Tag Archive | Hồ Chí Minh

Sơ lược diễn văn khai mạc kỳ họp I Quốc hội I

– Ngày 2/3/1946, Quốc hội khoá I khai mạc kỳ họp thứ nhất tại Nhà hát lớn thành phố Hà Nội. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã “kính cẩn tuyên bố khai mạc buổi họp”.

Bác khẳng định: “Cuộc Quốc dân Đại hội này là lần đầu tiên trong lịch sử của nuớc Việt Nam ta. Nó là kết quả của sự hy sinh, tranh dấu của tổ tiên ta, là kết quả của sự đoàn kết anh dũng phấn đấu của toàn thể đồng bào Việt Nam ta, sự đoàn kết của toàn thể đồng bào không kể già trẻ, lớn bé, gồm tất cả các tôn giáo, các dân tộc trên bờ cõi Việt Nam đoàn kết chặt chẽ thành một khối hy sinh không sợ nguy hiểm tranh lấy nền độc lập cho Tổ quốc…”.

Ngày 2/3/1946 Bác khai mạc kỳ họp đầu tiên Quốc hội Khóa INgày 2/3/1946 Bác khai mạc kỳ họp đầu tiên Quốc hội Khóa I

Cũng để thực hiện mục tiêu đại đoàn kết này mà trong lời khai mạc này, vị lãnh tụ của Mặt trận Việt Minh đã nêu đề nghị “muốn tỏ sự đoàn kết toàn dân, Chính phủ xin đề nghị Đại hội (quốc dân) mở rộng số đại biểu ra thêm 70 người nữa. 70 người ấy là mời các đồng chí ở hải ngoại về: Việt Nam Quốc dân đảng và Việt Nam Cách mệnh Đồng minh hội, và như thế là Quốc hội ta tỏ cho thế giới, cho toàn dân biết là chúng ta đoàn kết nhất trí thì việc gì cũng thành công”.

Thu hút các lực lượng đang quyết liệt cạnh tranh với Việt Minh và tìm cách giành quyền lực bằng sự ủng hộ của Trung Hoa Quốc dân Đảng, đề nghị của Bác cũng nhằm đặt các hoạt động chính trị của các tổ chức này vào trong khuôn khổ của pháp luật và sự giám sát của nhân dân thông qua Quốc hội, đồng thời cũng bằng thực tiễn thử thách của cách mạng mà phân hoá những tổ chức này.

Nhờ thế trong Quốc hội đầu tiên này “các đảng phái đều có đại biểu mà đại biểu không đảng phái cũng nhiều, đồng thời phụ nữ và đồng bào các dân tộc thiểu số cũng đều có đại biểu. Vì thế các đại biểu trong Quốc hội này không phải đại diện cho một đảng phái nào mà là đại biểu cho toàn thể quốc dân Việt Nam. Đó là một sự đoàn kết tỏ ra rằng lực lượng của toàn dân Việt Nam đã kết lại thành một khối”.

Tiếp đó, người đứng đầu nhà nước cũng báo cáo hoạt động của chính phủ trong thời gian qua và đưa ra dự kiến thành lập chính phủ mới, Chính phủ Kháng chiến với thành phần gồm nhiều đảng phái, nhân sĩ trí thức và công dân Vĩnh Thuỵ (tức cựu hoàng Bảo Đại) làm Tối cao cố vấn.

Tiếp đó, thay mặt Chính phủ Kháng chiến mới thành lập Chủ tịch Hồ Chí Minh đã trịnh trọng đọc lời tuyên thệ nhậm chức: “… trước bàn thờ thiêng liêng của Tổ quốc, trước Quốc hội, thề xin cương quyết lãnh đạo nhân dân kháng chiến, thực hiện nền Dân chủ Cộng hòa Việt Nam, mang lại hạnh phúc cho dân tộc. Trong công việc giữ gìn nền độc lập, chúng tôi quyết vượt mọi nỗi khó khăn dù phải hy sinh tính mệnh cũng không từ”.

Cũng nhắc lại một chi tiết là ngày 2/3/1961, Bác cho đăng bài báo có nhan đề là “Tếu” để phê phán bệnh hình thức của một số người nhân dịp Tết đã in thiếp chúc Tết riêng rồi gửi đi lung tung, gây lãng phí và kết thúc bài báo bằng lời khuyên: “Có gì tếu bằng tếu này/ Cái bệnh hình thức từ nay xin chừa!”

X&N
bee.net.vn

Bác phê phán thói công thần của một số chính trị phạm

 – 100 ngày sau khi chiến tranh lan rộng ra cả nước, nhận thức rằng cuộc kháng chiến sẽ phải trường kỳ và vô cùng gian khổ cần đến một đội ngũ những cán bộ và chiến sĩ có đủ phẩm chất để vượt qua những thử thách, ngày 1/3/1947, Chủ tịch Hồ Chí Minh viết “Thư gửi các đồng chí Bắc Bộ”.

Bức thư viết: “Trong lúc dân tộc đang ở ngã tư đường, chết hay sống, mất hay còn, mỗi đồng chí và toàn cả đoàn thể phải đem tất cả tinh thần và lực lượng ra để đưa toàn dân quay về một hướng, nhằm vào một mục đích đánh đuổi thực dân Pháp làm cho nước nhà thống nhất và độc lập. Vì vậy mỗi đồng chí và toàn Đoàn thể phải: sáng suốt, khôn khéo, cẩn thận, kiên quyết, siêng năng, nhất trí”.

Tháng 3/1956, Bác thăm lớp bổ túc văn hóa của bà con lao động ở khu Lương Yên, Hà NộiTháng 3/1956, Bác thăm lớp bổ túc văn hóa của bà con lao động ở khu Lương Yên, Hà Nội.

Cuộc trường kỳ kháng chiến này, tức là dân tộc cách mệnh đến trình độ tối cao. Trong lúc này, tư tưởng và hành động của mỗi một đồng chí rất có quan hệ đến toàn quốc. Nếu một sơ suất, một việc sơ suất là có thể hỏng việc to; sai một ly đi một dặm”.

Thư còn yêu cầu “chúng ta phải kiên quyết tẩy sạch những khuyết điểm” và nhà lãnh đạo cuộc kháng chiến vạch rõ những khuyết điểm đó là: “địa phương chủ nghĩa, óc bè phái, óc quân phiệt quan liêu, óc hẹp hòi, ham chuộng hình thức, làm việc lối bàn giấy, vô kỷ luật, ích kỷ hủ hoá” với những phân tích rất sâu sắc .

Ví như khi đề cập tới “óc bè phái”, Bác viết: “Ai hẩu với mình thì dù nói không đúng cũng nghe, tài không có cũng dùng. Ai không hẩu với mình thì dù có tài cũng dìm họ xuống, họ phải mấy cũng không nghe…”; với “óc quân phiệt quan liêu thì “Khi phụ trách ở vùng nào thì như một ông vua con ở đấy, tha hồ hách dịch, hoạnh hoẹ”.

Đối với cấp trên thì xem thường, đối với cấp dưới thì cậy quyền lấn át. Đối với quần chúng thì ra vẻ quan cách làm cho quần chúng sợ hãi”. Với “óc hẹp hòi”, Bác viết: “Chúng ta phải nhớ rằng: người đời ai cũng có chỗ hay chỗ dở. Ta phải dùng chỗ hay của người và giúp người chữa chỗ dở. Dùng người như dùng gỗ. Người thợ khéo thì gỗ to, nhỏ, thẳng, cong đều tuỳ chỗ mà dùng được Tư tưởng hẹp hòi thì hành động cũng hẹp hòi. Người mà hẹp hòi ít kẻ giúp. Đoàn thể mà hẹp hòi thì không thể phát triển”.

Khi nói đến khuyến điểm “ích kỷ hủ hoá”, Bác viết phê phán thói công thần của một bộ phận lãnh đạo xuất thân từ chính trị phạm: “Vẫn biết nhà pha đế quốc là nơi huấn luyện, vẫn biết Việt Minh là đoàn thể gồm những người yêu nước, chăm lo việc cứu nước. Nhưng hẳn ngoài Việt Minh còn biết bao nhiêu người hay người giỏi mà Việt Minh chưa tổ chức được.

Vả lại nếu chính trị phạm, nếu người của Mặt trận giỏi hơn ai hết  thì những người không có hân hạnh ở tù, những người chưa vào Mặt trận vô tài, vô dụng cả sao? Mỗi đồng chí chúng ta phải có thái độ khiêm tốn, càng cựu, càng giỏi, càng phải khiêm tốn, phải có lòng cầu tiến bộ, phải nhớ câu nói của ông thầy chúng ta “Phải học, Học thêm, Học mãi” (đó là câu của Lênin).

Bức thư còn nêu lên những biện pháp để thực hiện được vai trò của đội ngũ cán bộ trong đó nhấn mạnh đến công tác giao thông: “Giao thông là mạch máu của mọi việc, giao thông tắc thì việc gì cũng khó. Giao thông tốt, thì việc gì cũng dễ dàng”. Cũng với nội dung căn bản như bức thư này, Bác còn viết “gửi các đồng chí Trung Bộ”. Đây cũng có thể coi là những phác thảo chuẩn bị cho cuốn sách “Sửa đổi lối làm việc” biên soạn một cách hệ thống được xuất bản tháng 10 năm đó (1947).

X&N
bee.net.vn

Bác Hồ làm gì trong mồng 1 Tết Độc lập đầu tiên?

– Ngày 2/2/1946 ứng vào ngày mồng 1 Tết Bính Tuất, Tết Độc lập đầu tiên. Hồi ức của Vũ Kỳ, thư ký của Bác viết: “Sáng dậy sớm, chưa tới giờ làm việc Bác đã bảo lấy giấy ra khai bút…

Bác đọc cho viết: Hôm nay là mồng Một Tết, ngày Tết đầu tiên của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà… và cuối thư có mấy câu thơ kèm theo cả khẩu hiệu: “Trong năm Bính Tuất mới/Muôn việc đều tiến tới/ Kiến quốc mau thành công/ Kháng chiến mau thắng lợi!/ Việt Nam độc lập muôn năm”.

“Thư chúc mừng năm mới” được đăng toàn văn trên báo Cứu Quốc (ra vào ngày mồng 3 Tết) trong đó còn kêu gọi: “Trong khi đồng bào ở hậu phương đốt hương trầm để thờ phụng Tổ tiên, thì các chiến sĩ ở tiền phương dùng súng đạn để giữ gìn Tổ quốc. Trong khi đồng bào ở hậu phương rót rượu mừng xuân, thì các chiến sĩ ở tiền phương tuốt gươm giết giặc… Chúng ta quyết không để cho bọn thực dân trở lại đè nén chúng ta”.

Cũng dịp này nhân báo “Quốc gia”, cơ quan của một số trí thức Hà Nội ra số Xuân, Bác gửi thơ mừng: “Tết này mới thật Tết dân ta/ Mấy chữ chào mừng báo Quốc gia/ Độc lập đầy vơi ba chén rượu/ Tự do vàng đỏ một rừng hoa/ Muôn nhà chào đón xuân Dân chủ/ Cả nước vui chung phúc Cộng hoà/ Ta chúc nhau rồi ta nhớ chúc/ Những người chiến sĩ ở phương xa”. Và trong thơ gửi báo “Tiếng gọi phụ nữ” Bác cũng nhấn mạnh: “Năm mới Bính Tuất/ Phụ nữ đồng bào/ Phải gắng làm sao/ Gây “Đời sống mới”…”.

Gặp Chủ tịch Uỷ ban Hà Nội Trần Duy Hưng đến chúc Tết, vị Chủ tịch nước thuật lại câu chuyện đi thăm một số gia đình nghèo đêm 30 Tết và nhắc nhở lãnh đạo thành phố cùng các đoàn thể và các nhà hảo tâm phải lo cái Tết cho người nghèo đều được hưởng Tết đầu tiên nước nhà độc lập.

Sau đó Bác ghé thăm đồn Cảnh sát Hàng Trống và đến Nhà Hát lớn Thành phố để chúc Tết đồng bào và đọc lời “Chúc mừng năm mới”. Buổi trưa bác ăn Tết cùng anh em Vệ Quốc đoàn ở Bắc Bộ Phủ.

Chiều, Bác thăm các nhà thương Đồn Thuỷ (nơi bệnh binh của Pháp đang điều trị), Phủ Doãn (vốn là bệnh viện “làm phúc” dành cho bệnh nhân nghèo) và đến ban quà Tết cho các cháu mồ côi trong Trại An Tư Viện và nhà Ấu Trĩ Viên.

X&N
bee.net.vn

“Thư chúc Tết đồng bào Nam Bộ”

– Ngày 24/1/1947, tức là vào ngày 30 Tết âm lịch, Bác viết riêng một bức “Thư chúc Tết đồng bào và chiến sĩ Nam Bộ” với nội dung:

“Nhân dịp Nguyên đán âm lịch, tôi thay mặt Chính phủ đặc biệt chúc đồng bào và chiến sĩ Nam Bộ năm mới. Vì quyền thống nhất và độc lập của Tổ quốc, đồng bào và chiến sĩ đã hy sinh chiến đấu hơn một năm nay, mà từ nay vẫn kiên quyết hy sinh phấn đấu nữa. Sự trung thành dũng cảm đó sẽ đem Tổ quốc đến thắng lợi, và sẽ ghi những trang vẻ vang trong lịch sử nước nhà.

Vì yêu chuộng hoà bình, vì thật tâm muốn cộng tác với  nhân dân Pháp, Chính phủ ta đã tìm hết cách dàn xếp với Pháp. Những bọn thực dân bội tín bất nhân, hòng dùng vũ lực để cướp nước ta một lần nữa. Chúng gây ra cuộc chiến tranh toàn quốc đã hơn một tháng nay. Vì chủ quyền, vì Tổ quốc, toàn dân Việt Nam đã thề kiên quyết kháng chiến đến cùng, kháng chiến đến lúc lấy lại được thống nhất, độc lập mới thôi. Chúng ta đã phải trải qua những bước gay go cực khổ trong cuộc trường kỳ kháng chiến. Nhưng chúng ta chắc rằng thắng lợi cuối cùng sẽ về ta…”

Tháng 1-1961 Bác thăm nhà trẻ của cán bộ công nhân khu tập thể các nhà máy cao su, xà phòng, thuốc lá Tháng 1/1961 Bác thăm nhà trẻ của cán bộ công nhân khu tập thể các nhà máy cao su, xà phòng, thuốc lá

Để đả phá luận điệu tuyên truyền của thực dân rằng nếu thống nhất thì những người theo Pháp sẽ bị khủng bố; người Nam sẽ bị người Bắc cai trị; chính phủ chỉ toàn Việt Minh, bức thư nêu rõ :

“…Một dân tộc đã tự cường, tự lập, dân chủ cộng hoà thì không làm những việc nhỏ nhen, báo thù báo oán … Trong nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà, từ làng xã đến toàn quốc những người chức trách đều do dân cử ra. Dân tin cậy ai thì người ấy trúng cử và bổn phận những người trúng cử là làm đầy tớ công cộng cho dân chứ không phải làm quan phát tài…

Trong chính phủ có đủ những người các đảng phái, như Đảng Dân chủ, Đảng Xã hội, Đảng Quốc dân, Đồng Minh hội, lại có cả những người không thuộc đảng phái nào. 5 vị bộ trưởng và thứ trưởng quê quán ở Nam Bộ…

Sau hết, chương trình nội chính của Chính phủ và quân dân ta chỉ có 3 điều mà thôi : a) Tăng gia sản xuất để làm cho dân ai cũng đủ mặc, đủ ăn , b) Mở mang giáo dục, để cho ai nấy cũng biết đọc, biết viết; c) Thực hành dân chủ để làm cho dân ai cũng được hưởng quyền dân chủ tự do.

Chính sách ngoại giao của chính phủ thì chỉ có một điều tức là thân thiện với tất cả các nước dân chủ trên thế giới để gìn giữ hoà bình. Sự thật chỉ đơn giản có thế, mong đồng bào hiểu rõ, chớ mắc lừa thực dân”.

16 năm sau, ngày 24/1/1963, là ngày 29 Tết (tháng thiếu) của năm Quý Mão, buổi chiều Bác phải tham dự hội đàm với Đoàn đại biểu Chính phủ Tiệp Khắc, nhưng buổi sáng vị nguyên thủ quốc gia đã “vi hành” thăm Chợ Đồng Xuân.

Trong bộ quần áo gụ đã bạc màu, ngoài khoác áo mưa vải bạt, cổ quàng khăn len che kính bộ râu dễ nhận biết và đeo kính trắng, chân đi dép cao su, Bác cùng 2 chiến sĩ cảnh vệ đi thăm cảnh đồng bào sắm Tết. Bác có ý định mua một bó hoa huệ, nhưng để bảo đảm an toàn, chiến sĩ cảnh vệ trả giá rẻ để sớm rút lui. Trên đường về Bác trách vui: “Trả giá như chú, cả ngày đi chợ cũng chẳng mua được gì !”. Tối hôm ấy, Bác lại đi thăm và chúc Tết một số nơi trong đó có gia đình Bác sĩ Hồ Đắc Di.

X&N
bee.net.vn

“Đoàn kết không phải ngoài miệng”

– Có 2 sự kiện đáng nhớ diễn ra trong ngày này, ngày 31/3/1959, Chủ tịch Hồ Chí Minh đi thăm và kiểm tra cảng Hải quân Bãi Cháy và lên tàu T554. Bác đi thăm trận địa pháo của Đại đội 34 trên đảo Hòn Rồng trong vịnh Hạ Long.

Nói chuyện với các chiến sĩ, Bác động viên phải cố gắng khắc phục khó khăn, chịu đựng gian khổ, an tâm với nhiệm vụ, tích cực học tập quân sự, chính trị, văn hoá, tăng gia sản xuất để cải thiện sinh hoạt, đời sống, sẵn sàng chiến đấu.

 31-3-1959, Bác Hồ nói chuyện với đồng bào ngoài đảo Cát Bà, Cát Hải, Hải Phóng.jpg (89KB)Ngày 31/3/1959, Bác Hồ nói chuyện với đồng bào ngoài đảo Cát Bà, Cát Hải, Hải Phòng

Cũng trong chuyến đi này, Bác giao trách nhiệm cho lãnh đạo Tổng cục Hậu cần phải nghiên cứu, bảo đảm cung cấp sách báo và nước ngọt cho các chiến sĩ… Đây chính là địa bàn mà 6 năm sau đó, không lực của Mỹ đã ném bom ngay trong ngày đầu tiên khi phát động chiến tranh phá hoại ra miền Bắc và cũng là nơi lập chiến công đầu bắn rơi và bắt sống phi công Mỹ (5/8/1964).

Cũng trong chuyến đi này, Bác đến thăm các đảo Cát Hải và Cát Bà, thăm hỏi một số cư dân trên đảo, thăm Trường huấn luyện Hải quân và buổi tối nói chuyện với cán bộ các ngành quân, dân, chính, đảng thành phố Hải Phòng.

Bác nhấn mạnh đến những bất cập của một thành phố cảng quan trọng nhất miền Bắc nhưng chưa phát triển đúng với yêu cầu mà mấu chốt là công tác quản lý. Do vậy “phải chống tư tưởng bảo thủ, chống chủ quan tếu, đồng thời chống bi quan…

Nội bộ Đảng phải đoàn kết nhất trí. Đoàn kết không phải ngoài miệng mà đoàn kết trong công tác, trong tự phê bình và phê bình giúp nhau tiến bộ… Kết quả công tác của địa phương là thước đo sự lãnh đạo của Đảng”.

Ngày 31/3/1960, Bác Hồ gửi thư tới Hội nghị Thể dục Thể thao trong đó viết: “Muốn lao động sản xuất tốt, công tác và học tập tốt thì cần có sức khoẻ. Muốn giữ sức khoẻ thì nên thường xuyên tập thể dục, thể thao. Vì vậy, chúng ta nên phát triển phong trào thể dục thể thao cho rộng khắp.

Câu nói “Yêu xe như con, quý xăng như máu” đã từng trở thành phương châm hành động của các chiến sĩ lái xe trong suốt hai cuộc kháng chiến trường kỳ mà đến nay vẫn chưa phải đã cũ. Bác đã nói câu đó vào tháng 3/1951, khi đến thăm đoàn xe đầu tiên của quân đội được thành lập trên cơ sở những chiến lợi phẩm trong Chiến dịch Biên giới và biên chế thành những đơn vị cơ giới vận tải .

Nói chuyện với các bộ và chiến sĩ đơn vị, Bác căn dặn: “Các chú đã thu được một số xe của địch, thế là tốt, vì các chú lấy xe của địch diệt địch, “Gậy ông lại đập lưng ông”. Đấy là cái vốn, các chú phải giữ gìn lấy. Vốn này sẽ phát triển nhiều thêm… Các chú phải giữ gìn xe, tiết kiệm xăng để phục vụ bộ đội. Xe xăng là mồ hôi, nước mắt, xương máu của nhân dân. Các chú phải chăm sóc xe, phải yêu xe như con, quý xăng như máu…”.

X&N
bee.net.vn

Mở mặt trận trên không thắng lợi

 – Ngày 5/4/1965, sau sự kiện Không quân nhân dân Việt Nam lần đầu xuất kích đánh to và thắng lớn không lực Hoa Kỳ trong 2 ngày 3 và 4/4/1965, đặc biệt là trên bầu trời bảo vệ cầu Hàm Rồng (Thanh Hoá),  Bác Hồ đã gửi thư khen ngợi:

“Các chú đã chiến đấu dũng cảm, đã tiêu diệt máy bay Mỹ. Các chú đã thực hiện được khẩu hiệu “Đã đánh là thắng”. Như thế là xứng đáng với truyền thống của quân và dân ta. Bác gửi lời khen ngợi các chú và nhắc các chú luôn luôn phải: Nâng cao tinh thần quyết tâm đánh thắng giặc Mỹ xâm lược, thắng không kiêu, khó không nản. Ra sức rèn luyện để tiến bộ mãi mãi. Đoàn kết chặt chẽ với các đơn vị bạn và với nhân dân.Chúc các chú lập nhiều chiến công hơn nữa”.

Bác Hồ thăm một đơn vị không quânBác Hồ thăm một đơn vị không quân

Cách đó hơn một thập kỷ, ngay sau khi tiếp quản sân bay Gia Lâm (10/1954), Ban Nghiên cứu sân bay được thành lập và đến năm 1959 thì chuyển thành Cục Không quân. Năm 1963 thành lập lực luợng Phòng không-Không quân với 2 trung đoàn vận tải và huấn luyện trong khi đó lực lượng không quân tiêm kích đang được huấn luyện ở nước ngoài.

Ngày 5/8/1964, Mỹ phát động cuộc Chiến tranh phá hoại ra miền Bắc, thì ngay ngày hôm sau Trung đoàn tiêm kích mang phiên hiệu 921 được trang bị loại máy bay MIG17 đã hạ cánh xuống sân bay quân sự Nội Bài. Ngày 9/11/1964, Bác đến thăm Trung đoàn và căn dặn: “Tổ tiên ta ngày xưa đã có những chiến công oanh liệt trên sông, biển như Bạch Đằng, Hàm Tử… trên bộ như Chi Lăng, Vạn Kiếp, Đống Đa. Ngày nay chúng ta phải mở mặt trận trên không thắng lợi. Trách nhiệm này trước hết là của các chú”.

Và ngày 3/4/1965, biên đội đầu tiên do phi công Phạm Ngọc Lan chỉ huy đã xuất kích, nghênh chiến với máy bay của Không lực Hoa Kỳ trên bầu trời Hàm Rồng (Thanh Hoá) bắn rơi 2 máy bay F8U đầu tiên. Trong trận đánh tiếp theo diễn ra ngày 4/4, biên đội của Trần Hanh xuất kích lại bắn rơi 2 chiếc máy bay F5D hiện đại hơn; 3 phi công Phạm Giấy, Trần Nguyên Năm và Lê Minh Huân hy sinh là những liệt sĩ không chiến đầu tiên của binh chủng.

Cũng trong ngày 5/4/1965, Đại tướng Tổng tư lệnh Võ Nguyên Giáp đã trực tiếp nghe Bộ tư lệnh Quân chủng báo cáo và đi đến kết luận: Không quân ta có thể đánh thắng được Không quân Mỹ và Thường vụ Đảng uỷ Quân chúng cũng đưa ra kết luận: Đánh với đối tượng mạnh hơn ta, có số lượng đông, trang bị kỹ thuật hiện đại, người lái được huấn luyện có giờ bay cao, phải có cách đánh độc đáo phù hợp với hoàn cảnh và điều kiện của Không quân Việt Nam, luôn tạo thế bất ngờ chủ động tấn công, phải mưu trí linh hoạt sáng tạo trong cách đánh”.

Kể từ đó, ngày 3/4 trở thành Ngày truyền thống của Không quân nhân dân Việt Nam anh hùng.

X&N
bee.net.vn

Lớp học viết báo “Huỳnh Thúc Kháng”

 – Ngày 18/7/1946, tiếp tục chuyến thăm nước Pháp, Chủ tịch Hồ Chí Minh gặp gỡ các tầng lớp nhân dân ở nhiều địa phương, tìm hiểu đời sống và công cuộc khắc phục hậu quả chiến tranh của Chính phủ và nhân dân Pháp. Cùng trong ngày, Bác tiếp Tổng bí thư Đảng Cộng sản Pháp Maurice Thorez.

Tháng 7/1941, để động viên quần chúng tham gia cách mạng, Nguyễn Ái Quốc viết bài thơ “Hoan nghênh thanh niên học quân sự” gồm 44 câu theo thể lục bát.

Thơ có đoạn: “Nước ta mất đã lâu rồi/ Đồng bào cực khổ suốt đời gian nan/ Suốt đời chịu kiếp lầm than/ Sưu cao thuế nặng, cơ hàn xót xa! Vì ai tan cửa nát nhà?/ Chồng lìa vợ, con lìa cha tơi bời? Vì ai non nước giã rời/ Giống nòi sỉ nhục chơi vơi thế này? Vì giặc Nhật! vì giặc Tây!/” để đi đến kết luận: “… Muốn đánh Nhật, muốn đánh Tây/ Thanh niên ta phải ra đây học hành/ Một là học việc nhà binh/ Hai là học biết tình hình người ta/ Thanh niên là chủ nước nhà/ Phải cho oanh liệt mới là thanh niên”.

dNgày 7/1/1958, Bác tiếp Đoàn đại biểu ĐCS Pháp do đồng chí Gianet Vecmet dẫn đầu thăm VN.

Tháng 7/1949, Bác gửi thư cho lớp học viết báo mang tên “Huỳnh Thúc Kháng”. Là một nhà báo lão luyện, với tình đồng nghiệp Bác diễn giải: “Có thể thí dụ rằng, 3 tháng này các bạn đã học cửu chương. Còn muốn giỏi các phép tính thì phải học nữa, phải học mãi. Học ở đâu? Học với ai? Học trong xã hội, học nơi công tác thực tế, học ở quần chúng. Nếu các bạn viết báo mà quần chúng hiểu, quần chúng ham đọc, quần chúng khen hay, thế là các bạn tiến bộ. Trái lại, là các bạn chưa thành công. Các bạn nên thật thà phê bình ban huấn luyện, để các lớp sau học tập mỹ mãn hơn…”.

Cũng vào thời điểm tháng 7/1949, Bác viết thư gửi báo “Quân Du Kích” là tờ báo của Cục Dân quân là một thành phần tiền thân của báo “Quân Đội Nhân Dân” hiện tại.

Trong thư Bác viết: “Làm cho “Mỗi quốc dân là một chiến sĩ, mỗi xóm làng là một pháo đài. Làm cho Quân đội giặc đến đâu cũng bị khuấy, bị phá, bị diệt; bộ đội ta đến đâu cũng được giúp đỡ đầy đủ về vật chất và tinh thần. Đó là nhiệm vụ của báo: Quân Du Kích”.

Ngày 17/7/1955, Chủ tịch Hồ Chí Minh kết thúc chuyến đi thăm hữu nghị chính thức Liên Xô đầu tiên. Phát biểu tại sân bay Moscow, Bác cảm ơn sự giúp đỡ của Liên Xô đối với sự nghiệp kháng chiến chống Pháp, đấu tranh ngoại giao ở Hội nghị Genève và đánh giá:

“Sự giúp đỡ vô tư ấy làm cho nhân dân Việt Nam thêm tin tưởng và thêm sức mạnh, đồng thời làm cho chúng tôi thấy rõ trách nhiệm to lớn của mình trong việc mau chóng khôi phục lại nền kinh tế, cải thiện đời sống và bồi dưỡng lực lượng của nhân dân”.

Ngày 18/7/1960, Bác đi thăm huyện Quảng Xương, một huyện nghèo nhất tỉnh Thanh Hoá, thăm trại nuôi dưỡng thương binh và trại an dưỡng của cán bộ miền Nam tập kết. Cùng ngày, trên báo “Nhân Dân” đăng bài “Nhà máy giúp đỡ nông thôn” nêu rõ mối quan hệ cần có giữa giai cấp công nhân với quảng đại quần chúng nông dân.

Bài báo cũng lưu ý: “Về phía nông thôn thì tuyệt đối không nên có tâm lý ỷ lại, cái gì cũng chờ Chính phủ, hoặc các đoàn thể giúp”. 

Tháng 7/1967, ghi nhận câu chuyện, Bác Hồ quan tâm đến điều kiện trực chiến của đơn vị phòng không bố trí trên nóc Hội trường Ba Đình nên đã cử cán bộ của mình lên khảo sát. Bác đã quyết định rút hết số tiền tiết kiệm mình đang có để chuyển cho quân đội bổ sung các thứ giải khát cho bộ đội trực chiến.

X&N
bee.net.vn

Người phương Tây cuối cùng được phỏng vấn Bác Hồ

Sinh ngày 17/9/1920, Charles Fourniau đỗ thạc sĩ năm 1949 và tiến sĩ sử học năm 1983 với luận án Cuộc chinh phục Trung Kỳ và Bắc Kỳ 1885-1896 (La conquête de l’Annam et du Tonkin 1885-1896). Phần lớn thời gian được ông dành để nghiên cứu lịch sử Việt Nam thời cận đại. Ông đã viết nhiều sách như: Trung Kỳ – Bắc Kỳ 1885-1896: Sĩ phu và nông dân Việt Nam đối đầu với cuộc chinh phục thực dân (Annam – Tonkin 1885-1896: Lettrés et paysans viêtnamiens face à la conquête coloniale ) (1989); Việt Nam: Sự thống trị thuộc địa và cuộc kháng chiến dân tộc 1858-1914 (Vietnam: domination coloniale et résistance nationale 1858-1914) (2002).

TS. Phan Văn Hoàng (nguyên Tổng thư ký Hội Khoa học lịch sử TP.HCM):

Một đồng nghiệp của báo L’Humanité (cơ quan của Đảng Cộng sản Pháp) báo tin buồn: Giáo sư Charles Fourniau, một người bạn lớn của Việt Nam, qua đời ngày 21/4/2010 ở tuổi 90 tại Paris và được an táng ngày 29/4/2010 tại nghĩa trang La Chaise.

dNhà sử học Charles Fourniau. Nguồn: Internet.

Sinh ngày 17/9/1920, ông đỗ thạc sĩ năm 1949 và tiến sĩ sử học năm 1983 với luận án Cuộc chinh phục Trung Kỳ và Bắc Kỳ 1885-1896 (La conquête de l’Annam et du Tonkin 1885-1896). Phần lớn thời gian được ông dành để nghiên cứu lịch sử Việt Nam thời cận đại. Ông đã viết nhiều sách như: Trung Kỳ – Bắc Kỳ 1885-1896: Sĩ phu và nông dân Việt Nam đối đầu với cuộc chinh phục thực dân (Annam – Tonkin 1885-1896: Lettrés et paysans viêtnamiens face à la conquête coloniale ) (1989); Việt Nam: Sự thống trị thuộc địa và cuộc kháng chiến dân tộc 1858-1914 (Vietnam: domination coloniale et résistance nationale 1858-1914) (2002).

Ông từng chủ trì cuộc hội thảo về lịch sử chế độ thực dân Pháp ở Việt Nam (tổ chức tại Đại học Provence).

Dưới sự hướng dẫn khoa học của ông, nhiều sinh viên đã trở thành những nhà Việt Nam học có uy tín.

Không chỉ là một nhà sử học uyên thâm, ông còn là một chiến sĩ đấu tranh cho hòa bình.

Là đảng viên Đảng cộng sản Pháp, ông phản đối mãnh liệt cuộc “chiến tranh bẩn thỉu” (la sale guerre) mà thực dân Pháp tiến hành ở Việt Nam sau Chiến tranh thế giới lần thứ hai.

Sau khi Mặt trận dân tộc giải phóng Miền Nam ra đời không bao lâu, ông là một trong những người sáng lập Hội hữu nghị Pháp – Việt (Association d’amitié Franco-Viêtnamienne) (1961), từng làm Tổng thư ký và Chủ tịch của Hội. Năm 1962, Hội xuất bản cuốn Vấn đề Nam Việt Nam (La question du Sud-Vietnam) giúp nhân dân Pháp và thế giới hiểu được cuộc kháng chiến chống Mỹ của nhân dân Miền Nam.

Từ tháng 10/1963 đến tháng 7/1965, ông được báo L’Humanité cử làm phóng viên thường trú ở Hà Nội. Ông tận mắt chứng kiến những trận ném bom dã man của Mỹ và cuộc chiến đấu ngoan cường của nhân dân Việt Nam. Là một nhà nghiên cứu lịch sử Việt Nam, ông nhận thức được truyền thống đánh giặc giữ nước của dân tộc ta qua hàng nghìn năm, nên trong những bài báo gửi về Paris, ông khẳng định: Nhân dân Việt Nam cuối cùng sẽ thắng.

Vào thời điểm 1965, nhiều người trên thế giới lo ngại cho một nước nhỏ và nghèo như Việt Nam trước sự tàn phá khủng khiếp của Không lực Hoa Kỳ, nên không phải ai cũng nghĩ như ông. Hiệp định Paris 27/1/1973 và chiến thắng 30/4/1975 cho thấy dự đoán của ông hoàn toàn chính xác.

Ông nhiều lần gặp Chủ tịch Hồ Chí Minh. Đặc biệt, ông là người phương Tây cuối cùng phỏng vấn Bác Hồ hai tuần lễ trước khi Người qua đời (1969). Năm sau, ông cùng Léo Figuères biên tập cuốn Hồ Chí Minh, đồng chí của chúng ta (Hô Chi Minh, notre commarade).

Sau ngày Việt Nam hòa bình và thống nhất, Hội hữu nghị Pháp – Việt tiếp tục hoạt động cho sự hợp tác nhiều mặt giữa hai nước.

Ở tuổi 83, ông cho xuất bản cuốn hồi ký Việt Nam mà tôi đã thấy 1960-2000 (Le Viêtnam que j’ai vu 1960-2000).

dBìa quyển sách Việt Nam mà tôi đã thấy 1960-2000
(Vietnam: domination coloniale et résistance nationale 1858-1914).

Charles Fourniau qua đời, nhân dân Việt Nam mất một người bạn thủy chung, giới sử học Việt Nam mất một đồng nghiệp khả kính.

Xin chúc ông an nghỉ nơi cõi vĩnh hằng.

TS ALAIN RUSCIO (Nhà Việt Nam học của Pháp):

Charles Fourniau là một nhà sử học được nhiều đồng nghiệp biết tên tuổi, nhưng ông còn là một người có niềm tin vững chắc, là nhà sáng lập Hội Hữu nghị Pháp – Việt (AAFV) mà ông từng giữ chức vụ Tổng thư ký trong một thời gian dài. Ông vừa qua đời ở tuổi 89, để lại một khoảng trống mà với thời gian, chúng ta sẽ ngày càng thấm thía.

Trong cuộc chiến tranh của Pháp ở Đông Dương, ông là một chiến sĩ của phong trào Hòa bình, bắt đầu dấn thân vào việc bảo vệ dân tộc Việt Nam dũng cảm. Sau đó, trong cuộc chiến tranh của Mỹ – màn thứ hai của cuộc xâm lược từ phương Tây, ông sang Việt Nam lần đầu tiên. Khi trở về Pháp, ông đã bị dân tộc Việt Nam chinh phục: ông đã có một sự lựa chọn dứt khoát cho cả đời mình.

dBìa quyển sách Trung Kỳ – Bắc Kỳ 1885-1896: Sĩ phu và nông dân Việt Nam đối đầu với cuộc chinh phục thực dân (Annam – Tonkin 1885-1896: Lettrés et paysans viêtnamiens face à la conquête coloniale).

Hai năm sau, ông trở lại đất nước này với tư cách là một nhà báo. Tờ L’ Humanité (cơ quan ngôn luận của Đảng cộng sản Pháp) yêu cầu ông sang đó làm phóng viên thường trú của báo. Ở đó, ông tự hào được gần gũi các nhà lãnh đạo của nước này, được tiếp xúc với Hồ Chí Minh, trở thành một người thân cận của Người và là người nước ngoài cuối cùng được gặp Người (trước khi Người qua đời).

Ông là một trong những người đầu tiên chứng kiến tận mắt việc Mỹ leo thang chiến tranh. Ông thường kể lại bài báo đầu tiên ông gửi về cho báo L’ Humanité năm 1965 sau những trận ném bom ồ ạt của Mỹ. Trong bài báo ấy, ông dự đoán rằng cuối cùng Việt Nam sẽ chiến thắng. Lúc đó, sự chênh lệch về lực lượng (giữa Việt Nam và Mỹ) quá lớn khiến tòa soạn ở Paris phải do dự một lúc trước khi cho đăng. Mười năm sau, Việt Nam thống nhất và độc lập. Chính kiến thức của một nhà sử học đã giúp ông nhìn xa hơn những gì đang diễn ra trước mắt.

Charles Fourniau là một trong những người đầu tiên tự hỏi về nguồn gốc của sức đề kháng độc đáo của dân tộc này (ông rất ghét gọi nước này là một nước “nhỏ”).

Và ông đã tìm thấy câu trả lời từ trong lịch sử Việt Nam, chẳng hạn khái niệm “chiến tranh toàn dân” đã bén rễ từ nhiều thế kỷ qua trong tâm trí người Việt Nam, từ nhà vua đến người làm ruộng, trong vô số những cuộc chiến tranh tự vệ chống lại người Trung Quốc, rồi trong cuộc kháng chiến chống lại sự chinh phục của thực dân Pháp (mà ông lấy làm đề tài cho luận án tiến sĩ của ông). Ông giải thích: Rốt cuộc, ở thế kỷ XX, tướng Giáp chỉ đơn giản sử dụng lại những truyền thống cổ xưa này, đồng thời thêm vào đó nét thiên tài của chính ông.

Ông có một đức tính đặc biệt mà những người ở gần ông đều biết rất rõ: ông là một người truyền đạt kiến thức giỏi, một ông thầy dạy hay. Ông hướng dẫn nhiều thế hệ sinh viên. Họ nghe ông giảng, chia sẻ nhiệt tình của ông và sau đó trở thành những nhà Việt Nam học có tên tuổi.

“Trong nhiều năm, tên tuổi của ông đã gắn liền với cuộc đấu tranh vì tự do của nhân dân Việt Nam”

Marie – George Buffet, Bí thư toàn quốc Đảng cộng sản Pháp

Nhà khoa học này là một người dấn thân. Ông là một nhà thông thái, đồng thời cũng là một nhà tranh đấu. Tất cả ở ông là sự kết hợp hài hòa hai từ này mà ông không muốn tách rời nhau. Ông có thể đọc một bản tham luận xuất sắc tại một cuộc hội thảo quốc tế và ngay trong tuần lễ đó, nhân dân Hội Hữu nghị Pháp – Việt mà ông quý mến, ông đi dự một cuộc họp mặt của làng hay của khu phố.

Là một trí thức cộng sản, ông có những xác tín cơ bản – mà có người cho là quá thẳng – song ông không tìm cách che giấu rằng trong đó có những vấn đề và những hoài nghi mang tính phê phán gay gắt. Có lẽ ông có cả hai nét này nhờ ông hiểu một cách sâu sắc cuộc đời và sự nghiệp của Hồ Chí Minh.

Mong bà Paulette và năm người con của ông – mà trước đây ông đã đưa sang Việt Nam cùng ông – cùng các cháu mà ông yêu quý, hãy nhận những lời phân ưu chân thành của tất cả những người yêu mến Charles của họ mà cũng là một phần của chúng tôi.

(Bài đăng trên website http://www.humanite.fr V.H. dịch)

GS Nguyễn Văn Hoàn
:

Tôi quen Fourniau từ năm 1963, năm ông sang Hà Nội làm việc. Tôi quen toàn bộ gia đình, cả vợ và con Fourniau. Sau này, lần nào qua Ý, tôi cũng ghé ở nhà ông ấy. Khi Fourniau về hưu, có một hội nghị khoa học về ông, tôi có viết bài.

dĐại tướng Võ Nguyên Giáp tiếp Nhà sử học Charles Fourniau (người ngồi bên phải) tại nhà riêng. Ảnh: Nguyễn Văn Kự.

Đó là một con người làm việc nghiêm túc, đến nơi đến chốn, một người Pháp thân tình thực sự với Việt Nam. Một lần, ông đến Vân Kiều, một vùng dân tộc thiểu số ở Vĩnh Linh, họ rất ngạc nhiên thấy một “ông Tây” hiền và tốt đến như vậy. Tôi nói với ông điều đó, và ông, với vẻ mặt buồn buồn, nói: “Nếu tôi có thể gây một ấn tượng tốt cho người Việt Nam (khác với những người Pháp thực dân) thì tôi rất hạnh phúc”.

Tại đại hội Đảng bộ Vĩnh Linh, một đại biểu người Vân Kiều nói: “Ngày xưa, gặp một người Kinh ở trong rừng thôi, tôi đã bỏ chạy. Nay ngồi cạnh một ông Tây mà tôi rất an tâm, tự hào, vì tôi tin tưởng ở Bác Hồ”. Cả hội trường vỗ tay như sấm. Fourniau sung sướng khi nghe dịch lại.

Từ thời sinh viên cho đến lúc mất, Fourniau là một người bạn chí tình của Việt Nam. Từ Hồ Chí Minh, Phạm Văn Đồng… đều có “biệt nhỡn” đối với ông. Giới học giả như Trần Huy Liệu, Nguyễn Khánh Toàn, Đặng Thai Mai, Cao Xuân Huy, Phạm Thiều… đều gặp và nói chuyện trực tiếp với ông bằng tiếng Pháp. Ông cũng thân thiết với Võ Nguyên Giáp. Ông thường đến thăm Võ Nguyên Giáp, nói chuyện bằng tiếng Pháp với Võ Nguyên Giáp.

Những tác phẩm sử học của ông rất nghiêm túc về công tác tư liệu. Khi làm phóng viên tại Hà Nội, ông đã tìm các tư liệu về lịch sử cận đại Việt Nam và tôi đã giúp ông tìm các tư liệu lịch sử chưa in như Gia phả Nguyễn Quang Bích và Ngọ Phong thi tập. Sau đó, ông nhờ Cao Xuân Huy, Phạm Thiều giảng lại từng câu. Ông vào thăm chiến khu Ba Đình – Thanh Hóa và ghi âm bài vè Ba Đình rồi dịch toàn văn ra tiếng Pháp. Trung tâm lưu trữ ở Aix en Provence coi ông như người nhà, và ông đã giới thiệu tôi đến đó đọc tư liệu và photocoppy miễn phí.

aBìa quyển sách Việt Nam: Sự thống trị thuộc địa và cuộc kháng chiến dân tộc 1858-1914 (Vietnam: domination coloniale et résistance nationale 1858-1914)

Suốt đời ông gắn bó với Hội hữu nghị Việt – Pháp, từ cương vị Tổng thư kí đến cương vị Chủ tịch đại diện lúc cuối đời. Ông thuộc diện người Pháp hết lòng với Việt Nam. Như Henry Martin, Raymon Dienne, Madelain Rifaud…, những người bị bọn xấu cho là cuồng tín. Ông sống suốt đời vì Việt Nam với trái tim chân thành, công khai chống lại cuộc “chiến tranh bẩn thỉu” ở Việt Nam.

Ông là một trong nhóm phóng viên nước ngoài chịu đựng cuộc ném bom của Mỹ xuống Đồng Hới ngày 11/2/1965. Ông đã ở đó cùng với đứa con trai lớn nhất của mình 11 tuổi.

Nhóm phóng viên đó, trong đó có phóng viên Liên Xô, gửi về sứ quán Liên Xô rồi từ đó gửi về Mạc Tư Khoa rồi gửi về Pháp một bức điện: “Chúng tôi đã chứng kiến cảnh Mỹ ném bom Đồng Hới tại Việt Nam, một máy bay Mỹ bị bắn hạ và một phi công Mỹ đã bị bắt”. Vợ ông ở Paris đọc tin ấy phát hoảng: “Ông muốn làm gì thì làm, nhưng ông hãy trả con về cho tôi”. Và ông đã gửi con về Paris qua ngã Praha. Đó là một người “dấn thân” vào cuộc chiến tranh chính nghĩa của Việt Nam.

Một hôm, Thủ tướng Phạm Văn Đồng mời cả nhà ông đến ăn cơm, một lát thì Bác Hồ xuất hiện. Cô con gái lớn của ông xúc động, xin phép hôn Bác Hồ. “Khi Hồ Chí Minh vào phòng, con có cảm tưởng cả phòng sáng rực lên”. Từ đó, cả nhà gọi Bác Hồ là L’oncle Hồ. Ông cũng là người vinh dự được Bác Hồ tiếp trước khi Bác mất một tuần. Đó là điều vừa tự hào vừa đau buồn sâu sắc đối với ông.

Theo Tạp chí Hồn Việt
bee.net.vn

Nhớ mãi mùa xuân ấy

GiadinhNet – Vào năm 1946, khi nước nhà vừa giành được độc lập, dù bận trăm công, ngàn việc nhưng Bác Hồ vẫn dành thời gian tổ chức hôn lễ cho một nữ cán bộ cảnh vệ.

Vợ chồng bà Trần Thị Thái và hai người con. Ảnh tư liệu

Sự kiện này khiến những người trong cuộc rưng rưng nước mắt nhớ mãi…

Bà Trần Thị Thái – nguyên cán bộ Cục Cảnh vệ cho biết, bà có rất nhiều kỉ niệm trong 15 năm được làm công tác bảo vệ, phục vụ Bác Hồ. Sau ngày Cách mạng Tháng Tám thành công, bà Thái được phân công về Nhà in Lao Động của Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam, ở 51 Hàng Bồ, Hà Nội. Công tác ở đây được ít ngày thì cuối năm 1945, ông Trần Danh Tuyên, công tác tại Ban Bảo vệ Thành ủy Hà Nội gọi bà Thái lên trao đổi công việc. Sau khi hỏi thăm về gia đình, nguyện vọng, ông Tuyên đi thẳng vào vấn đề: “Tổ chức đã thống nhất và phân công đồng chí sang nhận công tác mới. Đó là bộ phận bảo vệ và phục vụ Bác Hồ”.

Khi nghe ông Tuyên giao nhiệm vụ, bà Thái không tin vào tai mình, trong lòng cứ xốn xang. Là một thanh niên tham gia hoạt động cách mạng, chưa bao giờ bà nghĩ mình lại có vinh dự được bảo vệ Bác Hồ – lãnh tụ vừa đọc bản Tuyên ngôn Độc lập khai sinh ra nước Việt Nam Dân chủ Công hòa. Đêm ấy bà nằm thao thức, không sao ngủ được.

Đến bây giờ, nhắc lại kỉ niệm này bà Thái vẫn còn xúc động. Bà kể: “Địa điểm mà hôm sau tôi được dẫn đến là ngôi nhà cách dốc Cống Vị (Hà Nội) chừng 300m, bên bờ sông Tô Lịch, ngược về phía chợ Bưởi. Ở đây tôi được anh Cả (tên thân mật của đồng chí Nguyễn Lương Bằng, Thường vụ Trung ương Đảng) hướng dẫn công việc cụ thể. Để giữ bí mật, tôi đóng vai là người con gái trong gia đình. Công tác được mấy ngày thì một hôm, anh Cả gọi tôi lên họp. Đang chuẩn bị vào nội dung cuộc họp thì tôi thấy một ông cụ mặc bộ quần áo kaki bước vào. Tôi sững người khi thấy đó chính là Bác. Bác vui vẻ cười, hỏi thăm mọi người. Vì ở đây chỉ có duy nhất tôi là nữ nên Bác hỏi chuyện tôi nhiều hơn. Bác không hài lòng vì thấy cuộc sống sinh hoạt hàng ngày của tôi còn quá thiếu thốn và nói với anh Vũ Long Chuẩn (ông Vũ Kỳ, thư ký của Bác), anh Nguyễn Văn Lý (đồng chí Hoàng Hữu Kháng, cận vệ của Bác, sau này là Cục trưởng Cục Cảnh vệ) thu xếp chỗ ăn ở cho tôi kẻo ảnh hưởng đến sức khỏe. Tôi xúc động quá, nghĩ mình chưa làm được gì cho Bác, mà ngược lại, Bác lại chăm lo cho tôi rất chu đáo.

Thời gian ở đây, ngoài công tác, chúng tôi được Bác cho học thêm về chính trị và một số vấn đề khác. Bác giao cho anh Chuẩn chuẩn bị chương trình. Chúng tôi rất đoàn kết và yêu thương nhau như anh em trong một gia đình. Đặc biệt, tôi biết anh Lý đã thầm yêu mình. Tôi ngượng mà chẳng dám tâm sự với ai.

Một buổi chiều, xe đưa Bác về, anh Lý và anh Chuẩn đi cùng Bác. Lát sau, Bác cho gọi tôi lên. Tôi lo quá không hiểu có chuyện gì để Bác bận lòng. Khi lên thấy Bác tươi cười, tôi đã đoán ra chuyện Bác hỏi. Bác chỉ cho tôi chiếc ghế và nói: “Cô ngồi xuống đây, tự nhiên. Bữa nay Bác nói chuyện lâu đấy”.

Tôi ngần ngại, phần thì lo lắng, phần thì ngượng. Bác hỏi tôi về chuyện gia đình, công tác và học tập. Rồi Bác nhìn tôi, nhìn anh Lý cười và hỏi: “Cô Thái có người thương chưa?”. Tôi xấu hổ, lúng túng, ấp a ấp úng mãi mới trả lời Bác: “Dạ, thưa Bác! Con… con… con còn ít tuổi chưa nghĩ đến ạ”.

Nói như vậy là chưa thật đúng với lòng mình, nhưng tôi nghĩ đất nước mới giành được độc lập, điều kiện còn khó khăn, bộn bề công việc, làm sao mình có thể lập gia đình được. Lúc trong đầu tôi đang ngổn ngang suy nghĩ thì Bác hỏi tiếp: “Cô năm nay bao nhiêu tuổi?”. “Dạ, thưa Bác! Năm nay con 20 tuổi ạ”, tôi đáp. Bác cười đôn hậu: “Hai mươi tuổi mà còn ít à. Bác làm mối cho được không?”.

Tôi đỏ bừng mặt, tay cứ vân về tà áo, trong lòng vui mà không dám nói ra. Lát sau tôi mới dám ngẩng lên nhìn Bác và liếc sang anh Lý. Thấy tôi như vậy Bác cười và không nói về chuyện này nữa.

Ít hôm sau, anh Cả nói với tôi: “Bác hỏi thật đấy. Bác giới thiệu cô với chú Lý, ý cô thế nào?”. Đến lúc này tôi mới thưa thật: “Được Bác và các anh tác thành cho thì còn hạnh phúc nào bằng”.

Đám cưới của chúng tôi đã được Bác cho tổ chức đúng vào ngày Tết Dương lịch năm 1946. Khách mời có anh Cả, anh Văn (tên gọi thân mật của đồng chí Võ Nguyên Giáp), anh Tô (tên gọi thân mật của đồng chí Phạm Văn Đồng), chị Thanh và một số người khác. Anh Cả còn đưa đến một chiếc bánh gatô và một bó hoa hồng rất đẹp mà Bác đã dặn đặt cho lễ cưới. Trước buổi liên hoan, chị Thanh nói: “Thưa Bác! Hôm nay là ngày vui của chị Thái, anh Lý và cũng là ngày vui của cả nhà ta. Xin Bác làm chủ hôn cho ạ”.

Bác Hồ nâng cốc, đọc hai câu thơ rồi nói với chúng tôi: “Lễ cưới đơn giản nhưng vui vẻ, cốt là ở tấm lòng. Sau này đất nước ta giàu mạnh, đám cưới con các cô các chú sẽ tổ chức đàng hoàng và vui hơn”.

Chúng tôi thấy như không còn khoảng cách giữa một vị Chủ tịch nước với các chiến sỹ của mình, mà như người Cha đang lo công việc cho con cháu trong nhà. Vợ chồng tôi vô cùng xúc động, tự hào về ngày vui của mình. Mùa xuân năm 1946 ấy là mùa xuân đầu tiên đất nước ta giành được độc lập và cũng là mùa xuân đầu tiên của vợ chồng tôi”.

Nguyễn Đức Quý
(Ghi theo lời kể của bà Trần Thị Thái)
bee.net.vn

Dấu ấn văn hoá xứ Nghệ trong cuộc đời Hồ Chí Minh

Mỗi một con người, dù người đó là ai – là một người bình thường hay là một vĩ nhân, đều có một quê hương. Quê hương là nơi mỗi chúng ta được sinh ra và đón nhận những dấu ấn đầu đời. Những dấu ấn, cảm nhận đó đi sâu vào trong tiềm thức của mỗi chúng ta, từ đó hình thành nên những tâm tư tình cảm, tư tưởng, phong cách của mỗi con người trong cuộc sống. Chủ tịch Hồ Chí Minh của chúng ta cũng vậy, Bác được sinh ra và sống những năm tháng tuổi thơ ở quê hương xứ Nghệ. Đây là một miền quê nghèo, người dân quanh năm phải chống chọi với thời tiết khắc nghiệt để sinh sống và chống giặc ngoại xâm để bảo vệ quê hương.

Chính vì vậy, con người xứ Nghệ luôn có những đức tính cần, kiệm, yêu lao động, đặc biệt là tinh thần yêu nước nồng nàn, sự đoàn kết, yêu thương, nhân ái. Bên cạnh đó, con người ở đây còn có tinh thần lạc quan, ham học hỏi để khắc phục thiên nhiên, cải tạo cuộc sống. Mang đậm dấu ấn văn hoá của núi Hồng, sông Lam, những làn điệu dân ca, câu hò ví dặm….đã tạo nên những nét độc đáo, riêng biệt không thể lẫn với bất cứ vùng nào. Sống trong một miền quê trù phú về văn hoá, tiếp xúc và cảm nhận được những tình cảm quê hương – từ nhỏ Chủ tịch Hồ Chí Minh đã được lắng nghe những điệu hò, câu ví qua giọng hát của bà, của mẹ, tiếp xúc với những tình cảm của xóm làng. Lớn lên được sự chỉ bảo, dạy dỗ nghiêm khắc của cha, sự yêu thương của mẹ và nhất là sự kèm cặp của ông ngoại, nên dấu ấn văn hoá xứ Nghệ càng thấm sâu vào trong tư tưởng, tình cảm của Người. Dấu ấn xứ Nghệ ấy trong Chủ tịch Hồ Chí Minh đã góp một phần rất lớn trong việc hình thành phong cách của Người.

Cụ thể, dù bôn ba khắp thế giới để tìm đường cứu nước; dù trong lao tù của thực dân, đế quốc hay trong gian khổ của cuộc trường kỳ kháng chiến nhưng lúc nào Người cũng luôn đau đáu nỗi nhớ về quê hương – nơi có những người thân yêu nhất của mình. Với Người, tình cảm quê hương là những gì thiêng liêng nhất:

Quê hương nghĩa trọng tình cao
Năm mươi năm ấy biết bao nhiêu tình.

Những cán bộ, nhân viên, chiến sỹ…có vinh dự được sống gần gũi với Người đều có chung một nhận xét: Từ thuở niên thiếu cho đến lúc về già, từ người thanh niên yêu nước đến khi trở thành lãnh tụ, Chủ tịch Hồ Chí Minh vẫn mang đậm phong cách quê hương xứ Nghệ qua từng lời nói, việc làm.

Trong tư tưởng tình cảm của Chủ tịch Hồ Chí Minh, sự giản dị đơn sơ trong cuộc sống là sự chí công vô tư, vượt lên hết thảy mọi sự ham muốn vật chất đời thường và đó cũng là sự cần, kiệm trong cuộc sống – một đức tính tốt đẹp của người dân xứ Nghệ.

Như chúng ta đã biết, sau khi giải phóng Thủ đô, cuối năm 1954, Chủ tịch Hồ Chí Minh về sống và làm việc tại Phủ Chủ tịch. Lúc đầu Thường vụ Trung ương Đảng sắp xếp cho Người ở tại ngôi nhà trước đây của Toàn quyền Pháp – một ngôi nhà sang trọng và đầy đủ tiện nghi. Tuy nhiên, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khước từ và chọn cho mình một ngôi nhà của một người thợ điện để làm việc cho gần gũi với anh em và các đồng chí của mình. Sau này nơi ở của Người ngôi nhà sàn đơn sơ giữa vườn cây, ao cá giản dị đã đi vào huyền thoại.

Những đồng chí có dịp được ở gần Người, khi tận mắt chứng kiến bữa ăn của một vị Chủ tịch nước đều nhận xét: Người vẫn nhớ những món ăn đạm bạc của quê hương. Trên mâm cơm vẫn bát canh, quả cà, miếng cá kho hoặc miếng thịt kho, tuyệt nhiên không thấy những món ăn đặc sản, xa cách với người lao động.

Sinh thời, Thủ tướng Phạm Văn Đồng đã nhận xét: “Dùng cơm với Cụ hàng trăm lần, lần nào cũng thấy Cụ tém vén không để rơi một hạt cơm nào, bởi vì Cụ trọng công đức của người lao động đã làm ra hạt lạc, hạt gạo. Chuyện nhỏ, đức lớn hài hoà ở một con người”.

Cách ăn mặc của Người cũng giản dị, thanh tao từ quần áo Người mặc, đôi dép cao su Người đi đều đã mang đậm dấu ấn cần, kiệm của văn hoá xứ Nghệ.

Trong Bảo tàng Hồ Chí Minh hiện nay vẫn lưu giữ bộ quần áo kaki Người mặc lúc sinh thời. Trước đây, khi thấy Người mặc bộ quần áo kaki cũ, các đồng chí phục vụ có ý đề nghị thay bộ mới hơn, Người nói “Dân ta còn nghèo, đang khó khăn nhiều, Bác có bộ quần áo này là đầy đủ lắm rồi”. Xí nghiệp May 10 của Tổng cục Hậu cần gửi biếu Bác bộ quần áo kaki mới, Bác nhận, song Người gửi lại để xí nghiệp làm phần thưởng thi đua cho anh em công nhân.

Trên cương vị là người đứng đầu Đảng và Nhà nước bận trăm công nghìn việc, nhưng Người vẫn dành thời gian để tăng gia sản xuất, trồng rau, nuôi cá…quanh ngôi nhà Bác ở là một khu vườn với nhiều loại cây, hoa trái, trong đó có hàng dâm bụt – gợi nhớ quê nhà.

Như vậy, chỉ với những gì xung quanh thể hiện qua cách ăn, ở, mặc và sinh hoạt ta cũng đã thấy ở trong Chủ tịch Hồ Chí Minh có thấp thoáng dấu ấn quê hương, đó là sự giản dị, cần, kiệm, trọng lao động. Qua những hành động đó ta còn thấy được tình cảm sâu sắc của Người đối với quần chúng nhân dân, một tình yêu san sẻ không muốn sống “trên mức sống của một người dân bình thường”.

Tình nhân ái và yêu thương mọi người còn thể hiện rất nhiều qua những cử chỉ và hành động của Người, nhưng ở đây tôi chỉ muốn nhắc đến cái khái quát cao nhất đó là trong tư tưởng để Người đi đến hành động: Tôi chỉ có một ham muốn, ham muốn đến tột bậc, đó là nước nhà được độc lập, nhân dân được tự do, ai cũng có ăn, có mặc và ai cũng được học hành. Từ những mong muốn đó mà Người đã ra đi tìm đường cứu nước, vượt qua mọi gian khổ hi sinh. Tính nhân ái đó không chỉ thể hiện cho dân tộc Việt Nam mà cho những người dân lao động khổ cực trên thế giới, đi đến đâu, bất cứ nơi nào Người cũng cảm thấy đau xót trước những người dân mất nước, nô lệ lầm than. Tình nhân ái, và một tình cảm trân trọng tất cả những người xung quanh mình, đó còn là sự nâng niu tình cảm con người, sự bao dung khi đối với những người mắc sai lầm trong quá khứ, từ đó mà khơi gợi lại cho họ những đức tính tốt đẹp, hướng họ đến cái chân – thiện – mỹ.

Tinh thần lạc quan, ham học hỏi của con người xứ Nghệ, cũng được thể hiện rõ nét hơn qua cả cuộc đời của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Chúng ta biết rằng, với tình yêu nước nồng nàn, để tìm đường cứu nước làm cho dân có ăn, có mặc và ai cũng được học hành, Người đã ra đi bằng hai bàn tay trắng, không kể giá lạnh của băng tuyết Người vẫn miệt mài làm việc như bồi bàn, quét tuyết, chụp ảnh… để có tiền hoạt động cách mạng. Rồi khi bị trong tù thì tinh thần của Bác vẫn không hề bị nao núng. Vượt qua những gian khổ ấy là nhờ người có một niềm tin vững chắc ở phía trước, một tinh thần lạc quan yêu đời. Những vần thơ với những trăn trở về thiên nhiên, quê hương đất nước là một bằng chứng về tinh thần lạc quan của Người. Hồ Chí Minh ngay từ khi còn nhỏ đã rất ham học hỏi và đức tính đó là một trong những truyền thống của quê hương. Sau này cũng vậy, dù ở đâu trong hoàn cảnh nào Người cũng luôn tranh thủ học ngoại ngữ, đọc sách và nghiên cứu những vấn đề trên thế giới. Chính điều đó đã cho Người một kiến thức uyên bác về thế giới và về thời cuộc.

Như vậy, văn hoá xứ Nghệ được Chủ tịch Hồ Chí Minh tiếp thu một cách có chọn lọc. Những tinh hoa văn hoá ấy đã ăn sâu vào trong tiềm thức của Người, là một phần rất quan trọng trong việc hình thành phong cách Hồ Chí Minh. Vì thế, ở Hồ Chí Minh, bất cứ làm việc gì, khi còn trẻ hay đã già, trong phong cách ứng xử, sinh hoạt, làm việc, tư duy…vẫn mang đậm dấu ấn văn hoá quê hương. Có được điều đó cũng bởi từ rất sớm Người yêu tha thiết mảnh đất xứ Nghệ giàu truyền thống, yêu tha thiết những người dân lam lũ nhưng lạc quan yêu đời. Trước khi rời khỏi thế giới này, Bác vẫn nhớ da diết về quê hương xứ Nghệ của mình. Trong nhạc phẩm “Lời Bác dặn trước lúc đi xa” của nhạc sĩ Trần Hoàn vẫn để lại một tình cảm xúc động cho chúng ta “…Chuyện kể rằng Bác đòi nghe câu Ví, nhớ làng Sen từ thửa ấu thơ…Bác muốn nghe một câu hò xứ Nghệ, bởi làng Sen day dứt trong tim…”.

Qua con người Hồ Chí Minh, chúng ta – những người dân Xứ Nghệ càng thêm tự hào và thêm yêu quê mình – một xứ Nghệ đã in đậm trong trái tim và tình cảm của Chủ tịch Hồ Chí Minh – Anh hùng giải phóng dân tộc, danh nhân văn hoá kiệt xuất./.

Theo Ngô Thị Vân – Gv Khoa Xây dựng Đảng
Truongchinhtrina.gov.vn
Huyền Trang (st)
cpv.org.vn

Một đời chuốt mây đan ảnh Bác Hồ

Giadinh.net – Chân dung Bác Hồ kính yêu là đề tài sáng tác cho rất nhiều văn nghệ sỹ thuộc các bộ môn nghệ thuật. Tuy nhiên, làm chân dung Bác bằng chất liệu mây, tre-những sản phẩm đặc thù của quê hương Việt Nam thì chỉ có một người.

Đó là nghệ nhân Nguyễn Văn Trung (Phú Mỹ, Chương Mỹ, Hà Nội). Nhưng trong số hàng trăm bức chân dung Bác Hồ đã sáng tác, ông không bán mà chỉ tặng và mang đi triển lãm. Hồi kỷ niệm 115 năm ngày sinh của Người, nghệ nhân Nguyễn Văn Trung đã miệt mài hoàn thành một bức chân dung Chủ tịch Hồ Chí Minh khổng lồ (1,6x2m).

Bức chân dung Chủ tịch Hồ Chí Minh đan bằng mây có kích thước khổng lồ (1,6x2m).
(Ảnh: T.G)

Người duy nhất đan ảnh lãnh tụ bằng mây

Ông Trung quê ở làng Phú Mỹ, huyện Chương Mỹ, Hà Nội. Đời ông bị cái “nghiệp mây tre” đeo đuổi. Từ lúc còn trẻ lắm, ông đã sống chết với những sợi mây quê hương. Có lẽ, số phận đã chọn ông làm nghề này khi cho ông sinh ra ở một miền quê có truyền thống làm mây mỹ nghệ và lấy đi đôi chân khoẻ mạnh vào năm 16 tuổi.

Ông kể: “Đang đêm ngủ, trở mình thấy mỏi, rồi chân phải tê buốt. Hôm sau đi khám, bác sỹ bảo vỡ xương đùi do căn bệnh viêm xương, phải ngồi bệt một chỗ. Nhà nghèo, mất hai năm chạy chữa mà bệnh tật không thuyên giảm. Gia tài khánh kiệt, có lúc bác sỹ đã khuyên nên cưa chân thì sẽ chóng lành bệnh. Nhưng tôi không chịu. Thời gian trôi đi, vết thương biến chứng làm chân phải teo nhỏ”.

Đang cái tuổi “bẻ gãy sừng trâu” với bao hoài bão lại gặp phải căn bệnh éo le, cũng có những lúc ông muốn buông xuôi. “Số mình thế, biết trách ai. Chỉ học hết lớp 4, không còn cơ hội đi học lên, sẽ gắn với cái phận ăn bám suốt đời”, ông nhớ lại cảm giác của mình lúc đó. Nhưng rồi mọi việc cũng nguôi ngoai dần. “Nghe theo lời Bác Hồ, những người khuyết tật phải có ý chí “tàn nhưng không phế” nên tôi đã đứng dậy và tập đi…”. Ông Trung kể.

Đầu những năm 1970, nhìn bạn bè cùng trang lứa ôm súng vào chiến trường chiến đấu, ngẫm lại cái thân phận của mình, ông Trung buồn lắm. “Chẳng lẽ mình chẳng làm được một việc gì ra trò trống hay sao?”-ông Trung tự hỏi và cuối cùng đã tìm được cho mình của trả lời. Ông quyết định theo nghề truyền thống của gia đình làm mây tre đan. Thế nhưng, công việc tưởng chừng không nặng nhọc này dường như vẫn quá sức đối với Nguyễn Văn Trung, những ngày đầu mới rời khỏi chiếc giường. Mỗi lần ngồi vào đan được vài phút, ông lại ngã gục.

Dù vậy, chàng thanh niên tật nguyền vẫn không chịu đầu hàng bệnh tật. Thời gian thấm thoắt trôi đi, bệnh tật rồi cũng đầu hàng chàng thanh niên giàu nghị lực. Trung đã dần dần ngồi hẳn được và biết đan được những đường viền thô cho các bức tranh làm bằng mây, tre của bố. Một buổi sáng, Trung đưa cho bố sản phẩm mà anh đã thức nhiều đêm để đan. Nhìn bức tranh, người cha mừng rỡ nói: “Ông trời cũng thương, còn mỗi cái nghề của cha ông để lại, con cố học để mà kiếm sống…”.

Việc lựa chọn nguyên vật liệu để làm ảnh đòi hỏi sự cẩn thận, tỉ mỉ.
(Ảnh: T.G)

Cho đến nay, ông Trung đã trở thành một nghệ nhân nổi tiếng của Việt Nam trong lĩnh vực mây tre đan. Ông đã đoạt nhiều giải thưởng trong nước và quốc tế: “Giải thưởng tuổi trẻ và sáng tạo quốc tế”, “Bàn tay vàng Đông Dương”, “Giải thưởng sản phẩm thủ công tinh xảo tại Nhật Bản”, “Giải thưởng vàng ngôi sao Việt Nam”. Ông cũng được trao 6 Huy chương vàng, bạc trong danh hiệu “Bàn tay vàng Việt Nam”, 4 lần đạt danh hiệu Chiến sĩ thi đua và nhiều bằng khen của các cấp chính quyền.

Đến bây giờ khi tuổi đời đã gần đến ngưỡng 60, ngồi đếm lại, ông vẫn không nghĩ mình đã đi được xa và đi nhiều nước trên thế giới đến thế. Cu Ba, Angola, Mỹ, Đức, Pháp, Anh, Bỉ, Liên Xô… đó là chưa kể, ông nằm hàng năm trời ở Trung Quốc và các nước Đông Nam Á với tư cách là chuyên gia và giới thiệu mây tre đan Việt Nam cho bạn bè quốc tế. Có hai chuyến đi mà ông nhớ nhất là chuyến xuất ngoại đầu tiên, sang Liên Xô vào tháng 4/1982 với tư cách là nghệ nhân giới thiệu về nghề mây tre đan của Việt Nam.

Và chuyến đi dài nhất là đến Cu Ba, ông đã ở đây từ năm 1982 – 1987 để hướng dẫn, xử lý nguyên liệu cho nước bạn. Ông đã giúp nước bạn nghiên cứu xử lý cây thực vật thay cho mây tre đan để sản xuất ra các mặt hàng thủ công, đặc biệt là chế biến cây bèo tây làm ra các sản phẩm có giá trị như bàn ghế, đồ lót cốc chén, mũ, túi… Trên cơ sở đó, bạn đã mở được 4 xưởng sản xuất lớn, thu hút hàng nghìn lao động.

Ông Trung được bạn bè thế giới biết đến như một người đan ảnh chân dung xuất sắc. Ông không nhớ hết là mình đã làm bao nhiêu bức ảnh cho các vị lãnh tụ và những người nổi tiếng trên khắp thế giới. Trong phòng làm việc của mình, những bức ảnh lớn về Bác Hồ, Lênin, Karl Marx, Engels Chủ tịch Fidel… những người ông ngưỡng mộ được treo ở vị trí trang trọng, còn lại rất nhiều ảnh chân dung khác. Mỗi bức ảnh đều có thần thái riêng.

Ông kể: “có rất nhiều người nhờ đại sứ quán của họ ở Việt Nam thuê ông đan ảnh chân dung của mình. Có người nổi tiếng, có người tôi không biết là ai”. Nhưng dù là ai đi nữa, chỉ cần gửi tấm ảnh qua email cho ông là được. Ông Trung hiện là người duy nhất trên thế giới chuyên đan ảnh lãnh tụ bằng nguyên liệu mây.

Kỷ lục đan ảnh Bác Hồ bằng mây

Thế nhưng, những thành công hiện nay mà ông Trung có được lại bắt đầu từ việc khao khát đan được một bức chân dung Bác Hồ thật đẹp. Ông nhớ lại thời gian đầu mới làm nghề, ước mơ trở thành anh bộ đội cụ Hồ không thành nên anh thanh niên Trung muốn làm điều gì đó ý nghĩa để thể hiện lòng ngưỡng mộ tới vị lãnh tụ kính yêu. Ước mơ ấy đã thôi thúc anh ngày đêm không ngừng học hỏi, để có thể đan được một bức chân dung Bác Hồ thật đẹp. “Để đan ảnh Bác, tôi thử đan rất nhiều ảnh chân dung của người thân, nhưng khi đan ảnh Bác lại chưa được vì không thể hiện được thần thái của Người”- ông Trung nhớ lại.

Không nản chí, anh vẫn quyết tâm để đạt được ước mơ của mình. Ngày đêm trăn trở, anh nhờ người đèo hàng chục cây số vào trường đại học Mỹ thuật Công nghiệp Hà Nội tìm gặp trực tiếp thầy giáo Lê Quốc Lập (khi đó là hiệu trưởng) nhờ thầy chỉ dạy cho các vướng mắc đang gặp phải về kỹ thuật. Tuy có sự giúp đỡ của thầy Lập và một số thầy giáo có uy tín trong trường nhưng sau một năm ròng, ông vẫn chưa ưng ý với những tác phẩm của mình.

Rất nhiều tác phẩm đã ra đời dưới bàn tay cần mẫn của nghệ nhân Nguyễn Văn Trung.
(Ảnh: TG)

Ông đã sưu tầm rất nhiều ảnh của Bác Hồ, ảnh Bác ở chiến dịch Biên giới, Bác bắt tay Bác Tôn, Bác đang làm việc, Bác hôn các cháu thiếu nhi… Trước khi đan tấm ảnh nào, ông treo khắp nhà để khi nhìn vào đâu cũng thấy ảnh Bác và hình ảnh của Người cũng nhập tâm và theo ông vào từng giấc ngủ. Bàn tay khéo léo chuốt từng sợi mây mảnh mai trắng muốt nhỏ đến 1 ly, người đan phải sử dụng tới 15 đến 16 lối đan kết hợp với nhiều lóng đan đã tạo nên tác phẩm sinh động chân dung vị lãnh tụ kính yêu. Cuối cùng ông cũng đã có được bức chân dung Bác Hồ bằng chất liệu mây, tre ưng ý – đó là năm 1976.

Từ thành công bước đầu đó, đến nay ông Nguyễn Văn Trung đã đan được hơn 200 bức ảnh chân dung Bác Hồ . Bức nhỏ nhất 40x60cm, bức lớn nhất đã hoàn thành vào dịp kỷ niệm 115 năm ngày sinh của Bác có kích thước 1,6x2m. Đây là bức chân dung bằng mây lớn kỷ lục từ trước đến nay.

Ông Trung cho biết, những bức chân dung Bác Hồ của ông có nhiều người muốn mua, thậm chí trả giá đến hàng chục triệu đồng nhưng ông không bán. Những tác phẩm này ông để dành tặng các cơ quan nhân các sự kiện quan trọng của đất nước như Bảo tàng Hồ Chí Minh, Văn phòng Chính phủ… trong các dịp Quốc khánh, kỷ niệm ngày sinh hoặc ngày mất của Bác, Đại hội Đảng… Số còn lại, ông để tham dự các triển lãm trong nước và quốc tế để giới thiệu về con người và đất nước Việt Nam.

Một điều đáng quý nữa của nghệ nhân Nguyễn Văn Trung là chưa bao giờ ông có ý định giấu nghề. Ngoài việc tham gia giảng dạy tại ĐH Mỹ thuật công nghiệp Hà Nội, trường Mỹ nghệ Hà Tây, nhiều năm qua, ông đã hướng dẫn cho rất nhiều thanh niên trong làng học nghề và đi khắp các tỉnh từ Bắc vào Nam trực tiếp dạy nghề mây tre đan theo lời mời của các địa phương. Ông đã đào tạo được trên 100 lớp với gần 5.000 học sinh.

Quang Thành
giadinh.net.vn

Về bên Bác

Đại tá Trần Ngọc Bích (người đứng giữa hàng thứ nhất) hội ngộ cùng các cựu chiến binh Trung đoàn Không quân 916

Đã công tác ở Ban Đón tiếp nhiều năm, đã chứng kiến không ít những câu chuyện cảm động về tình cảm của nhân dân Việt Nam đối với Bác kính yêu, nhưng cuộc hội ngộ của ba người phi công già, ở tuổi thất thập cổ lai hy, đã từng lái trực thăng chuyên cơ phục vụ Bác Hồ giữa Quảng trường Ba Đình ngày 17/3/2012 đã thực sự gây xúc động cho những người phục vụ tại Lăng Bác ngày hôm đó, trong đó có tôi.

Trong đoàn người vào xem phim, nghe giới thiệu tại Khu tập kết số 8 Hùng Vương của Đoàn Cựu chiến binh Trung đoàn Không quân 916 hôm ấy có ba người phi công già cứ đứng lặng ôm nhau hồi lâu. Đó là Đại tá Trần Ngọc Bích – người lái trực thăng chuyên cơ của Bác Hồ, nguyên Trung đoàn trưởng Trung đoàn Không quân 916; ông Hoàng Cần, nguyên Trưởng phòng Dẫn đường Quân chủng Phòng không – Không quân, người dẫn đường trong đội chuyên cơ của Bác Hồ; Anh hùng lực lượng vũ trang, Đại tá Nguyễn Đình Khoa, nguyên Trung đoàn trưởng Trung đoàn Không quân 916, ông cũng là học trò của thầy giáo Trần Ngọc Bích. Họ có một điểm chung là cùng được phục vụ Bác Hồ lúc sinh thời. Gặp nhau tại Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh, mỗi người trong số họ đều nhớ lại những kỷ niệm riêng của mình đối với vị lãnh tụ muôn vàn kính yêu – Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Đại tá Trần Ngọc Bích đã có hơn 32 năm với số lượng giờ bay kỉ lục là hơn 8.000 giờ ngồi sau cần lái trực thăng. Ông được đồng đội gọi với cái tên trìu mến “Anh cả của làng trực thăng Việt Nam”. Hạnh phúc nhất của đời ông là khoảng thời gian đặc biệt 9 năm thực hiện các chuyến bay phục vụ Bác Hồ. Năm 1958, Liên Xô tặng Việt Nam một chiếc máy bay Mi-4 và cử ba chuyên gia phụ trách. Năm 1960, tổ lái của Trần Ngọc Bích, Hoàng Trọng Khai đã tiếp nhận nhiệm vụ thay chuyên gia nước bạn, đảm nhận việc chuyên chở lãnh đạo Đảng, Nhà nước và các chuyến công vụ ngoại giao trong nước.

Khi tôi hỏi về những kỷ niệm trong 9 năm (1960-1969) được chở Bác Hồ đi công tác, Đại tá Trần Ngọc Bích đang sôi nổi trở nên sâu lắng: Học Cụ Hồ khó lắm. Vì cụ quá giản dị trong cương vị của một bậc lãnh tụ. Trí tuệ cụ cao siêu, tài giỏi, song lại gần gũi, chân tình như một người thân của mỗi người. Tôi đã rất cố gắng, song chỉ học được ở Cụ vài phần. Hình ảnh Bác Hồ luôn nằm trong sâu thẳm trái tim những người lính bay.

Đại tá Trần Ngọc Bích nhớ lại lần đầu tiên được gặp Bác. Người ân cần hỏi thăm quê quán, hoàn cảnh gia đình và dặn dò cố gắng công tác cho tốt. Một số lần, thường là vào sáng Chủ Nhật, tốp bay của ông Trần Ngọc Bích nhận nhiệm vụ chở Bác Hồ đến khu vực Đá Chông thuộc huyện Ba Vì, Hà Tây cũ (nay là Hà Nội), được đặt biệt danh là K9 làm việc. Ông kể: Bác thường ăn cơm với mọi người. Bác ăn chậm rãi, rất ít và Bác thường ăn xong trước. Đồng chí Vũ Kỳ nháy mắt: Nào anh em, ta “chiến đấu tiếp”. Có lần ông Trần Ngọc Bích nói vui với đồng chí Vũ Kỳ: Cho phi công ăn riêng, chứ ăn với Bác, hôm nào cũng ngồi lại sau, xấu hổ lắm, ăn không no. Tưởng nói cho vui, ai ngờ trong bữa ăn, đồng chí Vũ Kỳ thưa lại với Bác, Trần Ngọc Bích “chết đứng như Từ Hải”. Bác cười: “Đúng rồi. Các cháu phi công phải ăn cho no mới có sức khoẻ để làm việc”. Rồi Người bảo mang thêm một đĩa cơm to đến cho anh em.

Ngoài nhiều lần được ăn cơm cùng Bác khi đi công tác, trong thời gian phục vụ Bác, ông Trần Ngọc Bích cùng tổ bay được Bác mời đến nơi ở và làm việc của Người ở Hà Nội dùng cơm hai lần. Một lần, Bác mời riêng tổ bay của Trần Ngọc Bích và một lần khác, trong buổi chia tay ba chuyên gia Liên Xô hoàn thành nhiệm vụ trở về nước. Sau bữa cơm, ông Trần Ngọc Bích và tốp bay được Bác mời xem bộ phim tài liệu “Đoàn cán bộ miền Nam ra thăm miền Bắc”.

Phi công Trần Ngọc Bích còn nhớ mãi chuyến bay vào tháng 3 năm 1969, nhận nhiệm vụ chở Bác từ sân bay Nội Bài về Bạch Mai. Ông có ngờ đâu đó là chuyến bay cuối cùng được phục vụ Bác Hồ. Trong nhà, Đại tá Trần Ngọc Bích dành một nơi trang trọng nhất để thờ Bác Hồ. Phía dưới chân dung Bác là một bức ảnh đặc biệt do đồng đội tặng: 5 chiếc máy bay trực thăng Mi-8 mang theo cờ Tổ quốc diễu hành trên Lăng Bác. Trần Ngọc Bích là một trong 5 phi công lái chính của tốp bay đặc biệt đó.

Đoàn Cựu chiến binh Trung đoàn Không quân 916 vào Lăng viếng Bác

Cùng hội tụ về bên Bác hôm nay, các cựu chiến binh anh dũng năm xưa đều không nén nổi xúc động khi được gắn Huy hiệu của Người, phần thưởng dành riêng cho các Bà mẹ Việt Nam Anh hùng, các Anh hùng lực lượng vũ trang, Anh hùng lao động. Thay mặt đoàn, Đại tá Trần Ngọc Bích đã viết trong sổ cảm tưởng của Lăng: Hôm nay, chúng cháu là phi công của Trung đoàn Không quân 916 được về viếng Bác. Trước đây chúng cháu được phục vụ Bác lúc sinh thời, chúng cháu vô cùng tự hào. Nay trở về viếng Bác chúng cháu vô cùng cảm kích, vô cùng xúc động. Chúng cháu xin hứa với Bác sẽ tiếp tục phát huy truyền thống người chiến sỹ không quân và các thế hệ phi công nguyện suốt đời phục vụ Đảng, Nhà nước, rèn luyện học tập theo tấm gương của Người. Chúng cháu sẽ làm mọi nhiệm vụ cho Tổ quốc Việt Nam./.

Lan Hương
bqllang.gov.vn