Tag Archive | Hồ Chí Minh

Thông qua Luật Hôn nhân và Gia đình

– Ngày 13/1/1960, cách đây tròn nửa thế kỷ, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ký sắc lệnh ban bố Luật Hôn nhân và Gia đình. Luật đã được kỳ họp thứ 11 Quốc hội khoá II thông qua.

Trong bài nói tại Đại hội Đại biểu nhân dân Hà Nội diễn ra vào buổi tối cùng ngày ký sắc lệnh, Chủ tịch Hồ Chí Minh nêu rõ ý: “Thưa đồng bào yêu quý. Chúng ta đều nhất trí xác nhận rằng kỳ họp lần thứ 11 của Quốc hội đã đạt được kết quả rất to lớn và ảnh hưởng sâu xa. Như Luật Hôn nhân và Gia đình có quan hệ mật thiết đến mọi người dân trong nước, đến cả nòi giống Việt Nam ta. Đạo luật ấy làm cho gái trai thật sự bình quyền, gia đình thật sự hạnh phúc. Toàn thể đồng bào ta đều nhiệt liệt hoan nghênh đạo luật chí tình chí lý ấy”.

Tháng 1/1959, Hồ Chí Minh thăm Viện Bảo tàng Lịch sử Việt NamTháng 1/1959, Chủ tịch Hồ Chí Minh thăm Viện Bảo tàng Lịch sử Việt Nam

Kỳ họp thứ 11của Quốc hội khoá I diễn ra tại Nhà Hát lớn thành phố Hà Nội từ ngày 18 đến 31/12/1959 có nhiều nội dung quan trọng trong đó có việc sửa đổi Hiến pháp và thông qua Luật Hôn nhân và Gia đình.

Liên quan đến bộ Luật này, bà Lê Thị Xuyến thay mặt Tiểu ban soạn thảo trình bày văn bản dự thảo, tiếp đó các đại biểu sôi nổi thảo luận về căn bản tán thành bộ luật quan trọng này. Bác Hồ góp ý rằng dự thảo dùng nhiều chữ Hán – Việt, cần sửa để dân dễ hiểu và làm theo; đại biểu Công giáo của tỉnh Hà Tĩnh là ông Vương Đình Long không tán thành “ly hôn” vì nó trái với giáo lý của Đạo…

Sau cùng Bác phát biểu: “Quốc hội đã phát biểu sôi nổi, thế là tốt. Tuyệt đại đa số các đại biểu tán thành Luật Hôn nhân và Gia đình, có một đại biểu không tán thành. Đó là vấn đề tôn giáo. Chúng ta tôn trọng tự do tín ngưỡng. Xã hội luôn luôn biến đổi, tiến lên mãi không bao giờ thụt lùi. Đó là quy luật. Chúng ta ra Luật Hôn nhân tức là luật lấy vợ lấy chồng, xây dựng gia đình.

Vì sao trong luật đó lại có điều khoản nói đến ly hôn, tức là bỏ vợ, bỏ chồng? Chính vì chúng ta còn ảnh hưởng của chế độ phong kiến cũ, còn có những đôi vợ chồng bị ép buộc lấy nhau không chung sống với nhau được nữa. Luật phải cho phép họ bỏ nhau để giải phóng cho họ.

Nhưng sau này, nếu ta áp dụng tốt Luật Hôn nhân và Gia đình, tình trạng ép buộc không còn nữa, gia đình chúng ta xây dựng sẽ hoà thuận, hạnh phúc, thì những điều khoản về ly hôn mà đại biểu Vương Đình Long lo lắng sẽ không cần nữa. Tức là nếu chúng ta áp dụng tốt Luật Hôn nhân và Gia đình, thì sau này, trong một thời gian ngắn, xã hội tiến lên, con người tiến lến, ly hôn sẽ không còn nữa”.

Sáng 29/12/1959, Quốc hội biểu quyết với 193 phiếu thuận và 1 phiếu không biểu quyết. Bác phát biểu:“Đây là một thắng lợi có ý nghĩa lịch sử. Thi hành Luật Hôn nhân và Gia đình là nhiệm vụ của toàn dân…”.

X&N
kienthuc.net.vn

“Nước Việt Nam là đại gia đình của tôi”

– Trong một bức thư chia buồn gửi tới Bác sĩ Vũ Đình Tụng, một tín đồ theo Đạo Thiên Chúa khi đó đang là Chủ tịch Hội Chữ thập Đỏ Việt Nam, Bác đã nói: “Nước Việt Nam là đại gia đình của tôi”.

Ngày 11/1/1946, từ Thái Bình Bác đi thăm tỉnh Nam Định. 7 giờ sáng, đông đảo nhân dân đã tề tựu trước Uỷ ban Hành chính thành phố nghe vị Chủ tịch nước nói chuyện với đồng bào về những nhiệm vụ kháng chiến, cứu đói.

Sau đó Bác đến thăm và chia quà cho trẻ em ở Trại mồ côi Nam Định. Tại đây, Bác cảm động nói với bà Phước: “Tôi ghé qua đây thăm bà và các cháu. Tôi thay mặt các cháu không cha, không mẹ đó cảm ơn bà đã trông nom chúng như một người mẹ. Chúng tội tình gì mà tội nghiệp quá”.

Tình cảm của một người Cha trong gia đình đời thường, một năm sau đó (1/1947) được Bác thể hiện như một lời tâm tình trong bức điện gửi Bác sĩ Vũ Đình Tụng, một tín đồ theo Đạo Thiên Chúa khi đó đang là Chủ tịch Hội Chữ thập Đỏ Việt Nam. Đó cũng là một bức điện chia buồn khi Bác được tin người con trai của Bác sĩ Tụng vừa hy sinh trong cuộc kháng chiến chống thực dân xâm lược Pháp. Thư viết :

“Thưa Ngài, Tôi được báo cáo rằng, con giai ngài đã oanh liệt hy sinh cho Tổ quốc. Ngài biết rằng tôi không có gia đình, cũng không có con cái. Nước Việt Nam là gia đình của tôi. Tất cả thanh niên Việt Nam là con cháu của tôi. Mất một thanh niên thì hình như tôi đứt một đoạn ruột vậy.

Nhưng cháu và anh em thanh niên khác dũng cảm hy sinh để gìn giữ đất nước. Thế là họ đã làm rạng rỡ dân tộc, vẻ vang giống nòi. Họ chết cho Tổ quốc sống mãi; vật chất họ mất nhưng tinh thần họ vẫn luôn luôn sống với non sông Việt Nam.

Họ là con thảo của Đức Chúa, họ đã thực hiện cái khẩu hiệu: Thượng đế và Tổ quốc… Ngài đã đem món quà quý báu nhất là con của mình, sẵn sàng hiến cho Tổ quốc. Từ đây chắc Ngài sẽ ra sức giúp việc kháng chiến để bảo vệ nước nhà thì linh hồn cháu ở trên trời cũng bằng lòng và sung sướng…”

X&N
bee.net.vn

“Nước VN là đại gia đình của tôi”

– Trong một bức thư chia buồn gửi tới Bác sĩ Vũ Đình Tụng, một tín đồ theo Đạo Thiên Chúa khi đó đang là Chủ tịch Hội Chữ thập Đỏ Việt Nam, Bác đã nói: “Nước Việt Nam là đại gia đình của tôi”.

Ngày 11/1/1946, từ Thái Bình Bác đi thăm tỉnh Nam Định. 7 giờ sáng, đông đảo nhân dân đã tề tựu trước Uỷ ban Hành chính thành phố nghe vị Chủ tịch nước nói chuyện với đồng bào về những nhiệm vụ kháng chiến, cứu đói.

Sau đó Bác đến thăm và chia quà cho trẻ em ở Trại mồ côi Nam Định. Tại đây, Bác cảm động nói với bà Phước: “Tôi ghé qua đây thăm bà và các cháu. Tôi thay mặt các cháu không cha, không mẹ đó cảm ơn bà đã trông nom chúng như một người mẹ. Chúng tội tình gì mà tội nghiệp quá”.

Tình cảm của một người Cha trong gia đình đời thường, một năm sau đó (1/1947) được Bác thể hiện như một lời tâm tình trong bức điện gửi Bác sĩ Vũ Đình Tụng, một tín đồ theo Đạo Thiên Chúa khi đó đang là Chủ tịch Hội Chữ thập Đỏ Việt Nam. Đó cũng là một bức điện chia buồn khi Bác được tin người con trai của Bác sĩ Tụng vừa hy sinh trong cuộc kháng chiến chống thực dân xâm lược Pháp. Thư viết :

“Thưa Ngài, Tôi được báo cáo rằng, con giai ngài đã oanh liệt hy sinh cho Tổ quốc. Ngài biết rằng tôi không có gia đình, cũng không có con cái. Nước Việt Nam là gia đình của tôi. Tất cả thanh niên Việt Nam là con cháu của tôi. Mất một thanh niên thì hình như tôi đứt một đoạn ruột vậy.

Nhưng cháu và anh em thanh niên khác dũng cảm hy sinh để gìn giữ đất nước. Thế là họ đã làm rạng rỡ dân tộc, vẻ vang giống nòi. Họ chết cho Tổ quốc sống mãi; vật chất họ mất nhưng tinh thần họ vẫn luôn luôn sống với non sông Việt Nam.

Họ là con thảo của Đức Chúa, họ đã thực hiện cái khẩu hiệu: Thượng đế và Tổ quốc… Ngài đã đem món quà quý báu nhất là con của mình, sẵn sàng hiến cho Tổ quốc. Từ đây chắc Ngài sẽ ra sức giúp việc kháng chiến để bảo vệ nước nhà thì linh hồn cháu ở trên trời cũng bằng lòng và sung sướng…”

X&N
kienthuc.net.vn

Dân phải được ăn no mặc đủ

– “Chúng ta giành được tự do, độc lập rồi mà dân cứ chết đói, chết rét thì độc lập cũng không làm gì. Dân chỉ biết rõ giá trị của tự do, của độc lập khi mà dân được ăn no mặc đủ”.

Ngày 10/1/1946, tại Hà Nội, Chủ tịch Hồ Chí Minh chủ trì phiên họp đầu tiên của Uỷ ban Nghiên cứu Kế hoạch Kiến quốc. Uỷ ban được thành lập theo một sắc lệnh ký ngày 31/12/1945 gồm 41 thành viên đặt dưới sự lãnh đạo trực tiếp của Chính phủ.

Bác Hồ thăm Viện Bảo tàng Cách mạng Việt Nam (Tháng 1/1959)Bác Hồ thăm Viện Bảo tàng Cách mạng Việt Nam (Tháng 1/1959)

Uỷ ban tập hợp nhiều nhà trí thức, nhân sĩ, những người có chuyên môn cao và uy tín xã hội lớn có nhiệm vụ nghiên cứu một kế hoạch thiết thực để thực hiện công cuộc kiến thiết quốc gia trên mọi phương diện. Tại cuộc họp này, Bác đã có môt bài phát biểu rất sâu sắc:

“Chúng ta đã hy sinh phấn đấu để giành độc lập. Chúng ta đã giành được rồi. Lúc này chúng ta có hai nhiệm vụ là kháng chiến và kiến quốc. Các chiến sĩ đã hy sinh cho cách mạng thành công và đang hy sinh để giữ vững đất nước. Còn các ngài, đã đem hết tài năng và tri thức lo bồi bổ vè mặt kinh tế và xã hội. Các ngài xứng đáng là những chiến sĩ xung phong…

Chúng ta cố thực hiện khâu hiệu kháng chiến, kiến quốc để thực hiện: Có sức giúp sức, có tài năng giúp tài năng. Chúng ta giành được tự do, độc lập rồi mà dân cứ chết đói, chết rét thì độc lập cũng không làm gì. Dân chỉ biết rõ giá trị của tự do, của độc lập khi mà dân được ăn no mặc đủ.

Chúng ta phải thực hiện ngay : 1. Làm cho dân có ăn 2. Làm cho dân có mặc 3. Làm cho dân có chỗ ở 4. Làm cho dân có học hành. Cái mục đích chúng ta đi đến là 4 điều đó. Đi đến để dân ta xứng đáng với tự do, độc lập và giúp sức được cho tự do độc lập”.

Tinh thần ấy đã từng một lần nữa được Bác nhắc đến trong “Thư gửi Uỷ ban Nhân dân các kỳ, tỉnh huyện và làng” đăng trên báo “Cứu Quốc” ngày 17/10/1945, tức là chỉ một tháng rưỡi sau Ngày Độc lập.

Thư viết: “Ngày này, chúng ta đã xây dựng nên nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà. Nhưng nếu nước độc lập mà dân không hưởng hạnh phúc tự do thì độc lập cũng chẳng có nghĩa lý gì !…Chính phủ ta đã hứa với dân, sẽ gắng sức làm cho ai nấy đều có phần hạnh phúc.

Trong việc kiến thiết nước nhà, sử sang mọi việc, phải làm dân dần…Song ngay từ bước đầu, chúng ta phải đi đúng theo phương châm…Việc gì có lợi cho dân, ta phả làm hết sức. Việc gì hại đến dân, ta phải hết sức tránh. Chúng ta phải yêu dân, kính dân thì dân mới yêu ta, kính ta”.

X&N
bee.net.vn

Quốc hội chất vấn Chủ tịch Hồ Chí Minh

Hai phiên họp đầu tiên của Quốc hội (QH) khóa đầu tiên đều nóng bỏng, căng thẳng. Phiên họp thứ nhất đứng trước nguy cơ bị tẩy chay, còn phiên họp thứ hai, Chủ tịch Hồ Chí Minh phải trả lời chất vấn trước QH.

Ngày 6/1/2011, Quốc hội Việt Nam sẽ kỷ niệm 65 năm kỳ họp đầu tiên. Bee xin đăng lai bài tư liệu trên website Quốc hội về kỳ họp đầu tiên năm 1946.

Kỳ họp căng thẳng

 Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc tuyên thệ trước Quốc hội tại kỳ họp thứ nhất ngày 2/3/1946 - Ảnh: Tư liệu TTXVN

Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc tuyên thệ trước Quốc hội tại kỳ họp thứ nhất ngày 2/3/1946 - Ảnh: Tư liệu TTXVN

Để chuẩn bị về nội dung, địa điểm và thời gian cho kỳ họp đầu tiên của QH, nhiều cuộc họp liên tịch đã được tiến hành từ hạ tuần tháng 2/1946 giữa một bên là đại biểu của Chính phủ và các đoàn thể trong Mặt trận Việt Minh, một bên là đại biểu của VN Quốc dân đảng và VN Cách mạng đồng minh hội.

Theo sự thỏa thuận giữa hai bên thì QH sẽ bắt đầu họp vào 7h sáng ngày 3/3 tại Nhà hát lớn thành phố Hà Nội và sau đó tiếp tục họp tại làng Đình Bảng (Bắc Ninh). Chính phủ đã căn cứ vào sự thỏa thuận đó mà báo tin cho các đại biểu QH biết và gửi giấy mời phóng viên báo chí trong nước và nước ngoài tham dự buổi họp khai mạc.

Nhưng đột nhiên chiều 1/3 ở nhiều nơi trong thành phố Hà Nội xuất hiện truyền đơn do Nguyễn Hải Thần ký tên kêu gọi nhân dân “tẩy chay QH”. Hành động này bộc lộ ý đồ phá hoại kỳ họp đầu tiên của QH.

Để đề phòng, ngay tối hôm đó Chính phủ đã báo tin cho các đại biểu QH biết là QH sẽ khai mạc vào 7h sáng 2/3 (trước ngày đã định một ngày) tại Nhà hát lớn Hà Nội và đề nghị các đại biểu chỉ có mặt đúng giờ họp rồi đi thẳng vào phòng họp mà không nên tập trung trước cửa Nhà hát lớn.

Theo đúng ngày giờ qui định, các đại biểu QH đã đến họp trước sự bất ngờ của bọn phá hoại và những bộ mặt ngơ ngác của bọn hiến binh Tưởng Giới Thạch đang tuần tiễu trên các ngả đường xung quanh Nhà hát lớn.

Ngồi trong phòng họp, các đại biểu QH rất nóng lòng chờ đợi khai mạc, vì đã quá 8h rồi mà vẫn chưa thấy Hồ Chủ tịch và các vị trong Chính phủ đến. Mọi người đều nghĩ đến vụ rải truyền đơn chiều hôm qua của bọn phản động nên không khỏi băn khoăn, lo lắng về những biến cố có thể xảy ra.

Vì thay đổi ngày họp nên từ 5h sáng 2/3, Hồ Chủ tịch cùng hai đồng chí tự vệ không vũ trang đến tận sào huyệt của VN Quốc dân đảng và VN Cách mạng đồng minh hội ở phố Ôn Như Hầu (nay là Nguyễn Gia Thiều), nơi mà anh em cán bộ Việt Minh và những người dân lương thiện phải tránh xa, báo cho họ biết là QH họp ngày 2/3 để họ cử đại biểu đến dự.

Khi Hồ Chủ tịch đến, họ chưa ngủ dậy. Bị đột ngột, bất ngờ, họ không nghĩ kịp cách đối phó mà chỉ tranh nhau đi dự QH. Hồ Chủ tịch phải đứng dàn xếp bảo ai đi, ai ở nhà.

Gần 9h, việc dàn xếp ở phố Ôn Như Hầu mới xong, Hồ Chủ tịch lên xe đi đến hội trường, các “đại biểu QH” do VN Quốc dân đảng và VN Cách mạng đồng minh hội cử đi dự họp QH ăn mặc quần áo sang trọng kéo theo sau vào ngồi đứng lô nhô ở phòng chờ của Nhà hát lớn. Họ phải chờ sự ưng thuận của QH mới được phép vào phòng họp. Đây chính là những người đến tận ngày hôm qua vẫn tiếp tục gây rối loạn khắp nơi.

Vẫn với bộ quần áo kaki bạc màu, đôi giày vải cũ thường ngày, Hồ Chủ tịch bước vào hội trường, theo sau là ông Vĩnh Thụy và các vị trong Chính phủ.

Hơn 300 đại biểu, cùng với nhiều khách và các nhà báo trong nước và nước ngoài đứng dậy hoan hô không ngớt khi thấy Hồ Chủ tịch. Mấy trăm cặp mắt đều đổ dồn vào Người. Tiếng vỗ tay và tiếng hoan hô chỉ dứt khi ban âm nhạc vệ quốc đoàn mặc đồng phục trắng bắt đầu cử quốc ca.

Hồ Chủ tịch bước tới máy phóng thanh, đứng im lặng một lát đưa cặp mắt trìu mến nhìn các đại biểu thay mặt các tầng lớp nhân dân cả nước về họp QH. Bằng một giọng xúc động, Người tuyên bố khai mạc đại hội, và bắt đầu đọc báo cáo về kết quả cuộc tổng tuyển cử ngày 6/1/1946. Sau đó, Hồ Chủ tịch chuyển đề nghị của Chính phủ với đại hội xin mở rộng thêm 70 đại biểu nữa trong QH và số ghế này sẽ dành cho VN Quốc dân đảng và VN Cách mạng đồng minh hội.

Toàn thể các đại biểu QH giơ tay biểu quyết và đồng thanh hô to “tán thành”.

Cuộc chất vấn đầu tiên tại Quốc hội

Để QH nghe các báo cáo và nhận định về các hoạt động của Hồ Chủ tịch và các phái đoàn QH và Chính phủ trong thời gian qua, giải quyết những vấn đề quan trọng do tình hình mới đề ra và thông qua bản hiến pháp đầu tiên của nước ta, Ban Thường trực QH triệu tập QH họp kỳ thứ hai vào ngày 28/10/1946 tại Hà Nội.

Hồ Chủ tịch năm 1946

Hồ Chủ tịch năm 1946

Tại kỳ họp này cụ Nguyễn Văn Tố, Trưởng ban Thường trực QH, trả lời các câu hỏi chất vấn về công tác của Ban thường trực QH. Hồ Chủ tịch và các bộ trưởng trả lời các câu hỏi và chất vấn về công tác của Chính phủ.

Trong những câu trả lời, chúng tôi đặc biệt chú ý những câu trả lời của Hồ Chủ tịch, lập trường thì rõ ràng, dứt khoát, hình thức thì đôi lúc dí dỏm, đề cập đến những vấn đề mà nhân dân ta rất quan tâm trong tình thế đất nước lúc bấy giờ.

Sau đây là những câu trả lời chất vấn của Hồ Chủ tịch:

* Về ông Phó chủ tịch Nguyễn Hải Thần, ông nguyên Bộ trưởng Ngoại giao Nguyễn Tường Tam và ông Phó chủ tịch quân sự, Uỷ viên hội Vũ Hồng Khanh?

Những người bỏ việc đi kia họ không muốn gánh việc nước nhà, hoặc họ không đủ năng lực mà gánh nổi, nay chúng ta không có họ ở đây. Chúng ta cũng cứ gánh được như thường. Nhưng nếu các anh em ấy biết nghĩ lại, dối không nổi với lương tâm, với đồng bào, với Tổ quốc mà trở về thì chúng ta vẫn hoan nghênh.

Còn cái tin ông Nguyễn Hải Thần tự xưng là tổng tư lệnh hải, lục, không quân VN? VN không có hải, lục, không quân thì ông Nguyễn Hải Thần cứ việc mà làm tổng tư lệnh. Nhưng nếu ông Nguyễn Hải Thần tổ chức được hải, lục, không quân cho VN thì cố nhiên chúng ta hoan nghênh.

* Về ông Chu Bá Phượng, Bộ trưởng Bộ Kinh tế:

Các báo Pháp có đăng vài tin (ông Chu Bá Phượng – đại biểu VN Quốc dân đảng, thành viên của phái đoàn Chính phủ đi dự hội nghị đàm phán ở Fontainebleau, khi sang Pháp có mang vàng theo để buôn lậu, bị nhà chức trách Pháp khám phá và làm khó dễ. Các báo Pháp đều có đăng tin và ông Phượng vẫn có mặt tại kỳ họp QH này) nhưng tin ấy có thật hay không thì đã qua rồi, vả lại cũng chẳng có ảnh hưởng gì lớn, xin thôi đừng nhắc đến.

Nếu trong Chính phủ còn có những người khác làm lỗi, thì lỗi ấy tôi xin chịu, xin gánh và xin lỗi với đồng bào.

* Về tạm ước ngày 14/9?

Tạm ước ngày 14/9 có ảnh hưởng đến các hiệp ước kỳ sau này không? Trong xã hội loài người, cái gì mà chẳng có ảnh hưởng đến cái khác? Tuy vậy những sự điều đình sau này không bị ràng buộc được. Bản tạm ước này tùy theo sự thi hành thế nào, sẽ thúc đẩy cho những điều đình sau chóng tới kết quả một cách dễ dàng.

Còn nói rằng “tạm ước 14/9 là bất bình đẳng?” thì Chính phủ không dám nhận như thế. Với bản tạm ước ấy, mỗi bên nhân nhượng một ít, ta bảo đảm cho Pháp những quyền lợi kinh tế và văn hóa ở đây, thì Pháp cũng phải bảo đảm thi hành tự do dân chủ ở Nam bộ và thả các nhà ái quốc bị họ bắt bớ.

Còn nói Pháp không thành thật thi hành tạm ước, thì ta nói vơ đũa cả nắm. Pháp cũng có người tốt, người xấu. Tôi có thể nói quyết rằng nhân dân Pháp bây giờ đại đa số tán thành ta độc lập và thống nhất lãnh thổ.

* Vì sao Chính phủ đã đề nghị thay đổi quốc kỳ?

Chính phủ không bao giờ dám đề nghị thay đổi quốc kỳ, chỉ vì một vài người trong Chính phủ đề nghị việc ấy lên, nên Chính phủ phải đề qua Ban Thường trực QH xét.

Tình thế từ ngày ấy đến giờ biến chuyển nhiều. Lá cờ đỏ sao vàng đã nhuộm bao nhiêu máu chiến sĩ VN ở Nam bộ và Nam Trung bộ, đã đi từ Á sang Âu, lại từ Âu sang Á, tới đâu cũng được chào kính cẩn. Bây giờ trừ khi cả 25 triệu đồng bào, còn ra không ai có quyền gì mà đòi thay đổi nó. (Nói đến đây mắt Người sáng quắc lên, giọng Người vang to lên, và dằn mạnh từng tiếng một, trái hẳn với vẻ điềm đạm lúc thường).

* Về Chính phủ liêm khiết?

Chính phủ hiện thời đã cố gắng liêm khiết lắm. Nhưng trong Chính phủ từ Hồ Chí Minh cho đến những người làm việc ở các ủy ban là đông lắm và phức tạp lắm. Dù sao Chính phủ đã hết sức làm gương, và nếu làm gương không xong thì sẽ dùng pháp luật mà trị những kẻ ăn hối lộ. Đã trị, đương trị và sẽ trị cho kỳ hết.

… Sau khi trả lời và nghe cụ Nguyễn Văn Tố và các vị bộ trưởng trả lời các câu hỏi chất vấn của các đại biểu QH, Hồ Chủ tịch phát biểu:

“Chính phủ hiện thời mới thành lập hơn một năm hãy còn thanh niên. QH bầu ra được hơn tám tháng lại còn thanh niên hơn nữa. Vậy mà QH đã đặt những câu hỏi thật già dặn, sắc nét, khó trả lời, đề cập đến tất cả những vấn đề có quan hệ đến vận mệnh nước nhà. Với sự trưởng thành chính trị và sự quan tâm về việc nước ấy, ai dám bảo dân ta không có tư cách độc lập?”.

Lời tuyên bố của Chủ tịch Hồ Chí Minh trước Quốc hội (*)

Lần này là lần thứ hai Quốc hội giao phó cho tôi phụ trách Chính phủ một lần nữa. VN chưa được độc lập, chưa được thống nhất thì bất kỳ Quốc hội ủy cho tôi hay cho ai cũng phải gắng mà làm. Tôi xin nhận.

Giờ tôi xin tuyên bố trước Quốc hội, trước quốc dân và trước thế giới rằng: Hồ Chí Minh không phải là kẻ tham quyền cố vị, mong được thăng quan phát tài.

Chính phủ sau đây phải là một Chính phủ toàn dân đoàn kết và tập hợp nhân tài không đảng phái.

Tôi xin tuyên bố trước Quốc hội, trước quốc dân, trước thế giới: Tôi chỉ có một Đảng, Đảng VN.

Tuy trong quyết nghị không nói đến, không nêu lên hai chữ liêm khiết, tôi cũng xin tuyên bố trước Quốc hội, trước quốc dân và trước thế giới: Chính phủ sau đây phải là một Chính phủ liêm khiết.

Theo lời quyết nghị của Quốc hội, Chính phủ sau đây phải là một Chính phủ biết làm việc, có gan góc, quyết tâm đi vào mục đích trong thì kiến thiết, ngoài thì tranh thủ độc lập và thống nhất của nước nhà.

Anh em trong Chính phủ mới sẽ dựa vào sức của Quốc hội và quốc dân, dầu nguy hiểm mấy cũng đi vào mục đích mà quốc dân và Quốc hội trao cho.

(*): Đọc tại phiên họp ngày 31/10/1946 của kỳ họp thứ hai Quốc hội khóa I, sau khi được Quốc hội nhất trí giao trách nhiệm thành lập Chính phủ mới.

(Nguồn: Hồ Chí Minh toàn tập, NXB Chính Trị Quốc Gia, Hà Nội 2000)


Lâm Quang Thự (đại biểu Quốc hội khóa I)

(Theo Báo Tuổi Trẻ TP.HCM)
bee.net.vn

“Đối với dân, ta đừng có làm trái ý dân”

– Ngày 5/1/1946 là ngày hôm trước cuộc Tổng tuyển cử bầu ra Quốc hội đầu tiên của nước Việt Nam độc lập…

Sáng ngày hôm đó báo chí nhất loạt đăng “Lời kêu gọi quốc dân đi bỏ phiếu” của Chủ tịch Hồ Chí Minh, trong đó viết “Ngày mai là một ngày sẽ đưa quốc dân ta lên con đường mới mẻ.

Hàng vạn nhân dân đón mừng Chủ tịch Hồ Chí Minh và các vị được giới thiệu ứng cử đại biểu Hàng vạn nhân dân đón mừng Chủ tịch Hồ Chí Minh và các vị được giới thiệu ứng cử đại biểu.

Ngày mai là một ngày vui sướng của đồng bào ta, vì ngày mai là ngày Tổng tuyển cử, vì ngày mai là ngày đầu tiên trong lịch sử Việt Nam mà nhân dân ta bắt đầu hưởng dụng quyền dân chủ của mình. Ngày mai, dân ta sẽ bảo cho các chiến sĩ ở miền Nam rằng : … một lá phiếu cũng có sức lực như một viên đạn. Ngày mai, quốc dân ta sẽ tỏ cho thế giới biết rằng dân Việt Nam đã kiên quyết đoàn kết chặt chẽ, kiên quyết chống bọn thực dân, kiên quyết tranh quyền độc lập…”

Chiều hôm đó, tiếp xúc với 2 vạn cử tri Hà Nội tập hợp tại sân vận động Việt Nam học xá (nay là khu vực Đại học Bách khoa), ứng cử viên Hồ Chí Minh tuyên bố: “Làm việc nước bây giờ là hy sinh, là phấn đấu, quên lợi riêng mà nghĩ lợi chung. Những ai muốn làm quan cách mạng thì nhất định không nên bầu. Ngày mai không ai ép, không ai mua thì toàn dân sẽ thực hiện cái quyền dân chủ ấy”.

Rời cuộc tiếp xúc, vị Chủ tịch nước đến thăm chùa Bà Đá và trụ sở Hội Phật giáo Cứu quốc đặt ở chùa Quán Sứ nơi phật tử đang tổ chức cầu nguyện cho nước Việt Nam độc lập.

Tại đó, Bác trịnh trọng tuyên bố: “Đối với dân, ta đừng có làm trái ý dân. Dân muốn gì ta phải làm nấy. Nói hy sinh phấn đấu thì dễ, mhưng làm thì khó. Trước Phật đài tôn nghiêm, trước quốc dân đồng bào có mặt tại đây, tôi xin thề hy sinh đem thân phấn đấu để giữ vững nền độc lập cho Tổ quốc. Nếu cần, hy sinh cả tính mạng tôi cũng không từ”.

Sau bữa cơm chay, Bác còn tranh thủ về thăm làng Bưởi nơi có nghề giấy nổi tiếng và thăm địa điểm bầu cử tại khu vực này, dặn dò mọi người tổ chức bầu cử tốt và khích lệ nhân dân gìn giữ nghề làm giấy truyền thống để phục vụ đất nước.

X&N
bee.net.vn

“Tôi kêu gọi nhân dân Pháp để chấm dứt chiến tranh”

– Tin vào dân, dựa vào dân và được nhân dân ủng hộ, ngày 2/1/1946, Bác Hồ đã viết lời cảm ơn những người giàu đóng góp cho các quỹ Cứu tế, quỹ Kháng chiến, quỹ Độc lập.

Chân dung Hồ Chủ tịch năm 1946

Chân dung Hồ Chủ tịch năm 1946

Tháng 8/1945, cách mạng thành công, nước nhà độc lập nhưng tài chính thì kiệt quệ. Chế độ Dân chủ Cộng hoà được thành lập cần có nguồn lực để thực hiện những nhiệm vụ lịch sử của mình.

Tin vào dân và dựa vào dân, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã hô hào các tầng lớp nhân dân đóng góp. Quỹ Độc lập rồi quỹ Kháng chiến, quỹ Cứu tế ra đời, rồi Tuần lễ Vàng được tổ chức… Nền tài chính quốc gia được nhen nhúm từng bước vượt qua những khó khăn.

Nhân năm mới, ngày 2/1/1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh viết lời cảm ơn những người giàu đóng góp cho các quỹ Cứu tế, quỹ Kháng chiến và quỹ Độc lập với những lời chân tình:

“Có người nói rằng “Hồ Chí Minh không biết làm gì, chỉ nay cảm ơn người này, mai cảm ơn người khác”.

Vâng! Tôi vui lòng nhận lời phê bình ấy! Hơn nữa, tôi mong rằng ngày nào tôi cũng phải viết nhiều thư cảm ơn , vì như thế chứng minh rằng đồng bào ta đã sốt sắng thực hành cái khẩu hiệu “Ai có tiền giúp tiền, ai có sức giúp sức”. Quốc dân ta đã hiệp lực đồng tâm, đã đoàn kết chặt chẽ thì kháng chiến nhất định thắng lợi, kiến quốc nhất định thành công…”

X.N
bee.net.vn

Ngày đầu năm mới đầu tiên của nước Việt Nam Độc lập

– Sớm 1/1/1946, Chính phủ Liên hiệp Kháng chiến ra mắt tại Nhà Hát Lớn.

Ngày 31/12/1945, ngày cuối cùng của năm diễn ra cuộc Cách mạng, Nhà nước Dân chủ Công hoà mới được 4 tháng đã bước sang năm thứ hai. Sau những ngày sôi động hào khí nổi dậy giành chính quyền, đất nước đang đứng trước nhiều nguy cơ.

Cùng với nạn đói, nhiều lực lượng chính trị từ nước ngoài về đòi chia quyền bính. Và cuối cùng thì tài ba và sự uyển chuyển trong lãnh đạo của cụ Hồ đã dàn xếp dần ổn thoả. Đảng Cộng sản Đông Dương tuyên bố “tự giải tán” chỉ để lại công khai “Hội nghiên cứu Chủ nghĩa Mác” (25/11/1945). Một Chính phủ Liên hiệp giữa Việt Minh và các đảng phái được hình thành. Cuộc Tổng tuyển cử dự kiến tổ chức vào tháng 11 năm này được chuyển sang tuần đầu năm sau.

Ngày 31/12/1945,  Chủ tịch Hồ Chí Minh viết bài hô hào: “Tổng Tuyển cử là một dịp cho toàn thể quốc dân tự do lựa chọn những người có tài, có đức để gánh vác công việc nước nhà… Tổng tuyển cử tức là tự do, bình đẳng; tức là dân chủ đoàn kết… Tôi mong rằng toàn thể quốc dân sẽ hăng hái tham gia cuộc Tổng tuyển cử này”.

Ngày hôm đó báo chí cùng đăng bài Bác viết về “Thế giới đối với Việt Nam” để kết luận: “Chúng ta cứ bền gan, vững chí xây đắp thực lực để kiên quyết chiến đấu, sức chiến đấu ấy sẽ làm cho hoàn cầu thừa nhận nền độc lập hoàn toàn của chúng ta”.

Cũng trong ngày cùng tháng tận của năm  1945 này, Bác ký hai sắc lệnh: thành lập Uỷ ban Nghiên cứu Kế hoạch kiến thiết và cử cụ Bùi Bằng Đoàn, thượng thư Bộ Hình của chế độ cũ và nhà thơ Cù Huy Cận vào Ban Thanh tra đặc biệt chuyên xử lý quan chức làm sai pháp luât.

Sớm 1/1/1946, Chính phủ Liên hiệp Kháng chiến ra mắt tại Nhà Hát Lớn. Ở trong hội trường trên sân khấu cụ Hồ ngồi cạnh Cố vấn tối cao Vĩnh Thuỵ (cựu hoàng Bảo Đại) một bên chiếc đỉnh đặt dưới lá Cờ Đỏ Sao Vàng, bên kia là cụ Nguyễn Hải Thần, thủ lĩnh của các đảng phái đối lập ngồi bên cụ Nguyễn Văn Tố, một nhân sĩ không đảng phái cho thấy một tinh thần đoàn kết vì Dân tộc (ảnh 1).

Ở ngoài quảng trường, đông đảo dân chúng Hà Nội đến để đón chờ lời chúc mừng năm mới của Cụ Chủ tịch nước thay mặt Chính phủ đoàn kết liên hiệp (ảnh 2)

Ảnh 1Ảnh 1

Ảnh 2Ảnh 2

Mấy ngày hôm sau (5/1/1946) dân chúng còn chứng kiến hai cụ Chủ tịch và Phó Chủ tich nước đứng bên nhau trước ban thờ Chùa Bà Đá (ảnh 3) và cùng nhau thụ lộc đầu xuân (ảnh 4). Cụ Hồ trịnh trọng nói: “Nói hy sinh phấn đấu thì dễ, nhưng làm thì khó. Trước Phật đài tôn nghiêm, trước quốc dân đồng bào có mặt tại đây, tôi xin thề hy sinh đem thân phấn đấu để giữ vững nền độc lập cho Tổ quốc. Hy sinh, nếu cần đến hy sinh cả tính mạng, tôi cũng không từ”.

Nhớ lại 4 năm về trước, ngày 1/1/1942, khi còn hoạt động trên Chiến khu Cao Bằng, Nguyễn Ái Quốc đã làm bài thơ “Chúc mừng năm mới” đăng trên tờ báo “Việt Nam Độc lập”  với lời “Chúc đồng bào ta đoàn kết mau! Chúc Việt Minh ta càng tấn tới”… Nhưng lại phải đến 8 năm sau ngày 1/1/1955, Bác cùng các nhà lãnh đạo đất nước đứng trên lễ đài dựng tại Quảng trường Ba Đình lịch sử để dự lễ chào mừng của nhân dân  Hà Nội chào mừng Thủ đô đã được giải phóng (ảnh 5).

Ảnh 4Ảnh 4

Ảnh 5Ảnh 5

Ảnh 6Ảnh 6

Và 5 năm sau đó, ngày 1/1/1960, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ký sắc lệnh ban hành Bản Hiến pháp vừa đựoc Quốc hội kỳ họp thứ 11 của Quốc hội khoá I thông qua chiều ngày 31/12/1959.

Đây là bản Hiến pháp thứ 2 được soạn thảo nhưng lại là bản Hiến pháp đầu tiên được ban hành (ảnh 6).

Dương Trung Quốc
bee.net.vn

Những lời chúc đầu năm

– Về nước từ đầu năm 1941, Nguyễn Ái Quốc triệu tập Hội nghị Trung ương, thành lập Mặt trận Việt Minh (5/1941).

LTS: Nhân kỷ niệm 120 năm ngày sinh của Bác Hồ, Bee giới thiệu mục “Mỗi ngày nhớ một điều”,  điểm lại những sự kiện liên quan tới Người trong từng ngày của năm.

Nhận thấy cơ hội cứu nước đang đến gần, bước sang năm mới, Bác làm bài thơ “Chúc năm mới” đầu tiên đăng trên báo “Việt Nam Độc lập” với những lời cổ vũ : “… Chúc đồng bào ta đoàn kết mau !/Chúc cho Việt Minh càng tấn tới ! / Chúc toàn quốc ta trong năm này / Cờ đỏ ngôi sao bay phất phới!/ Năm nay là năm rất vẻ vang/ Cách mệnh thành công khắp thế giới /.

Ngày 1-1-1960, Chủ tịch Hồ Chí Minh ký sắc lênh ban bố Hiến pháp sửa đổi vừa đuợc Quốc hội thông qua.

Kể từ năm ấy, hàng năm Bác Hồ thường có thơ chúc Tết với một ý nghĩa khiêm nhường: “Mấy lời thân ái nôm na/ Vừa là kêu gọi ,vừa là mừng Xuân”…cho đến mùa Xuân Kỷ Dậu (1969) là bài thơ chúc Tết cuối cùng vạch ra cho đồng bào và chiến sĩ con đường đi đến toàn thắng:“… Vì độc lập, vì tự do / Đánh cho Mỹ cút, đánh cho nguỵ nhào / Tiến lên ! Chiến sĩ, đồng bào / Bắc Nam xum họp xuân nào vui hơn”.

XN
cpv.org.vn

Tết Độc lập ngày ấy…

– … Cả nửa thế kỷ đã trôi qua, có cảm giác cái không khí Tết Độc lập của ngày xưa không còn. Nhưng dù thế nào với chúng tôi kỷ niệm về những ngày ấy sẽ sống mãi vì để có được Tết Độc lập đã phải hy sinh bao xương máu của ông cha, anh em, đồng đội, bạn bè. Chúng ta đừng bao giờ quên!

Ngày ấy, Tết Độc lập – Tết của toàn dân. Tôi nhớ cái Tết ấy vui không kém gì cái Tết xuân mới. Với bọn trẻ, có lẽ, vì sau Tết Độc lập sẽ là ngày tựu trường.

Từ 2/9/1945, Việt Nam có ngày Độc lập. Ảnh dongautaivietnamTừ 2/9/1945, Việt Nam có ngày Độc lập. Ảnh dongautaivietnam

Ngày ấy, nhà tôi ở khu gia binh của sĩ quan Bộ Tổng tham mưu, ngay ngã tư Điện Biên và Trần Phú, không xa đầu đường Nam Bộ. Cứ sát ngày Quốc khánh, chả riêng gì nhà tôi mà các gia đình trong khu tập thể đều đón họ hàng ở quê lên ăn tết. Vui lắm, râm ran chào nhau, thăm hỏi sức khỏe rồi vụ chiêm xuân, vụ hè thu năm nay ra sao…

Tiếng gà qué loác quác các xó bếp. Nhà cửa chật chội, cứ trải chiếu xuống dưới sàn mà nghỉ.
Tối 1/9, thấy bọn trẻ còn đùa nghịch ngoài sân, các bác nói với ra: “Ngủ sớm đi để ngày mai còn đi xem duyệt binh!”.

Sáng hôm sau, trong khu các sĩ quan với quân phục chỉnh tề, đầy đủ huân, huy chương ra xe từ sớm. Còn các bác ở quê ra hầu như thấp thỏm cả đêm, dậy uống trà từ 4h. Bên ấm trà thì thào, mong cho trời mau sáng.

Thức giấc, chẳng thèm ăn sáng, chúng tôi theo chân các bác ra đứng trên vỉa hè trước cửa, chờ đoàn xe duyệt binh đi qua. Ngày ấy bộ đội, du kích tham gia duyệt binh tập trung ở sân bay Bạch Mai, tới sáng 2/9 mới theo xe hành quân lên đầu đường Hùng Vương (phía công viên Tây Hồ). Nghe các bác kháo nhau: “Chỉ cần xem xe pháo, bộ đội, du kích ngồi trên xe chạy qua phố mình cũng như được xem duyệt binh trên Quảng trường. Kéo nhau lên sát Ba Đình làm gì cho mất trật tự ra”. Chẳng ai nhắc nhở nhưng ai cũng như tự hiểu điều đó. (Dân ta hay thế!).

Sáng, bà con ở các huyện ngoại thành, ở các tỉnh sát thủ đô mới kéo ra. Trên vỉa hè người xếp hàng lớp trong, lớp ngoài. Bên những bà con với quần áo mới lành lặn vẫn thấy có người đi chân đất, quần áo vá nhưng chả ai phân biệt giàu nghèo, họ như hòa thành 1 khối.

Trên loa phóng thanh treo ở cột điện đầu ngã tư tường thuật trực tiếp lễ duyệt binh và diễu hành mừng Quốc khánh. Khi phát thanh viên giới thiệu “Hồ Chủ tịch, Chính phủ và các vị khách quý đang bước ra lễ đài” làm ai cũng xúc động, như thấy mình đang có mặt trên Quảng trường. Mở đầu là lễ duyệt binh… Đội Quân nhạc nghi lễ do ông Đinh Ngọc Liên chỉ huy liên tục thực hiện các khúc quân hành. Không khí thật rạo rực.

Ở nhà chỉ mong cho đoàn xe pháo hoàn thành nhiệm vụ duyệt binh trở về sẽ tiếp tục diễu hành báo cáo với nhân dân thủ đô. Từ loa phóng thanh vang lên “Đoàn xe tải Mô-lô-tô-va quân sự trong màu sơn mới, các bánh xe sơn trắng, đang rẽ từ đường Hùng Vương sang đường Trần Phú để đi lên Bờ Hồ…”.

Vừa thoáng thấy chiếc com-măng-ca mui trần, với Quân kỳ quyết thắng gắn những huân chương lấp lánh, dẫn đầu đi qua đầu vườn hoa Canh Nông (nay là vườn hoa Lê-nin), bà con đã nhảy cẫng lên, vỗ tay, hô lớn: “Việt Nam muôn năm! Bác Hồ muôn năm! Hồ Chí Minh – Võ Nguyên Giáp!”…  Bọn trẻ chúng tôi sung sướng hô theo và chen sát ra lề đường.

Trên xe là những chiến sĩ trẻ măng, đẹp trai với “quân dung tươi tỉnh”, lưỡi lê tuốt trần, mặt nghiêm nghị nhìn về phía trước. Hết xe bộ binh là hải quân, pháo binh, phòng không… Nhìn những trang bị quân đội hiện đại ngày ấy mà cảm thấy tự hào cho sự phát triển của QĐNDVN anh hùng.

Kế sau bộ đội là công an, dân quân tự vệ, rồi diễu hành của các lĩnh vực, ngành nghề. Xem cho tới khi không còn đoàn nào diễu hành, chúng tôi mới theo chân các bác trở về. Bữa cơm trưa ấy xôm tụ, có thêm cả thịt gà.

Buổi tối cả nhà kéo nhau ra Bờ Hồ xem bắn pháo hoa. Nhìn bầu trời nở ra những bông hoa với ngàn vạn màu sắc mà thêm yêu Tổ quốc độc lập, tự do.

Cho đến bây giờ trong chúng tôi – thế hệ tuổi 50 – 60 trở lên – vẫn còn giữ mãi kỉ niệm về những cái tết Độc lập, cho dù cả nửa thế kỷ đã qua. Dân ta đã bao năm sống trong nô lệ, đã bao năm khao khát được sống trong độc lập, tự do; chỉ từ sau ngày 2/9/1945, dân ta mới thực sự có cái Tết Độc lập như thế!

… Cả nửa thế kỷ đã trôi qua, có cảm giác cái không khí Tết Độc lập của ngày xưa không còn. Nhưng dù thế nào với chúng tôi kỷ niệm về những ngày ấy sẽ sống mãi vì để có được Tết Độc lập đã phải hy sinh bao xương máu của ông cha, anh em, đồng đội, bạn bè. Chúng ta đừng bao giờ quên!

  • Trần Kiến Quốc

bee.net.vn

Độc lập, tự do… đường lên phía trước…

Không khí linh thiêng ngay từ những giây đầu tiên, khi tất cả khán giả cùng đứng lên chào lá quốc kỳ, cất cao lời “Quốc ca” và “Lãnh tụ ca”, để cùng tự hào là con dân nước Việt, cùng đồng lòng đi theo con đường mà Bác đã vạch ra cho dân tộc như lời một bài hát: Độc lập, tự do…đường lên phía trước…

Đúng 20h đêm 29/8/2009, đêm nhạc “Hồ Chí Minh – cả cuộc đời vì nước vì dân” đã được truyền hình trực tiếp từ Quảng trường Ba Đình đến với đồng bào cả nước và kiều bào ta ở nước ngoài. Đêm mùa thu, không gian quảng trường lắng lại, khi vài ngàn con người đủ mọi lứa tuổi, từ những cụ già tóc bạc phơ đến những em nhỏ đôi ba tuổi, tụ họp tại đây để cùng nhớ, cùng tri ân, cùng bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc vị lãnh tụ vĩ đại nhất của dân tộc Việt Nam. Thêm rất nhiều ghế phụ, và hàng ngàn đồng bào xem chương trình dọc đường Độc Lập, nơi ban tổ chức đặt 3 màn hình lớn.

Đêm nhạc hoành tráng cạnh lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh. Ảnh VietNamNetĐêm nhạc hoành tráng cạnh lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh. Ảnh VietNamNet

Không khí linh thiêng ngay từ những giây đầu tiên, khi tất cả khán giả cùng đứng lên chào lá quốc kỳ, cất cao lời “Quốc ca” và “Lãnh tụ ca”, để cùng tự hào là con dân nước Việt, cùng đồng lòng đi theo con đường mà chủ tịch Hồ Chí Minh đã vạch ra cho dân tộc như lời một bài hát: Độc lập, tự do…đường lên phía trước…

Con đường của dân tộc Việt Nam mà Bác vạch ra là con đường mở, con đường phát triển đến tương lai mà cơ sở nền móng của nó là Độc lập, tự do.

anh 1.jpgCả dân tộc đồng lòng vì “Độc lập tự do… đường lên phía trước”. Ảnh VietNamNet

Ngay sau đó, ca sĩ Đăng Dương “Ca ngợi Hồ Chủ tịch” (Nhạc sĩ Văn Cao) với những lời ca tha thiết, hào hùng: “Người về mang tới ngày vui. Mùa thu nắng tỏa Ba Đình, với tiếng Người còn dịu dàng như tiếng đất trời…” mở đầu cho những ca khúc thể hiện tình cảm yêu kính của những người con Việt Nam với người cha chung của dân tộc. Từ những khúc ca hùng tráng Tiếng hát từ thành phố mang tên Bác (Cao Việt Bách), Hồ Chí Minh đẹp nhất tên người (Trần Kiết Tường) đến Người là niềm tin tất thắng (Chu Minh)…, đến những lời ca da diết của “Lời Bác dặn trước lúc đi xa”, “Viếng lăng Bác”, “Giữa Mạc Tư Khoa nghe câu hò Nghệ Tĩnh”…

Các nghệ sĩ thuộc nhiều thế hệ, từ những người kỳ cựu như NSND Thu Hiền, NSND Quang Thọ, đến thế hệ trung niên như Thái Bảo (Hà Nội), Tạ Minh Tâm (TPHCM), cả các sĩ trẻ như Hồ Quỳnh Hương, Phương Anh, Thanh Thúy…, mỗi người đều góp lời ca như những bông hoa đẹp trong vườn hoa dâng Bác. Nhiều khán giả hát cùng các ca sĩ những lời ca tha thiết, nhiều tiếng vỗ tay theo nhạc điệu.

Đa số các ca khúc về Bác được chọn hát trong chương trình không mới, bởi những người yêu nhạc “cách mạng” Việt Nam đã quen thuộc với những lời ca được cất lên mỗi dịp kỷ niệm ngày sinh của Bác, hay tưởng nhớ ngày Bác đi xa. Nhưng khi những lời ca sâu lắng ấy vang lên giữa không gian quảng trường Ba Đình lịch sử, nơi Bác đọc những lời Tuyên ngôn độc lập khai sinh nước Việt Nam dân chủ cộng hòa 64 mùa thu trước, nơi đồng bào cả nước hòa chung dòng lệ tiễn đưa Bác 40 năm trước, nơi Bác đang yên giấc, dường như tinh thần của Bác, tấm lòng của Bác đã truyền tình cảm cho cả người hát lẫn người nghe; tạo nên mối cộng cảm, gắn bó, liên kết cả dân tộc thành một khối sức mạnh: Độc lập, tự do…đường lên phía trước…

Chương trình cũng dành những phút tri ân các chuyên gia Liên Xô trước đây, các chuyên gia Nga hiện nay nối tiếp nhau dành trọn tâm sức, tình cảm để giữ gìn hình hài Bác suốt 40 năm qua, để mỗi ngày hàng ngàn người nối tiếp nhau vào lăng để được thấy Bác. Nhiều chuyên gia có mặt trong đêm diễn, cùng nhớ Bác với đồng bào Việt Nam.

Cùng với những lời ca dâng Bác, những thước phim tư liệu hình ảnh Bác Hồ với đồng bào – chiến sĩ cả nước, với bạn bè quốc tế gây xúc động mạnh mẽ không chỉ bởi hình ảnh Người giản dị, gần gũi, thân thương, mà còn bởi những người tiếp xúc với Bác đều thể hiện rõ niềm hạnh phúc khi được gặp Bác, được Bác ôm hôn hay bắt tay thân mật… Cảm giác như Bác vĩ đại đang ở đâu đó thật gần.

Trong không khí ấy, những lời cuối cùng trong di chúc Bác để lại cho toàn dân từ 40 năm trước sẽ khiến mỗi người phải suy ngẫm: “Điều mong muốn cuối cùng của tôi là: Toàn Đảng, toàn dân ta đoàn kết phấn đấu, xây dựng một nước Việt Nam hoà bình, thống nhất, độc lập, dân chủ và giàu mạnh, và góp phần xứng đáng vào sự nghiệp cách mạng thế giới”.

  • Theo Khánh Linh (VietNamNet)

bee.net.vn

40 năm thực hiện Di chúc Bác Hồ lên phim

Ban bí thư Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam vừa đưa ra yêu cầu xây dựng và hoàn thành bộ phim tài liệu nghệ thuật về 40 năm thực hiện Di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Bộ phim mang tên 40 năm thực hiện Di chúc Bác Hồ với 37 tập, tổng chi phí hơn 15 tỷ đồng, được lấy mốc từ thời điểm Bác Hồ bắt đầu viết di chúc vào năm 1965, hoàn tất bản di chúc, quá trình toàn Đảng, toàn dân thực hiện di chúc của Người.

Cuốn sách Bác Hồ viết di chúc và di chúc của NgườiCuốn sách Bác Hồ viết di chúc và di chúc của Người

Đoàn làm phim sẽ quay bối cảnh tại Hà Nội, TP.HCM, nhiều tỉnh thành trong nước và nước ngoài như: Pháp, Trung Quốc, Campuchia, Lào… Hãng phim truyện Việt Nam phối hợp với Hội Điện ảnh TP.HCM đảm nhiệm trọng trách này.

Nghệ sĩ ưu tú Lê Đức Tiến làm Tổng đạo diễn, Nghệ sĩ nhân dân Huy Thành làm Tổng biên tập, Nghệ sĩ ưu tú Lý Thái Dũng quay phim… Đến nay, 5 tập đầu đã hoàn tất và dự kiến sẽ phát hành vào ngày 2/9/2009.

Bộ phim cũng nằm trong hoạt động hưởng ứng cuộc vận động Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh, tiến tới kỷ niệm 1.000 năm Thăng Long – Hà Nội.

Tháng 6/2009, bảo tàng Hồ Chí Minh và một số bảo tàng trên cả nước đã tổ chức các buổi triển lãm “40 năm thực hiện Di chúc Chủ tịch Hồ Chí Minh”.

N.Đ (tổng hợp)
bee.net.vn