Tag Archive | Hồ Chí Minh

Hình ảnh màu hiếm về Chủ tịch Hồ Chí Minh (Phần 2)

Khi xem lại những bức hình về Chủ tịch Hồ Chí Minh kính yêu dù được tô màu lại, mỗi người Việt Nam đều có cảm giác như Bác vẫn đang ở rất gần.

hinh anh mau hiem 2.1

Chủ tịch Hồ Chí Minh chúc mừng cụ Tôn Đức Thắng được bầu làm Phó Chủ tịch nước tại kỳ họp thứ nhất Quốc hội khoá II (tháng 7/1960).Long Hy (Sưu tầm)

hinh anh mau hiem 2.2

Bác Hồ với các Anh hùng, chiến sĩ thi đua miền Nam (1965) – Ảnh Vũ Đình Hồng.

 

hinh anh mau hiem 2.3

Bác làm việc trong vườn Phủ Chủ tịch, 1957. Long Hy (Sưu tầm)

hinh anh mau hiem 2.4

Bác Hồ tại Phủ Chủ tịch 1969. Long Hy (Sưu tầm)

hinh anh mau hiem 2.5

Ảnh chụp Bác Hồ tại Phủ Chủ tịch năm 1969. Long Hy (Sưu tầm)

hinh anh mau hiem 2.6

Bác Hồ thăm hỏi đồng bào. Long Hy (Sưu tầm)

 

hinh anh mau hiem 2.7

Bác Hồ tại Chiến dịch Biên giới 1950. Long Hy (Sưu tầm)

 

hinh anh mau hiem 2.8. jpeg

Bác Hồ làm việc trong vườn ở Phủ Chủ tịch. Long Hy (Sưu tầm)

 

hinh anh mau hiem 2.10

Bác Hồ với thiếu nhi. Long Hy (Sưu tầm) Long Hy (Sưu tầm)

 

hinh anh mau hiem 2.11

Bác Hồ tự làm vườn trong Phủ Chủ tịch. Long Hy (Sưu tầm)

hinh anh mau hiem 2.12

Bác Hồ tại nhà sàn trong Phủ Chủ tịch. +Long Hy (Sưu tầm)

 

Theo Báo Giáo dục Việt Nam
Huyền Trang (st)

Kỷ niệm ngày thành lập Giải phóng quân Việt Nam (19-12-1947)

Từ Giải phóng quân đến Vệ quốc quân.

Đội thứ nhất của Giải phóng quân ngày trước là cái hạt giống bé nhỏ, do đó mà nảy nở thành cái rừng to lớn là Vệ quốc quân ngày nay, nếu người ngoài trông thấy bước đầu của Giải phóng quân thì chắc họ sẽ cho rằng đó là một trò chơi của trẻ con, hay là công việc của mấy người “không tưởng”, chắc họ sẽ mỉa mai rằng:

“Vài chục thằng thanh niên học trò và dân cày, Thổ có, Nùng có, Trại có, Kinh có. Với vài khẩu súng quèn, mươi con dao mã tấu, mà cũng dám tự gọi là quân, cũng dám gánh cái trách nhiệm giải phóng cho dân tộc”.

Nhưng chúng ta đã quyết tâm làm cho kỳ được kế hoạch gây dựng Giải phóng quân, đã giao cho đồng chí Võ Nguyên Giáp thi hành.

Kết quả đã chứng tỏ rằng: chính sách của chúng ta rất đúng, chính sách đúng là vì ta dựa theo cái chân lý giản đơn và thiết thực này: Dân tộc Việt Nam nhất định phải được giải phóng. Muốn giải phóng thì phải đánh phát xít Nhật và Pháp. Muốn đánh chúng thì phải có lực lượng quân sự. Muốn có lực lượng thì phải có tổ chức. Muốn tổ chức thành công thì phải có kế hoạch, có quyết tâm.

Ban đầu lương thực, khí giới, chǎn áo, thuốc men, cái gì cũng thiếu thốn. Bộ đội thường phải nhịn đói, nhưng vẫn hǎng hái tươi cười.

Chẳng mấy lâu, từ vài chục người đã trưởng thành đến vài trǎm người, thanh niên rầm rầm kéo đến xin vào bộ đội. Nhờ đồng bào Việt Bắc hǎng hái giúp đỡ mọi mặt, có người bán cả trâu, cả ruộng để giúp, đồng bào các nơi cũng ra sức ủng hộ, bộ đội thì đánh luôn được mấy trận vẻ vang, từ đó, người càng đông, sức càng mạnh. Chẳng những lập nên khu giải phóng, mà lại gây nên cǎn cứ khắp nơi.

Trông thấy tinh thần hǎng hái và kỷ luật nghiêm minh của quân giải phóng, chẳng những đồng bào cũng yêu mến, mà các người quân nhân ngoại quốc cũng đều phải khen.

Giải phóng quân đã làm trọn nhiệm vụ đoạn trước, là giúp sức hoàn thành cuộc Cách mạng Tháng Tám, xây dựng nền Dân chủ Cộng hoà, cùng làm trọn nhiệm vụ đoạn sau, là để lại cho Vệ quốc quân một số cán bộ rất tốt và một cái truyền thống oanh liệt vẻ vang.

Trong lúc kháng chiến này, kỷ niệm ngày thành lập Giải phóng quân thì chúng ta cần phải nhớ những ý nghĩa sau đây:

1. Vệ quốc quân, dân quân du kích phải luôn luôn phát triển cái kỷ luật nghiêm như sắt, cái tinh thần vững như đồng, cái chí khí quật cường tất thắng, cái đạo đức: trí, dũng, liêm, trung của Giải phóng quân.

2. Khi trước, phải đối chọi với hai kẻ địch là Nhật và Pháp, chúng ta chỉ có hai bàn tay trắng, mà chúng ta vẫn tổ chức nên một lực lượng mạnh mẽ là Giải phóng quân để đánh đổ chúng. Ngày nay, chúng ta chỉ đối chọi với một kẻ thù là thực dân phản động Pháp mà chúng ta lại có Quốc hội, có Chính phủ, có cái lực lượng khổng lồ là Vệ quốc quân và dân quân du kích, có 20 triệu đồng bào ủng hộ, có dư luận toàn thế giới bênh vực. Vì vậy cuộc kháng chiến của ta nhất định phải thắng lợi.

Nhân dịp này, tôi gửi lời cảm ơn đồng bào Việt Bắc trước đã ra sức giúp Giải phóng quân, nay thì ra sức ủng hộ kháng chiến. Tôi gửi lời chào thân ái và quyết thắng cho các anh em Giải phóng quân cũ nay đang anh dũng chiến đấu trong hàng ngũ Vệ quốc quân.

Việt Bắc, ngày 19 tháng 12 nǎm 1947
HỒ CHÍ MINH

Sách Lời Hồ Chủ tịch,
Nha Thông tin Việt Nam, 1949, t.2, tr.58-59.
cpv.org.vn

Lời kêu gọi tướng sĩ Vệ quốc quân, dân quân du kích nhân cuộc vận động Luyện bộ đội lập chiến công (1947)

Cùng các cán bộ Vệ quốc quân, dân quân du kích,

Bộ Tổng chỉ huy quân đội toàn quốc đã mở cuộc vận động Luyện bộ đội lập chiến công.

Đó là một dịp cho anh em gắng sức, đua tài, xung phong diệt địch.

Cán bộ này với cán bộ khác, đơn vị này với đơn vị khác, phải ra sức thi đua nhau ai diệt được nhiều địch hơn, ai cướp được nhiều súng hơn, ai lập được công to hơn.

Tổ quốc đang kêu gọi anh em.

Quốc dân đang trông mong anh em.

Chính phủ đang sẵn sàng khen thưởng anh em.

Riêng về phần tôi, tôi để dành một phần thưởng đặc biệt cho cán bộ, chiến sĩ nào hoặc đơn vị nào sẽ lập được công oanh liệt nhất, vẻ vang nhất.

Mỗi cán bộ và toàn thể bộ đội hãy hǎng hái tiến lên!

HỒ CHÍ MINH

Sách Hồ Chủ tịch với các lực lượng vũ trang nhân dân,
Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội, 1962, tr.41.
cpv.org.vn

Thư gửi đồng bào công giáo nhân dịp lễ Nôen 1947 (24-12-1947)

Đồng bào thân mến,

Nhân dịp Nôen, tôi gửi lời thân ái chúc toàn thể đồng bào công giáo được Chúa ban phúc. Gần 2000 nǎm về trước, Đức Chúa đã cho loài người quyền tự do và dạy loài người lòng bác ái. Thế mà thực dân phản động Pháp tàn sát đồng bào ta, phá phách nhà thờ chung, khinh rẻ tôn giáo. Chúng làm trái với lòng của Chúa, chúng sẽ bị tội và sẽ thất bại.

Chúng ta toàn dân, giáo cũng như lương, đoàn kết kháng chiến để Tổ quốc được độc lập, tôn giáo được tự do. Đức Chúa phù hộ chúng ta, chúng ta chắc sẽ thắng lợi.

Trong cuộc kháng chiến, nhiều đồng bào công giáo đã hǎng hái hy sinh. Tôi đề nghị toàn thể đồng bào công giáo trong kỳ lễ Nôen này cầu nguyện cho linh hồn các chiến sĩ giáo và lương đã bỏ mình vì nước và cầu nguyện cho Tổ quốc ta được thắng lợi.

Ngày 24 tháng 12 nǎm 1947
HỒ CHÍ MINH

Sách Lời Hồ Chủ tịch,
Nha Thông tin Việt Nam,
1949, t.2, tr.60.
cpv.org.vn

Thơ tặng ba cụ lão du kích ở Cao Bằng (1947)

Tuổi cao chí khí càng cao,
Múa gươm giết giặc ào ào gió thu.
Sẵn sàng tiêu diệt quân thù,
Tiếng thơm Việt Bắc ngàn thu lẫy lừng.

Nǎm 1947

Sách Những lời kêu gọi của Hồ Chủ tịch, Nxb Sự thật,
Hà Nội, 1958, t.1, tr. 200.
cpv.org.vn

Cảnh rừng Việt Bắc (1947)

Cảnh rừng Việt Bắc thật là hay,
Vượn hót chim kêu suốt cả ngày,
Khách đến thì mời ngô nếp nướng,
Sǎn về thường chén thịt rừng quay,
Non xanh, nước biếc tha hồ dạo,
Rượu ngọt, chè tươi mặc sức say.
Kháng chiến thành công ta trở lại,
Trǎng xưa, hạc cũ với xuân này.

Nǎm 1947

Sách Hồ Chí Minh, Thơ,
Nxb Vǎn học, Hà Nội,
1970, tr.51.
cpv.org.vn

Cảnh khuya (1947)

Tiếng suối trong như tiếng hát xa,
Trǎng lồng cổ thụ bóng lồng hoa.
Cảnh khuya như vẽ, người chưa ngủ,
Chưa ngủ vì lo nỗi nước nhà.

Nǎm 1947

Sách Hồ Chí Minh, Thơ,
Nxb Vǎn học, Hà Nội,
1970, tr.52.
cpv.org.vn

Thơ chúc Tết Mậu Tý (1948)

Nǎm Hợi đã đi qua,
Nǎm Tý vừa bước tới.
Gửi lời chúc đồng bào,
Kháng chiến được thắng lợi;
Toàn dân đại đoàn kết,
Cả nước dốc một lòng;
Thống nhất chắc chắn được,
Độc lập quyết thành công.

Xuân Mậu Tý, 1948
HỒ CHÍ MINH

Sách Hồ Chí Minh, Thơ,
Nxb Vǎn học, Hà Nội, 1970, tr.56.
cpv.org.vn

Việt Bắc anh dũng (1948)

NHỮNG LỜI ĐOÁN TRƯỚC

Ngay lúc bắt đầu kháng chiến, Hồ Chủ tịch ra lệnh: Trường kỳ kháng chiến, để đánh tan mưu mô “Đánh mau thắng mau” của thực dân. Ngày trước khi Trung đoàn Thủ đô rút khỏi Hà Nội, Hồ Chủ tịch đã đoán trước: Địch sẽ cố chiếm mấy thành thị và mấy đường giao thông. Bộ đội chúng càng rải rác, lực lượng chúng càng mỏng manh, ta càng dễ tiêu diệt chúng.

Ngay lúc đầu, Bộ Quốc phòng và Bộ Tổng chỉ huy đã định dùng chiến thuật du kích để tiêu diệt địch.

Càng ngày chúng ta càng thấy những ý định trên là sáng suốt, nhất là trong cuộc địch tấn công vào Việt Bắc, chúng ta càng thấy rõ như thế.

CUỘC TẤN CÔNG VIỆT BẮC (21)

Âm mưu của địch – Chúng muốn khủng bố nhân dân ta, tiêu diệt chủ lực ta, phá tan cơ quan ta.

Lựclượng của địch – Chúng động viên 15.000 binh sĩ tinh nhuệ nhất trong hải, lục, không quân của chúng vào cuộc tấn công này.

Kế hoạch của địch – Chúng phóng một gọng kìm khổng lồ phía Nam, từ Hà Nội thọc thẳng đến Phú Thọ lên Tuyên Quang, đến Chiêm Hoá.

Một gọng kìm khổng lồ phía Bắc, từ Lạng Sơn rượt thẳng lên Cao Bằng, đến Bắc Cạn.

Một mũi dùi khổng lồ từ Hà Nội chọc thẳng vào vùng Thái Nguyên, Bắc Cạn để chặt Việt Bắc ra làm hai miếng.

Nhảy dù lung tung ở Chợ Mới, Chợ Đồn, Chợ Chu, Đại Từ, Vũ Nhai và nhiều nơi khác.

Một đại đội quân từ Bắc Giang – Bắc Ninh đánh tạt lên.

Thế là bốn phía thắt chặt, từ ngoài đánh vào từ trong quét ra.

Thời gian của địch – Bọn quân phiệt thực dân định dùng cách đánh ào ạt, chớp nhoáng, bất thình lình, dùng cách “sét đánh ngang tai”, làm cho ta hoang mang hoảng hốt, làm cho ta trở tay không kịp.

Chúng định trong một tháng thì đánh tan Việt Bắc. Rồi chúng khoan thai lập chính phủ bù nhìn.

Kết quả thế nào – Thực dân quen thói lừa bịp, dù kết quả thất bại, chúng cũng khoe miệng rằng chúng đã thắng lợi.

Nếu chúng thắng lợi sao mà cơ quan và chủ lực ta vẫn an toàn, vô sự. Nếu chúng thắng lợi thì vì sao chúng phải vội vã chuồn lui? Nếu chúng thắng lợi thì vì sao chúng mất hơn 6.000 binh sĩ chết và bị thương, nghĩa là mất hết 1/3 lực lượng của chúng?

Chứng cớ rõràng – Muốn tránh khỏi sự nghi ngờ rằng ta phóng đại để tuyên truyền, muốn tỏ rằng chúng ta công bình, không thèm dùng cách lừa bịp như chúng, cho nên chúng ta chỉ đem tài liệu của chúng để làm chứng sự thất bại của chúng.

Sau đây là một ít mệnh lệnh của Bộ Tổng tư lệnh địch, báo cáo của các bộ đội địch, thư từ của quan và lính địch mà ta bắt được trên các mặt trận. Có ngày tháng, tên họ rõ ràng. Địch muốn chối cũng không thể chối. Những giấy tờ này hiện nay đang trưng bày ở phòng tin tức của Bộ Quốc phòng. Đồng bào ai muốn xem, thì cứ đến xem.

TRÊN TRỜI RỜI XUỐNG

Ngày 7 tháng l0, trời vừa mờ sáng, l.200 quân nhảy dù bắt đầu nhảy xuống Bắc Cạn và Chợ Mới.

Hôm sau, địch tiếp tục nhảy xuống Chợ Đồn.

Sau đây là mấy đoạn trích trong những thư ta bắt được của địch:

Viên đội Nool viết:

“Tàu bay chở thư và chở khách ở Đông Dương đều phải dùng để tham gia cuộc nhảy dù này. Tất cả l.200 lính nhảy dù bay lên Việt Bắc”.

`Viên thầy thuốc Cheminel viết:

“Trận này là trận to nhất của quân Pháp từ xưa tới nay”.

Tên lính Sanguiette viết:

“Hôm 7 tháng l0 là trận nhảy dù to nhất, mà trung đội tôi đã tham gia”.

Viên đội Ragaezi viết:

“Lần này là lần đầu tiên, mà 3 đại đội quân nhảy dù Pháp, nhảy xuống sau lưng địch”.

Sau khi chúng nhảy xuống, chúng lập tức bổ ra đi tìm Hồ Chủ tịch và các ông bộ trưởng.

Viên y tá Moreau viết:

“Tổng tư lệnh Pháp được tin rằng: Từ 19 tháng 12 nǎm 1946, Hồ Chí Minh và Chính phủ Việt Nam đóng ở Bắc Cạn. Vì vậy chúng tôi được mệnh lệnh phải lùng cho được họ”.

Và chúng rất lạc quan. Viên quan ba Establié viết:

“Ta sẽ chụp được trung tâm điểm của Hồ Chí Minh. Cuộc chiến tranh sẽ chấm dứt. Chính phủ bù nhìn sẽ lập thành. Nước Pháp lại cai trị Việt Nam như trước…”.

Viên đội Michel viết:

“Tôi chắc rằng đội của tôi sẽ được cái hân hạnh chấm dứt cuộc chiến tranh. Chắc như vậy. Bọn V.M. yếu ớt lắm rồi. Chiến tranh sẽ hết nay mai”.

TRONG RỪNG NHẢY RA

Sau khi được tin địch tiến công, Hồ Chủ tịch liền kêu gọi bộ đội, dân quân du kích và toàn thể nhân dân, ra sức tiêu diệt bọn địch.

Ông Tổng Chỉ huy quân đội Việt Nam thì lập tức hạ lệnh như sau:

1. Quân đội ta phải đánh mạnh và bẻ gãy gọng kìm Lạng Sơn, Can Bằng của địch.

2. Phải đánh mạnh và bẻ gọng kìm phía Sông Lô.

3. Phải ngǎn trở không để hai đạo quân của đại tá Beaufré và đại tá Communal gặp nhau ở Chiêm Hoá, Đại Thị.

4. Bộ đội ta ở Nam Bộ và miền Nam Trung Bộ phải đánh mạnh, để làm yếu ớt sức địch ở Việt Bắc.

Nhận được mệnh lệnh đó, bộ đội ta từ các ngả rừng, reo hò nhảy ra quyết chiến với quân thù.

TRỜI GẦN ĐẤT XA

Bọn lính nhảy dù, khi chưa nhảy xuống thì hǎm hở, khi đã nhảy xuống thì lại phàn nàn.

Tên lính nhảy dù Fickène viết cho vợ nó:

“Tốp nhảy dù ở Bắc Cạn thiệt hại khá nhiều”.

Viên thầy thuốc Cheminel viết cho vợ ở Sài Gòn:

“Sau khi nhảy dù, chúng tôi có nhiều người chết, nhiều người bị thương và nhiều người ốm”.

Ngày 9 tháng l0 đội phòng không Việt Nam ở Cao Bằng hạ l chiếc máy bay, trong đó có tướng Lambert và một số sĩ quan chuyên môn chỉ huy mặt trận đó. Tại Bắc Cạn bộ đội của quan nǎm Sauvagnac bị ta vây.

Viên đội Penduff viết cho vợ:

“Vô tuyến điện báo cho chúng tôi biết rằng quan nǎm Sauvagnac và đội xung phong nhảy dù xuống Bắc Cạn hôm qua, hôm nay bị vây. Chúng tôi phải đi tiếp viện. Vì vậy ngày mai chúng tôi phải nhảy dù xuống Bắc Cạn”.

Hôm 15 tháng 10 ta vây đội nhảy dù ở Chợ Mới, giết được 70 tên. Một số lính nhảy dù bị thương, phải vội vàng trở về Bắc Cạn.

Quan hai thầy thuốc Moreau viết:

“ở đây chúng tôi bị tập kích luôn luôn. Bọn Việt Minh hay đánh úp bộ đội vận tải của chúng ta. Nhiều chết và bị thương. Ban mổ xẻ không bao giờ ngớt việc”.

Pháp muốn liên lạc Chợ Mới với Bắc Cạn nhưng liên lạc khó lắm vì…

Tiểu đội trưởng Denis viết:

“Bọn V.M. đông lắm và mạnh lắm”.

Đội trưởng Vershueren viết:

“Từ khi chúng tôi nhảy xuống đất đến giờ luôn luôn bị bọn V.M. bao vây. Chỉ có tàu bay tiếp tế cho chúng tôi. Mỗi khi chúng tôi đi ra, là bị bọn V.M. trên núi bắn xuống liền”.

NẤM ĐẤT BÊN ĐƯỜNG

Địch bắt đầu thấy rằng: ở Việt Bắc dễ ǎn mà khó nuốt. Có nhiều tên, hôm qua đang nghênh ngang dưới chiếc mũ đỏ, mà hôm nay đã im lìm dưới nấm đất vàng.

Viên đội Suteau viết:

“Đầu tiên khá dễ chịu. Nhưng bây giờ thì khá rầy rà. Than ôi! Có nhiều bạn đã hy sinh và gửi xương nơi đất Việt”.

Phía Tuyên Quang cũng như phía Bắc Cạn, Vệ quốc quân và dân quân du kích ta bắt đầu phản công. Ngày 15 tháng 10, gần Tuyên Quang, l0 tên địch bị giết và 7 tên bị thương. Tiểu đội trưởng Coulon viết:

“Chúng tôi đang bị vây. Hơn một tiểu đoàn V.M. đóng cách chúng tôi hơn hai cây số. Chúng có đủ các thứ súng ống. Hôm qua chúng nó vào tập kích, chúng tôi bị thiệt hại khá nhiều…”.

Quan hai Malaval viết:

“Bọn V.M. bắt đầu hoạt động. Chúng nó chịu khó và kiên quyết như thường. Vì chết và bị thương nhiều, cho nên hàng ngũ của ta đã thưa thớt dần dần. Còn lôi thôi chưa biết bao giờ hết”.

Liền hôm sau là ngày 19-10-47, trong 1 trận cách Tuyên Quang 5 cây số, quan hai Moreau tử trận cùng 30 lính Pháp chết và bị thương.

Thế là nhiều quan và lính địch, đã bắt đầu gửi xác trong những nấm đất bên đường ở các tỉnh Việt Bắc.

HAO BINH TỔN TƯỚNG

Đây là thư quan nǎm Bourdeau viết cho ông cụ bà cụ ở Pháp:

“Thưa thầy mẹ, ở đây chiến tranh vẫn tiếp tục, và vẫn tàn khốc lắm. Chúng con phải đánh với bọn du kích trong rừng và chúng con bị thiệt hại nhiều lắm”.

Còn đây là báo cáo của quan nǎm Santus, sau trận gần Chiêm Hoá ngày 22-10-47 mà Pháp đã mất 70 chết và bị thương:

“Tôi xin báo cáo về trận chiến đấu với V.M. ngày 22-10. Trong đội chúng tôi đã có những người sau này chết và bị thương: (Tên tuổi và cấp bậc của 70 người chết và bị thương).

Cộng 8 người chết và 16 người bị thương hôm 18-10 với số thiệt hại hôm nay khiến cho đội chúng tôi hiện nay chỉ còn: 4 sĩ quan (1 hãy còn đang ốm), 8 hạ sĩ quan, 60 lính (6 người đang ốm).

Tất cả là 72 người mà 7 người đang ốm, còn 65 người.

Có những trung đội chỉ còn 12, 16 người, 18 người, bây giờ cần phải tổ chức lại, vì hạ sĩ quan tử trận nhiều quá.

Vì lẽ đó tôi phải tổ chức đại đội lại thành 2 trung đội, mỗi đội chừng 25 người Pháp.

Cần phải 4, 5 ngày mới tổ chức và giải quyết xong những vấn đề vật chất khác. Vì vậy trong mấy ngày đó, đội tôi không thể phụ trách việc gì hết”.

Ký tên: Quan nǎm Santus

BA CHÌM BẢY NỔI

Bên bộ như vậy. Bên thuỷ thế nào?

Hôm 24-10, tàu và ca nô địch, chiếc sau nối chiếc trước như một đàn cá sấu, kéo ngược Sông Lô đến Đoan Hùng cách Tuyên Quang 27 cây số, bị ta tập kích.

Súng máy, đại bác, bazooka của ta nấp hai bên bờ khạc đạn to, đạn nhỏ xuống. Tàu và canô của địch ở giữa sông nghi ngút bốc khói và lửa lên. Một chiếc tàu của đại đội địch vỡ tan, súng ống trên tàu chìm xuống đáy sông. Xác lính địch nổi bập bềnh đầy mặt nước.

Sau đây là một vài thí dụ trích trong lời khen ngợi mà quân đội Pháp đã tặng cho những tên địch chết hoặc còn sống:

Lời khen của sư đoàn cho Têtar, lính hạng nhì:

“Trong trận bị phục kích ở Phủ Đoan, ngày 24-10-47, Têtar nhảy xuống Sông Lô. Và mặc dầu những loạt bắn khủng khiếp bằng đại bác và súng trường, liên thanh của địch, Têtar đã giúp để cứu những người bị trọng thương”.

Lời khen của quân đoàn cho đội trưởng Cortin:

“Đội trưởng Cortin đã tham gia chiến tranh ở Tunisie, ở ý, ở Đức. Bị Đức bắt làm tù binh, trốn thoát được. Ngày 24-10-47, đội trưởng Cortin đi với chiếc tàu chiến lên Sông Lô. Bị địch dùng đại bác và bazooka bắn vào rất khủng khiếp, tàu này bốc cháy. Đội trưởng Cortin đã tổ chức việc cứu vớt những người bị thương nặng và rơi xuống sông. Sau mấy phút đội trưởng Cortin cũng bị thương và tử trận”.

Lời khen của quân đoàn cho quan hai Biraud:

“Ngày 24-10-47, một trung đoàn V.M. có súng máy, bazooka và hai khẩu đại bác 75 ly, tập kích tàu trận ta ở Đoan Hùng. Tàu bị bốc cháy, bộ đội do quan hai Biraud chỉ huy đã chìm theo tàu hết, vừa chìm vừa hát quốc ca”.

Trong tài liệu ta bắt được, những giấy khen như thế, đóng lại thành một quyển dày như quyển tự điển.

KHÓC THAN KHÔN XIẾT

Ngày 25-l0-47, quan ba Michek viết cho bạn:

“Bạn xem, đời sống ở đây, không phải ngày nào cũng vui sướng đâu”.

Và đây là nhật lệnh của quan tư Lejosne đọc trước bộ đội Pháp ở Tuyên Quang:

“Chỉ trong hai ngày, đội ta đã mắc hai vố nặng (Coups très durs).

“Trận phục kích khôn khéo của địch hôm 22-10-1947 ở Mackhan và ở Phủ Đoan đã làm cho đội ngũ ta thua thiệt một cách nặng nề.

“Trong những cái hố đầy địa lôi khủng khiếp: quan nǎm Santus đã phải vớt xác những lính của ông.

“Lúc đầu cuộc tấn công, đại đội thứ 4 đã mất hết nửa số người và súng moócchiê. Nhưng trong những giờ khủng khiếp và luôn mấy ngày chết dở sống dở, đại đội thứ 4 đã tỏ ra dũng cảm vô cùng.

“Tôi rất lấy làm hân hạnh mà được chỉ huy những đội như thế.

“Khi đại bác và súng máy địch bắn cháy và chìm một chiếc tàu trong chốc lát, một tiểu đội vừa chìm theo tàu, vừa hát quốc ca. Những bộ đội như thế thì làm gì cũng làm được.

“Bấy nhiêu người chết và mất tích, sự hy sinh của họ không phải vô ích vì họ hy sinh cho một mục đích cao thượng. Tức là làm cho nước Pháp trở lại cái địa vị vẻ vang khắp hoàn cầu.

“Vận mệnh đã hai lần rủi ro cho chúng ta. Rồi đây không thể nó không chuyển lại.

“Quan và lính trung đoàn thứ 43 sẽ càng đồng tâm hiệp lực để tranh đấu cho mục đích mà nhiều người đã hy sinh vì nó. Trung đoàn thề sẽ cố làm cho mục đích đó thắng lợi và sẽ báo thù cho những người đã hy sinh xương máu để giữ vững địa vị của nước Pháp ở Đông Dương”.

Tuyên Quang, ngày 25tháng 10 nǎm 1947
Tiểu đoàn trưởng Lejosne ký

Chúng ta có thể nói rằng: Nhật lệnh của đoàn trưởng Lejosne là:

“Rằng hay thì thật là hay,

Nghe ra ngậm đắng nuốt cay thế nào!”.

13 HOÁ RA 31

Trong những ngày trung đoàn 43 mắc chết ở Sông Lô, thì đạo quân Beaufré cũng mắc chết ở nơi khác. Sau đây là vài bức điện do đạo quân ấy gửi:

– Gửi cho đội C.

Tàu mắc cạn. Đang tìm thuyền. Phà không đi được vì nước to quá.

Đã chiếm được làng X. sau khi kịch chiến. Tàu vẫn mắc cạn như hôm qua. Nhớ thả dù đạn dược và lương thực cho hai ngày. Tối nay không có gì ǎn nữa.

Ký tên: Kergaravat

– Gửi ông Kerga.

Khó thả dù vì trời u ám. Cho các đội dùng dấu hiệu mà liên lạc với các máy bay bay qua đó.

Ký tên: Frappa.

Đến Na Đôn sau khi kịch chiến, ta chết 32 trong đó có quan ba Roussel, 12 bị thương nặng. Không thể đi Bản Thi nếu không gửi lừa ngựa và tiếp viện thêm. Đây không bắt được người phu nào, mà lính ta thì mệt nhọc quá.

Ký tên: Kerga.

– Gửi ông Kerga:

Đội trưởng Petit đến Bắc Nhung sau một cuộc kịch chiến. Ta chết 14 người, trong đó có quan hai Malval, 15 bị thương.

Ký tên: Communal

Đội trưởng Pillet viết cho bạn:

“Ngày nào cũng bị bọn quỷ V.M. tập kích. Mỗi lần bị tập kích là có chết và bị thương… Nếu không có súng đì đoành thì đi thế này cũng như đi chơi. Xong tiếc thay bọn V.M. cứ bắn đì đoành khắp nơi”.

Mà thật vậy, ở đâu quân địch cũng vấp vào bước khó khǎn. Phía Sông Lô, Sông Gầm thì tàu và canô địch bị đánh đắm hoặc bị phá hỏng. ở Đèo Gà gần Chiêm Hoá thì bộ đội Communal bị vây hôm 20-10-1947 và mất hơn 100 chết và bị thương. Bộ đội địch ở Chợ Đồn mục đích liên lạc hai đạo quân Communal và Beaufré bị dân quân du kích ta quấy rối và tiêu diệt mất hơn nửa lực lượng cho nên cũng không liên lạc được.

Thành thử hai đạo quân Communal và Beaufré định gặp nhau ở Đại Thị ngày 13-10 nhưng đến 31-l0 cũng chưa gặp nhau mà sẽ không bao giờ gặp nhau vì tướng Communal đã chuồn về Hà Nội rồi.

SÔNG LÔ ĐẦY XÁC

Ngày l0-11-1947, bộ đội Pháp kéo xuống Sông Gầm. Bên thuỷ thì do quan tư Kergaravat và Petit chỉ huy. Bên bộ thì do quan ba Bruneau lãnh đạo.

Bội đội Pháp đang nghênh ngang kéo đi đến ngã ba Sông Lô thì bất thình lình bị đại bác, bazooka, súng máy, súng trường, lựu đạn ta bắn vào. Tiếng đạn lẫn tiếng reo làm vang trời chuyển đất.

Kết quả trận phục kích này Pháp bị đắm hai thuyền, 3 tàu bị hỏng, hơn 350 quan và lính bị chết đạn, chết cháy và chết trôi.

Từ 2 giờ trưa đến 3 giờ sáng, lửa cháy vùn vụt, xác nổi lềnh bềnh hơn l cây số trên Sông Lô. Đến nỗi nước sông thối mấy ngày không dùng được.

Sau đây là trích vài đoạn trong vài giấy khen ngợi lính sống và quân chết do tướng Communal ký để chứng tỏ trận phục kích ấy:

– “Eballe, lính.

Ngày 10-11-47 tại Sông Lô mặc dầu các tàu ta bị V.M. dùng pháo binh và súng máy bắn dữ dội. Eballe vẫn đeo lấy chiếc tàu đã bị phá hỏng…”.

– “Demaeght, cai.

Ngày 10-11-47 tại ngã ba Sông Lô và Sông Gầm trong lúc địch dùng hai đại bác và nhiều súng máy bắn dữ dội vào đội tàu ta và nhiều người đã chết và bị thương. Cai Demaeght vẫn giữ tinh thần trấn tĩnh…”.

– “Cottin, đội phó.

Ngày 10-11-1947 tại Sông Lô trong lúc V.M. đánh dữ dội vào đội tàu ta và bắt đầu cuộc phục kích thì đội trưởng đã thiệt mạng, đội phó Cottin vẫn làm tròn nhiệm vụ cho đến phút cuối cùng…”.

Còn đây là bản quyết định của quan tư Petit chỉ huy tiểu đoàn thứ 45 :

Quyết định:

“Xét vì kết quả những cuộc chiến đấu vừa qua buộc bản chức phải dùng những phương pháp để củng cố tiểu đoàn ta.

Đó là những điều cần kíp quân sự không thể tránh được.

Nay phải nhập 4 đại đội thành 2 đại đội mới đủ lực lượng như những đại đội thường.

Việc này cần phải làm ngay.

Vì vậy trong lúc chờ đợi tiếp viện, đội thứ 2 và đội thứ 3 sẽ nhập vào đội thứ l và đội thứ 4″.

Ngày 13tháng 11 nǎm 1947
Ký tên: Petit

Thế là quan nǎm Santus phải nhập bốn tiểu đội thành hai tiểu đội vì số người chết và bị thương nhiều quá.

Còn quan tư Petit phải nhập 4 đại đội thành 2 đại đội. Cũng vì thế mà tướng Communal phải ra lệnh cho các bộ đội địch còn ở phía trên cấp tốc rút xuống Tuyên Quang. Nhưng đến cây số 34 lại bị ta tập kích làm địch mất hơn 60 chết và bị thương.

Ngày 22-11-47 đạo quân Communal chia làm 2 toán. Một toán theo đường bộ, l toán theo đường thủy rút ở Tuyên Quang về xuôi. Họ để lại rất nhiều súng ống đạn dược và mấy đám nghĩa địa đầy mả lính Tây.

Gọng kìm khổng lồ phía này thế là bị ta bẻ gẫy.

Ngày 15-11-1947, chú lính Pernot gửi thư cho vợ:

“Nếu ta có con, ta sẽ không để chúng nó đi vào cái xứ khủng khiếp này”.

CON ĐƯỜNG ĐẪM MÁU

Gọng kìm phía Nam đã gãy, gọng kìm phía Bắc cũng lung lay.

Ngày 20-10-47 một đội quân Pháp trên đường Bắc Cạn – Cao Bằng bị ta chặn đánh, địch mất hơn 30 chết và bị thương.

Quan hai Bailly viết thư cho vợ:

“Anh em ta bị V.M. phục kích. Ta mất 31 người chết, trong đó có 2 sĩ quan và 3 hạ sĩ quan. Trong một tháng chúng ta mất 6 sĩ quan. Hôm vừa qua quan hai Bertrant và quan hai Webert, cũng tử trận với 41 hạ sĩ quan và lính. Thế mà người ta bảo ở Đông Dương hết chiến tranh rồi”.

Nhưng đó chỉ là cuộc tập kích đầu, để khơi mồi cho những cuộc tập kích khác.

Ngày 23-10, một bộ đội Pháp từ Bắc Cạn đi tiếp viện Chợ Đồn bị ta phục kích. Hai xe cam nhông địch rơi xuống hố, người và súng cùng rơi theo. Địch phải rút lui về Bắc Cạn.

Ngày 26-10 địch kéo từ Bắc Cạn qua Chợ Mới cũng bị ta phục kích. Đây là lời quan hai Bailly thuật lại trận ấy:

“Quan tư kéo bộ đội đi… Vừa cách đồn ta mấy cây số thì thình lình bị phục kích … Chúng ta mất 25 người bị thương trong số đó có l0 người chết, sau mấy tiếng đồng hồ … Bộ đội ta đương đầu với một bọn địch đông hơn ta và thạo đường sá hơn ta, cho nên phải rút trở về”.

Quan một Riallaut viết thư cho bạn cũng nói như thế:

“Cuộc tập kích Chợ Mới làm cho chúng ta thiệt hại rất to”.

Lính mũ đỏ Conraux cũng viết:

“Hôm đầu hơi lặng lẽ. Nhưng bây giờ rắc rối lắm”.

Ngày 20-l0, một toán 33 xe địch chở quân nhảy dù từ Cao Bằng về Lạng Sơn. Đi đến đèo Bông Lau bị đại bác, moócchiê và súng máy ta tương vào 27 xe bị phá tan, có mấy chiếc nhào xuống hố. Hơn 200 lính nhảy dù và lính thường chết và bị thương.

Báo Pháp và báo Việt gian ở Hà Nội cũng không giấu được cuộc thất bại này. Tinh thần quan và lính Tây rất hoảng hốt.

Đội trưởng Hervo viết:

“Đời sống ở đây không yên ổn gì. Ngày nào cũng có anh em chết. Chiều hôm qua chúng ta lại có mấy người chết, mấy người bị thương, 1 chàng thanh niên 19 tuổi bị cưa mất một chân. Tội nghiệp quá”.

Ngày 18-1-48 trên đường Lạng Sơn – Cao Bằng, địch lại bị 1 vố nữa. Lần này chúng bị phục kích ở Lũng Vài và Bố Củng.

Bốn xe địch chở 47 tên lính và nhiều súng đạn hạng nặng đi tiếp tế cho 1 bộ đội khác trên đường số 4. Ta chặn đánh. Địch chỉ chạy thoát được 3 tên, còn 44 tên bị ta tiêu diệt trong đó có 2 tên đội, 2 tên quản, 3 tên quan hai, 1 tên quan một. Bao nhiêu súng ống và vật liệu trên 4 chiếc xe ta lấy được hết.

Thế là gọng kìm phía Bắc cũng gãy như là gọng kìm phía Nam.

“Lúc đi nhiều kẻ hy sinh,

Lúc về nhiều kẻ bỏ mình tha hương”.

Đó là một câu trích trong bức thư l người lính Pháp viết cho bạn nó.

Như đã nói trên đây, đạo quân Communal chia làm hai toán. Một toán thủy chuồn xuôi Sông Lô đến La Hoàng lại bị ta chặn đánh. Một toán bộ chuồn theo đường Tuyên Quang – Thái Nguyên để về Vĩnh Yên. Đến Bình Ca, Sơn Dương, lại bị ta chặn đánh, tổn thất khá nhiều.

Viên đội Bicard viết cho vợ:

“ở Pháp người ta nói hết chiến tranh rồi. Kỳ thực ở đây chiến tranh vẫn tiếp tục. Lúc đi nhiều người bị hy sinh. Lúc về cũng như vậy”.

Đạo quân Beaufré định 14-10 đến Chợ Chu nhưng mãi đến 25-11 mới đi đến. Nghĩa là chậm mất 41 ngày. ở Chợ Chu 9 hôm, rồi cũng phải rút lui.

Đạo quân này đi qua Quảng Nạp, Đình Đôi, Quán ông Lão, bị ta liên tiếp đánh úp mấy trận mất hơn 200 chết và 100 bị thương.

Qua Phục Linh bị ta đánh 1 trận địch chết 150 và 70 bị thương.

Qua Sơn Cốt lại bị 1 trận nữa hơn l00 chết và 50 bị thương.

Trong lúc đạo quân Communal và đạo quân Beaufré đang lâm vào bước điêu đứng thì Tổng tư lệnh Pháp ở Hà Nội cho quân đi cứu họ.

Ngày 26-11-47 hai đại đội quân Pháp nhảy dù xuống Vũ Nhai, Tràng Xá và vài nơi khác ở Thái Nguyên. Đồng thời một trung đoàn do quan nǎm Giraud chỉ huy kéo từ Cầu Đuống, Phả Lại qua Bắc Ninh, Phủ Lạng Thương lên Yên Thế, gần Bắc Ninh đạo quân Giraud lại mất hơn 200 bộ hạ chết và bị thương rồi cũng rút trở về.

Tổng tư lệnh Pháp phái một đạo quân từ Hoà Bình kéo sang phín Bắc để tiếp viện đạo Communal. Đến Thu Cúc bị ta chặn đánh chúng để lại hơn 100 chết và bị thương còn 200 lính Thái thì mang cả súng chạy sang phía ta.

Đến Tô Vũ lại bị một vố nữa, lại mất hơn 100 chết và bị thương.

Trong lúc đó quân Communal cũng bị ta đánh rát ở Liêu Sơn và ở Phan Lương. Một điều đáng chú ý là trong những trận này bộ đội ta lấy súng địch đánh lại địch. Trong lúc rút lui, đạo quân Beaufré đi 30 ngày mới được 150 cây số, tức là mỗi ngày đi được 5 cây số. Còn đạo quân Communal thì để mồ tử sĩ rải rác khắp dọc đường.

Viên đội Francis viết:

“Tôi lo lắm. Chúng ta không tiến được. Không biết mấy ngày mấy tháng nữa mới đi đến nơi”.

MỘT THÁNG THƯƠNG TÂM

Tàn quân Communal và Beaufré đã rút về Hà Nội. Dù sao cũng tạm yên thân. Song những bộ đội Pháp còn ở trên con đường Lạng Sơn, Bắc Cạn, Cao Bằng lại lâm vào cảnh khốn đốn.

Sau đây là tờ báo cáo công việc trong một tháng của quan nǎm Carbonnel.

“…Từ ngày 1-1-48 trung đoàn của tôi phải phân tán thành nhiều tốp. Việc đó không khỏi làm cho các cán bộ than phiền. Sau những trận thua thiệt ở Nam Kỳ, sau những tuần vật vã ở phía Bắc, tiểu đoàn này lại mất 4 sĩ quan trong khoảng 15 ngày, 2 quan hai và 2 quan ba.

“Địch quấy rối cứ điểm và đường giao thông ta luôn luôn không ngớt. Đã có nhiều trận khá to, chứng tỏ địch gan góc liều lĩnh và kiên quyết đẩy chúng ta ra khỏi xứ này. Những cuộc phản kích của địch chuẩn bị rất cẩn thận và thi hành rất mạnh dạn.

“ở Bắc Cạn ban đêm thường thường bị quấy rối. Đã mấy lần địch mò vào tận phòng tuyến của ta. Thí dụ đêm 26, 27 tháng trước, 1 đại đội V.M. đã tiến công vào chỗ ta và làm ta thiệt 1 sĩ quan và 9 lính.

“Nà Phặc cũng bị quấy rối nhiều lần, tổng cộng chúng ta mất 36 chết và 43 bị thương.

“Đèo Giàng bị phục kích hai lần. Ngày 6-12-47 ta mất 26 chết và 15 bị thương. Ngày 14-12 ta 12 chết và 8 bị thương.

“ở Nước Hai và Nguyên Bình có đội du kích Cao Bằng cũng súng ống đạn dược đầy đủ. Lại có 1 đội nghĩa quân người ngoại quốc đủ súng máy, moócchiê chuyên môn đánh đội tiếp tế của ta.

“Bộ đội ta ở Khuôi Sao và đội tiếp tế cũng bị phục kích mấy lần. Chúng ta mất 25 chết và 12 bị thương ở đó.

“Bộ đội ta ở An Lão và Mã Phục cũng luôn luôn bị tập kích.

“Tôi được tình báo rằng: Địch sẽ tập kích ta trong dịp kỷ niệm ngày 19 tháng chạp và ngày tết Nôen. Quả nhiên hôm 23 tháng chạp trên đường Đông Khê – Cao Bằng địch tập kích trên 1 mặt trận dài 800 thước có đủ súng máy liên thanh, lựu đạn và bẫy. Chẳng may 1 đại đội người Phi châu đi xe qua đã bị thiệt hại rất to.

“Trận thứ hai vào đêm 26, 27 ở Thất Khê. Tôi đến Thất Khê để chuẩn bị l cuộc tấn công vào Po Ma. Có lẽ vì không giữ được bí mật cho nên nửa đêm thì chỗ tôi đóng bị phục kích tợn. 18 người bị thương trong đó có quan ba Taco. Một mặt địch tập trung 2.000 người để giữ Po Ma.

“Nói tóm lại: địch tỏ ra đánh hǎng.

“Mặc dầu nói ra thì ngại ngùng nhưng ta phải thừa nhận rằng: Suốt cả tháng 12 địch đã giữ quyền chủ động, họ luôn luôn tấn công ta trên đường giao thông cũng như ở các cǎn cứ điểm.

“Kết luận: Tháng Chạp là thời kỳ rất hoạt động của địch. Chúng ta bị thua thiệt rất đau đớn, nhất là ta đã mất chín sĩ quan”.

Ngày 1tháng 1 nǎm 1948
Ký tên: Quan nǎm Carbonnel

NAM BẮC MỘT LÒNG

Trong lúc địch tấn công vào Việt Bắc thì đồng bào và chiến sĩ ta ở Trung Bộ và Nam Bộ hoạt động ráo riết.

Plékou, Phan Rang, Cần Thơ, Tân An, Tây Ninh, Vĩnh Long, Mỹ Tho và nhiều nơi khác, nơi nào địch cũng bị tấn công.

Sài Gòn – Chợ Lớn là vùng địch chiếm đã hơn 2 nǎm, mà đêm 4-l-48 cũng bị ta đánh tợn. Suốt mấy tiếng đồng hồ, moócchiê, bazooka, súng máy và lựu đạn ta bắn tủa vào thành phố, động đất vang trời để hưởng ứng cuộc phản công của ta ở Việt Bắc.

Thế là cuộc tấn công của địch vào Việt Bắc đã thất bại.

Sau đây là những con số thiệt hại bên địch và bên ta, từ ngày 7-l0-47 đến 25-12-47.

BÊN PHÁP

– 3.300 người bị chết trong đó gần 100 võ quan cấp uý và tá.

– 3.900 người bị thương.

– Một số bị bắt làm tù binh.

– 270 thân binh sang nhập ngũ bộ đội V.N.

– 18 chiếc phi cơ bị hạ và bị huỷ.

– 16 pháo thuyền bị đắm hoặc bị phá.

– 38 canô nhớn nhỏ bị đắm hoặc bị phá huỷ.

– 255 xe bị đốt phá hoàn toàn.

– 13 máy vô tuyến điện bị phá.

– 85 mortiers bị hỏng.

– 90 bazookas bị hỏng.

– 762 đại, trung, tiểu liên thanh bị phá.

– 4.100 súng trường bị phá, cùng với l số quân dụng rất lớn.

– 1 Phái đoàn tham mưu của Bộ Tổng tư lệnh miền Bắc Đông Dương bị chết.

– 1 phần bộ tham mưu trung đoàn 43 bị chết.

BÊN TA

– 200 tự vệ, dân quân và V.Q.Q. chết.

– 168 bị thương.

– 26 đội viên mất tích.

– 1 khẩu đại bác 75 ly do ta tự phá huỷ.

– 4 trung liên thanh bị hỏng.

– 48 súng trường bị phá.

– Hơn 2.500 trâu bò bị giết.

– Hơn 3.760 nóc nhà bị Pháp đốt.

TA THU ĐƯỢC

– Một số rất lớn các giấy tờ quan trọng của Bộ tham mưu Pháp.

– 2 khẩu đại bác l05 ly.

– 3 khẩu đại bác 75 ly.

– 42 mortiers.

– 16 đại bác 20 ly.

– 357 liên thanh các cỡ.

– 45 bazookas và rất nhiều đạn.

– 1160 súng trường.

– Hàng chục tấn đạn dược và các đồ quân nhu quân dụng, nhất là trong các tàu chiến và ca nô địch bị đắm.

Chắc có người lấy làm lạ, vì sao Pháp có súng ống tốt như thế, mà số chết và bị thương lại to gấp 10 lần bên ta? Thì có gì lạ đâu: ta đánh du kích, đánh địa lôi, ta thấy địch mà địch không thấy ta. Thành thử nhiều khi ta giết hàng chục hàng trǎm tên địch, mà bộ đội ta không có một người nào bị thương.

*

*      *

Thực dân thất bại. Thực dân muốn chữa. Nhưng cuộc nói phét của chúng cũng thất bại cũng như cuộc tấn công kia. Ngày 9-1-48 Tổng tư lệnh Pháp ra một tờ thông cáo về trận Việt Bắc. Cũng trong ngày ấy, Bộ tuyên truyền Pháp tổ chức một cuộc trưng bày “thắng trận”. Tiếc vì hai bên không bàn với nhau, cho nên nói khác nhau. Thành thử lòi đuôi ra. Đây là vài con số láo toét của họ:

Bên Tổng tư lệnh địch                                    Bên Bộ tuyên truyền địch

V.M. chết 6000                                                           10.000

V.M. mất 547 súng trường                                         3.000

5 đại bác                                                                        11

11 liên thanh                                                                200

5 xuồng máy                                                                25

2 rađio                                                                          40

Vân vân. Thực rõ bọn thực dân lấy ý muốn làm sự thực!

MẤY BỨC THƯ

Những nấm nghĩa địa chôn lính Pháp rải rác từ Chiêm Hoá đến Lạng Sơn đủ làm chứng sự thất bại của Pháp. Nhưng mấy bức thư (trong hàng trǎm bức thư khác) sau đây lại tỏ rõ thêm cuộc thất bại của bọn thực dân.

Viên đội Noel viết:

“Tôi mong rằng: xong trận này, thì họ để chúng tôi về Pháp… Máu đổ nhiều rồi, bao giờ hoà bình trở lại?”.

Tiểu đội trưởng Bottine viết:

“Những lời rêu rao của bọn to đầu (Pháp), tức là những lời chửi rủa những anh em ta đã bị hy sinh. Tôi tự hỏi: Bao giờ trò hề ấy sẽ chấm dứt? Bao giờ sự thật sẽ được rõ ràng?”.

Lính nhảy dù Lamoise viết cho vợ:

“Em ơi! Không biết em có yêu anh nữa chǎng, vì anh đã bị thương hàn hạng nặng! Chưa bao giờ anh run như thế này. Mà không phải chỉ một mình anh, tất cả những người bạn anh đều rung khắpkhắp”.

Quan ba Bourdeaux viết cho bà Bourdeaux:

“Người ta thường nói xứ này nước độc. Nhưng tôi không ngờ nước độc đến thế này. Trung đội của tôi, 30 người sốt rét, 20 người bị hắc lào”.

Đội trưởng Paureau viết:

“Đã 3,4 ngày, 8 người bị thương nằm chờ không có thuốc. Ba người đã chết rồi. Sao họ không thả dù thuốc? Nếu có thuốc thì những người đó không đến nỗi chết, tội nghiệp như thế. Không có máy bay để thả dù thuốc, nhưng nếu tướng Salan muốn đi chơi thì bao nhiêu tàu bay cũng có!”.

Ngoài những thư than phiền vì bệnh, lại có nhiều thư than phiền vì đói rét. Bộ đội Pháp chỉ ǎn đồ hộp Mỹ. Nhưng đồ hộp đó đáng lẽ chỉ dùng đến nǎm 1942 thì thiu, không nên dùng nữa. Nhưng người Pháp vẫn dùng, chẳng những vẫn dùng mà không có đủ mà dùng.

Điện quan tư Kergaravat gửi quan nǎm Communal: “Nhớ gửi ngay hai ngày lương thực. Chiều nay chưa có gì cho bộ đội ǎn”.

Đội trưởng Laussel viết:

“Ban đầu thì có gà, có lợn. Nay ǎn mãi hết rồi. Bánh mì cố nhiên không có”.

Báo cáo quan hai Logier, ngày 3-12-47:

“Tháng này, tình hình chẳng hơn gì tháng trước. áo và chǎn vẫn thiếu. Nếu áo chǎn chỉ gửi đến sau mùa rét, thì đó là một điều rất đáng tiếc. Giày cũng vẫn thiếu”.

TINH THẦN SÚT KÉM

Vì luôn luôn bị ta chặn đánh và quấy rối, vì người ốm thiếu thuốc men, người khoẻ thiếu ǎn mặc, cho nên tinh thần quân đội Pháp sút kém dần dần.

Quan tư Lejosne viết báo cáo ngày 3-11-47:

“Tinh thần của bộ đội đã đến chỗ nao núng”.

Mấy bức thư sau đây, chứng tỏ rằng lời báo cáo của quan tư Lejosne không sai:

Viên đội Bicard viết thư cho cha mẹ:

“Ngày tháng kéo dài, bộ đội ta càng nhiều người chết. Đó là chiến tranh! Mong rằng giấc ác mộng kinh tởm này sẽ chấm dứt mau”.

Tiểu đội trưởng Paureau viết cho anh em:

“Cuộc chiến tranh phi nghĩanày bao giờ sẽ chấm dứt, để chúng ta được sống một đời hoà bình trong gia đình ấm áp của chúng ta”.

Đội trưởng Frustié viết cho vợ:

“Em có biết chǎng, anh đã chán chường với bộ đội rồi, vì những lẽ mà anh không thể viết rõ trong thư này. Anh không biết anh có thể ở đây cho đến ngày mãn hạn không? Anh không chắc lắm, vì anh trông thấy nhiều điều nó làm cho anh thương tâm quá. Vả lại bánh chẳng có, rượu cũng không, chán lắm. Chán lắm. Đó cũng là một lẽ mà anh quyết thoát ly bộ đội”.

Lính mũ đỏ Lanoise viết cho bạn gái:

“Chẳng có gì vui vẻ gì cho những người cả ngày mạo hiểm bị đánh bể đầu (se font casser la gueule). Cái đời của một người lính chỉ là một cái đời buồn bã. Tôi chỉ ước mong được trở về nhà cho mau…”.

Quan hai Logier viết:

“Những tin tức về sự phá sản chính trị và kinh tế của Pháp, không thể làm tǎng gia lòng phấn đấu của những người Pháp ở đây. Người ta tự hỏi: Những sự hy sinh và cố gắng của mình sẽ vô ích chǎng?”.

Quan ba Thibaut viết:

” Xem địa đồ, thì bạn sẽ thấy từ Hoà Bình chúng tôi đã đi bao nhiêu đường. Bọn V.M. đông không thể tưởng tượng được. Chúng tôi đã bị phục kích nhiều lần, và đã thua thiệt khá nhiều.

“Từ ngày chúng tôi đến đám rừng này, có một trung đoàn V.M. súng ống đầy đủ, vây xung quanh chúng tôi. Về phần tôi, tôi đã bắt đầu thất vọng. Tôi thấy rằng những công việc chúng tôi làm là vô ích. Chúng tôi không quét được gì hết, vì vừa đi qua, địch liền trở lại ngay.

“…Theo ý tôi, thì chính sách này là chính sách vu vơ.

“Thưa thầy, tôi phải nói lại một lần nữa rằng:

“Tôi đã hoàn toàn chán nản, và vì thế mà sức tôi càng yếu đi. Tôi không có hứng thú làm gì hết nữa”.

Báo cáo của quan tư Lejosne viết ngày 13-11-47:

“Tinh thần đội số 1 cũng như tinh thần các đội khác. Cần phải có một cuộc thắng trận để gây cảm tưởng rằng những cuộc thất bại đã được bồi đắp, vì tinh thần của đoàn rất kém.

“Vì chết chóc nhiều trong trận phục kích của địch ngày 22-10, mà tinh thần đội số 2 đến nay vẫn còn thấp kém. Họ có cảm tưởng rằng từ trước đến nay cứ bị vận hạn đến dữ. Những hạ sĩ quan và đội trưởng tốt nhất đều chết hoặc bị thương, cho nên tinh thần cán bộ cũng lay động.

“Đội số 4- Vì trận đại bại của thủy quân, nên rất chán nản. Cán bộ ra sức giữ tinh thần, nhưng không nên đem ra trận lần nữa, vì tinh thần sẽ suy sút rất mau”.

KỶ LUẬT HÙNG HỔ

Nhật lệnh của quan ba Morand ngày 18-11-47:

“Đã nhiều lần, những cán bộ chịu mệnh lệnh phụ trách công việc, nhưng không chịu làm. Họ tự bỏ công việc, mà không báo cáo. Đó là những hành động rõ ràng vô kỷ luật”.

Báo cáo của quan ba Lejo gửi quan nǎm (tên gì không đọc được):

“Thưa ngài. Tôi kính trọng trình ngài tờ báo cáo của quan hai Brenac về việc mất cắp 15 hòm đồ hộp Mỹ, ngày 10-11-47.

‘Tôi xin ngài sẵn lòng phát cho 15 hòm khác!”.

Đại đoàn trưởng Đoàn số 43 gửi quan nǎm vǎn phòng số 4:

“Tôi kính trọng gửi trình ngài tờ báo cáo của quan hai Biraud về việc mất cắp đồ đạc ngày 17-11-47.

“Người hạ sĩ quan trực nhật hôm đó bị những sĩ quan và hạ sĩ quan các đội mới đến lừa gạt, cho nên xảy ra việc đó…”

Báo cáo của quan ba Michaud ngày 18-11-47:

“Những tù binh người Đức trong bộ đội ta trốn đi ngày càng nhiều”.

Thông cáo ngày 5-12-47:

“Bộ đội ta nhờ Mỹ tiếp tế. Thế mà nhiều quan binh ta quen thói xài phí quá chừng.

“Các sĩ quan ta phải hiểu rằng: Tình hình kinh tế và tài chính không cho phép ta hoang phí như trước nữa, chúng ta sinh hoạt nhờ vào những thứ để dành từ nǎm 1945, những thứ đó tích trữ rất khó nhọc, và thế rồi là hết. Ngân sách của chúng ta càng ngày càng giảm bớt. Những vật liệu ở Pháp không gửi đến, chúng ta lại không có tiền ngoại quốc để mua ở ấn Độ và Phi Luật Tân. Vả chǎng vật liệu các xứ đó rất đắt đỏ, vì giá đồng tiền Pháp đã giảm sút.

“Đồng thời ta phải chú ý rằng: những thùng đựng dầu xǎng, những dù nhảy tàu bay (mỗi tấn giá 150.000 quan) và những vật liệu đặc biệt khác, càng ngày càng hiếm, thế mà vừa rồi những vật dụng, trong những cuộc hành quân vừa rồi, bị các đội bộ binh lấy cắp mất nhiều”.

Ký tên: Tướng Salan

Chuyện thú vị nữa, là đối với việc khen thưởng, có khi người sống tranh người chết, quan tranh với lính. Sau đây là một thí dụ:

Quan ba Bordeaux viết cho quan ba Nicolas trong Bộ tổng tham mưu Pháp:

“Tôi sắp được giấy khen. Nhưng nay nhiều người chết và bị thương, mà cấp trên lại định để đánh giấy khen cho những người chết và bị thương nặng đã. Tôi biết bạn có thế lực lắm, vậy nên tôi mong rằng khi đề đến tôi nhờ bạn phê đơn cho tôi trước”.

ĐÂY LÀ VǍN MINH

Bọn thực dân Pháp luôn luôn khoe miệng rằng: Chúng chỉ có một mục đích cao thượng, là khai hoá vǎn minh cho dân Việt Nam. Song những hành động tối dã man của chúng đã khiến cho những người còn có chút lương tâm trong đám chúng cũng phải than phiền.

Viên y tá Florantin viết cho cha mẹ:

“Thưa thầy mẹ, con không ngờ người ta mà nỡ lòng phạm đến việc tàn sát đàn bà trẻ con, đốt phá cướp bóc, như mắt con đã trông thấy… Con thú thật rằng con xấu hổ cho loài người, con xấu hổ cho người Pháp”.

Tên lính nhảy dù Mayette viết:

“Bọn Việt Minh không phải là người, và người ta giết chúng như giết lợn”.

Vài thí dụ:

Theo tờ báo cáo của tỉnh Phúc Yên, thì trong vùng đó có 117 phụ nữ bị hiếp, trong số đó có hai bà cụ ngoài 70 tuổi, 26 em bé chưa đầy 10 tuổi.

Sau khi quân Pháp rút khỏi Chợ Chu, người ta tìm thấy gần trường bay 5 cái xác trẻ em gái, ở phía dưới bị xé rách một cách thê thảm.

Bọn Pháp chẳng những hãm hiếp phụ nữ, mà hãm hiếp cả đàn ông. Chẳng những hãm hiếp người mà hãm hiếp cả súc vật.

Giết người, cướp của, đốt nhà, phá nhà thờ, đốt đền chùa, bẻ thánh giá, đập tượng Phật, đó là những hành động “vǎn minh” của chúng, mà chính Bôlae cũng phải thừa nhận. Chúng đi đến đâu là gieo rắc thảm hoạ đến đó.

Đây là một bức thư “vǎn minh” tên quan ba Diot ở vùng Suuyt gửi cụ Đinh Công Phú, lãnh tụ đồng bào Mường và giữ chức Chủ tịch Uỷ ban kháng chiến Hoà Bình:

“… Ông chống cự lại bộ đội Pháp.

“Đương cục Pháp không thể để thế mãi… Nhưng theo nguyên tắc khoan hồng của người Pháp, đương cục Pháp sẽ để cho ông một dịp cuối cùng.

“Thay mặt cho bộ chỉ huy là kẻ bảo hộ xứ này, tôi ra lệnh cho ông một lần cuối cùng: Trước ngày 15 tháng 11 nǎm 1947, ông phải đem nộp tất cả súng ống và bộ hạ của ông cho tôi. Nếu quá hạn đó mà ông chưa làm theo lệnh này thì tôi sẽ đốt hết các làng, đốt sạch cả lúa, lấy hết cả trâu bò, bắt hết cả dân sự, sẽ làm cho xứ sở ông tan nát, sẽ truynã ông đến cùng, và sẽ không để cho ông trông thấy quê cha đất tổ của ông”.

Ngày 25tháng 10 nǎm 1947
Ký tên: Quan ba Diot.

Đó đồng bào đã thấy “vǎn minh” của Pháp chưa?

Trong những giấy má thư từ ta bắt được của Pháp, phần nhiều là nhớ vợ, nhớ nhà, muốn về, than phiền vì cực khổ. Cũng có nhiều thư hứa hẹn gửi tiền về. Có mấy tên, trong 1 tháng trước khi tấn công Việt Bắc, đã gửi về nhà… lần tiền, mỗi lần hàng vạn bạc Tây. Tiền ấy ở đâu ra. Không nói thì ai cũng biết.

Song cũng có những bức thư mà chúng ta nên chú ý. Những thư này nói cho ta biết vùng nào ta phá hoại đường sá triệt để, chúng đi chậm trễ. Vùng nào ta phá hoại sơ sài, chúng đi được mau chóng. Chúng lại mỉa mai đồng bào ta làm vườn không nhà trống một cách sơ suất người thì biết lánh vào rừng, nhưng gà vịt lợn bò thì để lại cho chúng ǎn, cho chúng giết, chỉ 2 tỉnh vùng B mà chúng giết hơn 2.500 con trâu bò. Đó là kinh nghiệm đau đớn mà đồng bào ta phải nhớ luôn luôn.

CON RỒNG CHÁU TIÊN

Việt Bắc là gốc tích tổ tiên Hùng Vương ta dựng nước. Là nền tảng chống ngoại xâm của ông cha ta, như Lý Thường Kiệt, Trần Hưng Đạo, Nùng Trí Cao. Là cǎn cứ chống Pháp của tiên liệt ta như cụ Hoàng Hoa Thám. Là cǎn cứ địa của cuộc dân tộc giải phóng, chống Pháp, chống Nhật. Là quê hương của Giải phóng quân, anh cả của Vệ quốc quân.

Đồng bào Việt Bắc gồm có Kinh, Thổ, Nùng, Thái, v.v., phong tục tập quán tuy có khác nhau ít nhiều, nhưng lòng nồng nàn yêu nước, lòng cǎm hờn thực dân, thì muôn người như một.

Lòng yêu nước của đồng bào, nhập với hình thế hiểm trở của núi sông thành một lực lượng vô địch, nó đã đánh tan cuộc tấn công của thực dân trong trận vừa rồi. Nếu muốn chép lại hết cả những sự hy sinh và oanh liệt của nhân dân, thì phải mấy quyển sách mới đủ. Vậy đây chúng ta chỉ nhắc lại vài thí dụ, để nói rằng tất cả các giới đồng bào toàn dân nhất trí đều hǎng hái tham gia công cuộc bảo vệ Việt Bắc.

Phụ lão. ở Tuyên Quang một cụ già ngoài 70 tuổi bị giặc Pháp bắt, hỏi: Bộ đội V.N. ở đâu? Cụ già ngang nhiên trả lời: Dân Việt Nam ai cũng đánh Pháp, ta đây cũng là một người trong bộ đội Việt Nam. Giặc tức giận đem cụ ra bắn. Trước khi chết cụ già còn hô to: Việt Nam độc lập muôn nǎm, Hồ Chủ tịch muôn nǎm.

ở Cao Bằng có một đội phụ lão du kích, do một cụ già 70 tuổi chỉ huy, đã cùng dân quân xung phong đánh giặc, ngǎn trở giặc không thể kéo qua làng để đi vây bộ đội ta.

Nhi đồng. ở Chợ Chu sáng ngày 27-11-1947, có 3 em nhi đồng từ 12 đến 14 tuổi, ném lựu đạn vào một đội lính tuần Pháp, tiêu diệt hết cả đội.

ở Cao Bằng gần Nước Hai, đầu tháng 12-1947 hai em nhi đồng 13, 14 tuổi giật mìn giết được 30 tên Pháp.

Phụ nữ. ở Cao Bằng, một chị đồng bào Thổ 17 tuổi, dùng dao đâm một tên lính nhảy dù, cướp được súng nó rồi bắt nó làm tù binh đem giao cho bộ đội ta.

ở Phúc Yên một bà già 60 tuổi bị giặc bắt. Bà cụ cắp được một quả lựu đạn, ném vào giữa một tốp giặc đang ngủ, giết chết 5 tên và bà cụ cũng hy sinh.

Nông dân. ở Thái Nguyên, một người nông dân bị giặc bắt đưa đường cho chúng. Anh ấy dẫn chúng nó đi vào chỗ ta đã chôn mìn. Toàn cả đội giặc bị tung lên trời chết hết. Anh ấy cũng hy sinh vì nước.

ở Tuyên Quang, 3 tên lính mũ đỏ vào làng cướp gà lợn. Một người nông dân nấp trong bụi bắn 2 phát súng kíp, giết chết cả 3 tên giặc. Anh ấy lấy được 3 khẩu súng và 3 cái ba lô đem về nộp cho đội du kích.

Binh sĩ. ở Bắc Cạn trong khi địch bắn ráo riết, 1 vệ quốc quân tên là Nguyễn Vǎn Phiên xung phong giết chết 5 tên địch, rồi xông vào đồn cướp lựu đạn địch ném vào địch làm chúng chết mấy tên nữa.

ở trận Phủ Thông ngày 30-11-1947, tiểu đội trưởng Chu Vǎn Vận một mình giết được 9 tên địch, phá được 3 ổ súng máy, cướp được hai súng Brenn, một súng Thompson, lấy súng địch bắn lại địch.

Công nhân. ở Chợ Chu, 3 anh em công nhân đánh địa lôi, giết được 24 tên địch.

ở Cao Bằng một tốp công nhân chặn địch đánh 2 trận trong 7 ngày, giết được 60 tên địch.

Mấy việc lẻ tẻ đó cũng đủ tỏ rằng: Con Rồng cháu Tiên, quyết không chịu làm nô lệ lần nữa.

MẤY LỜI KẾT LUẬN

Nhờ sự lãnh đạo sáng suốt của Chính phủ, sự điều khiển khôn khéo của Bộ Quốc phòng và Bộ Tổng chỉ huy, sự dũng cảm của tướng sĩ Vệ quốc quân và dân quân du kích, nhờ sự hǎng hái của toàn thể đồng bào, mà ta đã đánh tan cuộc tấn công vào Việt Bắc của thực dân Pháp.

Nhưng chúng ta phải luôn luôn nhớ và thực hành những lời Hồ Chủ tịch đã dạy bảo.

Chúng ta chớ tự kiêu tự đại, chớ chủ quan, chớ khinh địch.

Chúng ta phải luôn luôn chuẩn bị, cẩn thận đề phòng.

Các chiến sĩ Vệ quốc quân và dân quân du kích phải cố gắng luyện tập thêm.

Đồng bào hậu phương phải chuẩn bị làm vườn không nhà trống triệt để, phải hết lòng giúp đỡ bộ đội về mọi mặt.

Công việc canh giác phải nghiêm ngặt hơn nữa.

Công việc phòng gian trừ gian phải chú ý hơn nữa.

Công việc phá hoại phải tiếp tục.

Cách giữ bí mật phải tiến bộ hơn.

Phải ra sức tǎng gia sản xuất.

Phải sửa chữa những khuyết điểm và cố gắng phát triển các ưu điểm.

Đó là phận sự thiết thực của toàn thể và mỗi người công dân Việt Nam.

Thực dân chưa bị đánh quỵ. Chúng sẽ tấn công Việt Bắc lần nữa.

Chúng sẽ tấn công nơi này rồi đến nơi khác. Rồi đây, chúng sẽ lập chính phủ bù nhìn. Chúng sẽ dùng mưu độc ác đem người Việt đánh người Việt. Cuộc kháng chiến sẽ gay go hơn nữa.

Nhưng dù sao, với sự suy đồi của thực dân phản động, với sự sáng suốt của Chính phủ ta, với sự dũng cảm của chiến sĩ ta, với lòng kiên quyết của nhân dân ta, với sự ủng hộ của dân chủ thế giới, trường kỳ kháng chiến nhất định thắng lợi, thống nhất độc lập nhất định thành công.

Viết khoảng cuối 1947, đầu 1948.
Tổng bộ Việt Minh xuất bản lần đầu tiên nǎm 1948.
Ký tên: Tân Sinh.
Theo sách Tổng bộ Việt Minh xuất bản
cpv.org.vn

—————————-

(21) Chiến dịch Việt Bắc thu đông nǎm 1947: Diễn ra từ ngày 7-10 đến ngày 22-12-1947.

Để thực hiện âm mưu tiêu diệt cơ quan đầu não và bộ đội chủ lực của ta, nhanh chóng kết thúc cuộc chiến tranh xâm lược, thực dân Pháp đã mở cuộc hành quân mang tên Lêa Clôclô, tiến công lên Việt Bắc. Chúng đã huy động 20.000 quân tinh nhuệ, gồm 5 trung đoàn bộ binh, nửa lữ đoàn dù, 40 máy bay và phần lớn lực lượng thuỷ quân, cơ giới phối hợp.

Thực hiện chỉ thị của Trung ương Đảng “phải phá cuộc tấn công mùa đông của giặc Pháp”, quân dân ta đã anh dũng chiến đấu trên khắp các mặt trận, đập tan kế hoạch đánh nhanh, tiến nhanh của địch, bảo vệ an toàn Trung ương Đảng và Chính phủ, bảo toàn và phát triển lực lượng, giữ vững cǎn cứ kháng chiến của cả nước, đuổi địch ra khỏi Việt Bắc. Chiến dịch Việt Bắc đã tiêu diệt 3.300 quân xâm lược và làm bị thương 3.900 tên, bắt sống 270 tên, bắn rơi 18 máy bay, bắn chìm và bắn cháy 54 canô và tàu chiến, phá huỷ 255 xe cơ giới, thu hàng nghìn súng và nhiều đồ dùng quân sự khác. Tr.341.

Thư gửi Ty Giáo dục, các hiệu trưởng, giáo viên và các cháu học trò khu X (1-1948)

(Nhờ Uỷ ban kháng chiến khu chuyển giao)

Tôi rất vui lòng nghe Đặc phái đoàn của Chính phủ đi kinh lý về báo cáo rằng:

Nhân viên giáo dục và học sinh khu X khá hoạt động và có nhiều sáng kiến tham gia công cuộc kháng chiến.

– ở mỗi trường có 1 vườn tǎng gia sản xuất.

– Học trò trường trung học kháng chiến ở Đào Giã, đã trồng được 80.000 cây sắn.

– Những trường tiểu học, các học trò đã trồng và đã lấy được khoai, ngô, sắn làm lương khô tặng bộ đội.

Nǎm nay, các trường đang trồng rau để bán lấy tiền giúp Quỹ thương binh và mùa đông kháng chiến.

– Học trò trường Cao Xá (Hạc Trì), sáng thì học, chiều thì giúp việc xã hội trong các làng, đã sửa được giếng, và lấy bông gạo may áo trấn thủ để tặng bộ đội. Ngày nghỉ thì đi thǎm thương binh.

– Các giáo viên đã quyên 1 ngày lương, để giúp thương binh.

– Trước kia trong khu không có trường trung học nào, từ ngày độc lập, trong khu đã sửa được 5 trường trung học.

– Đồng bào các xã đã tự hùn tiền mở 1 trường trung học.

– Nhờ sự cố gắng của ông Hiệu trưởng, và sự sốt sắng giúp đỡ của đồng bào trong làng, mà Yên Luật đã lập được l trường trung học.

– Do sự hoạt động của ông Ty trưởng Vương Kim Toàn và sự hǎng hái của nam nữ giáo viên bình dân học vụ mà đã có sách in để cho đồng bào thiểu số học.

Đó là những thành tích khá tốt đẹp trong mặt trận vǎn hoá của ta. Tôi thay mặt Chính phủ mà khen ngợi:

Các ông Ty trưởng giáo dục và bình dân học vụ,

Các ông Hiệu trưởng và anh chị em giáo viên, cùng các cháu học trò, đã áp dụng Học với Hành, đã thực hiện kháng chiến bằng vǎn hoá, vǎn hoá của kháng chiến.

Đồng thời, tôi cảm ơn đồng bào Cao Xá, Yên Luật, và các làng, mặc dầu những sự khó khǎn thiếu thốn trong lúc này, đồng bào đã ra sức ủng hộ giáo dục, ủng hộ kháng chiến.

Tôi mong rằng: nay đã sẵn cái nền tảng đó, các ông Ty trưởng, các anh chị em giáo viên, các cháu học sinh, cùng toàn thể đồng bào, cố gắng thêm, làm sao cho khu X trở nên một khu kiểu mẫu về mặt giáo dục cũng như về mặt kháng chiến.

Chào thân ái và quyết thắng
Tháng 1 nǎm 1948
HỒ CHÍ MINH

Tài liệu lưu tại Bảo tàng Hồ Chí Minh.
cpv.org.vn

Thư gửi Uỷ ban nhân dân tỉnh và huyện ba tỉnh Bắc Ninh, Bắc Giang, Lạng Sơn (9-2-1948)

Các đồng chí có sáng kiến đặt kế hoạch ba tháng có đủ các mục chính trị, quân sự, kinh tế, v.v.. Như thế là tốt.

Tiếc vì các kế hoạch đó đều là chủ quan, không cǎn cứ vào thực tế, cho nên một khi gặp sự thử thách – như trận địch tấn công vừa rồi, thì tán loạn hết.

Khu XII, nhất là hai tỉnh Bắc Ninh, Bắc Giang, là đất khá rộng, người khá đông, dân khá giàu, súng khá nhiều, trình độ cao. Đáng lẽ là một khu kiểu mẫu. Thế mà sự thực thì như thế nào ?

Về quân sự: Khi địch tấn công, ngoài một ít nơi, còn thì bộ đội chạy, du kích chạy, cơ quan chạy, cán bộ chạy. Để dân hoang mang, vất vả, cực khổ, thiệt hại, oán giận. Đến nỗi nhân dân làng này không cho đồng bào làng khác vào lánh nạn. Không chịu bán gạo, rau cho bộ đội.

Đó là một tình trạng rất đáng tiếc, đáng đau lòng! Trách nhiệm ấy ai phải chịu ?

Về hành chính: Cấp xã là gần gũi nhân dân nhất, là nền tảng của hành chính. Cấp xã làm được việc thì mọi công việc đều xong xuôi. Thế mà vì hẹp hòi, bao biện, không biết phân công. Vì nhân dân chưa biết lựa chọn để cử ra những người có nǎng lực. Vì cấp trên không biết cất nhắc, giúp đỡ, đốc thúc, kiểm tra, huấn luyện. Thành thử phần nhiều cấp xã là uể oải, thiếu nǎng lực, kém tinh thần.

Về kinh tế: Ba tỉnh ta, ruộng đất phì nhiêu, nhân dân chịu khó, đáng lẽ nông nghiệp được dồi dào. Thế mà dân thiếu vải muốn trồng bông, muốn nuôi tằm. Nhưng cán bộ không biết tìm hạt, tìm giống cho dân, hoặc tìm phải thứ xấu. Không chịu khó đi tận nơi mà bày vẽ cho dân.

Các đồn điền thì quản lý một cách sơ sài, luộm thuộm, không phát triển mà lại thoái bộ. Không lợi cho Chính phủ, không ích cho đông bào.

Tín dụng sản xuất thì thi hành sai mục đích. Cho vay để tiêu pha nhiều hơn là cho vay để sản xuất. Cũng không có tổ chức trong đám đồng bào nghèo cần vay để sản xuất.

Hợp tác xã không biết chọn những người có nǎng lực, có công tâm làm quản lý, để đến nỗi có sự nhũng lạm, phá sản, thiệt thòi cho dân, mất cả tín nhiệm.

Về vǎn hoá: Trừ một vài nơi như Tiên Du biết giúp mở trường trung học, làng Song Khê biết mở mang bình dân học vụ, còn các nơi khác thì cách dạy học vẫn cũ kỹ, sự học không thiết thực với sự hành. Bình dân học vụ cũng không được phát triển như các tỉnh khác, khu khác.

Thông tin, tuyên truyền thì chậm chạp, thiếu thốn. ở các thôn xã nhiều khi hàng tháng không có tin tức.

Báo chí thì đã chậm lại thiếu sự hiểu biết chính trị. Có khi đưa ra những tin không lợi cho đoàn kết và kháng chiến, như mạt sát làng nọ khi họ đã biết nhận sai lầm. Công kích nhầm một vị linh mục kia. Nói rõ tên bộ đội mình, kể rõ địa điểm và sự thiệt hại sau lúc địch ném bom, v.v..

Về y tế: Thì không tích cực chủng đậu cho dân, các trạm phát thuốc thì không kiểm soát chặt chẽ, không cố gắng tuyên truyền vệ sinh.

Nói tóm lại: mọi việc đều còn lủng củng.

Các đồng chí cần phải cǎn cứ vào những khuyết điểm mình tự nhận thấy, mà lập tức lập một chương trình thiết thực, bệnh nào thuốc ấy để sửa chữa ngay những khuyết điểm đó.

Các đồng chí phải theo sát hoàn cảnh, đi sát với dân chúng. Phải đem cả lòng vì nước vì dân, chí công vô tư, cần kiệm liêm chính mà làm cho ba tỉnh ta mau tiến bộ.

Các đồng chí có thể làm, các đồng chí phải làm cho kỳ được.

Chào thân ái và quyết thắng
Ngày 9 tháng 2 nǎm 1948
HỒ CHÍ MINH

Sách Hồ Chí Minh Toàn tập, xuất bản lần thứ nhất,
Nxb Sự thật, Hà Nội, 1985, t.5, tr.44-46.
cpv.org.vn

Thanh niên phải làm gì? (10-2-1948)

Thanh niên ta tuy đã có một đoàn thể của mình là Đoàn Thanh niên Việt Nam, nhưng vẫn có một số đông chưa tổ chức, chưa hoạt động – Vì sao thế?

Theo sự nhận xét riêng của tôi, thì do những khuyết điểm này:

l- Tổ chức chỉ có bề rộng mà không có bề sâu. Xem trên báo, thì thấy tỉnh này đã thành lập Đoàn, tỉnh kia cũng thế. Nhưng về các huyện, các làng thì ít nơi biết Đoàn Thanh niên Việt Nam.

Phần đông thanh niên trong tổ chức là thanh niên trí thức. Còn nữ thanh niên và thanh niên các từng lớp khác, như binh sĩ, công nhân, nông dân, v.v., thì rất hiếm.

2- Mục đích thì nêu ra nhiều khẩu hiệu quá. Đích nghĩa là nhằm vào đó mà bắn. Nhiều đích quá thì loạn mắt, không bắn trúng đích nào. Thậm chí không ai nhớ được những khẩu hiệu đó.

Vậy chỉ nên nêu ra vài khẩu hiệu chính, thiết thực và phổ thông, cho mỗi thanh niên có thể hiểu, nhớ và luôn nhằm vào đó mà theo.

3- Chương trình công tác thì quá rộng rãi mà kém thiết thực.

Đặt ra kế hoạch và chương trình không xét rõ nǎng lực của những người thi hành kế hoạch và chương trình đó. Thành thử việc gì cũng muốn làm mà việc gì làm cũng không triệt để.

Tôi thường nghe anh em trong Đoàn Thanh niên Việt Nam người thì phàn nàn rằng thiếu công việc để hoạt động, người thì phàn nàn Đoàn thiếu cán bộ.

Nếu thanh niên biết tìm thì không thiếu gì công việc, cũng không thiếu gì cán bộ.

Vài thí dụ: Nếu Đoàn Thanh niên Việt Nam khéo động viên và tổ chức nam nữ thanh niên trí thức, xung phong ra phụ trách công việc tiêu diệt giặc dốt thì tất cả thanh niên trí thức đều có công việc, mà Đoàn sẽ có công to với quốc dân. Nếu Đoàn khéo động viên và tổ chức nam nữ thanh niên nông dân xung phong ra phụ trách công việc tǎng gia sản xuất, thì thanh niên trong thôn quê sẽ đều hoạt động, mà Đoàn sẽ có công to với Chính phủ. Còn nhiều việc khác, thanh niên có thể làm.

Bất kỳ công việc gì, cũng có người hǎng hái hơn, đắc lực hơn, có sáng kiến hơn. Nếu Đoàn khéo chú ý, tìm tòi, cất nhắc thì đó là những cán bộ. Có lẽ những thanh niên đó viết không giỏi, nói không kêu nhưng họ làm được việc. Đó là cái chính. Thanh niên cần nhiều cán bộ như thế.

Thanh niên cần phải có chí tự động, tự cường, tự lập.

Phải có khí khái ham làm việc, chứ không ham địa vị.

Phải có quyết tâm, đã làm việc gì thì làm cho đến nơi đến chốn, làm cho kỳ được.

Phải có lòng ham tiến bộ, ham học hỏi, học luôn, học mãi. Học vǎn hoá, học chính trị, học nghề nghiệp.

Phải có lòng kiên quyết tham gia kháng chiến để tranh cho kỳ được thống nhất và độc lập, dân chủ và tự do.

Như thế, mới xứng đáng thanh niên là chủ nhân tương lai của nước nhà.

A.G.

Báo Sự thật, số 89,
ngày 10-2-1948.
cpv.org.vn