…Chiếc ô tô chở chúng tôi chạy được một lát, anh cán bộ phụ trách mới phổ biến ngắn gọn: “Bác Hồ muốn gặp một số anh hùng ở miền Nam. Trạm chọn hai đồng chí vào báo cáo với Bác”. Chao ôi! Hai chúng tôi ngập tràn niềm vui mừng, hạnh phúc, vì được gặp Bác là điều mơ ước của biết bao đồng bào, chiến sĩ miền Nam!

nhoAnh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân Huỳnh Thúc Bá (người vuốt chòm râu Bác) và một số Anh hùng dũng sĩ miền Nam thăm Bác Hồ tại Phủ Chủ tịch (3-1969)

Bác và đồng chí Vũ Kỳ đón chúng tôi tại vườn hoa bán nguyệt trong Phủ Chủ tịch. Không biết đã được báo trước nhân dạng, hay là do sự cảm nhận tài tình, mà vừa bắt tay tôi, Bác đã hỏi:

Chú là Huỳnh Thúc Bá?

– Dạ! – Tôi lễ phép thưa.

Bác tiếp tục bắt tay đồng chí Đình và bảo:

– Hai cháu là anh hùng của quê hương “Trung dũng, kiên cường, đi đầu diệt Mỹ”.

Bác ân cần hỏi chúng tôi về việc ăn, nghỉ, sinh hoạt. Tôi cảm nhận rất rõ tình thương yêu của Bác khi Người hỏi về bệnh sốt rét và các vết thương của tôi. Bác âu yếm cầm tay tôi, thấy tay tôi gầy, nổi lên những đường gân xanh, Bác xúc động, rơm rớm nước mắt. Ôi! Bác là lãnh tụ thiên tài của dân tộc, mà sao gần gũi, hiền từ như người ông, người cha của mình. Bác dặn chúng tôi phải cố gắng ăn uống, nghỉ ngơi, dưỡng bệnh để có đủ sức khỏe học tập và nhớ phải bền bỉ phấn đấu không ngừng. Bác đãi bánh ga-tô và còn bảo chúng tôi mang về cho anh em trong Trạm.

Lần thứ hai, tôi được gặp Bác vào dịp kỉ niệm ngày Quốc khánh 2-9-1968. Tại hội trường Ba Đình, tôi và 50 anh hùng, dũng sĩ, cán bộ miền Nam được nghe Bác dặn dò, động viên phấn đấu, học tập cho tốt và sẵn sàng nhận nhiệm vụ trở về chiến đấu giải phóng quê hương.

Tháng 3 năm 1969, tôi lại được vinh dự gặp Bác trước khi trở vào miền Nam. Lần này, tôi là thành viên trong Đoàn đại biểu Mặt trận Dân tộc Giải phóng Miền Nam Việt Nam ra thăm miền Bắc. Khi Đoàn đang nghỉ tại nhà 103 phố Quán Thánh thì được thông báo đi gặp Bác. Đồng chí phụ trách căn dặn: “Sức khỏe của Bác hiện nay rất yếu, nhưng Bác muốn gặp các đồng chí. Yêu cầu tất cả ngồi xa, kẻo Bác mệt”. Hôm ấy, Bác Hồ và Bác Tôn cùng các đồng chí Lê Duẩn, Trường Chinh, Phạm Văn Đồng, Võ Nguyên Giáp đón chúng tôi tại Phủ Chủ tịch. Nhớ lời dặn, chúng tôi ý tứ đứng xa, nhìn lên Bác. Vừa thấy tôi, Bác đã vẫy lại, trìu mến hỏi:

– Cháu Bá đã hết sốt chưa? Học tập có tốt không?

Quá xúc động, tôi không sao cầm được nước mắt. Bác bận biết bao công việc trọng đại mà vẫn nhớ đến bệnh sốt rét của tôi! Lần đó, cả Đoàn được chụp ảnh với Bác. Tôi hoàn toàn không ngờ đó là lần cuối cùng được nhìn thấy Bác!

Ba lần được gặp Bác Hồ là kỉ niệm sâu sắc, không thể nào phai mờ của Anh hùng Huỳnh Thúc Bá, là nguồn sức mạnh to lớn để ông tiếp tục chiến đấu, công tác, lập nhiều chiến công xuất sắc. Ông về hưu năm 2002, với quân hàm Đại tá. Nhớ lời Bác dạy “phải bền bỉ phấn đấu không ngừng”, ông hăng hái tham gia công tác địa phương và nhiều năm được bầu làm Bí thư Chi bộ. Ông đã dẫn dắt phong trào thi đua của khu phố đạt nhiều thành tích tiêu biểu.

Theo baomoi.com
Thúy Hằng (st)
bqllang.gov.vn

Vai trò và mục đích của giáo dục trong tư tưởng Hồ Chí Minh

Trước khi đi vào cõi vĩnh hằng, Chủ tịch Hồ Chi Minh đã để lại cho toàn Đảng, toàn quân và toàn dân ta một hệ thống những tư tưởng, quan điểm toàn diện và sâu sắc về những vấn đề cơ bản của cuộc cách mạng Việt Nam. Trong đó, tư tưởng về giáo dục luôn có ý nghĩa lý luận và thực tiễn sâu sắc đối với sự nghiệp giáo dục Việt Nam trong giai đoạn hiện nay.

Chủ tịch Hồ Chí Minh là người đặt nền móng và xây dựng một nền văn hoá, giáo dục Việt Nam. Sinh thời, Người luôn xem phát triển giáo dục, nâng cao dân trí xã hội là một triết lý, một tư tưởng, một ước vọng. Người nói: “Tôi chỉ có một sự ham muốn, ham muốn tột bậc, là làm sao cho nước ta được hoàn toàn độc lập, dân ta được hoàn toàn tự do, đồng bào ai cũng có cơm ăn áo mặc, ai cũng được học hành“(1).

Tư tưởng Hồ Chí Minh về giáo dục, cũng như quan niệm của Người về vai trò của giáo dục không bó hẹp trong việc giáo dục tri thức, học vấn cho con người, mà có tính bao quát, sâu xa, nhưng vô cùng sinh động, thiết thực, nhằm đào tạo ra những con người toàn diện, vừa “hồng” vừa “chuyên“, có tri thức, lý tưởng, đạo đức sức khoẻ, thẩm mỹ… Khi nhìn nhận vai trò của giáo dục đối với sự hình thành nhân cách của con người, Bác Hồ khẳng định:

“Thiện, ác nguyên lai vô định tính
Đa do giáo dục đích nguyên nhân”
Nghĩa là: Hiền dữ phải đâu là tính sẵn
Phần nhiều do giáo dục mà nên
Dạ bán (Nửa đêm) – Nam Trân dịch

Hồ Chí minh luôn coi giáo dục có vai trò quan trọng không chỉ đối với việc giáo dục tri thức, học vấn mà còn góp phần hình thành nên nhân cách, phẩm chất đạo đức của mỗi con người. Người nói: Mỗi con người đều có thiện và ác trong lòng, ta phải biết làm cho phần tốt ở  trong mỗi con người nảy nở như hoa mùa xuân và phần xấu bị mất dần đi.

Tư tưởng Hồ Chí Minh về giáo dục vừa là thành quả của một quá trình tiếp thu, chắt lọc và phát triển tinh hoa văn hoá dân tộc và tinh hoa văn hoá nhân loại. Do vậy, ở tư tưởng Hồ Chí Minh về giáo dục luôn có sự thống nhất hữu cơ giũa lý luận giáo dục và thực tiễn giáo dục, vừa mang hơi thở của cuộc sống hiện tại, vừa chứa đựng khát vọng về một tương lai. Mục đích cao cả của Hồ Chí Minh – mục đích mà Người nguyện suốt đời phấn đấu – là mong cho dân tộc, nhân dân có cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc. Bởi, đối với Người: “Nếu nước độc lập mà dân không hưởng hạnh phúc tự do, thì độc lập cũng chẳng có nghĩa lý gì”(3). Suốt đời, Bác Hồ luôn mong muốn xây dựng một xã hội mới về chất, cao hơn hẳn xã hội cũ, đó là – xã hội xã hội chủ nghĩa và cộng sản chủ nghĩa. Và để xây dụng chủ nghĩa xã hội, theo Người, “trước hết cần có những con người xã hội chủ nghĩa”. Tuy nhiên, con người xã hội chủ nghĩa ở đây theo Người, cần phải: “…có học thức. Cần phải học lý luận Mác – Lênin kết hợp với đấu tranh và công tác hàng ngày, học phải đi đôi với hành”(2).

Đào tạo con người xã hội chủ nghĩa không có con đường nào khác ngoài giáo dục tri thức khoa học và lý tưởng, đạo đức xã hội chủ nghĩa. Đó là nền giáo dục nhằm phát triển con người toàn diện, vừa “hồng” vừa “chuyên” trong thời đại mới. Và như vậy, “con người xã hội chủ nghĩa’, con người toàn diện, “nhất định phải có học thức. Cần phải học văn hoá, chính trị, kỹ thuật. Cần phải học lý luận Mác – Lênin kết hợp với đấu tranh và công tác hàng ngày. Trong thư gửi cán bộ giáo dục, học sinh, sinh viên các trường và các lớp bổ túc văn hoá, ngày 31 – 8 – 1960, Chủ tich Hồ Chí Minh đã viết: Văn hoá giáo dục là một mặt trận quan trọng trong công cuôc xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc và đấu tranh thực hiện thống nhất nước nhà….Giáo dục phải phục vụ đường lối chính trị của Đảng và của Chính phủ, gắn liền với sản xuất và đời sống của nhân dân. Học phải đi đôi với hành, lý luận phải liên hệ với thực tế.

Hồ Chí Minh đặc biệt quan tâm đến việc luyện “tài”, rèn “đức” cho tất cả đối tượng. Đối với trẻ em, Bác căn dặn các giáo viên phải: Giáo dục cho các cháu biết thế nào là đoàn kết, ham học, ham làm, nhưng phải làm sao cho các cháu giữ được tính chất của trẻ con. Phải làm sao cho trẻ em có kỷ luật nhưng vẫn vui vẻ, hoạt bát chứ không phải là khúm núm, đặt đâu ngồi đấy. Thông điệp của Bác để lại cho thế hệ trẻ là vẻ vang, vinh dự nhưng cũng là một trong trách lớn: “Non sông Việt Nam có trở nên tươi đẹp hay không, dân tộc Việt Nam có bước tới đài vinh quang để sánh vai với các cường quốc năm châu được hay không, chính là nhờ một phần lớn ở công học tập của các em”(4).

Tại Đại hội Thanh niên Thủ đô ngày 30 tháng 9 năm 1967, Bác cũng căn dặn: “Thanh nên phải ra sức học tập chính trị, văn hoá và khoa học kỷ thuật. Học có tốt, hành mới tốt. Học và hành tốt mới làm tròn nhiệm vụ người thanh niên cách mạng…”. Hồ Chí Minh xem học tập chính là để làm người tốt, việc tốt có ích cho nhân dân và dân tộc, vì vậy, “Nhiệm vụ của các cháu là thi đua học tốt để sau này góp phần vào việc mở mang quê hương của mình và việc xây dựng nước Việt Nam yêu quý của chúng ta”.

Để tào tạo một con người có ích cho xã hội, theo Hồ Chí minh cần phải giáo dục toàn diện, đặc biệt là giáo dục về tài và đức. Bởi, theo Người, có tài mà không có đức, ví như một anh làm kinh tế tài chính rất giỏi nhưng lại đi đến thụt két thì chẳng những không làm được gì ích lợi cho xã hội, mà còn có hại cho xã hội nữa. Nếu có đức mà không có tài ví như ông bụt không làm hại gì nhưng cũng không lợi gì cho loài người. Để giáo dục tốt cả đức lẫn tài Bác nhắc nhở giáo viên: “Giáo viên phải chú ý cả tài, cả đức. Tài là văn hoá, chuyên môn; đức là chính trị. Muốn cho học sinh có đức thì giáo viên phải có đức… cho nên thầy giáo cô giáo phải gương mẫu, nhất là đối với trẻ con”(5).

Đối với cán bộ, Hồ Chí Minh xem việc học tập là: “Học để làm việc, làm người, làm cán bộ”. Mục đích trọng tâm và xuyên suốt trong tư tưởng giáo dục Hồ Chí Minh là vì con người, cho con người, là xây dựng con người mới. Nhưng do yêu cầu của mỗi thời kỳ cách mạng khác nhau, Hồ Chí Minh đã đề ra nhiệm vụ giáo dục khác nhau cho phù hợp. Ở thời kỳ chuẩn bị thành lập Đảng, Người tập trung vào việc triển khai các lớp huấn luyện tại Quảng Châu, Trung Quốc nhằm nâng cao trình độ nhận thức cho cán bộ về con đường cách mạng Việt Nam và cách mạng thế giới. Đến giai đoạn toàn quốc kháng chiến và xây dựng nền dân chủ, Người kêu gọi sửa đổi giáo dục cho phù hợp với việc đào tạo nhân tài kháng chiến kiến quốc. Tất cả giáo dục tập trung phục vụ kháng chiến kiến quốc. Bước sang giai đoạn cách mạng xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc, mục đích giáo dục lại gắn liền với tình hình mới. Đó là thời kỳ rất cần những con người làm chủ xã hội, làm chủ sản xuất, biết quản lý cơ quan, xí nghiệp, trường học…

Về phương pháp giáo dục, Hồ Chí Minh không để lại cho chúng ta một tác phẩm chuyên khảo, một hệ thống lý luận hoàn chỉnh nào về phương pháp giáo dục, nhưng qua những việc làm thiết thực như: Những bài viết ngắn gọn, súc tích, những lời nói, quan điểm giáo dục của Người đã hàm chứa các phương pháp giáo dục mẫu mực. Trong quá trình lãnh đạo cuộc cách mạng Việt Nam nói chung cũng như các vấn đề liên quan đến giáo dục nói riêng, Người luôn xác định nguyên tắc thống nhất giữa lý luận và thực tiễn làm nguyên tắc cơ bản cho việc xây dựng các phương pháp về giáo dục. Nguyên tắc này được Người sử dụng xuyên suốt trong việc giáo dục cán bộ, đảng viên, thanh thiếu niên, công nhân, nông dân, bộ đội, trí thức, học sinh, sinh viên… trong suốt tiến trình của cuộc cách mạng.

Từ nhận thức sâu sắc về vai trò và mục đích của giáo dục, Hồ Chí Minh đã gắn bó cả cuộc đời mình để việc chăm lo, mở mang, xây dựng và phát triển một nền giáo dục mới, nền giáo dục xã hội chủ nghĩa – một nền giáo dục mà mọi người đều được học, được tham gia, phát huy hết khả năng của mình, không phân biệt nam nữ, tuổi tác, giai cấp, dân tộc…

Tiếp tục kế thừa và quyết tâm thực hiện thắng lợi sự nghiệp to lớn và cao cả đó của Người, trong những năm qua Đảng ta luôn quan tâm và chăm lo đến sự nghiệp giáo dục. Tại Hội nghị lần thứ hai Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam, khoá VIII đã xác định nhiệm vụ và mục đích cơ bản của giáo dục Việt Nam là: “Nhằm xây dựng những con người và thế hệ thiết tha gắn bó với lý tưởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, có đạo đức trong sáng, có ý chí kiên cường xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, gìn giữ và phát huy các giá trị văn hoá của dân tộc, có năng lực tiếp thu tinh hoa văn hoá nhân loại phát huy tiềm năng của dân tộc và con người Việt Nam, có ý thức cộng đồng và phát huy tính tích cực của cá nhân, làm chủ tri thức khoa học và công nghệ hiện đại, có tư duy sáng tạo, có kỹ năng thực hành giỏi, có tác phong công nghiệp, có tính tổ chức và kỷ luật, có sức khoẻ, là những người kế thừa xây dựng chủ nghĩa xã hội vừa “hồng” vừa “chuyên” như lời căn dặn của Bác Hồ”. Đại hội Đảng lần thứ IX, một lần nữa Đảng ta khẳng định: “Phát triển giáo dục và đào tạo là một trong những động lực quan trọng thúc đẩy sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá, là điều kiện để phát huy nguồn lực con người, yếu tố cơ bản để phát triển xã hội, tăng trưởng kinh tế nhanh và bền vững”, tiếp tục nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện, đổi mới nội dung, phương pháp dạy và học, hệ thống trường lớp và hệ thống quản lý giáo dục, thực hiện chuẩn hoá, hiện đại hoá, xã hội hoá. Phát huy tinh thần độc lập suy nghĩ và sáng tạo của học sinh, sinh viên, đề cao năng lực tự học, tự hoàn thiện học vấn và tay nghề, đẩy mạnh phong trào học tập trong nhân dân bằng những hình thức giáo dục chính quy và không chính quy, thực hiện “giáo dục cho mọi người”, “cả nước trở thành một xã hội học tập”, thực hiện phương châm “học đi đôi với hành”.

1. Năm 1946, khi trả lời câu hỏi của các nhà báo về điều mong muốn của mình.
2. Hồ Chí Minh toàn tập. NXB CTQG 1995, 1996 tập 4, tr.56; tập 12, tr.505
3. HCM: Toàn tập, t.10, Nxb CTQG, H., 1995, tr 306.
4. Trong Thư gửi các em học sinh nhân ngày khai trường đầu tiên của nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa, tháng 9/1945.
5. Bài nói tại lớp học chính trị của giáo viên, năm 1959; dẫn theo “Hồ Chí Minh- Toàn tập”, NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội, năm 2000, tập 9, tr. 492.

Theo Lê Văn Tuyên/GV. Khoa Xây dựng Đảng
Truong CHính trị Hậu Giang
Tâm trang
(st)
bqllang.gov.vn

Sự quan tâm của Chủ tịch Hồ Chí Minh với sự nghiệp giáo dục

BH tham 1 lop binh dan hoc vu

Bác Hồ thăm một lớp bình dân học vụ

Từ lâu, đạo học và truyền thống “tôn sư trọng đạo” đã trở thành một nếp văn hoá đi sâu vào tiềm thức của mỗi người dân Việt Nam. Ngay sau Cách mạng Tháng Tám, đất nước ta phải đối đầu với ba thứ giặc “giặc đói, giặc dốt và giặc ngoại xâm”. Trong đó, giặc dốt là thứ giặc nội xâm vô cùng nguy hiểm, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nhấn mạnh: “Một dân tộc dốt là một dân tộc yếu”. Do đó, vấn đề cấp thiết đặt ra là phải nhanh chóng tiêu diệt thứ giặc này và vai trò của những người làm công tác giáo dục, những người dạy chữ càng quan trọng hơn lúc nào hết. Chủ tịch Hồ Chí Minh từng khẳng định:“Không có thầy giáo thì không có giáo dục… không có giáo dục, không có cán bộ thì không nói gì đến kinh tế – văn hoá”. Trong thời kỳ hội nhập, những vấn đề về chất lượng giáo dục, đạo đức người giáo viên… đang đặt ra những vấn đề cần suy nghĩ. Tư tưởng Hồ Chí Minh về giáo dục một lần nữa soi đường cho thế hệ hôm nay tiếp bước.

Cách mạng Tháng Tám đã mở đầu việc học của toàn dân của một nước độc lập, đã nêu một bài học mẫu mực về xây dựng một “xã hội học tập”, tiêu diệt giặc dốt.  Đạo học, truyền thống hiếu học của dân tộc ta ngày càng có nhiều điều kiện và cơ hội phát triển. Đi lên từ một nước nông nghiệp nghèo nàn lạc hậu lại bị chiến tranh tàn phá muốn vươn ra biển lớn, sánh vai với thế giới luôn luôn phát triển càng cần phải học – học đi đôi với hành như Bác Hồ dạy. Hưởng ứng phong trào Nha bình dân học vụ của Chính phủ, toàn dân ta, ở cả thành thị và nông thôn đều nô nức tham gia bình dân học vụ diệt giặc dốt, coi việc đi học, biết chữ là yêu nước. Đẩy lui bóng tối của chính sách ngu dân trước đây của chế độ thực dân – phong kiến, việc học, cao trào học tập trong toàn dân là một trong những thành công khởi nguồn sống động cho công cuộc giải phóng con người của Cách mạng Tháng Tám. Trong suốt chặng đường phấn đấu lâu dài phát triển giáo dục của dân tộc ta, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn luôn quan tâm và chăm lo đến sự nghiệp giáo dục và đào tạo nước nhà. Người coi: “Giáo dục là cốt sách hàng đầu” trong quá trình xây dựng và bảo vệ tổ quốc. Người luôn nhắc nhở toàn Đảng, toàn nhân dân ta phải chăm lo đến sự nghiệp giáo dục, Người căn dặn: “Đảng cần phải chăm lo giáo dục đạo đức cách mạng cho họ, đào tạo họ thành những người thừa kế xây dựng chủ nghĩa xã hội vừa “hồng” vừa “chuyên”. Đó là tinh thần, là tình cảm rất sâu sắc của Chủ tịch Hồ Chí Minh đối với sự nghiệp giáo dục và đạo tạo nước ta. Phát biểu tại Trường Đại học sư phạm Hà Nội (tháng 10 năm 1964), Người nói:“Người thầy giáo tốt, người thầy giáo xứng đáng là người thầy vẻ vang nhất, dù tên tuổi không đăng trên báo, không được thưởng huân chương. Song những người thầy giáo tốt là những người anh hùng vô danh. Đây là một điều rất vẻ vang, nếu không có thầy giáo dạy dỗ cho con em nhân dân thì làm sao mà xây dựng Chủ nghĩa Xã hội được. Vì vậy nghề thầy giáo rất quan trọng, rất vẻ vang. Ai có ý kiến không đúng về nghề thầy giáo thì phải sữa chữa”. Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, trong nền giáo dục cách mạng, người giáo viên có nhiệm vụ nặng nề và vẻ vang là đào tạo cán bộ cho nước nhà, là những chiến sĩ tiên phong trên mặt trận tư tưởng, văn hoá có trách nhiệm truyền bá cho thế hệ trẻ lý tưởng đạo đức chân chính, hệ thống các giá trị, tinh hoa văn hoá của dân tộc và nhân loại, bồi dưỡng cho họ những phẩm chất cao quý và năng lực sáng tạo phù hợp với sự phát triển và tiến bộ xã hội. Muốn thực hiện được nhiệm vụ ấy, bản thân các thầy, cô giáo phải trở thành một lực lượng mạnh mẽ. Những người hoạt động trong lĩnh vực giáo dục không được bằng lòng với kiến thức đã có, mà phải thường xuyên tích luỹ kiến thức. Người thầy được ví như người chở đò, chèo lái con thuyền kiến thức đưa các thế hệ học sinh qua sông, không chỉ vun đắp tri thức cho thế hệ trẻ mà còn bồi đắp nhân cách, giáo dục phẩm chất làm người theo câu nói của người xưa: “Tiên học lễ, hậu học văn”.  Ngày nay, trên cả nước ta vẫn còn không ít nơi chưa có điều kiện phổ cập giáo dục từ bậc học thấp nhất, đa số tập trung ở những vùng sâu vùng xa, vùng dân tộc thiểu số. Ở những nơi đây, người thầy được coi là những người “cõng chữ” lên vùng cao. Đã có biết bao tấm gương người thầy hết lòng cống hiến cho sự nghiệp giáo dục những vùng khó khăn, đó là những tấm gương sáng về học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh – đạo đức người thầy.

CT HCM thăm trường ĐSPHN 21.10.1964cùng tổng thống Mali Mô đi bô Cây ta
Chủ tịch Hồ Chí Minh cùng Tổng thống Mali Môđibô Câyta
đến thăm Trường Đại học Sư phạm Hà Nội(ngày 21/10/2012)

Trong cuộc đời của mình, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã có những thời điểm trực tiếp là nhà giáo. Từ tháng 9 năm 1910 đến trước tháng 2 năm 1911, người thanh niên Nguyễn Tất Thành dạy học ở Trường Dục Thanh, Phan Thiết. Sau khi đến với chủ nghĩa Mác – Lê-nin, trong những năm 1925 – 1927, Nguyễn Ái Quốc về Quảng Châu (Trung Quốc), trực tiếp mở các lớp huấn luyệnchính trị cho thanh niên, thiếu niên Việt Nam yêu nước, trực tiếp lãnh đạo và là giảng viên chínhcủa các khóa học. Người là tấm gương sáng ngời về đạo đức, tinh thần tự học và sự sáng tạo để mọi người học tập và noi theo. Năm 1941, sau 30 năm bôn ba ở nước ngoài, Nguyễn Ái Quốc về nước trực tiếp lãnh đạo phong trào cách mạng Việt Nam. Người luôn chăm lo việc đào tạo và bồi dưỡng đội ngũ cán bộ cho cách mạng; tổ chức và chỉ đạo từng bước xây dựng nền giáo dục cách mạng, nhằm thực hiện công cuộc nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực và bồi dưỡng nhân tài cho đất nước, giáo dục và đào tạo thế hệ trẻ.

Trong quá trình đổi mới đất nước, để hội nhập nhanh hơn chúng ta nhận thấy việc nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực và bồi dưỡng nhân tài là những nội dung không thể thiếu trong chiến lược phát triển giáo dục, bởi quan tâm phát triển giáo dục được coi là quốc sách hàng đầu, bởi “nhân tài là nguyên khí quốc gia”… Những lời nhắc nhở của cha ông ta từ thuở dựng nước cho đến ngày hôm nay vẫn còn nguyên giá trị. Hôm nay, chúng ta tiến hành công cuộc đổi mới, thực hiện “Nói không với tiêu cực trong thi cử và bệnh thành tích trong giáo dục” là một liệu pháp mạnh, đã và đang được ngành giáo dục cũng như toàn xã hội ủng hộ, trở thành phong trào sôi nổi và đã bước đầu thành công. Chính phủ cũng đã có những đề án để nâng cấp giáo dục phổ thông, từng bước nâng những ngành học, trường học cụ thể có truyền thống và khả năng bắt nhịp với trình độ đào tạo hiện đại, trở thành ngành, trường vươn lên chuẩn đại học quốc tế… Nhìn lại chặng đường giáo dục của nước nhà, nhìn lại những thành tựu mà cả nước đã đạt được trong giáo dục, không thể không phủ nhận công lao của những người thầy, những nhà giáo, những người làm công tác giáo dục.

Công cuộc đổi mới đất nước đang đặt ra nhiều yêu cầu cần nâng cao trình độ, năng lực, phẩm chất nhà giáo, hơn lúc nào hết chúng ta cần xây dựng được đội ngũ những người làm công tác giáo dục có đầy đủ phẩm chất, năng lực, vừa “hồng”, vừa “chuyên” như Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nêu ra. Có được những thế hệ giáo viên tốt là điều khẳng định chắc chắn nhất, cụ thể nhất sự đi lên của tri thức, trình độ phát triển giáo dục của dân tộc và góp phần quan trọng cho thắng lợi của công cuộc hội nhập quốc tế, xây dựng và phát triển đất nước hôm nay./.

Kim Yến
bqllang.gov.vn

Thủ tướng nước Cộng hòa Ukraina đặt hoa tưởng niệm các Anh hùng liệt sĩ và vào Lăng viếng Chủ tịch Hồ Chí Minh

Nhận lời mời của Thủ tướng Chính phủ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam Nguyễn Tấn Dũng, Thủ tướng nước Cộng hòa Ukraine Nikolai Yanovich Azarov sang thăm chính thức Việt Nam từ ngày 15-16/11/2012.

Viengtuongdai-LamKhanhThủ tướng Nikolai Yanovich Azarov cùng Đoàn đại biểu cấp cao nước Cộng hòa Ukraina đặt vòng hoa tưởng niệm các Anh hùng liệt sĩ 

Nhân dịp này, sáng 16/11/2012, Đoàn đại biểu cấp cao nước Cộng hòa Ukraina do Thủ tướng Nikolai Yanovich Azarov dẫn đầu đã đến đặt vòng hoa tưởng niệm các Anh hùng liệt sĩ Việt Nam và đặt vòng hoa tưởng niệm Chủ tịch Hồ Chí Minh tại Lăng của Người. Vòng hoa của Đoàn mang dòng chữ: “Thủ tướng Chính phủ Ukraina N.Y.Azarov kính viếng”.

Vienglang-TrongDucThủ tướng Nikolai Yanovich Azarov cùng Đoàn đại biểu cấp cao nước Cộng hòa Ukraina vào Lăng viếng Chủ tịch Hồ Chí Minh

Việt Nam và Ukraine chính thức thiết lập quan hệ ngoại giao ngày 23/1/1992. Việt Nam và Ukraine có quan hệ hữu nghị truyền thống và hợp tác nhiều mặt. Hai bên phối hợp chặt chẽ và thường xuyên ủng hộ lẫn nhau tại các diễn đàn và tổ chức quốc tế, trong đó có Liên hợp quốc. Chuyến thăm Việt Nam của Thủ tướng Ukraine Nikolai Azarov diễn ra trong bối cảnh quan hệ hợp tác nhiều mặt Việt Nam – Ukraine tiếp tục có những bước phát triển mạnh mẽ, hai bên sẽ thúc đẩy hơn nữa sự hợp tác trên nhiều lĩnh vực giữa hai nước, cùng trao đổi các biện pháp nhằm tăng cường và phát triển hơn nữa quan hệ hữu nghị truyền thống và hợp tác nhiều mặt, nhất là trong lĩnh vực kinh tế, thương mại, đầu tư cũng như trao đổi những vấn đề quốc tế và khu vực mà hai bên cùng quan tâm./.

Lan Hương
bqllang.gov.vn

Ra đi, Bác dặn lời non nước…

“Bác ơi, tim Bác mênh mông thế. Ôm cả non sông, mọi kiếp người”. Tôi nhớ mãi những câu thơ da diết của cố thi sĩ Tố Hữu khi viết về Bác Hồ kính yêu. Trái tim Bác vẫn nhịp đập cùng non sông đất nước, với dân tộc ngay cả khi Người đã lặng lẽ ra đi cách đây hơn 40 năm. Bác để lại bản Di chúc lịch sử. Bản Di chúc ấy chính là trái tim Người đã, đang và sẽ đập nhịp với toàn Đảng, toàn dân ta; là cốt cách Hồ Chí Minh; là ánh sáng Hồ Chí Minh soi đường dẫn lối.

71Bác Hồ với các cháu thiếu niên.

Cả cuộc đời Người dành cho dân tộc, cho giang sơn đất nước. Người đã dành hơn nửa cuộc đời mình qua 3 đại dương, đến 4 châu lục, 28 nước, bôn ba trên một đoạn đường ước tính 20 vạn km cũng chỉ nhằm “làm sao cho nước ta được hoàn toàn độc lập, dân ta được hoàn toàn tự do, đồng bào ai cũng có cơm ăn, áo mặc, ai cũng được học hành“. Ngay cả khi từ biệt thế giới này, Người cũng chỉ có một điều hối tiếc là “không được phục vụ lâu hơn nữa, nhiều hơn nữa” cho Đảng, cho dân.

“Bác ơi, tim Bác mênh mông thế. Ôm cả non sông, mọi kiếp người“. Bác căn dặn bao điều trước lúc đi xa – từ điều gần đến điều xa, từ việc hôm nay cho tới việc ngày mai. Giữa lúc cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước vô cùng ác liệt, giữa bao toan tính của nước lớn nước bé, giữa ai lòng dạ đổi thay, lời Bác thật đanh thép “Cuộc chống Mỹ cứu nước của nhân dân ta dù phải kinh qua gian khổ, hy sinh nhiều hơn nữa, song nhất định thắng lợi hoàn toàn. Đó là một điều chắc chắn“. Bác nhắc nhở về Đảng cầm quyền: “Phải giữ gìn Đảng ta thật trong sạch, phải xứng đáng là người lãnh đạo, là người đầy tớ thật trung thành của nhân dân“. Bác còn lo xa bao điều. Ấy là “Bồi dưỡng thế hệ cách mạng cho đời sau là một việc rất quan trọng và rất cần thiết“. Ấy là: “Đảng phải có kế hoạch thật tốt để phát triển kinh tế và văn hoá, nhằm không ngừng nâng cao đời sống của nhân dân“…

“Bác ơi, tim Bác mênh mông thế”. Trước lúc đi xa, Người còn để lại “Muôn vàn tình thương yêu cho toàn dân, toàn Đảng, cho toàn thể bộ đội, cho các cháu thanh niên và nhi đồng, gửi lời chào thân ái đến các đồng chí, các bầu bạn và các cháu thanh niên, nhi đồng quốc tế“.

Đã có nhiều học giả quốc tế nghiên cứu về bản Di chúc của Bác để hiểu thêm cuộc đời vĩ đại của người. Thật chẳng có gì lạ khi Bác được tôn vinh là Danh nhân văn hoá thế giới, là Anh hùng giải phóng dân tộc. Cả thế giới ngợi ca Bác. A.Min – nhà cách mạng Yêmen viết: “Chính Người – Bác Hồ – đã đóng hàng ngàn mũi đinh lên chiếc quan tài của chủ nghĩa đế quốc Mỹ ở trên đất nước Việt Nam”. Một cụ bà người Mỹ da đen ở thành phố Niuooclêông trong  thư gửi đồng chí Xuân Thuỷ tại Pari tháng 9 năm 1969 đã giãi bày: “Cụ Hồ Chí Minh là một lãnh tụ vĩ đại. Một lãnh tụ có phẩm chất như Người chỉ xuất hiện một lần trong thế kỷ”. Rồi: “Hồ Chí Minh là một trong những nhân vật kỳ lạ của thời đại này” (P.Hanbôxtan). Và: “Việt Nam có thể có những bước thăng trầm nhưng ký ức về vị lãnh tụ cộng sản Hồ Chí Minh sinh ra từ cuối thế kỷ XIX sẽ tồn tại mãi mãi”. (Dems Gray – Hãng tin AP).

Đã bốn thập kỷ Bác đi xa, đã qua bốn thập kỷ bản Di chúc thiêng liêng. Từng lời của Người vẫn văng vẳng nhắc nhở dạy dỗ chúng ta, vẫn thôi thúc, giục giã chúng ta trên con đường mới. Chúng ta dường như vẫn thấy Bác hàng ngày dõi theo, cổ vũ.

Lòng dân nước mở từng trang Di chúc.
Thấy Bác từng ngày trong mỗi sáng mai lên.

Một nhà thơ đã viết vậy. Còn cố thi sĩ Tố Hữu đã gói gọn mong ước của chúng ta:

Nhớ lời Di chúc, theo chân Bác
Lên những tầng cao, thẳng cánh bay!
Bác ơi, chúng con nguyện:
Đời sẽ tươi hơn, xây dựng mới
Đàng hoàng to đẹp, sáng trời đông
Tuổi xanh vững bước lên phơi phới
Đi tới như lòng Bác ước mong.

Theo Giáp Nhật Nguyệt/Báo Bắc Giang
Tâm Trang (st)

bqllang.gov.vn

Bài phát biểu của đồng chí Phan Đình Trạc, UVTƯ Đảng, Bí thư Tỉnh ủy tại Lễ tiếp nhận đá quý của Nghệ An tôn tạo Công tình Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh

PHÁT BIỂU

Của đồng chí Phan Đình Trạc, UVTƯ Đảng, Bí thư Tỉnh ủy
tại Lễ tiếp nhận đá quý của Nghệ An tôn tạo Công trình Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh
(Hà Nội, ngày 04/11/2012)

—–

– Kính thưa: Anh linh Chủ tịch Hồ Chí Minh!

– Kính thưa: Đồng chí Nguyễn Sinh Hùng, Ủy viên Bộ Chính trị, Chủ tịch Quốc hội nước CHXHCN Việt Nam!

– Kính thưa các đồng chí!

Chủ tịch Hồ Chí Minh là của cả dân tộc và nhân loại. Tuy vậy, Người vẫn luôn dành cho quê hương những tình cảm đặc biệt. Trong sâu thẳm của trái tim Người, quê hương luôn luôn là “nghĩa nặng, tình sâu”.

Với lòng thành kính và biết ơn vô hạn đối với Bác Hồ kính yêu, cùng với nhân dân cả nước, Đảng bộ và nhân dân Nghệ An vinh dự được chọn cung tiến linh vật đá, đặt ở khu vực Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Với vinh dự ấy, Đoàn khảo sát của tỉnh với sự phối hợp của Ban Quản lý Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khảo sát nhiều nơi, nhiều chủng loại đá có nguồn gốc khác nhau. Người tìm đá, nhưng có lẽ đá như tự tìm người. Sau một thời gian khảo sát, ngày 19/4/2011 Đoàn khảo sát gặp được loại đá như mong muốn, tại núi Pu Coọc, bản Cô, xã Châu Thành, huyện Quỳ Hợp, tỉnh Nghệ An.

Đó là loại đá do thiên nhiên tôi luyện, tích tụ hàng triệu triệu năm trong lòng đất, có độ cứng và độ bền cao, tỷ trọng nặng, trường tồn mãi mãi với thời gian; không bị ăn mòn bởi nước, a xít, không bị ôxyhóa; có màu xanh lam, đỏ và phớt tím, có khả năng thấu quang và chiết quang, chứa nhiều khoáng vật quý. Có thể gọi loại đá này là “Đại Lam Ngọc”.

Trải qua hàng triệu triệu năm hình thành, tích lũy khá nhiều năng lượng vũ trụ, vì vậy trong phong thủy, “Đại Lam Ngọc” có thể được xem là “thần dược thạch mỹ”, kỳ bí hiếm có, đem lại sinh khí tốt, thiện tâm, tăng cường sinh lực, may mắn cho con người.

Sau nhiều tháng nghiên cứu, chế tác, hôm nay, Đảng bộ và nhân dân Nghệ An vinh dự được kính dâng 3 khối đá quý đó để tôn tạo và nâng cao linh khí nơi Người yên nghỉ, góp phần cùng với các sản phẩm đặc sắc của các vùng miền trong cả nước quầy tụ bên Lăng, giữ yên giấc ngủ của Người, làm cho công trình Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn luôn hội tụ linh khí tốt lành.

Thay mặt Đảng bộ và nhân dân tỉnh Nghệ An, tôi chân thành cảm ơn sự quan tâm, giúp đỡ của Ban Quản lý Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh; Hội đá cảnh, gỗ lũa và tranh tượng dân gian thành phố Hà Nội; sự nỗ lực cố gắng, tâm huyết và trách nhiệm của các nghệ nhân; cán bộ, công nhân viên Công ty Cổ phần đá và khoáng sản Phủ Quỳ, và các cơ quan, đơn vị liên quan đã góp phần hoàn thành công trình đầy ý nghĩa này.

Xin hứa với Bác, với các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước, Đảng bộ và nhân dân tỉnh nhà sẽ tiếp tục phát huy truyền thống cách mạng của quê hương, quyết tâm phấn đấu xây dựng tỉnh nhà trở thành một trong những tỉnh khá của miền Bắc, như mong muốn của Bác Hồ kính yêu.

Kính chúc các đồng chí sức khỏe, hạnh phúc.

Xin trân trọng cảm ơn!

bqllang.gov.vn

Dấu chân Bác Hồ nơi Đảo quốc sương mù

Thủ đô Luân Đôn của Đảo quốc sương mù giờ đây không còn xa lạ với nhiều người dân Việt Nam trong kỷ nguyên hội nhập quốc tế. Đối với mỗi người Việt Nam, đến với Luân Đôn là đến với những ký ức về Bác Hồ, những câu chuyện về viên gạch sưởi ấm, về chàng thanh niên Nguyễn Tất Thành với Vua bếp huyền thoại Escoffier mà ai ai cũng từng được nghe từ những ngày đầu cắp sách tới trường…

dau chan Bac Ho 1Tòa nhà New Zealand trên nền khách sạn Carlton, nơi Bác Hồ từng làm việc.

Hiện có nhiều thông tin khác nhau về các mốc thời gian Bác làm việc ở Anh. Tuy nhiên, giới nghiên cứu lịch sử cả Việt Nam và quốc tế có lẽ đồng quan điểm rằng thời gian Bác Hồ ở Luân Đôn là từ năm 1913 tới 1917. Nơi được nhắc đến nhiều nhất trong thời gian Bác ở Luân Đôn là khách sạn Carlton, địa điểm giờ đây là nơi tọa lạc của tòa nhà New Zealand và cũng là nơi làm việc của phái đoàn ngoại giao nước này.

Tòa nhà 19 tầng hiện đại nằm trên phố Haysmarket tấp nập, gần với Quảng trường Tralfagar có những chú sư tử đá biểu tượng của nước Anh, Cung điện của Nữ hoàng và các cơ quan đầu não của Chính phủ Anh, được xây dựng năm 1959 trên nền của khách sạn Carlton trước đây. Nơi đây hiện có tấm biển màu xanh do Hội Hữu nghị Anh – Việt và các bạn bè Anh yêu quý Việt Nam đặt từ những năm 1990 ghi: “Hồ Chí Minh (1890 – 1969) – Người khai sinh ra nước Việt Nam – đã làm việc tại khách sạn Carlton, tòa nhà cũ trên nền đất này, năm 1913”.

Ông Len Aldis, Chủ tịch Hội Hữu nghị Anh – Việt, một người bạn thân thiết của Việt Nam, kể rằng việc đặt được tấm biển trên tường của tòa nhà này không phải là dễ dàng. Dự án đặt tấm biển này cũng kéo dài mất 2 – 3 năm và cũng phải nhờ tới các chính trị gia có tiếng mới có thể trở thành hiện thực. Ông Len Aldis nói vui rằng, “vì là tấm biển tưởng niệm Hồ Chí Minh, một con người vĩ đại được cả thế giới biết đến, chứ nếu là… người khác chắc không được”.

Ông Len kể: “Khi mới tới Carlton, ông Hồ chỉ được giao nhiệm vụ dọn dẹp và rửa bát đĩa. Câu chuyện về việc ông Hồ cất những món ăn thừa để chuyển cho những người nghèo, người ăn xin ngoài đường mà thế hệ trẻ như bạn được nghe chính là bắt nguồn từ đây. Cảm kích trước hành động của ông Hồ, vị đầu bếp huyền thoại người Pháp Escosffier của khách sạn đã chuyển ông Hồ lên khu vực làm bánh và “truyền nghề” cho ông. Nhưng điều đó cũng không thể giữ ông Hồ ở lại xứ sương mù này bởi chất chứa trong ông là hoài bão giải phóng dân tộc…”.

dau chan Bac Ho 2Ông Lens Aldis (phải), Chủ tịch Hội Hữu nghị Anh – Việt, 
đã giúp dựng tấm biển tưởng niệm Hồ Chí Minh tại tòa nhà New Zealand.

Trái ngược với vẻ hiện đại, ngạo nghễ của tòa nhà 19 tầng trên mặt đất, tầng hầm của tòa nhà New Zealand vẫn giữ nguyên từ thuở nó còn là khách sạn Carlton. Qua hai lượt cầu thang đi xuống là khu phòng được cho là nơi nghỉ ngơi của các nhân viên làm việc tại khách sạn trước đây. Khu phòng này có độ cao chỉ hơn 2m một chút với lối đi khá hẹp, có lẽ chỉ đủ cho 2 người và mỗi phòng có diện tích chỉ khoảng 10m2. Hầu hết các phòng này giờ đây chuyển thành phòng chứa đồ cũ.

Nếu tới Luân Đôn vào mùa đông và nhìn những căn phòng bé nhỏ, lạnh lẽo, không có hệ thống lò sưởi này mới thực sự thấu hiểu được câu chuyện Bác phải dùng viên gạch nóng để sưởi ấm trong mùa đông băng tuyết. Như lời ông Len kể, thời Bác Hồ ở Luân Đôn, chỉ có những người giàu có, quý tộc mới được ở trong những căn nhà có lò sưởi chạy bằng khí đốt hoặc mới có điều kiện để dùng lò sưởi đốt gỗ. Luân Đôn ngày đó vắng vẻ, lạnh lẽo và hay mù sương chứ không giống như bây giờ…

Tiến sỹ John Callow, Giám đốc Thư viện Marx ở Luân Đôn, người nghiên cứu khá nhiều về Bác Hồ kể rằng, trong thời gian làm việc ở khách sạn Carlton, Bác Hồ làm việc từ 5 giờ sáng đến trưa và từ 5 giờ chiều đến 10 giờ tối. Nhờ đó, Bác có thời gian tìm hiểu về Luân Đôn và học tiếng Anh. “Ông Hồ tới đây làm việc không phải chỉ đơn giản là để kiếm tiền và sống mà để tìm hiểu bản chất của những dây xích ràng buộc dân tộc mình và các nước thuộc địa với các nước thực dân. Qua học hỏi, nghiên cứu, ông Hồ hiểu rằng chỉ có lòng dũng cảm thì chưa đủ để giải phóng dân tộc mình mà cần phải nghiên cứu đầy đủ về sự phát triển của chủ nghĩa thực dân và chủ nghĩa đế quốc mới có thể phản kháng một cách hiệu quả…”, ông John Callow cho biết.

dau chan Bac Ho 3Phố Stephen, nơi Bác từng ở căn nhà số 8, giờ đã khác xưa.

Cũng theo Tiến sỹ John Callow, trong thời gian ở Luân Đôn, Bác từng làm các công việc nặng nhọc như cào tuyết ở trường học, điều khiển hệ thống nước nóng. Còn trong lĩnh vực “bếp núc” thì Bác còn từng làm việc ở khách sạn Drayton Court ở West Ealing, phía tây Luân Đôn, trước khi chuyển đến Carlton. Theo tư liệu ông có được thì Bác Hồ cũng từng ở một căn nhà ở số 8 phố Stephen, cắt phố Tottenham Court, cách khách sạn Carlton khoảng 30 phút đi bộ.

Phố Stephen ngày nay không còn căn nhà số 8 trước kia. Với chiều dài vỏn vẹn khoảng 500m, chặn 2 đầu là phố Tottemham Court và phố Gresse, phố Stephen hiện là nơi tọa lạc của hai tòa nhà, số 1 là khách sạn cao ngất ngưởng và đối diện là số 2 thuộc sở hữu của Viện Phim Anh (BFI). Mặt cắt của phố Stephen với Tottenham Court giờ là những tòa nhà cao tầng với các cửa hàng điện tử, thời trang san sát. Có lẽ những ngôi nhà cũ xưa kia đã bị tàn phá trong trận ném bom “The Blitz” của Đức những năm 1940 – 1941.

dau chan Bac Ho 4Khách sạn Drayton Court tại West Ealing, nơi Bác Hồ từng làm phụ bếp trước khi tới khách sạn Carlton.

Trong cuốn sách “Hồ Chí Minh – Những năm tháng chưa được biết đến” của NXB Đại học California, tác giả Sophie Quinn-Judge cho biết, Bác cũng đã từng gửi bưu thiếp cho cụ Phan Chu Trinh ở Pari (Pháp) từ địa chỉ ngôi nhà này. Ông John Callow kể rằng, do có mối liên hệ với phong trào công nhân Anh, với phong trào công nhân Việt Nam và là một nhà hoạt động công chúng nên Bác Hồ đã bị cảnh sát Anh chú ý. Căn nhà tại số 8 phố Stephen thường xuyên bị cảnh sát theo dõi, tuy nhiên khi lực lượng cảnh sát Anh đột nhập theo đề nghị bắt giữ Bác của cảnh sát Pháp thì Bác đã trốn khỏi đó và đến tháng 12/1917 thì Bác sang Pháp.

Khách sạn Drayton Court, tại số 2 phố The Avenue, nơi Bác làm việc một thời gian ngắn trước khi tới Carlton, cách trung tâm Luân Đôn khoảng 40 phút đi tàu điện ngầm. Khách sạn Drayton chính thức đi vào hoạt động năm 1894 với 60 phòng, tọa lạc ở khu khá vắng vẻ dân cư, khác hẳn so với khu trung tâm sầm uất, nhộn nhịp ở trung tâm Luân Đôn. Dù vẫn giữ nguyên hình dáng cũ nhưng bộ mặt của khách sạn ngày nay hào nhoáng hơn nhờ tu sửa và trang trí. Sau khi ngừng dịch vụ thuê phòng và chuyển thành quán rượu lớn nhất tại quận Ealing những năm 1940, Drayton Court giờ đây lại trở lại vai trò là một khách sạn với 27 phòng sang trọng và đầy đủ dịch vụ quán rượu và nhà hàng như xưa kia.

Dù tấm biển hiện nay ở tòa nhà New Zealand nói rằng Bác đã bắt đầu làm việc tại đó từ năm 1913 nhưng tư liệu lịch sử của quận Ealing cho rằng Bác đã làm việc ở khách sạn Drayton Court năm 1914. Tư liệu của quận Ealing giới thiệu về khách sạn Drayton Court viết: “Hồ Chí Minh, nhà lãnh đạo của Việt Nam, đã làm việc cần cù trong bếp ăn của khách sạn Drayton Court năm 1914, trước khi tiếp tục ra đi tìm đường thay đổi lịch sử đất nước ông, đánh đuổi các lực lượng đến từ Nhật Bản, Pháp và Mỹ”. Trong một tấm bưu thiếp gửi từ địa chỉ khách sạn này cho cụ Phan Chu Trinh ở Pari, Bác Hồ nói rằng mình đã tìm được nơi học tiếng: “Mấy bốn tháng rưỡi nay thì chỉ làm với Tây, nói tiếng Tây suốt”.

Những mốc thời gian cụ thể trong những tháng ngày Bác ở Luân Đôn có thể còn chưa thực sự rõ nhưng một điều rõ ràng không thể phủ nhận là thời gian Bác ở Thủ đô xứ sương mù đã được lịch sử thế giới ghi nhận với sự khâm phục về nghị lực và ý chí của một con người Việt Nam vĩ đại. Tại đây, Bác đã làm rất nhiều việc, từ cào tuyết cho tới rửa bát, phụ bếp để tồn tại và tìm hiểu về bản chất của chủ nghĩa tư bản, từ đó tìm ra con đường giải phóng dân tộc Việt Nam. Người ta nói rằng, đến nước Anh mà chưa đến thăm Di tích lịch sử Stonehenge thì chưa phải là đến nước Anh. Còn đối với những người dân Việt Nam, đến Luân Đôn mà chưa tới thăm lại những nơi Bác đã từng làm việc thì có lẽ chưa phải là đến Luân Đôn…

Theo baotintuc.vn
Huyền Trang (st)
bqllang.gov.vn

Chủ tịch Hồ Chí Minh – một tấm gương sáng về tiết kiệm sức dân

Sự nghiệp đổi mới do Đảng ta khởi xướng và lãnh đạo đã đạt được những thành tựu rất quan trọng, “có ý nghĩa lịch sử”, nền kinh tế nước ta đã vượt qua nhiều khó khăn, thách thức, nước ta đã ra khỏi tình trạng kém phát triển, “Tạo ra thế và lực, sức mạnh tổng hợp lớn hơn nhiều so với trước”[1, tr.29].

Tuy nhiên, trong bối cảnh hội nhập quốc tế ngày càng sâu và rộng như hiện nay, thì “nước ta vẫn đứng trước nhiều thách thức lớn, đan xen nhau, tác động tổng hợp và diễn biến phức tạp. Nguy cơ tụt hậu xa hơn về kinh tế so với nhiều nước trong khu vực và trên thế giới vẫn tồn tại” [1, tr.29]. Quá trình phát triển trong những năm qua còn bộc lộ nhiều hạn chế, khuyết điểm, đặc biệt là: “Kinh tế phát triển chưa bền vững; chất lượng, hiệu quả, sức cạnh tranh thấp, chưa tương xứng với tiềm năng, cơ hội và yêu cầu phát triển của đất nước” [1, tr.165]. Những hạn chế, yếu kém đó do nhiều nguyên nhân khách quan và chủ quan cần được nghiên cứu tỉ mỉ, thận trọng để có thể đưa ra những giải pháp khắc phục chính xác và tối ưu. Trong đó, có một nguyên nhân rất lớn đó là chúng ta chưa thực sự phát huy hiệu quả vai trò của nhân dân trong phát triển đất nước; thậm chí đã làm “hao mòn”, lãng phí sức dân bằng nhiều cách khác nhau. Trong hoàn cảnh đó, chúng ta không thể không nhớ đến những tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh đối với cách mạng Việt Nam, trong đó triết lý về “Tiết kiệm sức dân” của Người có ý nghĩa lý luận và giá trị thực tiễn rất sâu sắc.

Tư tưởng về tiết kiệm sức dân ở Chủ tịch Hồ Chí Minh bắt nguồn từ Chủ nghĩa nhân văn cao cả của Người. Trên quan điểm của chủ nghĩa duy vật lịch sử và tiếp thu những tinh hoa văn hóa của nhân loại, Người luôn xác định: Con người là vốn quý nhất. Con người vừa là lực lượng, là động lực chủ yếu, trực tiếp, vừa là mục tiêu của lịch sử. Đó là sự thống nhất biện chứng của các yếu tố đó trong con người với tư cách là nhân tố quyết định, sáng tạo ra lịch sử.  Vì vậy, con người vừa là mục tiêu, vừa là động lực của sự nghiệp cách mạng.

Với Hồ Chí Minh, con người là vốn quý nhất, yếu tố quyết định mọi thắng lợi của cách mạng Việt Nam. Sinh thời Người từng khẳng định: “Trong bầu trời không gì quý bằng nhân dân. Trong thế giới không gì mạnh bằng lực lượng đoàn kết của nhân dân” [6, tr.276]. Quan điểm đó trước hết thể hiện ở lòng yêu thương vô hạn, sự tin tưởng tuyệt đối vào con người trong nhân cách Hồ Chí Minh. Giáo sư Vũ Khiêu nhận xét: “yêu người mới là cốt lõi trong chủ nghĩa yêu nước và trong tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh” [2, tr.260].  Tất cả sự chịu đựng muôn vàn khó khăn, gian khổ trong cuộc đời bôn ba hoạt động cách mạng, Hồ Chí Minh chỉ có một chủ đích tư tưởng và hành động: làm thế nào để giải phóng đồng bào khỏi áp bức, bóc lộ, nghèo khổ, suốt đời Người chỉ có một ham muốn, đó là “ham muốn tột bật, là làm sao cho nước ta được hoàn toàn độc lập, dân ta được hoàn toàn tự do, đồng bào ai cũng có cơm ăn áo mặc, ai cũng được học hành”[3, tr.161-162].

Lòng yêu thương con người của Hồ Chí Minh theo lập trường cách mạng tất yếu đòi hỏi sự tin tưởng và tôn trọng con người trên cơ sở thấy được vai trò quyết định của con người đối với lịch sử. Hồ Chí Minh khẳng định cách mạng là sự nghiệp của quần chúng, có dân thì có tất cả, không dựa vào dân thì không thể làm được việc gì. Sức mạnh của Đảng, của Nhà nước là dựa trên sức mạnh và sự ủng hộ của nhân dân. Lòng tin của Hồ Chí Minh đối với con người không chỉ ở chỗ thấy được vai trò sức mạnh của nhân dân trong cách mạng mà còn ở chỗ thấy được những khả năng tiềm ẩn của họ.

Thương người, tin người, trọng người tất yếu phải biết tiết kiệm sức người, đây là một nội dung tích cực của chủ nghĩa nhân đạo trong lịch sử tư tưởng.

Tư tưởng Nho giáo có quan niệm của Khổng Tử: “Bớt tiêu dùng và yêu người” và “sai khiến dân đúng thời”. Đến Tuân Tử, ông cho rằng: “tiết kiệm tiêu dùng và làm giàu cho dân”.

Trong lịch sử tư tưởng Việt Nam, coi trọng vốn quý con người gắn liền với chính sách tiết kiệm sức người. Trần Quốc Tuấn coi “khoan thư sức dân để làm kế sâu rễ, bền gốc, đó là thượng sách giữ nước”. Nguyễn Trãi coi: “việc nhân nghĩa cốt ở an dân”… Như vậy, coi trọng và tiết kiệm sức người không chỉ là quy luật tồn vong của một chế độ mà phải trở thành một đường lối, một chính sách trị nước tích cực của mọi thời đại, mọi chế độ chính trị.

Tư tưởng Hồ Chí Minh chứa đựng một hệ thống các quan niệm về tiết kiệm sức người hết sức phong phú, sâu sắc, đó là tiết kiệm sức lao động, tiền công, của công, thời gian, nguyên vật liệu, giấy bút, máy móc, ruộng đất, đặc biệt là tiết kiệm sinh mạng con người trong khởi nghĩa giành chính quyền, trong chiến tranh giải phóng dân tộc và trong mỗi trận đánh… nói cách khác, theo nghĩa rộng, nội dung của nó bao gồm:

Khoan thư sức dân: Tức là “giảm sự đóng góp của nhân dân”, “ra sức bảo vệ sản xuất, bình ổn vật giá”… đặc biệt “Phải bồi dưỡng lực lượng cho dân nhiều hơn yêu cầu đóng góp” [5, tr.464].

An dân: Coi “Nhân hoà là quan trọng hơn hết” [5, tr.479]. Muốn vậy thì: “Nước ta là một nước dân chủ. Mọi công việc đều vì lợi ích của dân mà làm…Khi ai có điều gì oan ức thì có thể do các đoàn thể tố cáo lên cấp trên. Đó là quyền dân chủ của tất cả công dân Việt Nam. Đồng bào cần hiểu rõ và khéo dùng quyền ấy” [5, tr.66].

Dưỡng dân: Phát triển kinh tế – xã hội, phát triển văn hóa – giáo dục, từng bước nâng cao đời sống vật chất – tinh thần của nhân dân. Đó là kế sách “làm cho dân giàu và giáo dục dân”, và cũng là mục tiêu của chủ nghĩa xã hội nước ta. “Phát triển kinh tế và văn hóa tức là dần dần xây dựng chủ nghĩa xã hội” [7, tr.2].

Để tiết kiệm sức người, sức của, Hồ Chí Minh yêu cầu: Mọi chủ trương, chính sách, các công việc đều phải có kế hoạch chu đáo, có chuẩn bị, có lãnh đạo, có trọng tâm, thiết thực và có hướng dẫn chặt chẽ. Trong bài Thiếu óc tổ chức – một khuyết điểm lớn trong các Uỷ ban nhân dân – Báo Cứu quốc ngày 4-10-1945, Hồ Chí Minh nhắc nhở: “…Trong khi làm công tác, kế hoạch đã sơ sài, phân công đã không sáng suốt, rồi sau khi làm lại không chịu kiểm điểm lại” [3, tr.39]. Một trong những nguyên nhân gây lãng phí, kém hiệu quả trong tổ chức lãnh đạo, quản lý chính là sự “chủ quan”, sự “khờ dại” và “quan liêu” của cán bộ. Mặt khác, phải biết quý trọng sáng kiến, phổ biến kinh nghiệm, đảm bảo an toàn lao động, cải tiến kỹ thuật, tăng năng suất lao động, thi đua, chăm lo sức khoẻ và phân phối, sử dụng hợp lý sức lao động… là những biện pháp hữu hiệu, góp phần tiết kiệm sức người, sức của. Trong bài nói chuyện ở Trường cán bộ Công đoàn ngày 19-1-1957, Người nhấn mạnh: “Hiện nay có hai khẩu hiệu: Tăng gia sản xuất và Thực hành tiết kiệm. Hai điều đó phải đi đôi, thiếu một là không được”. [6, tr.296].

Hồ Chí Minh là người khởi xướng và là tấm gương trong các phong trào thi đua tiết kiệm cho kháng chiến và kiến quốc như “tuần lễ vàng”, “quỹ nghĩa thương” trong nông dân, “phong trào mùa đông chiến sỹ”, “hũ gạo kháng chiến”…

Tư tưởng Hồ Chí Minh về tiết kiệm là những giá trị có ý nghĩa to lớn đối với giai đoạn hiện nay. Trong quá trình lãnh đạo cách mạng, Đảng ta đã quán triệt tư tưởng Hồ Chí Minh về tiết kiệm. Sau Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI của Đảng, Đảng ta đã có “Cuộc vận động làm trong sạch và nâng cao hiệu lực quản lý của bộ máy nhà nước; đẩy lùi và xoá bỏ các hiện tượng tiêu cực, làm lành mạnh các quan hệ xã hội và thực hiện công bằng xã hội”. Báo cáo chính trị của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá VII về các văn kiện tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX của Đảng do đồng chí Tổng Bí thư Lê Khả Phiêu trình bày ngày 19 – 4 – 2001 đã nhấn mạnh đất nước ta đang đang phải đối mặt với nhiều thách thức với bốn nguy cơ cơ bản. Trong đó có hai nguy cơ đáng lưu ý là: Tụt hậu xa hơn về kinh tế so với nhiều nước trong khu vực và trên thế giới; nạn tham nhũng và tệ quan liêu trong một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên là một thách thức to lớn đối với sự nghiệp xây dựng Chủ nghĩa xã hội ở nước ta. Vì vậy, tìm hiểu và vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về “tiết kiệm sức dân” đang trở thành vấn đề cấp bách.

Đến nay những nguy cơ đó không những chưa mất đi, mà còn có chiều hướng diễn biến phức tạp, gây những tổn thất lớn cho Đảng, Nhà nước và đời sống của nhân dân. Ở nhiều lĩnh vực, nhiều loại hình kinh tế, và ở các cấp, các ngành nhiều vụ tham nhũng, lãng phí lớn gây thất thoát ngân sách của Nhà nước và tiền của của nhân dân đã được phát hiện và xử lý trong những năm qua. Tình trạng lãng phí, dàn trải trong quy hoạch phát triển và đầu tư công còn lớn. Các dự án treo, sa mạc hoá đất nông nghiệp, rồi các cảng biển, sân bay, các khu kinh tế, nhà máy thép, xi măng, sân golf…được đầu tư xây dựng ở nhiều tỉnh thành bất chấp hiệu quả kinh tế. Nhiều nhà máy không hoạt động được do thiếu nguyên liệu sản xuất, những công trình xây dựng xuống cấp nhanh chóng…là vấn đề chúng ta đang quan tâm hiện nay. Nhân dân hiện cũng đang đối mặt với nạn buôn lậu và hàng giả, hàng nhái, hàng kém chất lượng khiến chúng ta không thể không suy ngẫm. Đặc biệt là tình trạng “lãng phí chất xám”, “bạc hoá chất xám” do những yếu kém trong công tác tổ chức và bố trí cán bộ ở các cấp, các ngành còn diễn ra; một bộ phận cán bộ, công chức những người trong “biên chế” nhà nước làm việc kém hiệu quả, ỷ lại, trông chờ cũng là sự lãng phí lớn đối với “sức dân”. Gần đây, báo giới đã thông tin số liệu rằng: Hiện có khoảng hơn 30% cán bộ, công chức làm việc tương đối tốt, nhưng cũng có khoảng trên 30% không làm việc gì và cũng bằng chừng đó số cán bộ , công chức yếu kém về năng lực. Điều đó không thể không làm ta phải suy nghĩ, trăn trở, dù rằng số liệu chỉ là tương đối.

Văn kiện Đại hội XI của Đảng đã chỉ rõ: “…năng lực cạnh tranh quốc gia chậm được cải thiện. Đầu tư vẫn dàn trải. Hiệu quả sử dụng các nguồn vốn đầu tư còn thấp, còn thất thoát, lãng phí, nhất là nguồn vốn đầu tư của Nhà nước… Chất lượng nhiều công trình xây dựng cơ bản còn thấp. Quản lý, khai thác sử dụng tài nguyên thiên nhiên hiệu quả chưa cao, còn lãng phí… Một số tập đoàn kinh tế và doanh nghiệp nhà nước kinh doanh thua lỗ, gây bức xúc trong xã hội… Chất lượng xây dựng và thực hiện quy hoạch, kế hoạch phát triển một số ngành, vùng, nhất là quy hoạch sử dụng đất đai, tài nguyên khoáng sản còn yếu, gây lãng phí, thất thoát lớn…” [1, tr.166-167]. Và: “…Chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức chưa đáp ứng được yêu cầu nhiệm vụ trong tình hình mới của đất nước… Quan liêu, tham nhũng, lãng phí vẫn còn nghiêm trọng, với những biểu hiện tinh vi, phức tạp, chưa được ngăn chặn, đẩy lùi, gây bức xúc xã hội” [1, tr.172]. Thêm vào đó là: “…Việc đổi mới công tác cán bộ còn chậm; … đánh giá cán bộ vẫn là khâu yếu. Tình trạng chạy chức, chạy quyền, chạy tội, chạy bằng cấp, huân chương chưa được khắc phục. Công tác cán bộ thiếu tầm nhìn xa…” [1, tr.246]

Tất cả những hạn chế, yếu kém và khuyến điểm trên đây đã và đang làm “hao mòn” sức dân, làm giảm sút lòng tin của nhân dân đối với Đảng và Nhà nước; và đó là những rào cản không nhỏ trong quá trình phát triển đất nước. Nó cần được nghiên cứu và giải quyết một cách thấu đáo, triệt để nhằm tạo động lực, củng cố và phát huy sức dân cho phát triển. Và như vậy, trong Cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh” hiện nay, chúng ta không thể không nghiên cứu, quán triệt tư tưởng và tấm gương của Người về “Tiết kiệm sức dân” – một vấn đề có ý nghĩa thời đại và cấp bách hiện nay!

Nguyễn Gia Lộc
bqllang.gov.vn

Bác Hồ, người trồng cây vĩ đại

Các tao nhân mặc khách phương Đông rất yêu thiên nhiên và hay trồng cây, nhưng đến với thiên nhiên là để thoát tục, và trồng cây chỉ mang tính tượng trưng với mấy gốc liễu, mấy khóm cúc, mấy sào đậu, luống rau để thưởng thức hay tiêu sầu. Bác cũng yêu thiên nhiên và thích trồng cây, nhưng với một tư tưởng và phong cách hoàn toàn khác. Bác gắn chặt thiên nhiên với cuộc đời. Bác trồng cây thực sự với một mục đích dân sinh kinh tế thiết thực và lâu dài.

Bh ngươi trong cay
Bác Hồ tham gia Tết trồng cây tại Bất Bạt, Hà Tây, 1969

Bác Hồ là người trồng cây vĩ đại. Yêu cây, trồng cây ở Bác thể hiện năm phẩm chất cách mạng cao đẹp.

Trước hết yêu cây, trồng cây ở Bác là cả một tấm lòng yêu nước, thương đồng bào. Hoa râm bụt là một hình tượng về tấm lòng yêu nước của Bác. Khi còn ẵm ngửa, Bác đã say sưa đùa giỡn với bông hoa râm bụt mà mẹ và chị buộc chỉ treo trước mặt. Trong hành trang đi tìm đường cứu nước, Bác luôn luôn mang theo những hình tượng dân tộc, trong đó có lòng thương người, nụ cười dí dỏm, Truyện Kiều, Chinh phụ ngâm, câu thơ Bà Huyện Thanh Quan, câu hát ru em và cả cây hoa râm bụt. Làm giỗ mẹ chẵn hai mươi năm trên đất Pháp, Bác vẫn tìm được hoa râm bụt cho gà thờ ngậm, đúng như câu ngạn ngữ ngàn xưa ông cha căn dặn “Gà thờ giỗ cha, gà ngậm ngọn trúc/ Gà thờ giỗ mẹ, gà ngậm hoa râm bụt”. Ngày hoạt động ở Xiêm, Bác nhắc anh em trồng cây râm bụt để nhớ về đất nước. Ngày ở chiến khu cũng như khi về ở Thủ đô Hà Nội, nơi Bác ở luôn luôn có cây râm bụt thân thương của quê nhà.

Cây vú sữa là một hình tượng của tấm lòng Bác luôn nhớ thương đồng bào Nam bộ. Năm 1955, đồng bào miền Nam gửi biếu Bác một cây vú sữa và một quả dừa. Cây vú sữa được Bác trồng giữa bờ ao cạnh ngôi nhà Bác ở đầu tiên trong Phủ Chủ tịch. Ngày ngày, tuy bận trăm công nghìn việc của Chủ tịch nước, nhưng trước giờ làm việc buổi sáng hay sau giờ làm việc buổi chiều, Bác Hồ đều chăm sóc tưới cho cây vú sữa. Năm 1958, Bác chuyển sang ở và làm việc bên nhà sàn. Bác cho chuyển cây vú sữa sang trồng cạnh nhà sàn, để Bác chăm sóc được thuận tiện hơn. Hàng ngày làm việc tại nhà sàn, luôn được nhìn thấy cây vú sữa, mỗi khi đi xa về chưa đến cổng nhà sàn Bác đã để ý nhìn cây xanh tốt thế nào. Thấy cây như thấy đồng bào miền Nam, vơi đi nỗi nhớ da diết miền Nam trong trái tim Người. Vào những năm cuối đời, khi sức khỏe đã giảm sút, nỗi nhớ miền Nam dâng tràn, Bác muốn vào miền Nam thăm đồng bào, đồng chí. Nhưng vì hoàn cảnh chiến tranh và sức khỏe nên Bác không vào được. Do vậy, ngày ngày chăm sóc và trông thấy cây vú sữa mang lại cho Bác cảm giác đang ở bên chiến sĩ, đồng bào miền Nam.

Thứ hai, yêu cây, trồng cây ở Bác là cả một chiến lược dân sinh kinh tế thiết thực và lâu dài. Các tao nhân mặc khách xưa kia cũng trồng cây, nhưng chỉ là mấy gốc liễu, mấy khóm cúc hay vài luống rau để thưởng thức hay tiêu sầu. Còn Bác trồng cây với một mục đích nhân sinh rõ ràng. Việc trồng cây của Bác tùy hoàn cảnh thực tế cụ thể mà có khác. Ngày mới giành lại được độc lập, dân ta vừa qua một trận đói chết hai triệu người chưa kịp hồi hơi, Bác đã phát động ngay việc trồng rau màu cứu đói. Ngày ở căn cứ cách mạng hay chiến khu, Bác chủ trương trồng rau màu là để góp phần cải thiện đời sống cán bộ, chiến sĩ, giảm nhẹ sự đóng góp của nhân dân. Bác thả cải xoong trên dòng suối, làm vườn rau bên lán ở, hướng dẫn chiến sĩ rải đất trồng rau trên vách đá. Khi kháng chiến chống Pháp thắng lợi, cải cách ruộng đất thành công, cái ăn cái mặc của dân bước đầu đã được đảm bảo, Bác liền phát động Tết trồng cây chuẩn bị cho dân có gỗ làm nhà. Bác kêu gọi trồng cây gây rừng, phủ xanh đồi trọc, là mong trồng những rừng vàng mang lại những núi tiền vô tận làm giàu cho Tổ quốc.

Thứ ba, yêu cây, trồng cây ở Bác là cả một phong cách khoa học. Bác gắn bó với cây với bản chất của một người lao động cần cù đất Việt. Ngày ở Pháp có lúc Bác đã kiếm sống bằng nghề làm vườn. Ngày hoạt động ở Xiêm, rồi ở khu căn cứ Pác Bó, Tân Trào, chiến khu Việt Bắc, cho đến khi về ở Thủ đô Hà Nội, Bác luôn luôn tăng gia sản xuất một cách hoàn toàn tự giác và tổ chức lôi cuốn mọi người cùng làm theo. Bác không phải trồng cây với tính tượng trưng để động viên phong trào, mà Bác đã lao động thường xuyên và thật sự. Bác trồng cây với một phong cách khoa học. Trước hết phải chọn cây gì có lợi ích thiết thực, hiệu quả rõ ràng, trồng cây nào phải tốt cây ấy. Khi trồng rau phục vụ nhà ăn, Bác đã chọn cây cải canh thu hoạch nhiều lần, chứ không phải cây cải củ chỉ thu một lượt. Đi đâu thấy cây gì sinh lợi được cho dân là Bác đem về trồng như cây cọ dầu Hải Nam. Cảm động nhất là Bác đã du nhập cây săng xanh không rụng lá về định làm cây đường phố cho người quét rác đỡ vất vả.

Thứ tư, yêu cây, trồng cây ở Bác còn là một phương thức trồng người. Liên hệ ngôn ngữ phương Tây thấy từ Trồng trọt trong tiếng Pháp, tiếng Anh, tiếng Nga cùng có một nguồn gốc chữ La – tinh cultura, đều có hai nghĩa; vừa là trồng trọt, vừa là văn hóa. Cái cây xưa kia mọc tự nhiên ở trong rừng hay ngoài bãi, con người đã biết lấy bàn tay và khối óc của mình mà thuần hóa nó, nghĩa là trồng trọt nó, vì lợi ích của bản thân con người, cái cây được trồng trọt đó trở thành một sản phẩm văn hóa. Và nói rộng ra, tất cả những cái gì do lao động và tư duy con người cải tạo hay sáng tạo đều gọi là văn hóa. Chính bản thân con người, một động vật sinh ra trong tự nhiên, có thể nói, nó tự trồng mình bằng lao động và tư duy để trở thành con người, và con người cũng là một sản phẩm văn hóa. Văn hóa tựu trung là cái làm cho con người khác con vật.

Quả thật, lời nói của Hồ Chủ tịch, đặt song song trồng cây và trồng người, có một ý nghĩa triết lý và thực tiễn rộng lớn, bao trùm. Bác Hồ quan tâm da diết đến việc trồng người, nhất là việc giáo dục thanh thiếu niên. Bác từng nói: “Muốn xây dựng chủ nghĩa xã hội trước hết cần có con người xã hội chủ nghĩa”, và, vì tương lai lâu dài của sự nghiệp cách mạng, ngay trong Di chúc của Người để lại, Bác cũng nhắc nhở đến việc chăm lo giáo dục cho các thế hệ mai sau… Ta nghĩ đến Nguyễn Trãi xưa đi tìm cái thiện chân, thiên tính trong “đạo tự nhiên”. Ông chủ trương “ẩn cả” (tức đại ẩn) ngay giữa nơi triều đường để lo việc nước việc dân. Cả hai vị anh hùng dân tộc đều có cái phong thái của bậc hiền triết phương Đông, nắm được cái triết lý con người thống nhất với thiên nhiên như một thể hoàn chỉnh, và đều mang tấm lòng nhân ái mênh mông, tựu trung là để lo việc trồng cây và trồng người.

Thứ năm, yêu cây, trồng cây ở Bác là một phong thái triết học cách mạng phương Đông. Theo Giáo sư Trần Văn Giàu: Có tâm hồn cách mạng, Cụ Hồ thương người. Có tâm hồn thi nhân, Cụ Hồ yêu thiên nhiên. Yêu thiên nhiên của Cụ Hồ và yêu thiên nhiên của Lão Trang có khác và khác xa. Cụ Hồ yêu thiên nhiên không phải để tiêu dao, xa trần tục. Cụ Hồ yêu thiên nhiên mà gắn liền thiên nhiên với cuộc chiến đấu giải phóng dân tộc và giải phóng con người. Ở thiên nhiên Cụ Hồ thấy một con người cổ vũ, chia vui buồn. Ở thiên nhiên Cụ Hồ cũng tìm thấy một sự quân bình trong tâm hồn sau những giờ làm việc căng thẳng.

Ở Cụ Hồ, thiên nhiên như có tính người, thiên nhiên được nhân hóa, thiên nhiên là bạn tri âm, bạn chiến đấu của Người… Yêu nước, yêu dân, yêu con người một cách nồng nhiệt, Cụ Hồ cũng yêu thiên nhiên một cách nồng thắm, hòa hiệp thiên nhiên với cuộc đấu tranh vì phẩm chất và tự do của con người. Ắt có quan hệ gần gũi giữa tình yêu thiên nhiên với trạng thái tâm hồn thanh thản, tỉnh táo, ung dung trong lúc bình cũng như trong khi biến.

Tìm hiểu tình yêu thiên nhiên, quan điểm lao động và sự nghiệp trồng cây của Bác, ta thấy Bác quả là một con người vĩ đại, trọn đời lo dân lo nước. Tết trồng cây là một tục lệ tốt đẹp Bác để lại cho dân ta, không ngừng làm đẹp non sông, làm giàu cho dân nước.

Nguyễn Thế Nữu
Theo http://nongnghiep.vn
Thu Hiền
(st)

bqllang.gov.vn