Tag Archive | Hồ Chí Minh

Chuyến xuất ngoại đầu tiên ngoài “phe” XHCN

– Ngày 4/2/1958, Chủ tịch Hồ Chí Minh dẫn đầu phái đoàn của nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà lên đường đi thăm chính thức Cộng hoà Ấn Độ và Liên bang Miến Điện (nay gọi là Myanmar).

Đây là chuyến xuất ngoại đầu tiên của Bác cùng đoàn chính phủ ta sang thăm chính thức những quốc gia châu Á nằm ngoài “phe” xã hội chủ nghĩa và là những nước có vai trò quan trọng ở lục địa này.

Bối cảnh khi đó là nguy cơ Hiệp định Generve bị vô hiệu hoá do sự phá hoại của Mỹ và chính quyền Sài Gòn mà Ấn Độ đang là Chủ tịch của Ủy ban Quốc tế giám sát đình chiến ở Việt Nam.

4-2-1958 HCM thăm cộng hòa Ấn Độ, nhân dân thủ đô Đêli nhiệt liệt chào mừng.jpgNgày 4/2/1958, Bác thăm cộng hòa Ấn Độ, nhân dân thủ đô Dêli nhiệt liệt chào mừng.

Hơn thế, chuyến đi này cũng nhằm đáp lại thịnh tình của Thủ tướng Ấn Độ J.Nerhu đã đến thăm Hà Nội, ngay sau khi miền Bắc được hoàn toàn giải phóng (1954). Đây cũng là nguyên thủ quốc gia đầu tiên sang thăm chính thức nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà kể từ khi nước Việt Nam độc lập (1945).

Trước khi rời Hà Nội, Bác nêu rõ mục đích của chuyến đi nhằm “thắt chặt hơn nữa tình hữu nghị giữa Việt Nam, Ấn Độ và Miến Điện, đồng thời để tăng cường tình đoàn kết giữa các dân tộc Á – Phi, do đó thêm lực lượng giữ gìn hoà bình thế giới”. Bác nhấn mạnh vai trò của Ấn Độ “là một nước rất to và nhân dân Ấn Độ rất anh dũng”. 23 giờ đêm máy bay mới tới thành phố Calcuta của Ấn Độ.

Cũng cần nói thêm rằng Calcuta là thành phố mà Bác đã dừng chân trên hành trình sang Pháp năm 1946, nhưng lúc đó Ấn Độ vẫn còn là thuộc địa của đế quốc Anh. Với đất nước và nhân dân Ấn Độ, Bác còn có mối thâm tình với một nhà lãnh đạo phong trào dân tộc nổi tiếng của quốc gia đông dân hàng thứ 2 ở châu Á và thế giới nay là Mahatma Gandhi (dân gian gọi là Thánh Cam Địa). Bác đã gặp cụ thân sinh ra M.Gandhi tại Hội nghị của Liên đoàn Quốc tế chống chiến tranh tranh họp tại Brussels (Bỉ).

Tháng 11/1942, trong lúc bị các thế lực quân phiệt Trung Hoa giam cầm, Nguyễn Ái Quốc  đã viết bài thơ “Gửi Nê-ru” cho thấy tình cảm của nhà cách mạng Việt Nam với người đồng chí Ấn Độ (bản dịch từ chữ Hán): “Khi tôi phấn đấu, anh hoạt động/ Anh phải vào lao, tôi ở tù/ Muôn dặm xa với chưa gặp mặt/ Không lời mà vẫn cảm thông nhau/ Đôi ta cảnh ngộ vốn không khác/ Cảnh ngộ giờ đây khác bội phần/ Tôi chốn lao tù người bạn hữu/ Anh trong gông xích bọn cừu nhân”.

Tháng 9/1946, trên đuờng từ Pháp trở về nước bằng đường thuỷ, khi tàu đi ngang Ấn Độ Dương, nhân danh Chủ tịch nước Việt Nam Bác có gửi điện tới  J.Nerhu lúc này đã trở thành Thủ tướng Chính phủ tại New Delhi “để gửi lời chào anh em tới Ngài và nhân dân của dân tộc Ấn Độ vĩ đại” và bức điện gửi Mahatma Gandhi gửi lời “chúc mừng nồng nhiệt nhất nhân kỷ niệm lần thứ 77 ngày sinh của Ngài và chúc Ngài trường thọ 2 lần 77 tuổi”…

Trong lần đến thăm chính thức này, ngay trong ngày đầu tiên (5/2), Bác đã đến viếng mộ của Mahatma Gandhi và trồng một cây địa mang từ Việt Nam sang làm kỷ niệm. Còn khi đón tiếp Bác, Thủ tướng Ấn Độ J.Nerhu đã phát biểu:

“Hỡi nhà chính trị vĩ đại của nhân dân! Cũng như người cha vĩ đại cuả dân tộc chúng tôi là Thánh Grandhi. Ngài là biểu hiện của một đời sống đơn giản, thanh cao và khắc khổ. Chúng tôi hết lòng cầu với thượng đế rằng cuộc viếng thăm lịch sử của Ngài đến đất nước này sẽ đúc nên những giây chuyền vàng bằng hữu nghị để thắt chặt hai dân tộc chúng ta trong tình nghĩa anh em chói lọi. Tình hữu nghị vĩ đại giữa Ấn Độ và Việt Nam sẽ tiêu diệt những tội ác như chiến tranh, thù oán, tham lam và chủ nghĩa thực dân độc ác…”.

X&N
bee.net.vn

“Quét sạch chủ nghĩa cá nhân”

– Ngày 3/2/1964, nhân kỷ niệm 34 năm thành lập Đảng, trên báo Nhân Dân, Bác đăng bài “Mừng Đảng ta 34 tuổi”. Bài viết được mở đầu bằng 2 vần thơ: “Công đức Đảng ta như biển rộng, như trời cao/ Băm tư năm ấy biết bao nhiêu tình”.

Và 5 năm sau, ngày 3/2/1969, báo Nhân Dân đăng bài viết cuối cùng của Bác (với bút danh T.L), nhân kỷ niệm lần thứ 39 ngày thành lập Đảng với nhan đề “Nâng cao đạo đức cách mạng, quét sạch chủ nghĩa cá nhân”.

Hồi ức của Vũ Kỳ, thư ký riêng cho biết: Bài viết này được Bác tâm niệm muốn viết từ lâu và lúc đầu, tên bài viết, Bác đặt vấn đề “quét sạch chủ nghĩa cá nhân” lên trên yêu cầu “nâng cao đạo đức cách mạng”. Nhưng sau đó theo yêu cầu của Ban biên tập báo Đảng, đầu đề mới được sửa lại như trên.

Bài viết hoàn thành ngày 1/2, được đăng vào số đặc biệt kỷ niệm thành lập Đảng như một vấn đề quan trọng mà Bác thấy cần đuợc quan tâm và coi như một nhiệm vụ cấp bách.

Bài báo viết: “Nhân dân ta thường nói: Đảng viên đi trước, làng nước theo sau. Đó là một lời khen chân thành đối với đảng viên và cán bộ chúng ta. Sau khi nêu lên những đảng viên gương mẫu thuộc nhiều thế hệ đã tham gia chiến đấu hy sinh làm nên những thắng lợi của cách mạng mà Bác coi: “Đó là những bông hoa tươi thắm của chủ nghĩa anh hùng cách mạng. Nhân dân ta và Đảng ta rất tự hào có những người con xứng đáng như thế”.

Bài báo đã đề cập tới một thực tế là: “Còn có một số ít cán bộ, đảng viên mà đạo đức, phẩm chất còn thấp kém. Họ mang nặng chủ nghĩa cá nhân, việc gì cũng nghĩ đến lợi ích của mình trước hết. Họ không lo “mình vì mọi người” mà chỉ muốn “mọi người vì mình”.

Do chủ nghĩa cá nhân mà ngại gian khổ, khó khăn, sa vào tham ô, hủ hoá, lãng phí, xa hoa. Họ ham danh trục lợi, thích địa vị, quyền hành. Họ tự cao tự đại, coi thường tập thể, xem khinh quần chúng độc đoán chuyên quyền. Họ xa rời thực tế, mắc bênh quan liêu mệnh lệnh…” và nhiều biểu hiện khác …

Bài báo phân tích những biện pháp khắc phuc là “phải thực hành phê bình và tự phê bình nghiêm chỉnh trong Đảng. Phải hoan nghênh và khuyến khích quần chúng thật thà phê bình cán bộ, đảng viên. Chế độ sinh hoạt của chi bộ phải nghiêm túc. Kỷ luật của Đảng phải nghiêm minh. Công tác kiểm tra của Đảng phải chặt chẽ… Phải kiên quyết quét sạch chủ nghĩa cá nhân, nâng cao đạo đức cách mạng…”.

Đây cũng là lần cuối cùng Bác viết bài nhân kỷ niệm thành lập Đảng nên cũng được coi là những di ngôn của người sáng lập và lãnh đạo một chặng đường dài cách mạng nước ta đối với tổ chức cách mạng của mình.

X&N
bee.net.vn

“Dân ta phải biết sử ta”

– Ngày 1/2/1942, trên báo “Việt Nam Độc lập” phát hành tại chiến khu, Bác viết bài “Nên học sử ta”. Bài báo mở đầu bằng 2 câu thơ: “Dân ta phải biết sử ta/ Cho tường gốc tích nước nhà Việt Nam” cũng là câu mở đầu của tập diễn ca “Lịch sử nước ta” được “Việt Minh Tuyên truyền Bộ” xuất bản vào cùng tháng 2/1942.

Bài báo viết: “Dân ta phải biết sử ta. Sử ta dạy cho ta những truyền thống vẻ vang của tổ tiên ta. Dân tộc ta là con Rồng cháu Tiên, có nhiều người tài giỏi đánh Bắc dẹp Nam, yên dân trị nước tiếng để muôn đời …

Ngày 1/2/1959, trong dịp thăm Liên Xô, Bác nói chuyện với sinh viên Việt Nam tại hội trường Đại học Lomonoxop

Ngày 1/2/1959, trong dịp thăm Liên Xô, Bác nói chuyện với sinh viên Việt Nam tại hội trường Đại học Lomonoxop.

Đời nào cũng có người anh hùng mưu cao võ giỏi đứng ra đoàn kết nhân dân đuổi giặc cứu nước. Đời Trần, quân Nguyên đánh đâu được đấy, chiếm nước Tàu và nửa châu Âu, thế mà ba lần bị ông Trần Hưng Đạo đánh tan. Bình dân như ông Lê Lợi và ông Nguyễn Huệ đã đánh đuổi quân Tàu làm cho nước ta độc lập.

Người già như ông Lý Thường Kiệt, quá 70 tuổi mà vẫn đánh Đông dẹp Bắc, bao nhiêu lần đuổi giặc cứu dân…. Thiếu niên như Phù Đổng Thiên Vương chưa đến 10 tuổi mà đã ra tay cứu nước, cứu nòi. Trần Quốc Toản mới 15, 16 tuổi đã giúp ông Trần Hưng Đạo đánh phá giặc Nguyên. Phụ nữ thì có Bà Trưng, Bà Triệu ra tay khôi phục giang san.

Những vị anh hùng cứu nước ấy, vì dân mà làm nên sự nghiệp kinh thiên động địa. Nhờ những vị anh hùng dân tộc ấy mà nước ta được tự do, độc lập, lừng lẫy ở Á Đông.

Sau khi lên án Vua Gia Long “đem nước ta bán cho Tây” và biểu dương những người đánh Tây như Phan Đình Phùng, Hoàng Hoa Thám, bài báo kết thúc bằng một lời tổng kết:

“Sử ta dạy cho ta bài học này: Lúc nào dân ta đoàn kết muôn người như một thì nước ta độc lập, tự do/ Trái lại, lúc nào dân ta không đoàn kết thì bị nước ngoài xâm lấn” và kêu gọi: “Vậy nay ta phải biết đoàn kết, đoàn kết mau, đoàn kết chắc chắn thêm lên mãi dưới ngọn cờ Việt Minh để đánh đuổi Tây – Nhật, khôi phục lại độc lập, tư do”.

27 năm sau, ngày 1/2/1969, khi làm việc với Tổng cục trưởng Tổng cục Lâm nghiệp để trao đổi về bài “Tết trồng cây” mà năm nào Bác cũng viết để cổ vũ phong trào, Bác Hồ đã nhắc nhở việc giữ gìn tiếng Việt: “Tiếng nói và chữ viết của dân tộc ta giàu, đẹp, nếu thiếu thật mới đi mượn chữ nước ngoài”.

X&N
bee.net.vn

Thử thách mới sau khi thoát khỏi nhà tù thực dân

– Ngày 31/1/1933, Thống đốc Hồng Kông Uyliam Pin đã gửi văn bản tới Bộ trưởng Bộ Thuộc địa Anh báo cáo lại toàn bộ những giải pháp mà chính quyền “buộc phải giúp đỡ để đưa” Tống Văn Sơ (bí danh của Nguyễn Ái Quốc) trở về với nước Nga vào hơn một tuần trước đó (22/1), sau khi Toà án Hoàng gia đã phán quyết phải trả tự do cho nhân vật mà bộ máy mật thám của Pháp đang truy nã.

Đây được coi là văn kiện cuối cùng liên quan đến “Vụ án Nguyễn Ái Quốc ở Hồng Kông”. Nó cho thấy sự khôn ngoan của nhà cách mạng Việt Nam cũng như những thủ thuật mà những người Anh có cảm tình với Tống Văn Sơ (bí danh của Nguyễn Ái Quốc đồng thời là danh xưng chính thức trong vụ án) đã “lách luật” để không đẩy nhân vật này vào tay nhà cầm quyền Pháp đang giăng bẫy và gây sức ép với Chính phủ Anh.

Ngày 31-01-1957, Chủ tịch Hồ Chí Minh về thăm gia đình cụ Công Thị Tý, (xã Phú Thượng nay là phườngNgày 31/01/1957, Chủ tịch Hồ Chí Minh về thăm gia đình cụ Công Thị Tý, xã Phú Thượng

Văn bản của Thống đốc Anh cho biết: “Các luật sư của Nguyễn Ái Quốc ở đây được thông tin về câu giải thích sai bức điện ngày 8/10 (1932) của Ngài (Bộ trưởng Thuộc địa Anh Phililip Lister) rằng việc cho phép Nguyễn Ái Quốc đến Anh không bị từ chối”. Văn bản còn cho biết Nguyễn một mực yêu cầu chỉ rời Hương Cảng bằng các tàu biển Xô Viết nhưng do không có tuyến đường này nên đã phải xuống tàu đi Singapore. Ngay sau đó chính quyền sở tại sợ rắc rối với Pháp nên buộc Nguyễn Ái Quốc phải quay trở lại Hồng Kông và bị bắt lại.

Tuy nhiên, do Toà án Hoàng gia đã có quyết định thả tự do nên các luật sư đã thông báo cho nhà cầm quyền Hồng Kông biết rằng thân chủ của họ sẽ rời Hồng Kông bằng tàu “An Huy” trên hành trình đến Thượng Hải (vào hồi 5 giờ chiều ngày 22/1/1933).

Viên thống đốc đã giúp đỡ bằng cách kiếm một chiếc tàu không phải của chính quyền để Nguyễn Ái Quốc tự lựa chọn cách tiếp cận tàu “An Huy” và tự tìm cách rời khỏi Hồng Kông. Cuối cùng, Nguyễn đã tìm được cách trở về với nước Nga.

Đến tận ngày 25/3/1933, bộ máy cảnh sát của Pháp và các thuộc địa mới phát lệnh truy nã trong đó viết: “Tin tình báo: Nguyễn Ái Quốc bị bắt lần đầu tiên tại Hồng Kông ngày 6/6/1931 đã được nhà cầm quyền Anh phóng thích và trục xuất khỏi Hồng Kông”.

Trong bản báo cáo “tuyệt mật” của Trưởng phòng Đông Dương của Quốc tế Cộng sản gửi Ban Thư ký Phương Đông và Ban Chấp hành QTCS cho biết: “…Đồng chí Nguyễn Ái Quốc đã trải qua 2 năm ở nhà tù… Sau một thời gian trong tù, có tin về cái chết của Quốc. Năm 1932 lại xuất hiện tin mới là Ái Quốc không chết, đã ra tù và biến mất… Tháng 6/1934, Ái Quốc đến Matxcơva… Đồng chí nói rằng chuyến đi này được tiến hành nhờ đồng chí Vaillant Couturier (lãnh đạo Đảng Cộng sản Pháp) trong thời gian ở Trung Quốc. “

Sau đó Nguyễn Ái Quốc được chuyển tới Trường nghiên cứu Lenin để tiếp tục công việc học tập lý luận… Và những thử thách tiếp tục cho đến khi nhà cách mạng Việt Nam tìm được cách đi qua Trung Quốc (1938) rồi trở về Việt Nam (1941) trực tiếp chỉ đạo thành công cuộc cách mạng giải phóng dân tộc trên quê hương của mình (1945).

X&N
bee.net.vn

“Những yêu sách của nhân dân An Nam”

– Ngày 30/1/1919, Văn phòng Tổng giám đốc Sở An ninh Pháp viết một bản báo cáo về phong trào đòi độc lập của người Đông Dương đang cư ngụ ở Pháp. Bản báo cáo cho biết: Nguyễn Ái Quốc dùng tiền riêng của mình thuê in 6000 bản “Những yêu sách của nhân dân An Nam” (Les Revendications du Peuple d’ Annam) để phân phát trong các cuộc mít tinh ở Paris và một số thành phố khác.

Đây là văn bản của “Nhóm những người yêu nước An Nam” ở Pháp bao gồm 5 nhân vật chủ chốt được đồng bào tôn là “Ngũ Long” (5 con rồng) bao gồm Phan Chu Trinh, Phan Văn Trường, Nguyễn An Ninh, Nguyễn Thế Truyền và Nguyễn Tất Thành. Bản yêu sách đòi hỏi với việc nước Pháp chiến thắng trong cuộc Đại chiến I nên: “Một thời đại công lý và chính nghĩa nhất định là phải đến với những dân thuộc địa”, đồng thời đưa ra 8 yêu sách cụ thể là:

30-1-1965 HCM dự lễ kỷ niệm 35 năm ngày thành lập Đảng Lao động VN.jpg 43K   Xem   Tải xuống   Ngày 30/1/1965, Bác Hồ dự lễ kỷ niệm 35 năm ngày thành lập Đảng Lao động Việt Nam.

1.“Tổng ân xá cho tất cả những người bản xứ bị án tù chính trị;

2. Cải cách nền pháp lý Đông Dương bằng cách cho người bản xứ cũng được quyền hưởng những đảm bảo về mặt pháp luật như người Âu châu; xoá bỏ hòn toàn các tờ án đặc biệt làm công cụ để khủng bố và áp bức bộ phận trung thực nhất trong nhân dân An Nam;

3. Tự do báo chí và tự do ngôn luận;

4. Tự do lập hội và hội họp;

5. Tự do cư trú ở nước ngoài và tự do xuất dương

6. Tự do học tập, thành lập các trường kỹ thuật và chuyên nghiệp ở tất cả các tỉnh cho người bản xứ;

7. Thay chế độ ra các sắc lệnh bằng chế độ ra các đạo luật;

8. Đoàn đại biểu thường trực của người bản xứ, do người bản xứ bầu ra, tại nghị viện Pháp để giúp cho Nghị viện biết được những nguyện vọng của người bản xứ”.

Cuối văn kiện này kêu gọi nước Pháp sẽ làm tròn nhiệm vụ của mình với một nước Pháp văn minh và đối với nhân loại.

Văn bản này được ký bằng cái tên chung là: “Nguyễn Ái Quốc”. Tuy nhiên, kể từ khi Bộ trưởng Thuộc địa, vốn là Toàn quyền Đông Dương Albert Sarraut yêu cầu tác giả “Nguyễn Ái Quốc” lên gặp tại văn phòng thì chỉ có Nguyễn Tất Thành đến và kể từ đó tên gọi này đã trở thành một biệt danh đầy tính chiến đấu và kiên cường cách mạng của nhân vật sau này trở thành Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Và gần nửa năm sau, ngày 18/6/1919, Văn bản này đã được Nguyễn Ái Quốc gửi tới Tổng thống Hoa Kỳ Wilson lúc này đang có mặt tại Paris để tham dự Hội nghị Versailles, nơi các nước thắng trận phân chia quyền lực kẻ bại trận và thế giới.

Mặc dầu những nội dung của bản yêu sách này mới đề cập tới những đòi hỏi còn thấp so với quyền độc lập tự do, những trong bối cảnh lúc đó, văn bản này thực sự là một dấu hiệu mang tính chất một bước ngoặt quan trọng trong cuộc đấu tranh vì mục tiêu giải phóng dân tộc của nhân dân Việt Nam và kể từ đó trên vũ đài chính trị quốc tế và trong lịch sử hiện đại Viêt Nam xuất hiện tên tuổi “Nguyễn Ái Quốc” như biểu tượng của cuộc sự nghiệp Cách mạng giải phóng dân tộc xuyên suốt nửa đầu thế kỷ XX.

X&N
bee.net.vn

“Người đời không phải là thánh thần”

– Ngày 28/1/1946, trên báo Cứu Quốc, cơ quan ngôn luận của Tổng bộ Việt Minh, Chủ tịch Hồ Chí Minh ký tên dưới một văn kiện có tựa đề là “Tự phê bình”.

Đó là một văn bản kiểm điểm lại tình hình đất nước kể từ sau cuộc Cách mạng giành chính quyền thành công với 4 tháng phấn đấu không biết mệt mỏi của nhân dân và Chính phủ. Trên từng lĩnh vực chính trị, xây dựng thể chế, ngoại giao, kinh tế, quốc phòng, chăm lo đời sống nhân dân… tuy đã đạt được nhiều thành tựu, nhưng trong văn kiện này, người đứng đầu chính phủ vẫn “tự phê bình”:

Bác Hồ và Tổng bí thư Trường Chinh tháng 1/1955.Bác Hồ và Tổng bí thư Trường Chinh tháng 1/1955.

“Vì yêu mến và tin cậy tôi mà đồng bào giao vận mệnh nuớc nhà, dân tộc cho tôi gánh vác. Phận sự tôi như một người cầm lái, phải chèo chống thế nào để đưa chiếc thuyền Tổ quốc vượt khỏi những cơn sóng gió, mà an toàn đi đến bến bờ hạnh phúc của nhân dân. Nhờ sức đoàn kết của toàn dân mà chúng ta tranh được độc lập. Nhưng Chính phủ vừa ra đời thì liền gặp những hoàn cảnh khó khăn…

Trước hoàn cảnh khó khăn đó, đồng bào đã cố gắng, người giúp sức, kẻ giúp tiền. Còn tôi thì lo lắng làm tròn nhiệm vụ của mình sao cho khỏi phụ lòng đồng bào toàn quốc. Chỉ vì tôi tài hèn, đức mọn, cho nên chưa làm đầy đủ những sự mong muốn của đồng bào… Chính phủ do tôi đứng đầu chưa làm việc gì đáng kể cho nhân dân ”.

Phân tích tình hình đất nước, vị Chủ tịch Chính phủ thẳng thắn đánh giá: “Có thể nói rằng: Những khuyết điểm đó là vì thời gian còn ngắn ngủi, vì nước ta còn mới, hoặc vì lẽ này lẽ khác. Nhưng không, tôi phải nói thật: Những thành công là nhờ đồng bào cố gắng. Những khuyết điểm kể trên là lỗi tại tôi.

Người đời không phải là thánh thần, không ai tránh khỏi khuyết điểm. Chúng ta không sợ khuyết điểm, nhưng chỉ sợ không biết kiên quyết sửa nó đi. Từ nay, tôi mong đồng bào ra sức giúp tôi sửa chữa những khuyết điểm đó bằng nhiều cách, trước hết là bằng cách thi hành cho đúng và triệt để những mệnh lệnh của Chính phủ. Vận mệnh nước ta ở trong tay ta. Chúng ta đồng tâm nhất trí, trên dưới một lòng, thì chúng ta nhất định thắng lợi”.

Có thể nói đây là một thông điệp rất minh bạch của người đứng đầu Nhà nước quan niệm về một thể chế dân chủ và ứng xử của những người có trách nhiệm đối với nhân dân của mình.

X&N
bee.net.vn

Bác Hồ đốt lửa trại

– Ngày 26/1/1949 cũng là ngày 28 Tết Canh Thìn, kết thúc kỳ họp của Chính phủ, Bác tham dự đêm lửa trại trước khi chia tay.

Nhật ký của Bộ trưởng Lê Văn Hiến thuật lại: “Đêm nay, một bữa tiệc nhỏ long trọng để đưa tiễn các đại biểu Nam Bộ, đồng thời là bữa “ăn Tết” của chánh phủ. Bữa tiệc vừa vui vừa cảm động.

Sau bữa tiệc có buổi lửa trại. Nhiều trò vui đã được diễn và Hồ Chủ tịch đã có lúc phải cười nhiều nhưng vừa cười vừa chảy nước mắt. Anh em diễn ngày kháng chiến thắng lợi Hồ Chủ tịch vào thăm “Thành phố Hồ Chí Minh” (Sài Gòn) và trước máy truyền thanh chào mừng đồng bào Nam Bộ”.

26/1/1961, Chủ tịch Hồ Chí Minh thăm nhà máy cao su, xà phòng và thuốc lá Hà Nội. Người xem suất ăn  bồi dưỡng giữa ca của công nhân.Ngày 26/1/1961, Chủ tịch Hồ Chí Minh thăm nhà máy cao su, xà phòng và thuốc lá Hà Nội. Người xem suất ăn bồi dưỡng giữa ca của công nhân.

Cũng cần nói thêm rằng Đoàn đại biểu Nam Bộ lặn lội từ chiến trường miền Nam đi suốt dọc đất nước đang trong máu lửa để ra Chiến khu gặp Trung ương và Bác.

Ngày 3/10/1948, Đoàn đến gặp Hội đồng Chính phủ lúc này đang họp dưới sự chủ tọa của Bác và Đoàn đã chuyển tặng “bức họa hình Hồ Chủ tịch và 3 em thiếu nhi tượng trưng Trung Nam Bắc, 3 em vây xung quanh Cụ, một em nắm râu Cụ với bao vẻ mến yêu. Bức họa này của một họa sĩ đã lấy máu mình mà vẽ ra, vừa đẹp và chứa đầy ý nghĩa”…( Đó chính là bức tranh của Họa sĩ Diệp Minh Châu).

Cũng thuật lại đêm lửa trại tiễn đưa Đoàn Nam Bộ, Cụ Hoàng Đạo Thuý, từng là Cục trưởng Cục thông tin của Bộ Tổng Tham mưu, lúc này được Bác điều về làm công tác vận động thi đua có thuật lại cụ thể trong hồi ức của mình: “(Chiều hôm đó) Cụ tìm tôi và bảo: Tối nay, Cụ tổ chức lửa trại nhé? Thưa Cụ, chỉ có mấy ông cụ già với mấy ông bộ trưởng bận bịu, lửa trại khó vui được lắm – Cứ vui chứ!

Bỗng tôi nẩy ra một  ý  nghĩ tinh nghịch: Nếu tôi làm “trùm lửa” thì ai cũng phải nghe tôi đấy! Nhất định thế! Cụ trả lời tủm tỉm cười, chắc Cụ hiểu ý tôi .

Lửa bùng lên. Ngồi quanh có Cụ Hồ, Cụ Tôn, Cụ Phan Kế Toại, Cụ Phạm Bá Trực và mười ông bộ trưởng. Tôi chắp tay:  Xin Cụ Chủ tịch hát mở lửa trại.

Chẳng ngần ngừ gì cả, Cụ vừa bước quanh lửa, lên tiếng hát: “Anh hùng xưa, nhớ hồi là  hồi niên thiếu. Dấy binh làm cờ…”. Ai cũng thấy lạ, sao Cụ biết bài hát ấy? – Bọn Hướng đạo nó dạy tôi đấy!

Một lần khác, ông Trần Duy Hưng được Cụ đề bạt làm trùm lửa. Hưng cũng trêu Cụ, trêu một cách kính mến thôi, chứ Cụ có bí bao giờ đâu. Hai người ngồi bên Cụ, giang tay làm tàu bay, mồm kêu “ù, ù”. Hưng gọi loa: “A lô, A lô, đồng bào thành phố Hồ Chí Minh (tên này có từ sau Ngày Độc lập) Cụ Chủ tịch vào thăm đồng bào, Cụ có huấn thị…”.

Cụ đứng nhổm ngay dậy: “A lô, đồng bào. Tôi vào thăm đồng bào. Đi tàu bay mệt quá, xin để Bác sĩ Trần Duy Hưng nói với đồng bào thay tôi”. Đến lượt Hưng ta cuống.

Cụ Hoàng Đạo Thuý còn kể: “Năm ấy, Đoàn đại biểu miền Nam lần thứ nhất ra thăm Chính phủ. Đó là đoàn trong đó có ông Trần Bửu Kiếm và một ông cố đạo (tức linh mục Phạm Bá Trực)”. Bày biện đâu đấy cả, có tin Đoàn sắp đến nơi. Đi tìm Cụ thì không ai thấy.

Khi Đoàn bước vào, thì bằng một cửa bên Cụ đã đến ngồi ghế Chủ tịch, bắt tay chào vui vẻ, cảm động. Nhưng quái, làm sao đại biểu cứ ngẩn ngơ thế nào ấy? Thì ra thế này: Cụ được tin Đoàn sắp đến, là Cụ ra rừng. Đoàn đi qua, Cụ ôm hôn từng người, thắm thiết. Đoàn cảm động, không biết là ông Cụ nào thế! Bây giờ được chào Cụ Chủ tịch kính mến và mong đợi, thì không biết có phải là ông cụ lúc nãy không?”.

Đó là hồi ức của những nhân chứng lịch sử về Chính phủ của Cụ Hồ trong những ngày kháng chiến gian khổ!

X&N
bee.net.vn

“Khoan hồng mà không nhu nhược”

Ngay sau khi Cách mạng thành công, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã thân mời Cựu hoàng Bảo Đại nhận làm Cố vấn tối cao.

 – Ngày 25/1/1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi Thông tư cho Uỷ ban Trung Bộ chỉ đạo việc đối xử đối với một số quan lại trong chế độ cũ đã tham gia các vụ đàn áp phong trào cách mạng.

Thông tư yêu cầu “Các Uỷ ban địa phương cần phải tỏ rõ thái độ rộng lượng với các cựu công chức và quan lại ấy. Nếu không thấy nhân dân oán hờn thì cứ để họ sống yên ổn” vì “Chính phủ muốn để họ có cơ hội được giác ngộ khiến họ tự ý tham gia vào phong trào kháng chiến kiến quốc một cách thành thực và mong chuộc lại lỗi lầm xưa”.

Sáng mùng 1 Tết Quý Mão, Chủ tịch Hồ Chí Minh đến chúc Tết các chiến sĩ cảnh sát giao thông Sáng mùng 1 Tết Quý Mão, Chủ tịch Hồ Chí Minh đến chúc Tết các chiến sĩ cảnh sát giao thông

Trước đó, ngày 8/10/1945, trên báo “Cứu Quốc”, Bác đã viết bài “Khoan hồng mà không nhu nhược” trong đó nêu rõ chính sách của Chính phủ Dân chủ Cộng hoà là: “Chính phủ đã tỏ ra, một thái độ rất khoan hồng, chính đại, chỉ coi bọn thực dân Pháp là kẻ thù chính cần tiêu diệt…

Đối với quan lại cũ, trừ những bọn đại gian, đại ác, Chính phủ Cộng hoà ta cũng tỏ một độ lượng không để tâm moi ra những tội cũ đem làm án mới làm gì. Thái độ đó của Chính phủ tỏ rõ một ý muốn duy nhất làm sao đem lại cho dân chúng được tự do độc lập hoàn toàn và để cho tất cả mọi phần tử quốc dân được hưởng tự do độc lập như muôn vật được hưởng ánh sáng mặt trời…”

Bài báo cũng phê phán hiện tượng “tại thôn quê thường xảy ra những cuộc bắt bớ lung tung, những cuộc tịch thu bừa bãi không phải vì quyền lợi của dân chúng mà chỉ vì thù riêng, vì tư lợi” và ra lệnh “Các Uỷ ban Nhân dân không được bắt người vô tang chứng, không được tịch thu của cải trái phép” và nhắc nhở: “Phải khoan hồng nhưng không nhu nhược, như vậy mới thực là biết phụng sự quyền lợi quốc gia”.

Ngay sau khi Cách mạng thành công, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã thân mời Cựu hoàng Bảo Đại nhận làm Cố vấn tối cao của Chính phủ Dân chủ Cộng hoà, mời cựu Thượng thư Bộ Hình Bùi Bằng Đoàn làm người đứng đầu Cơ quan Thanh tra đặc biệt chuyên xử lý các việc làm phi pháp của nhân viên Chính phủ… Bác cũng quan tâm đến cuộc sống của các thành viên trong hoàng tộc và trên thực tế rất nhiều quan lại cũ và tôn thất nhà Nguyễn đã tham gia vào sự nghiệp chung của cách mạng…

Ngày 25/1/1948, Bác gửi tới cụ Ưng Uý, một cựu quan lại cao cấp và là người của Hoàng tộc, thân sinh ra nhà bác học Bửu Hội đang sống tại Huế một bức thư “xin mời cụ tham gia kháng chiến để chúng ta tiếp tục sự nghiệp bỏ dở của các vị tiền bối Hàm Nghi, Thành Thái, Duy Tân là đánh đuổi thực dân Pháp để giành độc lập cho dân tộc, cho Tổ quốc”.

Đáp lại, cụ Ưng Uý đã lên chiến khu và ra lời tuyên bố (26/2/1949): “Tôi vốn là cựu quan chức Nam triều và là người trong Hoàng gia. Nay thực dân Pháp thực hiện mưu mô lấy người Việt trị người Việt, tôi phẫn uất quá nên tôi phải lìa nhà lên chiến khu, nguyện theo Chính phủ để giúp một phần hiểu biết vào công cuộc kháng chiến cho đỡ nỗi phẫn uất trong lúc tuổi già…”

X&N
kienthuc.net.vn

“Nhờ cụ cầu Đức Chúa ban phúc cho Tổ quốc”

– Ngày 23/1/1947, trong bối cảnh chiến tranh đã mở rộng ra cả nước, khối đoàn kết toàn dân trong đó có các tôn giáo cần được huy động vào việc phụng sự nền độc lập của Tổ quốc đồng thời đấu tranh chống lại những âm lưu lợi dụng tôn giáo của thực dân, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã gửi thư và giao cho người thân tín của mình là Vũ Đình Huỳnh mang vào Phát Diệm trao tận tay cho Giám mục Lê Hữu Từ, người có vai trò trong giáo hội Thiên Chúa giáo và cũng là người đã nhận làm cố vấn cho Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hoà.

Thư viết bằng những lời lẽ chân thành:

“Đã lâu không được gặp cụ, tôi nhớ lắm. Từ ngày thực dân Pháp bội ước gây hấn, toàn thể đồng bào ta phải đồng tâm nhất trí, kháng chiến cứu quốc… Vì công việc còn bận, tôi chưa có thể gặp cụ để trực tiếp cảm ơn cụ, tôi xin phái người thân tín là ông Huỳnh thay mặt tôi đến hỏi thăm và chúc cụ mạnh khoẻ”

Bác đề nghị giám mục tiếp tục ủng hộ chính phủ trong kháng chiến cũng như đã từng giúp trong các thuơng thảo ngoại giao và bức thư kết thúc: “Nhờ cụ cầu Đức Chúa ban phúc cho Tổ quốc và xin cụ nhận lời chào thân ái của tôi”.

Tháng 1/1960 Bác gặp các cháu học sinh Trường Phan Chu Trinh tại Văn MiếuTháng 1/1960 Bác gặp các cháu học sinh Trường Phan Chu Trinh tại Văn Miếu

Thời điểm này đang xảy ra một vài xích mích giữa đồng bào lương và giáo mấy hôm sau (1/2/1947), Bác lại viết thư gửi Giám mục để kiên trì giải thích: “Trong Hiến pháp ta đã định rõ: Tín ngưỡng tự do. Nếu ai làm sai Hiến pháp, khiêu khích Công giáo thì sẽ bị phạt.

Chắc cụ không bao giờ tin rằng Việt Minh chống đạo vì cụ thừa biết rằng Việt Nam Độc lập Đồng minh là cốt đoàn kết tất cả đồng bào để làm cho Tổ quốc độc lập chứ không phải để chia rẽ, phản đối tôn giáo.

Mà tôi cũng không bao giờ nghi rằng đồng bào công giáo chống Việt Minh, vì hơn ai hết, đồng bào công giáo càng mong cho Tổ quốc độc lập, cho tôn giáo được hoàn toàn tự do; và tôi chắc ai cũng tuân theo khẩu hiệu: Phụng sự Thượng đế và Tổ quốc…

Những sự xích mích nhỏ giữa một số đồng bào, tuy là đáng tiếc, vì đạo đức giáo hoá chưa được phổ cập, không thể động chạm đến sự đại đoàn kết của chúng ta… triệt để hoàn thành đại đoàn kết, để toàn dân không phân lương – giáo, chỉ một tâm lo chống ngoại xâm. Nhờ cụ cầu Chúa ban phúc cho nước nhà mau đi đến kháng chiến thắng lợi.”

Sau đó, Bác lại viết thư tiếp (10/3) vừa động viên Giám mục Lê Hữu Từ vừa mềm mỏng giải quyết một số vấn đề nẩy sinh trong quan hệ lương – giáo ở địa phương. Thư cũng nhờ Giám mục vận động đồng bào Phát Diệm phá cầu để đề phòng quân Pháp tiến chiếm.

Đây cũng là lúc thực dân Pháp đang tìm mọi thủ đoạn chia rẽ lương – giáo và lôi kéo nhân vật này để rồi sau đó không lâu, Giám mục Lê Hữu Từ đã từ bỏ hàng ngũ kháng chiến theo giặc Pháp …

X&N
bee.net.vn

“Lenin bất diệt sẽ sống mãi trong sự nghiệp chúng ta”

– Ngày 22/1/1924, Nguyễn Ái Quốc đang học và làm việc tại Liên Xô thì nhận được tin V.I.Lenin đã từ trần vào đêm hôm trước (21/1/1924).

Nguyễn Ái Quốc đã tới trụ sở Quốc tế Nông dân ở Matxcova để dự phiên họp bất thường.

Tháng 1 /1960, Bác Hồ giành nhiều thời gian cho kiều bào Thái Lan

Tháng 1 /1960, Bác Hồ giành nhiều thời gian thăm hỏi bà con kiều bào Thái Lan về nước

Tại đây, Nguyễn Ái Quốc được phân công cùng một số đồng chí khác viết “Lời kêu gọi của Quốc tế Nông dân”.

Văn kiện kêu gọi: “Nghĩa vụ thiêng liêng của chúng ta là thực hiện những lời khuyên quan trọng nhất của Lenin. Điểm quan trọng nhất trong di huấn chính trị của Người là thực hiện liên minh công nông, củng cố khối đoàn kết nông dân ở nông thôn và công nhân ở thành thị…

Hãy cất lên thật to, thật mạnh giữa quần chúng nông dân lời kêu gọi: Nông dân và công nhân ở tất cả các nước hãy đoàn kết lại!”

Sau đó, Nguyễn Ái Quốc đã viết một bài bày tỏ cảm xúc trước sự kiện này và được đăng trên tờ “Pravda” (Sự Thật). Bài báo có nhan đề “Lenin và các dân tộc thuộc địa” mở đầu bằng câu: “Lenin đã mất! Tin này đến với mọi người như sét đánh ngang tai, truyền đi khắp các bình nguyên châu Phi và các cánh đồng xanh tươi ở châu Á..

Lenin đã mất rồi thì chúng ta biết làm thế nào? Liệu có những người dũng cảm và rộng lượng như Lenin để không quản thời gian và sức lực chăm lo đến sự nghiệp giải phóng của chúng ta không? Đó là những điều mà quần chúng nhân dân bị áp bức ở các thuộc địa băn khoăn tự hỏi…

Còn chúng tôi những người cộng sản, những người sinh ra ở các thuộc địa, chúng tôi vô cùng đau đớn… Song chúng tôi tin tưởng rằng Quốc tế Cộng sản và các phân bộ của nó, trong đó có các chi bộ ở các nước thuộc địa sẽ thực hiện được những bài học và những lời giáo huấn mà vị lãnh tụ để lại cho chúng ta…

Khi còn sống Người là cha, thầy học, đồng chí và cố vấn của chúng ta. Ngày nay, Người là ngôi sao sáng chỉ đường cho chúng ta đi tới cuộc cách mạng xã hội. Lenin bất diệt sẽ sống mãi trong sự nghiệp của chúng ta!”.

X&N
bee.net.vn

“Tôi chỉ có một ham muốn tột bậc”

– Ngày 21/1/1946, báo Cứu Quốc đăng toàn văn câu trả lời của Chủ tịch Hồ Chí Minh với một số nhà báo nước ngoài sau khi cuộc Tổng tuyển cử đã thành công tốt đẹp và quốc dân đang chờ đợi những thay đổi trong đời sống chính trị nước nhà. Câu trả lời của Bác đầy tính triết lý và tính chiến đấu tự như một tuyên ngôn về lẽ sống của mình: 

“Nhân dịp các bạn tân văn ký giả ngoại quốc hỏi đến, tôi xin đem câu trả lời của tôi công bố ra cho đồng bào trong nước và nhân sĩ nước ngoài đều biết:

1. Tôi tuyệt nhiên không ham muốn công danh phú quý chút nào. Bây giờ phải gánh chức Chủ tịch là vì đồng bào uỷ thác thì tôi phải gắng sức làm như một người lính vâng mệnh lệnh quốc dân ra trước mặt trận vậy…

Tôi chỉ có một ham muốn tột bậc là làm sao cho nước ta được hoàn toàn độc lập, dân ta được hoàn toàn tự do, đồng bào ta cũng có cơm ăn áo mặc, ai cũng được học hành. Riêng phần tôi sẽ làm một cái nhà nho nhỏ, nơi có non xanh nước biếc để câu cá, trồng hoa, sớm chiều làm bạn với các cụ già hái củi, em trẻ chăn trâu, không dính líu gì với vòng danh lợi..

2. Trong một nước dân chủ thì mọi người đều có tự do tin tưởng, tự do tổ chức. Nhưng vì hoàn cảnh và trách nhiệm, tôi phải đứng ra ngoài mọi đảng phái. Nay tôi chỉ có một tin tưởng vào Dân tộc độc lập. Nếu cần có đảng phái thì sẽ là Đảng Dân tộc Việt Nam. Đảng đó chỉ có một mục đích là làm cho dân tộc ta hoàn toàn độc lập. Đảng viên của đảng đó sẽ là tất cả quốc dân Việt Nam, trừ những kẻ phản quốc và những kẻ tham ô ra ngoài.

Rất mong nhân sĩ nước ngoài và đồng bào trong nước rõ cho” .

Chỉ một năm sau, ngày 21/1/1947 ứng với ngày 30 Tết Đinh Hợi, Bác đến Đài phát thanh Tiếng nói Việt Nam, lúc đó đang sơ tán tại Chùa Trầm, để đọc “Lời kêu gọi nhân Tết nguyên đán” và đọc lời thơ chúc Tết Xuân Đinh Hợi:

“Cờ đỏ sao vàng tung bay trước gió/Tiếng kèn kháng chiến vang dậy non sông/Toàn dân kháng chiến, toàn diện kháng chiến/Chí  ta đã quyết, lòng ta đã đồng/Tiến lên chiến sĩ! Tiến lên đồng bào/Sức ta đã mạnh, người ta đã đông/Trường kỳ kháng chiến nhất định thắng lợi /Thống nhất, độc lập nhất định thành công”.

X&N
bee.net.vn

Dựng tượng Chủ tịch Hồ Chí Minh tại Mexico

Phó Thủ tướng Nguyễn Thiện Nhân đồng ý với kiến nghị của Bộ VHTT-DL về việc dựng tượng đài Chủ tịch Hồ Chí Minh tại thành phố Acapulco, Mexico.

Phó Thủ tướng yêu cầu Bộ VHTT-DL chủ trì phối hợp với Bộ Ngoại giao và các cơ quan liên quan khẩn trương triển khai xây dựng tượng Bác Hồ tại thành phố trên vừa bảo đảm sự tôn nghiêm, trang trọng vừa bảo đảm chất lượng kỹ thuật, mỹ thuật.

aTượng đài Bác Hồ tại công viên bến Ninh Kiều, Cần Thơ. Ảnh DT

Công trình này phấn đấu kịp khánh thành nhân dịp kỷ niệm 120 năm Ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh (19/5/1890 – 19/5/2010).

Dự kiến, tượng đài sẽ được đặt gần tượng đài Mahatma Gandhi, vị anh hùng dân tộc Ấn Độ, tại đại lộ Miguel Aleman, đại lộ chính của thành phố Acapulco.

Hiện nay, theo số liệu thống kê thì từ năm 1990 đến nay đã có 60 công trình tưởng niệm mà bạn bè thế giới làm về Hồ Chí Minh như dựng tượng đài, dựng biển, đặt bia, đặt tên đường phố, tên trường học, tên quảng trường…

(Theo Chinhphu.vn)
bee.net.vn