Tag Archive | Hồ Chí Minh

Chính phủ 1945 của Cụ Hồ bắt đầu từ đâu?

– Được thành lập trong “một cái nháy mắt của lịch sử”, chính quyền Việt Nam non trẻ đã đứng vững trong cuộc đối chọi được với quân Tàu Tưởng ở miền Bắc, quân Anh – Pháp ở miền Nam. Đó cũng là nhờ những tinh hoa nước Việt đã theo Cụ Hồ gánh vác những trọng trách trong thời điểm ngàn cân treo sợi tóc.

“Trí thức hoá” nội các

Điều hành guồng máy Đảng giành và giữ chính quyền trong thế “đơn thương độc mã” (essentially alone – chữ dùng của học giả David Marr – chưa nhận được ủng hộ từ khối Xô viết) là Ban thường vụ Trung ương bốn người, do Cụ Hồ đứng đầu. Ba uỷ viên Thường vụ còn lại là Đặng Xuân Khu (Trường Chinh), Hạ Bá Cang (Hoàng Quốc Việt), Võ Nguyên Giáp lại chính là nòng cốt của “nhóm Le Travail”, nổi tiếng thời kỳ Mặt trận bình dân 1936 – 1939 vì tờ báo cách mạng tiếng Pháp cùng tên.

Một số thành viên nữa của nhóm Le Travail, như Đặng Thai Mai, Khuất Duy Tiến, Phan Anh… dưới bàn tay dụng nhân của Hồ Chí Minh sẽ xuất hiện trong thành phần nội các ở những thời điểm khác trong năm đầu của nền dân chủ cộng hoà này.

Đêm đầu tiên của ông Ké Tân Trào – Hồ Chí Minh ở Hà Nội 25 tháng 8, một danh sách nội các đã đợi Người trên bàn. Danh sách này đã đăng trên tờ Cứu quốc, ra ngày hôm trước. Nhưng, Cụ Hồ đã không ngại ngần “rút” khỏi đó năm lãnh tụ cộng sản, thay vào đó là các nhân sĩ nổi tiếng.  Thế là trong số 15 bộ trưởng, chỉ còn 6 người là đảng viên CSĐD.

Trường Thăng Long… “đào tạo” Bộ trưởng?

Trong ảnh chụp chính phủ ra mắt đầu tiên, dân chúng thấy có ba thầy giáo trường Thăng Long: Võ Nguyên Giáp, Vũ Đình Hoè, Hoàng Minh Giám. Đây là những những đại diện nòng cốt của khối giáo viên và học sinh trường Thăng Long mà  tuyệt đại đa số đã đi theo cách mạng từ trước đó, thời tiền khởi nghĩa. Người dân sẽ nhận thấy thầy Nguyễn Dương làm Tổng giám đốc Nha Công an Việt Nam (từ tháng 2/1946); thầy Trịnh Văn Bính Thứ trưởng Bộ Tài chính (từ 11/1946), thầy Vũ Bội Liên (con tuần phủ thời) cán bộ Bộ Tư pháp, hy sinh ngay từ đầu kháng chiến chống Pháp…

Chính phủ lâm thời nước VNDCCHChính phủ lâm thời nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa

Mái trường Thăng Long từng âm thầm chứng kiến sự ra đời và lớn mạnh của nhóm Le Travail trẻ (JC: Jeunese communiste), Đoàn thanh niên dân chủ, Đoàn thanh niên phản đế, Đoàn thanh niên cứu quốc… trong từng bước đi tới cách mạng tháng Tám. Nay nhiều cựu học sinh Thăng Long sẽ giúp tạo trụ cột của chính quyền mới, vào các ngành Nội vụ, Tư pháp, Cảnh sát, Thuế quan, quân đội… Báo Cứu quốc (15/10/46) báo tin Lý Chính Thắng bị Pháp giết dã man. Một cựu học sinh Thăng Long khác, Lê Trung Toản, chỉ huy Trung đoàn Thủ đô phòng thủ Hà Nội cuối 1946…

Tài đức “dành trợ dân này”

Một nhà đại trí thức gần gũi với nhóm trí thức Thăng Long là Nguyễn Văn Tố, Hội trưởng Hội truyền bá Quốc Ngữ, cũng được mời vào nội các. Đó là vị bộ trưởng đầu tiên, Chủ tịch quốc hội đầu tiên của Việt Nam, hy sinh trong kháng chiến.

Từ đầu năm 1946, chính phủ Cụ Hồ được bổ sung thêm các trí thức Việt Minh Nam Bộ, để Chính phủ có thể điều hành cả một nửa kia của “sơn hà nguy biến”. Những tên tuổi Ca Văn Thỉnh, Phạm Ngọc Thạch, Phạm Văn Bạch, Trần Văn Giàu… đã lập tức hoà vào guồng máy việc công ở Hà Nội, chống thế “ngàn cân treo sợi tóc”.

…Một ngày giữa năm 1946, ông Võ Nguyên Giáp ghi vào kế hoạch công tác “(Nhớ) hỏi anh Bửu những người tài”.

Tạ Quang Bửu từng tu nghiệp ở các Đại học Sorbonne, Paris, Bordeaux, Oxford.

“Thanh niên tiền tuyến” thành tướng lĩnh cách mạng

Đồng Tổng Hướng đạo sinh Đông Dương Tạ Quang Bửu và Bộ trưởng Thanh niên của chính phủ Trần Trọng Kim, ông Phan Anh lập ra trường Thanh niên tiền tuyến vào tháng 5/1945. Không hẹn mà nên, cùng lúc với Trường quân chính kháng Nhật huấn luyện cán bộ quân sự cách mạng.

Trưa 21 tháng 8/1945 hai học viên Trường Thanh niên tiền tuyến, trước mắt hàng ngàn dân Kinh đô Huế, đã hạ cờ quẻ ly của triều Nguyễn, treo cờ đỏ sao vàng lên Kỳ đài tại Ngọ Môn, như hồi chuông đầu “nguyện hồn” nền quân chủ một ngàn năm. Đó là các ông Đặng Văn Việt, ba năm sau sẽ khét tiếng là “Hùm xám trên đường số 4”, Cao Pha – một cán bộ quân báo đầu tiên, một anh hùng Điện Biên Phủ.

Những người lãnh đạo Thanh niên Tiền tuyến từ đầu đã để cho Việt Minh thâm nhập vào tổ chức của họ. Kết quả Cụ Hồ có thêm những chỉ huy quân sự đầu tiên xuất thân từ tầng lớp trên. Người dân đau đớn nghe tin con trai học giả Lê Thước, Lê Thiệu Huy – tham mưu trưởng liên quân Việt Lào đã hy sinh 26/3/46, khi tháp tùng Hoàng thân Souphanouvong. Nếu lực lượng học viên Iunker lập ra Bạch vệ, quyết liệt chống chính quyền xô viết, thì nhiều học sinh sĩ quan Trường “Thanh niên tiền tuyến” lại trở thành những tướng lĩnh cách mạng thông thái mà dày dạn trận mạc, như Cao Văn Khánh, Mai Xuân Tần, Đoàn Huyên, Phan Hạo, Tôn Thất Hoàng…

Một đồng Tổng Hướng đạo sinh nữa là nhà văn hoá Hoàng Đạo Thuý. Ngay sau Lễ tuyên ngôn Độc lập, ông được Hồ Chí Minh triệu tập để thành lập ra binh chủng đầu tiên của Quân đội Việt Nam – Thông tin Liên lạc. Một sĩ quan tham mưu đầu tiên, ông Trần Trọng Trung, nhớ mãi hình ảnh các đội mô tô đeo thẻ bài “Hoả tốc”, phóng xuống các vùng nông thôn xa chuyển phát các công văn mật, khẩn cấp của việc quân. Họ do một trí thức ngoài Đảng, ông Phạm Thành Vinh, lúc đó là Chánh văn phòng Bộ Quốc phòng, chỉ huy.

Tướng tình báo do phương Tây đào tạo

Năm 1950, giới thiệu Hoàng Đạo Thuý, tư lệnh thông tin, với tướng Trần Canh, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã làm cho vị cố vấn Trung quốc này “choáng”. “Đồng tử quân (Hướng đạo sinh) phục vụ thông tin cho chiến dịch ư?” Trần Canh hỏi lại, vì Đồng tử quân ở Trung Quốc là lực lượng phản cách mạng. “Nhà chú” (Trung Quốc) không hiểu nổi đâu. Đây là Đồng tử quân Việt Nam mà”, Cụ Hồ đáp.

Lãnh đạo chủ chốt của công an, tình báo, an ninh đầu tiên của Việt Nam là do… tình báo phương Tây đào tạo. Khoảng năm 1944 Lực lượng nhiệm SOE của Anh, có “sáng kiến” đào tạo các tù cộng sản Việt Nam, bị Pháp giam ở hải ngoại, để tung vào hậu phương phát xít Nhật. Một số đảng viên đã tương kế tựu kế, dùng vỏ bọc này để mang vũ khí, khí tài, và nhất là kiến thức tình báo về phục vụ cách mạng.

Đó là các ông Lê Giản, phó giám đốc Sở Liêm phóng (Công an) Bắc Bộ đầu tiên; Hoàng Hữu Nam (Phan Bôi), trong ảnh Chính phủ liên hiệp kháng chiến 1946 là thứ trưởng Nội vụ; Nguyễn Văn Ngọc, Giám đốc Sở Trinh sát Trung Bộ đầu tiên; Trần Hiệu, phó Giám đốc Sở CA Bắc Bộ, Hoàng Đình Rong (Vũ Đức), chỉ huy quân sự hy sinh ở Nam Bộ đầu kháng chiến. Đây là hiện tượng vô song trong lịch sử, vì các tình báo viên do phía đối phương đào tạo thường không thể trở thành lãnh đạo chủ chốt về an ninh, tình báo…

Cách dùng người như thế chỉ thấy ở Hồ Chí Minh.

Bộ trưởng không lương, nhận phụ cấp “cơm chan nước mắm”

Tri thức, tình yêu nước và biết “ăn cơm nhà vác ngà voi” có lẽ là những điều kiện cần để trí thức trở thành thành viên của chính quyền đầu tiên của nước Việt Nam DCCH. Hồi ký của các bậc lão thành cho biết “bữa ăn cơ quan” năm 1946 chỉ có cơm chan nước mắm, mà cũng không đủ.

Ông Nguyễn Mạnh Hà, Bộ trưởng Kinh tế đầu tiên, người Công giáo, nhớ lại trong những ngày nước sôi lửa bỏng 1946, Chủ tịch Chính phủ Hồ Chí Minh và Chủ tịch Quân uỷ hội Võ Nguyên Giáp từng có những lần chạy ào qua nhà ông, xem “còn cơm nguội không”… Nhưng trong kế hoạch làm việc năm 1946 của lãnh đạo ngành Nội vụ và LLVT Võ Nguyên Giáp, đã đôi ba lần xuất hiện câu: “(Lo) phụ cấp cho nhân viên cơ quan”.

Lê Đỗ Huy
bee.net.vn

Chính phủ cách mạng lâm thời Việt Nam DCCH qua ảnh

 – Ngày Độc lập huy hoàng 2/9/1945, Chính phủ Cách mạng Lâm thời nước Việt Nam DCCH ra mắt nhân dân Việt Nam trong sự chào đón nô nức. Nhưng sau độc lập là bộn bề công việc, và Chính phủ non trẻ ngay lập tức bắt tay vào xây dựng chính quyền, ổn định cuộc sống người dân, với các hoạt động sáng tạo và thiết thực như “Tuần lễ Vàng”, tổ chức đào tạo cán bộ Bình dân học vụ, phát động phong trào tiễu trừ giặc đói…

Bee.net.vn tổng hợp một số hình ảnh về Ngày Độc lập 2/9/1945, và các hoạt động khẩn trương của Chính phủ đầu tiên.

1. Ảnh Xe loa phát lệnh Tổng khởi nghĩa tại Hà Nội, tháng 8/1945. Lệnh phát ra đúng thời cơ, đúng với lòng người dân đang náo nức vùng lên. Ngày 19/8/1945, Hà Nội giành chính quyền đầu tiên trong cả nước, khuấy động làn sóng nổi dậy khắp toàn quốc.

2. 2/9/1945 – “Người đứng trên đài, lặng phút giây/ Trông đàn con đó, vẫy hai tay/ Cao cao vầng trán… Ngời đôi mắt/ Độc lập bây giờ mới thấy đây!” – Tố Hữu.

3. Những hình ảnh sáng ngày 2/9/1945 sẽ mãi đi vào lịch sử như một dấu son chói lọi cho công cuộc bảo vệ Tổ quốc của dân tộc, là một phần quan trọng trong lịch sử của Việt Nam. Ảnh quang cảnh Lễ duyệt binh tại quảng trường Ba Đình, 2/9/1945.

4. Bản “Tuyên ngôn độc lập” được Hồ Chí Minh đọc trong ngày Quốc khánh của dân tộc. “Nước Việt Nam có quyền hưởng tự do và độc lập, và sự thật đã thành một nước tự do, độc lập. Toàn thể dân tộc Việt Nam quyết đem tất cả tinh thần và lực lượng, tính mạng và của cải để giữ vững quyền tự do, độc lập ấy”.

5. Chính phủ họp phiên đầu tiên, ngày 3/9/1945, bàn 6 vấn đề cấp bách: chống đói; xóa mù chữ; Tổng tuyển cử và Hiến pháp; giáo dục cần – kiệm – liêm – chính; bỏ thuế thân, thuế chợ, thuế đò; tự do tín ngưỡng, đoàn kết lương giáo.

6. Chính phủ Việt Nam lâm thời sau phiên họp Chính phủ đầu tiên, ngày 3/9/1945.

7. Đề ra chương trình Tuần lễ Vàng 17-24/9/1945, Chính phủ đã huy động được sự ủng hộ lớn của nhân dân, nhân dân đã góp tổng cộng quyên góp được 20 triệu đồng và 370 kg vàng. Trước đó, sau khi giành chính quyền, quốc khố chỉ có 1,2 triệu đồng. Trong ảnh là những người giàu có xếp hàng trên phố Tràng Tiền đến nơi quyên góp, 16/9/1945

8. Ngày 27/9/1945 diễn ra Đại hội Thanh niên Cứu quốc. Các nhiệm vụ được đặt ra cho thanh niên là: Chuẩn bị luôn luôn: một mặt ủng hộ cuộc kháng chiến ở Nam Bộ, một mặt chuẩn bị chiến đấu ở Trung và Bắc Bộ; Cứu đói: mang gạo từ chỗ có đến chỗ không có; Quyên gạo, khuyến nông, không để thừa một tấc đất hoang nào; Chuẩn bị Tổng tuyển cử: tuyên truyền cho nhân dân hiểu rõ bổn phận của mình trong cuộc Tổng tuyển cử.

9. Hồ Chủ tịch đang trao đổi với những người tham dự khai mạc “Triển lãm Văn hóa”  tổ chức tại trụ sở cũ của hội Khai trí Tiến Đức (16 Lê Thái Tổ, Hà Nội) ngày 7/10/1945. Bộ Thông tin Tuyên truyền của Nhà nước Việt Nam trẻ tuổi đứng ra tổ chức, Hội Văn hóa Cứu quốc với những văn nghệ sĩ tên tuổi chủ trì. Triển lãm đã giới thiệu những hình ảnh, hiện vật về cuộc cách mạng nước ta, các bản nhạc, sách báo cách mạng; tranh, tượng mỹ thuật của các họa sĩ nổi tiếng của Việt Nam thời kỳ đó.

10. Lễ khai giảng lớp đầu tiên đào tạo cán bộ phụ trách Bình dân học vụ các tỉnh Bắc Bộ tổ chức tại Hà Nội, ngày 8/10/1945. Tại buổi lễ, Hồ Chí Minh nói: “Chống nạn thất học cũng quan trọng như chống ngoại xâm”.

11. Ngày tiễu trừ giặc đói xuất phát từ Nhà hát lớn Hà Nội,11/10/1945. “Tôi xin đề nghị với đồng bào cả nước và tôi xin thực hành trước: Cứ 10 ngày nhịn ăn một bữa, mỗi tháng nhịn 3 bữa. Đem gạo đó (mỗi bữa một bơ) để cứu dân nghèo” – Hồ Chí Minh.

12. Lễ xuất phát Đội tuyên truyền xung phong tại Nhà hát Lớn Hà Nội ngày 20-10-1945. Đội tuyên truyền được Hồ Chủ tịch căn dặn là cần hiểu mục đích công việc và lên kế hoạch trước, nhẫn nại, không quan cách, nói năng giản dị.

13. Chính phủ gấp rút tổ chức chuẩn bị Tổng tuyển cử trong cả nước, ngày 6/1/1946, lần đầu tiên người dân Việt Nam được cầm lá phiếu để bầu ra những vị lãnh đạo của đất nước. Ảnh nhân dân đón mừng Chủ tịch Hồ Chí Minh và các vị được giới thiệu ứng cử Đại biểu Quốc hội tại Hà Nội.

Duyên Anh – Diệu Thủy (Tổng hợp)
bee.net.vn

Vị Bộ trưởng từng thay mặt Cụ Hồ điều hành việc nước

– “Con người học hành rất rộng, chí khí rất bền, đạo đức rất cao”- đó là lời đánh giá của Chủ tịch Hồ Chí Minh đối với cụ Huỳnh Thúc Kháng cố Bộ trưởng Nội vụ Chính phủ Việt Nam Dân chủ Công hoà và Chủ tịch Hôị Liên hiệp Quốc dân Việt Nam, được viết trong thư đề ngày 29/4/1947 “Gửi toàn thể đồng bào sau ngày cụ Bộ trưởng Huỳnh Thúc Kháng tạ thế”.

Cũng trong lá thư này, Bác Hồ còn giành những lời lẽ hết sức trân trọng để đưa ra trước toàn thể đồng bào một tấm gương sáng : “vì lòng yêu nước mà trước đây cụ bị bọn thực dân làm tội, đầy ra Côn Đảo. Mười nấy năm trường gian nan cực khổ. Nhưng lòng son dạ sắt, yêu nước thương nòi của cụ Huỳnh chẳng những không sờn lại thêm kiên quyết”.

Cụ Huỳnh là người mà giàu sang không làm xiêu lòng, nghèo khổ không làm nản chí, oai vũ không làm sờn gan. Cả đời cụ Huỳnh không cầu danh vị, không cầu lợi lộc, không thèm làm giàu, không thèm làm quan. Cả đời cụ Huỳnh chỉ phấn đấu cho dân được tự do, nước được độc lập.

Đến ngày nước Việt Nam Dân chủ Công hoà thành lập, Chính phủ ta mời cụ ra. Tuy đã hơn 71 tuổi nhưng cụ vẫn hăng hái nhận lời. Cụ nói: “Trong lúc phục hưng dân tộc, xây dựng nước nhà thì bất kỳ già, trẻ, gái, trai, ai cũng phải ra phụng sự Tổ quốc”.

Kết thúc bức thư này, Chủ tịch Hồ Chi Minh còn kêu gọi đồng bào “đồng thanh thề trước tiên linh của cụ  Huỳnh rằng: Đồng bào Việt Nam cương quyết theo gương kiên quyết của cụ, tinh thần kháng chiến của cụ Huỳnh sống mãi…”

Làm Bộ trưởng tuổi “cổ lai hy”

Vậy mà, cụ Huỳnh mới thực sự cộng tác với cách mạng mới hơn một năm. Mùa Xuân 1946, đất nước đã độc lập, chính phủ cách mạng đã thành lập, nạn đói đã tạm được khắc phục nhưng cách mạng đang đứng trước vô vàn thử thách. Thực dân Pháp đã  nổ súng xâm lược và đang mở rộng chiến tranh ở Nam Bộ, thực dân Pháp đang gây sức ép tạo cớ để gây hấn ở Bắc và Trung bộ. Quân đội Tưởng Giới Thạch kéo theo những tổ chức tay sai đang tạo ảnh hưởng để giành đoạt quyền lực, thủ tiêu những thành quả cách mạng…

Hơn lúc nào hết, Chủ tịch Hồ Chí Minh chủ trương phải củng cố sức mạnh của cách mạng và chính quyền cách mạng bằng việc mở rộng hơn nữa khối đoàn kết của toàn dân. Vì lợi ích của Tổ quốc và sự tồn vong của chế độ, vị Chủ tịch nước đồng thời cũng là người lãnh đạo cao nhất của Đảng cộng sản và Mặt trận Việt Minh đã đưa ra những quyết sách sáng suốt và dũng cảm.

Cụ Huỳnh Thúc Kháng (chống gậy). Ảnh Pháp luật TP.HCMCụ Huỳnh Thúc Kháng (chống gậy). Ảnh Pháp luật TP.HCM

Tháng 11/1945, Đảng Công sản Đông Dương tuyên bố “tự giải tán” mà thực chất là rút vào hoạt động không công khai; cuộc Tổng tuyển cử đã bầu ra Quốc hội  khoá đầu tiên nhưng giành riêng 72 ghế để những đảng phái “đối lập” đuợc tham gia không cần qua bầu cử;  bằng các giải pháp ngoại giao táo bạo để phân hoá các thế lực nước ngoài đang có mặt ở nước ta, chủ yếu là thực dân Pháp và quân phiệt Trung Hoa; tiến tới cải tổ và mở rộng Mặt trận Việt Minh thành Mặt trân Liên Hiệp Quốc dân…

Chính vào bối cảnh ấy, cụ Huiỳnh Thúc Kháng xuất hiện trên chính trường khi đã bước vào tuổi “cổ lai hy”. Quả thật, vào thời điểm ấy ít ai nghĩ rằng nhà chí sĩ đất Quảng, họ Huỳnh lừng danh một thời có thể tham chính và cộng tác với một chính quyền cách mạng mà ai cũng biết rằng hạt nhân lãnh đạo lại là những người cộng sản. Bởi lẽ, mọi nguời đều biết tới cụ Huỳnh thời trai trẻ đã là một trong những vị khoa bảng (đỗ phó bảng cùng khoa với cụ Nguyễn Sinh Sắc, thân sinh của Chủ tịch Hồ Chí Minh) sớm có tư tưởng canh tân và yêu nước.

Năm 1904, vừa đỗ phó bảng, Huỳnh Thúc Kháng đã từ bỏ quan trường theo 2 người đồng chí hướng nổi tiếng của mình là Phan Châu Trinh và Trần Quý Cáp vào tận Cam Ranh để quan sát đoàn tàu chiến của hạm đội Nga ghé qua trên đường sang tham chiến cuộc chiên tranh với nước Nhật. Chính vào thời điểm này, ba nhà nho xứ Quảng đã tuyên ngôn chí hướng :”Hỡi người trí thức kia ơi – Quăng mũ đi, vứt bút đứng lên- Đừng cam chịu tiếng ươn hèn- HơI tàn còn thở chớ quên phục thù” (Lương ngọc danh sơn phú).

Kể từ đó, cả ba bước vào con đường hoạt động chính trị mưu cầu sự giải phóng cho dân tộc. Sau cao trào Duy Tân và kháng thuế ở mền Trung, cả ba đều bị thực dân và Nam triều đàn áp. Trần Quý Cáp lên đoạn đầu đài, Phan Châu Trinh và Huỳnh Thúc Kháng đều bị đầy ra Côn Đảo. Kể từ đó hai người đồng chí chọn cho mình những con đường khác nhau nhưng cùng một đích là cứu nước. Và trên con đường của mình cả hai đều gặp một người. Người đó là Nguyễn Ái Quốc lại cũng chính là con của người môn sinh cùng đỗ phó bảng là Nguyễn sinh Sắc.

Năm 1911, Phan Châu Trinh qua Pháp rồi sau đó có một thời gian gần gũi với Nguyễn Ái Quốc để cuối đời gửi gấm tiền đồ đất nước vào người bạn trẻ vong niên :”Anh như cây đương lộc, tôi tin rằng cái chủ nghĩa anh tôn thờ sau này sẽ thâm căn cố đế trong đám dân tính chí sĩ nước ta”  (Thư gửi Nguyễn Ái Quốc 1922).

Còn với Huỳnh Thúc Kháng, sau 13 năm lưu đầy, từ Côn Đảo trở về đất liền (1921), cụ chọn cho mình hoạt động chính trường công khai. Cụ tham gia Viện Dân biểu Trung kỳ, ra tờ báo “Tiếng Dân” với hy vọng có thể đòi hỏi cho người dân những quyền tự do trong khuôn khổ của chế độ thuộc địa. Những cố gắng của cụ có thể mang lại một vài cải cách nhỏ giọt của giới cầm quyền thực dân  nhưng tình cảnh “vạn dân nô lệ cường quyền hạ” vẫn còn nguyên.

Lại phải nói thêm rằng, cao trào cách mạng do Đảng cộng sản mới ra đời phát động vào năm 1930-1931, sôi nổi nhất cũng trên mảnh đất miền Trung vẫn không kéo nổi cụ Huỳnh ra khỏi con đường  vận động cải cách,  và tránh bạo lực của cụ Huỳnh. Cũng chính trong thời gian này, do hạn chế về nhận thức, cụ Huỳnh còn viết nhiều bài báo phản bác phương pháp đấu tranh của những người cộng sản. Trong một số văn kiện của  Đảng Cộng sản đương thời đã từng phê phán đuờng lối của Huỳnh Thúc Kháng là có hại cho cách mạng…

Vậy mà, khi cách mạng thành công, Chủ tịch Hồ Chí Minh với niềm tin vào tinh thần yêu nước là động lực mạnh mẽ nhất của dân tộc luôn mở rộng khối đoàn kêt để thu hút mọi lực lượng vào hàng ngũ cách mạng. Vì vậy, vị Chủ tịch nước Việt Nam độc lập không quên cử người vào tận miền Trung vời cụ Huỳnh ra làm việc nước. Cụ Huỳnh ý thức được niềm hạnh phúc hơn những người đồng chí đã khuất như Trần Quý Cáp, Phan Châu Trinh  hay Phan Bội Châu vì đã được chứng kiến ngày đất nước độc lập. Cụ Huỳnh đã cảm khái viết: “Sướng ơi là sướng, thoát thân nô mà làm chủ nhân ông – Vui thật là vui, đổi quyền vua mà làm dân quốc mới” . Nhưng cụ vẫn tự cho mình là  lớp người đã lỗi thời  mà xa lánh chính trường.

Đại tướng Võ Nguyên Giáp, vị Bộ trưỏng Nội vụ đầu tiên của Nhà nuớc Cách mạng đã thuật lại trong hồi ký của mình cái bước ngoặt đẹp đẽ trong cuộc đời của một con người gắn với một thời thời kỳ thử thách của cách mạng :

“Tôi được biết cụ Huỳnh từ hồi còn làm báo “Tiếng Dân” ở Huế. Cụ là một nhà nho có tinh thần yêu nước cao, có khí tiết nhưng chưa hoàn toàn tin tưởng ở đuờng lối cách mạng của Đảng ta. Khi chúng ta cử người tới mời, lúc đầu cụ tỏ ra ngần ngại. Một phần, vì cụ thấy tuổi đã quá cao. Một phần vì cụ chưa hiểu những người lãnh đạo mới “thuộc lớp trẻ” ra sao. Đến lúc nghe nói rõ Hồ Chủ tịch chính là đồng chí Nguyến Ái Quốc, cụ mới quyết định ra Hà Nội… Giây phút gặp gỡ đầu tiên giữa Bác và cụ Huỳnh thật cảm động. Hai người đều bước vội tới, ôm lấy nhau; cả Bác và cụ Huỳnh đã nhắc tới cụ phó bảng ngày xưa… Sau buổi gặp Bác, cụ Huỳnh đã nói với một người bạn :”Dân ta có được cụ Hồ quả là hồng phúc”…”(2)

Và trong ngày ra mắt Chính phủ Liên hiệp 2/3/1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã trịnh trọng giới thiệu cụ Huỳnh Thúc Kháng “một người đạo đức danh vọng mà quốc dân ai cũng biết” làm Bộ trưởng Bộ Nội vụ, một vị trí rất quan trọng trong Chính phủ  Liên hiệp Kháng chiến.

Thay mặt Hồ Chủ tịch giải quyết việc nước

Ở vào cương vị ấy, Bộ trưởng Huỳnh Thúc Kháng đã làm hết mình phụng sự cho đất nước. Đầu tháng 6/1946, khi lên đường sang Pháp trong một sư mệnh ngoại giao đầy gian khổ và bất trắc, Chủ tịch Hồ Chi Minh đã gửi gấm việc nước cho cuả Huỳnh mà sau 4 tháng trở về đã đánh giá :”Trong lúc tôi đi vắng, nhờ sự lãnh đạo sáng suốt của cụ  Huỳnh, quyền Chủ tịch, sự săn sóc của Quốc hội, sự ra sức gánh vác của Chính phủ, sự đồng tâm hiệp lực của quốc dân mà giải quyết được nhiều việc khó khăn, công việc kiến thiết cũng tiến bộ”.

Một trong những “việc khó khăn” đã được giải quyết trong thời điểm này chính là việc thẳng tay trừng trị các phần tử phản động trong các tổ chức đối lập quanh vụ án “Ôn Như Hầu”.

Về vụ việc này, hồi ức của Đại tướng Võ Nguyên Giáp thuật lại rằng sau khi các lực lượng an ninh cách mạng phát hiện và trừng trị những kẻ bắt cóc, tống tiền… các tổ chức đối lập lên khiếu nại chính phủ. Bộ trưởng Nội vụ đang đảm nhận quyền Chủ tịch nước đã hoàn toàn ủng hộ các hành động cứng rắn của chính phủ và tuyên bố trong cuộc họp báo ngày 16/7/1946 :”Đoàn kết là cần để xây dựng nền dân chủ cộng hoà, nhưng không thể vin vào “đoàn kêt” mà làm những điều phi pháp. Tôi khuyên mọi đảng phái, mọi phần tử quốc dân đoàn kết. Nhưng cũng vì quyền lợi quốc gia, tôi phải đem ra trừng trị trước pháp luật những kẻ làm điều phi pháp…”.

Tháng 11/1946, Chính phủ lại cải tổ để chuẩn bị cho cuộc kháng chiến đã đến gần trước âm mưu khởi hấn của thực dân. Một lần nữa vị  Bác Hồ lại nêu tấm gương sáng :”Kết quả có những vị có tài năng nhận lời mời tham gia chính phủ như cụ Huỳnh Thúc Kháng vì tuổi cao sưc yếu mà cố từ, nhưng vì tôi lấy đại nghĩa mà lưu cụ, cụ cũng gắng ở lại… ai nấy đều hứa cố gắng làm việc một lòng vì nước vì dân”

Và Cụ Huỳnh Thúc Kháng đã cống hiến cho Tổ quốc đến hơi thở cuối cùng.

Tháng 4 tin buồn đến

Kháng chiến toàn quốc bùng nổ (19/12/1946), với cương vị Chủ tịch Hội Liên hiệp Quốc dân cụ viết thư kêu gọi  toàn dân :”Hãy tin tưởng vào cụ Hồ Chí Minh, bậc yêu nước đại chí sĩ, kết chặt chẽ một khối quyêt sống mái với kẻ thù”…

Trên đường thay mặt Chính phủ đi kiểm tra tình hình kháng chiến ở miền Trung, đến Quảng Ngãi, cụ lâm bệnh, biết mệnh của mình khó qua khỏi, Huỳnh Thúc Kháng viết lời “vĩnh qụyết” :”kêu gọi anh em các đảng phái, tôn giáo hãy đặt hết lòng tin tưởng vào Chủ tịch Hồ Chí Minh, vị anh hùng xuất chúng, vị anh hùng của dân tộc”như trong lá thư gửi Chủ tịchHồ Chí Minh cụ đã bộc bạch:

“Bốn mươi năm ôm ấp Độc lập và Dân chủ, nay nước đã được độc lập, chế độ dân chủ đã thực hiện, thế là tôi chết hả”.

Cụ Huỳnh Thúc Kháng từ trần ngày 21/4/1947 tại Quảng Ngãi. Nỗi thương cảm của nhân dân được Bác Hồ bày tỏ trong bài thơ điếu thống thiết, có đoạn:

“… Tháng Tư tin buồn đến – Huỳnh Bộ truởng đi đâu – Trông vào Bộ Nội vụ – Tài đức tiếc thương nhau – Đồng bào ba chục triệu – Đau đớn lệ rơi châu”.

Dương Trung Quốc
bee.net.vn

Nguyễn Ái Quốc và Hội nghị Trung ương tháng 10-1930

Kỷ niệm 100 năm Ngày Bác Hồ ra đi tìm đường cứu nước (5-6-1911/5-6-2011)

QĐND – Tháng 10-1930, Hội nghị Trung ương lần thứ nhất Đảng Cộng sản Việt Nam được tổ chức ở Hồng Kông, Hội nghị đã thông qua Luận cương cách mạng tư sản dân quyền do đồng chí Trần Phú khởi thảo, bầu Ban chấp hành Trung ương do đồng chí Trần Phú làm Tổng bí thư. Cho đến nay, vẫn còn nhiều câu hỏi xung quanh việc đánh giá vai trò của đồng chí Nguyễn Ái Quốc đối với hội nghị trên. Bài viết này chỉ tập trung làm rõ câu hỏi đó.

Sau sự kiện đồng chí Nguyễn Ái Quốc chủ trì hội nghị thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam tháng 2-1930, đến tháng 10-1930 diễn ra Hội nghị Trung ương lần thứ nhất Đảng Cộng sản Việt Nam được tổ chức ở Hồng Kông. Hội nghị cũng đồng thời phê phán Hội nghị Hợp nhất tháng 1-1930 là kết luận không xác đáng, vấn đề thổ địa không rõ ràng và có nhiều chỗ không đúng.

Hội nghị đề ra Nghị quyết: Thủ tiêu Chánh cương, Sách lược và Điều lệ của Đảng.

Cho đến hôm nay, nội dung được thông qua tại Hội nghị Trung ương tháng 10-1930 gây cho nhiều người băn khoăn: Liệu đồng chí Nguyễn Ái Quốc có dự không, mà Hội nghị lại bác bỏ hầu hết những văn kiện do Hội nghị hợp nhất thông qua trước đó 9 tháng?

Bác Hồ đón Tết Trung thu với các cháu thiếu nhi quốc tế. Ảnh tư liệu.

Sự kiện Nguyễn Ái Quốc tham dự Hội nghị Trung ương tháng 10 năm 1930 đã được các nhà viết tiểu sử Hồ Chí Minh của Viện Hồ Chí Minh ghi nhận khi biên soạn cuốn “Hồ Chí Minh – Tiểu sử”, do GS Song Thành chủ biên, Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia – Sự thật xuất bản năm 2006 và tái bản năm 2010. Tuy nhiên, cho đến nay, trong giới nghiên cứu Lịch sử Đảng và Hồ Chí Minh học, vẫn còn ý kiến tồn nghi liệu sự kiện đó có chính xác không? Tôi tán thành ý kiến của Viện Hồ Chí Minh, thông qua 8 tư liệu hiện có, thuộc 4 khối tài liệu hiện đang có ở Kho tư liệu của Bảo tàng Hồ Chí Minh:

– Tài liệu do chính đồng chí Nguyễn Ái Quốc báo cáo.

– Báo cáo của Trung ương Đảng Cộng sản Đông Dương.

– Hồi ký của những người đã từng tham dự Hội nghị này.

– Tài liệu mật thám.

I. Tài liệu của đồng chí Nguyễn Ái Quốc

1.Nguyễn Ái Quốc chuẩn bị cho Hội nghị

Thư đề ngày 2-9-1930 gửi Ban Phương Đông – Quốc tế Cộng sản, Nguyễn Ái Quốc cho biết Người dự kiến chương trình nghị sự của Hội nghị sẽ gồm có 4 việc:

a. Tự phê bình trong quá khứ

b. Kế hoạch công tác tiến tới Đại hội Đảng

c. Kế hoạch cho Đại hội Đảng

d. Kế hoạch gửi học viên đi đào tạo tại Mát-xcơ-va

2. Ngày 29-9-1930, Nguyễn Ái Quốc gửi báo cáo Ban Chấp hành Quốc tế Cộng sản, cho biết: “Ba Ủy viên Trung ương từ Nam Kỳ đã tới đây ngày 19-9, chờ các đồng chí ở Bắc Kỳ và Trung Kỳ tới…”.

3. Ngày 28-10-1930, báo cáo nhanh gửi Quốc tế Cộng sản, Nguyễn Ái Quốc thông báo Hội nghị đã họp từ 12-10 và kết thúc 27-10, tóm tắt những Nghị quyết Hội nghị đã thảo luận và thông qua, như Cương lĩnh, Điều lệ Đảng; nhiệm vụ trước mắt của Đảng; bầu Tổng bí thư… kèm báo cáo tài chính chi tiêu cho Hội nghị.

II. Báo cáo của Trung ương Đảng Cộng sản Đông Dương

1. Thư của Trung ương Đảng Cộng sản Đông Dương gửi cho các cấp đảng bộ ngày 9-12-1930, viết: “Đồng chí ấy (tức Nguyễn Ái Quốc – Chu Đức Tính chú thích) nay đã nhận rõ những sai lầm và cũng đồng ý với Trung ương mà sửa đổi những chỗ sai lầm lúc trước”.

2. Báo cáo của Trung ương Đảng Cộng sản Đông Dương gửi Quốc tế Cộng sản ngày 17-4-1931 cho biết “Các Nghị quyết của phiên họp đầu tiên của Ủy ban Trung ương, chúng tôi đã gửi các đồng chí qua đồng chí Quốc và nhờ đồng chí Quốc dịch ra tiếng Anh hoặc tiếng Pháp”.

III. Hồi ký của đồng chí Bùi Lâm

Đồng chí Bùi Lâm là người được Nguyễn Ái Quốc giác ngộ cách mạng từ hồi còn ở Pháp. Năm 1927, học tại Trường Đại học Phương Đông ở Mát-xcơ-va, rồi về công tác ở Văn phòng Ban Phương Đông của Quốc tế Cộng sản. Năm 1931, đồng chí Bùi Lâm về nước tham gia Xứ ủy Nam Kỳ, sau đó bị địch bắt và bị tù… Sau Cách mạng Tháng Tám, đồng chí Bùi Lâm công tác ở Tòa án Quân sự Liên khu III, Tòa án Hà Nội, Bộ Tư pháp, rồi Viện trưởng Viện Công tố, Đại sứ Việt Nam tại Bun-ga-ri. Trước khi từ trần năm 1974, là Viện phó Viện Kiểm sát nhân dân Tối cao.

Tạp chí Cộng sản số ra tháng 9-1982 đăng Hồi ký của Bùi Lâm, do Thế Tập ghi, về Nguyễn Ái Quốc với Hội nghị lần thứ nhất Ban chấp hành Trung ương tháng 10-1930: “Hội nghị thứ nhất Ban chấp hành Trung ương Đảng khai mạc dưới sự chủ tọa của đồng chí Nguyễn Ái Quốc, tại một nhà (không nhớ số) ở phố Cửu Nghĩa (Hương Cảng)… Tuy có vị trí và uy tín lớn trong Hội nghị này, nhưng đồng chí Nguyễn Ái Quốc rất khiêm tốn, lắng nghe và tôn trọng những ý kiến của tập thể. Chúng tôi thấy rất rõ ở Người ý thức tổ chức và tinh thần trách nhiệm rất cao. Ngay sau Hội nghị kết thúc, đồng chí Nguyễn Ái Quốc đã báo cáo ngay với Quốc tế Cộng sản và Ban Phương Đông về kết quả của Hội nghị, đồng thời Người cũng trình bày thêm với các đồng chí lãnh đạo Ban Phương Đông về những Nghị quyết của Hội nghị”.

IV. Tài liệu mật thám Pháp

1. Hồ sơ về Nuolens:

Nuolens tức Paul Ruegg – Trưởng ban Viễn Đông của Quốc tế Cộng sản, phụ trách Chi nhánh Ban Phương Đông tại Thượng Hải. Theo tài liệu của Kho lưu trữ lịch sử chính trị – xã hội quốc gia Nga (ký hiệu 495.153.569) và tài liệu mật thám Pháp (bản dịch lưu Kho tư liệu Bảo tàng Hồ Chí Minh) thu được trong hồ sơ của Nuolens, có tài liệu tóm tắt về Đông Dương, trong đó có một văn bản ghi “Tháng 10-1930, Hội nghị Ban chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Đông Dương đã được nhóm họp. Theo báo cáo của đồng chí K.V (tức Nguyễn Ái Quốc, chú thích của tài liệu) mà chúng tôi nhận được từ chính đồng chí ngày 16-11-1930 thì đã có 6 đồng chí tham dự tại Hồng Kông, dưới sự chủ tọa của Nguyễn Ái Quốc”.

2. Lời khai của Ngô Đức Trì:

Bảo tàng Hồ Chí Minh hiện lưu bản dịch “Lời khai của Ngô Đức Trì với mật thám Pháp” trong tháng 5 và 6-1931, do đích thân Viện trưởng Hà Huy Giáp dịch từ bản tiếng Pháp. Theo tài liệu thì Ngô Đức Trì đã khai rõ mình cùng Trần Phú từ Liên Xô về Việt Nam. Cuối tháng 8-1930, Ban Chấp ủy Nam Bộ nhận được thư của Nguyễn Ái Quốc triệu tập các ủy viên Trung ương ở Nam Bộ sang Hồng Kông để họp Hội nghị Trung ương vào tháng 9. Ngày 4-9-1930, Ngô Đức Trì và Nguyễn Trọng Nhã (Sáu) xuống tàu Holiko đi Hồng Kông, đến nơi được đồng chí Lương (Hồ Tùng Mậu) đưa đi gặp Nguyễn Ái Quốc tại gác 2, nhà số 49, đường Khải Nghĩa, Cửu Long. Ngô Đức Trì còn khai với mật thám Pháp vì bị đau ruột thừa nên không tham dự suốt thời gian Hội nghị họp, nhưng “… cuối tháng 10, Sáu có đến thăm Trì tại bệnh viện và báo cho Trì biết Hội nghị đã kết thúc. Quốc và Lý Quý (Trần Phú) sẽ đi Thượng Hải trong vài ngày tới để liên lạc với Ban thư ký Bộ Đông Phương…”.

Như thế, câu hỏi “Nguyễn Ái Quốc có tham dự Hội nghị Trung ương tháng 10-1930 không?” đã có câu trả lời là có. Vậy sẽ xuất hiện câu hỏi thứ hai: Đồng chí Nguyễn Ái Quốc có mặt, vậy tại sao Hội nghị lại bác bỏ hầu hết những văn bản của Hội nghị hợp nhất do Nguyễn Ái Quốc triệu tập và chủ trì? Câu trả lời này ở ngay thư của Ban Thường vụ Trung ương Đảng Cộng sản Đông Dương gửi các cấp đảng bộ ngày 9-12-1930. Ngay đầu thư, Thường vụ Trung ương đã phê phán: “Đảng hiệp nhất kể đã có sinh hoạt gần một năm rồi nhưng vẫn chưa có thể thống gì, đó là vì:

1. Hội nghị hiệp nhất chủ trương các công việc rất sơ sài, mà có nhiều điều không đúng với chủ trương của quốc tế.

2. Lâm thời Trung ương cử ra sau lúc Hội nghị hiệp nhất đã không nhóm một lần hội nào”.

Thư thông báo “Nay toàn thể Trung ương Hội nghị lần thứ nhất đã xong” và chỉ ra nguyên nhân vì sao chủ trương của Hội nghị hợp nhất lại có nhiều chỗ không đúng với chủ trương của Quốc tế Cộng sản?, bởi là vì: “Đồng chí đứng ra triệu tập Hội nghị hợp nhất năm trước kia thì được Quốc tế cho về tùy hoàn cảnh mà làm việc chứ chưa có được kế hoạch rõ ràng gì. Khi đồng chí ấy về đến nơi thì thấy phong trào cộng sản tuy mới nổi nhưng đã chia rẽ rồi, nên mới tự ý hành động có nhiều việc sai lầm không đúng với kế hoạch của quốc tế… Đồng chí ấy nay đã nhận rõ những điều sai lầm và cũng đồng ý với Trung ương mà sửa đổi những sai lầm lúc trước”.

Do nhiều nguyên nhân, trong đó rõ nhất là ảnh hưởng tả khuynh của Đại hội lần thứ VI – Quốc tế Cộng sản năm 1928, mà Quốc tế Cộng sản đã đánh giá chủ trương của Hội nghị hiệp nhất có nhiều điểm không đúng với chủ trương của Quốc tế Cộng sản, nên tất yếu Hội nghị Trung ương lần thứ nhất tháng 10-1930 phải “sửa đổi những sai lầm trong công việc của Hội nghị hợp nhất” và như thế, dù Nguyễn Ái Quốc là người tổ chức Hội nghị, hay chỉ tham dự Hội nghị thì nhất định phải tuân thủ chỉ thị của Quốc tế Cộng sản, phải tự giác “nhận rõ sai lầm” và buộc phải sửa chữa sai lầm. Đây đúng là một sự trớ trêu nhưng đã diễn ra trong lịch sử. Vì ngay khi đó, Nguyễn Ái Quốc đã tin tưởng rằng mình đúng, không sai, nhưng không thể không chấp hành chỉ thị cấp trên. Đó là nguyên tắc số một của xây dựng Đảng: “Tập trung dân chủ” – nghĩa là cấp dưới phục tùng cấp trên, cá nhân phục tùng tổ chức, bộ phận phục tùng toàn thể. Nguyễn Ái Quốc đúng mà bị hiểu sai – tình trạng đó không phải một năm mà kéo dài gần hết thập kỷ 30. Nhưng chính thời kỳ đó càng lấp lánh bản lĩnh kiên cường, trí tuệ và tấm lòng son sắt của Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh với sự tồn tại và phát triển của Đảng, như chính người đồng chí – học trò của Người, Lê Hồng Phong đã nhận xét năm 1935: “Tôi biết rằng đồng chí Quốc rất tích cực trong hoạt động cách mạng và các vấn đề sự nghiệp của Đảng luôn được đồng chí đặt cao hơn cuộc sống cá nhân. Có thể nói rằng đồng chí ấy luôn sống và làm việc vì Đảng”.

TS Chu Đức Tính – Giám đốc Bảo tàng Hồ Chí Minh
qdnd.vn

Cả cuộc đời vì sự chấn hưng dân tộc

Kỷ niệm 100 năm Ngày Bác Hồ ra đi tìm đường cứu nước (5-6-1911/5-6-2011)

QĐND – Đã có rất nhiều học giả, nhà nghiên cứu dành không ít thời gian và tâm huyết để làm sáng rõ và hiểu sâu sắc, toàn diện hơn ý nghĩa lịch sử, giá trị thời đại của chân lý, tư tưởng Hồ Chí Minh đối với sự nghiệp cách mạng của dân tộc. Nhân dịp kỷ niệm 100 năm Ngày Bác Hồ ra đi tìm đường cứu nước, trong bài viết này, chúng tôi xin ghi lại buổi trò chuyện, trao đổi với PSG, nhà giáo nhân dân Lê Mậu Hãn – nguyên Chủ nhiệm Khoa Lịch sử, Trường Đại học Tổng hợp Hà Nội (nay là Trường Đại học Khoa học-Xã hội và Nhân văn và Trường Đại học Khoa học tự nhiên thuộc Đại học Quốc gia Hà Nội).

3 kỳ tích làm nên thắng lợi

Suốt cả cuộc đời, Hồ Chí Minh hiến dâng cho sự nghiệp chấn hưng của dân tộc Việt Nam. Hiện nay, dân tộc Việt Nam tiếp tục đi theo con đường của Người đã vạch ra. Đặc biệt, một điều vô cùng đáng khâm phục ở Hồ Chí Minh là Người luôn đi trước, đi trong hoặc song hành chứ không đi sau các sự kiện lớn của dân tộc và của thế giới. Nói riêng về quá trình tìm đường cứu nước của Bác, có thể đưa ra 3 luận cứ làm sáng tỏ điều này.

Nguyễn Tất Thành làm phụ bếp trên con tàu Amiran Latusơ Tơrêvin, đưa Người ra đi tìm đường cứu nước năm 1911. Ảnh tư liệu.

Thứ nhất, phải là người có tư duy mẫn cảm với thời cuộc thì Hồ Chí Minh mới có thể lựa chọn một con đường cứu nước, cứu dân mới vào đầu thế kỷ XX, khi các con đường cứu nước mà các vị tiền bối thực thi đều bế tắc và thất bại. Phải có một tinh thần phê phán đúng đắn, sự thấm nhuần vượt trội chủ nghĩa yêu nước nồng nàn, mới có được chuyến ra đi lịch sử của Người vào ngày 5-6-1911. Theo Người, con đường cứu nước của Hoàng Hoa Thám còn nặng cốt cách phong kiến đã không thể dẫn tới thắng lợi; con đường cầu viện Nhật Bản của Phan Bội Châu chẳng khác gì “đưa hổ cửa trước, rước beo cửa sau”; còn con đường cải lương của Phan Châu Trinh thì chẳng khác gì đến xin giặc rủ lòng thương. Việc không lặp lại thất bại của những người đi trước là một điều khó khăn, nhưng tìm ra một con đường mới phù hợp với quy luật phát triển của lịch sử, đưa dân tộc giành được độc lập, tự do là một điều còn khó khăn hơn nhiều lần. Đây chính là một sự khước từ cái sai để đi tìm cái đúng; sự từ bỏ cái lạc hậu, lỗi thời để đi tìm cái tiên tiến, phù hợp với thời đại mới. Đó là sự vượt qua những lối mòn cũ kỹ để đi tìm được con đường mà dân tộc cần đi. Đó là sự khẳng định một bản lĩnh, một khả năng suy nghĩ độc lập và sáng tạo mà lịch sử đang đòi hỏi.

Có thể nói, vào thời đó, yêu nước nhiệt thành thì có rất nhiều người. Nhưng yêu nước để có một tư duy mẫn cảm, tư duy phê phán sắc sảo về các con đường yêu nước trước đó hoặc đương thời của các bậc cha anh rồi ra đi tìm con đường cứu nước mới, thì dường như chỉ có ở Nguyễn Tất Thành.

Điểm thứ hai trong sự nghiệp cách mạng tìm đường cứu nước của Nguyễn Ái Quốc thể hiện rất rõ ở chỗ: Không phải bất cứ ai đều thành công trong việc đi tìm con đường cứu nước mới. Ở Hồ Chí Minh hội tụ đủ những yếu tố cần thiết cho sự dấn thân vào quá trình tìm đường, mở đường, dẫn đường cho dân tộc Việt Nam phát triển: Ý chí lớn lao, tinh thần ham học hỏi, sẵn sàng vượt qua mọi gian khó, sẵn sàng hòa mình vào cuộc sống của người lao động để cảm nhận thời cuộc. Người không có bằng cấp của học đường, nhưng ở Người hội tụ những tri thức uyên bác, cổ kim Đông – Tây, là sự chắt lọc, tiếp biến văn hóa, đúc kết thành khối tri thức và bản lĩnh chính trị, nhân cách cao đẹp. Nguyễn Tất Thành tiếp nhận chủ nghĩa Mác – Lê-nin, qua đó tìm thấy con đường cứu nước đúng đắn là bởi những yếu tố đó, khác với những bậc tiền bối yêu nước trước kia.

Điểm thứ ba làm nên thắng lợi trong sự nghiệp tìm đường cứu nước của Hồ Chí Minh là đã tìm được con đường cứu nước đúng đắn, nhưng phải vận dụng một cách sáng tạo, phù hợp với tình hình thực tiễn của dân tộc, của đất nước. Sau năm 1920 là thời gian trường kỳ truyền bá, huấn luyện, tổ chức để đưa con đường cứu nước đúng đắn về thực hành trên đất nước Việt Nam, mà một vấn đề có tính chất then chốt là thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam – một tổ chức để lãnh đạo, đoàn kết toàn dân tộc, hòa cùng thời thế, kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại và sức mạnh quốc tế để dân tộc ta phát triển theo con đường độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội.

Hồ Chí Minh luôn sống trong nhịp đập của đất nước bởi sự nghiệp của Người, tư tưởng của Người vẫn đồng hành cùng dân tộc. Tư tưởng của Người có trong hành trang của dân tộc Việt Nam và nhân loại cần lao tiến bước vào văn minh, tiến bộ. Cả cuộc đời Hồ Chí Minh là một thông điệp cho sự phát triển. Điều đó trở thành một tài sản tinh thần quý báu cho dân tộc Việt Nam, cho nhân dân lao động trên toàn thế giới.

Giá trị thời đại – nhìn từ góc độ hội nhập quốc tế

Xuất phát từ các giá trị văn hóa – văn minh nhân loại, lấy văn hóa soi đường cho quốc dân đi, đem văn minh chống lại dã man, vì vậy, sự nghiệp giải phóng dân tộc, giải phóng con người dưới sự dẫn dắt của Chủ tịch Hồ Chí Minh là sự nghiệp văn hóa – văn minh vĩ đại ở Việt Nam, trong đó, kết hợp chặt chẽ giữa giải phóng với phát triển và hoàn thiện con người. Đó là bí quyết thành công của cách mạng Việt Nam mà Người đúc rút từ tinh hoa văn hóa dân tộc và nhân loại vận dụng vào nước ta. Điều đó cắt nghĩa trong mọi hoàn cảnh lịch sử, Người luôn chủ trương nâng cao dân trí, phát triển văn hóa, đẩy mạnh giáo dục đạo đức và nhân cách cho toàn dân, đi đôi với mở cửa tiếp thu tinh hoa văn hóa – văn minh nhân loại. Xã hội mà Người chủ trương xây dựng là sự kết hợp giữa việc thừa kế, phát huy những giá trị truyền thống tốt đẹp của văn hóa – văn minh dân tộc với tiếp thu tinh hoa văn hóa – văn minh nhân loại, thấm nhuần sâu sắc chủ nghĩa yêu nước – nhân văn Việt Nam và chủ nghĩa quốc tế trong sáng.

Suy cho cùng, con đường mà Chủ tịch Hồ Chí Minh tìm thấy và dẫn dắt dân tộc thực hiện đã đưa tới những thắng lợi vĩ đại của dân tộc, đồng thời cũng là đóng góp vào giải quyết khát vọng lớn lao nhất, mục tiêu văn hóa – văn minh cao cả nhất của nhân loại là cải tạo thế giới để giải phóng con người.

Một thế kỷ đã trôi qua, chúng ta càng thêm thấu hiểu ý nghĩa lịch sử và giá trị thời đại của sự kiện Hồ Chí Minh “đi ra thế giới” để thâu thái những giá trị văn hóa – văn minh nhân loại, tìm đường cho sự sinh tồn và phát triển của dân tộc. Ngày 5-6-1911 không chỉ là sự kiện đánh dấu sự khởi đầu của quá trình tìm đường cứu nước của người thanh niên yêu nước Nguyễn Tất Thành, mà còn là sự kiện mở ra quá trình Việt Nam từng bước hội nhập vào dòng tiến hóa theo xu thế mới của nhân loại dưới sự dẫn dắt của Người. Trong quá trình đó, trên cơ sở tiếp nhận những giá trị văn hóa – văn minh nhân loại và nắm bắt được xu thế phát triển của loài người trong thời đại mới, thông qua con đường cách mạng mà Người đã lựa chọn, Việt Nam đã kết hợp thành công sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại, tạo nên sức mạnh tổng hợp đem đến những thắng lợi vĩ đại cho cách mạng Việt Nam trong một thế kỷ qua. Mặt khác, trong quá trình đó, dân tộc ta đã góp phần vào cuộc đấu tranh chung của nhân loại, làm cho thế kỷ XX trở thành thế kỷ phi thực dân hóa, thúc đẩy lịch sử loài người tiến lên theo hướng tiến bộ. Bởi vậy, kiên trì con đường cách mạng độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội mà Chủ tịch Hồ Chí Minh đã lựa chọn không chỉ giữ vững mục tiêu độc lập – tự do – hạnh phúc cho dân tộc và mỗi người dân Việt Nam, mà còn là giữ vững các nhân tố đảm bảo cho thắng lợi của cách mạng nước ta để đất nước tiếp tục tiến bước mạnh mẽ, nhằm hoàn thiện những mục tiêu vì dân tộc, vì con người Việt Nam, góp phần vào cuộc đấu tranh chung của nhân loại vì hòa bình, dân chủ và tiến bộ xã hội trên thế giới.

Ngày nay, trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, với các giá trị trên đây, sự kiện lịch sử Nguyễn Tất Thành ra đi tìm đường cứu nước càng có ý nghĩa thực tiễn. Với đường lối đổi mới của Đảng, trên thực tế, sự hội nhập quốc tế của Việt Nam cũng là tiếp tục quá trình dân tộc ta đi ra thế giới trong điều kiện lịch sử mới theo tư tưởng Hồ Chí Minh để thâu nhận các giá trị văn hóa – văn minh nhân loại và nắm bắt xu thế phát triển của loài người, nhằm vận dụng và tiến hành thắng lợi sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, tạo ra các điều kiện để thực hiện ngày một hoàn chỉnh các nội dung của tiêu chí độc lập – tự do – hạnh phúc cho dân tộc và con người Việt Nam.

100 năm đã trôi qua nhưng sự kiện Nguyễn Tất Thành ra đi tìm đường cứu nước vẫn còn nguyên ý nghĩa lịch sử và giá trị thời đại. Ngày nay, trong hành trình hội nhập cùng nhân loại đi đến tương lai, chúng ta càng tin tưởng và kiên trì phấn đấu theo con đường Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại đã chỉ ra, quyết tâm đưa ngọn cờ tiên phong của Người đến đích thắng lợi.

Đào Hồng (ghi)
qdnd.vn

Chuyến đi thay đổi vận mệnh dân tộc

Kỷ niệm 100 năm ngày Bác Hồ ra đi tìm đường cứu nước

QĐND – Cuối thế kỷ 19, đầu thế kỷ 20, chứng kiến cảnh nước mất, nhà tan cũng như sự tàn bạo của thực dân Pháp, cậu thiếu niên mới 13 tuổi quê ở làng Kim Liên, Nam Đàn, Nghệ An đã nung nấu ý chí một ngày nào đó sẽ tới nước Pháp để tìm hiểu cho ra nhẽ, tại sao một đất nước vốn nổi tiếng với cuộc cách mạng giành lấy tự do, bình đẳng, bác ái, nay lại đi xâm lược nước khác. Tám năm sau, ngày 5-6-1911, người thanh niên yêu nước 21 tuổi ấy đã quyết định rời Tổ quốc trên một chiếc tàu buôn của Pháp với cái tên Văn Ba để tìm hiểu sự thực về nước Pháp và con đường giải phóng cho dân tộc mình, đất nước mình.

Trong Hội thảo quốc tế Di sản Hồ Chí Minh trong thời đại ngày nay, tổ chức năm 2010, tại Hà Nội, nhiều học giả trong và ngoài nước đã đề cập khá chi tiết tới chặng đường 30 năm bôn ba ở nước ngoài của Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Nguyễn Ái Quốc tại đại hội Tua (Tours, Pháp), năm 1920. Ảnh: vietnamplus.vn

Quan điểm chung của các học giả trong và ngoài nước đều nhấn mạnh, trong suốt hành trình kéo dài 30 năm, ý nghĩ duy nhất, lớn nhất của người thanh niên ấy là giải phóng đồng bào, xóa bỏ ách áp bức, bóc lột của bọn thực dân, phong kiến, giành độc lập dân tộc; khẳng định Chủ tịch Hồ Chí Minh là con người của những bước ngoặt quan trọng, có tính quyết định tới vận mệnh của đất nước và dân tộc Việt Nam. Tư tưởng cùng sự cố gắng phi thường của người Anh hùng giải phóng dân tộc, Nhà văn hóa kiệt xuất của Việt Nam đã làm thay đổi vận mệnh của dân tộc Việt Nam, từ thân phận nô lệ trở thành dân tộc tự do, độc lập, có vai trò và vị trí ngày càng lớn trên thế giới.

Từ năm 1911 tới năm 1917, Người đã đến nhiều nước châu Á, châu Âu, châu Mỹ, châu Phi, sống hòa mình với nhân dân lao động. Thông cảm sâu sắc với cuộc sống cực khổ của nhân dân lao động và các dân tộc thuộc địa cũng như nguyện vọng thiêng liêng của họ. Chứng kiến cảnh những người dân lao động ở khắp các châu lục bị chế độ thực dân cũ áp bức bóc lột, Người đã rút ra kết luận rằng “dù màu da có khác nhau, trên đời này chỉ có hai giống người: bóc lột và bị bóc lột; chỉ có một mối tình hữu ái là thật mà thôi: Tình hữu ái vô sản”. Có thể thấy rõ, ngay từ rất sớm, Người đã nhận thức rõ ràng rằng, cuộc đấu tranh giải phóng của nhân dân Việt Nam là một bộ phận trong cuộc đấu tranh chung của nhân dân thế giới.

Cuối năm 1917, Người từ Anh trở lại Pháp tiếp tục hoạt động trong phong trào Việt kiều và phong trào công nhân Pháp. “Ở Pháp lúc đó, Hồ Chí Minh dùng hơn 200 bút danh để đấu tranh chính trị. Hồ Chí Minh chưa bao giờ rời bỏ mục tiêu của mình: đó là đem lại cho dân tộc mình, trong đó có những người thân của mình, sự tự do, nhân phẩm và quyền được làm chủ”, D.Đơ Mít-câu-lơ (D.De Miscault), Tổng biên tập Tạp chí Triển vọng Việt Nam – Pháp, nhận xét.

Theo các học giả Pháp tham dự Hội thảo, sự kiện nổi bật nhất mà Chủ tịch Hồ Chí Minh để lại dấu ấn tại nước Pháp là vào năm 1919. Người lấy tên là Nguyễn Ái Quốc và thay mặt những người Việt Nam yêu nước tại Pháp gửi tới Hội nghị Véc-xây bản yêu sách đòi quyền tự do cho nhân dân Việt Nam và cũng là quyền cho nhân dân các nước thuộc địa. Tiếp đó, vào tháng 12-1920, Người trở thành một trong những người đầu tiên sáng lập Đảng Cộng sản Pháp. Năm 1921, Người cùng một số người yêu nước ở các nước thuộc địa của Pháp, không phân biệt màu da, sáng lập Hội Liên hiệp thuộc địa. Tháng 4-1922, Hội ra báo Người cùng khổ (Le Paria). Rất nhiều bài báo đanh thép tố cáo tội ác của thực dân Pháp của Người đã được đưa vào tác phẩm Bản án chế độ thực dân Pháp.

Đánh giá về điểm sáng nhất trong 30 năm tìm đường cứu nước của Chủ tịch Hồ Chí Minh, các học giả Nga, Pháp, Trung Quốc đã nhấn mạnh quãng thời gian Người tới nước Nga và bắt gặp ánh sáng của Cách mạng tháng Mười Nga, Luận cương về vấn đề dân tộc và thuộc địa của Lê-nin. Thành công của Cách mạng tháng Mười và Luận cương của Lê-nin đã giải đáp trăn trở của Người về vấn đề giải phóng các dân tộc thuộc địa, giải phóng dân tộc Việt Nam. Hồ Chí Minh đã xúc động đến phát khóc khi gặp được Luận cương về vấn đề dân tộc và thuộc địa của Lê-nin, Người đã thốt lên “đây là cái cần thiết cho chúng ta, đây là con đường giải phóng chúng ta”. Và cũng kể từ khi thực sự tìm được con đường giải phóng dân tộc mình, Người quyết tâm thực hiện bằng được sự nghiệp giải phóng dân tộc, giành độc lập dân tộc theo con đường Cách mạng tháng Mười, con đường cách mạng vô sản.

Kể từ khi gặp được ánh sáng của Chủ nghĩa Mác – Lê-nin, của Cách mạng tháng Mười, Người hoàn toàn tin theo Chủ nghĩa Mác – Lê-nin, tin theo Quốc tế III. Ngay từ khi ấy Chủ tịch Hồ Chí Minh đã mong muốn xây dựng một đảng cách mạng chân chính để lãnh đạo một nước thuộc địa nửa phong kiến như Việt Nam. Và ngày lịch sử cũng đã đến. Ngày 3-2-1930, dưới sự chủ trì của Người, Đảng Cộng sản Đông Dương đã được thành lập, sau này đổi tên thành Đảng Cộng sản Việt Nam, đã đánh dấu bước đi quan trọng và quyết định của cách mạng Việt Nam. Từ khi có Đảng, dưới ánh sáng của Đảng, sự chỉ đạo sáng suốt của Chủ tịch Hồ Chí Minh, cách mạng Việt Nam đã đi từ thắng lợi này tới thắng lợi khác. Chiến thắng mọi kẻ thù, xây dựng tình đoàn kết quốc tế, tạo dựng một cuộc sống tốt đẹp hơn cho nhân dân Việt Nam.

Đánh giá chung về chặng đường 30 năm bôn ba, từ ngày 5-6-1911 tới ngày 8-2-1941, các học giả quốc tế cho rằng: Trong 30 năm ấy, không lúc nào Người ngừng nghĩ về dân tộc Việt Nam, chưa bao giờ Người đòi hỏi gì cho riêng mình. Con đường đúng đắn mà Người lựa chọn đã mang lại tự do, độc lập, hạnh phúc cho toàn thể nhân dân Việt Nam. Người mãi là gương sáng của người chiến sĩ cộng sản trọn đời vì nước vì dân, là biểu tượng khí phách anh hùng, ý chí độc lập, tự cường, sáng tạo và quyết thắng, không chịu khuất phục.

HOA HUYỀN (tổng hợp)
qdnd.vn

“Bên Lăng Bác Hồ” – Bài hát đầu tiên viết về Lăng Bác

Tháng 10 năm 1974, nhạc sĩ Dân Huyền cùng Đoàn Văn nghệ sỹ Đài Tiếng nói Việt Nam đến thăm công trường xây dựng Lăng Bác. Cảnh lao động nhộn nhịp với hàng ngàn cán bộ, công nhân viên trên công trình đang khẩn trương lao động, giữa ngổn ngang những giàn giáo, nổi lên khối nhà Lăng Bác sừng sững uy nghi đang được hoàn tất. Nhạc sĩ Dân Huyền vô cùng xúc động và bài hát “Bên Lăng Bác Hồ” đã ra đời trong hoàn cảnh đó.

Ông nhớ lại: Suốt một tuần lễ mình trăn trở hoài với cảm xúc thiêng liêng ấy, cuối tuần bài hát được hoàn thành. Mình đã chọn giai điệu dân ca Nam Bộ để sáng tác bài hát, bởi như Bác Hồ đã nói: “Miền Nam trong trái tim tôi”. Viết xong nốt nhạc cuối cùng, mình hát thử cho đồng nghiệp trong Phòng Âm nhạc của Đài góp ý, lắng nghe ý kiến bổ sung chân thành của anh em. Ban đầu mình lấy tên là “Tiếng hát bên Lăng Người”, nhạc sĩ Triều Dâng, Lương Nguyên góp ý là “Tiếng hát bên Lăng Bác”, cuối cùng mình lấy tên giản dị như ngày nay “Bên Lăng Bác Hồ”.

Ca sĩ Kiều Hưng là người thể hiện bài hát này lần đầu, được đông đảo người nghe yêu thích. Trong ngày hoàn thành Lăng Bác 27/8/1975 – sau hơn hai tháng đất nước hoàn toàn thống nhất, bài hát “Bên Lăng Bác Hồ” được chọn là một trong những bài hát chính thức trình bày trong ngày vui lịch sử này. Từ đó đến nay, có nhiều nhạc sĩ đã sáng tác những bài hát hay về đề tài Lăng Bác: Hoàng Hiệp với “Vào Lăng viếng Bác” (thơ Viễn Phương), Thuận Yến với “Vầng trăng Ba Đình” (thơ Phạm Ngọc Cảnh), Nguyễn Đăng Nước với “Chúng con canh giấc ngủ cho Người”… Hôm nay chúng ta vào Lăng viếng Bác, lại được dịp nghe những bài hát xúc động này.

Nhạc sĩ Dân Huyền tên thật là Phạm Ngọc Dần, sinh năm 1938, quê ở huyện Hưng Nguyên, tỉnh Nghệ An. Ngay khi còn nhỏ mẹ ông đã dạy nhiều làn điệu dân ca quê hương, tình yêu đối với dân ca sâu đậm trong trái tim ông suốt cả cuộc đời. Thuở nhỏ, ông học trong Chủng viện xứ Đoài, Nghệ An. Ở đây, ông được học lý thuyết âm nhạc, chơi đàn… Năm 1954, Dân Huyền chuyển về Đoàn Văn công Quân khu 4 với vị trí nhạc công, rồi về công tác tại Ty Văn hoá Nghệ An. Năm 1959, ông được về học tại Trường Tuyên huấn Trung ương. Ra trường, ông được cử về làm cán bộ văn nghệ của Nhà máy ô tô “Mồng một tháng năm” ở Hà Nội. Ông tham gia viết báo, đặt lời mới cho hàng trăm bài dân ca… Năm 1967, Đài Phát thanh Tiếng nói Việt Nam đã mời ông về làm biên tập viên âm nhạc, sau được phân công là Trưởng phòng “Dân ca và nhạc cổ truyền”. Ông sáng tác nhiều ca khúc được mọi người yêu thích, nhưng đóng góp lớn nhất của ông là soạn lời hát cho các bài dân ca. Tuy đã nghỉ hưu từ năm 2001, ông vẫn hăng hái tham gia Câu lạc bộ “Đàn và hát dân ca” của Đài với cương vị Chủ nhiệm Câu lạc bộ, Chi hội trưởng Chi hội Văn nghệ dân gian.

Theo Phú Cương
Báo Vietnamnet
Phương Thúy (st)

bqllang.gov.vn

Bác Hồ và Phật giáo

– Xuất thân trong các cuộc vận động của Phật giáo (1963-1966), thời đi theo kháng chiến (1966-1975), tôi có nhiều dịp chuyển thư từ, hình ảnh của Hoà thượng Thích Đôn Hậu và bà con Phật tử tập kết ngoài miền Bắc vào cho các chùa và đồng bào theo Đạo Phật ở Huế.

Nhờ thế, sau ngày thống nhất đất nước (1975), nhiều lần tôi được các Sư bà Thích nữ Diệu Không, Sư bà Thích nữ Cát Tường, Sư cô Tịnh Giải (thế danh là Trương Thị Bích Vân) tiếp tại chùa Hồng Ân và chùa Kiều Đàm (Huế). Sư bà Cát Tường cho tôi chiếc xe Jeep của trường Mẫu giáo Kiều Đàm trước năm 1975.

Tôi không được dùng xe riêng nên đã chuyển cho anh Võ Đông – Trưởng phòng TTVH TP Huế sử dụng vào việc công. Chiếc xe ấy đã giúp nhiều việc cho phòng, mãi đến thời gian gần đây mới cho “giải nghiệp”.

aẢnh IE

Biết tôi là người rất lịch sử, thích chuyện cũ và thơ văn, Sư bà Thích nữ Diệu Không đã kể cho tôi nghe chuyện các gia đình Hồ Đắc – Cao Xuân của Sư bà quan hệ với gia đình Bác Hồ, chuyện Phật giáo cứu dân và đặc biệt chuyện Sư bà làm thơ Kỷ niệm Chủ tịch Hồ Chí Minh, thơ mừng Ngày thống nhất đất nước 30/4/1975.

1. Chuyện ông Tư Sinh

Sau ngày đất nước thống nhất, tôi quan tâm ngay việc nghiên cứu Huế để giải toả những thắc mắc về lịch sử Huế mà suốt thời gian theo kháng chiến, tôi không tự trả lời cho mình được.

Một trong những thắc mắc đó là thời gian gần mười năm Chủ tịch Hồ Chí Minh đã sống và học hành ở Huế. Nhờ có ý thức sớm như vậy, tôi đã may mắn gặp được những người bạn học, những “người cùng thời” với Bác ở Huế.

Một trong những “người cùng thời” đó là Sư bà Thích nữ Diệu Không. Sư bà không những là người cùng thời mà còn từng làm dâu trong gia đình Cao Xuân Nghệ An – gia đình có mối quan hệ sâu sắc với gia đình thân sinh của Bác.

Sư bà Diệu Không nhũ danh Hồ Thị Hạnh, ái nữ của cụ Thượng Hồ Đắc Trung, lúc chưa xuất gia là vợ ông Cao Xuân Xang (con trai thứ của cụ Cao Xuân Dục). Sư bà tiếp tôi trong phòng khách của chùa Kiều Đàm (Huế).
[…]

Sư bà kể:

-“Năm lên 10 tuổi, tôi theo thầy tôi là cụ Hồ Đắc Trung vào ở trong Bộ Học. Lúc ấy tôi mới học chữ Hán nên hễ thấy đâu có chữ Hán là để mắt đọc, đọc không hiểu thì hỏi. Bỗng tôi thấy trên tường vừa quét vôi trắng có chừa một khoảng tường cũ ám khói.

Trong khoảng ấy có ghi một câu cách ngôn bằng chữ Hán nét chữ đã cũ nhưng rất đẹp. Tôi đọc lõm bõm được vài chữ những không hiểu hết ý nghĩa nên hỏi thầy tôi. Thầy tôi đáp:

-“Nghe nói trước đây, gian phòng này dành cho ông Tư Sinh ở. Ông hay đặt cách ngôn và viết lên vách để dạy con. Ông viết nhiều lắm nhưng thợ bên Bộ Công qua sửa nhà bôi hết. Còn câu ấy chữ đẹp và có ý nghĩa răn dạy con cái rất tốt nên thầy truyền cho thợ phải để lại.”

Bà kể tiếp:

– “Sau đó, thầy tôi không làm ở Bộ Học nữa. Tôi lớn lên, lấy chồng là ông Cao Xuân Xang – con trai cụ Cao Xuân Dục – bạn với thầy tôi (1). Nhớ chuyện cũ, có lần tôi hỏi nhà tôi:

– “Anh có biết ông Tư Sinh đã từng ở trong Bộ Học – nơi anh ở trước đây không?”

Ông nhà tôi đáp:

– “Biết rõ. Ông Tư Sinh là người cùng quê Nghệ An với mình, năm Ất mùi (1895) ông có nhận học điền của họ Cao Xuân (Diễn Châu) để vào Kinh thi Hội, đi một lần với anh Cả (2). Nhưng khoa đó ông không đậu. Cho mãi đến khoa Tân Sửu (1901), ông mới đỗ Phó bảng. Sau này, con ông là Nguyễn Sinh Côn, học sinh trường Đông Ba và trường Quốc Học cũng được họ Cao Xuân cấp học điền. Gia đình ông Phó bảng có nhiều ân nghĩa với gia đình mình”.

Tôi (Sư bà Diệu Không) có cái tính hay hỏi nên hôm đó đã hỏi ông nhà tôi: “Ai là người Nghệ có chí học hành thì được họ Cao Xuân cấp học điền, chứ có riêng chi cha con ông Tư Sinh mà anh nói nhiều ơn nghĩa?”. Ông nhà tôi không muốn kể nhưng biết tính tôi cứ đeo hỏi nếu chưa được trả lời đầy đủ.

Để khỏi bị “quấy rầy”, ông đã giải thích tiếp: “Năm ấy, ông mình (3) đang chuẩn bị thành lập Bộ Học cho Triều đình thì một hôm, ông Phó bảng từ Nghệ An vào thăm ông.

Ông hỏi Phó bảng: “Chú Bảng vào Kinh làm chi?”

Ông Phó bảng đáp: “Xin thú thật với cụ, từ ngày mẹ các cháu mất, tôi phải nuôi dạy các cháu một mình. Nuôi dạy và thương yêu các cháu cũng là một cách làm vừa lòng mẹ các cháu dưới suối vàng. Tôi không rõ các cháu nghe ai xúi giục, các cháu muốn học chữ Tây. Ngoài quê mình ngặt một điều không có ai dạy và cũng chẳng ai trọng nể việc học chữ Tây, nên tôi phải vào Kinh”.

Ông cười rồi vặn hỏi ông Bảng: “Thế chú có biết dưới mắt người Tây, những người đỗ đại khoa như chú mà không làm quan thì làm chi không?” – Ông Phó bảng ngẫm nghĩ mãi mà vẫn không tìm được câu trả lời.

Ông mới nói tiếp: “Không làm quan thì làm giặc đó. Đời nào người Tây để cho chú yên để dạy con ở giữa chốn Kinh kỳ này”.

Ông Bảng lo lắng: “Thế cụ bảo cháu phải làm gì?” Ông dạy: “Chú phải làm quan”. Ông Phó bảng phân trần: “Cái đời làm quan vào lòn ra cúi, cháu không muốn!”. Ông bảo: “Thế thì chú không ở đây được”. Ông Bảng van nài: “Thế thì cụ cho cháu một chức quan mà chẳng ai thèm làm để cháu được ở đây!”.

Thế là ông Phó bảng Nguyễn Sinh Huy được bổ làm Tư vụ Học chánh (tùng bát phẩm 7-2) và được đến ở ngay trong nhà của Bộ. Ông Bảng làm Tư vụ nhưng chẳng mấy khi ông chịu làm việc. Suốt ngày ông uống rượu, ngâm thơ và đặt cách ngôn viết lên vách dạy con cái thôi. Quan lại và nhân viên chung quanh ông rất khó chịu trước thái độ của ông. Sở dĩ không ai dám nói ra điều gì vì họ nể ông.

Về sau ông Phan Châu Trinh đi hoạt động cách mạng, bỏ trống chức Thừa biện ở Bộ Lễ lâu ngày, ông Bảng bị chuyển sang điền khuyết. Từ đó ông được Triều đình cấp cho một gian nhà ở dãy trại đường Đông Ba”.

Chuyện kể của Sư bà đã giúp tôi thông tin để viết về chuyện cụ Nguyễn Sinh Huy vào Huế làm quan. Thông tin này chưa từng được phát hiện nên tôi đã phải ghi chép xong rồi đem đọc lại cho Sư bà nghe. Sư bà sửa chữa nhiều lần rồi tôi mới dám đưa vào cuốn sách Đi tìm dấu tích thời niên thiếu của Bác Hồ ở Huế (Nxb Văn Học tái bản năm 2003).

2. Phật giáo cứu dân

Và Sư bà cũng kể những hoạt động của Phật tử Sài Gòn trước và sau ngày 30/4/1975 để tôi viết báo.

Sư bà dạy tôi:“Kháng chiến lo cứu nước, mình là Phật giáo còn phải hoạt động cứu dân. Không những cứu bớt đổ máu, cứu những đổ nát mà còn phải cứu thoát ra khỏi sự sợ hãi để hưởng thống nhất hoà bình an lạc!”

Tôi rất thấm thía lời dạy của Sư bà. Đây không phải là một lời nói, một khẩu hiệu suông mà cả một thực tế rất quý báu. Suốt những năm chiến tranh, sau các cuộc giao tranh diễn ra ở vùng nông thôn, nhiều xác cán bộ, bộ đội du kích cách mạng…không may nằm lại giữa ruộng đồng, dân chúng, và người thân của liệt sĩ ít người dám ra mặt nhận xác về chôn.

Gặp những tình huống như thế, các Khuôn hội Phật giáo chắp tay trước mọi hiểm nguy đứng ra đảm nhận việc chôn cất. Một số nơi còn dựng cả am miếu để thờ người chết trận. Sau chiến dịch Huế xuân 1968, nhiều người Huế bị chính quyền VNCH bắt giam vào lao Thừa Phủ vì bị tình nghi đã cộng tác với Mặt trận Giải phóng.

Đến ngày Rằm tháng bảy năm Mậu Thân (1968), Sư bà Diệu Không tổ chức ngày “Xá tội vong nhân”, đứng ra xin Chính quyền VNCH trả tự do cho hàng trăm tù chính trị chưa xác định được “tội danh” – một trong những người được trả tự do năm ấy là anh Hoàng Phủ Ngọc Phan.

Nếu không được Sư bà “cứu” thì địch đã phát hiện ra Hoàng Phủ Ngọc Phan  một người Cộng sản thứ thiệt ở Huế, và chắc chắn không làm gì còn có nhà báo viết chuyện cười Hoàng Thiếu Phủ sau này. Và, anh của Phan là Hoàng Phủ Ngọc Tường và tôi – ba anh em cùng thoát ly và cùng hoạt động ở chiến khu Huế – khó lòng được yên ổn để đi cho đến tận cùng cuộc kháng chiến cứu nước.

Thời gian cuối tháng 4/1975, Sư bà Diệu Không đang ở Sài Gòn. Ngày nào Phật tử cũng đem đến cho Sư bà những tin tức chiến sự nghe được qua các đài phát thanh Sài Gòn, Hà Nội, BBC, VOA…

Sau khi nghe tin vùng cao nguyên và các tỉnh dọc bờ biển miền Trung phần từ Huế vô đến Xuân Lộc đã được giải phóng, đêm 29/4, sân bay Tân Sơn Nhất lại bị pháo kích dữ dội, Sư bà nghĩ thế nào ngày mai Quân giải phóng cũng vào đến Sài Gòn.

Trưa ngày 30/4/1975, Sư bà cho tổ chức các xe phóng thanh chạy khắp thành phố kêu gọi binh lính Sài Gòn bỏ súng. Tại Đại học Vạn Hạnh gần cầu Trương Minh Giảng (nay là đường Lê Văn Sĩ), thanh niên sinh viên Phật tử đeo băng xanh đỏ thiết lập trạm tiếp nhận súng ống bên cạnh các xe tải cắm cờ Ngũ sắc của Phật giáo.

Những binh lính ở xa nhà, lỡ đường có thể vào tá túc trong các chùa Phật. Bà vận động các chùa nấu cơm tiếp tế cho dân chúng đang tham gia công tác trên các đường phố và binh lính Sài Gòn vừa giải giáp. Những việc này chưa hề được ghi lại trong trang sử Giải phóng Sài Gòn 30/4/1975.

Tôi hỏi cảm tưởng của Sư bà trước sự kiện 30/4/1975, Sư bà trả lời bằng một bài thơ ngắn nói về công ơn Hồ Chủ tịch :

Tặng Việt Nam Độc lập

Trăm tám năm rồi mới thấy đây,
Tên Người vang dội cả thời nay.
Non sông là vợ bao tình nghĩa,
Cha của con dân nước Việt nầy.

3. Thơ kỷ niệm Hồ Chủ tịch

Cuối những năm tám mươi của thế kỷ trước, tôi được Thành ủy Huế mời đóng góp bài cho cuốn sách Bác Hồ trong lòng dân Huế. Trong tay tôi đã có sẵn bài Ba lần được gặp Cụ Hồ của Hòa thượng Thích Đôn Hậu đã ghi được ngay sau ngày Việt Nam thống nhất, tôi xin bà Tâm Hải Đào Thị Xuân Yến (tức bà Nguyễn Đình Chi), đệ tử của Hòa thượng Thích Đôn Hậu bổ sung thêm bài Vinh dự lớn lao.

Bà Tâm Hải bảo tôi: “Sư bà Thích nữ Diệu Không” rất quý trọng Chủ tịch Hồ Chí Minh, nên xin gặp bà và đề nghị bà viết cho một bài”.

Tôi thực hiện ý kiến của bà Tâm Hải ngay. Nhưng lúc Sư bà Diệu Không lại đi Thành phố Hồ Chí Minh nên chuyện “xin bài” của Sư bà chưa thành. Sau này có dịp lên thăm Sư bà ở chùa Hồng Ân, tôi kể lại chuyện cũ, Sư bà rất tiếc.

Để chứng tỏ gợi ý của bà Tâm Hải là đúng, Sư bà Diệu Không đứng dậy mở tủ lục trong cặp tư liệu lấy đưa cho tôi bài thơ Kỷ niệm Hồ Chủ tịch 3 khổ, đánh máy trên nửa trang giấy Ronéo vàng rộm và một chùm thơ đánh máy trên giấy pơ-luya mỏng. Chùm thơ 16 bài vừa sáng tác vừa dịch, mang tựa đề Thăng Long ký sự. 

Kỷ niệm Hồ Chủ tịch

Giải phóng quê hương khỏi đọa đày
Chí Người như núi vững không lay.
Tình người như nước lan tràn cả,
Kỷ niệm người như một bậc Thầy.
Bậc Thầy cao cả của non sông
Cùng với Thuyền Sư đôi điểm đồng
Cách mạng tình người về nẻo chánh,
Phá vòng nô lệ thoát lao lung.
Lao lung vì chẳng rõ đường ra,
Dẹp hết ma tâm, sạch giống tà.
Cần kiệm thanh cao nuôi chí lớn,
Lòng thành trong sạch nước Nam ta.

Tác giả không ghi thời điểm sáng tác bài thơ này. Theo văn cảnh và ý tứ trong thơ, có lẽ Sư bà đã sáng tác bài Kỷ niệm Hồ Chủ tịch ngay trong những ngày vui đất nước được giải phóng và thống nhất vào cuối tháng 4 đầu tháng 5/1975.

Đối với chùm thơ Thăng Long ký sự, Sư bà ghi rõ thời gian sáng tác “Mùa thu Bính Thìn 1976”, trong dịp Sư bà đi thăm miền Bắc. Trong 16 bài trong Thăng Long ký sự có hai bài thơ dịch: Bài Cảm thời  của Nguyễn Trãi do cụ Cao Xuân Huy (Giáo sư Bác Cổ Hà Nội) sao lục và bài Đi chùa của Hồ Chủ tịch do cán bộ Phật giáo Vũ Ngọc Hồng sao lục tặng Bà. Xin trích bài Đi chùa của Hồ Chủ tịch

Sơn trung tiều phu xướng
Thủy thượng khách thuyền quy.
Như thi trung họa họa
Trung thi kỳ họa thi             

Thích nữ Diệu Không dịch,

Chú tiều trong núi hát
Khách Thuyền trên sông về.
Như thơ trong bức vẽ
Bức vẽ trong lời thi

(Mùa thu Bính Thìn 1976).

Trong chuyến đi thăm Thăng Long Hà Nội cuối năm 1976 ấy, bà đã đến viếng nhiều cảnh, nhiều người như Thăm chùa xưa, Thăm tháp Quảng Đức (chùa Hòa Giai Hà Nội), Thăm tháp Bổn Sư Hồ Chủ tịch, Thăm trường Quảng Bá, Đêm thu trên Hồ Tây, Đi thăm mộ.v.v. và đặc biệt, xin trích bài Sư bà đi:

Thăm lăng Hồ Chủ tịch
Dù người còn mất chẳng hề chi,
Thống nhất non sông mới lạ kỳ.
Bất diệt muôn đời đều nhớ rõ,
Những lời di chúc lúc ra đi.

Tâm và ý của Sư bà đối với Hồ Chủ tịch thể hiện đầy đủ trong thơ của Sư bà. Qua đó ta thấy tâm và ý của một Ni trưởng Phật giáo khác với tâm và ý của các nhà yêu nước khác, khác với các vị lãnh đạo cách mạng đối với Hồ Chủ tịch.

Sư bà là một trong những người biết gia đình Bác từ thuở ấu thơ. Sư bà không những viết về sự nghiệp cứu nước của Bác mà Sư bà cùng đồng hành hoạt động yêu nước, yêu dân với Bác. Tuy nhiên, Bác là người đứng đầu Cách mạng Việt Nam, Sư bà là một Ni trưởng của Phật giáo Việt Nam. Sư bà không phải là người của Bác.

Theo Sư bà, Bác Hồ có “đôi điểm đồng” với Phật giáo. Đôi điểm đồng đó là khát vọng “Giải phóng quê hương khỏi đọa đày”, là “Cách mạng tình người về nẻo chánh/ Phá vòng nô lệ thoát lao lung”. Cách mạng Việt Nam đã thỏa mãn được khát vọng của dân tộc. Bác Hồ trở thành “Bậc Thầy cao cả của non sông“. Dân tộc Việt Nam, trong đó đa số là Phật tử “muôn đời đều nhớ rõ” ơn Bác, ơn Cách mạng Việt Nam.

Gác Thọ Lộc (Huế), tháng 12/2007    

Chú thích:

1.Sư bà Diệu Không thế danh là Hồ Thị Hạnh,  sinh năm 1905 (có nơi ghi 1906) em gái út trong gia đình 9 anh chị em con của cụ Hồ Đắc Trung.

Năm 1930, cô Hạnh lập gia đình với Cử nhân Cao Xuân Xang, sinh được một người con trai (Cao Xuân Chuân), hương lửa chưa quá một năm thì phu quân của bà mất vì bệnh lao.

Từ đó, bà lao vào việc từ thiện xã hội, rồi gởi con cho chị nuôi, bà xuất gia đầu Phật với pháp hiệu Thích nữ Diệu Không. Sư bà đã thành lập nhiều chùa Sư nữ ở miền Nam VN, ba ngôi nổi tiếng nhất  Diệu Đức, Hồng Ân, Kiều Đàm ở Huế.

2.Tức Cao Xuân Tiếu (1865-1939)

3.Tức Cụ Cao Xuân Dục thân sinh của Cao Xuân Tiếu và Cao Xuân Xang.

Tâm Hằng N.Đ.X.
bee.net.vn

Không chỉ là Tết Độc lập…

– Cuộc sống vẫn phải đổi thay. Dù không còn cảm xúc Tết Độc lập nhưng giá trị của Độc lập, Tự do thì chắc hẳn nó vẫn nằm sâu đâu đó trong tâm khảm mỗi người để khi cần thiết nó sẽ  lại được huy động vào một hành động chung…

Tại sao gọi là Tết Độc lập?

Theo nghĩa đen, “Tết Độc lâp” được dành cho Tết Bính Tuất (1946) là cái Tết Nguyên đán cổ truyền đầu tiên được tổ chức trong khung cảnh đất nước đã độc lập sau 80 năm bị đô hộ của thực dân Pháp. Trong bài báo có nhan đề là “Tết” đăng trên “Cứu Quốc”, Bác viết rằng đây là “Tết Xuân đầu tiên của nước Việt Nam Độc lập”.

Giao thừa năm đó, Bác cải trang hoà mình vào dòng người đi lễ và hái lộc trong Đền Ngọc Sơn rồi nửa đêm Bác đi thăm một vài gia đình nghèo nhất, không có Tết và đề nghị lãnh đạo Hà Nội lo Tết cho đồng bào nghèo.

Nhưng “Tết Độc lập” cũng còn được sử dụng trong dân khi đón Lễ Quốc khánh 2/9 kể từ năm khai sinh ra nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà (1945) cho đến nhiều năm về sau.

Sở dĩ như vậy vì theo cách gọi của người xưa chữ “Tết” là biến âm của chữ “tiết” theo nghĩa của Hán tự để nói đến những thời điểm lập lại trong tiến trình vận hành của thời gian trong mỗi năm mà nó mang một ý nghĩa nào đó với đời sống tâm linh hay tín ngưỡng của dân gian.

Theo tâp quán dân gian, ngoài Tết Nguyên đán là mở đầu cho một năm mới; còn rất nhiều sinh hoạt tín ngưỡng cũng được gọi là “Tết”, ví như: Tết Trung Thu, Tết  Đoan Ngọ, Tết Hàn thực (ít nhiều có ảnh hưởng với văn hoá Trung Hoa)… Vì thế, khi người dân Việt Nam gọi Ngày Độc lập (2/9/1945) và những ngày Quốc khánh hàng năm là “Tết Độc lập” là theo cái nghĩa một sự kiện có ý nghĩa như cái mốc mở ra một cái gì tốt đẹp cho cả một dân tộc. Đó là một ngày hội thực sự của những con người nhận thấu được một sự thay đổi to lớn không chỉ với quốc gia mà với chính mỗi con người.

“Tết Độc lập” cũng được sử dụng trong dân khi đón Lễ Quốc khánh 2/9 kể từ năm khai sinh ra nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà (1945). Ảnh dongautaivietnam“Tết Độc lập” cũng được sử dụng trong dân khi đón Lễ Quốc khánh 2/9 kể từ năm khai sinh ra nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà (1945). Ảnh dongautaivietnam

Nhà thơ Nguyễn Đình Thi dùng hình tượng một dân tộc “rũ bùn đứng dậy”, còn những sĩ phu của nền học cổ hay những trí thức của nền học mới thì nhận ra từ cái nhục vong quốc nô trở thành một “dân quốc”, một công dân của một quốc gia độc lập tự do. Còn số đông người dân thì nhận thấy những kẻ cai trị hôm qua như thực dân, quan lại phong kiến giờ đây đã bị tước đoạt hết quyền lực và họ nhận thấy hy vọng của sự “đổi đời” khi thấy mọi thứ đã khác trước.

Tâm trạng của số đông ấy là có thực, với những người cao tuổi thì là một phần ký ức sâu sắc; còn với những người không được sống vào thời điểm lịch sử ấy chúng ta có thể thấy được phần nào sự “thăng hoa” hay “hưng phấn” ấy qua những dấu ấn của đời sống văn hoá, xã hội mà báo chí, các tác phẩm văn chương và nghệ thuật phản ánh lại.

Tết Độc lập “thời lập bàn thờ Tổ quốc là trên hết”

Ý niệm về Tết Độc lập ấy kéo dài qua cuộc kháng chiến chống thực dân để có ngày chiến thắng 1954. Một lần nữa cái cảm nhận về “Tết Độc lập” trở lại sau ngày miền Bắc hoàn toàn giải phóng kéo dài phần nào cho đến trước khi chiến tranh trở lại…

Khi Cách mạng thành công, tôi chưa ra đời. Nhưng tôi có thể thấy phần nào không khí vào thời điểm Thủ đô giải phóng (10/10/1954) với cái Tết giải phóng đầu tiên, năm 1955.

Tôi nhớ hồi đó người ta hay lập các “bàn thờ Tổ quốc” ở nơi công cộng hay ở cả một số gia đình. Trên bàn thờ ngoài những vật thờ như bàn thờ gia tiên thế nào cũng có lá cờ đỏ sao vàng và dòng chữ để cao nơi trang trọng nhất: “Tổ quốc trên hết”.

Hồi đó, tôi còn thấy một tập quán vốn có từ thời Cách mạng mới thành công 1945-1946 là người ta đun những nồi nước chè đặt cửa nhà mình hay nơi công cộng để cho khách vãng lại dùng. Việc đón các chú bộ đội, hay cán bộ miền Nam tập kết về nhà mình là phổ biến.  Một bữa ăn thịnh soạn hơn ngày thường để người ta tập trung ôn lại những ngày đầu “dân quốc” mới cách đó chưa đầy một thập kỷ và những ngày tạm chiếm vừa mới qua…

Rồi không khí “Tết” dường như nhạt dần cùng với những khó khăn về kinh tế, đặc biệt là những rạn vỡ trong quan hệ giữa người với người. Thời kỳ chiến tranh phá hoại mới bùng nổ, gặp khó khăn chung con người có thể bắt đầu hàn gắn và cô kết lại. Người thành phố sơ tán về nông thôn vẫn nhận được những tình cảm chia sẻ rất mộc mạc của người dân quê với câu đầu lưỡi “Ơn Đảng, ơn Bác” các ông các bà mới về đây với chúng tôi. Họ chia sẻ thực sự cái tình đồng bào tưởng chừng đã mất. Và cái không khí “Tết Độc lập” có phần nào trở lại trong thời kỳ chiến tranh ác liệt, cái ý nghĩ chính trị hoà vào trong nếp sống và ứng xử văn hoá… Nhưng chiến tranh qua rồi thì hình như nó lại bắt đầu nhàn nhạt dần, đến hôm nay ít người còn gọi Ngày Quốc khánh là “Tết Độc lập”.

“Có độc lập tự do mà cuộc sống của người dân chưa no ấm, hạnh phúc thì cũng vô nghĩa”

Ý niệm về “Tết Độc lập” đã phai dần trước những thử thách mới. Không phải là chiến tranh, vì với chiến tranh gian khổ hy sinh nhưng người ta còn hy vọng vào ngày chiến thắng. Chính quá trình tìm kiếm con đường phát triển, cùng với nó là một số chính sách, nhất là những “chính sách cải tạo” với hy vọng sẽ xây dựng một xã hội mới tốt đẹp nhưng duy ý chí đã làm đổ vỡ không ít những giá trị tốt đẹp và niềm tin.

Sau những sai lầm trong cải cách ruộng đất dù đã được nỗ lực sửa sai, tiếp đó cải tạo công thương nghiệp tư bản tư doanh, thực chất là tấn công vào sở hữu tư nhân và đội ngũ các nhà công thương đã từng được tôn vinh từ những ngày đầu  nước nhà Độc lập; kể cả cuộc cải tạo xã hội chủ nghĩa ở nông thôn mà tập trung ở quá trình hợp tác hoá ở nông thôn, nhân danh chủ nghĩa tập thể đã tước đoạt phần nào một vài thành quả mà cách mạng và kháng chiến đã đem lại với mục tiêu “ruộng đất cho dân cày” đã khiến cho không khí xã hội mất dần cảm xúc ngày Tết. Còn lại chỉ là những chương trình nặng tính tuyên truyền chính trị pha thêm những quan điểm không tưởng gắn với đấu tranh giai cấp.

Hơn nữa chiến tranh diễn ra trên cả nước khốc liệt nên ít ai nghĩ về Ngày Quốc khánh như những ngày hội mà chủ yếu là những đợt vận động chính trị hướng về tiền tuyến…

Đến nay, dù cuộc sống của nhân dân đã yên bình và ngày một sung túc hơn, nhưng cảm xúc về một ngày Tết Độc lập cũng không còn như trước lâu. Trong khi, các nhà chính trị luôn hướng tâm thức Ngày Tết Nguyên đán tới “Mừng Đảng, mừng Xuân”, xu thế chung ngày Tết người dân thường hướng về đời sống gia đình, tổ tiên và thoả mãn những nhu cầu của chất lượng sống hiện đại như du lịch hay làm từ thiện!

Đó cũng là điều thường tình. Vì nếu trong những buổi đầu Đất nước mới độc lập thì người dân thấy hiểu hơn cái giá trị độc lập vốn là niềm khao khát bấy lâu.

Nhưng để có lại được không khí Tết Độc lập, để không khí đó sẽ trở thành động lực cho con đường mà dân tộc ta sẽ phải tiến nhanh hơn, tiêu chí hàng đầu chính là niềm tin của người dân và tình yêu nước phải được hướng vào những giá trị đích thực.

Với thế hệ hiện tại, sinh ra đã là người dân độc lập rồi, có lẽ người dân thấm câu nói Bác Hồ đã từng đề cập tới từ rất sớm là “Có độc lập tự do mà cuộc sống của người dân chưa no ấm, hạnh phúc thì cũng vô nghĩa”.

Dẫu rằng, nhiều cái tốt đẹp trong quá khứ mất dần là điều khó tránh… Cuộc sống vẫn phải đổi thay. Nhưng chắc chắn rằng, không còn cảm xúc Tết Độc lập nhưng giá trị của Độc lập, Tự do thì chắc hẳn chẳng nó vẫn nằm sâu đâu đó trong tâm khảm mỗi người để khi cần thiết nó sẽ  lại được huy động vào một hành động chung…

Dương Trung Quốc
bee.net.vn

“Việt Nam – Lào đoàn kết chặt chẽ”

– “Việt Nam đoàn kết chặt chẽ. Lào đoàn kết chặt chẽ, Miên (Campuchia) đoàn kết chặt chẽ. Đoàn kết ở đây là đoàn kết trong tinh thần, đoàn kết trong hành động, đoàn kết trong đấu tranh, chứ không phải đoàn kết ngoài miệng”.

Khi nhờ chuyển tặng món quà cho Chủ tịch Souphanuvon một tấm lụa, một thanh kiếm và một bộ quần áo với ý nghĩa được Bác giải thích: “Tấm lụa tượng trưng cho sự mềm mỏng và đại đoàn kết. Đoàn kết chặt chẽ như những sợi tơ trong tấm lụa. Mềm mỏng là để đối với nhân dân. Thanh kiếm là tượng trưng cho sự sắc sảo và kiên quyết. Còn bộ quần áo để tặng cho cán bộ Lào thi đua giỏi nhất”.

Đó là quan điểm về tình đoàn kết liên minh chiến đấu Việt Lào trong kháng chiến chống thực dân Pháp được Bác phát biểu ngày 14/9/1945 tại Hội nghị Cán bộ liên minh Việt Lào.

dNăm 1954, tại Việt bắc, Bác tiếp Hoàng thân Chủ tịch Souphanuvon, Chủ tịch Neo Lào Hắec xạt

14 năm sau, đến thăm Hội nghị Thuỷ lợi toàn miền Bắc họp tại tỉnh Bắc Ninh, Bác phân tích: “Làm thuỷ lợi phải là phong trào của toàn dân, xã này với xã khác, huyện này với huyện khác, tỉnh này với tỉnh khác, đều có liên quan với nhau, phải cùng làm, phải thảo luận với nhau, phải đoàn kết  giúp đỡ lẫn nhau, không nên chỉ nhìn thấy lợi ích của nơi mình mà để thiệt nơi khác”.

“Đánh Pháp đã khó, đánh Mỹ còn khó hơn. Đảng và Chính phủ giao cho các chú vào trong đó cùng với đồng bào miền Nam đánh Mỹ cho kỳ được thắng lợi. Gặp đồng bào thì nói: “Bác Hồ luôn luôn nghĩ đến đồng bào miền Nam”. Lời dặn dò của Bác với Đại tướng Nguyễn Chí Thanh và Thiếu tướng Lê Trọng Tấn trong bữa cơm chia tay các vị tướng lên đường vào mặt trận miền Nam vào trung tuần tháng 9/1964.

X&N
bee.net.vn

Hồ Chí Minh bí mật đến Lư Sơn

Mùa hè năm 1959, cuộc họp Bộ Chính trị mở rộng của Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc được tổ chức tại Lư Sơn. Lúc bấy giờ, đối với quốc tế là một tin tức tuyệt mật. Nhưng lại có một vị nguyên thủ quốc gia của nước ngoài một mình đến Lư Sơn. Người ấy là ai? Người ấy đến Lư Sơn có công việc gì? Câu chuyện bí mật xảy ra cách đây hơn 50 năm đến nay cần được biết rõ.

Một mình lên Lư Sơn

Tháng 8/1959, Chủ tịch Hồ Chí Minh dẫn đầu Đoàn đại biểu Việt Nam sang thăm Liên Xô, lúc về qua Bắc Kinh, nghe ông Trần Nghị nói Mao Trạch Đông và các đồng trí khác đều đang họp tại Lư Sơn, Hồ Chí Minh quyết định một mình đến Lư Sơn. Theo nhật lý của ông Dương Thượng Côn và hồi ký của các nhân vật có liên quan thời kỳ bấy giờ, Hồ Chí Minh ngồi máy bay hàng không dân dụng Trung Quốc cất cánh tại sân bay Bắc Kinh, sáng sớm ngày 9/8, khoảng độ 10 giờ sáng hôm đó đã đến sây bay Thập Lý Phố của thành phố Cửu Giang. Khi Hồ Chí Minh vừa ra khỏi máy bay, các ông Dượng Thượng Côn, Uông Đông Hưng đã đón chờ từ lâu liền mang hoa đến, ông Dương Thượng Côn nói to lên: “Chúc Chủ tịch mạnh khoẻ, Mao Chủ tịch cử chúng tôi đến đón Bác”.

dHồ Chủ Tịch và Thủ tướng Chu Ân Lai

Vì ở Lư Sơn đang có “cuộc họp bí mật”, nên ở Bắc Kinh Hồ Chí Minh đã nói trước là không tổ chức nghi thức đón tiếp, không đưa tin, không xuất hiện công khai. Lúc bấy giờ, Hồ Chí Minh thấy ông Dương Thượng Côn đặc trách xuống núi đón, người liền nói: “Là người cùng một nhà, đã nói trước rằng đừng có xuống núi đón tiếp cơ mà” và tươi cười hai tay nhận lấy bó hoa tươi.

Tiệc đón tiếp

Hai xe cùng lúc chạy theo hướng Lư Sơn, Dương Thượng Côn và Hồ Chí Minh ngồi xe thứ nhất, Uông Đông Hưng, Trình Tiên Hỷ và phiên dịch Việt Nam ngồi xe thứ hai. 12 giờ trưa, hai xe cùng đỗ tại toà biệt thự số 394, Dương Thượng Côn mời Hồ Chí Minh xuống xe, nghỉ ngơi tại đây. Nào ngờ Hồ Chí Minh lắc đầu và kiên quyết nói rằng: “Hiện giờ tôi đi gặp Mao Chủ tịch, tôi muốn sớm được gặp ông ta”.

Hôm ấy tại phòng khách gác 2 biệt thự số 180, đều bày đủ các món ăn, đồng thời bày thêm hai chai rượu Mao Đài. Mao Trạch Đông và các nhà lãnh đạo khác mời Hồ Chí Minh ngồi ở chỗ thượng toạ, Hồ Chí Minh nhìn vào Mao Trạch Đông vừa cười vừa nói: “Ở đây đều là đồng chí anh em cả, ai lớn tuổi thì ngồi thượng toạ”. Mao Trạch Đông với giọng vùng Thiệu Sơn nói to rằng: “Được được, đồng chí Chu Đức lớn tuổi nhất ngồi thượng toạ, liền sau đó là Hồ Chí Minh, Mao Trạch Đông, Chu Ân Lai, Lưu Thiếu Kỳ, Dương Thượng Côn… ngồi theo thứ tự.

Hồ Chí Minh nâng cốc, thay mặt Nhà nước và nhân dân Việt Nam cám ơn những người cộng sản Trung Quốc, và nói rằng: “Chúng ta vừa là đồng chí, vừa là anh em thật sự”. Câu nói ngắn gọn của Hồ Chí Minh làm xúc động nhiều người”.

Sáng sớm đã đột nhiên “mất tích”

Buổi chiều hôm đó, Hồ Chí Minh từ biệt thự số 180 trở về biệt thự số 394. Thể theo quy định thống nhất của cuộc họp, những người quản lý nói chung không ngủ tại toà biệt thự. Trình Tiên Hỷ không ngủ tại toà biệt thự này. Sáng hôm sau, khi anh Hỷ bước vào toà biệt thự 394 cảm thấy rất kỳ lạ, không thấy Bác Hồ, kể cả anh phiên dịch và vệ sĩ cũng tìm không thấy. Đang lúc anh Hỷ nóng ruột cầm điện thoại định hỏi rõ nguyên nhân, thì anh phiên dịch được người lái xe đưa về nhà, nói rằng Bác Hồ một lúc nữa sẽ về, đừng nóng ruột. Vậy Bác Hồ sáng sớm đi đâu, anh phiên dịch nói luôn một câu tiếng Trung Quốc rất mẫu mực là: “Hãy tạm thời giữ bí mật”.

Lúc bấy giờ, Hồ Chí Minh đang ở trước cửa số nhà biệt thự 124 ngay cạnh con đường có cây thông, Bác đang nói chuyện với Lưu Thiếu Kỳ chăng? Không, Bác đang một mình ngồi trên ghế đá ngay trước cửa. Vì Hồ Chí Minh không cho phiên dịch trình bày, cũng không cho phép anh vệ sĩ đi báo cáo, còn Lưu Thiếu Kỳ và thư ký của ông ta vì tối thức khuya, nên chưa ai thức dậy, còn các nhân viên khác đều không nhận ra Hồ Chí Minh, anh quản lý Bành Dục Viêm mấy lần đều hỏi, có cần gọi thủ trưởng thức dậy không, Bác đều tỏ ý không cần thiết, vì chẳng có việc gì cả, ngồi tại đây chờ đồng chí Lưu Thiếu Kỳ ngủ dậy cũng chẳng sao.

Hồ Chí Minh nói tiếng Trung Quốc lưu loát, ăn mặc giản dị, trên đầu lại đội chiếc mũ vải màu ghi, người ta khó mà nhận ra ông già gầy còm này là một nguyên thủ nước ngoài. Khoảng độ 30 phút, Lưu Thiếu Kỳ ngủ dậy, cậu Viêm mới thông báo tình hình này, thư ký riêng mới mở cửa ra ngó nhìn, vào báo cho Lưu Thiếu Kỳ ra ngoài cửa mời Hồ Chủ tịch vào trong nhà.

Lưu Thiếu Kỳ cùng Hồ Chí Minh xem kịch Giang Tây

Tối ngày 11/8, Trình Tiên Hỷ đưa Hồ Chí Minh đến kịch viện nhân dân Lư Sơn xem vở kịch Truy ngưthuộc loại kịch của tỉnh Giang Tây. Vì quãng đường rất gần, Hồ Chí Minh không lên xe, mấy người cuốc bộ đến kịch viện. Khi đến kịch viện, đã trông thấy Lưu Thiếu Kỳ đứng đợi trước cửa. Khi thấy Hồ Chí Minh, Lưu Thiếu Kỳ liền bước đến gần nói: “Hồ Chủ tịch, Mao Chủ tịch dặn dò tôi đến cùng với Chủ tịch xem vở kịch này”. Tiếp đó, Hồ Chí Minh đi trước, bước vào kịch viện. Vở kịch Truy ngư là vở kịch xuất sắc của Đoàn kịch tỉnh Giang Tây, về lối hát, động tác và ánh đèn đều thuộc loại hạng nhất. Hồ Chí Minh chăm chú xem, cho tới lúc nghỉ nửa buổi, mới hỏi Lưu Thiếu Kỳ: “Về kịch Giang Tây với Kinh kịch, cách hát rõ ràng có khác nhau, song động tác múa trong vở kịch thì khác nhau không nhiều?” Ngày thường, Lưu Thiếu Kỳ ít khi bỏ thì giờ đi xem phim, còn xem kịch lại càng ít, nên đành thú thật nói rằng: “Tôi rất ít đi xem kịch, nghe nói các động tác trong Kinh kịch là hay nhất trong các loại kịch, nên các loại kịch khác cũng phỏng theo Kinh kịch”. Hồ Chí Minh liền gật đầu nói: “Loại kịch Giang Tây chưa được trình diễn ở Việt Nam, song Việt kịch của Quảng Đông thì ở Việt Nam được người ta hoan nghênh, Việt kịch tương đối chú trọng cách hát”.

Bị các đồng chí nữ đòi ăn kẹo cưới

Chiều ngày 12/8, đội quân nữ giới xông vào, trong đó có bà Thái Xướng vợ Lý Phú Xuân, bà Đặng Dĩnh Siêu vợ Chu Ân Lai, bà Khang Khắc Thanh vợ Chu Đức, bà Vương Quang Mỹ vợ Lưu Thiếu Kỳ cùng một số người nữ khác, nét mặt của các bà tươi cười, ai nấy đều mời Hồ Chí Minh ở lại thêm vài ngày nữa tại Lư Sơn.

Hồ Chí Minh nói: “Được được, khi nào Việt Nam thống nhất, tôi sẽ ở Lư Sơn trên nửa năm hay một năm gì đó”.

Bà Thái Xướng nói một cách lắt léo rằng: “Xin đừng đến một mình nhé”.

“Lẽ tất nhiên, tôi sẽ mời một số đồng bào cùng tôi sang đây ở”.

“Không, chỉ mời Bác và phu nhân”.

Bác cười, rồi nói thư thả: “À, té ra Đặng Dĩnh Siêu góp ý kiến trên hội đồng phụ nữ không muốn làm chiếc áo bông sợi tơ cho tôi là như thế này đấy”.

Một bà nhanh nhảu nói rằng: “Đúng vậy, bây giờ Bác nên lấy một bà vợ cách mạng, đừng có cứ bóc lột bà Đặng Dĩnh Siêu mãi”, trong phòng vang lên tiếng cười khà khà.

Hồ Chí Minh lâu nay vẫn sống một mình. Bao năm nay nhiều đồng chí Việt Nam và Trung Quốc đều quan tâm đến việc hôn nhân của Bác. Song khi còn trẻ, Bác đã có chí hướng: Tổ quốc không độc lập không thống nhất sẽ không kết hôn. Như vậy, những người bạn cũ quen biết lâu năm như Chu Ân Lai và Đặng Dĩnh Siêu đành phải thường xuyên quan tâm đến sự mặc ấm cúng của anh cả này. Năm 1957, bà Đặng Dĩnh Siêu đã tự mình làm chiếc áo bông sợi tơ cho Bác.

Các đồng chí nữ luôn miệng nói đùa rằng: “Khi Hồ Chủ tịch sang đây lần nữa, chúng tôi phải đòi bác cho ăn kẹo cưới”.

6 giờ 30 phút sáng ngày 13/8, chiếc xe con đỗ ngay trước cửa toà biệt thự số 394. Trước lúc chia tay, Hồ Chí Minh tặng cho mỗi người làm việc trong biệt thự một cuốn sổ tay có mang chữ ký của Bác và huy hiệu kỷ niệm “Việt Trung hữu hảo”, đồng thời chụp ảnh kỷ niệm chung với mọi người làm việc ở đây.

(Trần Thiện – Xưa & Nay, số 331, 5 – 2009)
bee.net.vn

Chuyện 1 liệt sĩ Thành cổ từng được chụp ảnh với Bác

– Quay sang Lâm, Bác nói: “Vì hành động dũng cảm của cháu, Bác đã tặng cháu huy hiệu. Chúc cháu luôn học giỏi, tiến bộ và bơi giỏi hơn nữa! Bây giờ, Bác thưởng cho cháu được ngồi với Bác trên hàng ghế chủ tịch đoàn”. Câu chuyện về liệt sĩ Thành cổ từng được chụp ảnh với Bác, được kể lại 37 năm sau ngày mất của anh.

… Học kì  2 năm học 1964- 1965, do giặc Mỹ mở rộng chiến tranh phá hoại ra miền Bắc mà Lâm cùng 2 em được theo trại nội trú của Bộ Công an sơ tán về Thuận Thành, Hà Bắc (bố Lâm là Cục trưởng Cục Cảnh vệ nên con được sơ tán theo trại). Vùng quê nghèo ven bờ sông Đuống năm học này ríu rít tiếng học trò Hà Nội về.

Chiều  ấy, Lâm theo chúng bạn ra sông tắm. Vừa tới bờ sông thì thấy một bạn gái đang chới với dưới nước. Cô giáo từ trên bờ vội nhảy xuống cứu. Nhưng cả 2 cô, trò không biết bơi. Cố vùng vẫy rồi chìm dần, chìm dần.

Anh Nguyễn Lâm khi đó được ngồi ghế đoàn Chủ tịch với Bác Hồ. Ảnh do gia đình nhân vật cung cấp.Anh Nguyễn Lâm khi đó được ngồi ghế đoàn Chủ tịch với Bác Hồ. Ảnh do gia đình nhân vật cung cấp.

Theo phản xạ, Lâm lao như mũi tên xuống dòng. Nhớ anh trai dặn khi cứu người chết đuối phải vòng ra phía sau lưng, túm lấy tóc hoặc ôm lấy cổ rồi bơi ngửa, dìu họ vào bờ. (Người bị nạn cuống quýt mà ôm chặt lấy mình thì chết cả). Như con rái cá, Lâm lặn sâu rồi quàng tay vào cổ bạn, bơi ngửa, dìu vào bờ. Sau đó quay ra đón cô. Chuyện chỉ đơn giản có vậy.

Biết tin có cháu nhỏ dũng cảm cứu bạn, Bác Hồ gửi huy hiệu tặng Lâm, biểu dương “người tốt, việc tốt”.

Tháng 8/1965, tổ chức Đoàn các cơ quan Trung ương tổ chức “Đại hội “3 sẵn sàng” chống Mỹ cứu nước”. Các tấm gương lao động, chiến đấu điển hình được mời về dự. Trong đại hội, hầu hết đại biểu là thanh niên, riêng thấy có 2 gương mặt thiếu niên – Nguyễn Lâm cùng Lưu Kim Oanh (diễn viên nhí của Đoàn Xiếc TW).

Bác Hồ  đã đến dự. Từ trên Chủ tịch đoàn, thấy có cháu bé ngồi hàng ghế đại biểu, Bác hỏi: “Cháu bé có thành tích gì mà được mời dự?”. “Dạ, đó là cháu Nguyễn Lâm có thành tích dũng cảm cứu bạn đấy ạ!”, chú thư kí trả lời.  “Vậy mời cháu lên đây!”.

Nguyễn Lâm  được các chú gọi lên, đứng trước mặt Bác. Xoa đầu Lâm, Bác âu yếm hỏi:

 –   Cháu tên là gì?

–   Dạ, Nguyễn Lâm ạ!

–   Thế cháu bao nhiêu tuổi?

–   Dạ, 12 ạ!

–   Cháu con ai?

–   Dạ, con bố Hoàng Hữu Kháng ạ!

–   A, thế ra cháu là con bố Kháng trong tổ bảo vệ cho Bác thời kì kháng chiến chống Pháp? Nghe các chú báo cáo, cháu dũng cảm, lao xuống sông cứu bạn. Thế cháu học bơi ở đâu?

–   Dạ, khi chưa đi sơ tán, cháu hay được theo bố vào CLB Ba Đình. Tại đây có bể bơi nên bố cháu và anh Sơn dạy cho biết bơi.

   –   Cháu biết bơi gì?

–   Cả bơi ếch, bơi sải ạ.

–   Các cô các chú có thấy không – Bác quay sang bên – cháu Lâm nhỏ tuổi mà đã có hành động dũng cảm. Qua đây chúng ta rút ra bài học: không chỉ dạy cho các cháu học văn hóa giỏi mà còn phải dạy cả thể thao, bơi lội, phải xây dựng cho các cháu tình yêu thương con người và lòng dũng cảm, dám hy sinh bản thân cứu người. Cháu Lâm là tấm gương sáng cho thanh, thiếu niên ta học tập…

Quay sang Lâm, Bác nói: “Vì hành động dũng cảm của cháu, Bác  đã tặng cháu huy hiệu. Chúc cháu luôn học giỏi, tiến bộ và bơi giỏi hơn nữa! Bây giờ Bác thưởng cho cháu được ngồi với Bác trên hàng ghế chủ tịch đoàn”.

Tháng 10 năm ấy, Lâm nhập trường Thiếu sinh quân Nguyễn Văn Trỗi, đóng quân ở An Mỹ, Đại Từ, Thái Nguyên. Và chuyện này Lâm chưa kể với ai. Phải 37 năm sau ngày bạn hy sinh, chúng tôi mới biết. Xin cảm ơn gia đình đã cung cấp bức ảnh tư liệu vô giá cùng câu chuyện cảm động này! Xin ghi lại như 1 nén tâm nhang tưởng nhớ đến Nguyễn Lâm – LS Thành cổ!

  • Trần Kiến Quốc

bee.net.vn