Tag Archive | Hồ Chí Minh

Cựu Bí thư Trung ương Đoàn kể chuyện gặp Bác Hồ

Ông Nguyễn Văn Đệ sinh năm 1927 tại Nghệ An, tham gia cách mạng từ năm 1947, hoạt động trong nhiều tổ chức đoàn thể, trong đó có 15 năm ở cương vị Bí thư Trung ương Đoàn. Kỷ niệm sâu sắc nhất trong đời ông là lần được gặp Bác Hồ và nghe những lời chỉ bảo ân cần của Người.

Đúng 6h45 phút ngày 12.7.1965, Văn phòng Trung ương Đoàn nhận được điện thoại từ văn phòng của Bác do đồng chí Vũ Kỳ (thư ký của Bác) gọi và báo cho biết đúng 7h, đồng chí Bí thư Trung ương Đoàn, phụ trách Thanh niên xung phong lên gặp Bác.

Ông Đệ được đồng chí Vũ Quang (là Bí thư thứ nhất Trung ương Đoàn) cử lên gặp Bác. Thực ra ông đã được gặp Bác nhiều lần, được nghe Bác nói chuyện. Nhưng đây là lần đầu tiên ông được trực tiếp báo cáo với Bác cho nên tâm trạng của ông lúc đó rất hồi hộp.

7h kém 5 phút, ông được vào phòng làm việc của Bác. Đúng 7h, Bác từ phía cửa sau đi vào, tay cầm một chiếc quạt lá cọ. Thấy Bác tới, ông liền đứng dậy chào, Bác bắt tay ông và nói: Chú ngồi xuống đi, chú tên gì?
Ông vừa trả lời những câu hỏi của Bác và báo cáo tình hình công việc. Nghe xong Bác bảo: “Tốt! Chú uống nước đi rồi kể cho Bác nghe, các chú đã tổ chức thanh niên xung phong như thế nào? Các cháu gái, trai đi Thanh niên xung phong ra sao? Có hăng hái tự nguyện không?”. Nghe Bác hỏi xong, ông liền báo cáo với Bác, đại ý từ sau khi được Bác, Đảng và Chính phủ giao nhiệm vụ, Ban chấp hành Trung ương Đoàn đã họp, ra nghị quyết  giao cho các tỉnh thành phố tuyển Thanh niên xung phong, độ tuổi từ 18 – 30, thành phần thì 50% nữ, 50% nam. Số thanh niên hăng hái đi tuyển rất đông nên vượt chỉ tiêu, nhất là nữ thanh niên ai cũng đòi đi cho nên việc giải thích cho người ở lại còn khó hơn là giải thích với người ra đi…

Nghe báo cáo xong thấy Bác rất vui và hỏi: “Thế các chế độ chính sách đối với thanh niên xung phong, các bộ, ngành các chú đã báo cáo cụ thể chưa? Đối với các cháu gái có chính sách gì cụ thể không?” Nghe Bác hỏi đến đây, ông đỏ mặt lúng túng, vì khi bàn đến chế độ chính sách không đề cập vấn đề này. Nhưng ông trấn tĩnh và nói liều: Dạ thưa Bác, chúng cháu có bàn riêng vấn đề này, về vệ sinh cho chị em phụ nữ… Bác nói tiếp: “Các chú cùng các ngành lao động phải hết sức chú ý tới các đặc điểm riêng của các cháu gái. Trong công việc cũng không nên phân công cho các cháu gái làm việc quá nặng làm ảnh hưởng đến sức khỏe các cháu sau này”.

Bác đứng dậy cười tươi đưa 2 tay lên trước bụng hỏi: “Còn cái này nữa, to ra thì các chú làm sao?”. Người nói: “Các chú phải giáo dục căn dặn các cháu gái phải biết tự trọng giữ mình, đấu tranh chống lại hành động không đúng đắn của các cháu trai. Các chú tổ chức cho thanh niên xung phong là việc hệ trọng, để đánh thắng giặc Mỹ cần có thanh niên dũng cảm, chịu đựng được gian khổ ở những nơi địch đánh phá ác liệt để sửa đường, sửa cầu vận chuyển hàng hóa súng đạn. Thanh niên hăng hái đi là tốt, nhưng các cháu phải hết sức chú ý tới việc chăm lo giáo dục sức khỏe, học tập văn hóa và đời sống vật chất và tinh thần của thanh niên… Các chú giáo dục động viên các cháu gái, trai làm việc tốt, học tập tốt, báo cáo thành tích cho Bác để Bác khen thưởng”.

Ngày 26.9.1966, sau hơn một năm, Bác đã gửi thư khen lực lượng Thanh niên xung phong chống Mỹ cứu nước, thực hiện đúng lời hứa với thanh niên xung phong. Ngày 27.1.1969 Bác lại gửi thư khen đại đội Thanh niên xung phong 333, toàn là các nữ thanh niên đã lập thành tích xuất sắc…

Bác Hồ ngày đêm quan tâm tới những việc lớn lao của cách mạng, nhưng Người không quên những việc nhỏ, cụ thể liên quan tới đời sống thường ngày của nữ thanh niên xung phong. Lần gặp Bác tuy ngắn ngủi nhưng để lại trong ông Đệ biết bao kỷ niệm. Những lời dạy của Bác đã theo ông trong suốt cuộc đời.

Hoa Đình Nghĩa
daibieunhandan.vn

Ai chữa bệnh cho Bác Hồ ở Tân Trào?

Ngoài cụ lang người Tày còn có một y tá giải phóng quân được Đại tướng Võ Nguyên Giáp dẫn đến tiêm thuốc chữa bệnh cho Bác những ngày Người bị sốt nặng tại Tân Trào trước Tổng khởi nghĩa. Đó là ông Nguyễn Việt Cường, ở làng Khau Chủ, xã Đông Viên, Chợ Đồn, Bắc Kạn.

06-Ai-chua benh-20909-180.jpg

Những ngày trước Tổng khởi nghĩa giành chính quyền, tại lán Nà Lừa, Tân Trào, nơi đặt cơ quan đầu não của Mặt trận Việt Minh, Bác Hồ đã có những quyết định hệ trọng liên quan tới vận mệnh của dân tộc. Nhưng vào những ngày khẩn trương công việc bộn bề ấy, Người bị sốt nặng, có lúc rất nguy kịch tưởng chừng không qua khỏi.Đồng chí Võ Nguyên Giáp thời kỳ này luôn ở bên Bác, lo lắng tìm thầy thuốc chữa bệnh cho Người. Trong hồi ký của mình, Đại tướng ghi lại: “Ông cụ lang già người Tày xem mạch, sờ trán Bác rồi đốt cháy một thứ củ vừa đào trong rừng về, hòa vào cháo loãng. Sau đó Bác tỉnh. Hôm sau, Bác ăn thêm vài lần với cháo loãng nữa, cơn sốt nhẹ dần….” Ngoài việc đưa cụ lang người Tày còn có y tá giải phóng quân được Đại tướng dẫn đến tiêm thuốc chữa bệnh cho Bác. Đó là ông Nguyễn Việt Cường, tên thật là Nguyễn Đức Kính, sinh năm 1925, ở làng Khau Chủ, xã Đông Viên, huyện Chợ Đồn, Bắc Kạn.

Ông Cường nhớ lại, năm 1943 ông vào học tại trường Y tá Thực hành Bắc Kỳ ở Hải Dương. Khi Nhật đảo chính Pháp (9.3.1945) trường đóng cửa ông về quê. Cũng trong thời gian đó Đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân từ Cao Bằng về đến quê hương ông. Ông được vị đại diện Việt Minh là đồng chí Khang (tức Đại tướng Hoàng Văn Thái) vận động vào tổ chức Việt Minh. Trước ngày gia nhập giải phóng quân, ông được người quen tại Nhà thương tỉnh và Sở cẩm cho một ít thuốc sốt rét, thuốc cảm, thuốc kháng sinh, một ít bông băng, hai ống bơm tiêm và một chiếc máy chữ mang đi kháng chiến. Ông được học tại Trường Quân chính kháng Nhật, và sau đó được cử về Ban chỉ đạo Khu giải phóng làm thư ký đánh máy kiêm y tá và được tổ chức phân công ở cùng nhà với đồng chí Văn (tức Đại tướng Võ Nguyên Giáp) và đồng chí Lý (tức Hoàng Hữu Kháng) và một đồng chí nữa ở nhà cụ Hoàng Trung Dân.

Vào một buổi trưa, lúc đó khoảng 12h30 đồng chí Văn bảo: đồng chí Việt Cường đi theo tôi, mang theo túi thuốc vào thăm người ốm. Ông được dẫn lên một chiếc lán, lên đến nơi thấy một Cụ mặc bộ quần áo chàm nằm thoi thóp thở ở trạng thái hôn mê. Ông sờ tay lên trán Cụ bắt mạch và thấy mạch của Cụ đập loạn, ông quyết định báo cáo được tiêm thuốc cho Cụ, đồng chí Văn đồng ý. Ông chuẩn bị dụng cụ tiêm thuốc, lấy 1 ống ether, 2 ống dầu long não tiêm cho Cụ (vì ông biết rằng khi tiêm hai thứ thuốc này cho người bị cảm sốt, thuốc sẽ làm cho người bệnh bị nóng lên, kích thích bộ máy tuần hoàn làm việc). Ông tiêm vào đùi cho Cụ, khi rút kim ra thấy Cụ bị mất cảm giác. Một lúc sau đã thấy mùi dầu long não tỏa ra theo hơi thở của Cụ, sau 2 phút thấy Cụ động đậy chân tay, 10 phút sau thấy Cụ bắt đầu tựa mình, ông sờ vào người thấy bắt đầu ấm lên. Sau đó Cụ lại thiếp đi và nói mê bằng tiếng Anh và tiếng Trung…

Sau đó, ông Việt Cường xin phép đồng chí Văn cho xuống làng, lúc đó khoảng 3h chiều. Đến 5h chiều, đồng chí Văn xuống, ông chưa kịp hỏi thăm tình hình sức khỏe của Cụ thì đồng chí bảo sáng mai ông lên tiêm cho Cụ. Tâm trạng của ông lúc đó nửa mừng nửa lo. Mừng vì ông tiêm cho Cụ và Cụ đã đỡ phần nào. Lo là vì nội quy y tế của Pháp quy định y tá không có quyền chữa bệnh khi chưa có chỉ định của bác sỹ. Khi trấn tĩnh lại ông cũng yên tâm vì bệnh của Cụ có chiều hướng tốt lên, vả lại trước khi tiêm ông đã được sự đồng ý của đồng chí Văn.

Sáng hôm sau ông lên lán ngay, đến nơi đã thấy Cụ ngồi trước máy chữ đánh máy. Ông chào Cụ. Cụ nhìn ông một lượt rồi hỏi:

– Hôm qua chú tiêm thuốc gì cho tôi? Tiêm vào đâu?

Ông báo cáo với Cụ là đã tiêm những thứ thuốc đó và tiêm vào đùi bên trái. Cụ bảo:

– Tiêm vào đùi bên trái sao lại đau sang bên phải, đau cả bả vai và trên đầu.

Ông đoán chắc là Cụ thấy ông còn trẻ quá nên Cụ hỏi thử mình xem có biết thuốc men gì không mà tiêm cho Cụ, và ông báo cáo là cả hai thứ thuốc đó đều dễ tan nên không thể gây đau chỗ khác được, Cụ đau là do sốt rét. Nghe xong Cụ bảo: “Ừ, thế thì tiêm đi”.

Ông xuống nhóm lửa luộc ống tiêm, khi đang nhóm lửa, Cụ xuống ngồi bên cạnh hai tay hơ vào bếp lửa. Cụ hỏi:

– Chú là con nhà ai mà biết tiêm thuốc.

Ông báo cáo với Cụ về gia đình và bản thân, quá trình học y tá, nghe xong Cụ bảo:

– Các chú là thanh niên phải học nhiều vì làm cách mạng thì gian khổ lắm.

Sau đó, ông tiếp tục tiêm cho Cụ bằng thuốc ký ninh, với liều lượng  2 ống bằng 1 gam ký ninh. Sáng hôm sau, ông lại tiếp tục lên tiêm gặp Cụ, Cụ bảo:

– Thôi tôi khỏi ốm rồi, chú không phải tiêm nữa.

Ông xuống làng nhưng lòng vô cùng áy náy (vì nguyên tắc khi tiêm thuốc sốt rét thì phải tiêm đủ 3 mũi mới cắt sốt). Rất may khi xuống gặp đồng chí Văn, ông báo cáo lại sự việc, đồng chí im lặng một lúc rồi bảo ông cùng lên lán. Lên đến nơi vào gặp Cụ, đồng chí Văn nói:

– Thưa Bác, tình hình bây giờ rất khẩn trương thế này mà tổ chức lại không có thuốc chữa trị cho Bác, đề nghị Bác cho chú thanh niên này tiêm cắt sốt để Bác làm việc. Sau này đoàn thể tiếp tục chữa chạy cho Bác.

Nghe đồng chí Văn báo cáo xong, Cụ đồng ý cho ông tiêm, thế là ông tiêm cho Cụ mũi cuối cùng. Sáng hôm sau, ông lên lán đem theo 8 viên ký ninh được gói cẩn thận đưa và dặn Cụ mỗi ngày uống đủ hai viên cho khỏi hẳn…

Tháng 5.2003, ông Việt Cường viết những dòng tâm huyết gửi Đại tướng Võ Nguyên Giáp. Ông nhắc lại những việc đã được Đại tướng giao và những điều ông được nghe khi trở lại Tân Trào. Nhận được thư của ông Việt Cường, ngày 10.10.2003, Đại tướng đã viết vào mặt sau tờ giấy ông Việt Cường gửi cho Đại tướng. Chữ ký và bút tích của Đại tướng Võ Nguyên Giáp là sự hồi tưởng bổ sung sự kiện chữa bệnh cho Bác Hồ tại lán Nà Lừa năm 1945.

Hoa Đình Nghĩa
daibieunhandan.vn

Một lần vẽ Bác Hồ

Trong cuộc đời mỗi người, được một lần gặp Bác là kỷ niệm đẹp nhất, khó phai nhạt. Đối với họa sỹ Phan Kế An, ông có một vinh dự đặc biệt: được trực tiếp vẽ chân dung Bác Hồ.

Họa sỹ Phan Kế An sinh năm 1923 trong một gia đình danh giá. Cha ông, cụ Phan Kế Toại, từng làm đến chức Khâm sai Đại thần của Triều Nguyễn, sau tham gia cách mạng, giữ chức Bộ trưởng Nội vụ và Phó thủ tướng trong Chính phủ Hồ Chí Minh. Năm 1942, ông theo học tại trường Mỹ thuật Đông Dương, tham gia nhiều hoạt động cách mạng trong các phong trào của sinh viên, học sinh. Hưởng ứng lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến của Chủ tịch Hồ Chí Minh ông cùng nhiều văn nghệ sỹ, trí thức đi kháng chiến. Ông được công tác ở báo Sự Thật (tiền thân báo Nhân Dân) và được Tổng bí thư Trường Chinh (lúc bấy giờ đang phụ trách báo Sự Thật) giao vẽ về Bác, ở mọi tư thế, bằng mọi chất liệu để có một bức in vào số báo sau đó…

Nhận nhiệm vụ, họa sỹ Phan Kế An vô cùng sung sướng, vì niềm ao ước bấy lâu của ông là được gặp Bác Hồ và được vẽ Người. Nhưng xen lẫn sự vui sướng là tâm trạng lo âu. Ngay ngày hôm sau, ông chuẩn bị những vật dụng cần thiết đến gặp Bác. Khi đến nơi, ấn tượng đầu tiên của ông là cuộc sống vô cùng giản dị của Bác. Trong căn phòng nhỏ có rất ít đồ đạc, gồm một chiếc bàn gỗ trên đặt chiếc máy chữ, một phích đựng nước và một hộp đựng thuốc lá. Gặp Bác, Người ôm chầm lấy ông và hỏi thăm sức khỏe, tình hình công việc và gia đình của ông… Khi ông kể về cách giáo dục của bố ông đối với các con, dạy các con biết yêu lao động, họa sỹ Phan Kế An rất ngạc nhiên vì Bác đã biết về cách giáo dục của gia đình ông và Người nói đó là cách giáo dục tốt, đem lại lợi ích cho Tổ quốc…

Sau đó, Bác đưa họa sỹ Phan Kế An đến chỗ nghỉ ngơi và giới thiệu họa sỹ với mọi người. Cách xưng hô “mình – An” của Bác đã xóa tan mọi âu lo trong ông. Lời nói của Bác ân cần, tình cảm như của người cha dành cho người con vừa đi xa về. Người nói: “An ở đây với mình, ở bao lâu tùy An, An cứ làm việc theo ngẫu hứng của An. Mình làm việc khi chỗ này, khi chỗ nọ quanh đây, An cứ tự nhiên theo mình mà vẽ. Bây giờ An có thể tự do xuống chỗ anh Kỳ và các anh em khác nghỉ ngơi, muốn tắm thì xuống suối gần đây, chiều ăn cơm với mình”.

Khi thực hiện vẽ Bác, ông quan sát tỉ mỉ từng cử chỉ, động tác của Người để lựa chọn vị trí thích hợp. Vẽ Bác không dễ vì bản thân họa sỹ không muốn Bác phải ngồi như một người mẫu, ảnh hưởng đến công việc của Người, nhưng vẫn phải làm toát lên được cốt cách, nội tâm của Bác. Tuy nhiên, sau nửa tháng làm việc, họa sỹ Phan Kế An cũng đã cho ra đời được hơn 20 bức tranh về Bác. Khi ông báo cáo với Bác để xin ý kiến chọn lựa bức tranh cho số báo tiếp theo. Bác đề nghị treo tất cả các bức tranh ông đã vẽ lên vách và mời toàn bộ anh chị em trong cơ quan đến xem. Sau khi xem kỹ từng bức, Bác chỉ tay vào một bức được ông ký họa bằng nét bút sắt mực đen và nói: “Nếu lấy in báo thì lấy bức này, giản dị và có thần”.

Khi họa sỹ Phan Kế An trở về cơ quan, Tổng bí thư Trường Chinh chỉ thị cho in ngay bức tranh mà Bác đã chọn. Bức ký họa được in vào số báo tháng 12.1948, phát hành với số lượng lớn phục vụ đồng bào và chiến sỹ ta trên khắp các mặt trận.

Hình ảnh của Bác qua bức ký họa chân dung của họa sỹ Phan Kế An đã góp phần động viên đồng bào, chiến sỹ quyết tâm kháng chiến kiến quốc thắng lợi. Bức ký họa chính là một trong những bức tranh đẹp nhất mà họa sỹ vẽ về Bác thời kỳ ở chiến khu Việt Bắc.

Do chiến tranh nên các bức ký họa về Bác của họa sỹ Phan Kế An không còn nhiều. Những bức còn giữ được ông đã tặng lại Bảo tàng Hồ Chí Minh. Hiện nay tuy tuổi đã cao, nhưng họa sỹ Phan Kế An vẫn ấp ủ những dự  định sáng tác về Bác Hồ, vì những ngày bên Bác là khoảng thời gian đẹp nhất trong cuộc đời ông.

Hoa Đình Nghĩa
daibieunhandan.vn

40 năm – sức sống bất diệt của bản di chúc Bác Hồ

19/05/2009

NĐBO- Đã 40 năm kể từ ngày Chủ tịch Hồ Chí Minh, lãnh tụ vĩ đại của Ðảng và của dân tộc để lại cho chúng ta bản Di chúc lịch sử thiêng liêng, bất hủ. 40 năm qua là sự phấn đấu bền bỉ, là sự đồng sức, đồng lòng của dân tộc Việt Nam để thực hiện những ước nguyện thiêng liêng của Người. Nhân dịp kỷ niệm 119 năm ngày sinh nhật Bác, Phóng viên Báo điện tử Người đại biểu nhân dân đã có cuộc trò chuyện với TS Chu Đức Tính, Giám đốc Bảo tàng Hồ Chí Minh về bản Di chúc của Bác Hồ.

Di chúc của Hồ Chủ Tịch là cẩm nang tinh thần vô giá

PV: Thưa Tiến sĩ, ông có cho rằng, trong sâu thẳm của mỗi ngưòi dân Việt Nam, Di chúc của Hồ Chủ Tịch là một tài sản tinh thần vô giá?

TS Chu Đức Tính: Tháng 5.1965, bác Hồ đã viết xong bản di chúc. Từ đó trong suốt các năm: 1966, 1967, 1968, 1969 Bác đã dành thời gian lúc mình khoẻ mạnh, minh mẫn nhất và vào đúng dịp sinh nhật mình hàng năm xem lại bản di chúc mình đã viết lần đầu để sửa chữa, bổ sung cho phù hợp với tình hình mới trong nước và thế giới.

Tính từ ngày Bác viết di chúc lần đầu tiên đến nay là 44 năm, còn tính từ ngày bác đi vào cõi vĩnh hằng đến nay là 40 năm Đảng ta công bố di chúc của Bác. Lịch sử càng lùi xa thì chúng ta càng thấy sự vĩ đại đã được Bác viết đến trong những lời căn dặn cuối cùng của mình.

Bản di chúc là sự kết tinh tình cảm của Bác Hồ đối với toàn thể nhân dân Việt Nam, đặc biệt là đối với các cháu thiếu niên nhi đồng, với bạn bè thế giới; kết tinh mối quan tâm đặc biệt của Người với nhân dân lao động Việt Nam, những người như Bác nói là có hy sinh nhiều nhất cho cách mạng và bây giờ khi kháng chiến thành công, Đảng, Nhà nước cũng phải quan tâm nhiều nhất.

Di chúc kết tinh phẩm chất đạo đức của Chủ tịch Hồ Chí Minh, một người cộng sản, một người công dân số 1 của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa. Một người mà phẩm chất đạo đức của Người được thể hiện một cách nhất quán: trung với nước, hiếu với dân; là cần kiệm, liêm chính, chí công vô tư; là yêu thương con người, là tinh thần quốc tế trong sáng.. Và Di chúc của Người cũng là những định hướng về xây dựng đất nước Việt Nam trong một thời kỳ dài.

PV: Xin TS cho biết, ý nghĩa của bản Di chúc của Hồ Chủ Tịch trong thời điểm được công bố?

TS Chu Đức Tính: Lứa tuổi tôi hồi ấy cũng như lứa tuổi cha, anh nghe tin Bác mất như một sự hẫng hụt rất lớn. Ai cũng có chung một niềm lo là cuộc chiến tranh đang ác liệt thế này, Bác là người xây dựng Đảng, là người thành lập nước mà Bác mất đi thì liệu chúng ta sẽ đi đâu, về đâu… Bác mất, sự nghiệp dang dở, giải phóng miền Nam thống nhất Tổ quốc chưa hoàn thành…

Nhưng sau đó, được học tập di chúc Bác Hồ, được học tập lời điếu văn của Ban Chấp hành Trung ương Đảng do đồng chí Tổng Bí thư Lê Duẩn trình bày thì tất cả mọi công dân Việt Nam bấy giờ hoàn toàn tin tưởng. Bác mất nhưng Di chúc của Bác để lại là cẩm nang của cả dân tộc. Từ Di chúc của Bác Hồ, mỗi người dân Việt Nam yêu nước lấy lại được niềm tin, tin tưởng vào định hướng mà Bác Hồ đã gửi gắm. Chính vì niềm tin đó mà chúng ta thắng lợi, chứng tỏ chúng ta đặt niềm tin chính xác.

Đoàn kết là chiến lược để phát triển

PV: Thưa Tiến sĩ, phải chăng vấn đề đoàn kết, đại đoàn kết luôn được đề cao và là vấn đề then chốt của tư tưởng, đạo đức Hồ Chí Minh?

TS Chu Đức Tính: Trong Di chúc Bác Hồ đặc biệt quan tâm đến vấn đề đoàn kết. Đoàn kết trước hết là đoàn kết trong Đảng và đoàn kết toàn dân tộc. Đặc biệt, đoàn kết trong Đảng là tư tưởng xuyên suốt của Người bởi sức mạnh của Đảng chính là sức mạnh đoàn kết.

Bác đã dặn đi dặn lại trong di chúc là Đảng ta phải thực sự đoàn kết như “giữ gìn con ngươi của mắt mình”.

Trong Di chúc Bác chưa dùng từ đổi mới nhưng Bác nói là muốn hoàn thành những công việc nặng nề của đất nước thì phải động viên toàn dân, tổ chức toàn dân và huy động được sức mạnh tổng hợp của toàn thể nhân dân. Đoàn kết là chiến lược chứ không phải là sách lược, bởi đoàn kết tạo thành sức mạnh của cả dân tộc.

PV: Quan điểm vì con người và giải phóng con người được Hồ Chủ Tịch thể hiện trong bản di chúc như thế nào, thưa Tiến sỹ?

TS Chu Đức Tính: Trong di chúc, quan điểm vì con người và giải phóng con người được Bác thể hiện rất rõ. Nhất là các bản Bác viết thêm vào tháng 5.1968 và năm 1969. Bác viết 6 trang vào năm 1968, 6 trang này thể hiện rất rõ quan điểm vì con người và giải phóng con người của Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Bên cạnh Bác dặn chúng ta phải chỉnh đốn lại Đảng thì Bác dặn công việc hàn gắn vết thương chiến tranh là công việc đầu tiên là đối với con người. Bác dặn phải chăm lo thương binh, chăm lo gia đình liệt sỹ, thân nhân liệt sỹ, quyết không để họ đói nghèo, thiếu thốn. Đồng thời, chăm lo cho cả phần hương hồn những liệt sỹ đã khuất bằng cách nơi nơi có thể làm những nghĩa trang liệt sỹ để làm nơi đi về cho các liệt sỹ đã hy sinh vì nước.

Với bà con nông dân thì Bác có chủ trưng là sau ngày hoà bình thì nên đề nghị nhà nước miễn thuế nông nghiệp cho nông dân để bà con được hỉ hả, mát dạ, mát lòng.

Đối với thanh niên, Bác luôn luôn đặt niềm tin vào thanh niên. Bác nói nước nhà thịnh hay suy, yếu hay mạnh một phần lớn là do thanh niên. Đặc biệt trong di chúc, Bác dặn phải quan tâm đến thanh niên xung phong, quan tâm đến những người chiến sỹ lực lượng vũ trang trẻ tuổi, có điều kiện, có năng lực thì cho họ đi đào tạo. Đấy là nòng cốt để xây dựng chủ nghĩa xã hội tương lai.

Và một điều thấm đẫm nhân văn Hồ Chí Minh đó là Bác dặn bên cạnh việc quan tâm đến những người đã tham gia kháng chiến cứu nước dưới đủ các hình thức: bộ đội, thanh niên xung phong, thương binh, gia đình liệt sỹ, người có công… thì ngay cả nạn nhân của chế độ cũ như đối tượng cờ bạc, đĩ điếm, hút sách… vừa dùng pháp luật để cải tạo vừa giáo dục họ để trở nên con người lương thiện. Đấy là một điều rất nhân văn của Hồ Chí Minh trong di chúc, thể hiện tầm nhìn xa và sự hoà hợp dân tộc trong Di chúc của Người. Đấy là tầm mà Di chúc của Bác đã nêu lên và Đảng ta đã thực hiện suốt 40 năm qua.

PV: TS có cho rằng, ngày nay, quan điểm của Người về con người và vấn đề đoàn kết vẫn ý nghĩa ?

TS Chu Đức Tính: 40 năm nhìn lại, quan điểm của Bác thể hiện trong Di chúc về con người và về đoàn kết vẫn có ý nghĩa rất lớn. Bởi vì, không phải bỗng dưng trong những năm gần đây, trong những văn kiện của đại hội Đảng, chúng ta đã đề ra: Học tập tư tưởng Hồ Chí Minh, phát huy sức mạnh đoàn kết toàn dân tộc. Đây là quan điểm nhất quán và là quan điểm có tính chất chiến lược của Hồ Chí Minh. Và cũng chính vì theo tư tưởng Hồ Chí Minh mà chúng ta thắng lợi.

PV: Trong xu thế hội nhập kinh tế  quốc tế hiện nay, quan điểm của Bác về con người và vấn đề đoàn kết vẫn là kim chỉ nam cho Việt Nam khẳng định vị thế của mình ?

TS Chu Đức Tính: Hội nhập là một bước đi tất yếu. Nhưng trong thế giới hội nhập, vấn đề đoàn kết, tạo thành sức mạnh nội lực của dân tộc vẫn không có gì thay đổi. Năm 1945, khi nói về công tác ngoại giao, Bác đã nói: thực lực là cái chiêng mà ngoại giao như cái tiếng. Chiêng có tốt thì tiếng mới to được. Thực lực Bác nói chính là nội lực. Chúng ta trong xu hướng tất yếu của toàn cầu hóa thì phải hội  nhập. Nhưng điều chúng ta muốn hội nhập mà vẫn giữ được bản sắc văn hóa Việt Nam không có gì khác là phát huy được nội lực Việt Nam. Mà một trong những điều tạo nên nội lực Việt Nam, tạo thành một cấu kết cộng đồng chặt chẽ chính là tinh thần đoàn kết Hồ Chí Minh. Đoàn kết trong Đảng, đoàn kết trong dân, đoàn kết quốc tế. Có nội lực là vì đoàn kết, mà đoàn kết thì có nội lực.

PV: Xin cảm ơn Tiến sĩ!

Lệ Thủy thực hiện
daibieunhandan.vn

Học phong cách viết báo của Bác Hồ

13/06/2008

Tôi rất hoan nghênh Báo NĐBND tổ chức Tọa đàm “Báo NĐBND thực hành theo phong cách viết báo của Chủ tịch Hồ Chí Minh”.

Để thiết thực tham gia cuộc Tọa đàm, tôi muốn nói lên một vài suy nghĩ của mình.

Năm nay, chúng ta kỷ niệm 83 năm, ngày Bác Hồ lập ra Tờ báo Thanh niên và cũng là Kỷ niệm 83 năm ngày Báo chí Cách mạng Việt Nam (1925- 2008).

Bác Hồ dạy: Báo chí là vũ khí, nhà báo là chiến sỹ. Người là lãnh tụ tối cao của cách mạng Việt

Nam, đồng thời cũng là nhà báo với ngòi bút sắc sảo. Những năm tháng trước đây của thời kỳ kháng chiến chống thực dân Pháp và kháng chiến chống Mỹ cứu nước, thông qua các bài báo của Bác, nhân dân cả nước hiểu rõ tình hình, quán triệt tư tưởng chỉ đạo, quyết tâm phấn đấu không ngừng để thực hiện các nhiệm vụ, cách mạng Việt Nam đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác.
Nghiên cứu phong cách viết báo của Bác Hồ, chúng ta thấy thể hiện rõ ở các nội dung sau:

1. Trước hết, Bác Hồ quan niệm, tiếng Việt là tài sản vô cùng quý báu của dân tộc. Trải qua hàng ngàn năm, ông cha ta đã nâng niu, chắt lọc và phát triển ngôn ngữ Việt phong phú như ngày hôm nay. Bác luôn nhắc nhở: Mọi người có trách nhiệm quý trọng, giữ gìn và phát triển tiếng Việt để ngày càng hoàn thiện hơn.

2. Qua những bài báo của Chủ tịch Hồ Chí Minh, chúng ta thấy Người rất coi trọng cách diễn đạt. Muốn viết một bài báo, trước hết phải xác định rõ: Chủ đề, đối tượng và mục đích. Bác thường nhấn mạnh: Viết cái gì? Viết như thế nào?

3. Nắm vững đối tượng của bài viết và hiểu thấu đáo bài báo đó được thể hiện trong một văn cảnh cụ thể. Có vậy mới tìm ra cách viết phù hợp.

Trong từng bài viết, chúng ta đều thấy rõ Người viết cho ai?

Với đối tượng là nhân dân lao động thì ngôn từ ngắn gọn và giản dị. Nhiều khi Bác dùng những câu có vần hoặc ca dao, tục ngữ rất quen thuộc mà nhiều người đã thấm vào trong máu thịt.

Nếu đối tượng là những người có trình độ học vấn cao, hiểu biết nhiều thì Người lại có cách nói uyên bác, nói ít hiểu nhiều. Người thường mang những lời răn dạy của các bậc tiên hiền ra để phân tích, giúp cho các nhà khoa học, các văn nghệ sỹ hiểu được nhiều điều sâu sắc.

4. Luôn tìm tòi và bổ sung làm cho tiếng Việt thêm phong phú. Đấy là sự sáng tạo. Hai yếu tố quan trọng trong phong cách viết của Bác Hồ là chân thực và ngắn gọn.

Chân thực có nghĩa là các thông tin phải bắt nguồn từ thực tế cuộc sống. Những con số, sự kiện phải mạch lạc, rõ ràng; Đương nhiên phải được xem xét, kiểm tra kỹ lưỡng. Bác nhắc nhở: “Viết phải đúng sự thật, không được bịa ra”.

Ngắn gọn là viết phải rõ ràng, có đầu có đuôi, nội dung thiết thực. Làm được thế sẽ đạt tới sự cô đọng mà lại hàm súc, lời ít ý nhiều, không thừa chữ.
Văn phong của Bác luôn luôn trong sáng, giản dị và dễ hiểu.

5. Quan điểm xuyên suốt của Bác Hồ: Văn không chỉ là văn. Văn cũng chính là người. Vì thế, phải luôn luôn gần gũi, gắn bó với nhân dân. Thông qua hoạt động thực tiễn, mỗi người phải học hỏi tinh hoa đạo đức của nhân dân, học cách nói của nhân dân. Theo Người, học nói, học viết cũng là từng bước hoàn thiện những phẩm giá của chính mình.

Nhân dịp Ngày Báo chí Việt Nam và Kỷ niệm 83 năm ra đời của Báo Thanh niên do Bác Hồ sáng lập, tôi viết mấy vần thơ để tặng các nhà báo.

            Hồn bút thiêng

Hơn tám mươi năm gắng tảo tần
Nghiệp đời báo chí nghĩa tình dân
Thị thành làng bản đời sương gió
Cách mạng kiên trung khúc tráng ngân

Đổi mới – Con đường, nguyện cách tân
Tâm thành tích đức tuyết tinh thần
Kiên trì tôi luyện hun truyền thống
Chiến sỹ tiên phong quyết dấn thân

Sức trẻ dặm trường xây nhân cách
Trùng khơi thế sự vượt gian truân
Điểm tô non nước ngời văn hiến
Ngọn bút hồn thiêng vẹn đức nhân

Khát vọng lòng son nuôi chí lớn
“Thanh niên” hùng tiến bước phong trần
Bác Hồ – Ngọn đuốc trời hừng sáng
Tổ quốc hào quang tràn sắc xuân.

Vũ Mão

Vũ Mão
daibieunhandan.vn

Một số bức thư, bài nói, bài viết của Chủ tịch Hồ Chí Minh về cán bộ y tế và ngành y

Lúc sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh kính yêu luôn dành những tình cảm đặc biệt cho đội ngũ trí thức, đặc biệt là đội ngũ trí thức ngành y, Người cũng đã để lại cho chúng ta những tư tưởng, quan điểm vô cùng sâu sắc, phong phú, có ý nghĩa định hướng cho việc phát triển một nền y học Việt Nam hiện đại; triết lý sống, phương châm, kim chỉ nam hành động, thước đo giá trị đạo đức của các thế hệ thầy thuốc nước ta. Nhân dịp kỷ niệm 58 năm Ngày Thầy thuốc Việt Nam (27/02/1955 – 27/02/2013), chúng ta cùng đọc lại, nghiên cứu và làm theo những tư tưởng tiến bộ của Chủ tịch Hồ Chí Minh qua một số bức thư, bài nói, bài viết về cán bộ y tế nói riêng và ngành y nói chung:

11. mọt
Chủ tịch Hồ Chí Minh nói chuyện thân mật với đội ngũ trí thức ngành Y.

Ảnh internet

1. Ngày 08-01-1947, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã viết “Thư khen ngợi các chiến sĩ bị thương và sự tận tâm của các y sĩ, khán hộ, cứu thương” – Bản gốc lưu tại Trung tâm Lưu trữ Quốc gia I (Hồ Chí Minh toàn tập, NXBCTQG, Xb lần thứ 3, tập 5, tr16)

Tôi tiếp được nhiều thơ nam nữ chiến sĩ bị thương, hăng hái hứa với tôi rằng: Hễ vết thương khỏi, thì lại xin ra mặt trận.

Lòng yêu nước, chí kiên quyết của các chiến sĩ thật là đáng quý!

Các chiến sĩ đã hy sinh máu mủ để giữ gìn đất nước. Nay đã bị thương mà còn mong mỏi ra sát địch ở trận tiền. Các chiến sĩ thật xứng đáng với Tổ quốc, và Tổ quốc sẽ không bao giờ quên những người con yêu quý như thế.

Tôi thay mặt Chính phủ hỏi thăm và chúc anh chị em mau lành mạnh.

Các anh em thầy thuốc và chị em khán hộ, cứu thương,

Tôi được báo cáo rằng: Các thầy thuốc và khán hộ đều hết lòng săn sóc thương binh một cách rất chu đáo. Thế là các bạn cũng trực tiếp tham gia kháng chiến cứu quốc.

Tôi thay mặt anh em thương binh, cảm ơn các bạn, và khuyên các bạn gắng sức.

Tôi gửi cho tất cả mọi người trong nhà thương lời chào thân ái và quyết thắng.

Chủ tịch Chính phủ
Việt Nam Dân chủ Cộng hoà

HỒ CHÍ MINH

2. Theo Tài liệu lưu tại Văn phòng Chính phủ, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã viết “Thư gửi Hội nghị Y tế Liên khu”(Hội nghị Y tế Liên khu họp tại Liên khu X từ ngày 4 đến ngày 7-6-1948) (Hồ Chí Minh toàn tập, NXBCTQG, Xb lần thứ 3, tập 5, tr548).

“Gửi Hội nghị Y tế,

            Nhờ ông Bộ trưởng Bộ Y tế chuyển,

Nhân dịp Hội nghị này, tôi gửi lời thân ái chào các đại biểu và nhờ các đại biểu chuyển lời tôi hỏi thăm tất cả các bác sĩ, y dược sĩ, cứu thương, khán hộ và công nhân giúp việc trong các cơ quan y tế.

Mặc dầu những sự khó khăn thiếu thốn trong thời kỳ kháng chiến, các nhân viên y tế, từ cao cấp đến những cán bộ phổ thông đều cố gắng làm tròn nhiệm vụ. Tôi biết có những anh em gia đình đông, lương bổng ít, rất túng thiếu, mà vẫn vui vẻ làm việc. Lòng đồng cam cộng khổ với toàn thể đồng bào ấy thật đúng như lời Khổng Tử đã nói: “Cùng đương ích kiên”, và thật là đáng quý, đáng kính.

Bây giờ ta chịu khó với nhau. Đến ngày kháng chiến thắng lợi, độc lập thành công, điều kiện cho phép, Chính phủ quyết không quên công lao của anh em đã cố gắng.

Cũng như các ngành chuyên môn khác, cũng như toàn thể đồng bào, anh em y tế đã cố gắng, ta còn phải cố gắng thêm. Trong cuộc Thi đua ái quốc này, tôi mong rằng nhân viên y tế sẽ là một trong những đội xung phong hăng hái. Tôi nêu ra đây vài điểm chính, để thêm ý kiến cho Hội nghị thảo luận về cuộc thi đua:

1) Nay những thứ thuốc ta quen dùng, càng ngày càng hiếm, vì vậy anh em y tế nên thi đua nhau tìm ra những thứ thuốc mà nước ta sẵn có nguyên liệu.

2) Cùng những thứ thuốc ta có, anh em nên thi đua cùng nhau tìm cách chữa chóng khỏi mà tốn ít thuốc.

2) Những bệnh phổ thông nhất ở nước ta là: Đau mắt, ghẻ, kiết lỵ, tả, sốt cơn, sốt cảm, báng. Anh em nên thi đua nhau tìm ra những thứ thuốc dễ sắm nhất và hiệu nghiệm nhất.

Ngoài ra, cách tổ chức làm việc, tuyên truyền vệ sinh, số bệnh nhân được chữa khỏi; giúp đỡ dân chúng, vân vân, đều là những điểm cần đưa vào cuộc thi đua.

Chính phủ sẵn sàng khen thưởng những người xuất sắc nhất.

Với sự lãnh đạo cao thiết thực của ông Bộ trưởng và sự hăng hái của các đại biểu cùng tất cả nhân viên, tôi chắc rằng y tế của ta sẽ làm tròn nhiệm vụ vẻ vang của mình trong công cuộc kháng chiến và kiến quốc.

Chào thân ái và quyết thắng

HỒ CHÍ MINH

Tài liệu lưu tại Văn phòng Chính phủ

3. Ngày 26/2/1949, trên Báo Cứu Quốc số 1177 đăng “Thư gửi nam nữ học viên Trường y tá Liên khu I” của Chủ tịch Hồ Chí Minh (Hồ Chí Minh toàn tập, NXBCTQG, Xb lần thứ 3, tập 6, tr34).

“Các bạn yêu quý,

Y tá chẳng những là một nghề nghiệp, mà lại là một nghĩa vụ. Người y tá chẳng những giúp chữa bệnh mà còn phải phổ biến vệ sinh. Việc giữ gìn và bồi dưỡng sức khoẻ của dân tộc, người y tá phải gánh một phần quan trọng. Vì vậy, y tá là những chiến sĩ đánh giặc ốm, để bảo vệ sự khang kiện của giống nòi. Những chiến sĩ y tá phải có chí chịu khổ, chịu khó. Phải giàu lòng bác ái hy sinh.

Trong phong trào Thi đua ái quốc, tôi mong các bạn xung phong học và hành, ngày càng tiến bộ.

Với tinh thần thanh niên hăng hái của các bạn, với sự huấn luyện ân cần của các giáo viên, tôi chắc các bạn đều làm tròn nhiệm vụ một cách vẻ vang.

Chào thân ái và quyết thắng

Tháng 2 năm 1949

HỒ CHÍ MINH

4. Khoảng tháng 6 năm 1953, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã viết “Thư gửi Hội nghị cán bộ Y tế toàn quốc năm 1953”, (Hồ Chí Minh toàn tập, NXBCTQG, Xb lần thứ 3, tập 8, tr154. Tài liệu lưu tại Trung tâm Lưu trữ Quốc gia I.

(Nhờ ông Bộ trưởng chuyển Hội nghị cán bộ y tế)

Nhân dịp Hội nghị này, tôi gửi lời thân ái chúc các bạn mạnh khoẻ và hăng hái công tác để Hội nghị được nhiều kết quả thiết thực và tốt đẹp. Tôi nêu mấy ý kiến sau đây để giúp các bạn nghiên cứu.

Sức khoẻ của cán bộ và nhân dân được đảm bảo thì tinh thần càng hăng hái. Tinh thần và sức khoẻ đầy đủ thì kháng chiến càng nhiều thắng lợi, kiến quốc càng mau thành công. Nhiệm vụ ấy có hai phần:

Phòng bệnh cũng cần thiết như trị bệnh, để làm tròn nhiệm vụ ấy cán bộ y tế (bác sĩ, y tá, những người giúp việc) cần phải:

Thương yêu người bệnh như anh em ruột thịt.

Cần phải tận tâm tận lực phụng sự nhân dân.

“Lương y phải kiêm từ mẫu”. Cán bộ y tế nên cố gắng thực hiện mấy điểm này:

Về chuyên môn: Cần luôn luôn học tập nghiên cứu để luôn luôn tiến bộ, nhưng phải chú trọng cái gì thiết thực và thích hợp với hoàn cảnh kháng chiến của ta hiện nay.

Về chính trị: Cần trau dồi tư tưởng và đạo đức của người cán bộ trong chế độ dân chủ: yêu nước, yêu dân, yêu nghề, đoàn kết nội bộ, thi đua học tập, thi đua công tác.

Về tổ chức: Cần chỉnh đốn và kiện toàn bộ máy từ trên xuống dưới làm cho nó gọn gàng, hợp lý, ít tốn người tốn của mà làm được nhiều việc ích lợi cho nhân dân.

Về cán bộ: Cần lựa chọn và đào tạo nhiều cán bộ mới trong số thanh niên nam nữ, dạy cho họ những công tác cần thiết trong nhân dân, trong dân công ở vùng tạm chiếm và vùng rừng núi.

Một số cán bộ y tế đã được chỉnh huấn, đó là một việc rất tốt. Nên xếp đặt công việc để cho mọi người đều được chỉnh huấn, như thế sẽ rất lợi cho công tác chung cho Bộ.

Chúc Hội nghị thành công.

Chào thân ái và quyết thắng
HỒ CHÍ MINH

Viết khoảng tháng 6-1953.

5. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã viết “Thư gửi Hội nghị cán bộ Y tế” đăng trên Báo Nhân Dân, số 362, ngày 27/2/1955 (Hồ Chí Minh toàn tập, NXBCTQG, Xb lần thứ 3, tập 9, tr343)

“Bác thân ái chúc các cô ( nghe nói có nữ bác sĩ ở Nam về?), các chú vui vẻ, mạnh khoẻ, hăng hái trao đổi kinh nghiệm, bàn định kế hoạch cho thiết thực và làm việc cho tiến bộ.

Bác góp vài ý kiến sau đây để giúp các cô, các chú thảo luận:

– Trước hết là phải thật thà đoàn kết – Đoàn kết là sức mạnh của chúng ta. Đoàn kết thì vượt được mọi khó khăn, giành được nhiều thành tích.

Đoàn kết giữa cán bộ cũ và cán bộ mới. Đoàn kết giữa tất cả những người trong ngành y tế, từ các Bộ trưởng, Thứ trưởng, bác sĩ, dược sĩ cho đến các anh chị em giúp việc. Bởi vì công việc và địa vị tuy có khác nhau, nhưng người nào cũng là một bộ phận cần thiết trong ngành y tế, trong việc phục vụ nhân dân.

– Thương yêu người bệnh – Người bệnh phó thác tính mệnh của họ nơi các cô, các chú. Chính phủ phó thác cho các cô, các chú việc chữa bệnh tật và giữ sức khoẻ cho đồng bào. Đó là một nhiệm vụ rất vẻ vang.

Vì vậy, cán bộ cần phải thương yêu, săn sóc người bệnh như anh em ruột thịt của mình, coi họ đau đớn cũng như mình đau đớn.

“Lương y phải như từ mẫu”, câu nói ấy rất đúng.

– Xây dựng một nền y học của ta – Trong những năm nước ta bị nô lệ, thì y học cũng như các ngành khác đều bị kìm hãm. Nay chúng ta đã độc lập, tự do, cán bộ cần giúp đồng bào, giúp Chính phủ xây dựng một nền y tế thích hợp với nhu cầu của nhân dân ta. Y học càng phải dựa trên nguyên tắc: khoa học, dân tộc và đại chúng.

Ông cha ta ngày trước có nhiều kinh nghiệm quý báu về cách chữa bệnh bằng thuốc ta, thuốc bắc. Để mở rộng phạm vi y học, các cô, các chú cũng nên chú trọng nghiên cứu và phối hợp thuốc “Đông” và thuốc “Tây”.

Mong các cô, các chú cố gắng thi đua làm tròn nhiệm vụ.

Chào thân ái và thành công
Tháng 2 năm 1955
HỒ CHÍ MINH

6. Với bút danh C.B, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã viết bài “Y tế ở Liên Xô” đăng trên Báo Nhân Dân, số 644, ngày 07/12/1955 (Hồ Chí Minh toàn tập, NXBCTQG, Xb lần thứ 3, tập 10, tr198)

“ Bác sĩ Guilăng là Giám đốc các nhà thương chữa bệnh thần kinh ở Pari và quận Xem (Pháp). Đi thăm Liên Xô về, bác sĩ G. đã thuật lại ấn tượng như sau (trong Báo Thế giới, 18-11). Y tế Liên Xô có mấy đặc điểm:

– Hợp lý – Nhân dân ai ốm thì được chữa, không mất tiền thầy tiền thuốc. Các thầy thuốc đưa tất cả tinh thần và lực lượng làm cho nhà thương, không hề làm riêng ở ngoài. Y tế cực kỳ xem trọng việc phòng bệnh, xem trọng điều kiện sinh hoạt và điều kiện làm việc của nhân dân. Ra sức bồi dưỡng thêm nhiều cán bộ.

– Phát triển việc nghiên cứu – Về mặt kỹ thuật và máy móc y tế, nhiều chỗ hơn các nước phương Tây. Số nhà thương và số khoa học thầy thuốc thì nhiều hơn gấp mấy. Liên Xô có 7 viện với 350 người chuyên môn nghiên cứu bệnh thần kinh. Ngoài ra, còn nhiều viện chuyên môn nghiên cứu lý luận Páplốp. ở viện Bucốp có 160 bác sĩ, 550 người giúp việc, 38 phòng nghiên cứu, với một cái vườn rộng 1.600 mẫu tây.

– Đủ thầy thuốc – Nhà thương Viledui (Pari) có 2800 người bệnh, mà chỉ có 22 bác sĩ, trong số đó có những người mỗi tuần lễ chỉ làm một hoặc hai buổi.

Nhà thương Cachenki (Liên Xô) có 1800 bệnh nhân, mà có 127 bác sĩ ngày nào cũng làm việc 2 buổi ở nhà thương.

– Nhân đạo – Ở nhà thương Gagra mà bác sĩ G. đã đến thăm, mỗi bữa có 47 món ăn khác nhau, do thầy thuốc hướng dẫn người bệnh chọn món gì thích hợp cho họ. Ở các nhà thương Liên Xô hoàn toàn không dùng cách trói buộc người bệnh khi lên cơn điên. Trong dố 419 thầy thuốc và người giúp việc ở nhà thương Gagra chỉ có 8 người đàn ông. Điều đó chứng tỏ ở đây người ta đối với bệnh nhân sự săn sóc, an ủi, yêu thương đến mức nào.

Bác sĩ G. kết luận: Y tế Liên Xô đã trở nên y tế kiểu mới, các nước có thể học nó mà để cải thiện y tế của mình”.

7. Thư gửi cán bộ và nhân viên nhà thương Nghệ An, Bác Hồ viết ngày 16/3/1967 in trong sách Bác Hồ với quê hương Nghệ – Tĩnh, Ban Nghiên cứu lịch sử Đảng Tỉnh ủy Nghệ – Tĩnh 1977, tr156 (Hồ Chí Minh toàn tập, NXBCTQG, Xb lần thứ 3, tập 15, tr316)

“Thân gửi cán bộ và nhân viên nhà thương Nghệ An,

Bác được báo cáo:

– Rằng hầu hết cán bộ và công nhân viên của nhà thương là phụ nữ.

– Rằng các cô, các cháu đã vượt mọi khó khăn gian khổ, quyết tâm xây dựng một nhà thương tốt.

– Rằng mặc dù công việc nhiều, các cô, các cháu vẫn học tập đều đặn để nâng cao trình độ chuyên môn và chính trị.

Bác rất vui lòng khen các cô, các cháu và mong tất cả mọi người đoàn kết tốt và tiến bộ nhiều, góp phần xứng đáng vào sự nghiệp chống Mỹ, cứu nước thắng lợi.

Bác cũng gửi lời chúc bà con nằm nhà thương mau chóng mạnh khoẻ, để về nhà tham gia sản xuất và chiến đấu.

Chào thân ái và quyết thắng

Hà Nội, ngày 16 tháng 3 năm 1967

 BÁC HỒ

8. Ngày 31/7/1967, Bác Hồ viết “Thư khen cán bộ và nhân viên quân y” đăng trên Báo Nhân Dân, số 4861, ngày 01/8/1967 (Hồ Chí Minh toàn tập, NXBCTQG, Xb lần thứ 3, tập 15, tr361)

“Thân ái gửi cán bộ và nhân viên quân y,

Trong sự nghiệp chống Mỹ, cứu nước, ngành quân y ta đã có nhiều cố gắng và đã lập được thành tích trong việc cứu chữa thương binh, bệnh binh cũng như trong việc giữ gìn sức khoẻ bộ đội.

Quân y đã cùng với ngành y tế nhân dân chế được nhiều thuốc hay, tìm được nhiều cách chữa giỏi, góp phần tổ chức, hướng dẫn cho bộ đội cách ăn ở tốt và đã đào tạo, bồi dưỡng được nhiều cán bộ, nhân viên tốt.

Nhiều cán bộ, nhân viên quân y đã nêu cao tinh thần dũng cảm, tận tuỵ cứu chữa đồng đội.

Nhiều đơn vị quân y đã có thành tích xuất sắc.

Cán bộ, nhân viên quân y còn tham gia cứu chữa, chăm sóc sức khoẻ của nhân dân ở các nơi đóng quân.

Bác rất vui lòng thay mặt Trung ương Đảng và Chính phủ khen ngợi các đồng chí. Bác nhắc nhủ các cô, các chú phải:

– Đoàn kết chặt chẽ, nêu cao tinh thần tập thể, thi đua học tập và công tác để tiến bộ không ngừng về chính trị, tư tưởng, về chuyên môn kỹ thuật.

– Luôn luôn ghi nhớ rằng người thầy thuốc giỏi, đồng thời phải là người mẹ hiền, hết lòng hết sức cứu chữa và phục vụ thương binh, bệnh binh, tích cực nâng cao sức khỏe của bộ đội, góp phần cùng toàn quân, toàn dân đẩy mạnh sự nghiệp chống Mỹ, cứu nước đến thắng lợi hoàn toàn.

Nhân dịp này, Bác thân ái hỏi thăm các đồng chí thương binh, bệnh binh, khuyên các đồng chí yên tâm chữa bệnh mau chóng khỏe để trở lại công tác.

Chào thân ái và quyết thắng

Ngày 31 tháng 7 năm 1967

BÁC HỒ

Huyền Trang (tổng hợp)
bqllang.gov.vn

Thiệp chúc Tết của Chủ tịch Hồ Chí Minh qua các năm

thiep.5Thiệp chúc Tết của Chủ tịch Hồ Chí Minh năm 1948

thiep 3
Thiệp chúc Tết của Chủ tịch Hồ Chí Minh năm 1949

thipe.4
Thiệp chúc Tết của Chủ tịch Hồ Chí Minh năm 1951

thiep .1
Thiệp chúc Tết của Chủ tịch Hồ Chí Minh năm 1952

thiep.2
Thiệp chúc Tết của Chủ tịch Hồ Chí Minh năm 1953

thiep tet 6
Thiệp chúc Tết của Chủ tịch Hồ Chí Minh năm 1957

thiep tet  7
Thiệp chúc Tết của Chủ tịch Hồ Chí Minh năm 1958

thiep  8
Thiệp chúc Tết của Chủ tịch Hồ Chí Minh năm 1965

thiep   9
Thiệp chúc Tết của Chủ tịch Hồ Chí Minh năm 1962

thiep  10
Thơ mừng Xuân Đinh Mùi năm 1967 của Chủ tịch Hồ Chí Minh

thiep  11
Thơ chúc Tết Mậu Thân của Chủ tịch Hồ Chí Minh năm 1968

thiep 12
Thơ chúc Tết đồng bào và chiến sĩ Xuân Kỷ Dậu của Chủ tịch Hồ Chí Minh năm1969

Kim Yến (Tổng hợp)
bqllang.gov.vn

Kỷ niệm về lần gặp Bác Hồ của “chim cánh cụt” Hoa Xuân Tứ

Đã gần 50 năm trôi qua nhưng những kỉ niệm về lần duy nhất trong đời được gặp Bác Hồ vẫn nguyên vẹn trong tâm trí Hoa Xuân Tứ. Đó cũng là lần duy nhất cậu bé không tay Hoa Xuân Tứ được tham dự Đại hội chiến sỹ thi đua chống Mỹ cứu nước.

14.1hoaxuantu a1
Hoa Xuân Tứ và vợ

Bác dặn “phải cố gắng nhiều hơn”!

Chúng tôi tìm về nhà ông Hoa Xuân Tứ (SN 1950, trú tại xóm 4, xã Hưng Nhân, Hưng Nguyên, Nghệ An) một ngày đầu năm 2013. Trong căn nhà gỗ cũ kỹ, Hoa Xuân Tứ đang lăn trên giường để dỗ đứa cháu trai đang khóc vì ngái ngủ. Dưới nền nhà, lạc vỏ, lạc nhân vương vãi. Thấy có khách, ông bật dậy, cười: “Đang bóc lạc để chuẩn bị gieo thì thằng cháu dậy. Nhà chỉ còn tôi với đứa con gái tật nguyền ở nhà thôi. Bà nó và đứa con dâu đang ở ngoài đồng.”

Ông cúi xuống, đứa cháu chừng 3 tuổi vòng tay ôm lấy cổ. Hai ông cháu ra bàn ngồi, hai cánh tay bị cắt cụt để bả vai, chỉ còn hai chiếc ống tay áo lủng lẳng theo nhịp bước đi. Đó là hậu quả một vụ tai nạn khi ông còn là một đứa trẻ 4 tuổi. Lần đó, ông đi xem người ta ép mía bằng trục đá do trâu bò kéo. Một phút bất cẩn, cả phần thân trên của ông bị cuốn vào cái trục đá đó. Hai cánh tay bị nghiền nát bét lên tận bả vai, ngực cũng bị tổn thương nặng nề.

14.2hoaxuantua2
Dù không còn đôi tay nhưng Hoa Xuân Tứ vẫn lao động như một lão nông tri điền thực thụ

Sau một thời gian cứu chữa, bác sỹ buộc phải cắt trọn 2 cánh tay của Tứ. Dù mới 4 tuổi nhưng Tứ đã hiểu nỗi mất mát lớn lao của mình. Thế nhưng cái lòng ham học thì chẳng có trở ngại nào có thể ngăn cản được. Thấy bạn bè cắp sách tới trường, Tứ nằng nặc đòi đi theo. “Mi không có tay, viết chữ răng được mà đi hả con?”, bố mẹ của ông động viên.

Kệ, ông cứ để ngoài tai. Sáng sáng, khi các bạn ôm cặp tới trường cũng là khi ông lúc lắc thân hình không tay tới lớp. “Thấy tôi không có tay, các thầy cô giáo cũng không cho vào học vì nghĩ rằng tôi không thể viết được. Tôi đứng ngoài cửa, nhìn cô giáo dạy các bạn viết rồi về nhà, dùng que, dùng gạch, phấn kẹp vào ngón chân, tập viết ra sân. Không nói hết cái khổ cực của tập viết bằng chân mô, có khi chuột rút cho ngã ngửa ra sân, đau đến méo cả miệng.

Rồi tôi cũng viết được chữ, tuy không đẹp lắm. Lần này thì các thầy cô cho tôi vào học vì thương tôi đã khổ luyện. Tôi được ngồi riêng một bàn, chẳng cần ghế vì phải ngồi hẳn lên bàn mới viết được. Nhưng dần dần tôi thấy mình “bất lịch sự quá” nên cố gắng chuyển sang tập viết bằng cằm và cổ. Tôi cứ kẹp cái bút vào cổ, dùng vai và cằm điều khiển nó đi theo ý định của mình. Hồi đó còn viết bằng bút mực, mực loang lổ cả áo là chuyện thường. Sau 3-4 tháng khổ luyện, tôi không phải dùng chân để viết nữa”, Hoa Xuân Tứ nhớ lại.

14.3hoaxuantua3
Nhờ khổ luyện, ông có thể viết chữ bằng chân và bằng cằm, cổ

Không còn phải viết bằng chân nhưng đôi chân đã thay cho đôi bàn tay khi nó có thể giúp Tứ làm được mọi việc, từ chăn trâu, cuốc đất… Ngoài việc giúp đỡ bố mẹ việc nhà, việc đồng áng, dù không có tay nhưng Tứ vẫn giành được thành tích đáng nể trong học tập, nhiều năm liền giành được danh hiệu học sinh tiên tiến. Rồi Tứ vinh dự được tham dự Đại hội “2 giỏi” toàn tỉnh và được các nhà báo Hữu Thọ, Vũ Quang Huy, nhà văn Sơn Tùng biết tới. Những bài viết về nghị lực vươn lên của chú bé không tay Hoa Xuân Tứ đã được cả nước biết đến.

Năm 1966, Hoa Xuân Tứ được vinh dự tham gia Đại hội Anh hùng chiến sỹ thi đua chống Mỹ cứu nước toàn quốc. “Đại hội to lắm, toàn các chú bộ đội nhiều thành tích trong chiến đấu chống Mỹ cứu nước. Năm đó chỉ có 6 thiếu nhi được tham dự thôi, gồm tôi, bạn Kiều Anh (Hà Nội), Đinh Thị Lê Kim (Hải Phòng), Nguyễn Bá Ngọc, Nguyễn Thị Vệ (Thanh Hóa), Trần Ngọc Ý (Hà Tĩnh) vì đã có những cố gắng trong học tập và cuộc sống.

“Đó cũng là lần đầu tiên và duy nhất tôi được gặp Bác Hồ. Sau khi gặp gỡ chung toàn Đại hội, chúng tôi được gặp riêng Bác. Bác ân cần thăm hỏi hoàn cảnh gia đình của từng bạn, thưởng kẹo. Bác đặt tay lên vai tôi rồi nói: “Cho Bác gửi lời hỏi thăm bạn bè, bố mẹ, thầy cô của các cháu. Chúc mọi người sức khỏe và công tác tốt. Các cháu là những mầm non của đất nước, các cháu phải cố gắng nhiều hơn nữa, phải cố gắng học hành giỏi giang để sau này trở thành người có ích cho đất nước, có ích cho xã hội”.

Biết hoàn cảnh của tôi, Bác đã chỉ thị cho bác sỹ Tôn Thất Tùng làm cho tôi cánh tay giả. Chiếc tay giả này có khớp, giúp tôi ăn cơm hay làm các việc nhẹ nhàng nhưng đã bị cuốn mất trong cơn lũ năm 1978”, ông Tứ kể tiếp.

Những lời căn dặn của Bác đã trở thành động lực để ông cố gắng mỗi khi vấp váp hay cảm thấy mình đuối sức trước những quăng quật của gánh nặng cơm áo gạo tiền. Cánh tay giả – món quà của Bác dành cho ông không còn nữa nhưng những tấm ảnh được chụp cùng Bác được ông cất giữ như báu vật, đóng khung nhôm đặt ngay ngắn trong tủ kính giữa nhà.

Ước mơ cuối đời của người đàn ông không tay

Học giỏi nhưng nhà nghèo, ông đi thi đại học cho lấy lệ rồi ở nhà luôn, cũng chẳng màng kết quả thi cử thế nào bởi nếu có đậu cũng không có điều kiện đi học. Học dở lớp 10 (tương đương với lớp 12 bây giờ), 20 tuổi, Tứ gặp và nên duyên vợ chồng với người phụ nữ hơn mình 6 tuổi. Đó là người phụ nữ chịu nhiều thiệt thòi trong cuộc sống. Sau lần bị thương do bom đạn Mỹ gây ra khi bà đi dân công, nhà chồng sắp cưới hối hôn vì nghĩ rằng bà không còn khả năng sinh đẻ. Bởi vậy, dù Hoa Xuân Tứ không có tay, chấp nhận lấy ông là chấp nhận khó khăn và cơ cực nhưng bà vẫn vượt qua sự cấm đoán của gia đình để đến với ông.

14.4hoaxuantu a4
Những tấm ảnh chụp cùng với Bác Hồ trong lần tham dự Đại hội Anh hùng chiến sỹ thi đua toàn quốc năm 1966 được ông cất giữ và treo trang trọng trong nhà

Nhà Tứ nghèo, bà Lê Thị Sự cũng nghèo, bởi vậy tài sản ra riêng của vợ chồng chỉ là căn nhà tranh rách nát. Lần lượt 5 đứa con ra đời, bà gần như phải làm trụ cột trong nhà. Thế nhưng, trời chẳng thương bà, cay cực, lam lũ nhưng đứa con gái thứ 3 sinh ra chẳng được lành lặn như những đứa con khác. Bao nhiêu năm, đứa con tội nghiệp ấy chỉ có thể nằm ngửa trên giường, ăn uống, vệ sinh đều phải phục vụ.

Nhìn cái cách ông Tứ bón cơm cho con mà trào nước mắt. Bố không tay, ngậm thìa vào miệng, xúc cơm bón cho đứa con gái đã hơn 30 tuổi. Đôi bàn tay ngọ nguậy liên tục, có khi khua cả vào mặt bố, cơm vung vãi ra. Bởi vậy, dù không muốn nhưng ông cũng phải trói tay con lại…

14.5hoaxuantu a5
Nỗi khổ tâm lớn nhất của ông là cô con gái hơn 30 tuổi bị bại liệt, chỉ có thể nằm một chỗ

Cố lắm, ông bà cũng chỉ có thể cho con ăn học hết cấp 3. Giờ, 4 đứa con đã yên bề gia thất nhưng cuộc sống cũng hết sức khó khăn, chẳng giúp đỡ bố mẹ già được bao nhiêu. “Ước mơ của tôi là làm được căn nhà xây mái ngói. Năm ngoái, có nhà hảo tâm hỗ trợ một ít, hai vợ chồng vay mượn xây được phần thô là hết tiền nên đành phải để dỡ dang thế. Dù chưa có cửa giả gì nhưng mùa mưa lũ cũng không còn nơm nớp bố con bị nước cuốn đi nữa. Nhưng không biết đến bao giờ căn nhà của tôi mới được hoàn thiện…”, ông nói mà như khóc. Niềm mơ ước của người đàn ông là xây được căn nhà tử tế cho vợ con ở đối với ông sao mà khó đến thế?

Năm mới đến, ngoài mơ ước hoàn thiện được căn nhà, ông còn mơ ước được gặp lại những người bạn tham dự Đại hội anh hùng, chiến sỹ thi đua cách đây hơn 40 năm. “Hồi đó, anh em chỉ gặp nhau mấy ngày Đại hội. Khâm phục các bạn lắm nhưng chia tay rồi, mỗi người một phương, không biết ai còn, ai mất. Cuối đời, tôi chỉ mong được gặp lại mọi người một lần để hàn huyên, tâm sự với nhau. Hy vọng tất cả mọi người đều có cuộc sống viên mãn, hạnh phúc”, Hoa Xuân Tứ tâm sự.

Hoàng Lam
Theo dantri.com.vn
Kim Yến (st)

bqllang.gov.vn

Bác Hồ chơi bi-a với bác sỹ Nhữ Thế Bảo

Bác sỹ Nhữ Thế Bảo (20-6-1912 – 2-4-1983), quê ở làng Hoạch Trạch, xã Thái Học, huyện Bình Giang, tỉnh Hải Dương. Ông từng làm Viện trưởng Quân y viện 108, Giám đốc Bệnh viện Hữu nghị Việt – Xô, Cục trưởng Cục Bảo vệ sức khoẻ TƯ, Ủy viên Thường trực Hội đồng bác sỹ TƯ, đặc trách chăm sóc sức khỏe của các vị lãnh tụ: Hồ Chí Minh, Tôn Đức Thắng, Nguyễn Lương Bằng… 

15.1.BacsyNhuthebao a1
Bác Hồ chơi bi-a với bác sỹ Nhữ Thế Bảo

Nhữ Thế Bảo xuất thân trong một gia đình dòng dõi khoa bảng. Cha ông là Nhữ Trọng Túc, đậu cử nhân, được bổ nhiệm chức Hàn lâm viện thị độc học sỹ và được triều đình nhà Nguyễn cử đi sứ, giữ mối quan hệ bang giao với Trung Quốc trong nhiều năm. Ngoài ra, các cụ tổ nhiều đời đều nối tiếp nhau đỗ đại khoa như: Tiến sỹ Nhữ Văn Lan (1463), tiến sỹ Nhữ Tiến Dụng (1664), tiến sỹ Nhữ Đình Hiền (1680), bảng nhãn Nhữ Trọng Thai (1733), tiến sỹ Nhữ Đình Toản (1736), hoàng giáp Nhữ Công Chân (1772)…

Tốt nghiệp y khoa năm 1938, khi vừa tròn 26 tuổi, Nhữ Thế Bảo là một trong số những người tiêu biểu nhất của lớp trí thức trẻ đầu tiên sớm giác ngộ cách mạng, đem hết tài năng, trí tuệ và lòng nhiệt thành phục vụ Tổ quốc, phục vụ nhân dân. Khi còn là học sinh ông đã cùng bạn bè tham gia cuộc bãi khóa để tang cụ Phan Chu Trinh. Trong thời gian làm thầy thuốc ở mỏ than Hòn Gai (từ 1939-1945), trước Tổng khởi nghĩa ông đã bắt liên lạc với cán bộ Việt Minh và tham gia tổng khởi nghĩa, giành chính quyền ở Hòn Gai, được cử làm Ủy viên xã hội trong Ủy ban cách mạng Hòn Gai.

Năm 1946, ông cùng một số trí thức yêu nước sáng lập ra Đảng Xã hội Việt Nam. Cuối năm 1946, thực dân Pháp quay lại xâm lược nước ta, kháng chiến toàn quốc bùng nổ. Hà Nội ngập trong khói lửa với 60 ngày đêm quyết tử để bảo vệ Thủ đô, ông tham gia trong Ủy ban bảo vệ thành phố với cương vị Phó Trưởng Ban Y tế ngoại thành. Cuối tháng 1-1947, ông gia nhập Đảng Cộng sản Việt Nam và làm Giám đốc Quân dân y phân khu Tây bắc TP. Hà Nội. Bác sỹ Nhữ Thế Bảo đã trở thành một trong những chiến sỹ tiên phong thành lập ngành Quân y Việt Nam.

15.2.BacsyNhuthebao a2Bác sỹ Nhữ Thế Bảo (thứ 2 từ phải sang)tháp tùng Bác Hồ trên biển Hắc Hải

Trong suốt những năm kháng chiến chống Pháp gian khổ, ác liệt, ông tham gia quân đội, xông pha trên các chiến dịch ở mặt trận, được giao trách nhiệm lãnh đạo chủ chốt trong các đơn vị quân y. Một người đồng nghiệp, từng sát cánh bên ông trong những ngày gian khổ đó kể: “Năm 1952 cùng đồng chí đi phục vụ chiến dịch Quang Trung, đồng chí đi bộ từ đơn vị này sang đơn vị khác, nêu gương dũng cảm phục vụ không nghĩ đến bản thân mình, chỉ nghĩ đến việc cứu tính mạng của chiến sỹ”…

Kháng chiến chống Pháp thắng lợi, ông được chuyển công tác về Bộ Y tế (1956). Ngoài đảm nhận cương vị lãnh đạo chủ chốt đơn vị ông được Trung ương Đảng, Chính phủ tín nhiệm giao đảm trách chăm sóc sức khoẻ các đồng chí cán bộ cao cấp của Đảng và Nhà nước, đặc trách chăm sóc sức khoẻ Chủ tịch Hồ Chí Minh, Chủ tịch Tôn Đức Thắng và Phó Chủ tịch Nguyễn Lương Bằng… Hơn 20 năm biệt phái công tác tại Phủ Chủ tịch, ông ngày đêm theo sát các bước đường công tác để chăm sóc sức khoẻ cho các vị lãnh tụ kính yêu của chúng ta.

Với tất cả tài năng, tâm sức, bác sỹ Nhữ Thế Bảo đã luôn ở bên và chăm sóc sức khỏe cho Bác Hồ đến những giây phút cuối cùng. Sau khi Người qua đời, với những cống hiến trong công tác, bác sỹ Nhữ Thế Bảo đã được Chủ tịch nước Tôn Đức Thắng tặng Bằng khen với lời ghi: “Đã tận tụy hoàn thành nhiệm vụ phục vụ Chủ tịch Hồ Chí Minh khi Người còn sống”.

Theo Đại Đoàn Kết
Kim Yến (st)
bqllang.gov.vn

Đầu Xuân nghĩ về thực hành tiết kiệm, chống tham ô, lãng phí theo quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh

Thực hiện những lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh kính yêu về thực hành tiết kiệm, chống tham ô, lãng phí cho đến hôm nay và mãi mãi về sau, đối với cán bộ, đảng viên, công chức và nhân dân ta như một chân lý soi đường đưa dân tộc ta đi lên chủ nghĩa xã hội. Có thể thấy rằng, thực hành tiết kiệm, chống tham ô, lãng phí là công việc khó khăn, phức tạp, là nhiệm vụ quan trọng, thường xuyên, cần nhiều sự chỉ đạo với nhiều giải pháp, biện pháp tích cực của Ðảng, Nhà nước, Chính phủ trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Bác Hồ, mỗi cán bộ, đảng viên và quần chúng ở từng cương vị của mình luôn phấn đấu để trở thành cán bộ tốt, công dân tốt.

Sau đây là tổng hợp một số bài nói, bài viết của Chủ tịch Hồ Chí Minh về thực hành tiết kiệm, chống tham ô, lãng phí trong suốt quá trình hoạt động cách mạng và lãnh đạo đất nước của Người.

 tiet kiemPhong cách sống giản dị của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Ảnh internet

1. Ngày 28/9/1945, trên Báo Cứu Quốc đăng bài “Sẻ cơm nhường áo” của Chủ tịch Hồ Chí Minh.

            Hồ Chí Minh toàn tập, NXBCTQG, XB lần thứ 3, tập 4, tr33

2. Chủ tịch Hồ Chí Minh viết cuốn sách “Cần kiệm liêm chính”, viết xong khoảng tháng 6/1949, ký tên Lê Quyết Thắng. Nội dung của cuốn sách này đã được Chủ tịch Hồ Chí Minh viết trong bố bài báo đăng trên Báo Cứu Quốc: Thế nào là Cần, 30/5/1949; Thế là nào Kiệm, 31/5/1949; Thế nào là Liêm, 1/6/1949; Thế nào là Chính, 2/6/1949.

            Tập 6, tr 115-129

            3. Ngày 2/9/1950, với bút danh X.Y.Z, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã viết bài “Phải tẩy sạch bệnh quan liêu” đăng trên Báo Sự Thật, số 140.

Tập 6, tr 432

4. Ngày 14/2/1952, với bút danh C.B, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã viết bài “Tiết kiệm” đăng trên Báo Nhân dân, số 45.

            Tập 7, tr 316

            5. Ngày 29/2/1952, với bút danh Đ.X, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã viết bài “Cần và kiệm” đăng trên Báo Cứu Quốc, số 2024.

            Tập 7, tr333

            6. Ngày 17/3/1952, Chủ tịch Hồ Chí Minh có “Bài nói tại buổi phát động phong trào sản xuất và tiết kiệm”.

            Tập 7, tr343

            7. Ngày 20/3/1952, trên Báo Nhân Dân số 50 đã đăng “Lời kêu gọi nhân dịp phát động phong trào sản xuất tiết kiệm” của Chủ tịch Hồ Chí Minh.

            Tập 7, tr349

            8. Tháng 3/1952, nhân dịp có phong trào sản xuất và tiết kiệm, Chủ tịch Hồ Chí Minh có bài nói về “Thực hành tiết kiệm, chống tham ô, lãng phó, chống bệnh quan liêu” – Tài liệu lưu tại Trung tâm Lưu trữ Quốc gia I.

            Tập 7, tr351

            9. Ngày 31/7/1952, với bút danh C.B, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã viết bài “Chống quan liêu, tham ô, lãng phí” đăng trên Báo Nhân Dân, số 68.

            Tập 7, tr 457

           10. Khoảng năm 1952 – 1953, theo Tài liệu lưu tại Cục Lưu trữ Văn phòng Trung ương Đảng, Chủ tịch Hồ Chí Minh có “Bài nói chuyện trong dịp học tập chống tham ô, lãng phí, quan liêu”.

            Tập 8, tr2

            11. Từ ngày 6 đến ngày 10/6/1953, với bút danh C.B, Chủ tịch Hồ Chí Minh  viết bài “Chống bệnh quan liêu…” đăng trên Báo Nhân Dân, số 116.

            Tập 8, tr139

            12. Ngày 5/2/1955, Chủ tịch Hồ Chí Minh ra “Lời kêu gọi thi đua sản xuất tiết kiệm mùa Xuân” đăng trên Báo Nhân Dân, số 340.

Tập 9, tr299

            13. Ngày 11/5/1955, với bút danh C.B, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã viết bài “Chống lãng phí lương thực” đăng trên Báo Nhân Dân, số 434.

            Tập 9, tr469

            14. Ngày 14/1/1957, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ra “Lời kêu gọi đồng bào nông dân tăng gia sản xuất, thực hành tiết kiệm” đăng trên Báo Nhân Dân, số 1045.

Tập 10, tr474

            15. Ngày 3/2/1960, với bút danh C.K, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã viết bài “Phải biết chi tiêu” đăng trên Báo Nhân Dân, số 2147.

            Tập 12, tr464

16. Ngày 4/8/1963, trên Báo Nhân Dân số 3416 có đăng bài nói của Chủ tịch Hồ Chí Minh tại “Hội nghị phổ biến Nghị quyết của Bộ Chính trị về Cuộc vận động “Nâng cao tinh thần trách nhiệm, tăng cường quản lý kinh tế tài chính, cải tiến kỹ thuật, chống tham ô, lãng phí, quan liêu”.

Tập 14, tr138

            17. Ngày 25/6/1964, với bút danh T.L, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã viết bài “Tăng gia sản xuất tốt, còn phải thực hành tiết kiệm tốt” đăng trên Báo Nhân Dân, số 3739.

Tập 14, tr336

            18. Ngày 21/1/1965, với bút danh T.L, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã viết bài “Tổ chức ngày Tết tiết kiệm và vui tươi” đăng trên Báo Nhân Dân, số 3948.

            Tập 14, tr464

            19. Ngày 14/12/1965, trên Báo Nhân Dân, số 3970 có đăng bài nói của Chủ tịch Hồ Chí Minh tại Đại hội thi đua “Năng suất cao, chất lượng tốt, tiết kiệm nhiều” toàn miền Bắc.

Tập 14, tr484

           20. Ngày 22/12/1966, với bút danh Chiến Sĩ, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã viết bài “Phải chăng thế này là thực hành tiết kiệm?” đăng trên Báo Nhân Dân, số 4611.

Tập 15, tr219

Ban Biên tập xin trân trọng giới thiệu các bài nói, bài viết của Chủ tịch Hồ Chí Minh:

1. Sẻ cơm nhường áo

Hỡi đồng bào yêu quý,

Từ tháng giêng đến tháng bảy năm nay, ở Bắc Bộ ta đã có hai triệu người chết đói.

Kế đó lại bị nước lụt, nạn đói càng tăng thêm, nhân dân càng khốn khổ.

Lúc chúng ta nâng bát cơm mà ăn, nghĩ đến kẻ đói khổ, chúng ta không khỏi động lòng.

Vậy tôi xin đề nghị với đồng bào cả nước, và tôi xin thực hành trước:

Cứ 10 ngày nhịn ăn một bữa, mỗi tháng nhịn 3 bữa. Đem gạo đó (mỗi bữa một bơ) để cứu dân nghèo.

Như vậy, thì những người nghèo sẽ có bữa rau bữa cháo để chờ mùa lúa năm sau, khỏi đến nỗi chết đói.

Tôi chắc rằng đồng bào ta ai cũng sẵn lòng cứu khổ cứu nạn, mà hăng hái hưởng ứng lời đề nghị nói trên.

Tôi xin thay mặt dân nghèo mà cảm ơn các đồng bào.

HỒ CHÍ MINH

Báo Cứu quốc, số 53, ngày 28-9-1945.

2. Cần kiệm liêm chính

Viết xong khoảng tháng 6/1949. Ký tên Lê Quyết Thắng. Ủy ban KCHC Liên khu I. Xuất bản năm 1949. Theo sách của Ủy ban KCHC Liên khu I.

CẦN KIỆM LIÊM CHÍNH

Vì sao Hồ Chủ tịch đề ra khẩu hiệu: Cần, Kiệm, Liêm, Chính?

Vì Cần, Kiệm, Liêm, Chính là nền tảng của Đời sống mới, nền tảng của Thi đua ái quốc.

Trời có bốn mùa: Xuân, Hạ, Thu, Đông.

Đất có bốn phương: Đông, Tây, Nam, Bắc.

Người có bốn đức: Cần, Kiệm, Liêm, Chính.

Thiếu một mùa, thì không thành trời.

Thiếu một phương, thì không thành đất.

Thiếu một đức thì không thành người.

Từ ngày Cách mạng Tháng Tám thành công, lập nền Dân chủ Cộng hòa, cho đến mấy năm kháng chiến, dân ta nhờ Cần, Kiệm, Liêm, Chính, mà đánh thắng được giặc lụt, giặc dốt, giặc thực dân và giặc đói.

Tuy vậy đồng bào ta có người đã hiểu rõ, có người chưa hiểu rõ. Có người thực hành nhiều, có người thực hành ít. Cho nên cần phải giải thích rõ ràng, để cho mọi người hiểu rõ, mọi người đều thực hành.

CẦN

Tức là siêng năng, chăm chỉ, cố gắng dẻo dai.

Người Tàu có câu: không có việc gì khó. Chỉ e ta không siêng.

Tục ngữ ta có câu: Nước chảy mãi, đá cũng mòn. Kiến tha lâu, cũng đầy tổ.

Nghĩa là Cần thì việc gì, dù khó khăn mấy, cũng làm được.

Dao siêng mài thì sắc bén. Ruộng siêng làm cỏ thì lúa tốt. Điều đó rất dễ hiểu.

Siêng học tập thì mau biết.

Siêng nghĩ ngợi thì hay có sáng kiến.

Siêng làm thì nhất định thành công. Siêng hoạt động thì sức khoẻ.

Chữ Cần chẳng những có nghĩa hẹp, như: Tay siêng làm thì hàm siêng nhai. Nó lại có nghĩa rộng là mọi người đều phải Cần,cả nước đều phải Cần.

Người siêng năng thì mau tiến bộ.

Cả nhà siêng năng thì chắc ấm no.

Cả làng siêng năng thì làng phồn thịnh.

Cả nước siêng năng thì nước mạnh giàu.

Muốn cho chữ Cần có nhiều kết quả hơn, thì phải có kế hoạch cho mọi công việc. Nghĩa là phải tính toán cẩn thận, sắp đặt gọn gàng.

Cây gỗ bất kỳ to nhỏ, đều có gốc và ngọn.

Công việc bất kỳ to nhỏ, đều có điều nên làm trước, điều nên làm sau. Nếu không có kế hoạch, điều nên làm trước mà để lại sau, điều nên làm sau mà đưa làm trước, như thế thì sẽ hao tổn thì giờ, mất công nhiều mà kết quả ít.

Cụ Mạnh Tử có nói: “Người thợ muốn làm khéo, thì trước phải sắp sẵn công cụ của mình”.

Một thí dụ:

Người thợ mộc muốn đóng một cái tủ. Trước hết, anh ta mài sẵn cưa, bào, tràng, đục, v.v. và làm sao xếp có thứ tự hẳn hoi. Rồi anh lấy gỗ vừa đủ làm cái tủ. Khi các thứ đều sẵn sàng, anh ta bèn bắt tay vào việc đóng tủ.

Như thế là anh thợ mộc ấy làm việc có kế hoạch. Như thế là anh ấy sẽ không hao thì giờ, tốn lực lượng, mà việc lại mau thành.

Trái lại, nếu anh ấy không sắp đặt sẵn sàng trước, khi cần đến cưa mới chạy đi lấy cưa, khi cần đến đục thì phải chạy đi tìm đục. Như vậy thì mất thì giờ chạy lăng xăng cả ngày, mà công việc được ít.

Việc to, việc nhỏ, muôn việc đều như vậy.

Vì vậy, siêng năng và kế hoạch phải đi đôi với nhau.

Kế hoạch lại đi đôi với phân công.

Trong một gia đình, một xưởng máy, một cơ quan, v.v. đã phải có kế hoạch, lại phải phân công cho khéo.

Phân công phải nhằm vào 2 điều:

1. Công việc: Việc gì gấp thì làm trước. Việc gì hoãn thì làm sau.

2. Nhân tài: Người nào có năng lực làm việc gì, thì đặt vào việc ấy.

Nếu dùng không đúng, người giỏi nghề thợ mộc thì giao cho việc thợ rèn, người giỏi nghề rèn thì giao cho việc thợ mộc, như thế thì hai người đều thất bại cả hai.

Cần và chuyên phải đi đôi với nhau. Chuyên nghĩa là dẻo dai, bền bỉ. Nếu không chuyên, nếu một ngày cần mà mười ngày không cần, thì cũng vô ích. Như thế chẳng khác gì một tấm vải phơi một hôm mà ngâm nước mười hôm, thì ướt hoàn ướt.

Cần không phải là làm xổi. Nếu làm cố chết cố sống trong một ngày, một tuần, hay một tháng, đến nỗi sinh ốm đau, phải bỏ việc. Như vậy không phải là cần.

Cần là luôn luôn cố gắng, luôn luôn chăm chỉ, cả năm cả đời. Nhưng không làm quá trớn. Phải biết nuôi dưỡng tinh thần vàlực lượng của mình, để làm việc cho lâu dài.

Lười biếng là kẻ địch của chữ cần.

Vì vậy, lười biếng cũng là kẻ địch của dân tộc.

Một người lười biếng, có thể ảnh hưởng tai hại đến công việc của hàng nghìn hàng vạn người khác.

Một thí dụ:

Trong thời kỳ kháng chiến của dân tộc ta, các vị kỹ sư thì chăm lo phát minh những thứ khí giới mới. Đồng bào thì chăm lo cung cấp các thứ nguyên liệu. Những người vận tải thì chăm lo đưa những nguyên liệu ấy đến các xưởng máy. Anh em công nhân thì chăm lo rèn đúc ra những thứ khí giới mới. Các chiến sĩ chăm lo luyện tập dùng những vũ khí ấy để giết cho nhiều giặc.

Tất cả mọi người đó như kết thành một sợi dây chuyền, quan hệ rất chặt chẽ với nhau. Mọi người đều Cần, thì dây chuyền ấy chạy rất thuận lợi và nhanh chóng. Kết quả là địch mau thua, ta mau thắng.

Nếu trong những người đó mà có người lười biếng, thì công việc của những người khác ắt chậm lại, khác nào sợi dây chuyền có một khúc hỏng. Kết quả sẽ tai hại thế nào, rất là dễ hiểu.

Lại một thí dụ nữa: Toàn dân tộc ta đoàn kết thành một khối. Công việc của mọi người, mọi địa phương, mọi ngành đều phối hợp với nhau, như một chuyến xe lửa. Tất cả mọi người, mọi địa phương, mọi ngành đều cố gắng, đều siêng năng, thì nước ta sẽ tiến bộ rất nhanh chóng. Cũng như chuyến xe lửa chạy đều, chạy nhanh, mau đến ga. Nếu có một người, một địa phương hoặc một ngành mà lười biếng, thì khác nào toàn chuyến xe chạy, mà một bánh xe trật ra ngoài đường ray. Họ sẽ làm chậm trễ cả chuyến xe.

Vì vậy, người lười biếng là có tội với đồng bào, với Tổ quốc.

Kết quả chữ Cần là thế nào?

Kết quả chữ Cần rất là to lớn. Một thí dụ:

Trong 20 triệu đồng bào ta, cho 10 triệu là thanh niên và thành nhân có sức làm việc. Nếu mỗi người, mỗi ngày chỉ làm thêm một tiếng đồng hồ, thì:

Mỗi tháng sẽ thêm lên 300 triệu giờ.

Mỗi năm thêm lên 3.600 triệu giờ.

Chỉ những giờ ấy đã bằng động viên 400 triệu người làm trong một ngày 9 giờ.

Cứ tính một giờ làm là đáng giá một đồng bạc, thì mỗi năm nước ta đã thêm được 3.600 triệu đồng. Đưa số tiền đó thêm vào kháng chiến, thì kháng chiến ắt mau thắng lợi, thêm vào kiến quốc, thì kiến quốc ắt mau thành công.

Đó là kết quả rõ ràng của chữ CẦN.

KIỆM

Kiệm là thế nào?

Là tiết kiệm, không xa xỉ, không hoang phí, không bừa bãi.

CẦN với KIỆM, phải đi đôi với nhau, như hai chân của con người.

CẦN mà không KIỆM, “thì làm chừng nào xào chừng ấy”. Cũng như một cái thùng không có đáy; nước đổ vào chừng nào, chảy ra hết chừng ấy, không lại hoàn không.

KIỆM mà không CẦN, thì không tăng thêm, không phát triển được. Mà vật gì đã không tiến tức phải thoái. Cũng như cái thùng chỉ đựng một ít nước, không tiếp tục đổ thêm vào, lâu ngày chắc nước đó sẽ hao bớt dần, cho đến khi khô kiệt.

Cụ Khổng Tử nói: “Người sản xuất nhiều, người tiêu xài ít. Làm ra mau, dùng đi chậm thì của cải luôn luôn đầy đủ”.

Tiết kiệm cách thế nào?

Chắc đồng bào ai cũng được nghe câu chuyện phong bì của Hồ Chủ tịch.

Hồ Chủ tịch dùng một cái phong bì hơn 2, 3 lần. Cụ nói:

“Trung bình, cái phong bì là 180 phân vuông giấy (0,018 m2).

Mỗi ngày, các cơ quan, đoàn thể và tư nhân trong nước ta ít nhất cũng dùng hết một vạn cái phong bì, tức là 180 thước vuông giấy. Mỗi tháng là 5.400 thước. Mỗi năm là 64.800 thước vuông giấy.

Nếu ai cũng tiết kiệm, dùng một cái phong bì 2 lần, thì mỗi năm chỉ tốn một nửa giấy, tức là 32.400 thước vuông. Còn 32.400 thước thì để dành cho các lớp bình dân học vụ, thì chẳng tốt sao?

Hơn nữa, nhờ sự tiết kiệm giấy, mà tiền bạc và công phu làm giấy có thể thêm vào việc kiến thiết khác, thì càng ích lợi hơn nữa…”.

Cái thí dụ ấy rất rõ rệt, dễ hiểu. Đối với giấy như thế, đối với mọi thứ vật liệu khác đều như thế.

Thời giờ cũng cần phải tiết kiệm như của cải.

Của cải nếu hết, còn có thể làm thêm. Khi thời giờ đã qua rồi, không bao giờ kéo nó trở lại được. Có ai kéo lại ngày hôm qua được không?

Muốn tiết kiệm thời giờ, thì việc gì ta cũng phải làm cho nhanh chóng, mau lẹ. Không nên chậm rãi. Không nên “nay lần mai lữa”.

Tiết kiệm thời giờ là Kiệm, và cũng là Cần.

Bất kỳ làm việc gì, nghề gì, khi đã làm thì phải hăng hái, chăm chỉ, chuyên chú, làm cho ra trò làm.

Tiết kiệm thời giờ của mình, lại phải tiết kiệm thời giờ của người. Không nên ngồi lê, nói chuyện phiếm, làm mất thời giờ người khác.

Thánh hiền có câu: “Một tấc bóng là một thước vàng”.

Tục ngữ Âu nói: “Thời giờ tức là tiền bạc”.

Ai đưa vàng bạc vứt đi, là người điên rồ. Thì ai đưa thời giờ vứt đi, là người ngu dại.

Tiết kiệm không phải là bủn xỉn.

Khi không nên tiêu xài thì một đồng xu cũng không nên tiêu. Khi có việc đáng làm, việc ích lợi cho đồng bào, cho Tổ quốc, thì dù bao nhiêu công, tốn bao nhiêu của, cũng vui lòng. Như thế mới đúng là kiệm.

Việc đáng tiêu mà không tiêu, là bủn xỉn, chứ không phải là kiệm.

Tiết kiệm phải kiên quyết không xa xỉ.

Việc đáng làm trong một giờ, mà kéo dài đến 2, 3 giờ, là xa xỉ.

Hao phí vật liệu, là xa xỉ.

Ăn sang mặc đẹp trong lúc đồng bào đang thiếu cơm, thiếu áo, là xa xỉ.

Ăn không ngồi rồi, trong lúc đang cần kháng chiến và xây dựng, là xa xỉ.

Vì vậy, xa xỉ là có tội với Tổ quốc, với đồng bào.

Tiết kiệm nghĩa là:

1 giờ làm xong công việc của 2, 3 giờ.

1 người làm bằng 2, 3 người.

1 đồng dùng bằng giá trị 2, 3 đồng.

Cho nên, muốn tiết kiệm có kết quả tốt, thì phải khéo tổ chức. Cái thí dụ người thợ mộc nói trên, đã chứng tỏ rằng: biết tổ chức thì tiết kiệm được sức lực, thời giờ, và vật liệu.

Không biết tổ chức thì không biết tiết kiệm. Thí dụ: nếu 1 nhà 10 người, mỗi người nấu riêng một nồi cơm, thì tốn biết bao nhiêu nồi, bao nhiêu củi và nước, bao nhiêu công phu. Góp nhau lại nấu chung một nồi, thì lợi biết bao nhiêu.

Vì vậy, góp sức làm việc (lao động tập đoàn), và hợp tác xã, là một cách tiết kiệm tốt nhất.

KẾT QUẢ CỦA TIẾT KIỆM

Trên kia đã thuật lại cái thí dụ tiết kiệm phong bì, mà Hồ Chủ tịch đã dạy chúng ta. Đây tôi xin thêm một thí dụ nữa:

Nước ta có 20 triệu người. Nhiều bù ít, mỗi người mỗi ngày ăn 700 gam gạo, mỗi tháng là 21 kilô gạo.

Nếu mỗi ngày mỗi người chỉ tiết kiệm nửa bát cơm (việc đó rất dễ, ai cũng làm được), thì mỗi tháng cả nước sẽ tiết kiệm được 20 triệu kilô gạo, nghĩa là đủ nuôi một triệu chiến sĩ trong một tháng.

Hiện nay, mấy xã ở Liên khu I có sáng kiến làm “Hũ gạo kháng chiến”. Mỗi nhà mỗi ngày cứ bỏ vào hũ một vốc gạo. Chỉ thế thôi, mà số gạo đủ nuôi anh em dân quân du kích trong xã.

Đó là một sáng kiến tiết kiệm hay, mà các nơi nên làm theo. Nếu toàn dân ta THI ĐUA TIẾT KIỆM:

Các cơ quan tiết kiệm tiền công và của công, để đỡ tốn ngân quỹ;

Chiến sĩ thi đua tiết kiệm thuốc đạn, bằng cách bắn phát nào trúng phát ấy;

Công nhân thi đua tiết kiệm nguyên liệu;

Học sinh thi đua tiết kiệm giấy bút;

Đồng bào hậu phương thi đua tiết kiệm tiền bạc và lương thực, để giúp đỡ bộ đội;

Mỗi người, thi đua tiết kiệm thời giờ;

Thì kết quả thi đua tiết kiệm cũng bằng kết quả thi đua tăng gia sản xuất.

Một mặt, chúng ta thi đua KIỆM

Một mặt, chúng ta thi đua CẦN

Kết quả CẦN cộng với kết quả KIỆM là: bộ đội sẽ đầy đủ, nhân dân sẽ ấm no, kháng chiến sẽ mau thắng lợi, kiến quốc sẽ mau thành công, nước ta sẽ mau giàu mạnh ngang hàng với các nước tiền tiến trên thế giới.

Kết quả chữ CẦN chữ KIỆM to lớn như vậy đó.

Cho nên người yêu nước thì phải thi đua thực hành tiết kiệm.

LIÊM

Liêm là trong sạch, không tham lam.

Ngày xưa, dưới chế độ phong kiến, những người làm quan không đục khoét dân, thì gọi là LIÊM, chữ liêm ấy chỉ có nghĩa hẹp.

Cũng như ngày xưa trung là trung với vua. Hiếu là hiếu với cha mẹ mình thôi.

Ngày nay, nước ta là Dân chủ Cộng hoà, chữ LIÊM có nghĩa rộng hơn; là mọi người đều phải LIÊM. Cũng như trung là trung với Tổ quốc, hiếu là hiếu với nhân dân; ta thương cha mẹ ta, mà còn phải thương cha mẹ người, phải cho mọi người đều biết thương cha mẹ.

Chữ LIÊM phải đi đôi với chữ KIỆM. Cũng như chữ KIỆM phải đi đôi với chữ CẦN.

Có KIỆM mới LIÊM được. Vì xa xỉ mà sinh tham lam.

Tham tiền của, tham địa vị, tham danh tiếng, tham ăn ngon, sống yên đều là BẤT LIÊM.

Người cán bộ, cậy quyền thế mà đục khoét dân, ăn của đút, hoặc trộm của công làm của tư.

Người buôn bán, mua 1 bán 10, hoặc mua gian bán lậu chợ đen chợ đỏ, tích trữ đầu cơ.

Người có tiền, cho vay cắt cổ, bóp hầu bóp họng đồng bào.

Người cày ruộng, không ra công đào mương mà lấy cắp nước ruộng của láng giềng.

Người làm nghề (bất cứ nghề gì) nhân lúc khó khăn mà bắt chẹt đồng bào.

Người cờ bạc, chỉ mong xoay của người làm của mình. Đều là tham lam, đều là BẤT LIÊM.

Dìm người giỏi, để giữ địa vị và danh tiếng của mình là đạo vị (đạo là trộm).

Gặp việc phải, mà sợ khó nhọc nguy hiểm, không dám làm, là tham vật uý lạo.

Gặp giặc mà rút ra, không dám đánh là tham sinh uý tử.

Đều làm trái với chữ LIÊM.

Do BấT LIÊM mà đi đến tội ác trộm cắp. Công khai hay bí mật, trực tiếp hay gián tiếp, bất liêm tức là trộm cắp.

Cụ Khổng Tử nói: “Người mà không Liêm, không bằng súc vật”.

Cụ Mạnh Tử nói: “Ai cũng tham lợi, thì nước sẽ nguy”. Để thực hiện chữ Liêm, cần có tuyên truyền và kiểm soát, giáo dục và pháp luật, từ trên xuống, từ dưới lên trên.

Trước nhất là cán bộ các cơ quan, các đoàn thể, cấp cao thì quyền to, cấp thấp thì quyền nhỏ. Dù to hay nhỏ, có quyền mà thiếu lương tâm là có dịp đục khoét, có dịp ăn của đút, có dịp “dĩ công vi tư”.

Vì vậy, cán bộ phải thực hành chữ LIÊM trước, để làm kiểu mẫu cho dân.

“Quan tham vì dân dại”. Nếu dân hiểu biết, không chịu đút lót, thì “quan” dù không liêm cũng phải hoá ra LIÊM.

Vì vậy dân phải biết quyền hạn của mình, phải biết kiểm soát cán bộ, để giúp cán bộ thực hiện chữ LIÊM.

Pháp luật phải thẳng tay trừng trị những kẻ bất liêm, bất kỳ kẻ ấy ở địa vị nào, làm nghề nghiệp gì.

Mỗi người phải nhận rằng tham lam là một điều rất xấu hổ, kẻ tham lam là có tội với nước, với dân.

Cán bộ thi đua thực hành liêm khiết, thì sẽ gây nên tính liêm khiết trong nhân dân.

Một dân tộc biết cần, kiệm, biết liêm, là một dân tộc giàu về vật chất, mạnh về tinh thần, là một dân tộc văn minh tiến bộ.

Dân tộc ta đang kháng chiến và kiến quốc, đang xây dựng một Đời sống mới trong nước Việt Nam mới. Chẳng những chúng ta phải cần kiệm, chúng ta còn phải thực hành chữ LIÊM.

CHÍNH

Chính nghĩa là không tà, nghĩa là thẳng thắn, đứng đắn. Điều gì không đứng đắn, thẳng thắn, tức là tà.

CẦN, KIỆM, LIÊM, là gốc rễ của CHÍNH. Nhưng một cây cần có gốc rễ, lại cần có ngành, lá, hoa, quả mới là hoàn toàn. Một người phải Cần, Kiệm, Liêm, nhưng còn phải CHÍNH mới là người hoàn toàn.

Trên quả đất, có hàng muôn triệu người. Song số người ấy có thể chia làm hai hạng: người THIỆN và người ÁC.

Trong xã hội, tuy có trăm công, nghìn việc. Song những công việc ấy có thể chia làm 2 thứ: Việc CHÍNH và việc TÀ

Làm việc CHÍNH, là người THIỆN.

Làm việc TÀ, là người ÁC.

Siêng năng (cần), tần tiện (kiệm), trong sạch (liêm), CHÍNH là THIỆN.

Lười biếng, xa xỉ, tham lam, là tà, là ác.

Bất kỳ ở từng lớp nào, giữ địa vị nào, làm nghề nghiệp gì, sự hoạt động của một người trong xã hội có thể chia làm 3 mặt:

1. Mình đối với mình.

2. Mình đối với người.

3. Mình đối với công việc.

§èI VíI M×NH

– Chớ tự kiêu, tự đại. Tự kiêu, tự đại là khờ dại. Vì mình hay, còn nhiều người hay hơn mình. Mình giỏi, còn nhiều người giỏi hơn mình. Tự kiêu, tự đại tức là thoái bộ. Sông to, biển rộng, thì bao nhiêu nước cũng chứa được, vì độ lượng nó rộng và sâu. Cái chén nhỏ, cái đĩa cạn, thì một chút nước cũng đầy tràn, vì độ lượng nó hẹp nhỏ. Người mà tự kiêu, tự mãn, cũng như cái chén, cái đĩa cạn.

– Luôn luôn cầu tiến bộ. Không tiến bộ thì là ngừng lại. Trong khi mình ngừng lại thì người ta cứ tiến bộ. Kết quả là mình thoái bộ, lạc hậu.

Tiến bộ không giới hạn. Mình cố gắng tiến bộ, thì chắc tiến bộ mãi.

– Luôn luôn tự kiểm điểm, tự phê bình, những lời mình đã nói, những việc mình đã làm, để phát triển điều hay của mình, sửa đổi khuyết điểm của mình.

Đồng thời phải hoan nghênh người khác phê bình mình.

Cụ Tăng Tử là một vị đại hiền, là một tín đồ giỏi nhất của cụ Khổng Tử. Cụ Tăng đã làm kiểu mẫu cho chúng ta. Cụ nói: Mỗi ngày tôi tự kiểm điểm mấy lần: đối với người có thẳng thắn không? đối với việc có chuyên cần không?

Cụ Khổng Tử nói: Mình có đứng đắn, mới tề được gia, trị được quốc, bình được thiên hạ.

Tự mình phải chính trước, mới giúp được người khác chính. Mình không chính, mà muốn người khác chính là vô lý.

§èI VíI NG¦êI

Chữ người, nghĩa hẹp là gia đình, anh em, họ hàng, bầu bạn. Nghĩa rộng là đồng bào cả nước. Rộng nữa là cả loài người.

Trừ bọn Việt gian bán nước, trừ bọn phát xít thực dân, là những ác quỷ mà ta phải kiên quyết đánh đổ, đối với tất cả những người khác thì ta phải yêu quý, kính trọng, giúp đỡ.

Chớ nịnh hót người trên. Chớ xem khinh người dưới.

Thái độ phải chân thành, khiêm tốn, phải thật thà đoàn kết. Phải học người và giúp người tiến tới.

Phải thực hành chữ Bác – Ái.

®èi víi viÖc

Phải để công việc nước lên trên, trước việc tư, việc nhà.

Đã phụ trách việc gì, thì quyết làm cho kỳ được, cho đến nơi đến chốn, không sợ khó nhọc, không sợ nguy hiểm.

Bất kỳ việc to, việc nhỏ, phải có sáng kiến, phải có kế hoạch, phải cẩn thận, phải quyết làm cho thành công.

Việc thiện thì dù nhỏ mấy cũng làm. Việc ác thì dù nhỏ mấy cũng tránh.

Việc gì dù lợi cho mình, phải xét nó có lợi cho nước không? Nếu không có lợi, mà có hại cho nước thì quyết không làm.

Mỗi ngày cố làm một việc lợi cho nước (lợi cho nước tức là lợi cho mình), dù là việc nhỏ, thì một năm ta làm được 365 việc. Nhiều lợi nhỏ cộng thành lợi to.

Cả 20 triệu đồng bào đều làm như vậy, thì nước ta nhất định mau giàu, dân ta nhất định được nhiều hạnh phúc.

Ai chẳng muốn cho tự mình thành một người tốt,

Con cháu mình sung sướng,

Gia đình mình no ấm,

Làng xóm mình thịnh vượng,

Nòi giống mình vẻ vang,

Nước nhà mình mạnh giàu.

Mục đích ấy tuy to lớn, nhưng rất thiết thực.

Thiết thực, vì chúng ta nhất định đạt được.

Chúng ta nhất định đạt được, vì mỗi người và tất cả dân ta đều Thi đua: Cần, Kiệm, Liêm, Chính.

 (Còn nữa)

Huyền Trang (tổng hợp)
bqllang.gov.vn

Hình tượng Bác Hồ trong thơ của người nước ngoài

Untitled

Chân dung Nguyễn Ái Quốc do Eric Johanson vẽ ngày 19/9/1924, dòng chữ Việt và chữ Hán là do Người tự ghi (là bức vợ ông Johanson gửi tặng qua Đại sứ quán Việt Nam)

Người là vị Lãnh tụ kính yêu của dân tộc, là ngôi sao sáng dẫn đường cho sự nghiệp giải phóng dân tộc của các nước thuộc địa. Người còn là một nhà thơ, một nhà văn hoá lớn của thế giới. Người vĩ đại nhưng rất giản dị và gần gũi với con người, trong mắt các nhà thơ thế giới Người hiện lên như một viên ngọc sáng lung linh về nhân cách, một người cộng sản mẫu mực về đạo đức, giản dị trong cách sống, như một nhà thơ thế giới nhận xét “Người giản dị tự nhiên như là hoa thơm trái ngọt” và nhà thơ Batumga (Mông Cổ) viết về Bác:

Sắc đẹp hoa sen cùng với nhân dân
Cây tươi thắm qua trăm nghìn thế hệ
Hồ Chí Minh bóng cả.

Trong quan niệm của người Á Đông, hoa sen là tượng trưng cho sự thuần khiết, là hình ảnh của người quân tử. Bác hiện lên với một vẻ đẹp ngời sáng. Nhà thơ Brazil Ixmalugômétbraga viết về cuộc đời giản dị của Bác trong một bài thơ đã ví vẻ đẹp của Bác như: “Vẻ đẹp trắng trong của bông Huệ Châu Mỹ La tinh”:

Cuộc đời người như bông huệ trắng
Gương mặt càng ngắm càng trong
Người trắng trong bông huệ Mỹ La tinh.

Cũng viết về nét đẹp tâm hồn của Người, nhà thơ Rô-Nêdêpextrô của đất nước Haiti bằng con mắt nhạy cảm của mình đã nhìn ra nét đẹp giản dị, thanh cao một nền đạo đức đủ sức lay động mọi linh hồn của Bác bằng những câu thơ chân tình:

Các bạn hãy nhìn lên trên ngọn cây Ô liu trên núi
Các bạn hãy nhìn vào biển cả lấp loáng từ xa
Các bạn hãy nhìn vào những hàng cây và quả non chi chít
Và con sông Va rền rĩ ở xa
Rồi bạn hãy lặng yên
Với vẻ đẹp của Bác Hồ.

Nhà thơ Inđônêxia M.Đagiô với bài thơ “Vẻ bên trong của viên ngọc” đã ca ngợi cái sự giản dị cách mạng, nhân cách trong sáng của Người hiện lên như một vẻ đẹp ngời sáng ẩn chứa sự lấp lánh bên trong viên ngọc với những câu thơ:

Người không mang danh dự ghế suy tôn

Ngồi vào đấy với Người không có nghĩa

Khi đức độ đã ngời như ngọc quý

Thì có nghĩa gì chiếc ghế phủ nhung êm

Tờ báo Ánh điện của Ấn Độ ra ngày 13/9/1969 đã nhận xét về Bác: “Hồ Chí Minh là nhân vật lỗi lạc nhất Châu Á. Cuộc đời Cụ không đi theo một con đường đơn giản trong một bản đồ đã chỉ, leo một cách vững chắc hết đỉnh cao này đến đỉnh cao khác. Cụ kết hợp giữa sự tao nhã cao quý với tác phong dễ gần gũi, rất dân chủ, một sự kết hợp nhịp nhàng giữa sự tự do không nghi thức, thoải mái và tự nguyện với một thái độ đường hoàng và thận trọng. Cụ là hiện thân của sự bất khuất”.

Bác Hồ kính yêu, vị lãnh tụ vĩ đại của dân tộc trong mắt mọi người dân, Người là hiện thân của chủ nghĩa anh hùng cách mạng Việt Nam, sự cao quý và lòng dũng cảm. Khi viết về Người nhà thơ Nikôlai Kunaep (Liên Xô) đã nói ý chí của Người là niềm tin và sức mạnh là chân lý, là mùa xuân của sự sống, là nguồn tinh thần cao đẹp nuôi dưỡng mọi người, là sự bất chấp mọi thời gian.

Hồ Chí Minh

Người là hiện thân sức mạnh niềm tin

Trong nụ cười của Người có tất cả những mùa xuân

Hồ Chí Minh, Hồ Chí Minh

Người là con người bất chấp thời gian.

Chân dung Nguyễn Ái Quốc đăng ở Báo Phụ nữ Xô Viết số 10 năm 1979.
Nguyễn Ái Quốc ghi tên mình bằng chữ Việt và chữ Hán ở phía dưới,
chữ ký của chính họa sĩ thì ở sát ve áo của Người.

         Ý chí của Người đủ sức lay động mọi tâm hồn, thức tỉnh một dân tộc đứng lên đấu tranh giành lại hoà bình, độc lập, sự tự do. Một đất nước đi từ bùn lầy của sự tối tăm nô lệ đến ánh sáng của hạnh phúc:

Một đội ngũ tốt

Từ năm tháng tối tăm máu trào, nước mắt

Họ đã vùng lên như một giấc mơ

(Môni Đrarây)

Tất cả đều đến từ niềm tin vào sự lãnh đạo của Đảng vào lý tưởng cách mạng cao quý của Người. Đạo đức của Người là bóng cây rợp mát cho cả dân tộc soi chung:

Từ cách nhìn

Từ trái tim dân tộc

Bác Hồ

Người đã viết nên cái tên:

Cách mạng,

Nhân phẩm,

Tự do,

Tiến bộ.

(Xtêphan Plucốpki, Ba Lan)

Người là hiện thân của lịch sử; trong suốt gần nửa thế kỷ nhân dân Việt Nam cầm vũ khí đứng lên làm cuộc kháng chiến cực kỳ gian khổ, nhiều mất mát hy sinh đã đi đến thắng lợi hoàn toàn đã phản ánh đầy đủ tinh thần, tư tưởng thời đại Hồ Chí Minh, linh hồn và trí tuệ của Người. Người là hiện thân của cả dân tộc như nhà thơ Xecgiô Atane (Pháp) đã viết:

Cả dân tộc yêu người

Vì sao một con đường bị phá

Tức khắc ba con đường khác mọc lên thay

Vì sao người chiến sỹ hy sinh trong tiếng hát

Vì sao chiếc cầu bị sập

Tức khắc ba chiếc cầu khác được bắt lên ngay

Vì sao luá vẫn mọc xanh mặc cho chất độc

Và vì sao người ta có thể ngã xuống

Với một tiếng hát nằm trong lỗ đạn trong tim.

Bác đã đi xa nhưng trong lòng nhân dân Việt Nam, nhân dân thế giới vẫn thể hiện niềm nhớ thương vô hạn đến Người, vị Lãnh tụ kính yêu của dân tộc.

Trong mỗi trái tim, Người vẫn mỉm cười

Sống trong lòng những đồng chí đang giữ gìn Tổ quốc

Sống trong lòng những cụ già canh gác cho thế hệ mai sau

Sống ở những giấc mơ của lứa tuổi thanh xuân có thể trở thành sự thật

(Haouốc PácXơn, Mỹ)

Ngày nay, mọi người chúng ta vẫn đang cố gắng thực hiện ước mơ của Bác xây dựng một xã hội ấm no, công bằng, văn minh, tiến bộ. Sức mạnh trong nhân cách, đạo đức vẫn đủ sức lan toả đến tất cả mọi người. Việc học tập và làm theo đạo đức Hồ Chí Minh luôn là việc làm cần thiết và bổ ích. Bác hiện lên trong lòng nhân dân thế giới cao đẹp biết bao. Cảm ơn các thi sỹ, các nhà văn hoá thế giới đã cất lên những tiếng nói trữ tình từ trái tim nhân hậu cổ vũ cho chúng ta đi tiếp trên con đường vinh quang mà Bác Hồ kính yêu đã vạch ra cho cách mạng Việt Nam.

Nguồn: Bác Hồ trong mắt các nhà thơ thế giới 
Lâm Ngọc Tường Nguyên
Tâm Trang (st)

bqllang.gov.vn

Nhớ lời Bác, tôi học tập suốt đời

QĐND – Cách đây hơn 50 năm ở Leng Su Sìn (huyện Mường Nhé, Điện Biên), cô gái Chu Chà Me – người phụ nữ Hà Nhì đầu tiên đã dũng cảm rời ngã ba biên giới để đi tìm con chữ và cũng là người Hà Nhì đầu tiên vinh dự hai lần được gặp Bác Hồ. Dù năm nay đã ngoài 70 tuổi nhưng với bà Me, kỷ niệm về hai lần được gặp Bác, từng lời Bác dạy bà vẫn khắc cốt ghi tâm.

Ấn tượng đầu tiên khi chúng tôi gặp bà Chu Chà Me là khuôn mặt thật hiền từ phúc hậu, đôi mắt sáng và mái tóc vẫn còn đen nhánh như hồi con gái. Trò chuyện với chúng tôi, những ký ức của bà về hai lần được gặp Bác Hồ được tái hiện thật sống động như một thước phim quay chậm với niềm vinh dự và tự hào.

Bà Chu Chà Me trong bộ trang phục truyền thống của người Hà Nhì.

Đầu năm 1959, ở tuổi 17, cô gái Chu Chà Me được sự động viên của các cán bộ Đồn Biên phòng Leng Su Sìn đã chia tay bạn bè và bản làng yêu quý, xa người mẹ hiền đi học cái chữ Bác Hồ để có thể về Thủ đô hoặc đi bất cứ nơi đâu trên khắp mọi miền Tổ quốc.

Ngày 6-5-1959, khi Chu Chà Me cùng các bạn học sinh Trường Dân tộc khu tự trị Thái Mèo (sau này đổi tên thành Trường Dân tộc khu tự trị Tây Bắc) dọn vệ sinh, treo khẩu hiệu cùng toàn khu Tây Bắc nô nức mừng Ngày giải phóng Điện Biên thì có 2 xe con đưa Bác Hồ tới thăm. Kể đến đây, bà Me nở nụ cười tươi không giấu được niềm hạnh phúc. Bà chia sẻ:

– Mọi người mặc quần áo của dân tộc mình, hồ hởi kéo về Ủy ban Khu cách trường mấy trăm mét. Mấy chị dân tộc Thái hô to “Páu Hồ xem pi” (Bác Hồ muôn năm). Bác trò chuyện với tôi và nói “Cháu còn trẻ, tương lai còn rộng mở. Cháu cố gắng học tập cho tốt và chuyển lời của Bác tới các thanh niên quê cháu phải đi học, có văn hóa mới làm chủ được quê hương mình…”. Nhớ lời Bác dặn, tôi đã không ngừng học tập suốt đời.

Tháng 9-1959, sau khi học hết lớp 2, Chu Chà Me được nhận về công tác tại Huyện đoàn Mường Tè, Lai Châu. Dù đi học hay làm công tác xã hội, Chu Chà Me luôn nhớ lời Người, không ngừng tự học, vươn lên để xây dựng quê hương. Chính những hoạt động sôi nổi khi làm công tác đoàn mà năm 1960 bà vinh dự là một trong 75 phụ nữ tiêu biểu của Tây Bắc về thủ đô Hà Nội dự Quốc khánh 2-9. Sáng 4-9, Bác Hồ tới thăm đoàn phụ nữ Việt Bắc và Tây Bắc ở nhà khách của Trung ương Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam. Bà Me xúc động nhớ lại:

– Bác tiến lại gần xoa đầu và gọi tên tôi. Bác hỏi “Cháu Chà Me à! Các cháu thanh thiếu niên dân tộc Hà Nhì đã đi học nhiều chưa? Cháu có chuyển lời Bác dặn tới các thanh niên quê mình không?” Rồi Bác khen tôi cố gắng có tiến bộ nhưng phải tích cực hơn nữa. Tôi không ngờ, vị lãnh tụ của dân tộc bận trăm công nghìn việc nhưng vẫn nhớ tới những việc tưởng chừng nhỏ bé ấy.

Những lời Bác dặn, bà ghi tạc trong lòng và là kim chỉ nam để làm theo. Từ một cô gái 17 tuổi mới học hết lớp vỡ lòng, bà đã quyết tâm học lên Trung cấp, rồi học tiếp Trường Đại học Sư phạm Việt Bắc. Từ làm giáo viên Trường Dân tộc nội trú Lai Châu đến làm phát thanh viên Đài Phát thanh-Truyền hình tỉnh Lai Châu… bà đều hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ. Xuân này, bà Me sẽ bước sang tuổi 74. Bà tâm sự với chúng tôi rằng hai lần gặp Bác Hồ là hạnh phúc lớn nhất của cuộc đời mình.

Bài và ảnh: Minh Mạnh
qdnd.vn