Tag Archive | Hồ Chí Minh

Tôi vẽ Bác Hồ (*)

… Khi thấy tôi vẽ cái bàn làm việc của Bác trong một bức tranh, các đồng chí phục vụ Bác hỏi tôi:

– Anh biết chuyện cái bàn này chưa?

– Chưa.

– Khi trước chưa có cái bàn này Bác vẫn phải ngồi xếp bằng, làm việc trước một cái bàn con. Nhìn Bác già yếu mà phải khom lưng mãi thế, thương quá, chúng tôi mới bàn nhau kiếm cái bàn này. Bác đi công tác về, thấy cái bàn. Bác bảo: Làm việc với cái bàn con trên nhà đấy, đủ rồi, các chú phải nhọc công tìm kiếm làm gì?

Có lần, anh Ðịnh, người nấu ăn cho Bác thấy Bác làm việc nhiều, nghe người ta nói rượu ba ba uống bổ lắm, anh tìm mua một con ba ba, lấy tiết pha rượu dâng Bác. Thấy cốc rượu, Bác hỏi:

– Gì đấy chú?

– Thưa Bác, rượu ba ba.

– Ở đâu vậy. Chú mua đấy à?

Anh Ðịnh sợ quá phải nói dối:

– Dạ, con ba ba cháu bắt được. Nghe đồng bào nói rượu huyết ba ba người lớn tuổi uống khỏe ra. Cháu làm để Bác dùng…

– Thôi, Bác không uống đâu. Bác cho chú đấy.

Lúc đó là sáng sớm. Anh Ðịnh ấp úng không biết nói sao, đành phải mang xuống nhưng lòng áy náy không yên. Khoảng chín giờ, anh lại bưng cốc rượu lên. Bác lại hỏi:

– Gì đấy chú?

– Dạ, cháu nghe nói rượu ba ba bổ lắm. Bác mệt…

– Bác đã nói là Bác không uống đâu.

Anh Ðịnh đành mang xuống lần thứ hai. Trưa đến lúc Bác ngồi ăn cơm, lại thấy cốc rượu ban sáng trên bàn. Bác nhìn anh Ðịnh mỉm cười rồi cầm cốc rượu uống. Nhưng Bác chỉ uống một nửa, còn một nửa, Bác đưa lại:

– Bác uống thế là đủ rồi. Phần này Bác cho chú đấy!

Mỗi bữa Bác chỉ ăn hai bát cơm. Tôi ái ngại, hỏi Bác:

– Cháu thấy Bác ăn ít quá, sức khỏe có kém không?

– Bác ăn thế, thấy sức khỏe cũng bình thường.

Tôi bày anh Ðịnh làm thêm nhiều món, biết đâu lạ miệng có khi Bác ăn được nhiều chăng? (Mà nào có gì đâu, chỉ là rau rừng, đọt bí, măng nứa vậy thôi). Nhìn cơm, nhìn thức ăn, Bác nói với anh em:

– Hôm nay các chú làm cơm cho Bác nhiều quá. Bác ăn còn thừa, đổ đi cũng không ai biết, nhưng Bác không nỡ. Ðồng bào mình còn đang thiếu thốn…

Một cái bàn, một vài bát cơm, một hai đĩa rau có gì là nhiều? Nhưng Bác vẫn không muốn nhận cho mình bất kỳ một cái gì nhiều hơn người khác, tuy rằng công việc của Bác nặng nề, to lớn hơn bất kỳ người nào khác.

Một hôm thấy Bác thay áo ra, có đồng chí phục vụ vội cầm xuống suối giặt. Anh vừa ngồi xuống tảng đá, thì có tiếng người gọi, anh vội bỏ áo đấy chạy đi. Một lát sau, trở lại không thấy cái áo đâu. Anh lo quá, cứ men theo suối đi tìm. Tìm mãi vẫn không thấy, anh đành về thưa thật với Bác, Bác cười nói:
– Bác xuống suối thấy áo, Bác đã giặt và phơi kia rồi. Lần sau chú đừng bỏ như thế nhỡ nước lũ trôi mất, lãng phí…

————-

(*) Theo Diệp Minh Châu – Trích trong cuốn sách Bác Hồ sống mãi với chúng ta – (NXB CTQG, HN, 2005, T2, trang 520).

Theo nhandan.com.vn
Huyền Trang (st)

bqllang.gov.vn

“Đồng bào miền Nam vẫn yêu quý tôi”

– Ngày 14/7/1969, Bác tiếp và trả lời nữ nhà báo Cuba Marta Rojat, phóng viên của tờ “Granma”.

Về tình cảm của mình đối với đồng bào miền Nam, Bác tâm sự: “Mỗi người, mỗi gia đình đều có nỗi đau khổ riêng và gộp cả những nỗi đau khổ riêng của mỗi người, mỗi gia đình lại thì thành nỗi đau khổ của tôi.

Tôi nghĩ rằng tôi chưa làm trọn nghĩa vụ cách mạng của tôi đối với đồng bào miền Nam; mặc dù vậy tôi biết rằng đồng bào miền Nam vẫn yêu quý tôi cũng như tôi luôn luôn yêu quý đồng bào. Ở miền Nam, tôi không phải là Chủ tịch Hồ Chí Minh mà là Bác Hồ”.

Bác Hồ với thiếu nhi Cuba ở Hà NộiBác Hồ với thiếu nhi Cuba ở Hà Nội

Phân tích sức mạnh của dân tộc Việt Nam đang đương đầu với với cuộc chiến tranh của đế quốc Mỹ, Bác nói: “…Sức mạnh, sự vĩ đại và sự bền bỉ của nhân dân Việt Nam cơ bản là ở sự đoàn kết của nhân dân Việt Nam và sự ủng hộ của nhân dân thế giới…”.

Với nhân dân Cuba, Bác bày tỏ: “Tôi muốn đồng chí chuyển về Cuba những lời sau đây: Tôi vô cùng yêu mến nhân dân Cuba. Tôi xin gửi lời chào đến toàn thể nhân dân Cuba, từ các đồng chí lãnh đạo đến các cháu thiếu nhi.

… Chúc các bạn thu được nhiều thành tựu trong mùa mía mười triệu tấn. Cho tôi gửi những cái hôn nồng nhiệt đến các cháu thiếu nhi và thanh niên. Đồng thời, tôi cũng chúc nhân dân các nước khác ở châu Mỹ Latinh tự giải phóng khỏi ách thống trị của đế quốc Yankee (Mỹ)”.

Kết thúc bài trả lời phỏng vấn, một lần nữa Bác khẳng định: “Chúng tôi sẽ tiếp tục đấu tranh và quyết chiến thắng. Chúng tôi đã nói như vậy và chúng tôi khẳng định lại như vậy”.

X&N
bee.net.vn

Việt Nam chiến đấu theo những lý tưởng dân chủ

– Ngày 11/7/1946, một ngày tiếp xúc bận rộn của Chủ tịch Hồ Chí Minh tại Pháp với bà con Việt kiều và nhiều tổ chức chính trị, xã hội và chính khách Pháp trong đó có Tổng hội Giáo học Pháp, Hội Pháp-Việt hữu nghị trong đó có nhiều nhân vật nổi tiếng trong giới trí thức như nhà thơ Aragon, nữ bác học Marie Curie, lãnh đạo Đảng cộng sản M.Thorez, Bộ trưởng Pháp quốc hải ngoại M.Moutet … và cả Thủ tướng G. Bidault.

Trong lúc tiếp Hội Pháp-Việt hữu nghị, “một tổ chức do những người Pháp có danh vọng lập ra, ủng hộ cuộc độc lập Việt Nam, hễ ai đồng tình với Việt Nam là được vào hội”, vị Chủ tịch của nước Việt Nam độc lập bày tỏ: “Tôi không tìm cách giấu nỗi cảm động của tôi trong lúc này… Các Ngài cũng thấy lòng mong ước mạnh nhất của tôi, sự quan tâm nhất của nước Cộng hoà Việt Nam, nguyện vọng tha thiết nhất của dân tộc Việt Nam là thực hiện được tình thân thiện Pháp-Việt…

Nước Pháp của cuộc Đại Cách mạng 1789, nước Pháp của cuộc kháng Đức, của cuộc giải phóng đã tượng trưng hơn bao giờ hết lý tưởng tự do, dân chủ. Và nước Việt Nam chiến đấu giành độc lập chỉ là theo những lý tưởng dân chủ mà dân tộc Pháp là người tiên phong”.

Ngày Ngày 11/7/1946, Bác đến dự tiệc do Hội Pháp – Việt tổ chức

Ngày hôm sau, 12/7/1946,  Chủ tịch Hồ Chí Minh tiếp tục các cuộc gặp gỡ với các giới Việt kiều, nhiều chính khách trong đó có cả cựu Thủ tướng Léon Blum. Chủ tịch cũng trả lời nhiều câu hỏi của báo chí Pháp.

Với câu hỏi rằng phải chăng trong vòng 50 năm tới chưa thể cộng sản hoá được Việt Nam?, Bác trả lời: “Tất cả mọi người đều có quyền nghiên cứu một chủ nghĩa. Riêng tôi, tôi nghiên cứu chủ nghĩa Các Mác.

Cách đây 2000 năm, Đức Chúa Giêsu đã nói là ta yêu mến các kẻ thù của ta. Điều đó đến bây giờ vẫn chưa thực hiện được. Còn khi nào chủ nghĩa Các Mác thực hiện thì tôi không thể trả lời được .

Muốn cho chủ nghĩa cộng sản thực hiện được, cần phải có kỹ nghệ, nông nghiệp và tất cả mọi người đều được phát triển hết khả năng của mình. Ở nước chúng tôi những điều kiện ấy chưa có đủ”.

Về vấn đề Nam Kỳ, một lần nữa người đứng đầu nhà nước Việt Nam khẳng định: “Nam Kỳ cùng một tổ tiên với chúng tôi… Người Nam Kỳ nói tiếng Việt Nam, tại sao lại còn nghĩ đến sự cản trở thống nhất Việt Nam?… Nam Kỳ là đất của Việt Nam. Đó là thịt của thịt Việt Nam, là máu của máu Việt Nam”.

Về quan hệ với nước Pháp, Chủ tịch Hồ Chí Minh xác nhận: “Chúng tôi quyết không hạ thấp chúng tôi. Mà chúng tôi cùng không hạ thấp nước Pháp. Chúng tôi không muốn đẩy người Pháp ra khỏi Việt Nam.

Nhưng chúng tôi nói với họ: Các nguời hãy phái đến nước chúng tôi những kỹ sư, những nhà khoa học, những vị giáo sư, phái đến những người họ biết yêu chuộng chúng tôi. Nhưng chớ phái qua những người muốn bóp cổ chúng tôi. Việt Nam cần nước Pháp, nước Pháp cũng cần đến Việt Nam”.

X&N
bee.net.vn

“Tuyệt đối không nên báo cáo mơ hồ, giả dối”

– Ngày 10/7/1954,  trên tờ “Nhân Dân” của Đảng, với bút danh “C.B” quen biết với công chúng, Chủ tịch Hồ Chí Minh đề cập tới một phương thức làm việc quan trọng để bảo đảm công tác lãnh đạo. Đó là một vấn đề tưởng chừng chẳng mấy quan trọng: “Gửi báo cáo và xin chỉ thị”.

Bài báo đặt câu hỏi: “Vì sao Đảng phải giữ vững chế độ ấy?” và trả lời: “Vì có như vậy, cấp trên mới kịp thời hiểu rõ tình hình, nêu lên nhiệm vụ, định ra kế hoạch, động viên quần chúng, để thực hiện chính sách của Đảng. Cấp dưới mới thấy rõ đường lối, thấm nhuần chính sách tránh khỏi sai lầm, làm tròn nhiệm vụ. Đồng thời, kinh nghiệm của nơi này có thể phổ biến và giúp nơi khác. Nếu cấp dưới không báo cáo kịp thời và đầy đủ thì cấp trên không hiểu rõ tình hình thực tế, không giúp đỡ được cấp dưới. Và cấp dưới sẽ gặp nhiều lúng túng, sai lầm”.

Tháng 7/1954, Chủ tịch Hồ Chí Minh chụp chung với các ông Phạm văn Đồng, Trường Chinh và Võ Nguyên GiápTháng 7/1954, Chủ tịch Hồ Chí Minh chụp chung với các ông Phạm văn Đồng, Trường Chinh và Võ Nguyên Giáp

Bằng cách viết giản dị như một tài liệu hướng dẫn nghiệp vụ, bài báo đặt vấn đề: “Ai phụ trách viết thỉnh thị báo cáo? Và báo cáo nên thế nào?” và giải đáp: “Bí thư các cấp phải phụ trách, không thể giao việc ấy cho một cán bộ khác. Viết báo cáo thì các tài liệu phải nghiên cứu kỹ, xét lại kỹ  và phải đúng sự thật. Phải toàn diện, phải nắm khâu chính. Phải nắm tình hình lúc đó và nơi đó thi hành chính sách của Đảng thế nào; tư tưởng của cán bộ và quần chúng thế nào? Phải có phân tích và kết luận. Phải nêu cả ưu điểm và khuyết điểm. Tuyệt đối không nên báo cáo một cách mơ hồ, giả dối, chỉ nói cái tốt mà giấu diếm cái xấu.

Mỗi việc quan trọng, thì trước khi làm phải báo cáo rõ kế hoạch và thời hạn công tác. Trong khi làm thì báo cáo rõ công việc phát triển thế nào? Khi làm xong thì phải báo cáo tổng kết kinh nghiệm.

Có như vậy, trong Đảng ý chí mới nhất trí, lãnh đạo mới thống nhất, đoàn kết mới chặt chẽ, kinh nghiệm mới dồi dào, mọi việc mới kịp thời và thành công… Cán bộ các cấp phải hiểu rằng: chế độ thỉnh thị và báo cáo là rất quan trọng và mỗi cán bộ phụ trách phải kiên quyết làm đúng chế độ ấy”.

Đấu tranh chống lề thói quan liêu là một trong những mục tiêu hàng đầu nhằm bảo đảm sức mạnh lãnh đạo của một tổ chức cách mạng. Đó là một cuộc phấn đấu không dễ dàng và lề thói quan liêu chính là một trong những yếu tố làm mất sức chiến đấu và mất cán bộ của tổ chức cách mạng mà Bác luôn là người đi đầu trong cuộc đấu tranh gian khổ đó.

X&N
bee.net.vn

Đại hội Anh hùng và Chiến sĩ thi đua

 – Ngày 7/7/1958 là ngày khai mạc Đại hội Anh hùng và Chiến sĩ thi đua công, nông, binh toàn quốc lần thứ II nhằm biểu dương thành tích của những năm hoà bình đầu tiên, khôi phục kinh tế miền Bắc.

Trong bài phát biểu, Bác nhấn mạnh đến sự phát triển vượt bậc của phong trào thi đua đã xuất hiện nhiều anh hùng hơn, thuộc nhiều ngành nghề, vùng miền, thành phần xã hội hơn trước.

Bác nói: “Ở Đại hội lần thứ nhất có 7 anh hùng, trong đó có 4 anh hùng quân đội… Đại hội lần này, chúng ta có 26 anh hùng Lao động và 69 Anh hùng Quân đội… có anh hùng và chiến sĩ lao động chân tay và trí óc, đủ các ngành và các dân tộc anh em…, có 5 anh hùng là phụ nữ… có 6 anh hùng là đồng bào miền Nam tập kết…”.

fNgày 7/7/1960, Bác và các đại biểu nữ trong QH khoá II trước kỳ họp thứ nhất.

Người đề xướng phong trào thi đua ái quốc khẳng định “Anh hùng, chiến sĩ thi đua là những người tiên phong trong sản xuất mà cũng là gương mẫu về đạo đức cách mạng. Họ đặt lợi ích chung của dân tộc lên trên lợi ích riêng của cá nhân. Họ toàn tâm toàn ý phục vụ nhân dân chứ không nửa tâm, nửa ý. Họ không sợ khó nhọc, ra sức vượt mọi khó khăn để hoàn thành và hoàn thành vượt mức nhiệm vụ mà Đảng và Chính phủ giao cho họ, chứ họ không suy bì hơn thiệt của cá nhân, không ganh tị về địa vị và hưởng thụ, không giấu nghề, không dìm những anh em chung quanh mình, không tự kiêu, tự mãn, tự tư, tự lợi. Đó là những đức tính cách mạng mà chúng ta cần phải học tập các anh hùng, chiến sĩ thi đua”.

Bác còn căn dặn: “Các anh hùng, chiến sĩ thi đua cần nhận rõ rằng: thành tích là thành tích chung của tập thể. Tách rời tập thể thì dù tài giỏi mấy, một cá nhân cũng không làm được gì. Cho nên càng có thành tích thì càng phải cố gắng, càng phải khiêm tốn”.

Cùng ngày Chủ tịch Hồ Chí Minh ký sắc lệnh tặng danh hiệu Anh hùng Lao động cho 26 tấm gương xuất sắc nhất trong phong trào thi đua yêu nước.

X&N
bee.net.vn

Bác Hồ với trí thức Việt Nam

Một trong những phong cách lớn của Hồ Chí Minh là rất lắng nghe tiếng nói của trí thức. Không những Bác trân trọng nghe ý kiến mà còn rất quan tâm đến những vấn đề, những khó khăn, hoàn cảnh cụ thể của từng người để tạo điều kiện cho trí thức làm việc tốt hơn.

Hầu như không có một trí thức lớn nào làm việc cho Chính phủ mà không từng được Bác Hồ gửi thư thăm hỏi, gửi quà, gửi áo, gửi thuốc, khi có điều kiện thì tới thăm, xem xét từ chỗ ăn, chỗ ở, điều kiện làm việc. Đó là một liều thuốc trường sinh rất mạnh đối với tâm hồn những trí thức VN.

Cũng như Lênin, Bác Hồ không quan niệm một cách máy móc rằng cách mạng vô sản là việc của giai cấp vô sản và sau khi cách mạng thành công thì giai cấp vô sản đương nhiên phải nắm chính quyền.

Lênin quan niệm rằng để phục vụ lợi ích của giai cấp vô sản, cách tốt nhất là đưa những người có tri thức tương xứng vào những vị trí quản lý quốc gia. Lênin đã từng tuyên bố sẵn sàng đổi hàng trăm người cộng sản không biết công việc lấy một người trí thức biết công việc.

Hồ Chí Minh cũng vậy. Bác quan niệm rằng cách tốt nhất để phục vụ lợi ích của công nông là phải đưa những người có đủ tài, đủ đức vào bộ máy nhà nước để phụng sự lợi ích của người lao động. Ở Hồ Chí Minh, phạm trù yêu nước là bình đẳng giữa mọi tầng lớp nhân dân. Yêu nước, yêu chế độ không phải là độc quyền của riêng một giai cấp nào.

Từ cách nhìn đó, Hồ Chí Minh đã mạnh tay sử dụng trí thức trong bộ máy nhà nước. Nhờ đó mà sau cách mạng, tất cả các lĩnh vực như tổ chức chính phủ, phát triển nông nghiệp, phát triển công nghiệp, phát triển văn hóa – giáo dục… đã có những bước chuyển biến thần kỳ trong những điều kiện vô cùng khó khăn.

Đối với trí thức, Hồ Chí Minh thể hiện một sự trân trọng thật sự. Đã giao việc là giao quyền. Đã giao quyền là hoàn toàn tin tưởng. Một trong những thí dụ tiêu biểu là trường hợp ông Phan Anh, một người không phải là đảng viên cộng sản vẫn được giao chức bộ trưởng Bộ Quốc phòng.

Sau này ông Phan Anh kể lại: “Tôi không phải là cộng sản. Đến nay vẫn không phải là đảng viên. Nhưng tôi cộng tác với đảng. Trong Chính phủ đầu tiên, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã cử tôi làm bộ trưởng Bộ Quốc phòng và để cho tôi chủ động tìm lấy những cục trưởng của 7-8 cục. Họ đều là anh em trí thức, trong đó chỉ có một người là đảng viên. Điều mấu chốt là Chủ tịch Hồ Chí Minh áp dụng chính sách tín nhiệm đối với trí thức”.

Trong việc sử dụng trí thức, Hồ Chí Minh không bao giờ áp đặt, không bao giờ tỏ ý lên mặt dạy đời. Bác là người uyên bác, có thể còn ở trên tầm tư duy của bản thân trí thức, nhưng có lẽ chính vì vậy nên bao giờ cũng giản dị, khiêm tốn. Đó cũng là một phong cách rất trí thức, được trí thức ghi tạc, truyền tụng.

Chính vì vậy, Hồ Chí Minh có một sức hút phi thường đối với các tầng lớp nhân dân, kể cả những trí thức kiêu sang nhất, khó tính nhất. Hầu hết các trí thức VN đều suy nghĩ: Nếu không phải Hồ Chí Minh thì có lẽ khó có ai tập hợp được bấy nhiêu nhân tài của đất nước. Quả đúng như vậy.

Biết bao nhiêu trí thức đã bỏ nhà cửa đi lên chiến khu. Đỗ Đình Thiện dành cả đồn điền để làm xưởng đúc tiền, Huỳnh Thiện Lộc hiến cả 5.000 mẫu đất cho Chính phủ để lên rừng theo kháng chiến; những nhà khoa bảng lớn như: Trần Đại Nghĩa, Tôn Thất Tùng, Trần Hữu Tước, Trần Đức Thảo, Đặng Vũ Hỷ… đã bỏ vinh hoa phú quí ở thị thành, bỏ cả nước Pháp hoa lệ để theo kháng chiến. Mà với họ, động lực trực tiếp theo kháng chiến luôn đồng nghĩa với việc: theo Hồ Chí Minh.

Đó là một bài học quí giá có ý nghĩa muôn đời.

Theo GS Đặng Phong
Tuổi Trẻ
dantri.com.vn

Suy ngẫm về điều mong muốn cuối cùng của Bác Hồ

TT – Cùng với “muôn vàn tình thân yêu” gửi lại cho cuộc đời này,  Bác Hồ kết thúc bản di chúc bằng “Điều mong muốn cuối cùng của tôi là : toàn Đảng, toàn dân ta đoàn kết phấn đấu, xây dựng một nước Việt Nam hòa bình, thống nhất, độc lập, dân chủ và giàu mạnh, và góp phần xứng đáng vào sự nghiệp cách mạng thế giới”.

Theo lời kể của ông Vũ Kỳ trong Bác Hồ viết Di chúc, bốn năm suy ngẫm để chỉ viết có một nghìn chữ ! Sau bốn năm xem lại lần cuối Bác cũng chỉ sửa có ba từ!

Ở đây không là chuyện kiệm chữ, kiệm lời. Ở đây là sự dồn nén cô đọng của ý tưởng và tình cảm.  Tư tưởng tình cảm như đã được “chưng cất” để chỉ giữ lấy cái tinh túy nhất, sáng tỏ nhất.

Vì thế, đọc kỹ nội dung “điều mong muốn cuối cùng” của Hồ Chí Minh, chúng ta ngộ ra được rằng: với thời gian, chân lý bỗng vụt sáng lên từ trong những câu chữ vốn rất dung dị, thô mộc hết sức quen thuộc trong đời sống hằng ngày, khiến người ta đôi khi cứ ngỡ như không còn gì để mà suy ngẫm nữa.

Nhìn trở lại hành trình lịch sử của Bác Hồ tìm đường cứu nước, quanh một vòng trái đất để trở về xúc động với nắm đất của Tổ quốc trên tay, rồi những lời “dặn lại công việc” khi bị bệnh nặng sợ khó qua khỏi trong một lán nhỏ ở Tân Trào, Việt Bắc: “Lúc này thời cơ thuận lợi đã tới, dù hi sinh tới đâu, dù phải đốt cháy cả dãy Trường Sơn cũng phải kiên quyết giành cho được độc lập”, cho đến khi đọc Tuyên ngôn độc lập khai sinh ra nước VN dân chủ cộng hòa…, cuối cùng là Di chúc với “điều mong muốn cuối cùng” của Người.

Qua đó, nổi rõ lên một điều: độc lập cho dân tộc, tự do và hạnh phúc cho nhân dân là mục tiêu trước sau như một của Hồ Chí Minh. Người nói “lúc đầu, chính là chủ nghĩa yêu nước chứ chưa phải chủ nghĩa cộng sản đã đưa tôi tin theo Lênin, tin theo Quốc tế thứ ba”. Cho đến “lúc cuối”, trong toàn bộ Di chúc của Người cũng thể hiện nhất quán “chủ nghĩa yêu nước” đó, thể hiện thật tập trung trong “điều mong muốn cuối cùng” và cũng là câu cuối cùng, đọng lại tình cảm, ý tưởng quan trọng nhất trong Di chúc.

Hồ Chí Minh đã hiểu rõ rằng dân tộc mình, nhân dân mình đang cần cái gì nhất. Nói đến điều đó thì tất cả mọi người Việt Nam, dù bất cứ đang ở đâu, đang làm gì cũng đều có thể hiểu được, đều có thể chấp nhận, đều có thể nhất trí, đều có thể nhận ra đó là mong muốn của mình.

Cần phải thấy rằng sự gặp gỡ giữa lý tưởng “ái quốc” và lý tưởng “cộng sản” trong tư tưởng và tình cảm của Hồ Chí Minh là sự gặp gỡ của lý tưởng giải phóng dân tộc, giải phóng xã hội và giải phóng con người . Trong đó, giải phóng con người là trung tâm. Nhìn lại nhân cách, tư tưởng, tình cảm và sự nghiệp hoạt động của Hồ Chí Minh, chúng ta thấy rất rõ: mục tiêu, cứu cánh, phương tiện và động lực cách mạng đều ở trong con người. Chính ở đây, chủ nghĩa yêu nước trong Hồ Chí Minh bắt gặp lý tưởng cộng sản. Lý tưởng đó thể hiện tập trung ở tư tưởng “sự phát triển tự do của mỗi người là điều kiện cho sự phát triển tự do của tất cả mọi người”.

Có thể nói, “sự phát triển tự do của mỗi người là điều kiện cho sự phát triển tự do của tất cả mọi người” là tư tưởng đẹp nhất trong vô vàn những tinh hoa tư tưởng của loài người được đúc kết trong học thuyết khoa học của C.Mác. Và nếu, trong tư tưởng Hồ Chí Minh, tư tưởng về giải phóng con người là trung tâm thì có thể hiểu được động lực thúc đẩy Nguyễn Ái Quốc đến với lý tưởng cộng sản theo cách của mình. Người cộng sản VN tự hào vì có Hồ Chí Minh, có tư tưởng Hồ Chí Minh soi đường, đem lại nguồn sức mạnh vô tận của lý tưởng cao đẹp đang dẫn dắt cuộc phấn đấu không ngừng nghỉ của mình, theo gương Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Với một trái tim lớn chứa đựng “ham muốn tột bậc là làm sao cho nước ta được hoàn toàn độc lập, dân ta được hoàn toàn tự do, đồng bào ai cũng có cơm ăn áo mặc, ai cũng được học hành. Riêng phần tôi thì làm một cái nhà nho nhỏ, nơi có non xanh, nước biếc để câu cá, trồng hoa, sớm chiều làm bạn với các cụ già hái củi, em trẻ chăn trâu, không dính líu gì với vòng danh lợi”, Người trở thành nhà cách mạng từng trải, được thử thách và tôi luyện trên trường quốc tế bằng cái tầm trí tuệ của một nhà văn hóa lớn. Vì thế, Hồ Chí Minh hiểu rõ những thành tựu cũng như những sai lầm mà phong trào cách mạng đã trải qua. Người hiểu cần thanh lọc và tiếp nhận những gì có lợi nhất cho mục tiêu đã xác định.

Hồ Chí Minh đứng vượt hẳn lên những người đương thời ở tầm tư duy và cái nhìn biện chứng nhờ vào những phẩm chất ấy. Bôn ba khắp năm châu bốn biển, hiểu rõ ngọn ngành những tinh hoa cũng như những khuyết tật mà phong trào cách mạng đã trải qua, để khi về đến Tổ quốc, hôn nắm đất quê hương đang đói nghèo, đau khổ, Người hiểu rõ cần phải làm gì cho nhân dân.

Ba mươi năm, nhìn lại chặng đường đã đi nhằm thực hiện mong ước của Bác Hồ “xây dựng lại đất nước ta đàng hoàng hơn, to đẹp hơn” với những điều đã làm được và nhiều điều chưa làm được, càng thấm thía và không thể không day dứt khi nghĩ đến điều mong muốn cuối cùng của Bác Hồ. Thấm thía và day dứt để có những giải pháp và hành động thiết thực.

TƯƠNG LAI
tuoitre.vn

Mong ước cuối đời của người được Bác Hồ đặt tên

(Dân trí) – 25 tuổi, ông rời xứ Nghệ hành quân ra Tây Bắc. May mắn là, trong khoảng thời gian bám núi, bám rừng Việt Bắc ông đã được gần gũi với Bác Hồ. Cuộc đời ông thay đổi từ đó với cái tên mới do chính Cụ Hồ đặt – chú Kiệm. Bây giờ, ở cái tuổi xấp xỉ 90, ông chỉ có một ước vọng trước lúc nhắm mắt: được ra thăm Lăng Bác!

Cậu bé mồ côi ra Tây Bắc gặp Bác

Tên thật của ông là Lê Nhạ, sinh năm 1920 tại làng Trung Lễ, huyện Đức Thọ, Hà Tĩnh. 12 tuổi đã mồ côi cả cha lẫn mẹ. Gánh nặng đặt trên vai cậu bé Nhạ là mấy đứa em thơ dại. Thế rồi anh em rau cháo nuôi nhau, khi không đủ sức, có đứa được cho đi làm con nuôi của người khác.

Cha Nhạ vốn là thợ mộc, trước lúc mất đã kịp truyền cho cậu nghề cầm cưa đục. Nhạ rất khéo tay trong việc nối nghiệp cha theo nghề. Dẫu vậy, cuộc sống đói khổ vẫn đeo đẳng anh em Nhạ suốt nhiều năm trời. 20 tuổi, Nhạ kết hôn với một cô gái cùng làng. Cưới nhau mãi nhưng đôi vợ chồng trẻ vẫn chưa có con. Mãi tới năm 1947, họ mới sinh được đứa con đầu lòng.

Những năm đó, gia đình Nhạ cùng chung cảnh ngộ của người nông dân cả nước, nghèo đói, xác xơ. Giữa lúc ấy, thực dân Pháp quay lại xâm chiếm nuớc ta. Một buổi trưa năm 1949, ông bất ngờ nhận được lệnh lên đường ra Bắc. Nhiệm vụ của ông là lên Tây Bắc lập lán trại, nhà ở tạm cho cán bộ cách mạng.

Sáng sớm hôm sau tiễn biệt vợ và đứa con nhỏ không hẹn ngày về, hành lý mang theo là đôi dép cao su và mấy bộ quần áo cũ. Từ Hà Tĩnh ra đến căn cứ kháng chiến Tây Bắc mất ròng rã hơn một tháng trời đi bộ. Cơm không có ăn, áo không đủ mặc, đến đâu mỏi là nhà. Chặng đường hành quân gian nan là thế nhưng ông và anh em trong đoàn cùng ra Tây Bắc đều bấm chí quyết tâm vì thắng lợi của cách mạng.

Cuối cùng thì đoàn bộ đội hành quân từ Miền Trung cũng lên đến Tây Bắc. Một cuộc sống hoàn toàn khác biệt, anh em phải vào tận rừng sâu dựng trại để tránh bọn Pháp truy quét. Vốn là người giỏi nghề mộc ông Nhạ được đưa ngay vào kiến thiết, lập trại cho chiến khu kháng chiến.

“87 tuổi, tui không nhớ rõ nữa, chỉ biết ra ngoài nớ bám núi bám rừng được một thời gian thì có anh Chiến sang lấy người (ông Tạ Quang Chiến – Nguyên Bí thư Trung ương đoàn, Nguyên Tổng cục trưởng Tổng cục thể dục thể thao – PV) về kiếm gỗ lập nhà. Khi đó có tui và 3 người khác nữa. Ấn tượng đầu tiên khi tui gặp Cụ Hồ là người Cụ gầy, giọng nói ấm áp. Cụ từ trong nhà bước ra, bắt tay từng người một rồi trò chuyện với anh em. Trong cuộc gặp ấy, Cụ đã đặt tên cho chúng tôi là Cần, Kiệm, Liêm, Chính… một trong những khẩu hiệu của Bác đề ra trong kháng cuộc chiến chống Pháp. Tôi được mang tên chú Kiệm từ đấy” – ông Nhạ bồi hồi nhớ lại.

Với nhiệm vụ lập trại, sửa nhà, ông Nhạ đã có quãng thời gian gần 3 năm sống bên Bác Hồ. Ông được gặp Bác, được Bác dạy bảo thường xuyên cho đến ngày Chiến dịch Điện Biên Phủ thắng lợi.

Sau thắng lợi lịch sử ấy, số anh em được Bác Hồ đặt tên đi làm nhiệm vụ mới. Họ mất liên lạc với nhau. Chiến sỹ cách mạng Lê Nhạ – Chú Kiệm được chuyển về công tác trong một nhà máy sản xuất tổng hợp ở giữa thủ đô Hà Nội. Ở đấy, ngoài công việc của nhà máy, ông vẫn tiếp tục nghiệp mộc của mình khi tham gia thi công nhiều ngôi nhà phục vụ cho cách mạng. Sau đấy, ông chuyển về công tác tại Công ty xây dựng Hà Tĩnh.

Chiến tranh lại tiếp tục buộc những người công nhân như ông lên tận Phú Thọ, Cao Bằng vừa tránh bom đạn của đế quốc Mỹ, vừa bảo đảm nhiệm vụ của đơn vị. Năm 1975, đất nước thống nhất cũng là thời gian ông nghỉ hưu trở về quê hương. Ông sinh được 4 người con, sống một cuộc sống đầy khó khăn ở làng Đức Trung, huyện Đức Thọ suốt nhiều năm nay.

Bức thư bất ngờ và ước vọng cuối cùng của “chú Kiệm”

Ngày 19/8/2006, mưa như trút nước, từ quê nhà ở Đức Trung (Đức Thọ), chú Kiệm nhận được một lá thư của một đồng chí, đồng đội mà hơn 60 năm trước họ cùng có những giây phút khó quên trên núi rừng Việt Bắc – ông Tạ Quang Chiến, người đã trực tiếp đưa anh thanh niên Lê Nhạ vào gặp Cụ Hồ năm xưa.

Bức thư viết: “Vừa qua, bác Lê Đức Thỉnh – Nguyên Phó bí thư tỉnh uỷ Hà Tĩnh hồi trước 1975 nay đã 91 tuổi – là bạn già ở gần nhà tôi cho tôi xem báo Hà Tĩnh ngày 12/4/2006 có đăng bài về bác Kiệm. Tôi rất mừng bác đã 87 tuổi mà vẫn còn tương đối khoẻ, chụp ảnh cùng bác gái. Lâu nay tôi không có tin tức cụ thể về bác Kiệm.

Trước hết xin gửi biếu hai bác tấm ảnh chụp cách đây 55 năm ở căn cứ Việt Bắc – nơi Bác Hồ đã ở, nơi tập thể chúng ta được phục vụ Bác.

Chú Kiệm – Lê Nhạ, người đứng ngoài cùng bên phải chụp ảnh chung với đồng đội ở Việt Bắc năm 1951. (Ảnh tư liệu do cụ Lê Nhạ cung cấp).

Nhận được thư này đề nghị bác Kiệm cho biết thêm về gia cảnh hiện nay ra sao? Nếu có dịp ra Hà Nội Bác ghé qua nhà tôi ở 149 phố Nguyễn Thái Học và đến thăm Bảo tàng Hồ Chí Minh, vào Lăng viếng Bác Hồ…”

Đọc được những dòng trong lá thư của người bạn một thời, chú Kiệm đã không cầm nổi nước mắt, nước mắt của vui sướng vì đã bắt được liên lạc với người bạn cách đó hàng chục năm trời ông không hề có thông tin. Ông cầm tấm ảnh ngắm nghía, hồi tưởng lại năm tháng ở núi rừng Việt Bắc. Tấm ảnh đen trắng đã nhoè nhưng ông vẫn chỉ đủ tên của các đồng đội của mình. Dẫu bức ảnh chụp cách đây hơn nửa thế kỷ, nhưng nhìn tấm ảnh vẫn dễ dàng nhận ra “chú Kiệm” với mái tóc cắt ngắn, dựng đứng, khuôn mặt nhỏ.

Chợt nhớ đến lời mời trong lá thư của ông Chiến, ông Nhạ bật khóc vì nhớ lại cái thời gian khổ gắn bó với nhau ở Chiến khu. Ông đáp thư trả lời cho ông Tạ Quang Chiến, bày tỏ mong muốn được ra Hà Nội thăm Lăng Bác một lần và mong được gặp lại người bạn xưa.

Trò chuyện với Dân trí trong những ngày cả nước chuẩn bị kỷ niệm 117 năm ngày sinh nhật Bác, chú Kiệm rưng rưng tâm sự: “Đã mấy chục năm rồi không được ra thăm Lăng Bác, cũng chưa được về quê Bác để thắp cho Người một nén nhang. Như rứa lòng tui thấy có lỗi lắm. Để thỏa lòng, tui có ý định dịp sinh nhật Bác năm nay sẽ ra thăm Người nhưng rồi mong muốn ấy không thể thực hiện được. Căn bệnh zôna thần kinh quái ác lại hành hạ, nên không đủ sức khỏe để đi”…

Chia tay ông Nhạ với những thông tin ít ỏi, chúng tôi mang theo ước vọng cao đẹp của ông – được một lần ra thăm Lăng Bác.

Văn Dũng – Minh San
dantri.com.vn

Nếp sống thanh bạch, giản dị và khiêm tốn

(Dân trí) – Bác Hồ, lãnh tụ vĩ đại của dân tộc, danh nhân văn hoá thế giới. Người đi vào lòng dân với bao nét tinh hoa đẹp đẽ của dân tộc Việt Nam, được hoà quyện và nâng cao thêm bởi tinh hoa của văn hoá thế giới.

Từ năm 1924 khi Người còn ở Nga, Nhà thơ Nga Ôxip-Man-Đaxtan đã viết: “Nguyễn Ái Quốc toả ra một nền văn hoá không phải là văn hoá châu Âu mà là một nền văn hoá của tương lai”.

Bác Hồ vĩ đại là vậy, Bác để lại cho mỗi chúng ta bao điều cần học tập. Nhưng đối với tôi, điều để lại ấn tượng sâu sắc nhất, là sự giản dị và khiêm tốn của Bác. Trong cuộc sống đời thường, Bác thanh bạch và giản dị từ cách ăn, mặc đến cách nói, cách viết, cách tiếp xúc với quần chúng.

Quần áo Bác mặc thường ngày là bộ ka ki màu vàng, bộ bà ba nâu với đôi dép cao su. Mùa đông, có lần Bác bận chiếc áo Tôn Trung Sơn có mảnh vá. Có người hỏi: “Kính thưa Chủ tịch, vì sao Người là Chủ tịch nước mà lại mặc áo vá?” Người trả lời vui vẻ: “Đất nước còn nghèo, Chủ tịch có mặc áo vá thì dân mới có áo lành mặc”.

Hẳn nhiều người chúng ta đã được xem một bộ phim, tả cảnh trên đường công tác, Bác Hồ xuống suối tắm, tắm xong, Bác phơi quần áo trên mũ và chiếc gậy vác lên vai tiếp tục lên đường. Hình ảnh đó đã làm chúng ta xúc động đến rơi nước mắt.

Món ăn chính của Bác thường là quả cà giòn với món cá kho ngọt dầm tương quen thuộc của xứ Nghệ, quê nhà. Còn lúc tiếp xúc với quần chúng, Người gần gũi, thân tình như người bác, người cha, người ông, không hề có sự phân cách giữa lãnh tụ và nhân dân, Bác tặng kẹo cho trẻ thơ, tặng luạ cho cụ già, vỗ tay cất nhịp cùng hát bài kết đoàn…

Tôi ghi sâu ấn tượng về cách nói và cách viết của Bác. Bác không chỉ dạy các nhà báo về quan điểm viết báo là để phục vụ nhân dân, phục vụ cách mạng, mà còn phải viết thế nào cho người đọc dễ hiểu, dễ nhớ, dễ làm theo, nhất là quần chúng lao động.

Đại tướng Võ Nguyên Giáp, trong một bài viết có kể lại: Hồi ở Việt Bắc, Bác giao cho Đại tướng viết bài báo để ca ngợi phụ nữ. Đại tướng đã để công viết hai trang đánh máy, cho là hay và đem trình Bác. Bác đọc và nói, bài chú viết hay nhưng dân ở đây đọc sẽ không hiểu. Chú rút ngắn lại. Đại tướng đã rút ngắn dần, đem cho nhiều người đọc, đến lúc chỉ còn 200 chữ, đưa trình Bác, Bác đọc và cho đưa đăng.

Bác là người thông tuệ, không chỉ ngôn ngữ dân tộc mà còn biết nhiều ngôn ngữ trên thế giới. Bác là nhà chính trị, ngoại giao sắc sảo, là nhà văn, nhà thơ lớn đã từng viết những áng văn tuyệt tác như Tuyên ngôn Độc lập, những vần thơ Nhật ký trong tù, sắc nét của Đường thi. Nhưng bao giờ Bác cũng lấy sự giản dị, trong sáng làm đầu. Bác lấy sự học làm đầu và rất khiêm tốn học hỏi.

Chúng ta đã từng biết Bác đã học cách viết báo như thế nào! Từ tập viết ngắn đến viết dài rồi từ viết dài đến viết ngắn. Sau cùng dài ngắn đều viết được. Viết xong mỗi bài, Bác đều đưa cho người phục vụ ít chữ đọc. Chỗ nào không hiểu Bác chữa lại. Nhiều lần, Bác đã dặn các nhà báo là “viết cho ngắn gọn, dễ hiểu”, “đừng lằng nhằng dây cà ra dây muống như đưa chắt chắt vào rừng xanh” và “chữ ta có thì dùng, không dùng chữ nước ngoài”…

Gần 2.000 bài báo Bác viết đăng trên báo Việt Nam Độc lập, Nhân Dân và một số báo khác, ít bài dài trên 1.000 chữ mà có sức mạnh giáo dục và chiến đấu như gươm súng. Sự khiêm tốn của Bác còn thể hiện, tự nhận mình là người “học trò nhỏ “của các bậc vĩ nhân đại diện cho nền văn minh nhân loại từ Đức Phật thích ca, Đức Chúa Giê su, Khổng tử, K.Mác, Lênin, đến Tôn Trung Sơn, thánh Gandhi, hay nhà văn L. Tônxtôi…

Thủ tướng Phạm Văn Đồng đã nói về Bác: “Hồ Chí Minh cao mà không xa, mới mà không lạ, lớn mà không làm ra vĩ đại, soi sáng mà không choáng ngợp”.

Nhà thơ Cuba Ô-Tê-Rô đã viết:

Hồ Chí Minh, gốc của dân và cũng chính là dân
Vẫn hoà trong thác dân cuộn chảy
Là gió cuốn vượt muôn đèo dốc núi
Lại thu mình biến hoá trong muôn cây…

(Lê Xuân Quỳnh dịch)

Từ sự giản dị, khiêm tốn của Bác, chúng ta nghĩ nhiều về nếp sống hiện nay. Lịch sử đất nước đã sang trang, đất nước và cuộc sống đã có những đổi thay kỳ diệu. Nhưng đất nước ta vẫn đang còn nghèo, bình quân thu nhập của người dân vẫn còn thấp thua nhiều nước trên thế giới và khu vực, nguy cơ lạc hậu còn tiềm ẩn. Thế mà, một số cán bộ làm việc lười biếng, ăn chơi đua đòi, học làm sang, xa rời quần chúng. Một số vừa lên chức lên quyền, chỉ cán bộ xã, phường thôi, cũng đã lên mặt, doạ nạt nhân dân. Báo chí chẳng thèm đọc, chỉ vụ thành tích, vụ lợi, thích nghe lời nịnh hót.

Một số quan chức lợi dụng những khe hở của cơ chế, tham ô, tham những, lãng phí, ăn chơi phè phỡn, đến thế giới cũng kinh ngạc. Một số nhà báo trẻ mới ra nghề cũng tham viết dài dòng, văn hoa, chất lượng thông tin kém. Thậm chí có nhà báo đã dùng nhiều chiêu vòi tiền, tham lợi lộc uốn cong ngòi bút. Có những quan chức nhà báo phải hầu toà. Đau đớn thay! Chính họ, đang cưỡi trên nhiều nỗi đau khổ, đói nghèo của nhân dân, làm chậm bước tiến của đất nước.

Nhắc lại vài nét về nếp sống cần kiệm, giản dị, khiêm tốn của lãnh tụ vĩ đại để mỗi chúng ta cùng suy ngẫm, tự nhìn lại mình, cố gắng thực hiện những điều Bác dạy, góp phần đưa Nghị quyết Đại hội X của Đảng vào cuộc sống, xây dựng đất nước ta đàng hoàng, to đẹp hơn trong thời hội nhập như Bác Hồ hằng mong muốn.

Minh – Nho
(77 phố Phan Đình Phùng, TP. Hà Tĩnh)
dantri.com.vn

Cụ ông 94 tuổi thi kể chuyện Bác Hồ

(Dân trí) – Tại hội thi “Kể chuyện về tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh” của đảng bộ phường Phú Xá, thành phố Thái Nguyên, có một thí sinh thu hút sự quan tâm, chú ý của nhiều người. Đó là cụ Nguyễn Chín, một đảng viên, lão thành cách mạng, năm nay đã 94 tuổi.

Mặc dù tuổi đã cao, nhưng cụ Chín vẫn tích cực tham gia sinh hoạt Đảng, Hội người cao tuổi ở nơi cư trú; thường xuyên đọc sách, báo, xem chương trình thời sự…

Theo quy định, cụ được miễn sinh hoạt Đảng, nhưng không một buổi sinh hoạt nào của Chi bộ vắng mặt cụ. Ở đó, cụ luôn đóng góp những ý kiến sâu sắc và đầy tâm huyết cho sự phát triển của Chi bộ, thẳng thắn phê bình những hạn chế, khuyết điểm mà đảng viên trong Chi bộ mắc phải.

Đặc biệt, sau mỗi buổi sinh hoạt Chi bộ, cụ thường đọc thơ ca ngợi Đảng, Bác Hồ, sự đổi mới quê hương, đất nước cho mọi người cùng nghe; trong đó có nhiều bài thơ do chính cụ sáng tác.

Trong gia đình, cụ là tấm gương sáng về sự mẫu mực cho con, cháu nói theo. Người con dâu út của cụ cho biết: Cụ luôn giữ nếp sinh hoạt điều độ, sáng nào cũng dậy sớm tập thể dục và dành nhiều thời gian đọc sách, báo, thăm nom hàng xóm. Cụ luôn lấy những câu chuyện kể về Bác Hồ để răn dạy, nhắc nhở con cháu rèn luyện, tu dưỡng trong học tập, công tác.

Nói về hội thi kể chuyện Bác Hồ, ông Nguyễn Trường Giang, Bí thư Chi bộ 26, phường Phú Xá, cho biết: “Cụ Chín là người xung phong đầu tiên tại cuộc họp Chi bộ, thấy cụ tuổi cao, e không đủ sức khỏe nên các thành viên trong Chi bộ cũng như con cháu trong gia đình đều rất băn khoăn. Song cụ đã thuyết phục được cả Chi bộ và gia đình bằng sự quyết tâm và tấm lòng của dành cho Đảng, Bác Hồ”.

Theo TTXVN, để chuẩn bị cho hội thi, cụ ông 94 tuổi này đã cẩn thận xây dựng từ đề cương trả lời câu hỏi, chuyện kể về Bác Hồ đến sáng tác thơ rồi đem ra thảo luận, trao đổi trước tại Chi bộ. Câu chuyện của cụ kể về 3 lần Bác Hồ về thăm khu công nghiệp Gang Thép – nơi cụ từng làm việc.

Nói về tình cảm của mình với Bác, cụ tâm sự: “Chuyện kể về tấm gương đạo đức của Bác Hồ thì nhiều lắm, nhưng học tập và làm theo Bác quả là không dễ. Tôi già rồi, không làm được việc gì to tát, chỉ mong muốn được kể lại một câu chuyện về Bác Hồ để gửi gắm tấm lòng kính trọng của mình đối với tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh và để con, cháu học tập, noi theo”.

Đức Phương
dantri.com.vn

Đoàn đại biểu Bí thư Chi đoàn giỏi, thanh niên làm kinh tế giỏi Thủ đô năm 2012 báo công tại Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh

Thanhnienbaocong2012

Đoàn đại biểu Bí thư Chi đoàn giỏi, thanh niên làm kinh tế giỏi Thủ đô năm 2012 báo công tại Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh

Trong không khí thi đua sôi nổi của những ngày tháng 3 – Tháng Thanh niên năm 2012, sáng ngày 25/3/2012, tại Quảng trường Ba Đình, trước Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh, đại diện 140 đại biểu là Bí thư Chi đoàn giỏi, 20 mô hình và 55 thanh niên nông thôn làm kinh tế giỏi của Thủ đô năm 2012 thay mặt cho hơn 27 nghìn Bí thư Chi đoàn và hơn 3 triệu thanh niên trong toàn Thành phố vinh dự được báo công dâng Bác, báo cáo với Bác những thành tích xuất sắc mà tuổi trẻ Thủ đô đã làm được trong những năm vừa qua.

Sinh thời, Bác đã từng căn dặn thanh niên Thủ đô: “Đối với mọi công tác, thanh niên Thủ đô phải làm gương mẫu cho thanh niên cả nước”. Thấm nhuần lời căn dặn của Người, trong những năm qua, các cấp bộ đoàn từ thành phố tới cơ sở đã ban hành nhiều chủ trương, giải pháp triển khai cụ thể nhằm quan tâm và nâng cao chất lượng đội ngũ Bí thư Chi đoàn, củng cố chất lượng hoạt động của tổ chức Đoàn, động viên, khuyến khích thanh niên làm kinh tế và đã đạt được những kết quả đáng phấn khởi. Đại diện cho tuổi trẻ Thủ đô hôm nay là những cá nhân nòng cốt đầy nhiệt huyết, trách nhiệm, có nhiều ý tưởng luôn được đoàn viên thanh niên tin tưởng, quý trọng và noi theo, mong muốn xây dựng quê hương, đất nước sánh vai với bè bạn năm châu. Họ đang học tập, công tác và sinh sống ở mọi lĩnh vực và địa bàn Thủ đô Hà nội. Có bạn chưa tròn 17 tuổi, có bạn đã qua tuổi 30. Có bạn là học sinh, sinh viên, công nhân, công chức, công an hay bộ đội, doanh nhân hay nhà giáo, thanh niên nông thôn hoặc một nhà nghiên cứu… tất cả đều có điểm chung là nhiệt tình năng động, có đầu óc tổ chức và luôn vì sự phát triển của cộng đồng.

Những công việc mà các bạn theo đuổi là làm giàu chính đáng, giải quyết việc làm cho hàng ngàn lao động, giữ gìn các giá trị là bản sắc quê hương, tổ chức các hoạt động thu hút hỗ trợ các thanh niên có cùng chung một mục đích, lý tưởng phát huy các giá trị truyền thống vì hiện tại và tương lai của đất nước. Những gương mặt thanh niên được tuyên dương dịp này thêm một lần nữa khắc họa hình ảnh cán bộ, đoàn viên, thanh niên Thủ đô hiện đại giàu ước mơ, hoài bão, luôn hết mình vì công việc chung, không cam chịu nghèo nàn lạc hậu đang vươn lên mạnh mẽ vì lý tưởng của tổ chức Đoàn. Đây cũng là dịp để Tuổi trẻ Thủ đô thể hiện sự quyết tâm kiên định đi theo con đường cách mạng mà Đảng, Bác Hồ và nhân dân ta đã chọn. Khắc sâu lời dạy của Bác và lý tưởng cách mạng của Người, thế hệ tuổi trẻ Thủ đô hôm nay xin hứa với Bác sẽ quyết tâm học tập, nghiên cứu rèn luyện, công tác tốt, phấn đấu tu dưỡng góp sức trẻ thực hiện thành công sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước./.

Vân Phương
bqllang.gov.vn

Chiếc áo Bác mặc ngày Quốc khánh

Trong số những hiện vật liên quan đến thời điểm lịch sử 2/9/1945, Viện Bảo tàng Cách mạng Việt Nam đặc biệt trân trọng bộ quần áo Bác Hồ đã mặc trong ngày lễ khai sinh nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà. Bộ quần áo bạc màu, cổ sờn, ve áo hơi tù.

Ngày 23/8/1945 Hồ Chủ Tịch về đến thôn Gạ (Phú Thượng, Hà Nội), nghỉ ở đây một ngày. Hôm sau Người được trung ương và Thành uỷ bố trí đến ở tại gác hai số nhà 48 Hàng Ngang (nhà của ông Trịnh Văn Bô, một thương gia yêu nước, cơ sở tin cậy của Cách mạng). Về đến Hà Nội, Bác gầy và yếu (sau trận ốm và phải đi xa), nhưng những người xung quanh vẫn thấy đôi mắt của Người luôn sáng rực.

Bà Trịnh Văn Bô, nữ chủ nhân của ngôi nhà 48 Hàng Ngang lịch sử, kể: “Bác từ chiến khu về chỉ có một đôi dép cao su nhãn hiệu con hổ trắng, chiếc quần soóc nâu, chiếc áo sơ mi ngắn tay, một chiếc can và chiếc mũ phớt bạc màu. Hàng ngày lúc 7h, ông Vũ Đình Huỳnh đón Bác ra Bắc Bộ phủ làm việc đến chiều mới về 48 Hàng Ngang. Buổi tối, Bác thường xuyên bận vì phải hội kiến làm việc với các ông Trường Chinh, Võ Nguyên Giáp, Hoàng Quốc Việt… Đêm đêm, Bác thức rất khuya đánh máy chữ. Chuông đồng hồ điểm 12 tiếng, đèn bàn của ông cụ mới tắt, nhưng 5h hôm sau đã thấy ông cụ tập thể dục ngoài ban công”.

Sau này bà Bô mới biết, khi tiếng đánh máy chữ vang lên trong đêm khuya ấy chính là lúc Bác Hồ thảo Bản hùng văn vô giá – Bản tuyên ngôn lịch sử khai sinh ra nước Việt Nam.

Thời gian này Hà Nội đang chuẩn bị cờ hoa và cả vũ khí cho ngày trọng đại sắp tới. Bước vào tuổi 91, nhưng bà Bô vẫn còn nhớ rõ những năm tháng hào hùng đó. Vào khoảng những ngày 26 – 27/8 tức là khi đã ấn định Lễ tuyên ngôn vào 2/9/1945, anh em cán bộ mới sực nhớ ra cần phải trang bị mỗi người một bộ quần áo thật tươm lúc ra mắt trên lễ đài, đặc biệt là Hồ Chủ tịch. Đa số anh em từ chiến khu trở về và kể cả Bác cũng đều ăn mặc những đồ đã cũ sờn hoặc chắp vá tạm.

Bà Bô bồi hồi nhớ lại: “Lúc bấy giờ trong tủ nhà chúng tôi có rất nhiều vải (bà Bô là nhà buôn vải), tôi lấy ra mấy súc ka ki để may cho anh em. Trong tủ có vài chục bộ quần áo khá sang trọng may sẵn mà ông Bô chưa dùng nên tôi lấy ra cho các anh mặc tạm trước. Ông Phạm Văn Đồng, rồi ông Võ Nguyên Giáp… ai mặc vừa bộ nào thì dùng bộ nấy. Nhưng tầm người như Bác Hồ không bộ nào hợp cả”.

Gần sát ngày lễ ông bà Trịnh Văn Bô đã chọn riêng loại vải kaki cốt lê của Anh và ông Vũ Đình Huỳnh, nguyên là thư ký lễ tân mang đến xin ý kiến Bác. Bác nói: “Tôi mặc xuềnh xoàng thôi. Không len, dạ đắt tiền làm gì, cốt tươm tất giản dị, không phải cà vạt cổ cồn là tốt”.

Lúc đó, ông Vũ Đình Huỳnh chợt nhớ tới một bức ảnh của Xtalin nên ướm thử với Bác may theo kiểu áo đó, cũng không có cà vạt mà oai vệ. Bác mỉm cười nói: “Nhưng mình có phải là Xtalin đâu”. Bác luôn học hỏi tinh hoa nhưng không chấp nhận bắt chước khuôn mẫu sẵn.

Cuối cùng ông Vũ Đình Huỳnh mời ông Phú Thịnh chủ hiệu may có tiếng ở phố Hàng Quạt tới và trình bày: “Tôi có người nhà là cụ lý ở quê ra thăm thủ đô, tôi muốn cắt vài bộ đồ cho cụ, nhờ anh cắt may kiểu áo bốn túi, mặc kín cổ khi có việc quan trọng, lúc thường nhật thì mở khuya áo thoải mái, đi giày đi dép đều hợp với cụ lý nhà tôi”.

Ông Phú Thịnh ngẫm nghĩ một lúc dè dặt nói: “Tôi đã mường tượng ra kiểu áo ấy rồi. Chỉ cần tính toán cái ve áo nhọn hay tù?”. Ông Phú Thịnh ngắm nghía tấm ảnh Xtalin rồi nói: “Kiểu tướng soái này oách lắm nhưng không hợp với các cụ người nhà mình. Thôi được tôi sẽ lo liệu để có bộ áo hợp ý với cụ lý”.

Hai hôm sau, ông Phú Thịnh đem hai bộ quần áo đến, cười ý nhị nói: “Tôi trộm nghĩ cụ lý này không phải là lý trưởng mà có lẽ là một cụ lý… khác thường”, ông Vũ Đình Huỳnh cười đáp lại tình cảm tinh tế của ông thợ may.

Hôm sau, lựa lúc Bác tập thể dục, tắm sáng xong, ông Vũ Đình Huỳnh đem bộ quần áo mới vào. Bác ướm thử, ngắm kỹ cổ áo và mỉm cười: “Được, thế này là hợp với mình”. Ông Vũ Đình Huỳnh lúc đó đã rất vui và thầm mỉm cười nghĩ, chỉ trong vài ngày nữa, ông Phú Thịnh sẽ vô cùng sung sướng và ngạc nhiên vinh dự khi “cụ lý” mà mình may quần áo cho lại chính là Chủ tịch Hồ Chí Minh, Người đọc Tuyên ngôn độc lập tại Vườn hoa Ba Đình để khai sinh ra một quốc gia mới – Nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà.

Theo Báo Đất Việt

dantri.com.vn