Tag Archive | Hồ Chí Minh

Đại biểu Hội nghị toàn quốc ngành Kiểm sát nhân dân vào Lăng viếng Chủ tịch Hồ Chí Minh

VKS
Đoàn đại biểu vào Lăng viếng Chủ tịch Hồ Chí Minh

Sáng ngày 06/12/2012, hơn 900 đại biểu Hội nghị toàn quốc ngành Kiểm sát nhân dân đã đặt vòng hoa và vào Lăng viếng Chủ tịch Hồ Chí Minh. Vòng hoa của Đoàn mang dòng chữ “Đời đời nhớ ơn Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại”.

Các đại biểu tham dự Hội nghị gồm các đồng chí: Nguyễn Hoà Bình -Viện trưởng Viện Kiểm sát nhân dân tối cao, các Phó Viện trưởng Viện Kiểm sát nhân dân tối cao; lãnh đạo Viện kiểm sát quân sự Trung ương; Viện trưởng Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương; Viện trưởng Viện Kiểm sát nhân dân cấp huyện; Viện trưởng Viện Kiểm sát  quân sự cấp quân khu và khu vực; Tổ Thư ký và các đồng chí Thư ký lãnh đạo Viện Kiểm sát nhân dân tối cao.

Hội nghị toàn quốc ngành Kiểm sát nhân dân diễn ra tại Hà Nội trong 2 ngày từ ngày 06 đến ngày 07 tháng12 năm 2012 với nội dung: Tổng kết thực tiễn 10 năm thi hành Luật Tổ chức Viện Kiểm sát nhân dân năm 2002, Pháp lệnh Kiểm sát viên Viện Kiểm sát nhân dân năm 2002 và Pháp lệnh Tổ chức Viện Kiểm sát quân sự năm 2002; Tổng kết thực tiễn 08 năm thi hành Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2003; Thảo luận ý kiến về những định hướng cơ bản sửa đổi Luật Tổ chức Viện Kiểm sát nhân dân và Bộ luật Tố tụng Hình sự; Triển khai thực hiện Nghị quyết số 522b/NQ -UBTVQH13 ngày 16/8/2012 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội về trang phục của ngành Kiểm sát nhân dân.

Hải Yến
bqllang.gov.vn

Bác Hồ của chúng ta là như vậy đó

Chuyện kể về NgườiHơn 40 năm làm công tác dân vận – Mặt trận, với trách nhiệm được giao, tôi có hạnh phúc lớn là được tiếp xúc với nhiều chính khách, nhiều nhân sĩ, trí thức nổi tiếng, các vị tiêu biểu của các dân tộc, các tôn giáo, trong đó không ít người đã được Bác Hồ cảm hóa, trở thành cộng sự thân thiết của Bác, tiếp thu tư tưởng của Người và đã có những đóng góp to lớn vào sự nghiệp đại đoàn kết dân tộc và xây dựng Mặt trận Dân tộc thống nhất.

Mỗi lần kỷ niệm Ngày sinh của Chủ tịch Hồ Chí Minh lại một lần anh chị em làm công tác Mặt trận chúng tôi có dịp được nghe chính những người trong cuộc kể lại những câu chuyện đầy xúc động về tầm nhìn xa, trông rộng, lòng bao dung, độ lượng, sức hút kỳ diệu và tài cảm hóa lạ thường của Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Những câu chuyện đó được anh em chúng tôi ghi chép đầy đủ. Nhân dịp kỷ niệm 66 năm ngày Cách mạng tháng Tám thành công và Quốc khánh nước Cộng hòa XHCN Việt Nam, tôi trích đăng chuyện kể của Luật sư Phan Anh, Phó Chủ tịch thứ nhất Đoàn Chủ tịch UBTƯ MTTQ Việt Nam khóa III, tại buổi họp mặt của Mặt trận ngày 10-5-1990 kỷ niệm 100 năm Ngày sinh của Bác Hồ. Không ai nghĩ rằng đây là buổi nói chuyện cuối cùng của Luật sư tại cơ quan Mặt trận vì chỉ sau đó hơn một tháng, ngày 28-6-1990 luật sư Phan Anh đã vĩnh biệt chúng ta. Tiêu đề bài viết này chính là câu kết bài nói của Luật sư.

Ông kể: Theo tôi nhớ, từ trung tuần tháng 7 đến trung tuần tháng 8-1945, những cuộc thương lượng giữa Chính phủ Trần Trọng Kim với Việt Minh diễn ra dồn dập tại Hà Nội. Mở đầu là việc ông Lê Trọng Nghĩa với vai giáo sư Lê Ngọc đã có cuộc tiếp xúc đầu tiên với Khâm sai đại thần Phan Kế Toại ngay tại Phủ khâm sai trong giờ hành chính. Tiếp đó là cuối tháng 7, Thủ tướng Trần Trọng Kim ra Bắc Bộ để thị sát thực địa và điều đình với Nhật cũng đã được ông Phan Kế Toại bố trí tiếp xúc với đại diện Việt Minh ở Hà Nội.

Trước tình hình chuyển biến mau lẹ, ngày 18-8 Khâm sai Phan Kế Toại lại gặp các ông Nguyễn Khang, Lê Trọng Nghĩa, Trần Đình Long tại Phủ khâm sai, chính thức mời Việt Minh cộng tác với Chính phủ Trần Trọng Kim và sẵn sàng chờ Mặt trận cử người tham gia Chính phủ. Cùng ngày, Bộ trưởng Hoàng Xuân Hãn cũng xin gặp Việt Minh, mời Việt Minh tham gia Chính phủ mở rộng và đề nghị trong tình hình quân Đồng minh đang trên đường vào Việt Nam mong cuộc thương lượng tiếp tục, Việt Minh nên nắm vùng nông thôn, Chính phủ lâm thời quản lý các thành phố để có danh nghĩa nói chuyện với Đồng minh.

Tất cả các cuộc thương lượng đều không có kết quả. Ông Trần Trọng Kim giao tôi làm thuyết khách cuối cùng với hy vọng: Với “tài hùng biện của Phan Anh” may ra còn cứu vãn được tình thế.

Nể lời Thủ tướng Trần Trọng Kim, tôi nhận lời và chuẩn bị kỹ cho cuộc gặp.

Tôi còn nhớ, ngày 25-8 Chủ tịch Hồ Chí Minh từ Tân Trào về Hà Nội. Ngày 26, Người chủ trì Hội nghị Ban Thường vụ Trung ương Đảng. Ngày 28, báo chí Hà Nội công bố danh sách 15 thành viên của Chính phủ cách mạng do Bác làm Chủ tịch. Cũng ngày đó, tôi đến gặp lại giáo sư Hoàng Minh Giám – một trí thức tiêu biểu của nước ta, thầy Hiệu trưởng trường Thăng Long xưa mà tôi đã một thời dạy học ở đó. Ông lúc này là Đổng lý Văn phòng Bộ Nội vụ và được Giáo sư cho biết Cụ sẽ tiếp tôi vào 9 giờ sáng hôm sau. Hay tin tôi ra “đấu tranh” với Chủ tịch Hồ Chí Minh, chú Phan Mỹ – em tôi, một cán bộ cách mạng, vội gặp tôi can ngăn:

– Từ trước đến nay, tôi vẫn phục Anh, coi Anh là thần tượng. Nhưng với việc anh định “đấu tranh” với Cụ thì Anh mê muội quá chừng. Anh muốn “đội đá, vá trời” chăng? – Tôi chỉ mỉm cười, chẳng phản đối, cũng chẳng thanh minh.

Đúng giờ, tôi đến địa điểm hẹn. Tôi quá bất ngờ và đi từ ngạc nhiên này đến ngạc nhiên khác. Đón tôi là một ông Tiên thực thụ. Cụ vận bộ kaki bạc màu, đi đôi bata của đồng bào dân tộc Tày. Cụ không chờ tôi lên mà dáng nhanh nhẹn, Cụ vội bước xuống ngang chỗ tôi đứng bắt tay:

– Tôi đã chờ chú từ lâu. Người nói – Trước khi ra Bắc, chú đã về quê choa chưa?

Tôi bối rối và thực sự xúc động. Những điều lâu nay tôi chuẩn bị công phu nay tan biến cả trước một con người cao sang nhưng không xa cách, một vĩ nhân xa quê hương, đất nước hơn một phần ba thế kỷ nhưng vẫn không quên thổ ngữ thân thương. Tôi ấp úng trả lời:

– Thưa Cụ, con chưa kịp về quê nhà.

Cụ ôm eo tôi cùng bước lên, đưa tôi vào phòng khách. Đồng chí Đàm Quang Trung (1) lúc đó là Đội trưởng đội bảo vệ Bác vào định rót nước mời khách.

Cụ ngăn:

– Chú Phan Anh là khách của Bác, để Bác tiếp. Chú cứ lo việc của chú. Chính tay Bác rót nước mời tôi, thân mật như cha con lâu ngày gặp lại.

Vừa uống nước, Cụ vừa giải thích cho tôi hiểu tình hình thời cuộc và đời sống cùng cực của dân ta hiện nay. Cụ nói ý:

– Dân ta bao năm một cổ đôi tròng, sống dưới chế độ áp bức của thực dân, phong kiến và phát xít Nhật. Nay ta đã giành được độc lập, phải mau chóng tái thiết quốc gia để dân có cơm ăn, áo mặc, được học hành. Chú là người tài cao, học rộng, tôi đề nghị chú ra gánh vác việc nước và trực tiếp làm Chủ tịch Ủy ban Kiến thiết quốc gia.

Tôi ngỡ ngàng trước một sự việc mà mình chưa bao giờ nghĩ tới, liền thưa:

– Thưa Cụ, con chỉ được đào tạo về luật chứ chưa được đào tạo về kiến thiết xây dựng.

– Thế tôi có được ai đào tạo để làm Chủ tịch nước đâu? Dân giao thì mình phải làm, phải vừa làm, vừa học và làm cho tốt, cho thật tốt.

Bác Hồ của chúng ta là như vậy đó. Ngày 29-8-1945 là ngày mà Bác Hồ đổi đời cho tôi, cho gia đình tôi.

45 năm đã trôi qua, tôi lớn lên theo cách mạng, lớn lên theo sự dìu dắt, bảo ban của Người, của Bác Hồ kính yêu của chúng ta.

Con đường mà Luật sư đi theo cách mạng là như vậy. Luật sư Phan Anh là Chủ tịch đầu tiên của Ủy ban Kiến thiết quốc gia của nước ta.

Ngày 2-3-1946 Chính phủ liên hiệp quốc gia được thành lập do Chủ tịch Hồ Chí Minh đứng đầu, ông được mời giữ chức Bộ trưởng Quốc phòng. Tháng 7-1946 ông được Chính phủ giao trọng trách Tổng Thư ký Phái đoàn Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đi dự Hội nghị Fontainbleau đàm phán với Chính phủ Pháp.

Trong những năm kháng chiến chống Pháp, ông từng đảm nhiệm các chức vụ: Bộ trưởng Bộ Kinh tế (1948), Bộ trưởng Bộ Công thương (1954). Tháng 7-1954, ông là phái viên Phái đoàn Việt Nam đàm phán tại Hội nghị Giơnevơ.

Sau Hiệp định Giơnevơ, Đảng, Nhà nước và Chủ tịch Hồ Chí Minh giao ông đảm nhận nhiều trọng trách: Bộ trưởng Bộ Kinh tế, Bộ trưởng Bộ Thương nghiệp rồi Bộ trưởng Bộ Ngoại thương.

Luật sư Phan Anh là đại biểu Quốc hội từ khóa II đến khóa VIII, là Phó Chủ tịch Quốc hội khóa VII. Ông cùng luật sư Nguyễn Mạnh Tường sáng lập Hội Luật gia Việt Nam và trở thành vị Chủ tịch đầu tiên của Hội và là Ủy viên Thường vụ của Hội Luật gia dân chủ thế giới.

Đối với sự nghiệp đại đoàn kết dân tộc và hoạt động của Mặt trận Dân tộc thống nhất, luật sư Phan Anh là thành viên của Ban Vận động thành lập Hội Liên hiệp quốc dân Việt Nam. Ngày 29-5-1946 khi Hội chính thức được thành lập, ông được cử làm Ủy viên Thường vụ.

Ngày 10-9-1955 MTTQ Việt Nam ra đời, ông tiếp tục được cử làm Ủy viên Đoàn Chủ tịch UBTƯ MTTQ Việt Nam cho đến khi Đại hội thống nhất các tổ chức Mặt trận trong phạm vi cả nước vào tháng 2-1977.

Tại Đại hội I và Đại hội II MTTQ Việt Nam, luật sư Phan Anh được cử làm Ủy viên Đoàn Chủ tịch. Và tại Đại hội III ông được cử làm Phó Chủ tịch thứ nhất Đoàn Chủ tịch UBTƯ MTTQ Việt Nam.

Luật sư Phan Anh là một trí thức tiêu biểu, tài năng và đức độ, một nhà hùng biện nổi tiếng, một trong những nhân vật đã từng được cộng tác mật thiết bên cạnh Bác Hồ trong nhiều năm và đã có những cống hiến to lớn vào việc xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân và Mặt trận Dân tộc thống nhất.

 Nguyễn Túc
(Ủy viên Đoàn Chủ tịch UBTƯ MTTQ Việt Nam)
daidoanket.vn

(1) Sau này là Thượng tướng, Phó Chủ tịch Hội đồng Nhà nước

Lễ báo công dâng Bác của Hội Chữ thập đỏ tỉnh Vĩnh Phúc

Nhân kỷ niệm 66 năm Ngày thành lập Hội Chữ thập đỏ Việt Nam (23/11/1946 – 23/11/2012), ngày 02 tháng 12 năm 2012, Đoàn đại biểu Hội Chữ thập đỏ tỉnh Vĩnh Phúc gồm cán bộ, hội viên, tình nguyện viên tiêu biểu cho trên 1000 tình nguyện viên Chữ thập đỏ của tỉnh đã hội tụ về Quảng trường Ba Đình lịch sử, trước Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại long trọng tổ chức lễ báo công dâng lên Bác những kết quả đã đạt được trong suốt chặng đường phát triển vừa qua.

Hoi chu thap do vinh phucĐoàn đại biểu vào Lăng viếng Chủ tịch Hồ Chí Minh

Khắc sâu lời dạy của Người: “Phải xuất phát từ tình thương yêu nhân dân tha thiết, mà góp phần bảo vệ sức khỏe của nhân dân và làm việc có thể làm được để giảm bớt đau thương cho họ”, các thế hệ cán bộ, hội viên, thanh thiếu niên và tình nguyện viên Hội Chữ thập đỏ tỉnh Vĩnh Phúc luôn khắc phục khó khăn, học tập nâng cao trình độ, tâm huyết, trách nhiệm với xã hội để chia sẻ, giúp đỡ cho những đối tượng có hoàn cảnh khó khăn trong cộng đồng, giá trị trợ giúp nhân đạo, số lượng người được trợ giúp ngày càng nhiều hơn.

Hiện nay, Hội Chữ thập đỏ tỉnh Vĩnh Phúc có trên 1000 tình nguyện viên là những người hoạt động bằng sự nhiệt tình và tinh thần tự nguyện để cống hiến khả năng, kiến thức và sự hiểu biết của mình tham gia vào các hoạt động nhân đạo. Họ xuất thân từ mọi tầng lớp xã hội, làm mọi ngành nghề khác nhau như: Các bác là lão thành cách mạng, sỹ quan quân đội, các thầy cô giáo đã nghỉ hưu, cán bộ, công chức, các y bác sỹ, doanh nhân, học sinh, sinh viên… Người lớn tuổi nhất là 84 và người nhỏ tuổi nhất là 18… Họ tâm huyết với việc làm từ thiện, mang lại lợi ích cho những người dễ bị tổn thương trong cộng đồng.

Hội Chữ thập đỏ tỉnh Vĩnh Phúc có hơn 30 đội, nhóm tình nguyện viên, hoạt động trên 7 lĩnh vực hoạt động của Hội như: Cứu trợ khẩn cấp và trợ giúp nhân đạo (có Đội tình nguyện viên vận động quỹ bằng nhiều hình thức như: Đặt thùng gạo tình thương, biểu diễn văn nghệ gây quỹ, nồi cháo tình thương, hỗ trợ học bổng, đi tìm địa chỉ nhân đạo…); chăm sóc sức khỏe nhân dân dựa vào cộng đồng (có Đội y bác sỹ tình nguyện chăm sóc sức khỏe tại nhà, có Đội y bác sỹ Phục hồi chức năng…); sơ cấp cứu ban đầu (có Đội tình nguyện viên xe ôm, sơ cấp cứu tai nạn giao thông; Đội tình nguyện viên sơ cấp cứu đuối nước, Đội bác sỹ tình nguyện là giảng viên sơ cấp cứu công nghiệp, mầm non, tiểu học…); hiến máu tình nguyện (có Câu lạc bộ thanh niên Chữ thập đỏ tuyên truyền hiến máu nhân đạo, có ngân hàng máu điện tử với hàng trăm tình nguyện viên tham gia…); tuyên truyền các giá trị nhân đạo, phòng ngừa và ứng phó thảm họa…

Tuy phải đối mặt với những thách thức lớn như: Biến đổi khí hậu; tình trạng đô thị hóa; khủng hoảng kinh tế; phân hóa giàu nghèo… nhưng đội ngũ tình nguyện viên của Hội đã khẳng định được những đóng góp quan trọng của mình đối với cộng đồng và xã hội. Mỗi hoạt động của Hội, mỗi hành động của cán bộ, hội viên, thanh thiếu niên, tình nguyện viên đã và đang góp phần thực hiện tốt hơn chính sách xóa đói, giảm nghèo của Đảng và Nhà nước ta.

Thay mặt cán bộ, hội viên, tình nguyện viên Hội Chữ thập đỏ tỉnh Vĩnh Phúc, đồng chí Hà Đình Kính – Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Hội Chữ thập đỏ Việt Nam, Chủ tịch Hội Chữ thập đỏ tỉnh Vĩnh Phúc xin hứa với Bác sẽ hành động: “Làm nhiều hơn – Làm tốt hơn – Vươn xa hơn”. Kết thúc buổi lễ, Đoàn đại biểu đã kính cẩn đặt vòng hoa và vào Lăng viếng Chủ tịch Hồ Chí Minh./.

Trần Tiên Long

bqllang.gov.vn

Noi gương nhà giáo Nguyễn Tất Thành – Hồ Chí Minh

Bác Hồ luôn đặc biệt quan tâm đến sự nghiệp trồng người - Ảnh tư liệu

Bác Hồ luôn đặc biệt quan tâm đến sự nghiệp trồng người – Ảnh tư liệu

Nhà giáo Nguyễn Tất Thành – Hồ Chí Minh tấm gương sáng ngời về đạo đức, tinh thần tự học và sự sáng tạo để mọi người học tập và noi theo.

Sinh thời, Bác Hồ thường căn dặn các thầy giáo, cô giáo phải có ý thức tổ chức kỷ luật, ý thức và trách nhiệm phục vụ nhân dân trong các hoạt động giáo dục, đấu tranh chống chủ nghĩa cá nhân, tệ quan liêu, tham nhũng, lãng phí và các tiêu cực trong giáo dục.

Trong cuộc đời của mình, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã có những thời điểm trực tiếp là nhà giáo. Từ tháng 9 năm 1910 đến trước tháng 2  năm 1911, người thanh niên Nguyễn Tất Thành dạy học ở Trường Dục Thanh, Phan Thiết. Sau khi đến với chủ nghĩa Mác – Lênin, trong những năm 1925-1927, Nguyễn Ái Quốc về Quảng Châu (Trung Quốc), trực tiếp mở các lớp huấn luyện chính trị cho thanh niên, thiếu niên Việt Nam yêu nước; trực tiếp lãnh đạo và là giảng viên chính của các khóa học.

Thông qua các bài giảng và thảo luận ở tổ, nhà giáo Nguyễn Ái Quốc phân tích, so sánh làm cho học viên nhận thức sâu sắc tính chất triệt để, đến nơi đến chốn của cuộc Cách mạng Tháng Mười Nga so với các cuộc cách mạng tư sản Anh, Pháp, Mỹ, từ đó lựa chọn con đường của cách mạng Việt Nam: Ðộc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội.

Năm 1941, sau 30 năm bôn ba ở nước ngoài, Nguyễn Ái Quốc về nước trực tiếp lãnh đạo phong trào cách mạng Việt Nam. Người luôn chăm lo việc đào tạo và bồi dưỡng đội ngũ cán bộ cho cách mạng; tổ chức và chỉ đạo từng bước xây dựng nền giáo dục cách mạng, nhằm thực hiện công cuộc nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực và bồi dưỡng nhân tài cho đất nước, giáo dục và đào tạo thế hệ trẻ.

Quá trình từ nhà giáo yêu nước Nguyễn Tất Thành, đến nhà giáo Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh, khi đã là người cộng sản, cũng chính là quá trình nhà giáo Nguyễn Tất Thành – Hồ Chí Minh phấn đấu không mệt mỏi để tự học, khổ luyện trong mọi khó khăn, gian khổ để rèn luyện đạo đức, ý chí cách mạng và qua đó sự sáng tạo của Người bộc lộ sáng ngời trên mọi lĩnh vực công tác.

Nhà giáo Nguyễn Tất Thành – Hồ Chí Minh tấm gương sáng ngời về đạo đức, tinh thần tự học và sự sáng tạo để mọi người học tập và noi theo.

Ðạo đức là một trong những vấn đề quan tâm hàng đầu và xuyên suốt của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong sự nghiệp cách mạng. Ðặt đạo đức ở vị trí là gốc, là nguồn, là nền tảng của người cách mạng, Chủ tịch Hồ Chí Minh thường xuyên tự tu dưỡng đạo đức về mọi mặt để làm gương giáo dục, rèn luyện đạo đức cho cán bộ, đảng viên, công nhân, nông dân, trí thức, bộ đội, công an, thanh niên, thiếu nhi, giáo viên, học sinh và sinh viên, v.v.

Nêu gương đạo đức, nói đi đôi với làm là nét đẹp trong văn hóa phương Ðông và văn hóa Việt Nam được Chủ tịch Hồ Chí Minh tiếp thu, vận dụng và trở thành nguyên tắc chỉ đạo xây dựng đời sống mới và rèn luyện hằng ngày của Người. Lời nói phải đi đôi với việc làm, thì mới đem lại hiệu quả thiết thực cho chính bản thân mình và có tác dụng đối với người khác. Do đó, Bác Hồ căn dặn: “… một tấm gương sống còn có giá trị hơn một trăm bài diễn văn tuyên truyền” .

Sinh thời, Bác Hồ thường căn dặn các thầy giáo, cô giáo phải có ý thức tổ chức kỷ luật, ý thức và trách nhiệm phục vụ nhân dân trong các hoạt động giáo dục, đấu tranh chống chủ nghĩa cá nhân, tệ quan liêu, tham nhũng, lãng phí và các tiêu cực trong giáo dục; yêu nghề, yêu ngành, yên tâm công tác, mô phạm trong quan hệ với nhân dân, đồng nghiệp và người học, thương yêu học sinh và sinh viên; đoàn kết, giúp đỡ đồng nghiệp cùng hoàn thành tốt nhiệm vụ, thật thà phê bình, đấu tranh, ngăn chặn nhà giáo vi phạm pháp luật và quy định nghề nghiệp. Thầy giáo, cô giáo phải có chí khí cao thượng, phải “tiên ưu hậu lạc”, nghĩa là khó khăn thì phải chịu trước thiên hạ, sung sướng thì hưởng sau thiên hạ.

Nhà giáo Nguyễn Tất Thành – Hồ Chí Minh còn nêu tấm gương sáng ngời về tu dưỡng đạo đức suốt đời. Hằng ngày, Người chăm lo tu dưỡng bản thân, ung dung tự tại, lạc quan, yêu đời, không chủ quan, tự mãn, thắng không kiêu, bại không nản. Ðồng thời, Người còn đề xuất  nhiều phong trào quần chúng rộng rãi để rèn luyện đạo đức cho đội ngũ cán bộ, bộ đội, công nhân, nông dân, thanh – thiếu nhi. Trong ngành giáo dục, Bác Hồ đã khởi xướng phong trào thi đua “Dạy tốt, học tốt” từ năm 1961 và trở thành truyền thống của nhà giáo, học sinh và sinh viên từ đó đến nay.

Tự học là quá trình tự thân vận động của mỗi người để tích lũy những tri thức, kỹ năng, kinh nghiệm lịch sử – xã hội mà nhân loại tích lũy được trong quá trình phát triển, biến nó thành kinh nghiệm và kỹ năng riêng cho cá nhân mỗi người. Ngoài những tri thức ban đầu học được ở các thầy giáo khi còn nhỏ ở quê và khi còn trên ghế nhà trường ở Huế, thì suốt cuộc đời của Chủ tịch Hồ Chí Minh, các tri thức, kiến thức có được chủ yếu là do tự học và bản thân không ngừng tự học.

Mục tiêu và động cơ học tập được Bác Hồ xác định rõ: Học để biết, học để làm việc, học để làm người, học để chung sống, học để phục vụ Tổ quốc và nhân dân, học để thực hiện nhiệm vụ cách mạng do Ðảng và nhân dân giao phó, học để phục vụ nhân loại. Do đó, Bác Hồ rất chủ động và tự giác trong học tập.

Nguyễn Ái Quốc tự học ở sách báo, học ở bạn bè và những người cùng hoạt động, học ở trên tàu, học ở thực tiễn cách mạng của nhân dân lao động trên thế giới, học mọi nơi và mọi lúc, v.v. Người đã khắc phục mọi khó khăn, tự lao động nuôi sống bản thân, hoạt động cách mạng và học tập, tìm lấy phương pháp tự học, tự nghiên cứu để học ngoại ngữ, văn hóa, chính trị, quân sự và các lĩnh vực mà Người quan tâm.

Ngày nay, sự tự học của nhà giáo vừa là quá trình để tự hoàn thiện mình vừa là tấm gương cho học trò. Học tập để nâng cao phẩm chất đạo đức, trình độ chính trị, chuyên môn, ngoại  ngữ và nghiệp vụ để phục vụ công tác và hoạt động giáo dục. Rèn luyện và sáng tạo nên phương pháp tự học, năng lực tự học, tự nghiên cứu để chiếm lĩnh tri thức khoa học, công nghệ và nghệ thuật sư phạm.

Sáng tạo là đổi mới, là tạo nên những sự vật mới, giá trị mới tốt đẹp hơn. Cách mạng là sáng tạo và sáng tạo là bản chất của cách mạng. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nêu cho chúng ta tấm gương sáng ngời về sự sáng tạo. Sáng tạo về phương pháp tự học, sáng tạo về phương pháp lãnh đạo và chỉ đạo cách mạng, sáng tạo trong các hoạt động thực tiễn hằng ngày.

Nhờ đó, Người đã kế thừa và phát triển được những giá trị truyền thống tốt đẹp của dân tộc, tiếp thụ được tinh hoa văn hóa của nhân loại; tiếp nhận, vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác – Lênin vào điều kiện cụ thể của nước ta, dẫn dắt cách mạng nước ta đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác.

Ngày nay, sáng tạo của nhà giáo là sự đổi mới, là tạo ra cái mới trong hoạt động giáo dục và quản lý giáo dục, góp phần  nâng cao chất lượng giáo dục. Các nhà giáo chân chính đều sáng tạo không ngừng trong các hoạt động của mình. Sáng tạo trong vận dụng tri thức và công nghệ mới vào quá trình giảng dạy, nghiên cứu khoa học và chuyển giao công nghệ. Chế tạo đồ dùng dạy học mới, hoặc cải tiến đồ dùng dạy học đã có phù hợp với điều kiện cụ thể của bài dạy, lớp học và người học.

Ðổi mới phương pháp giảng dạy, áp dụng công nghệ thông tin vào bài giảng. Kịp thời phát hiện và xử lý tốt các tình huống sư phạm. Biết phát hiện và bồi dưỡng những người học có năng khiếu, học giỏi, đồng thời biết bồi dưỡng và phụ đạo những người học yếu kém. Ðổi mới, cải tiến phương pháp quản lý nhà trường, quản lý học sinh, sinh viên và người học, nâng cao chất lượng và hiệu quả giáo dục – đào tạo.

Mỗi nhà giáo thường xuyên rèn luyện đạo đức, năng lực tự học và sáng tạo theo gương nhà giáo Nguyễn Tất Thành – Hồ Chí Minh sẽ là bước đột phá, góp phần xây dựng đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục trong sạch và vững mạnh, tạo động lực thúc đẩy đổi mới mạnh mẽ sự nghiệp giáo dục – đào tạo, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước trong giai đoạn mới.

TS. Phạm Văn Thanh
Theo pup.edu.vn
Phương Thúy
(st)

bqllang.gov.vn

Chuyện đặt tượng Bác ở thành Len

Làm rể Việt Nam, GSTS Vladimir Kolotov là người làm rất nhiều việc có ích cho quê vợ. Anh là một trong những người chủ chốt trong việc lập Viện Hồ Chí Minh đầu tiên ngoài lãnh thổ Việt Nam và đặt tượng Bác Hồ ở Đại học Quốc gia Saint Petersburg, Liên bang Nga.

len 1Khai trương tượng Bác Hồ trong khuôn viên Viện Hồ Chí Minh ở St. Petersburg.

Tôi gặp Vladimir Kolotov lần đầu ở Trung ương Hội Hữu nghị Việt – Nga cuối năm 2009. Khi ấy nhà khoa học người Nga trẻ trung, phong độ ấy để lại cho tôi ấn tượng là một người dễ xúc động: Tôi thấy anh rơi nước mắt khi nghe nhắc đến việc Việt Nam vừa khánh thành tượng đài tưởng niệm quân nhân Nga/Xô Viết hi sinh khi làm nhiệm vụ ở căn cứ hải quân Cam Ranh.

Bẵng đi gần hai năm, hôm bật ti vi xem lại cầu truyền hình trực tiếp Hà Nội – Mátxcơva “Bài ca chiến thắng” đầu tháng 11 năm 2011, tôi thấy Vladimir cầm mic dẫn chương trình ở đầu cầu Mátxcơva bằng tiếng Việt. Hôm gặp lại cũng ở Hội Việt-Nga cuối tháng 11 năm 2011, tôi hỏi về việc làm chương trình, anh bảo: “Tôi không dám xem lại nữa. Tiếng Việt của tôi hôm đó khủng khiếp”.

Té ra hôm đó người đảm nhiệm bản dịch tiếng Nga cứ đọc gần như đồng thời với Vladimir, mà anh thì không được trang bị tai nghe cách âm, thành ra mọi thứ cứ loạn cả lên, không giữ được sự điềm tĩnh cần thiết.

Tuy nhiên, việc một ông Tây dẫn cầu truyền hình của Đài quốc gia Việt Nam bằng tiếng Việt là một món quà bất ngờ thú vị với khán giả Việt và khó có ai nỡ trách anh về sự thiếu hoàn hảo. Câu chuyện Vladimir kể như một bằng chứng. Một tiếng đồng hồ sau chương trình, anh bỗng nhận được điện thoại của một nhân vật lớn Đảng cầm quyền Nước Nga Thống nhất: “Này, cậu làm cái gì trên truyền hình mà một lãnh đạo cao cấp của Đảng Cộng sản Việt Nam gọi điện cho tôi cảm ơn thế?”

len 2Vladimir Kolotov

Vladimir Kolotov là giáo sư, tiến sĩ, Chủ nhiệm bộ môn lịch sử các nước Viễn Đông tại khoa Phương Đông, Đại học Tổng hợp Quốc gia Saint Petersburg (Leningrad trước đây), Viện trưởng Viện Hồ Chí Minh của Đại học này, Chủ tịch Hội Hữu nghị Nga – Việt tại cố đô Nga, thành viên Ủy ban  Quốc gia Nga của Hội đồng Hợp tác an ninh Châu Á – Thái Bình Dương (CSCAP).

Tiếng Việt của Vladimir có thể dùng thoải mái ở mọi hoàn cảnh, kể cả các hội thảo khoa học, hội nghị chính thức. Hỏi về bí quyết học, anh cười: “Có người trong khách sạn nhìn cách chọn món và cách ăn của tôi đã đoán: Chắc anh có từ điển tiếng Việt tóc dài?” Đúng rắp! Vợ anh là cô gái Việt anh đã gặp ở Thành phố Hồ Chí Minh trong một chuyến công tác.

Hỏi vì sao chọn chuyên ngành liên quan Việt Nam và Phương Đông, Vladimir chỉ lên trời nói: “Trên đó còn chưa tiết lộ cho tôi lý do. Một tập hợp các hoàn cảnh ngẫu nhiên đã khiến tôi chọn lĩnh vực này, tôi cũng không thật hiểu vì sao. Có lẽ do định mệnh”. Có thể là định mệnh, nhưng một điều chắc chắn là tình cảm của anh với quê vợ tựa trên một cái nền vững chắc tri thức của một nhà Việt Nam học.

Xem danh mục các công trình nghiên cứu đã công bố của anh, thấy đụng chạm nhiều đến các vấn đề chính trị, xung đột và đặc điểm tôn giáo Việt Nam. Đặc biệt, anh phân tích rất kỹ việc các thế lực từ bên ngoài sử dụng các yếu tố tôn giáo trong mô hình “quản lý xung đột” để can thiệp vào công việc nội bộ của Việt Nam trong quá khứ và hiện tại.

Cuối thế kỷ 16 – đầu thế kỷ 17, các thế lực thực dân Phương Tây đã lợi dụng các giáo sĩ để thâm nhập vào Việt Nam. Trong thuyết quản lý xung đột có 3 giai đoạn: Một là cải đạo dân bản địa và xây dựng cộng đồng tôn giáo tại chỗ; hai là, gây mâu thuẫn giữa giáo dân và bên lương; ba là thực hiện sách lược gây mất ổn định cục bộ có tính quản lý và tiến tới xâm lược đối tượng.

Lịch sử cuộc xâm lược Việt Nam của thực dân Pháp đã diễn ra theo kịch bản như vậy. Vladimir chỉ rõ: Chiến thuật đó, cơ chế đó, “mô hình quản lý xung đột” đó cũng đang được các thế lực thù địch với Việt Nam áp dụng ngày hôm nay với việc truyền đạo trái phép ở các vùng Tây Nguyên, Tây Bắc…

Vladimir cũng nghiên cứu sâu về các chuyển động chính trị của vùng Đông Nam Á. Phân tích chiến lược của các cường quốc đối với khu vực cực kỳ quan trọng đối với thế giới hiện đại này, anh đánh giá cao vai trò, vị trí của Việt Nam. Trong bài “Yếu tố Việt Nam trong hệ thống an ninh khu vực” mà anh viết riêng cho Đài BBC tháng 12 năm 2008, anh nhận định các cường quốc “đều hiểu là họ không thực hiện được chính sách của mình nếu họ coi thường yếu tố Việt Nam. Điều đó khiến chúng ta phải coi yếu tố Việt Nam là hết sức quan trọng trong hệ thống an ninh khu vực đang trong giai đoạn biến đổi”.

Trong các phát biểu khác trên Thanh niên và BBC, anh nhận xét ý đồ chiến lược của Trung Quốc là “rất rõ ràng đó là kiểm soát tài nguyên ở Biển Đông và kiểm soát tuyến đường giao thông hàng hải quan trọng bậc nhất của thế giới này”, là “độc chiếm Biển Đông”. Anh khẳng định: “Theo luật pháp quốc tế, Trung Quốc hoàn toàn không có quyền kiểm soát đối với hai quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa…”.

Vladimir là một trong những người chủ chốt tham gia thành lập Viện Hồ Chí Minh ở Khoa Phương Đông thuộc Đại học Quốc gia Saint Petersburg, đặt tượng Bác Hồ trong khuôn viên Viện, tổ chức nhiều hoạt động phong phú của Hội hữu nghị Nga – Việt thành Petersburg mà anh là Chủ tịch…

Viện Hồ Chí Minh được khai trương ngày 19-5-2010, đúng vào dịp kỷ niệm 120 năm Ngày sinh của Bác. Ngoài các vấn đề liên quan đến Việt Nam, Viện Hồ Chí Minh nghiên cứu các vấn đề quốc tế rộng. Chẳng hạn vừa qua, Viện tổ chức 3 semina khoa học về hiện tượng “Mùa xuân Arập”, phân tích rõ các thủ đoạn, thủ thuật kích động, gây xung đột để can thiệp của một số thế lực. Như việc một clip “biểu tình giải phóng” (cảnh bạo loạn) ở thủ đô Tripoli của Lybia lại được dàn dựng và quay ở Qatar, tại địa điểm có bối cảnh na ná Tripoli…

len 3V. Kolotov thuyết trình về việc dùng mô hình
“Quản lý xung đột” để can thiệp vào Việt Nam .

Vladimir kể rằng ý tưởng thành lập Viện Hồ Chí Minh và đặt tượng Bác Hồ trong khuôn viên Viện trở thành hiện thực là nhờ công lao và sự phối hợp ăn ý của rất nhiều người, trong đó vai trò cực kỳ quan trọng thuộc về GS.TS E.I. Zelenev – Trưởng khoa Phương Đông, GS.TS N.M.Kropachev – Hiệu trưởng trường ĐHQG St. Petersburg, hai Hiệu phó; hai vị Đại sứ Việt Nam tại Liên bang Nga là các ông Bùi Đình Dĩnh và Phạm Xuân Sơn.

Khoa Phương Đông báo cáo ý tưởng thành lập Viện lên Hiệu trưởng và nhận được sự ủng hộ nhiệt tình. Đại sứ Bùi Đình Dĩnh là người thảo văn bản đầu tiên báo việc này với nguyên thủ Việt Nam lúc đó là Chủ tịch nước Nguyễn Minh Triết. Tháng 4 năm 2010, Đoàn đại biểu ĐHQG St. Petersburg đã sang làm việc với Học viện Chính trị – Hành chính Quốc gia Hồ Chí Minh về vấn đề này.

Sau khi được sự chuẩn y của Chủ tịch nước Việt Nam, một đoàn đại biểu lãnh đạo Việt Nam do ông Tô Huy Rứa dẫn đầu đã sang ký hiệp định hợp tác và khai trương Viện Hồ Chí Minh đầu tiên ở nước ngoài tại St. Petersburg vào ngày 19-5-2010. Đại sứ quán Việt Nam tại Liên bang Nga đã tặng Viện bức tượng Bác Hồ bằng đồng.

Trường và Viện quyết định đặt tượng Bác trong khuôn viên Viện. Cán bộ của sứ quán Việt Nam ở Nga đã chọn ngày giờ rất cẩn thận, lại đặt la bàn tỉ mỉ để tượng Bác quay hướng nhìn đúng về Tổ quốc Việt Nam. Khuôn viên ngoài tượng Bác còn có tượng Khổng Tử và được hưởng quy chế của bảo tàng ngoài trời.

Lê Xuân Sơn
Theo tienphong.vn
Phương Thúy
(st)

bqllang.gov.vn

Bác Hồ với ngành giáo dục

Bác rất quan tâm đến con trẻ – Vũ Kỳ kể

Untitled

Bác Hồ yêu các cháu, hiểu các cháu, tin tưởng các cháu. Vì đó là tương lai của dân tộc. Đó là những mầm, những búp trên cành…

Tình yêu đó thấm đậm chất người.

Một sự tình cờ đầy ý nghĩa – sau Ngày sinh của Bác Hồ là sắp đến Tết Thiếu nhi Quốc tế 1-6.

07 giờ ngày 27.

Bác gọi chị Thu Trà đến hỏi về tình hình có một số cháu học sinh miền Nam nghịch ngợm, quấy phá mà Bác được nghe báo cáo. Việc đó là có thật.

Nhưng Bác hỏi về khía cạnh khác: Các cô, các chú dạy dỗ thế nào? Bởi lúc ba má các cháu gửi ra ngoài Bắc thì các cháu đều ngoan và ba má các cháu đều tin tưởng ở hậu phương.

Bác nhắc phải chú ý đến việc các cháu thiếu tình cảm gia đình, phải tìm cách bù đắp.

Rồi Bác kết luận: Lỗi các cháu một phần thì lỗi của người lớn chúng ta mười phần.

Quả nhiên, sau này đưa các cháu đến với sự chăm sóc của các gia đình cán bộ khác thì các cháu đỡ hẳn chuyện gây gổ, nghịch ngợm. Phần Bác cũng nhận chăm sóc một cháu trai, hai cháu gái, con đồng chí Nguyễn Hữu Thọ

Chủ tịch Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam.

Bác luôn luôn coi trẻ em cũng là một nhân cách, một thực thể đáng tôn trọng, chứ không chỉ đáng yêu mến.

Nhớ hồi năm 1957, một hôm Bác hỏi tôi chuyện riêng tư:

– Chú Kỳ này! Có bao giờ chú đánh con không?

Tôi ấp úng vì quả là lúc giận quá tôi cũng có đánh các cháu.

Không dám giấu Bác, tôi thú thật:

– Thưa Bác! Khi nóng giận cũng có lúc tôi đánh dọa vài roi ạ.

Bác vẫn không cao giọng, nhưng nghe thấy nghiêm khắc hơn:

– Thế là dã man đấy, chú ạ.

Tôi suy ngẫm thấy rất đúng.

Bác nhìn nhận khuyết điểm, nhược điểm của con người một cách bình tĩnh như hiểu cái lẽ tự nhiên “bàn tay có ngón dài ngón ngắn vậy”. Tấm lòng Bác mở rộng, bao dung cho tất cả…

Bác không nói trẻ em hư, không nói con người hỏng, mà nhận xét có một số chậm tiến, có một số cụ thể có lúc nào đó, ở chỗ nào đó chưa tốt, chưa hay lắm. Cái chưa hay, chưa tốt ấy cần được uốn nắn một cách chân tình và kịp thời.

(Trích theo sách của Hoàng Giai: Ai yêu các nhi đồng bằng Bác Hồ Chí Minh, Nxb.Thanh niên, H.1999, tr.134-136)

Bác nhớ các cháu – Đoàn Văn Luyện kể

Bh GD 1

Tháng chạp năm 1968, các dũng sĩ thiếu niên miền Nam đang học ở Tả ngạn thì có mấy chú đưa xe ô tô đến đón về Hà Nội. Luyện, Thu, Nết, Phổ, Mên, Hoà,… chưa hiểu có chuyện gì. Về thủ đô hôm trước thì năm giờ chiều ngày hôm sau có xe đến đón đi.

Vào đến sân Phủ Chủ tịch mới biết là được vào gặp Bác Hồ.

Vừa bước chân xuống xe, đã nom thấy Bác Hồ và Bác Tôn ngồi ở một cái ghế gỗ dài kê trước cửa nhà, tất cả chạy ào tới chào Bác.

Bác cháu trò chuyện với nhau. Sau đó hai Bác bảo:

– Thôi, các cháu vào ăn cơm với hai Bác!

Bữa cơm không có thịt cá gì nhiều nhưng rất ấm cúng. Các dũng sĩ thiếu niên được ngồi ăn cùng với Bác Hồ và Bác Tôn. Nết, người nhỏ quá, cái đầu chỉ lấp ló cạnh bàn, được Bác gắp thức ăn cho luôn.

Vừa ăn, bác cháu vừa nói chuyện rất vui. Ăn xong, hai Bác cho mỗi cháu một bông hồng, một quả táo, một quả lê và ba quyển sách “Người tốt, việc tốt”. Sau đó, Bác Hồ bảo:

– Các cháu lại cả đây hôn hai Bác rồi ra về.

Các dũng sĩ hôn hai Bác xong, Bác Hồ lại dặn:

– Các cháu về trường cố gắng học tập cho giỏi.

Tất cả đều rất cảm động. Đoàn Văn Luyện lên tiếng thưa với Bác:

– Thưa Bác, chúng cháu cứ tưởng hai Bác gọi các cháu về có việc cần.

Bác Hồ cười hiền từ và bảo:

– Hai Bác nhớ các cháu cho nên gọi các cháu về để hai Bác gặp hỏi chuyện.

Nghe Bác nói, Luyện và các bạn cảm động, muốn trào nước mắt. Hai Bác tuổi đã cao, trăm nghìn công việc, vậy mà hai Bác vẫn nhớ đến các cháu miền Nam. Luyện nghĩ: “Mình được ở ngoài Bắc mà hai Bác còn lo và thương như vậy, các bạn còn ở trong Nam, hai Bác còn lo và thương biết chừng nào!…”

(Trích trong sách: Bác Hồ kính yêu, Nxb. Kim Đồng, H.1979, tr 151-152.)

Tâm Trang (st)
bqllang.gov.vn

Bác Hồ với việc tăng gia sản xuất

BH tang gia

Bác rất chú ý tới việc tăng gia sản xuất và bản thân Người cũng tích cực tham gia. Thời kỳ kháng chiến, lúc mới lên rừng khó khăn nhiều, thóc gạo hiếm, nhân dân đói, cán bộ cũng đói, cơ quan di chuyển luôn Bác thường động viên chúng tôi tăng gia sản xuất, Bác nói:

– Các chú làm mà không ăn thì dân ăn, đi đâu mà thiệt.

Bác còn chỉ thị phải học và làm theo những người dân địa phương, Bác nói:

– Các chú phải phát nương, muốn phát được nương thì phải hỏi dân.

Chúng tôi học tập kinh nghiệm phát nương, trồng mướp, khoai lang, đậu, rau và bắp. Kết quả là chẳng thiếu thứ gì. Hàng ngày, đến giờ tăng gia, Bác cũng tham gia.

Bác thích ăn hoa quả và lá bí. Hồi ở thác Khấu Lấu năm 1949-1950, chúng tôi trồng rất nhiều bí đỏ, có lần Bác hỏi:

– Bí của các chú có bao nhiêu quả. Chúng tôi trả lời không biết.

Bác bảo:

– Sáng mai các chú cho chặt một ít que nứa, vót nhọn rồi đếm xem bao nhiêu que, đến chỗ nào thấy quả bí thì cắm một que, sau đó đếm số que còn lại thì ra số bí.

Nghe lời Bác, chúng tôi đếm được ba trăm quả. Khi thu hoạch Bác bảo đem sang biếu Văn phòng Trung ương và các đồng chí công an. Kết quả đã khuyến khích được việc tăng gia sản xuất, phong trào nhân rộng và phát triển mạnh.

Chúng tôi ăn sáng bằng bí đỏ thoải mái. Anh Cả(1) đưa 200 vạn tài chính chỉ để mua gạo, muối và mắm. Anh Dũng và anh Định đi câu cá ở suối. Chúng tôi vào làng mua thóc, xay giã ăn dần, có cám nuôi gà, trứng đủ để Bác ăn thường xuyên không phải mua. Vậy là sinh hoạt cũng tạm đủ.

Ở chiến khu, công việc kháng chiến bận rộn. Tuy vậy đôi lúc Bác cũng tìm được cho mình một chút thư giãn, đó là thả mình trong cảnh vật thiên nhiên của núi rừng. Bác nuôi một đôi chim bồ câu trắng, Bác cho chim ăn. Đôi chim quấn quít cạnh Người, có khi đậu lên hai vai. Chúng tôi ngắm Bác, giữa khung cảnh núi rừng Việt Bắc trông Bác như một ông tiên, tạm thời quên hết mọi việc nhọc nhằn, khó khăn của những ngày kháng chiến.

Khi về Hà Nội, phá đất trồng rau, trồng chuối, Bác cũng tham gia, vườn nhài Bác góp nhiều công chăm sóc. Ao cá chúng tôi vét bùn, Bác nhận cho cá ăn. Lúc đầu Bác luyện cho cá ăn bằng mõ, sau vỗ tay. Thế là cứ nghe tiếng vỗ tay là cá bơi đến ăn dầy đặc cả bờ ao, trông thật vui mắt.

Hữu Kháng

(1) Đồng chí Nguyễn Lương Bằng

Theo http://www.mattran.org.vn
Thu Hiền (st)

bqllang.gov.vn

Bác Hồ với ngày hội đoàn kết toàn dân

Việt Nam - Hồ Chí MinhCách đây 80 năm, giữa lúc cao trào cách mạng đầu tiên mà đỉnh cao là Xô viết Nghệ Tĩnh đang diễn ra rầm rộ, ngày 18/11/1930, Ban Thường vụ Trung ương Đảng Cộng sản Đông Dương ra chỉ thị thành lập Hội phản đế đồng minh, đây là hình thức đầu tiên của Mặt trận dân tộc thống nhất Việt Nam. Ngày 19/5/1941, theo sáng kiến của đồng chí Hồ Chí Minh, Việt Nam độc lập đồng minh (Việt Minh) thành lập tại Pắc Pó (Cao Bằng). Tháng 5 năm 1946, cũng theo sáng kiến của Người, Hội Liên hiệp quốc dân Việt Nam (Liên Việt) được thành lập. Đến tháng 3 năm 1951, Đại hội thống nhất Việt Minh – Liên Việt lấy tên là Mặt trận Liên Việt.

Để mở rộng khối đoàn kết dân tộc, Đại hội Mặt trận Liên Việt toàn quốc họp từ ngày 5 tháng 9 đến ngày 10-9-1955 tại Hà Nội quyết định thành lập Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, tiếp tục sự nghiệp đoàn kết toàn dân của Mặt trận Liên Việt. Chủ tịch Hồ Chí Minh được Đại hội bầu làm Chủ tịch danh dự của Mặt trận.

Tháng 12 năm 1960, Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam ra đời với chương trình hành động 10 điểm mà nội dung cơ bản là đánh đổ chế độ thuộc địa trá hình của đế quốc Mỹ và chế độ độc tài Ngô Đình Diệm, xây dựng một miền Nam Việt Nam độc lập, dân chủ, hoà bình, trung lập, tiến tới hoà bình thống nhất Tổ quốc. Sau khi thống nhất nước nhà, tháng 01 năm 1977, Đại hội Mặt trận Dân tộc thống nhất Việt Nam quyết định thống nhất 3 tổ chức Mặt trận ở hai miền lấy tên chung là Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, nhằm đoàn kết rộng rãi các tầng lớp nhân dân để cùng phấn đấu.

Trải qua quá trình lịch sử cách mạng, Mặt trận dân tộc thống nhất (nay là Mặt trận Tổ quốc Việt Nam) ra đời và trưởng thành gắn liền với sáng kiến của Chủ tịch Hồ Chí Minh, đồng thời Người cũng là một tấm gương sáng mẫu mực về đoàn kết dân tộc, xây dựng các phong trào cách mạng, gắn kết tinh thần tập thể trong các lực lượng cách mạng của cả nước. Đồng thời, Người đã trực tiếp xây đắp khối đại đoàn kết dân tộc, tình đoàn kết quốc tế giữa nhân dân ta với nhân dân các nước trên thế giới. Có thể coi đại đoàn kết là một chiến lược lớn của cách mạng, chiến lược về tổ chức nhằm tập hợp lực lượng đến mức đông đảo nhất, rộng rãi nhất mọi tầng lớp nhân dân.

Quán triệt tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng đời sống mới, tháng 5 năm 1995 nhân kỷ niệm 105 năm Ngày sinh của Người, Uỷ ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam đã phát động trong cả nước Cuộc vận động “Toàn dân đoàn kết xây dựng cuộc sống mới ở khu dân cư”nay là Cuộc vận động “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hoá ở khu dân cư”. Đây là Cuộc vận động nhân dân rộng lớn trong cả nước của thời kỳ đổi mới có nội dung toàn diện, diễn ra trong thời gian dài. Hơn 17 năm qua được sự quan tâm lãnh đạo của các cấp uỷ Đảng, sự phối hợp tạo điều kiện của các cấp chính quyền, các tổ chức thành viên Mặt trận, sự hưởng ứng tham gia tích cực của các tầng lớp nhân dân, cùng với các phong trào thi đua yêu nước khác, Cuộc vận động đã đạt được những kết quả tốt đẹp góp phần từng bước nâng cao rõ rệt đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân, giữ vững an ninh trật tự, ngày càng tạo ra các mối quan hệ gắn bó, đoàn kết, đùm bọc lẫn nhau của nhân dân cả nước.

Trong những thực hành lớn của cuộc đời mình, Hồ Chí Minh đặc biệt chú trọng thực hành đoàn kết và đại đoàn kết, từ đoàn kết trong Đảng đến đoàn kết trong dân và đoàn kết quốc tế. Đó là sự gặp gỡ và kết hợp nhuần nhuyễn giữa đường lối chiến lược, phương pháp tổ chức và hoạt động, lãnh đạo và quản lý, với chính sách và biện pháp nhằm gây dựng lực lượng, nuôi dưỡng phong trào thi đua ái quốc, dùng người tài đức, trọng đãi nhân tài, hiền tài để giữ vững nền độc lập tự do, xây dựng đất nước phú cường, đem lại cuộc sống ấm no, hạnh phúc cho đồng bào. Đường lối chiến lược và chính sách đại đoàn kết của Hồ Chí Minh còn đồng thời là văn hóa ứng xử tinh tế của Người mà ngày nay toàn Đảng, toàn dân ta đang ra sức vận dụng, phát huy để vượt qua mọi khó khăn, thách thức hướng tới mục tiêu phát triển bền vững và hiện đại hóa vì dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh.

Bác Hồ với đại biểu công giáoBác Hồ với đại biểu Công giáo

Để đại đoàn kết với mọi người, Chủ tịch Hồ Chí Minh quan tâm đến mọi người và chăm lo lợi ích cho mọi người. Bác Hồ quan tâm đến lợi ích của mọi tầng lớp, từ người cộng sự, người phục vụ gần gũi đến quảng đại quần chúng, từ miền xuôi đến miền ngược, mọi tôn giáo, mọi dân tộc. Người quan tâm đặc biệt đến lợi ích vật chất: Dân đủ ăn, đủ mặc, có nhà ở, được học hành. Ngoài sự chăm lo lợi ích vật chất, Người còn quan tâm đến đời sống văn hóa, đời sống tinh thần của mọi tầng lớp. Với các tăng ni phật tử, đồng bào Công giáo, Người đều gửi gắm những quan điểm tích cực, đậm chất nhân văn và mang đậm tinh thần đoàn kết, bác ái, không phân biệt người có đạo và người không đạo. Chủ tịch Hồ Chí Minh nêu tấm gương đoàn kết rộng rãi bởi một lẽ rất giản đơn: Người muốn huy động tiềm năng của cả dân tộc vào sự nghiệp chung, Người luôn mong muốn thêm bạn bớt thù. Người tin ở tính hướng thiện của mọi người và trong bất cứ con người nào, Người cũng tìm thấy những nhân tố tốt đẹp đó. Tấm gương đại đoàn kết của Chủ tịch Hồ Chí Minh còn thể hiện ở chỗ Người có phương pháp xử lý đúng đắn những bất đồng, những cản trở cho sự đoàn kết. Có thể nói, Chủ tịch Hồ Chí Minh chăm lo xây dựng khối đại đoàn kết song không phải là kiểu đại đoàn kết một chiều. Người luôn luôn khuyên đoàn kết song phải đấu tranh, đấu tranh để đoàn kết.

Chủ tịch Hồ Chí Minh là người luôn quan tâm đến xây dựng tinh thần đoàn kết thống nhất trong Đảng. Theo Người, sự đoàn kết trong Đảng là cơ sở vững chắc để xây dựng sự đoàn kết trong nhân dân. Đảng đoàn kết, dân tộc đoàn kết và sự gắn bó máu thịt giữa Đảng với nhân dân sẽ tạo lên sức mạnh để dân tộc ta vượt qua mọi khó khăn, chiến thắng mọi kẻ thù, đi tới thắng lợi cuối cùng của cách mạng. trong Di chúc để lại, điều đầu tiên Bác nói về Đảng Bác căn dặn: Đoàn kết là một truyền thống cực kỳ quý báu của Đảng và của nhân dân ta. Các đồng chí từ Trung ương đến các chi bộ cần phải “giữ gìn sự đoàn kết của Đảng như giữ gìn con ngươi của mắt mình“. Thực hiện Di chúc cảu Chủ tịch Hồ Chí Minh, hơn bốn mươi năm qua, Đảng ta đã rất đề cao tinh thần đoàn kết, nhất trí trong nội bộ Đảng, giữa Đảng với nhân dân. Nhờ vậy, Đảng ta đã phát huy trí tuệ của Đảng trong quá trình lãnh đạo cách mạng; phát huy nội lực, sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân tộc, tập hợp đông đảo quần chúng nhân dân dưới ngon cờ của Đảng.

Trong giai đoạn phát triển xã hội hiện nay đầy những biến động và thách thức lớn lao đặt ra cho toàn Đảng và toàn dân ta nên muốn tồn tại và phát triển đi lên một cách bền vững thì hơn lúc nào hết chúng ta phải quán triệt và thấm nhuần tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh về đại đoàn kết dân tộc là: “Đoàn kết, đoàn kết, đại đoàn kết. Thành công, thành công đại thành công”.

Kỷ niệm 82 năm thành lập Mặt trận Dân tộc thống nhất Việt Nam, Ngày hội Đại đoàn kết toàn dân tộc ở khu dân cư, chúng ta khắc sâu lời dạy của Bác Hồ: “Chính sách Mặt trận là chính sách rất quan trọng. Công tác Mặt trận là công tác rất quan trọng trong toàn bộ công tác cách mạng”, nguyện cùng nhau tiếp tục đẩy mạnh việc học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh, cuộc vận động “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa ở khu dân cư”, thực hiện tốt Nghị quyết Đại hội lần thứ XI của Đảng và Nghị quyết Đại hội Mặt trận Tổ quốc Việt Nam lần thứ VII, thiết thực góp phần thực hiện thắng lợi các nhiệm vụ chính trị, phát triển kinh tế, văn hoá – xã hội, quốc phòng, an ninh ở địa phương.

Kim Yến
bqllang.gov.vn

Những kỷ niệm, những bài học không quên từ Người

“Tôi có diễm phúc nhiều lần được gặp Bác, thậm chí có những lần được trực tiếp phục vụ Bác trong một số hoạt động đối ngoại. Mỗi lần như vậy đều để lại trong tôi những kỷ niệm và những bài học nhớ mãi không quên”.

Đồng chí Vũ Khoan, nguyên Phó Thủ tướng Chính phủ bồi hồi nhớ lại những kỷ niệm thiêng liêng về Chủ tịch Hồ Chí Minh.

44Bác Hồ với thiếu nhi quốc tế

Tấm lòng chân thành từ những món quà nhỏ

Lúc nào Bác cũng sống giản dị, chắt chiu từng đồng của nhân dân, của đất nước. Ngoài vài lần dẫn đầu các đoàn đại biểu đi thăm chính thức nước ngoài, còn hầu hết các chuyến thăm và làm việc khác của Người, không bao giờ Bác dùng chuyên cơ. Bác chỉ đi máy bay dân hàng.

Đi theo người cũng chỉ có vài ba người, anh Vũ Kỳ là thư ký của Bác kiêm luôn cần vụ. Trong va li của Bác chỉ có độc một bộ quần áo dạ, còn hàng ngày Bác vẫn mặc quần áo ka ki bạc mầu như chúng ta thường thấy.

Thường thường, trong mỗi chuyến thăm, Bác chuẩn bị quà biếu lãnh đạo nước bạn là hoa quả trồng trong vườn Bác như cam, nhãn, bưởi.

Tôi nhớ có lần trước khi rời nhà khách của bạn, Bác bảo tôi biếu các cô phục vụ những hộp thuốc lá Bác đã hút hết bằng bìa cứng rất đẹp để các cô đựng kim chỉ.

Tôi buột miệng thưa với Bác, ở nước bạn thiếu gì hộp kim chỉ, Bác ôn tồn rằng, Bác cũng biết vậy nhưng đây là tấm lòng của Bác, giá trị của những hộp thuốc lá là ở chỗ đó.

Điều đặc biệt trong những chuyến làm việc tại nước ngoài là quà của các địa phương nước sở tại biếu Bác nhưng khi rời sân bay biên giới, Bác nhờ chuyển lại cho lãnh đạo nước bạn chứ không mang về.

Bác thường bao giờ cũng nghĩ tới người khác trước mà ít khi lo cho mình. Khi ở nhà khách chúng tôi cứ thấy Bác tự giặt quần áo lót, khăn mùi xoa. Anh em đi cùng xin với Bác để họ giặt hoặc gửi lại phục vụ nhà khách nhưng Bác không chịu.

Có một chuyện in dấu ấn trong tôi tới tận bây giờ. Ở nhà khách của bạn, tới bữa ăn họ bày la liệt đồ ăn, thức uống trên bàn. Vốn còn trẻ, ăn khỏe, tôi gắp hết món này đến món kia để ăn.

Bác liền khẽ nhắc: “Cháu ăn món nào thì ăn hết món ấy, đừng để thừa cho người khác”. Từ đó tôi cứ chọn những món mình ưa thích, ăn hết rồi mới chuyển sang món khác.

Trong những bữa tiệc đứng, không bao giờ Bác để cho nhân viên nhà khách phục vụ đồ nóng mà yêu cầu để trên mặt bàn, ai ăn tự ra lấy và khi ăn xong tự mang bát đĩa xuống bếp.

Cách hành xử của Bác rất tự nhiên, thấy vậy, ngay các nhà lãnh đạo cấp cao của nước bạn cũng vui vẻ làm theo.

Không được dạy đời

Bác luôn luôn rất chu đáo từ việc nhỏ trở đi. Một lần đi theo Bác tiếp khách ở Phủ Chủ tịch, đang đi chúng tôi ngạc nhiên khi thấy Bác lấy ngón tay quệt vào bậu cửa sổ xem còn bụi bẩn không!

Là một nhà lãnh đạo tầm cỡ quốc tế, một chiến sĩ lão thành trong phong trào cộng sản và công nhân quốc tế nhưng Bác luôn khiêm tốn.

Một lần chuẩn bị đón đoàn đại biểu cấp cao của nước bạn sang thăm, trong đề cương hội đàm do anh em chuẩn bị có những câu, những đoạn hơi cao giọng, Bác bèn ghi bên cạnh: “Không được dạy đời!” và tự tay sửa lại câu từ cho khiêm tốn, dễ nghe.

Trong giao tiếp Bác luôn ứng xử vừa có lý, vừa có tình –  đó cũng là một phương châm Bác để lại trong Di chúc khi Bác đi xa. Tôi nhớ mãi lần Đoàn đại biểu cấp cao của một nước bạn sang thăm nước ta.

Trên đường đưa đoàn đại biểu về thăm địa phương, anh em đoàn phục vụ đã có hành vi sơ suất làm cho vị Trưởng đoàn phật ý. Sáng sớm hôm sau, tôi trực ở Nhà khách 12 Ngô Quyền bỗng thấy Bác đi tới.

Bác bảo tôi báo cho ông bà Trưởng đoàn biết. Do Bác tới sớm quá nên vị khách chưa kịp thay quần áo, ông Trưởng đoàn chỉ kịp quấn khăn tắm quanh người, còn bà vợ vẫn mặc áo ngủ.

Bác kéo ghế ra sân thượng ngồi chờ. Ông Trưởng đoàn tỏ ý ái ngại vì từ lúc đặt chân tới Việt Nam chưa kịp lên chào Bác lại để Bác phải tới thăm. Bác ôn tồn mở đầu câu chuyện:

“Phương Đông có câu “nhất tự vi sư, bán tự vi sư” (dạy một chữ hay nửa chữ cũng là thầy), đồng chí đã từng giảng dạy tại trường Đại học Cộng sản Matxcơva, nơi tôi có nghe giảng, vậy đồng chí là thầy, tôi là trò. Trò phải thăm thầy trước là lẽ đương nhiên.

Còn cô ấy (Bác chỉ phu nhân của Trưởng đoàn) là em gái nuôi của tôi khi sống và hoạt động trong Quốc tế cộng sản ở Mátxcơva, lẽ nào tôi không thăm em mình?”.

Thế là mọi sự phiền muộn của ông bà Trưởng đoàn biến mất, thay vào đó là sự chân tình và khâm phục với Bác.

Những mẩu chuyện trên nói lên cách đối nhân xử thế rất nhân ái, khiêm nhường, thu phục lòng người của Bác. Chúng ta hãy cố làm theo Bác từ những việc cụ thể, thiết thực.

Noi theo gương Bác Hồ không thể chỉ trên lý thuyết và trong các cuộc vận động mà phải học, nhất là phải làm suốt đời. Rất mong các bạn trẻ ghi nhớ điều này.

Theo Tiền Phong

Thúy Hằng (st)
bqllang.gov.vn

Ngành Hậu cần Bộ Tư lệnh Bảo vệ Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh làm theo lời Bác dạy

Thấm nhuần lời căn dặn của Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Công việc cung cấp cũng quan trọng như công việc trực tiếp đánh giặc trước mặt trận. Cung cấp có đủ súng đạn, đủ cơm áo cho bộ đội, thì bộ đội mới đánh thắng trận….. Các chú phải làm thế nào một bát gạo, một đồng tiền, một viên thuốc, một tấc vải phải đi thẳng tới chiến sĩ. Đó là bổn phận của các chú”. Năm 2012, ngành Hậu cần Bộ Tư lệnh Bảo vệ Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh đã thực hiện hiệu quả phong trào thi đua “Ngành Hậu cần Quân đội làm theo lời Bác Hồ dạy”.

Nganh HCBan Chỉ đạo ngành Hậu cần Quân đội làm theo lời Bác Hồ dạy sơ kết năm 2012.

Ngay từ đầu năm, phong trào thi đua “Ngành Hậu cần Quân đội làm theo lời Bác Hồ dạy” của đơn vị đã quán triệt, triển khai thực hiện đúng chủ trương “Một tập trung” và “Ba khâu đột phá”. Tập trung: “Đẩy mạnh học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh, xây dựng cơ quan, đơn vị hậu cần vững mạnh toàn diện”. Toàn ngành Hậu cần đã làm tốt việc tuyên truyền, giáo dục và tổ chức cho 100% cán bộ, đảng viên đăng ký, giao ước thi đua nêu gương làm theo Bác về tinh thần cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư; hết lòng vì công việc, vì bộ đội để phục vụ. Đã tổ chức đăng ký, giao ước chỉ tiêu thi đua và thực hành đúng quy định về quản lý, sử dụng kinh phí, cơ sở vật chất trang bị chặt chẽ, tiết kiệm, hiệu quả. Bước “làm theo” tấm gương của Bác được theo dõi, tổng hợp, đánh giá, nhận xét cụ thể thông qua công việc hàng ngày, hàng tuần, hàng tháng, hàng quý của cán bộ, đảng viên, công nhân viên, chiến sỹ. Trong đợt kiểm điểm tự phê bình và phê bình theo Nghị quyết Trung ương 4 (khoá XI), Đảng ủy và các chi  bộ trong Đảng bộ cơ quan Hậu cần đều nghiêm túc kiểm điểm đánh giá: “Từ năm 2010 đến nay, ngành hậu cần đã có sự chuyển biến tiến bộ về nhận thức tư tưởng chính trị, đạo đức lối sống và năng lực, phương pháp tác phong công tác. Cán bộ, đảng viên trong Ngành đã nêu cao tinh thần phục vụ tận tình chu đáo, văn minh, lịch sự. Không có cán bộ, đảng viên suy thoái về tư tưởng chính trị, vi phạm phẩm chất đạo đức lối sống, vi phạm đạo đức nghề nghiệp”.

Nganh HC Nghi le 275Ngành Hậu cần bảo đảm quân phục nghiệp vụ
cho bộ đội thực hiện nghi lễ tại Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Trong năm, giá cả lương thực, thực phẩm liên tục tăng cao, ngành Hậu cần đã thực hiện tốt khâu đột phá thứ nhất: “Nâng cao chất lượng bảo đảm ăn, mặc, ở, chăm sóc sức khoẻ bộ đội và vệ sinh môi trường”. Tập trung đầu tư triển khai Dự án DT275 nhằm xây dựng doanh trại chính quy, tu sửa khu vực cơ quan Bộ Tư lệnh và doanh trại Đoàn 275 khang trang, sạch đẹp. Thông qua sự chỉ đạo của Phòng Hậu cần, từng cơ quan, đơn vị đã chủ động triển khai các biện pháp giữ vững chất lượng bữa ăn cho bộ đội, tích cực tăng gia quanh bếp, quanh nhà bảo đảm thực phẩm, rau xanh cho bộ đội. Đoàn 285 đã đảm bảo 100% rau xanh ăn tại bếp. Tất cả 6/6 bếp ăn của các đoàn, Viện 69 và cơ quan Văn phòng đều đạt “Bếp nuôi quân giỏi, quản lý quân nhu tốt”. Đồng thời quan tâm xây dựng và quản lý doanh trại “chính quy, xanh, sạch, đẹp”, triển khai trồng nhiều cây ăn quả, cây leo giàn, cây lấy gỗ, tạo cảnh quan môi trường. Đoàn 195, Đoàn 595 đã động viên mọi người đóng góp kinh phí, cây cảnh, xây dựng giàn hoa lan ở doanh trại. Công tác chăm sóc, bảo đảm sức khoẻ cho bộ đội luôn được quan tâm chu đáo. Cán bộ, nhân viên quân y các đơn vị đã quán triệt, thực hiện đúng tiêu chuẩn “Đơn vị Quân y 5 tốt”, chủ động thực hiện chu đáo các khâu, các bước phòng bệnh, phát hiện bệnh, điều trị bệnh và gửi lên tuyến trên kịp thời, không để xảy ra dịch bệnh, hoặc ngộ độc thức ăn, bảo đảm quân số khoẻ đạt 99,54%.

Thực hiện chủ trương tiết kiệm của Bộ Tư lệnh, ngành Hậu cần đã tích cực triển khai khâu đột phá thứ hai: “Thực hành tiết kiệm; chống tham ô lãng phí; chấp hành nghiêm chế độ, tiêu chuẩn bảo đảm hậu cần” gắn liền với các biện pháp “Xây dựng đơn vị quản lý tài chính tốt”; thực hiện tốt công tác quản lý, sử dụng cơ sở vật chất hậu cần, tài chính; thực hành tiết kiệm điện, nước, điện thoại. Các ngành thường xuyên duy trì nề nếp, chế độ công tác quản lý, sử dụng cơ sở vật chất, kinh phí hậu cần, quỹ phúc lợi chặt chẽ, tiết kiệm, hiệu quả. Đã ứng dụng đưa 2 bếp ở Đoàn 275 và Đoàn 285 từ đun than chuyển sang bếp cấp nhiệt lò hơi cơ khí, tiết kiệm được hơn 147 triệu đồng đưa vào cải thiện bữa ăn bộ đội; triển khai các biện pháp tiết kiệm điện, nước gần 160 triệu đồng; tiết kiệm xăng dầu theo quy định được gần 190 triệu đồng. Song song với thực hành tiết kiệm, đơn vị đã đẩy mạnh tăng gia sản xuất tập trung ở khu vực K84 và tận dụng mặt bằng, khai thác dịch vụ ở hầu hết các cơ quan, đơn vị hiệu quả, phục vụ công tác chính sách hậu phương quân đội, đạt bình quân 1.550.000đ/người/năm, vượt 93% so với năm 2011.

Nganh HC Tang gia 285Công tác tăng gia sản xuất tại Đoàn 285

Khâu đột phá thứ ba được toàn ngành đã thực hiện tốt là: “Đẩy mạnh cải cách hành chính; duy trì nề nếp chính quy công tác hậu cần, bảo đảm an toàn giao thông”. Ngành Hậu cần đã đi đầu trong việc đổi mới phương pháp tác phong công tác, làm việc theo kế hoạch; tăng cường chỉ đạo, hướng dẫn, kiểm tra, bám sát cơ sở, bám vào nhiệm vụ và các hoạt động của bộ đội, tránh chồng chéo, gây rối bận. Hàng tuần đều có cán bộ, nhân viên hậu cần đi chỉ đạo, giúp đỡ cơ sở. Hàng quý đều sơ kết, đánh giá, chấm điểm thi đua Ngành Hậu cần đối với từng cơ quan, đơn vị, kịp thời biểu dương, khen thưởng các tập thể, cá nhân có nhiều nỗ lực cố gắng trong công tác. Trong năm, Thủ trưởng Bộ Tư lệnh đã biểu dương, khen thưởng 2 tập thể, 8 lượt cá nhân tiêu biểu trong ngành Hậu cần; đề nghị Thủ trưởng Bộ Quốc phòng tặng Bằng khen “Ngành Hậu cần Quân đội làm theo lời Bác Hồ dạy” và “Đơn vị Quân y 5 tốt” cho Đoàn 275.

Năm 2012, phong trào thi đua “Ngành Hậu cần Quân đội làm theo lời Bác Hồ dạy” đã trở thành mục tiêu, động lực thúc đẩy mỗi cán bộ, nhân viên, chiến sỹ ngành Hậu cần ra sức thi đua làm theo lời Bác bằng cả nhiệt huyết từ trái tim mình. Từ những việc làm bình dị của những chiến sỹ quân y, quân trang, nuôi quân, tài chính, kế toán, thủ kho, doanh trại….đã góp phần xây dựng ngành Hậu cần của đơn vị ngày càng vững mạnh, góp phần vào thực hiện thắng lợi nhiệm vụ giữ gìn lâu dài, bảo vệ tuyệt đối an toàn thi hài Chủ tịch Hồ Chí Minh và phát huy ý nghĩa chính trị, văn hoá của Công trình Lăng trong giai đoạn mới. Đúng như kết luận của đồng chí Đại tá Phạm Văn Lập – Phó Tư lệnh, Trưởng ban Ban Chỉ đạo phong trào thi đua “Ngành Hậu cần Quân đội làm theo lời Bác Hồ dạy” của Bộ Tư lệnh Bảo vệ Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh tại Hội nghị sơ kết năm 2012: “Phong trào thi đua ngành Hậu cần Quân đội làm theo lời Bác Hồ dạy trong đơn vị đã tạo sự chuyển biến toàn diện cả về nhận thức, trách nhiệm lãnh đạo, chỉ đạo của cấp uỷ, chỉ huy các cấp và năng lực tiến hành của đội ngũ cán bộ, nhân viên, chiến sỹ ngành Hậu cần. Công tác hậu cần đã phục vụ tốt nhiệm vụ chính trị, bảo đảm đầy đủ, kịp thời chế độ tiêu chuẩn ăn, ở, mặc, chăm sóc sức khoẻ bộ đội; cải tạo, sửa chữa doanh trại khang trang, sạch đẹp; tích cực tăng gia, sản xuất, khai thác dịch vụ hiệu quả, trực tiếp góp phần hoàn thành nhiệm vụ chung của đơn vị”./.

Hữu Mạnh, Ngọc Hà
bqllang.gov.vn

Chuyến viếng thăm Lăng Bác của vị khách đặc biệt từ Cộng hòa Dân chủ nhân dân Lào

Sáng 25/11/2012, Ban Quản lý Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh đã được đón một vị khách đặc biệt tới viếng Bác. Đó là Hòa thượng Phoong Xả Ma Lợt, Chủ tịch Liên minh Phật giáo Lào. Năm nay, Hòa thượng đã trên trăm tuổi. Theo lời mời của Trung ương Giáo hội Phật giáo Việt Nam, Hòa thượng sang dự Đại hội Đại biểu Phật giáo toàn quốc lần thứ VII. Nhân dịp này, Hòa thượng bày tỏ tâm nguyện được vào Lăng viếng Chủ tịch Hồ Chí Minh. Cùng đi với Hòa thượng có Đoàn đại biểu của Liên minh Phật giáo Lào. Thay mặt đơn vị, Đại tá Nguyễn Văn Thanh, Phó Chánh Văn phòng đã tiếp Đoàn.

hoa thuong lao a3Đại tá Nguyễn Văn Thanh đón tiếp Đoàn

hao thuong Lao a2Hòa thượng Phoong Xả Ma Lợt, Chủ tịch Liên minh Phật giáo Lào vào Lăng viếng Chủ tịch Hồ CHí Minh

Do tuổi cao, phải ngồi xe lăn, song với gương mặt phúc hậu, ánh mắt nhìn ấm áp và nụ cười hiền từ, Hòa thượng mang đến cho tất cả chúng tôi cảm giác gần gũi, thân thiết khi được tiếp xúc trò chuyện. Giọng nói trầm ấm, Hòa thượng kể đã nhiều lần được gặp Bác Hồ trong thời gian Bác hoạt động cách mạng tại Lào và Thái Lan. Tận đáy lòng, Hòa thượng luôn giữ mãi kỷ niệm sâu sắc về lần đầu tiên được gặp Bác tại tỉnh Udon, Thái Lan cùng với các đồng chí lãnh đạo Lào và được nghe Bác tuyên truyền vận động về đường lối đấu tranh giành độc lập cho ba nước Đông Dương. Hòa thượng khắc sâu lời Bác dạy: Lào, Việt Nam, Campuchia phải luôn sát cánh bên nhau trong cuộc đấu tranh chống ngoại xâm, giải phóng dân tộc, giữ trọn lãnh thổ. Ghi nhớ lời Bác, Hòa thượng đã rất tích cực tham gia vào phong trào cách mạng tại Lào và có nhiều đóng góp to lớn xây dựng Liên minh Phật giáo Lào.

Ánh mắt nhìn xa xăm đầy hoài niệm, dáng điệu trầm tư trong hồi tưởng, Hòa thượng chậm rãi nói, sang Việt Nam lần này, Hòa thượng mong được vào viếng Bác như người con lâu ngày mong được về thăm cha.

Đồng chí Nguyễn Văn Thanh đã bày tỏ sự xúc động và vinh dự được đón tiếp Hòa thượng tại Ban Quản lý Lăng. Đồng chí đã giới thiệu với Hòa thượng về nhiệm vụ giữ gìn thi hài Chủ tịch Hồ Chí Minh và hơn 40 năm qua thi hài Bác vẫn luôn được giữ gìn ở trạng thái tốt nhất để nhân dân Việt Nam và bạn bè quốc tế được đến với Người. Tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh vẫn đang tỏa sáng và được đời đời con cháu học tập và làm theo, trong đó có sự kế thừa và phát huy truyền thống hữu nghị thủy chung lâu đời giữa hai nước Việt Nam, Lào, như Bác Hồ đã từng nói:

Việt – Lào hai nước chúng ta
Tình sâu hơn nước Hồng Hà, Cửu Long.

Đồng chí Nguyễn Văn Thanh đã tặng Hòa thượng và các thành viên trong Đoàn huy hiệu Bác Hồ và tấm ảnh Bác, chúc Hòa thượng sức khỏe và tuổi thọ, tiếp tục có những đóng góp quý báu cho tình hữu nghị Việt – Lào. Nâng niu tấm hình Bác trên tay, Hòa thượng nghẹn ngào nói: Không chỉ riêng tôi mà Đảng và nhân dân Lào đều tôn kính Chủ tịch Hồ Chí Minh. Người là vị cha chung của dân tộc Việt Nam và Lào.

hoa thuong lao a1Đại lão Hòa thượng viết cảm tưởng về chuyến viếng thăm Lăng Bác

Kết thúc buổi gặp mặt, Hòa thượng đã rất xúc động tự tay viết lên những dòng cảm tưởng trong chuyến viếng thăm Lăng Bác lần này. “Thay mặt Đoàn Liên minh Phật giáo Lào tới đất nước Việt Nam dự Đại hội Đại biểu Phật giáo và được đến thăm Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh, tôi rất xúc động. Trong đời, tôi đã từng được gặp Bác Hồ và nay lại được đến viếng thăm Người, tôi luôn cầu nguyện cho Người được yên nghỉ trong an lạc”.

Chuyến viếng thăm đặc biệt của Đại lão Hòa thượng Phoong Xả Ma Lợt càng khẳng định tầm vĩ đại của Chủ tịch Hồ Chí Minh – Anh hùng giải phóng dân tộc, Danh nhân văn hóa kiệt xuất, không chỉ đối với nhân dân Việt Nam, mà còn đối với nhân dân toàn thế giới./.

Bùi Thu Nga
bqllang.gov.vn

Đoàn đại biểu đồng bào Công giáo Thủ đô đến viếng Chủ tịch Hồ Chí Minh

Sáng 28/11/2012, Đoàn đại biểu tham dự Đại hội đại biểu những người Công giáo Thủ đô xây dựng và bảo vệ Tổ quốc lần thứ VI nhiệm kỳ 2012-2017 đã đến đặt vòng hoa và vào Lăng viếng Chủ tịch Hồ Chí Minh. Vòng hoa của Đoàn mang dòng chữ: “Đồng bào Công giáo Thủ đô đời đời nhớ ơn Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại”.

Dai hoi Cong giao 2012Đoàn đại biểu vào Lăng viếng Chủ tịch Hồ Chí Minh

Đại hội sẽ được tổ chức trong hai ngày 27- 28/11/2012. Đây là dịp Ủy ban Đoàn kết Công giáo Hà Nội tổng kết hoạt động nhiệm kỳ 2007-2012 và phong trào thi đua yêu nước của đồng bào công giáo Thủ đô trong 5 năm qua; xác định nhiệm vụ trọng tâm trong 5 năm tới; thảo luận và đóng góp vào dự thảo Điều lệ sửa đổi; hiệp thương bầu Ủy ban Đoàn kết Công giáo Hà Nội lần thứ VI, nhiệm kỳ 2012-2017… Nội dung trọng tâm nhiệm kỳ tới là tiếp tục đẩy mạnh các phong trào thi đua yêu nước trong giới Công giáo Thủ đô như phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa mới ở khu dân cư, sống tốt đời đẹp đạo”; “Mỗi người Công giáo Thủ đô là một công dân tốt”, tham gia tích cực vào xây dựng nông thôn mới, thực hiện nếp sống văn minh và đền ơn đáp nghĩa.

Trong nhiệm kỳ 2012-1017, Ủy ban Đoàn kết Công giáo Hà Nội sẽ xem xét kiến nghị Ủy ban Đoàn kết công giáo Việt Nam quyết định công nhận các Ban Đoàn kết Công giáo ở 28 quận, huyện, thị; quy tụ những doanh nhân, trí thức Công giáo sinh hoạt chung theo chuyên đề để giúp nhau sản xuất, kinh doanh, bồi dưỡng tri thức và củng cố đức tin.

Ông Phạm Huy Thông, Phó Chủ tịch Thường trực Ủy ban Đoàn kết Công giáo thành phố Hà Nội, cho biết: “Đại hội lần thứ VI tiếp tục củng cố, đổi mới và hiệp thông. Củng cố tổ chức của Ủy ban Đoàn kết Công giáo thành phố Hà Nội, củng cố những thành tựu mà nhiệm kỳ trước đã đạt được. Chúng tôi tiếp tục đổi mới về nhân sự, trẻ trung hơn, có trình độ văn hóa hơn, có uy tín cả trong đạo và đời. Cùng với đó là đổi mới về phương thức hoạt động, như tổ chức giao lưu công tác với các đơn vị bạn để có thể học tập kinh nghiệm lẫn nhau…”./.

Lan Hương
bqllang.gov.vn